Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

NGƯỜI VỊ THA, KHOAN DUNG Ý NGHĨA VỚI CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI

 Trong cuộc sống, cá nhân mỗi người sẽ có một hành trình riêng và không ít lần mắc các sai lầm bởi không một ai là hoàn hảo cả. Ai cũng cần phải nỗ lực rèn luyện để trở thành một người tốt hơn, lỗi lầm luôn là phần tất yếu diễn ra trong cuộc sống. Vì vậy nên, lòng vị tha khoan dung  trở nên rất quan trọng, Chúng ta có thể sẵn sàng tha thứ và hòa giải với đối phương. Vậy thực chất lòng vị tha , khoan dung là gì? Hãy cùng Ngọc Minh trao đổ nhé!

Làm người hãy sống vị tha

Để cho đời được nở hoa - mỉm cười

Mở lòng tha thứ cho người

Rồi ta nhận được niềm vui chan hòa.

Lỗi lầm xin hãy bỏ qua

Tặng nhau những giọt vị tha tình đời

Thế gian muôn vật đổi dời

Sanh - Dị - Hoại - Diệt, người ơi vô thường.

Mộng đời thôi bớt vấn vương

Bóng chim tăm cá trùng dương mịt mờ

Sống đời chớ có hững hờ

Nhân - Nghĩa -Lễ - Tín dặn lòng nhớ ghi.

Làm người học hạnh Từ -Bi

Vị tha - Hoan hỷ có gì quí hơn

Tha thứ bỏ bớt giận hờn

Tịnh lòng an lạc - Tâm chơn hiển bày.

“Tha thứ người tức là tự tha thứ mình”

I- Lòng vị tha

1-Lòng vị tha là gì?

Xét về mặt chữ “vị” là vì, “tha” là người khác, được hiểu chung là tấm lòng nhân đạo, không ích kỷ mưu cầu, biết quan tâm đến người khác. Lòng vị tha  chính là phẩm chất, nhân hậu cao đẹp về sự  hy sinh một điều gì cho ai đó mà không quá kỳ vọng vào lợi ích sẽ nhận lại được là gì.

Một người có lòng vị tha, họ sẽ đặt hành động vì lợi ích của người khác lên hàng đầu, thậm chí một việc khiến họ có thể trả giá hay gặp nguy hiểm. Theo nghiên cứu, phản ứng đầu tiên của con người thường là hợp tác hơn cạnh tranh.

“Đất có chỗ bồi chỗ lở, ngựa có con dở con hay

Một cây có cành bổng cành la

Một nhà có anh giàu anh khó

Mía có đốt sâu đốt lành

Năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài

Bàn tay có ngón dài ngón ngắn”

2-Tại sao nên thực hành lòng vị tha mỗi ngày?

Theo các nhà nghiên cứu cho rằng, thực hành lòng vị tha sẽ tăng cường sự lành mạnh về nhân cách của mỗi cá nhân từ tình cảm đến vật chất. Ngoài ra, việc thực hành phẩm chất này mỗi ngày còn giúp:

Theo các nhà nghiên cứu, khi hành động giúp đỡ một ai đó, mỗi trong não bộ sẽ bắt đầu kích hoạt và phóng endorphin, và xuất hiện cảm giác lâng lâng, hạnh phúc. Qua khảo sát nhiều người kể lại, khi hành động được một việc tốt, họ cảm thấy mãn nguyện và hạnh phúc hơn rất nhiều, điều này còn được đặc biệt phát hiện ở cả trẻ em. Những cảm xúc này, thường được phản ánh trong, gây hoạt hóa ở các bộ phận não có liên quan đến sự tin cậy, niềm vui, kết nối xã hội.

“Thương người như thể thương thân”

-Lòng vị tha tốt cho lợi ích thực tế

Những người có phẩm chất vị tha, thường gặt hái được nhiều lợi ích tài chính khá bất ngờ từ lòng tốt của họ. Bởi khi họ giúp người khác, người được giúp thường có xu hướng muốn đáp lại lòng tốt đó. Chính ta có thể dễ dàng nhìn thấy, trong thế giới động vật, những loài sống bầy đàn, hoạt động cùng nhau thường sống sót lâu hơn những loài sống riêng lẻ. Việc một doanh nghiệp thường xuyên có những chương trình,  tổ chức từ thiện thường sẽ làm công ty trở nên tốt đẹp và giá trị hơn.

“Của anh như của chú”

-Lòng vị tha là tốt cho sức khỏe

Nhà nghiên cứu Stephen đã từng cho rằng, lòng vị tha thậm chí cải thiện sức khỏe rất nhiều đối với những người bị đa xơ cứng. Đặc biệt đối với người cao tuổi và những người có dấu hiệu trầm cảm, việc thường xuyên giúp đỡ bạn bè, người thân sẽ làm giảm đi rất nhiều những suy nghĩ tiêu cực, giúp họ lạc quan và yêu đời hơn.

“Giơ cao đánh khẽ”

-Lòng vị tha thúc đẩy kết nối xã hội

Khi chúng ta hành động tốt, dành những nghĩa cử cao đẹp với người khác, họ sẽ cảm nhận được và gần gũi hơn với chúng ta. Bởi sự hào phóng và tử tế, dẫn con người sẽ thấy được sự từ tâm và tích cực hơn. Nhà tâm lý học Sonja Lyubomirsky từng viết một câu trong cuốn “Làm thế nào để hạnh phúc” đó là: “nuôi dưỡng một nhận thức cao về tương thuộc và hợp tác trong cộng đồng xã hội của mình”

“Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”

-Lòng vị tha tốt cho giáo dục

Sau mỗi giờ học tập, tại các buổi hoạt động ngoại khóa, nơi mà học sinh, sinh viên có thể bổ sung cho học tập trên lớp bằng các trải nghiệm thực tế, sẽ giúp cải thiện rất nhiều đến thành tích học tập và sự kết nối giữa các cá nhân lại với nhau. Quá trình trải nghiệm, học sinh, sinh viên sẽ phải cùng hợp tác để hoàn thành dự án nào đó, sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ tích cực, đoàn kết và ít xảy ra tình trạng bắt nạt hơn

“Cao cành nở ngọn, mọi bạn mọi đến”

3-Biểu hiện của một người có lòng vị tha

-Trong công việc

Họ luôn đặt mục đích là việc vì xã hội, vì người khác lên hàng đầu. Thường sẽ vì lợi ích chung trước, nếu có vì mình cũng hay gắn kết với lợi ích chung của mọi người.

Cùng làm việc nhóm, nếu dự án thất bại, thay vì họ thường không đổ lỗi cho bất kỳ ai mà tự nhìn nhận lại bản thân, xem xét lỗi sai của chính mình. Luôn là người sẽ đứng ra gánh vác những trách nhiệm.

Trong công việc, người có lòng vị tha rất chăm chỉ và nỗ lực, họ chưa bao giờ né tránh với những phần việc khó, hay đùn đẩy công việc cho bất kì ai khác

Các biểu hiện của một người có lòng vị tha

“Thương nhau chín bỏ làm mười”

-Trong mối quan hệ với mọi người

Người có lòng vị tha thường được ví với câu: “ Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, luôn luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ cho mình

Họ sẽ luôn day dứt, trăn trở về những hành động và lời nói của mình, không biết có làm tổn thương hay tổn hại đến người khác hay không.

Họ luôn biết cách kìm nén cảm xúc cá nhân để làm vui lòng người khác, luôn sống với phong thái hòa nhã, thân thiện với những người xung quanh. Dễ đồng cảm, dễ chia sẻ với những người xung quanh.

Nếu ai có những hành động không đúng, họ cũng rất dễ dàng thông cảm và tha thứ, rất ít khi bắt bẻ hay nói những lời khó nghe với đối phương.

“Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn.”

4-Ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống

-Đối với bản thân

Cuộc sống sẽ luôn tồn tại vô vàn những xung đột, khi có lòng vị tha, nghĩa là chúng ta đã có thêm đức hi sinh, chiến thắng được lòng vị kỷ. Học cách tha thứ cho những người làm tổn thương mình, đó mới chính là cơ sở vững chắc để hoàn thiện nhân cách, nó sẽ là cách tốt nhất để kết nối tình cảm, lấy lại được sự bình an và an yên trong tâm hồn

Người có lòng vị tha, luôn được mọi người xung quanh tôn trọng và nể phục, bởi khi sống vị tha sẽ giúp cuộc sống trở nên chất lượng và thân thiện hơn. Những người có phẩm chất này thường được giúp đỡ rất nhiều trong cuộc sống, đó là điều không quá khó hiểu khi họ dễ thành công trong cuộc sống

“Lòng trắc ẩn, cội nguồn của mọi đạo đức, chỉ có thể đạt được toàn bộ chiều rộng và chiều sâu nếu nó bao trùm tất cả sinh vật sống chứ không chỉ giới hạn ở loài người.”

-Đối với xã hội

Việc tha hóa bởi môi trường xung quanh rất dễ xảy ra, vì vậy khi cảm hóa được bởi lòng vị tha, sẽ giúp họ nhanh chóng quay lại cuộc sống lương thiện, chuyển hóa được từ hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn.

Phẩm chất này giúp xây dựng nên các giá trị khoa học và nghệ thuật, khi cuộc sống còn nhiều sự bất công, thì giữa người và người tồn tại phẩm chất vị tha, sẽ là phương pháp hữu ích cân bằng lại yêu thương, dành những cơ hội tốt cho những người yếu kém, vươn lên trong cuộc sống, bình đẳng trong những giá trị chung tốt lành của xã hội.

“Xung đột là cơn bệnh trầm trọng của nhân loại; và lòng vị tha là liều thuốc duy nhất.”

5-Rèn luyện lòng vị tha

+Trong công việc

Người có lòng vị tha là người luôn đặt mục đích của mọi việc làm là vì người khác, vì xã hội. Nếu có vì mình cũng luôn gắn bó với lợi ích chung của mọi người.

- Khi làm việc, luôn giành phần khó khăn về mình, không lười biếng, tránh né, đùng đẩy công việc cho người khác.

- Khi gặp khó khăn biết đứng ra gánh vác trọng trách.

- Khi gặp thất bại không đỗ lỗi cho người khác. Phải nghiêm túc nhìn nhận những sai trái của bản thân.

- Khi thành công không khoe khoang, kể lể công trạng.

“Hãy xây dựng sức mạnh và khả năng kiểm soát khi còn trẻ và ôm lấy sự yêu thương với trái tim vị tha. Chỉ như vậy, ta mới tìm được yên bình thực sự trong tim và bắt đầu cuộc hành trình tiến tới cái tôi tốt đẹp hơn và những ngày tháng tốt đẹp hơn trong đời.”

+ Trong mối giao tiếp với mọi người

-Người có lòng vị tha luôn sống hòa nhã, vui vẻ, thân thiện với mọi người. Họ dễ đồng cảm, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ cũng biết kìềm nén cảm xúc của riêng mình để làm vui lòng người khác. Họ luôn nghĩ về người khác trước khi nghĩ đến mình (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

-Người có lòng vị tha dễ thông cảm và tha thứ lỗi lầm của người khác. Họ ít khi bắt bẻ hay gây khó dễ cho người khác khi họ mắc lỗi lầm. Người có lòng vị tha luôn trăn trở, day dứt về những hành động và lời nói của mình và người khác. Không bao giờ họ muốn làm phương hại đến người khác.

“Tất cả những gì có ý nghĩa là điều chúng ta làm cho nhau.”

6-Ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống

-Đối với bản thân

Có lòng vị tha mới được đức hi sinh, tinh thần xả thân, mới chiến thắng được lòng vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân. Đó là căn nguyên để hoàn thiện nhân cách bản thân. Cuộc sống luôn có những xung đột xảy ra. Hãy tha thứ cho những người đã làm mình bị tổn thương. Vì đó là cách tốt nhất để kết nối tình cảm và tìm lấy sự an bình cho tâm hồn.

Lòng vị tha giúp chúng ta sống bình an và thanh thản trong tâm hồn. Sống với lòng vị tha giúp cho môi trường sống thân thiện, cuộc sống chung có chất lượng tốt đẹp hơn. Người có lòng vị tha được mọi người yêu mến, nể trọng. Bởi vậy, họ thường được giúp đỡ và dễ thành công trong cuộc sống.

“Ai cũng phải quyết định mình sẽ bước dưới ánh sáng của lòng vị tha sáng tạo, hay trong bóng tối của tính ích kỷ hủy diệt.”

- Đối với xã hội

Lòng vị tha có thể cảm hóa được người tha hóa lở lầm, giúp họ tìm lại được niềm tin vào chính mình và trở lại cuộc sống lương thiện. Lòng vị tha cũng có thể chuyển hóa những hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn.

Lòng vị tha là động lực xây nên những giá trị khoa học và nghệ thuật đích thực đóng góp cho con người. Nhà thơ Đỗ Phủ khi xưa đã ước mơ về ngôi nhà chung che bão tố khắp văn sĩ trên đời. Nhà văn Nam Cao cũng coi tình thương đồng loại là nguyên tắc sống, là lẽ sống của con người. Trong khi tổ chức đời sống chưa hợp lý, chưa bình đẳng giữa con người thì tình yêu thương vị tha là phương cách duy nhất hữu ích để cân bằng. Yêu thương sẽ dành cho người thiệt thòi một cơ hội được học tập, vươn lên và bình đẳng với nhau trong những giá trị chung, tốt lành của xã hội.

Lối sống vị tha phù hợp với xu thế của thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa, trên nguyên tắc hợp tác và chia sẻ. Mỗi dân tộc có một lối ứng xử và những chuẩn mực riêng. Càng mở rộng sự giao lưu, hợp tác chúng ta càng cần rèn luyện lòng vị tha lớn hơn nữa để có thể thấu hiểu, tha thứ và tăng cường mối giao kết bền chặt. Có như vậy mới bảo đảm rằng mối liên hệ của bản thân và bạn bè thế giới mới trong sạch, vững mạnh.

Sống vị tha không có nghĩa là nuông chiều những thói hư tật xấu, bao che, dung túng những khuyết điểm. Sống vị tha phải có bản lĩnh cá nhân, luôn có chủ kiến cá nhân, không lệ thuộc vào người khác. Cần phê phán lối sống vị kỷ, chỉ biết sống cho bản thân mình, lạnh lùng, dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại. Lối sống ích kỷ sẽ gây ra sự mất đoàn kết, làm suy giảm sức mạnh tập thể, của cộng đồng. Phê phán những việc làm từ thiện nhưng không phải xuất phát từ tâm mà để trở nên nổi tiếng là điều khó chấp nhận, nhưng đang thường xảy ra trong cuốc sống ở VN.

Rèn luyện đức tính vị tha bằng cách luôn tự hỏi bản thân đã làm gì cho người khác trước khi cho bản thân mình. Biết tha thứ cho người khác và cũng tha thứ cho bản thân mình. Biết lắng nghe cũng như biết chia sẻ với người khác những điều không vừa ý, không cùng quan điểm.

Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn. Vị tha không có nghĩa là sẽ tha thứ mọi lỗi lầm của người khác. Có những việc làm không thể tha thứ được. Cũng có những người ta không thể tha thứ được. Sống có lòng vị tha là phải biết tranh đấu chống lại cái xấu, kẻ xấu, bảo vệ công lý. Lòng vị tha chính là viên ngọc quý không ngừng tỏa sáng trong tâm hồn của con người, rất cần phải được gìn giữ cẩn thận.

“Một trong những bí mật của cuộc sống: tất cả những gì thực sự đáng làm đều là những gì ta làm vì người khác.”

7-Sống vị tha, cuộc sống sẽ hạnh phúc

Cuộc sống luôn có những lời nói làm ta không hài lòng, có những hành động khiến ta bị tổn thương, nhưng chúng ta phải biết buông bỏ, tha thứ để tiếp tục vui sống.

Lòng vị tha không phải tự nhiên mà có, nó phải có quá trình hình thành, nuôi dưỡng và phát triển. Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng có lúc phạm sai lầm. Sự tha thứ cho những lỗi lầm của người khác và của chính mình sẽ giúp chúng ta có cuộc sống tốt đẹp hơn. Lòng vị tha là một trong những phẩm chất tốt đẹp không thể thiếu của con người. Người có lòng vị tha luôn nghĩ cho người khác, biết đặt mình vào vị trí của đối phương để hiểu, sẵn sàng tha thứ cho những lỗi lầm mà người khác đã gây ra. Họ giải quyết vấn đề bằng tấm lòng nhân hậu và khoan dung. Tha thứ cho một người đã làm ta đau lòng thật không dễ, tuy nhiên dù khó khăn đến đâu, ta vẫn nên học cách tha thứ. Tha thứ không chỉ là bỏ qua lỗi lầm của người khác, mà còn mở rộng lòng mình. Buông bỏ sự thù oán, không để tâm đến những tổn thương mà mình từng gánh chịu, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ lòng. Tha thứ không có nghĩa là bao che, dung túng lỗi lầm, để người khác lợi dụng mình, tiếp tục phạm sai lầm. Sự vị tha nào cũng cần có giới hạn của nó, biết dừng lại đúng lúc, biết cách tha thứ để tiếp tục bước tiếp. Việc gì nếu tha thứ được thì nên tha thứ, tha thứ cho người và cho chính bản thân sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc cân bằng cuộc sống. Tha thứ giúp chúng ta bình tĩnh, suy nghĩ mọi việc thấu đáo hơn và rút ra được những bài học thật sâu sắc cho bản thân. Bản lĩnh sống của mỗi người chính là biết nhận ra lỗi lầm của mình, nhận ra lòng vị tha của đối phương để điều chỉnh thái độ, hành vi cho phù hợp. Để có thể hạn chế sự tức giận, cách tốt nhất là chúng ta nên học cách tha thứ cho người khác, hãy làm những điều tốt đẹp đó bất kỳ khi nào có thể.

Lòng vị tha chẳng phải là điều gì xa vời, chúng ta chỉ cần để tâm một chút đến cảm nhận của người thân, bạn bè, chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác thậm chí có thể hy sinh kể cả lợi ích của cá nhân. Lòng vị tha còn thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu cầu, toan tính khi ta giúp đỡ người khác. Những người giàu lòng vị tha luôn được mọi người yêu mến, quý trọng. Họ cảm thấy thanh thản trước cuộc đời bởi thấy rằng mình luôn sống có ích.

Lòng vị tha chính là chất xúc tác giúp mình xóa bỏ cảm giác tiêu cực. Tha thứ đem đến cho chúng ta sự bình an và là nền tảng xây dựng nên mối quan hệ tốt đẹp. Tha thứ là cách giúp mình chữa lành vết thương tâm hồn và làm cho ta cảm thấy hạnh phúc hơn.

“Tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể tha thứ bản thân nếu tôi chọn sống mà không có mục đích nhân đức, mà không cố gắng giúp đỡ những người nghèo khổ và bất hạnh, mà không nhận ra rằng có lẽ niềm vui tinh thuần nhất trong đời đến từ việc nỗ lực giúp đỡ người khác.”

8- Chìa khóa để sống vị tha trong cuộc sống

Đừng quên bản thân mình cũng từng gây ra lỗi lầm. Nhìn vào sự thật này để thấy người khác có thể tha thứ cho mình thì tại sao mình không thể?

Trong cuộc sống, những gì cũ kỹ nên xếp lại kể cả những xích mích, bất đồng, va chạm. Biết là vậy nhưng đôi khi ta vẫn bực bội khi phải tha lỗi cho những điều khó ưa đó. Điều này không có gì trái với tự nhiên, vì tha thứ thường khó hơn mắc phải lỗi lầm rất nhiều lần, tuy vậy nó hoàn toàn là điều có thể.

“ Sự khoan dung là sợi dây xích vàng gắn kết xã hội lại với nhau”

-Đừng đợi nhận được lời xin lỗi

Thông thường chúng ta rất biết cách bảo vệ lẽ phải của mình: ‘Không lý gì tôi phải tha thứ cho hắn trước trừ khi hắn thừa nhận sai phạm và xin lỗi tôi'", Mariah Burtom Nelson - tác giả quyển "Five keys to forgiveness and freedom" (5 chìa khóa giúp bạn vị tha và thư thái), nhận xét.

Nhưng nếu chúng ta làm điều đó (chấp nhận tha thứ trước khi nhận được lời xin lỗi) thì chúng ta sẽ tránh được tình trạng tâm trí bị đeo đẳng bởi cơn giận dữ trong khoảng thời gian không lấy gì làm ít ỏi và thường thì chính chúng ta mới là người gánh chịu các thiệt hại do sự tức giận ấy gây ra. Điều này có khác gì ta tự mình đặt niềm vui, sự thanh thản dễ chịu của bản thân vào tay người khác?".

“ Xử những việc khó xử càng nên khoan dung; xử người khó xử, càng nên trung hậu; xử thời buổi khó khăn, ngờ vực, càng nên tự nhiên như vô tâm”

-Tìm cách thông cảm với sự xúc phạm

Hành động xúc phạm mình của anh ấy/cô ấy có lẽ xuất phát bởi một nỗi đau chôn kín nào đó và họ phải dùng nó như một trong những phương cách tự vệ. “Có một câu tôi vẫn thường nhắc nhở mình: đằng sau bất kỳ hành động thô lỗ nào, thường là một chuyện đau lòng”, Nelson cho biết.

Hãy thử hoán đổi vị trí giữa ta và người xúc phạm. Bằng việc làm này ta đã tự mình từng bước tháo bỏ những bực bội chất chứa trong lòng ít nhiều rồi đấy. Một sự việc chỉ gây khó chịu khi chưa được các bên liên quan hiểu thấu đáo mà thôi. Tiến sĩ Robert Karen chia sẻ: “Chúng ta cũng hay quên một điều rằng ngay với những người yêu thương chúng ta (hoặc những người chúng ta yêu thương) đôi khi vẫn không tránh khỏi việc làm tổn thương, và có thể cả phản bội chúng ta. Nhưng trên hết, điều này không bắt buộc chúng ta phải chấm dứt mối quan hệ với họ”.

“Chừng nào ta còn chưa học được cách khoan dung với những người không phải lúc nào cũng đồng ý với mình, ta sẽ không bao giờ thành công hay hạnh phúc”

-Đừng quên rằng bản thân mình cũng từng gây ra không ít lỗi lầm

Nhìn vào sự thật này để thấy rằng người khác có thể tha thứ cho mình thì tại sao mình không thể làm điều này nhỉ?

“Một sự nhịn là chín sự lành”

-Hãy “kịch” một chút

Nếu ta không thể hiện điều này qua hành động bất kỳ thì mình khó chắc chắn rằng đã thực lòng tha thứ”. Ví dụ: ta có thể cầm một cục đá kha khá trong tay và thả rơi nó xuống khi ta nói lời tha thứ, hay mình cũng có thể thắp lên một ngọn nến và liên tưởng những gì chất chứa trong lòng sẽ dần biến mất như sáp nến kia đang từ từ tan chảy.

“Trẻ nhà người như trẻ nhà ta”

-Nhớ rằng tha thứ không phải là quên mất

Đôi khi dù chuyện buồn đã xảy ra từ lâu và ta cũng đã tha thứ nhưng vẫn không tránh khỏi những phút nhói lòng bất chợt khi một sự việc tương tự vô tình xuất hiện. Vì vậy, ta được khuyên rằng nên thường xuyên làm mới lại sự vị tha của mình trên một vài khía cạnh.

“Hoa thơm ai dễ bỏ rơi,

Người khôn ai nỡ nặng lời với ai.”

-Sau cùng, tha thứ cho người cũng chính là tha thứ cho bản thân.

Karen đã nói: "Tha thứ cho người khác chính là sự phản chiếu cho hình ảnh chúng ta tự tha thứ cho chính mình".

“Những người đức hạnh thuận hoà

Đi đâu cũng được người ta tôn sùng.”

9- Suy Ngẫm

Sai lầm trong cuộc sống là một điều không thể tránh khỏi trong cuộc đời của mỗi con người. Và trong những sai lầm đó rất cần lòng vị tha của những người xung quanh để ta có thể sửa sai và tiếp tục sống. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: lòng vị tha có vai trò cực kì quan trọng và ý nghĩa đối với cuộc sống con người. Vị tha là tấm lòng bao dung, độ lượng, những người có tấm lòng vị tha là người rất nhân hậu với mọi người. Trong cuộc sống, chẳng ai có thể dám khẳng định rằng mình sẽ không mắc lỗi, mình hoàn hảo cả. Những lỗi lầm cần lắm sự bao dung, vị tha từ ngời khác để bản thân có thể rút ra những bài học quý giá từ đó hoàn thiện bản thân mình. Mỗi chúng ta ngoài việc mưu cầu lòng vị tha từ người khác thì cũng cần phải rèn luyện cho mình sự bao dung với những người xung quanh. Xã hội mà con người với đầy ắp lòng vị tha sẽ là một xã hội vô cùng tốt đẹp, nhân văn, con người biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, hiện nay trong cuộc sống vẫn còn có rất nhiều người ích kỉ, thấy người khác mắc lỗi đành vội vàng quay lưng. Lại có những người không biết thay đổi bản thân, rút ra bài học cho mình sau những lỗi lầm mà lại coi rằng sự tha thứ của người khác đó là lẽ đương nhiên. Những người này cần xem xét và cải thiện thái độ sống của chính bản thân mình. Mỗi người hãy sống vị tha một chút, bao dung một chút thì xã hội sẽ tươi đẹp hơn nhiều. Hãy trân trọng những người có lòng vị tha và hãy cố gắng hoàn thiện bản thân mình theo chiều tích cực nhất nhé.

Lòng vị tha là sự hy sinh một điều gì cho ai đó mà không phải cho bản thân mình (ví dụ hy sinh thời gian, tiền bạc, của cải) và không kỳ vọng sẽ được ghi nhận hay sự đền đáp hoặc lợi ích dù là trực tiếp, hay gián tiếp từ phía người nhận hoặc cộng đồng.

Lòng vị tha chính là biểu hiện cao đẹp nhất của phẩm chất nhân hậu từ con người. Nó không đòi hỏi gì nhiều ngoài một trái tim biết chia sẻ vui buồn, biết yêu thương đồng loại.


II- Lòng Khoan Dung

Khoan Dung Độ Lượng

Đôi chân hoang đàng về in dấu loạn

Trên lối bụi mờ mẹ dắt ta xưa

Lối bụi giờ đây không còn bụi nữa

Dấu chân tự đi hờ hững nghi ngờ.

 

Vườn cây độ lượng chìa ra trái

Dòng sông độ lượng nước dâng đầy

Cánh cò độ lượng viền khung cũ

Tiếng gà độ lượng giấc trưa say.

 

Duy chỉ ta là không độ lượng

Khói bụi nhân gian ám đặc đời

Nước mắt nụ cười sềnh sệch quánh

Mực đen son đỏ rõ ràng rồi.

 

Ta về để tiễn ta đi nữa

Mỏi mệt loanh quanh ám lại đời

Độ lượng chiều nay sương gió ấm

Dịu dàng hóa thạch dấu chân trôi…

 1-Khoan dung là gì?

Khoan dung chính là lòng rộng lượng của con người, tha thứ cho những sai phạm, lỗi lầm người khác gây ra. Không chỉ vậy, khoan dung còn là cách thể hiện sự cưu mang, giúp đỡ những người lầm đường lạc lối, giúp họ sống lành mạnh, hướng đến những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Khoan dung không chỉ với mọi người mà còn là khoan dung với chính bản thân mình, giúp cho bản thân cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái và thư thái trong tâm hồn.

Lòng khoan dung xuất phát từ sự cảm thông, sẻ chia, từ tấm lòng nhân ái của mỗi con người. Chúng ta không nên nghiệt ngã với những người làm ta đau khổ, vì bởi bên trong họ cũng có vô vàn những khổ đau. Phải thấu hiểu, cảm thông ta mới có thể khoan dung, yêu thương họ. Nhà văn Nam Cao cũng từng nói: " Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi,...toàn những cớ cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương...  Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai khác nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất. "

Tuy nhiên, khoan dung không có nghĩa là thỏa hiệp với tất cả mọi lỗi lầm, sai trái, tội lỗi. Chúng ta cần suy nghĩ thấu đáo để không bị lợi dùng lòng thương, chấp nhận các sai lầm nghiêm trọng. Khoan dung cũng không có nghĩa là nhẫn nhục, chịu đựng những điều phi lý, vô đạo đức.

Trái ngược với khoan dung là hẹp hòi, ích kỷ, luôn nghĩ cho bản thân mình, không cảm thông, sẻ chia với những người xung quanh.

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”

2-Biểu hiện của lòng khoan dung

-Lòng khoan dung được biểu hiện khá rõ ràng qua những sẻ chia và sự quan tâm của một người đối với mọi người xung quanh. Phải có tấm lòng yêu thương, vị tha, ta mới có thể cảm thông, sẻ chia, từ đó khoan dung với mọi người.

-Người có lòng bao dung sẽ dễ dàng tha thứ cho người khác khi người ấy thực sự hối cải. Tha thứ cho người khác sẽ là động lực giúp họ vượt lên lỗi lầm, sửa chữa lỗi sai và sống tích cực hơn.

-Những người có lòng bao dung và biết bỏ qua các lỗi lầm, cái sai của người khác sẽ giúp những người ấy vượt qua những trở ngại, khó khăn trong đời sống. Khoan dung sẽ không yêu cầu con người ta phải bỏ qua ngay lập tức các lỗi lầm của người khác một cách dễ dàng mà ngược lại họ sẽ có thái độ và hành động tinh tế.

-Khả năng vượt qua những khó khăn, trắc trở của chính mình một cách đơn giản và nhẹ nhàng với tâm thế thoải mái, vui vẻ.

-Khoan dung không chỉ được biểu hiện qua ứng xử với người xung quanh mà còn là khoan dung với chính bản thân mình. Khoan dung với chính mình bắt đầu từ nhận thức về bản thân, hiểu rằng chúng ta không hoàn hảo, ai cũng có những khuyết điểm của riêng mình. Chỉ cần chúng ta cố gắng khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm, không khắt khe với bản thân, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng, thanh thản hơn.

-Truyền thống khoan dung, khoan hồng độ lượng đã có từ xa xưa trong lịch sử của ông cha ta. Dân tộc Việt dù trải qua chiến tranh đau thương mà mất mát, chúng ta vẫn dành một tấm lòng nhân đạo, nhân ái, tha thứ cho kẻ thù của mình. Trong "Tuyên ngôn độc lập" Bác đã khẳng định: "Tuy vậy, dân tộc Việt Nam trước sau vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo với kẻ thù thất thế."

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

 3-Ý nghĩa của lòng khoan dung

Lòng khoan dung không chỉ là một đức tính tốt đẹp ở mỗi người mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cuộc sống và những người xung quanh ta.

Người có lòng khoan dung, vị tha luôn cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản, cuộc sống vui vẻ và tốt đẹp. Chính vì vậy, họ thường nhận được sự yêu mến, quý trọng của mọi người, nhận được sự tin yêu của người khác.

Nhờ có sự khoan dung mà cuộc sống của con người trở nên lành mạnh và văn minh hơn. Bởi nhờ có khoa dung, các mối quan hệ giữa con người và con người ngày càng trở nên khăng khít, gắn bó hơn.

“ Người nắm quyền hành phải biết nhìn xa, trông rộng, lòng dạ ngay thẳng, điều độ khoan dung, biết thương người, biết nắm thời cơ để khi cần thì thu hút được quần chúng vào việc lớn.”

4-Dẫn chứng của lòng khoan dung

Pierre Benoit đã từng khẳng định: 'Khoan dung là đức tính đem lợi về cho cả ta lẫn người khác". Thật vậy, lòng khoan dung chính là nhân tố quan trọng góp phần làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Từ cổ chí kim, lòng khoan dung luôn là điều thiết yếu của cuộc sống. Người xưa từng nói "nhân vô thập toàn". Con người chẳng có ai hoàn hảo, tốt đẹp đến mức tuyệt đối. Trong thần thoại Hy Lạp, ngay cả người con của bị thần như A Sin cũng có điểm yếu ở gót chân, để rồi chính gót chân ấy đã bị kẻ thù lợi dụng và hãm hại.

Ai ai cũng hơn một lần mắc lỗi, không chỉ với người xung quanh mà còn với chính bản thân mình. Đó có thể là hành động do suy nghĩ chưa chín chắn, hoặc do hoàn cảnh đẩy họ vào sai trái. Khi ta không hiểu mà cứ cố chấp, trách móc, chế giễu lỗi lầm của người khác, bản thân ta cũng không thể thanh thản, mà sự trách móc ấy còn có thể khiến người sai càng trở nên lầm đường lạc lối, và khiến mối quan hệ giữa con người với con người rạn nứt. Khoan dung với người khác cũng chính là khoan dung với bản thân mình.

Trong lịch sử dân tộc, lòng khoan dung là truyền thống văn hóa cao đẹp của người Việt ta. Khi giặc Minh thất bại, chúng ta không đuổi cùng giết tận mà mở cho họ con đường sống, Nguyễn Trãi đã từng viết trong "Bình Ngô đại cáo":

"Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền

Vương Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa"

Hay trong các câu ca dao, dân ca, lòng nhân ái, vị tha cũng nhắc nhở con cháu đời sau:

"Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"

Lòng khoan dung là một đức tính cao đẹp cần có ở mỗi người, nó xây đắp tâm hồn con người, giúp đỡ mọi người xung quanh và là bệ đỡ để cuộc sống trở nên lành mạnh, văn minh hơn.

“ Giận dữ và không khoan thứ là kẻ thù của sự thông hiểu đúng đắn.”

5-Cách rèn luyện đức tính khoan dung

Khoan dung là đức tính có trong mỗi người, tuy nhiên cuộc sống muôn màu muôn vẻ có thể mài mòn đức tính cao đẹp ấy. Chính vì vậy, chúng ta cần rèn luyện để nó không bị mai một và phát huy một cách trọn vẹn. Nếu chúng ta không vun đắp thì đức tính này sẽ dễ dàng bị phai mờ theo thời gian gian.

Sau đây là một vài chia sẻ để giúp ai đó rèn luyện cho mình đức tính khoan dung:

- Bước đầu tiên để khoan dung đó chính là đồng cảm, thử nhìn nhận sự vật, sự việc theo quan điểm của người khác.

- Hãy luôn cởi mở với mọi người xung quanh, duy trì các mối quan hệ gần gũi , thân tình.

- Cử xử một cách chân thành, không vụ lợi, dùng sự vị tha, rộng lượng để đối đáp với mọi người.

- Tôn trọng người khác, tôn trọng ý kiến cá nhân của mọi người. Học cách đánh giá cao và coi trọng sự khác biệt.

- Có thái độ khoan hồng độ lượng với những người sai lầm, giúp họ nhận ra lỗi lầm và sửa chữa lỗi của họ.

- Khoan dung với chính bản thân mình, chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân, cố gắng để phát triển và thay đổi nó thành những điều tốt hơn.

- Bồi dưỡng tâm hồn của chính mình để ta có thể mở lòng, yêu thương mọi người xung quanh.

“ Sự khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn; nó đòi hỏi nỗi lực của bộ não cũng nhiều như khi bạn phải giữ thăng bằng khi đi xe đạp.”

6-Khoan dung trong đời sống gia đình

Từ xưa tới nay, lòng khoan dung, độ lượng, vị tha luôn được mọi người đề cao. Ông bà ta đã dạy: “Một sự nhịn, chín sự lành” cũng là vì thế. Bởi lòng khoan dung luôn đem đến những điều tốt lành cho cả người tha thứ và người được thứ tha. Khoan dung là yếu tố quan trọng làm nên hạnh phúc gia đình.

Chị Lưu Thị Hà ở phường 10 (TP Vũng tàu) chia sẻ, trong đời sống gia đình của mỗi người, chắc không có ai chưa từng mắc lỗi. Điều mà mọi người mong muốn là các thành viên biết nhận lỗi và sửa lỗi; cần có sự cảm thông của mọi người trong gia đình. Với chị, những lỗi lầm của chồng con, chị thường khoan dung, tha thứ. Điều này sẽ tạo cho gia đình không khí ấm cúng, mọi người dễ dàng chia sẻ với nhau những tâm tư, tình cảm hay khó khăn, vướng mắc gặp phải.

Trong quá trình trưởng thành, trẻ khó tránh khỏi những vấp ngã, phụ huynh cần có thái độ khoan dung với những lỗi lầm của trẻ. Điều đó giúp trẻ hình thành lối sống tích cực, tình cảm tốt đẹp. Trải nghiệm này càng giúp trẻ tôn trọng cha mẹ hơn, muốn được tâm sự, chia sẻ và lắng nghe ý kiến của người lớn. Ngoài ra, sự khoan dung của cha mẹ đối với trẻ sẽ giúp trẻ biết sống khoan dung với những người xung quanh”, chị Hà nói.

Còn theo chị Đặng Thị Cầm ở phường Tân dân (TP Chí Linh), khoan dung trong đời sống gia đình, đó là sự tha thứ, cảm thông với những lỗi lầm của người chồng, người vợ, với những điểm chưa tốt của người bạn đời của mình. Khi bắt đầu cuộc sống hôn nhân, mỗi khi gặp rắc rối không nên chỉ nghĩ đến bản thân mình mà phải luôn sẵn sàng nhường nhịn. Chỉ khi làm như vậy, chúng ta mới có được đời sống hôn nhân hạnh phúc. Bởi một khi tình cảm đã bị rạn nứt thì dù có hối hận cũng đã muộn. Thông thường, trong gia đình, người phụ nữ luôn là người có lòng khoan dung và dễ nhẫn nhịn, tha thứ hơn.

Người phụ nữ trong gia đình Việt xưa nay luôn có đức tính vị tha và sẵn sàng hy sinh cho mái ấm gia đình mình. Chính vì thế, khi nghĩ đến sự khoan dung, hầu như mọi người đều nghĩ đến người phụ nữ. Tuy nhiên, hơn ai hết, những người đàn ông, người chồng cũng phải mở rộng lòng mình và bao dung hơn với vợ, con. Sự khoan dung ở đây không phải chỉ là việc tha thứ những lỗi lầm, mà đó còn là cách suy nghĩ và những hành động cảm thông, sẻ chia với vợ từ công việc gia đình đến công việc ngoài xã hội. Có như vậy thì gia đình mới hạnh phúc trọn vẹn.

Anh Đào Minh Tâm ở thị trấn Phú Mỹ (huyện Tân Thành), chia sẻ: “Đối với người đàn ông, họ sẽ dễ dàng bỏ qua lỗi lầm của người khác nhưng lại thường khó bỏ qua những lỗi lầm mà bạn đời gây ra. Chính vì vậy, hôn nhân cần lắm sự khoan dung bởi quan hệ vợ chồng không có sự hơn thua, ai đúng ai sai… Con người không ai hoàn hảo, nhẹ nhàng chấp nhận rồi bước tiếp cùng nhau, đó mới gọi là cuộc sống”.

Bên cạnh tình cảm yêu thương, tinh thần trách nhiệm, sự tôn trọng lẫn nhau, nếu biết kết hợp hài hòa với lòng khoan dung sẽ giúp đời sống gia đình thêm gắn bó bền chặt. Từ đó, các thành viên trong gia đình sẽ luôn có sự thấu hiểu và đồng lòng xây đắp cho hạnh phúc gia đình.

“ Khi ta không tha thứ cho một ai đó, tức là ta đang quay lưng lại với tương lai của mình. Khi ta bao dung, điều đó có nghĩa mình đang tiến về phía trước”

7- Suy Ngẫm Về Khoan Dung Độ Lượng

Oán giận cùng với nản lòng chỉ có thể làm vật cản trở trên bước đường tiến đến thành công của mình. Khoan dung, tha thứ cho người khác thực ra cũng là đang trải đường cho bản thân mình để cuộc sống này thêm ý nghĩa.

Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là lòng khoan dung? Khoan dung là một đức tính tốt của con người. Khoan dung là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi lầm mà người khác đã phạm phải. Người có lòng khoan dung luôn biết yêu thương, đồng cảm, thấu hiểu với những người xung quanh bởi vậy mà đức Phật cũng đã dạy nhân loại: “ Tài sản lớn nhất của con người chính là lòng khoan dung”. Biểu hiện của lòng khoan dung không phải là một điều gì bí ẩn mà nó hiện ra ngay trong cuộc sống con người. Chúng ta có thể tha thứ những lỗi lầm cho bạn bè để tình bạn trở nên gắn bó lâu dài, khoan dung với người thân, với những người xung quanh ta và với chính bản thân mình có như thế thì xã hội mới trở nên gắn bó và trở thành một khối chỉnh thể thống nhất, đoàn kết.

Lòng khoan dung dễ dàng dẹp đi những chướng ngại vật trong tâm hồn và trước mắt mình để cuộc sống rộng mở là một cuộc sống trải đầy hoa hồng,bằng phẳng. Khi xóa bỏ những hận thù , những ganh tị không đáng ở trong lòng tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhõm hẳn, thoải mái và bỗng dưng cảm thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn. Như chúng ta đã biết, xã hội “ nhân vô thập toàn” không ai là hoàn hảo và không mắc những sai lầm cả, những lúc như thế cần có lòng khoan dung thì như những chiếc chìa khóa gỡ bỏ tất cả những rắc rối của bản thân với mọi người. Nếu như có lòng khoan dung con người sẽ xích lại gần nhau hơn, sẽ trở nên gắn bó, thân thiết với nhau nhiều hơn, biết tha thứ, dung nạp lẫn nhau. Khoan dung, tha thứ lỗi lầm cho người khác thì có thể cảm hoá được họ. Khi được nhận lòng khoan dung của ta, thì bản thân người đó sẽ ăn năn hối lỗi, tự tu chỉnh bản thân mình, sửa chữa lỗi lầm và có thể biết ơn ta nữa, để từ đó không tiếp tục phạm lỗi mà họ đã từng mắc phải. Chính lòng bao dung đã góp phần tẩy rửa phần con, tô đậm thêm phần người, phẩm giá làm người. Nó làm cho tâm hồn ta trở nên thánh thiện, cao thượng và giàu có hơn mà như chúng ta đã biết sự gìn, trân trọng.Không những thế lòng khoan dung còn đem lại cho cuộc sống con người sự bình yên,hòa thuận. Trong gia đình, thì vợ chồng cũng cần nhẫn nhịn, khoan dung cho nhau thì mới xây dựng nên được một gia đình gắn bó, bền chặt. Như chúng ta đã biết sau khi những chiến thắng kết thúc, Việt Nam chúng ta cũng không quên mở lòng khoan dung, tha thứ, chuẩn bị lương thảo, thuyền bè cho kẻ thù trở về nước. Đây cũng có thể hiểu là những mưu kế tinh anh của ta. Có những lúc ta cần bao dung cho chính bản thân mình thì mới có thể bao dung cho người khác được. Ta bao dung người, yêu thương, độ lượng, tha thứ người thì một lúc nào đó sẽ được người hay người khác tha thứ cho ta.

Tuy nhiên trong cuộc sống không phải ai ta cũng khoan dung. Có những người xấu muốn hãm hại ta, ta không thể khoan dung cho họ được, hay những kẻ ác, những tội phạm chuyên giết người thì ta cũng không thể nhân nhương. Như vậy,lòng khoan dung phải được đặt đúng lúc, đúng chỗ. Sự khoan dung, nếu được dùng đúng chỗ và đúng lúc thì còn có tác dụng mạnh mẽ hơn sự trừng phạt, bởi nó tác động rất mạnh đến nhận thức mỗi con người. Cuộc sống của con người sẽ trở nên tẻ nhạt, bản thân mỗi con người sẽ trở nên ích kỉ nếu không có lòng khoan dung. Bản thân mỗi chúng ta phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình lòng khoan dung. Không vì những lợi ích cá nhân mà trở nên ích kỉ, phải luôn yêu thương, gắn bó đoàn kết với nhân loại. Trong cuộc sống cũng có một số người sống thờ ơ, vô cảm, luôn chắp nhặt những chuyện vặt vãnh, chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Những người như thế cũng khiến cho xã hội tụt hậu so với bạn bè thế giới.

Tục ngữ Ba Lan đã khẳng định: “ Sự khoan dung là món trang sức của đức hạnh”. Chúng ta hãy sống chậm lại một chút, lắng nghe thấu hiểu bản thân và những người xung quanh, biết tha thứ cảm thông thì cuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp và ý nghĩa biết bao.

“ Thay vì lên án người khác, hãy cố hiểu họ. Hãy cố tìm hiểu tại sao họ lại làm điều họ làm. Điều đó có ích và hấp dẫn hơn nhiều phê phán; và nó sinh ra sự cảm thông, lòng khoan dung và sự tử tế”

8- Khoan Dung Độ Lượng Của Dân Tộc Việt

Vào cuối thế kỷ XIII, sau ba lần chiến thắng quân Mông - Nguyên, Trần Hưng Đạo đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi đó là do: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước góp sức”. Giai cấp phong kiến muốn là người đại diện chân chính cho dân tộc thì phải “sâu gốc bền rễ” trong dân và trong dân tộc. Muốn thế chính quyền phải gần dân, thân dân, khoan dân, hạn chế quan liêu, chuyên quyền độc đoán, kết hợp mềm dẻo giữa nhà nước và làng xã, giữa “phép vua” và lệ làng, giữa cái chính thống và cái dân gian, giữa nhà nước và xã hội. Khoan dung, độ lượng, vị tha, thương người chính là tinh thần cơ bản của một nền chính trị thân dân, tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc trong dựng nước và giữ nước.

Khúc Hạo (907 - 917) là nhà cải cách đầu tiên ở thế kỷ X. Nối nghiệp và nối chí cha của mình là Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo đã đảm đương một cách tài giỏi trọng trách củng cố nền tự chủ còn non trẻ của Việt Nam. Ông đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng về các mặt. Khúc Hạo chỉ ra rằng, chính trị cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Trong đó, khoan dung, tức là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với dân, chống bọn tham quan ô lại, một tệ nạn lớn của thời Bắc thuộc. Giản dị, là không làm phiền hà, nhiễu dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu. Yên vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng. Điều đó có nghĩa là, bất cứ một phong trào dân tộc chân chính nào cũng phải có một nội dung dân chủ nào đó. Khúc Hạo đã sửa đổi lại chế độ điền tô, thuế má và lực dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Ông ra lệnh “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi”. Vì nhu cầu của công cuộc xây dựng nền tự chủ, thống nhất đất nước, Khúc Hạo đã biết khoan dung với dân, phát huy sức mạnh của dân. Ông hiểu rằng chăm lo xây dựng bồi dưỡng sức dân tức là chăm lo xây dựng nền tảng độc lập của dân tộc.

Kỷ nguyên Đại Việt cho đến thế giữa thế kỷ XV, đường lối chính trị của các triều đại vẫn theo cương lĩnh bốn chữ: “khoan - giản - an - lạc”, phát triển dưới hai định hướng: dân tộc và thân dân. Các chính sách kinh tế - xã hội của các vua thời Lý tỏ ra rất uyển chuyển, thoáng mở. Giống như lời khuyên khôn ngoan của sư Pháp Thuận với triều đình Tiền Lê trước đó “Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh”, các vua Lý đã chủ trương một đường lối cai trị thấm đượm tinh thần Phật - Đạo, đó là hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước vào đời sống tự nhiên của nhân dân, để cho họ tự lo liệu, giải quyết lấy những vấn đề cuộc sống của chính bản thân họ. Lý Thái Tông, một mặt tuy vẫn kiên quyết trấn áp những cuộc phản loạn trong triều đình cũng như ngoài biên ải, vẫn đề cao một chính sách an dân dẫn ra từ đời Nghiêu Thuấn: “Thuỳ y củng thủ nhi thiên hạ đại trị” (rủ áo khoanh tay mà thiên hạ thái bình).

Trong xã hội thời Lý, dưới cái khung bao trùm của một thể chế quân chủ tập trung, là cộng đồng các làng xã còn đậm tính tự trị, tự quản. Nó tạo nên thế đối trọng tập quyền - tản quyền, nhà nước - dân gian, ở đó, chế độ ruộng công do làng xã tự chia vẫn còn chiếm ưu thế, sự phân tầng thứ bậc trong làng xã vẫn dựa vào “thiên tước”, “tuổi tác”, vai trò của tầng lớp bô lão hương ấp được nể trọng; dân chúng vẫn sống một cuộc sống tự do, tự tại, theo các phong tục cổ truyền, thờ cúng tổ tiên, lên chùa lễ Phật. Đối với chính sách kinh tế hàng hoá dân gian, các vua Lý vẫn chưa có chính sách kiểm soát ngặt nghèo, mà để cho tự do phát triển. Nhà nước cũng chưa thi hành chính sách bế quan toả cảng đối với ngoại thương, thay vào đấy là một chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực (qua việc thành lập các bạc dịch trường vùng biên, lập trang Vân Đồn buôn bán với các thuyền buôn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á). Xã hội thời Lý là một xã hội mở, khai phóng, nhân văn và nhân bản. Trong đó tinh thần khoan dung và tư tưởng hiếu sinh Phật giáo (một hình thức của quyền sống, quyền con người) được tôn trọng ở một mức độ khá cao. Nói như Giáo sư Đặng Thai Mai, đó là một xã hội vẫn có chỗ cho một “mép lề phóng khoáng”, phi độc tôn, phi cực quyền.

Biên niên sử Việt Nam chép nhiều việc các vua Lý đi thăm dân, xem xét mùa màng, miễn giảm tô thuế, lấy của cho chuộc đàn bà con gái vì nhà nghèo phải đem thân đi ở thế nợ; giảm nhẹ các hình phạt. Như Phan Huy Chú đã nhận xét: “Hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan rộng”. Lý Thánh Tông (1065) tuyên bố: yêu dân như con; nhiều vị thiền sư khuyên vua Lý gần dân, theo đường lối an dân. Vì vậy, 216 năm dưới triều Lý dường như không có khởi nghĩa nông dân.

Nhà nước Đại Việt Trần, cũng như Đại Việt Lý - quân chủ Phật giáo hay đúng hơn là đặt trên ý thức hệ Tam giáo, với đường lối tư duy và hành động khoan dung. Giáo sư Đặng Thai Mai có nhận xét: “Nét đặc biệt rõ ràng trong đời sống Việt Nam ở giai đoạn này là sự giản dị trong quan hệ giữa con người với con người. Giữa vua quan với nhân dân, sự cách biệt còn chưa đến nỗi quá gay gắt, “cách trùng”. Một nhà vua nổi tiếng là anh minh của nhà Trần (Nhân Tông) đã nhiều lần nhắc nhở con cháu mình chớ nên quên rằng tổ tiên họ xưa kia cũng chỉ là những người dân đen (chài cá). Từ cung điện ở phủ Thiên Trường, nhà vua ngắm cảnh thôn quê và lắng nghe tiếng sáo của các em bé chăn trâu đi dọc theo con đường làng bên bờ ruộng, nơi hai cái cò trắng vừa tà tà hạ cánh...” . Giáo sư Mỹ O.W. Wolters, chuyên gia lớn về thời Trần của Đại học Cornell (Mỹ) đã khái quát: “Thời Trần, chính quyền kiểm soát dân chúng hơn là cai trị dân chúng” (3). Chính vì theo đường lối nới sức dân, khoan dung với người dưới mà triều Trần ba lần đại thắng xâm lược Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288). Người dưới có lỗi, các vua Trần thường nhận là do lỗi của mình trước, xét xử đầy khoan hậu, ít nghiêm khắc. Xe vua gặp các gia nô nhà vương hầu, thường dừng lại hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Đám tang vua quần chúng hàng vạn người tràn cả vào hoàng cung xem lễ, nhà Trần không dùng chế độ cảnh sát để giải tán quần chúng mà cho quân sĩ phân thành từng nhóm ca hát để thu hút họ do đó làm dãn bớt đám đông...

Từ thời Đinh, Phật giáo được chính thức thừa nhận làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho nhà vua và dân chúng, cho chính sự nói chung. Rất nhiều thiền sư tham gia chính sự tuy không tham gia chính quyền. Sư bàn cả việc quân sự, khuyên vua đánh Tống, bình Chiêm.

Trước thời hậu Lê (từ thế kỷ XV về trước) triều đình Đại Việt biết dung hợp cả ba ý thức hệ Phật, Đạo, Nho. Các vua đầu đời Trần, từ Thái Tông đến Anh Tông, đều có căn bản vững chắc về Phật học. Thiền phái Trúc Lâm ra đời và phát triển mạnh, có tính dân tộc. Dưới sự chi phối của tinh thần dân tộc, của hệ tư tưởng yêu nước, Phật giáo đời Trần cũng mang tính cách “nhập thế” mạnh. Phật, Nho, Đạo đều phụng sự cho đời sống, đời sống tâm linh giải thoát cũng như đời sống xã hội thực tiễn. Cũng do nhu cầu cố kết nhân tâm và hoà hợp dân tộc, cũng như thời Lý, tam giáo vẫn thịnh hành cùng với những tín ngưỡng dân gian khác. Vua tu thiền nhưng các con vua có thể không tu thiền, theo Đạo hoặc mở trường học Nho. Tinh thần khoan dung và tự do vẫn chi phối. Cũng như thời Lý, thời Trần không chỉ “thi Nho mà thi cả tam giáo”. Cạnh văn là võ. Cái tinh thần cơ bản của thời Lý, Trần vẫn là tinh thần thượng võ. Tuổi trẻ thời Trần, từ quý tộc đến bình dân phần nhiều chuộng võ dũng. Lê Quý Đôn - nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII đã hết lời ca ngợi nhà Trần đãi ngộ nhân tài một cách khoan dung, cởi mở, cẩn trọng, lễ phép cho nên nhân sĩ thời ấy ai ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn kiệt vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được đâu! (Kiến Văn tiểu lục) .

Văn hóa thời Lý, Trần là nền văn hóa dân tộc, độc lập. Chữ nôm ra đời, một nền văn học nôm hình thành và bước đầu phát triển. Những bộ sử đầu tiên của dân tộc ra đời. Thần thoại và truyện cổ dân gian được sưu tầm và biên soạn thành sách và cho in ấn. Sinh hoạt văn hoá cung đình vẫn mang đậm tính chất dân gian, đậm đà chất Đông Nam Á: đấu vật, đua thuyền, hát phết, hát chèo, rối cạn, rối nước... Vua tôi dang tay nhau mà hát, sau những buổi tiệc ở nội điện. Phong tục cung đình vẫn được khen là giản dị chất phác. Trong nhân dân, sinh hoạt văn hoá thời Lý, Trần diễn ra quanh trung tâm chùa tháp (Phật) và đền miếu (Đạo). Văn hoá xóm làng thấm đượm tình người. Sử sách thời này còn ghi lại những tập tục như: “Đêm trừ tịch (30 tháng Chạp), con gái con trai nhà nghèo, trong năm không có đủ tiền sắm đồ sính lễ, cứ việc lấy nhau”. Mùa xuân trai gái tự do họp bạn, hát múa giao duyên, tung còn, hát phết, “ưng ý nhau thì lấy nhau, mẹ cha không ngăn cấm”.

Quan hệ cha con trong thời Trần thì quả là thắm thiết, như thể chế Thái thượng hoàng (chế độ hai vua) đảm bảo hoạt động tập thể ở vị trí tối cao của quyền lực. Thượng hoàng là người kèm cặp vua, nhưng không phải chỉ là người kèm cặp mà là người cùng xử lý việc nước với vua (ngay cả khi vua đã khôn lớn). Sử ghi lại nhiều hành động chí hiếu của các vua quan Trần đối với cha mẹ. Chữ hiếu được tôn trọng theo hướng tích cực của nó, không lấy sự lạm dụng chữ hiếu để đi đến những hành động sai lầm.

Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín theo Nho giáo chưa từng được trực tiếp đề cập trong các văn kiện thời Trần. Tuy nhiên những hành động nhân nghĩa lại khá nhiều. Vua thương yêu người thuộc hạ, người cơ hàn nghèo khổ, tổ chức phát chẩn, cứu đói, giải phóng một phần con nợ... Gia nô trung thành với chủ như Yết Kiêu, Dã Tượng... là điều không lạ trong đời Trần. Nhà vua trong kết cấu đẳng cấp thời Lý, Trần đã giữ một vai trò đặc biệt quan trọng như “mặt trời, mặt trăng” nhưng qua những nội dung trình bày trên có thể thấy lúc này, vua quan vẫn chưa trở thành những đẳng cấp cách biệt, xa lạ với nhân dân. Tinh thần khoan dung được thể hiện trong các chính sách và đường lối trị nước thời Trần, trong các mối quan hệ giữa vua - quan - dân là nét đặc sắc của văn hóa chính trị Việt Nam trong kỷ nguyên Đại Việt. Tinh thần này đã được Nguyễn Trãi kế thừa và thể hiện rất sâu sắc trong đường lối chính trị Nhân nghĩa - đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thế kỷ XV.

“ Hãy luôn là bạn đồng hành với lòng khoan dung, chúng ta sẽ an toàn”

9-Tạm Kết

Khoan dung, độ lượng, vị tha là những giá trị xuyên suốt trong lịch sử dân tộc, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực từ đời sống xã hội đến đời sống vật chất, tinh thần; từ chính trị đến quân sự, ngoại giao. Trong lịch sử hiện đại của dân tộc, đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ bảo vệ Tổ quốc, tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha càng được phát huy và có tác dụng to lớn, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại. Nếu như trước đây, khi kẻ thù đầu hàng và quy phục, ông cha ta không giết, mà còn cấp ngựa, cấp thuyền và lương thực cho kẻ bại trận lui về nước, thì trong lịch sử cận - hiện đại, với kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân và đế quốc phương Tây có sức mạnh vượt trội so với kẻ thù truyền thống - âm mưu của kẻ thù là xảo quyệt, sự tàn phá là vô cùng tàn ác đối với nhân dân; nhưng ngược lại, Chính phủ và nhân dân ta lại hết sức khoan dung, độ lượng, vị tha đối với kẻ thù khi chúng là kẻ bại trận. Với bọn hàng binh Pháp, chiến sỹ ta không chỉ có thái độ nhân đạo mà còn nhường cơm xẻ áo cho chúng khi cần thiết; đối với tù binh là các phi công Mỹ, Chính phủ ta có chính sách khoan hồng, được nhân dân ta chăm sóc tử tế.

Nhân nghĩa Việt Nam là sự khoan dung, độ lượng, vị tha. Năm 1997, cộng đồng quốc tế phát động năm Khoan dung quốc tế. Ngày 08-9-2000, Liên hợp quốc ra Tuyên bố Thiên niên kỷ, trong đó cho rằng, lòng khoan dung là một trong những giá trị cơ bản không thể thiếu trong quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI và nó phải bao gồm cả việc tích cực thúc đẩy nền văn hóa hòa bình và đối thoại giữa các nền văn minh, với những con người tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc - những con người không lo ngại hoặc kiềm chế những khác biệt trong nội bộ xã hội và giữa các xã hội với nhau, mà trái lại, trân trọng sự khác biệt đó như là một tài sản quý giá của nhân loại .Đối với Việt Nam, sự kiện này không xa lạ, bởi vì truyền thống của người Việt Nam là khoan dung. Khoan dung của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong chính trị mà cả trong quân sự, ngoại giao, trong các hoạt động kinh tế, xã hội và trong ứng xử hàng ngày. Khoan dung là phẩm chất phổ biến của dân tộc Việt Nam, nó cũng là giá trị văn hóa chính trị đặc sắc, có thể nói là hiếm thấy trong các nền chính trị thế giới./.

AI TRONG ĐỜI

Đừng oán than số phận mình đen bạc

Vốn dĩ đời có hợp có ly tan

Cớ sao người rơi dòng lệ đẫm chan

Lên khoé mi để mang thêm hờn tủi

 

Chuyện đã rồi cần chi mà nhớ tới

Hãy thả lòng nhẹ theo áng mây trôi

Bởi đường đời còn rộng lắm ai ơi

Mạnh mẽ lên tìm nụ cười trở lại

 

Ai trong đời cũng một lần ngây dại

Vấp ngã rồi thì phải tự đứng lên

Để mai này bước trên nẻo chông chênh

Chẳng ngỡ ngàng khi gập ghềnh trắc trở

 

Hoa đâu phải bốn mùa đều đua nở

Người khác gì nào muôn thuở đắng cay

Nên vững vàng hướng đến một ngày mai

Vì cuộc đời không gì luôn tồn tại.

“ Ta tiến xa tới đâu trong đời phụ thuộc vào việc mình có nhẹ nhàng với người trẻ, cảm thông với người già, đồng cảm với người đang tranh đấu, và khoan dung với cả kẻ yếu và kẻ mạnh. Bởi vì một ngày nào đó trong đời, ta sẽ thấy mình đã từng trải qua tất cả những khoảnh khắc ấy”

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...