Trong cuộc sống, cá nhân mỗi người sẽ có một hành trình riêng và không ít lần mắc các sai lầm bởi không một ai là hoàn hảo cả. Ai cũng cần phải nỗ lực rèn luyện để trở thành một người tốt hơn, lỗi lầm luôn là phần tất yếu diễn ra trong cuộc sống. Vì vậy nên, lòng vị tha khoan dung trở nên rất quan trọng, Chúng ta có thể sẵn sàng tha thứ và hòa giải với đối phương. Vậy thực chất lòng vị tha , khoan dung là gì? Hãy cùng Ngọc Minh trao đổ nhé!
Làm người hãy sống vị tha
Để cho đời được nở hoa - mỉm
cười
Mở lòng tha thứ cho người
Rồi ta nhận được niềm vui chan
hòa.
Lỗi lầm xin hãy bỏ qua
Tặng nhau những giọt vị tha
tình đời
Thế gian muôn vật đổi dời
Sanh - Dị - Hoại - Diệt, người
ơi vô thường.
Mộng đời thôi bớt vấn vương
Bóng chim tăm cá trùng dương
mịt mờ
Sống đời chớ có hững hờ
Nhân - Nghĩa -Lễ - Tín dặn lòng
nhớ ghi.
Làm người học hạnh Từ -Bi
Vị tha - Hoan hỷ có gì quí hơn
Tha thứ bỏ bớt giận hờn
Tịnh lòng an lạc - Tâm chơn hiển bày.
“Tha thứ người tức
là tự tha thứ mình”
I- Lòng vị tha
1-Lòng vị tha là gì?
Xét
về mặt chữ “vị” là vì, “tha” là người khác, được hiểu chung là tấm lòng nhân
đạo, không ích kỷ mưu cầu, biết quan tâm đến người khác. Lòng vị tha chính là phẩm chất, nhân hậu cao đẹp về sự hy sinh một điều gì cho ai đó mà không quá kỳ
vọng vào lợi ích sẽ nhận lại được là gì.
Một người có lòng
vị tha, họ sẽ đặt hành động vì lợi ích của người khác lên hàng đầu, thậm chí
một việc khiến họ có thể trả giá hay gặp nguy hiểm. Theo nghiên cứu, phản ứng
đầu tiên của con người thường là hợp tác hơn cạnh tranh.
“Đất có chỗ bồi chỗ
lở, ngựa có con dở con hay
Một cây có cành bổng
cành la
Một nhà có anh giàu
anh khó
Mía có đốt sâu đốt
lành
Năm ngón tay có ngón
ngắn ngón dài
Bàn tay có ngón dài
ngón ngắn”
2-Tại sao nên thực hành lòng vị tha
mỗi ngày?
Theo các nhà
nghiên cứu cho rằng, thực hành lòng vị tha sẽ tăng cường sự lành mạnh về nhân
cách của mỗi cá nhân từ tình cảm đến vật chất. Ngoài ra, việc thực hành phẩm
chất này mỗi ngày còn giúp:
Theo các nhà
nghiên cứu, khi hành động giúp đỡ một ai đó, mỗi trong não bộ sẽ bắt đầu kích
hoạt và phóng endorphin, và xuất hiện cảm giác lâng lâng, hạnh phúc. Qua khảo
sát nhiều người kể lại, khi hành động được một việc tốt, họ cảm thấy mãn nguyện
và hạnh phúc hơn rất nhiều, điều này còn được đặc biệt phát hiện ở cả trẻ em.
Những cảm xúc này, thường được phản ánh trong, gây hoạt hóa ở các bộ phận não
có liên quan đến sự tin cậy, niềm vui, kết nối xã hội.
“Thương người như
thể thương thân”
-Lòng vị tha tốt cho lợi ích thực
tế
Những người có
phẩm chất vị tha, thường gặt hái được nhiều lợi ích tài chính khá bất ngờ từ
lòng tốt của họ. Bởi khi họ giúp người khác, người được giúp thường có xu hướng
muốn đáp lại lòng tốt đó. Chính ta có thể dễ dàng nhìn thấy, trong thế giới
động vật, những loài sống bầy đàn, hoạt động cùng nhau thường sống sót lâu hơn
những loài sống riêng lẻ. Việc một doanh nghiệp thường xuyên có những chương
trình, tổ chức từ thiện thường sẽ làm
công ty trở nên tốt đẹp và giá trị hơn.
“Của anh như của chú”
-Lòng vị tha là tốt cho sức khỏe
Nhà nghiên cứu
Stephen đã từng cho rằng, lòng vị tha thậm chí cải thiện sức khỏe rất nhiều đối
với những người bị đa xơ cứng. Đặc biệt đối với người cao tuổi và những người
có dấu hiệu trầm cảm, việc thường xuyên giúp đỡ bạn bè, người thân sẽ làm giảm
đi rất nhiều những suy nghĩ tiêu cực, giúp họ lạc quan và yêu đời hơn.
“Giơ cao đánh khẽ”
-Lòng vị tha thúc đẩy kết nối xã
hội
Khi chúng ta hành
động tốt, dành những nghĩa cử cao đẹp với người khác, họ sẽ cảm nhận được và
gần gũi hơn với chúng ta. Bởi sự hào phóng và tử tế, dẫn con người sẽ thấy được
sự từ tâm và tích cực hơn. Nhà tâm lý học Sonja Lyubomirsky từng viết một câu
trong cuốn “Làm thế nào để hạnh phúc” đó là: “nuôi dưỡng một nhận thức cao về
tương thuộc và hợp tác trong cộng đồng xã hội của mình”
“Đánh kẻ chạy đi,
không ai đánh người chạy lại”
-Lòng vị tha tốt cho giáo dục
Sau mỗi giờ học
tập, tại các buổi hoạt động ngoại khóa, nơi mà học sinh, sinh viên có thể bổ
sung cho học tập trên lớp bằng các trải nghiệm thực tế, sẽ giúp cải thiện rất
nhiều đến thành tích học tập và sự kết nối giữa các cá nhân lại với nhau. Quá
trình trải nghiệm, học sinh, sinh viên sẽ phải cùng hợp tác để hoàn thành dự án
nào đó, sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ tích cực, đoàn kết và ít xảy ra tình trạng
bắt nạt hơn
“Cao cành nở ngọn,
mọi bạn mọi đến”
3-Biểu hiện của một người có lòng
vị tha
-Trong công việc
Họ luôn đặt mục
đích là việc vì xã hội, vì người khác lên hàng đầu. Thường sẽ vì lợi ích chung
trước, nếu có vì mình cũng hay gắn kết với lợi ích chung của mọi người.
Cùng làm việc
nhóm, nếu dự án thất bại, thay vì họ thường không đổ lỗi cho bất kỳ ai mà tự
nhìn nhận lại bản thân, xem xét lỗi sai của chính mình. Luôn là người sẽ đứng
ra gánh vác những trách nhiệm.
Trong
công việc, người có lòng vị tha rất chăm chỉ và nỗ lực, họ chưa bao giờ né
tránh với những phần việc khó, hay đùn đẩy công việc cho bất kì ai khác
Các
biểu hiện của một người có lòng vị tha
“Thương nhau chín bỏ
làm mười”
-Trong mối quan hệ với mọi người
Người
có lòng vị tha thường được ví với câu: “ Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau
cái vui của thiên hạ”, luôn luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ cho mình
Họ
sẽ luôn day dứt, trăn trở về những hành động và lời nói của mình, không biết có
làm tổn thương hay tổn hại đến người khác hay không.
Họ
luôn biết cách kìm nén cảm xúc cá nhân để làm vui lòng người khác, luôn sống
với phong thái hòa nhã, thân thiện với những người xung quanh. Dễ đồng cảm, dễ
chia sẻ với những người xung quanh.
Nếu
ai có những hành động không đúng, họ cũng rất dễ dàng thông cảm và tha thứ, rất
ít khi bắt bẻ hay nói những lời khó nghe với đối phương.
“Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta
sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn.”
4-Ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc
sống
-Đối với bản thân
Cuộc sống sẽ luôn
tồn tại vô vàn những xung đột, khi có lòng vị tha, nghĩa là chúng ta đã có thêm
đức hi sinh, chiến thắng được lòng vị kỷ. Học cách tha thứ cho những người làm
tổn thương mình, đó mới chính là cơ sở vững chắc để hoàn thiện nhân cách, nó sẽ
là cách tốt nhất để kết nối tình cảm, lấy lại được sự bình an và an yên trong
tâm hồn
Người có lòng vị
tha, luôn được mọi người xung quanh tôn trọng và nể phục, bởi khi sống vị tha
sẽ giúp cuộc sống trở nên chất lượng và thân thiện hơn. Những người có phẩm
chất này thường được giúp đỡ rất nhiều trong cuộc sống, đó là điều không quá
khó hiểu khi họ dễ thành công trong cuộc sống
“Lòng trắc ẩn, cội nguồn của mọi đạo đức, chỉ
có thể đạt được toàn bộ chiều rộng và chiều sâu nếu nó bao trùm tất cả sinh vật
sống chứ không chỉ giới hạn ở loài người.”
-Đối với xã hội
Việc tha hóa bởi
môi trường xung quanh rất dễ xảy ra, vì vậy khi cảm hóa được bởi lòng vị tha,
sẽ giúp họ nhanh chóng quay lại cuộc sống lương thiện, chuyển hóa được từ hoàn
cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn.
Phẩm chất này
giúp xây dựng nên các giá trị khoa học và nghệ thuật, khi cuộc sống còn nhiều
sự bất công, thì giữa người và người tồn tại phẩm chất vị tha, sẽ là phương
pháp hữu ích cân bằng lại yêu thương, dành những cơ hội tốt cho những người yếu
kém, vươn lên trong cuộc sống, bình đẳng trong những giá trị chung tốt lành của
xã hội.
“Xung đột là cơn bệnh trầm trọng của nhân loại;
và lòng vị tha là liều thuốc duy nhất.”
5-Rèn luyện lòng vị tha
+Trong công việc
Người có lòng vị
tha là người luôn đặt mục đích của mọi việc làm là vì người khác, vì xã hội.
Nếu có vì mình cũng luôn gắn bó với lợi ích chung của mọi người.
-
Khi làm việc, luôn giành phần khó
khăn về mình, không lười biếng, tránh né, đùng đẩy công việc cho người khác.
-
Khi gặp khó khăn biết đứng ra gánh
vác trọng trách.
-
Khi gặp thất bại không đỗ lỗi cho
người khác. Phải nghiêm túc nhìn nhận những sai trái của bản thân.
-
Khi thành công không khoe khoang, kể
lể công trạng.
“Hãy xây dựng sức mạnh và khả năng kiểm soát
khi còn trẻ và ôm lấy sự yêu thương với trái tim vị tha. Chỉ như vậy, ta mới
tìm được yên bình thực sự trong tim và bắt đầu cuộc hành trình tiến tới cái tôi
tốt đẹp hơn và những ngày tháng tốt đẹp hơn trong đời.”
+ Trong mối giao tiếp với mọi người
-Người có lòng vị tha luôn sống hòa nhã,
vui vẻ, thân thiện với mọi người. Họ dễ đồng cảm, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ
người khác. Họ cũng biết kìềm nén cảm xúc của riêng mình để làm vui lòng người
khác. Họ luôn nghĩ về người khác trước khi nghĩ đến mình (lo trước cái lo của
thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).
-Người có lòng vị tha dễ thông cảm và
tha thứ lỗi lầm của người khác. Họ ít khi bắt bẻ hay gây khó dễ cho người khác
khi họ mắc lỗi lầm. Người có lòng vị tha luôn trăn trở, day dứt về những hành
động và lời nói của mình và người khác. Không bao giờ họ muốn làm phương hại
đến người khác.
“Tất cả những gì có ý nghĩa là điều chúng ta
làm cho nhau.”
6-Ý nghĩa của lòng vị tha trong
cuộc sống
-Đối với bản thân
Có lòng vị tha
mới được đức hi sinh, tinh thần xả thân, mới chiến thắng được lòng vị kỷ, chủ
nghĩa cá nhân. Đó là căn nguyên để hoàn thiện nhân cách bản thân. Cuộc sống
luôn có những xung đột xảy ra. Hãy tha thứ cho những người đã làm mình bị tổn
thương. Vì đó là cách tốt nhất để kết nối tình cảm và tìm lấy sự an bình cho
tâm hồn.
Lòng vị tha giúp
chúng ta sống bình an và thanh thản trong tâm hồn. Sống với lòng vị tha giúp
cho môi trường sống thân thiện, cuộc sống chung có chất lượng tốt đẹp hơn.
Người có lòng vị tha được mọi người yêu mến, nể trọng. Bởi vậy, họ thường được
giúp đỡ và dễ thành công trong cuộc sống.
“Ai cũng phải quyết định mình sẽ bước dưới ánh
sáng của lòng vị tha sáng tạo, hay trong bóng tối của tính ích kỷ hủy diệt.”
- Đối với xã hội
Lòng vị tha có
thể cảm hóa được người tha hóa lở lầm, giúp họ tìm lại được niềm tin vào chính
mình và trở lại cuộc sống lương thiện. Lòng vị tha cũng có thể chuyển hóa những
hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn.
Lòng vị tha là
động lực xây nên những giá trị khoa học và nghệ thuật đích thực đóng góp cho
con người. Nhà thơ Đỗ Phủ khi xưa đã ước mơ về ngôi nhà chung che bão tố khắp
văn sĩ trên đời. Nhà văn Nam Cao cũng coi tình thương đồng loại là nguyên tắc
sống, là lẽ sống của con người. Trong khi tổ chức đời sống chưa hợp lý, chưa
bình đẳng giữa con người thì tình yêu thương vị tha là phương cách duy nhất hữu
ích để cân bằng. Yêu thương sẽ dành cho người thiệt thòi một cơ hội được học
tập, vươn lên và bình đẳng với nhau trong những giá trị chung, tốt lành của xã
hội.
Lối sống vị tha
phù hợp với xu thế của thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa, trên nguyên tắc hợp
tác và chia sẻ. Mỗi dân tộc có một lối ứng xử và những chuẩn mực riêng. Càng mở
rộng sự giao lưu, hợp tác chúng ta càng cần rèn luyện lòng vị tha lớn hơn nữa
để có thể thấu hiểu, tha thứ và tăng cường mối giao kết bền chặt. Có như vậy
mới bảo đảm rằng mối liên hệ của bản thân và bạn bè thế giới mới trong sạch,
vững mạnh.
Sống vị tha không
có nghĩa là nuông chiều những thói hư tật xấu, bao che, dung túng những khuyết
điểm. Sống vị tha phải có bản lĩnh cá nhân, luôn có chủ kiến cá nhân, không lệ
thuộc vào người khác. Cần phê phán lối sống vị kỷ, chỉ biết sống cho bản thân
mình, lạnh lùng, dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại. Lối sống ích kỷ sẽ gây
ra sự mất đoàn kết, làm suy giảm sức mạnh tập thể, của cộng đồng. Phê phán
những việc làm từ thiện nhưng không phải xuất phát từ tâm mà để trở nên nổi
tiếng là điều khó chấp nhận, nhưng đang thường xảy ra trong cuốc sống ở VN.
Rèn luyện đức
tính vị tha bằng cách luôn tự hỏi bản thân đã làm gì cho người khác trước khi
cho bản thân mình. Biết tha thứ cho người khác và cũng tha thứ cho bản thân
mình. Biết lắng nghe cũng như biết chia sẻ với người khác những điều không vừa
ý, không cùng quan điểm.
Cuộc sống trở nên
khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và
hạnh phúc hơn. Vị tha không có nghĩa là sẽ tha thứ mọi lỗi lầm của người khác.
Có những việc làm không thể tha thứ được. Cũng có những người ta không thể tha
thứ được. Sống có lòng vị tha là phải biết tranh đấu chống lại cái xấu, kẻ xấu,
bảo vệ công lý. Lòng vị tha chính là viên ngọc quý không ngừng tỏa sáng trong
tâm hồn của con người, rất cần phải được gìn giữ cẩn thận.
“Một trong những bí mật của cuộc sống: tất cả
những gì thực sự đáng làm đều là những gì ta làm vì người khác.”
7-Sống vị tha, cuộc sống sẽ hạnh
phúc
Cuộc sống luôn có
những lời nói làm ta không hài lòng, có những hành động khiến ta bị tổn thương,
nhưng chúng ta phải biết buông bỏ, tha thứ để tiếp tục vui sống.
Lòng vị tha không
phải tự nhiên mà có, nó phải có quá trình hình thành, nuôi dưỡng và phát triển.
Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng có lúc phạm sai lầm. Sự tha thứ cho những
lỗi lầm của người khác và của chính mình sẽ giúp chúng ta có cuộc sống tốt đẹp
hơn. Lòng vị tha là một trong những phẩm chất tốt đẹp không thể thiếu của con
người. Người có lòng vị tha luôn nghĩ cho người khác, biết đặt mình vào vị trí
của đối phương để hiểu, sẵn sàng tha thứ cho những lỗi lầm mà người khác đã gây
ra. Họ giải quyết vấn đề bằng tấm lòng nhân hậu và khoan dung. Tha thứ cho một
người đã làm ta đau lòng thật không dễ, tuy nhiên dù khó khăn đến đâu, ta vẫn
nên học cách tha thứ. Tha thứ không chỉ là bỏ qua lỗi lầm của người khác, mà
còn mở rộng lòng mình. Buông bỏ sự thù oán, không để tâm đến những tổn thương
mà mình từng gánh chịu, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ lòng. Tha thứ không có nghĩa
là bao che, dung túng lỗi lầm, để người khác lợi dụng mình, tiếp tục phạm sai
lầm. Sự vị tha nào cũng cần có giới hạn của nó, biết dừng lại đúng lúc, biết
cách tha thứ để tiếp tục bước tiếp. Việc gì nếu tha thứ được thì nên tha thứ,
tha thứ cho người và cho chính bản thân sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc
cân bằng cuộc sống. Tha thứ giúp chúng ta bình tĩnh, suy nghĩ mọi việc thấu đáo
hơn và rút ra được những bài học thật sâu sắc cho bản thân. Bản lĩnh sống của
mỗi người chính là biết nhận ra lỗi lầm của mình, nhận ra lòng vị tha của đối
phương để điều chỉnh thái độ, hành vi cho phù hợp. Để có thể hạn chế sự tức
giận, cách tốt nhất là chúng ta nên học cách tha thứ cho người khác, hãy làm
những điều tốt đẹp đó bất kỳ khi nào có thể.
Lòng vị tha chẳng
phải là điều gì xa vời, chúng ta chỉ cần để tâm một chút đến cảm nhận của người
thân, bạn bè, chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác thậm chí có thể
hy sinh kể cả lợi ích của cá nhân. Lòng vị tha còn thể hiện ở thái độ vô tư,
không mưu cầu, toan tính khi ta giúp đỡ người khác. Những người giàu lòng vị
tha luôn được mọi người yêu mến, quý trọng. Họ cảm thấy thanh thản trước cuộc
đời bởi thấy rằng mình luôn sống có ích.
Lòng
vị tha chính là chất xúc tác giúp mình xóa bỏ cảm giác tiêu cực. Tha thứ đem
đến cho chúng ta sự bình an và là nền tảng xây dựng nên mối quan hệ tốt đẹp.
Tha thứ là cách giúp mình chữa lành vết thương tâm hồn và làm cho ta cảm thấy
hạnh phúc hơn.
“Tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể tha thứ
bản thân nếu tôi chọn sống mà không có mục đích nhân đức, mà không cố gắng giúp
đỡ những người nghèo khổ và bất hạnh, mà không nhận ra rằng có lẽ niềm vui tinh
thuần nhất trong đời đến từ việc nỗ lực giúp đỡ người khác.”
8- Chìa khóa để sống vị tha trong
cuộc sống
Đừng quên bản thân
mình cũng từng gây ra lỗi lầm. Nhìn vào sự thật này để thấy người khác có thể
tha thứ cho mình thì tại sao mình không thể?
Trong cuộc sống,
những gì cũ kỹ nên xếp lại kể cả những xích mích, bất đồng, va chạm. Biết là
vậy nhưng đôi khi ta vẫn bực bội khi phải tha lỗi cho những điều khó ưa đó.
Điều này không có gì trái với tự nhiên, vì tha thứ thường khó hơn mắc phải lỗi
lầm rất nhiều lần, tuy vậy nó hoàn toàn là điều có thể.
“ Sự khoan dung là
sợi dây xích vàng gắn kết xã hội lại với nhau”
-Đừng đợi nhận được lời xin lỗi
“Thông thường chúng ta rất biết cách bảo vệ lẽ phải của
mình: ‘Không lý gì tôi phải tha thứ cho hắn trước trừ khi hắn thừa nhận sai
phạm và xin lỗi tôi'", Mariah Burtom Nelson - tác giả quyển "Five
keys to forgiveness and freedom" (5 chìa khóa giúp bạn vị tha và thư
thái), nhận xét.
“Nhưng nếu chúng ta làm điều đó (chấp nhận tha thứ trước
khi nhận được lời xin lỗi) thì chúng ta sẽ tránh được tình trạng tâm trí bị đeo
đẳng bởi cơn giận dữ trong khoảng thời gian không lấy gì làm ít ỏi và thường
thì chính chúng ta mới là người gánh chịu các thiệt hại do sự tức giận ấy gây
ra. Điều này có khác gì ta tự mình đặt niềm vui, sự thanh thản dễ chịu của bản
thân vào tay người khác?".
“ Xử những việc khó
xử càng nên khoan dung; xử người khó xử, càng nên trung hậu; xử thời buổi khó
khăn, ngờ vực, càng nên tự nhiên như vô tâm”
-Tìm cách thông cảm với sự xúc phạm
Hành động xúc
phạm mình của anh ấy/cô ấy có lẽ xuất phát bởi một nỗi đau chôn kín nào đó và
họ phải dùng nó như một trong những phương cách tự vệ. “Có một câu tôi vẫn
thường nhắc nhở mình: đằng sau bất kỳ hành động thô lỗ nào, thường là một
chuyện đau lòng”, Nelson cho biết.
Hãy thử hoán đổi
vị trí giữa ta và người xúc phạm. Bằng việc làm này ta đã tự mình từng bước
tháo bỏ những bực bội chất chứa trong lòng ít nhiều rồi đấy. Một sự việc chỉ
gây khó chịu khi chưa được các bên liên quan hiểu thấu đáo mà thôi. Tiến sĩ
Robert Karen chia sẻ: “Chúng ta cũng hay quên một điều rằng ngay với những
người yêu thương chúng ta (hoặc những người chúng ta yêu thương) đôi khi vẫn
không tránh khỏi việc làm tổn thương, và có thể cả phản bội chúng ta. Nhưng
trên hết, điều này không bắt buộc chúng ta phải chấm dứt mối quan hệ với họ”.
“Chừng nào ta còn
chưa học được cách khoan dung với những người không phải lúc nào cũng đồng ý
với mình, ta sẽ không bao giờ thành công hay hạnh phúc”
-Đừng quên rằng bản thân mình cũng
từng gây ra không ít lỗi lầm
Nhìn vào sự thật
này để thấy rằng người khác có thể tha thứ cho mình thì tại sao mình không thể
làm điều này nhỉ?
“Một sự nhịn là chín
sự lành”
-Hãy “kịch” một chút
“Nếu ta không thể hiện điều này qua hành
động bất kỳ thì mình khó chắc chắn rằng đã thực lòng tha thứ”. Ví dụ: ta có thể
cầm một cục đá kha khá trong tay và thả rơi nó xuống khi ta nói lời tha thứ,
hay mình cũng có thể thắp lên một ngọn nến và liên tưởng những gì chất chứa
trong lòng sẽ dần biến mất như sáp nến kia đang từ từ tan chảy.
“Trẻ nhà người như
trẻ nhà ta”
-Nhớ rằng tha thứ không phải là
quên mất
Đôi khi dù chuyện
buồn đã xảy ra từ lâu và ta cũng đã tha thứ nhưng vẫn không tránh khỏi những
phút nhói lòng bất chợt khi một sự việc tương tự vô tình xuất hiện. Vì vậy, ta
được khuyên rằng nên thường xuyên làm mới lại sự vị tha của mình trên một vài
khía cạnh.
“Hoa thơm ai dễ bỏ
rơi,
Người khôn ai nỡ
nặng lời với ai.”
-Sau cùng, tha thứ cho người cũng
chính là tha thứ cho bản thân.
Karen đã nói:
"Tha thứ cho người khác chính là sự phản chiếu cho hình ảnh chúng ta tự
tha thứ cho chính mình".
“Những người đức
hạnh thuận hoà
Đi đâu cũng được
người ta tôn sùng.”
9- Suy Ngẫm
Sai lầm trong
cuộc sống là một điều không thể tránh khỏi trong cuộc đời của mỗi con người. Và
trong những sai lầm đó rất cần lòng vị tha của những người xung quanh để ta có
thể sửa sai và tiếp tục sống. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng:
lòng vị tha có vai trò cực kì quan trọng và ý nghĩa đối với cuộc sống con
người. Vị tha là tấm lòng bao dung, độ lượng, những người có tấm lòng vị tha là
người rất nhân hậu với mọi người. Trong cuộc sống, chẳng ai có thể dám khẳng
định rằng mình sẽ không mắc lỗi, mình hoàn hảo cả. Những lỗi lầm cần lắm sự bao
dung, vị tha từ ngời khác để bản thân có thể rút ra những bài học quý giá từ đó
hoàn thiện bản thân mình. Mỗi chúng ta ngoài việc mưu cầu lòng vị tha từ người
khác thì cũng cần phải rèn luyện cho mình sự bao dung với những người xung
quanh. Xã hội mà con người với đầy ắp lòng vị tha sẽ là một xã hội vô cùng tốt
đẹp, nhân văn, con người biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, hiện
nay trong cuộc sống vẫn còn có rất nhiều người ích kỉ, thấy người khác mắc lỗi
đành vội vàng quay lưng. Lại có những người không biết thay đổi bản thân, rút
ra bài học cho mình sau những lỗi lầm mà lại coi rằng sự tha thứ của người khác
đó là lẽ đương nhiên. Những người này cần xem xét và cải thiện thái độ sống của
chính bản thân mình. Mỗi người hãy sống vị tha một chút, bao dung một chút thì
xã hội sẽ tươi đẹp hơn nhiều. Hãy trân trọng những người có lòng vị tha và hãy
cố gắng hoàn thiện bản thân mình theo chiều tích cực nhất nhé.
Lòng vị tha là sự
hy sinh một điều gì cho ai đó mà không phải cho bản thân mình (ví dụ hy sinh
thời gian, tiền bạc, của cải) và không kỳ vọng sẽ được ghi nhận hay sự đền đáp
hoặc lợi ích dù là trực tiếp, hay gián tiếp từ phía người nhận hoặc cộng đồng.
Lòng vị tha chính là biểu hiện cao đẹp nhất của phẩm chất nhân hậu từ con người. Nó không đòi hỏi gì nhiều ngoài một trái tim biết chia sẻ vui buồn, biết yêu thương đồng loại.
II- Lòng Khoan Dung
Khoan Dung Độ Lượng
Đôi chân hoang đàng về in dấu
loạn
Trên lối bụi mờ mẹ dắt ta xưa
Lối bụi giờ đây không còn bụi
nữa
Dấu chân tự đi hờ hững nghi
ngờ.
Vườn cây độ lượng chìa ra trái
Dòng sông độ lượng nước dâng
đầy
Cánh cò độ lượng viền khung cũ
Tiếng gà độ lượng giấc trưa
say.
Duy chỉ ta là không độ lượng
Khói bụi nhân gian ám đặc đời
Nước mắt nụ cười sềnh sệch
quánh
Mực đen son đỏ rõ ràng rồi.
Ta về để tiễn ta đi nữa
Mỏi mệt loanh quanh ám lại đời
Độ lượng chiều nay sương gió ấm
Dịu dàng hóa thạch dấu chân
trôi…
Khoan dung chính là lòng rộng lượng của con người, tha thứ
cho những sai phạm, lỗi lầm người khác gây ra. Không chỉ vậy, khoan dung còn là
cách thể hiện sự cưu mang, giúp đỡ những người lầm đường lạc lối, giúp họ sống
lành mạnh, hướng đến những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Khoan dung không chỉ
với mọi người mà còn là khoan dung với chính bản thân mình, giúp cho bản thân
cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái và thư thái trong tâm hồn.
Lòng khoan dung
xuất phát từ sự cảm thông, sẻ chia, từ tấm lòng nhân ái của mỗi con người.
Chúng ta không nên nghiệt ngã với những người làm ta đau khổ, vì bởi bên trong
họ cũng có vô vàn những khổ đau. Phải thấu hiểu, cảm thông ta mới có thể khoan
dung, yêu thương họ. Nhà văn Nam Cao cũng từng nói: " Đối với những người
ở quanh ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc,
bần tiện, xấu xa, bỉ ổi,...toàn những cớ cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy
họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương... Một người đau chân có lúc nào quên được cái
chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì
người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai khác nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị
những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất. "
Tuy nhiên, khoan
dung không có nghĩa là thỏa hiệp với tất cả mọi lỗi lầm, sai trái, tội lỗi.
Chúng ta cần suy nghĩ thấu đáo để không bị lợi dùng lòng thương, chấp nhận các
sai lầm nghiêm trọng. Khoan dung cũng không có nghĩa là nhẫn nhục, chịu đựng
những điều phi lý, vô đạo đức.
Trái ngược với
khoan dung là hẹp hòi, ích kỷ, luôn nghĩ cho bản thân mình, không cảm thông, sẻ
chia với những người xung quanh.
“Bầu ơi thương lấy
bí cùng
Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn.”
2-Biểu hiện của lòng khoan dung
-Lòng khoan dung
được biểu hiện khá rõ ràng qua những sẻ chia và sự quan tâm của một người đối
với mọi người xung quanh. Phải có tấm lòng yêu thương, vị tha, ta mới có thể
cảm thông, sẻ chia, từ đó khoan dung với mọi người.
-Người có lòng
bao dung sẽ dễ dàng tha thứ cho người khác khi người ấy thực sự hối cải. Tha
thứ cho người khác sẽ là động lực giúp họ vượt lên lỗi lầm, sửa chữa lỗi sai và
sống tích cực hơn.
-Những người có
lòng bao dung và biết bỏ qua các lỗi lầm, cái sai của người khác sẽ giúp những
người ấy vượt qua những trở ngại, khó khăn trong đời sống. Khoan dung sẽ không
yêu cầu con người ta phải bỏ qua ngay lập tức các lỗi lầm của người khác một
cách dễ dàng mà ngược lại họ sẽ có thái độ và hành động tinh tế.
-Khả năng vượt
qua những khó khăn, trắc trở của chính mình một cách đơn giản và nhẹ nhàng với
tâm thế thoải mái, vui vẻ.
-Khoan dung không
chỉ được biểu hiện qua ứng xử với người xung quanh mà còn là khoan dung với
chính bản thân mình. Khoan dung với chính mình bắt đầu từ nhận thức về bản thân,
hiểu rằng chúng ta không hoàn hảo, ai cũng có những khuyết điểm của riêng mình.
Chỉ cần chúng ta cố gắng khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm, không khắt
khe với bản thân, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng, thanh thản hơn.
-Truyền thống khoan dung, khoan hồng độ lượng đã có từ xa
xưa trong lịch sử của ông cha ta. Dân tộc Việt dù trải qua chiến tranh đau
thương mà mất mát, chúng ta vẫn dành một tấm lòng nhân đạo, nhân ái, tha thứ
cho kẻ thù của mình. Trong "Tuyên ngôn độc lập" Bác đã khẳng định:
"Tuy vậy, dân tộc Việt Nam trước sau vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo
với kẻ thù thất thế."
“Nhiễu điều phủ lấy
giá gương
Người trong một nước
phải thương nhau cùng.”
3-Ý
nghĩa của lòng khoan dung
Lòng khoan dung
không chỉ là một đức tính tốt đẹp ở mỗi người mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn
đối với cuộc sống và những người xung quanh ta.
Người có lòng
khoan dung, vị tha luôn cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản, cuộc sống vui vẻ và tốt
đẹp. Chính vì vậy, họ thường nhận được sự yêu mến, quý trọng của mọi người,
nhận được sự tin yêu của người khác.
Nhờ có sự khoan
dung mà cuộc sống của con người trở nên lành mạnh và văn minh hơn. Bởi nhờ có
khoa dung, các mối quan hệ giữa con người và con người ngày càng trở nên khăng
khít, gắn bó hơn.
“ Người nắm quyền
hành phải biết nhìn xa, trông rộng, lòng dạ ngay thẳng, điều độ khoan dung,
biết thương người, biết nắm thời cơ để khi cần thì thu hút được quần chúng vào
việc lớn.”
4-Dẫn chứng của lòng khoan dung
Pierre Benoit đã
từng khẳng định: 'Khoan dung là đức tính đem lợi về cho cả ta lẫn người
khác". Thật vậy, lòng khoan dung chính là nhân tố quan trọng góp phần làm
cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.
Từ cổ chí kim,
lòng khoan dung luôn là điều thiết yếu của cuộc sống. Người xưa từng nói
"nhân vô thập toàn". Con người chẳng có ai hoàn hảo, tốt đẹp đến mức
tuyệt đối. Trong thần thoại Hy Lạp, ngay cả người con của bị thần như A Sin
cũng có điểm yếu ở gót chân, để rồi chính gót chân ấy đã bị kẻ thù lợi dụng và
hãm hại.
Ai ai cũng hơn
một lần mắc lỗi, không chỉ với người xung quanh mà còn với chính bản thân mình.
Đó có thể là hành động do suy nghĩ chưa chín chắn, hoặc do hoàn cảnh đẩy họ vào
sai trái. Khi ta không hiểu mà cứ cố chấp, trách móc, chế giễu lỗi lầm của
người khác, bản thân ta cũng không thể thanh thản, mà sự trách móc ấy còn có
thể khiến người sai càng trở nên lầm đường lạc lối, và khiến mối quan hệ giữa
con người với con người rạn nứt. Khoan dung với người khác cũng chính là khoan
dung với bản thân mình.
Trong lịch sử dân
tộc, lòng khoan dung là truyền thống văn hóa cao đẹp của người Việt ta. Khi
giặc Minh thất bại, chúng ta không đuổi cùng giết tận mà mở cho họ con đường
sống, Nguyễn Trãi đã từng viết trong "Bình Ngô đại cáo":
"Mã
Kỳ, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền
Vương
Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa"
Hay trong các câu
ca dao, dân ca, lòng nhân ái, vị tha cũng nhắc nhở con cháu đời sau:
"Bầu
ơi thương lấy bí cùng
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn"
Lòng khoan dung là một đức tính cao đẹp cần có ở mỗi
người, nó xây đắp tâm hồn con người, giúp đỡ mọi người xung quanh và là bệ đỡ
để cuộc sống trở nên lành mạnh, văn minh hơn.
“ Giận dữ và không
khoan thứ là kẻ thù của sự thông hiểu đúng đắn.”
5-Cách rèn luyện đức tính khoan
dung
Khoan dung là đức
tính có trong mỗi người, tuy nhiên cuộc sống muôn màu muôn vẻ có thể mài mòn
đức tính cao đẹp ấy. Chính vì vậy, chúng ta cần rèn luyện để nó không bị mai
một và phát huy một cách trọn vẹn. Nếu chúng ta không vun đắp thì đức tính này
sẽ dễ dàng bị phai mờ theo thời gian gian.
Sau đây là một vài chia sẻ để giúp ai đó rèn luyện cho
mình đức tính khoan dung:
-
Bước đầu tiên để khoan dung đó chính
là đồng cảm, thử nhìn nhận sự vật, sự việc theo quan điểm của người khác.
-
Hãy luôn cởi mở với mọi người xung
quanh, duy trì các mối quan hệ gần gũi , thân tình.
-
Cử xử một cách chân thành, không vụ
lợi, dùng sự vị tha, rộng lượng để đối đáp với mọi người.
-
Tôn trọng người khác, tôn trọng ý
kiến cá nhân của mọi người. Học cách đánh giá cao và coi trọng sự khác biệt.
-
Có thái độ khoan hồng độ lượng với
những người sai lầm, giúp họ nhận ra lỗi lầm và sửa chữa lỗi của họ.
-
Khoan dung với chính bản thân mình,
chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân, cố gắng để phát triển và thay đổi nó
thành những điều tốt hơn.
-
Bồi dưỡng tâm hồn của chính mình để
ta có thể mở lòng, yêu thương mọi người xung quanh.
“ Sự khoan dung là
món quà lớn nhất của tâm hồn; nó đòi hỏi nỗi lực của bộ não cũng nhiều như khi
bạn phải giữ thăng bằng khi đi xe đạp.”
6-Khoan dung trong đời sống gia
đình
Từ xưa tới nay,
lòng khoan dung, độ lượng, vị tha luôn được mọi người đề cao. Ông bà ta đã dạy:
“Một sự nhịn, chín sự lành” cũng là vì thế. Bởi lòng khoan dung luôn đem đến
những điều tốt lành cho cả người tha thứ và người được thứ tha. Khoan dung là
yếu tố quan trọng làm nên hạnh phúc gia đình.
Chị Lưu Thị Hà ở
phường 10 (TP Vũng tàu) chia sẻ, trong đời sống gia đình của mỗi người, chắc
không có ai chưa từng mắc lỗi. Điều mà mọi người mong muốn là các thành viên
biết nhận lỗi và sửa lỗi; cần có sự cảm thông của mọi người trong gia đình. Với
chị, những lỗi lầm của chồng con, chị thường khoan dung, tha thứ. Điều này sẽ
tạo cho gia đình không khí ấm cúng, mọi người dễ dàng chia sẻ với nhau những
tâm tư, tình cảm hay khó khăn, vướng mắc gặp phải.
“Trong quá trình trưởng thành, trẻ khó tránh khỏi những vấp
ngã, phụ huynh cần có thái độ khoan dung với những lỗi lầm của trẻ. Điều đó
giúp trẻ hình thành lối sống tích cực, tình cảm tốt đẹp. Trải nghiệm này càng
giúp trẻ tôn trọng cha mẹ hơn, muốn được tâm sự, chia sẻ và lắng nghe ý kiến
của người lớn. Ngoài ra, sự khoan dung của cha mẹ đối với trẻ sẽ giúp trẻ biết
sống khoan dung với những người xung quanh”, chị Hà nói.
Còn theo chị Đặng
Thị Cầm ở phường Tân dân (TP Chí Linh), khoan dung trong đời sống gia đình, đó
là sự tha thứ, cảm thông với những lỗi lầm của người chồng, người vợ, với những
điểm chưa tốt của người bạn đời của mình. Khi bắt đầu cuộc sống hôn nhân, mỗi
khi gặp rắc rối không nên chỉ nghĩ đến bản thân mình mà phải luôn sẵn sàng
nhường nhịn. Chỉ khi làm như vậy, chúng ta mới có được đời sống hôn nhân hạnh
phúc. Bởi một khi tình cảm đã bị rạn nứt thì dù có hối hận cũng đã muộn. Thông
thường, trong gia đình, người phụ nữ luôn là người có lòng khoan dung và dễ
nhẫn nhịn, tha thứ hơn.
Người phụ nữ trong gia đình Việt xưa nay luôn có đức tính
vị tha và sẵn sàng hy sinh cho mái ấm gia đình mình. Chính vì thế, khi nghĩ đến
sự khoan dung, hầu như mọi người đều nghĩ đến người phụ nữ. Tuy nhiên, hơn ai
hết, những người đàn ông, người chồng cũng phải mở rộng lòng mình và bao dung
hơn với vợ, con. Sự khoan dung ở đây không phải chỉ là việc tha thứ những lỗi
lầm, mà đó còn là cách suy nghĩ và những hành động cảm thông, sẻ chia với vợ từ
công việc gia đình đến công việc ngoài xã hội. Có như vậy thì gia đình mới hạnh
phúc trọn vẹn.
Anh Đào Minh Tâm
ở thị trấn Phú Mỹ (huyện Tân Thành), chia sẻ: “Đối với người đàn ông, họ sẽ dễ
dàng bỏ qua lỗi lầm của người khác nhưng lại thường khó bỏ qua những lỗi lầm mà
bạn đời gây ra. Chính vì vậy, hôn nhân cần lắm sự khoan dung bởi quan hệ vợ
chồng không có sự hơn thua, ai đúng ai sai… Con người không ai hoàn hảo, nhẹ
nhàng chấp nhận rồi bước tiếp cùng nhau, đó mới gọi là cuộc sống”.
Bên cạnh tình cảm
yêu thương, tinh thần trách nhiệm, sự tôn trọng lẫn nhau, nếu biết kết hợp hài
hòa với lòng khoan dung sẽ giúp đời sống gia đình thêm gắn bó bền chặt. Từ đó,
các thành viên trong gia đình sẽ luôn có sự thấu hiểu và đồng lòng xây đắp cho
hạnh phúc gia đình.
“ Khi ta không tha
thứ cho một ai đó, tức là ta đang quay lưng lại với tương lai của mình. Khi ta
bao dung, điều đó có nghĩa mình đang tiến về phía trước”
7- Suy Ngẫm Về Khoan Dung Độ Lượng
Oán giận cùng với
nản lòng chỉ có thể làm vật cản trở trên bước đường tiến đến thành công của mình.
Khoan dung, tha thứ cho người khác thực ra cũng là đang trải đường cho bản thân
mình để cuộc sống này thêm ý nghĩa.
Trước hết chúng
ta cần hiểu thế nào là lòng khoan dung? Khoan dung là một đức tính tốt của con
người. Khoan dung là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng
tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi lầm
mà người khác đã phạm phải. Người có lòng khoan dung luôn biết yêu thương, đồng
cảm, thấu hiểu với những người xung quanh bởi vậy mà đức Phật cũng đã dạy nhân
loại: “ Tài sản lớn nhất của con người chính là lòng khoan dung”. Biểu hiện của
lòng khoan dung không phải là một điều gì bí ẩn mà nó hiện ra ngay trong cuộc
sống con người. Chúng ta có thể tha thứ những lỗi lầm cho bạn bè để tình bạn
trở nên gắn bó lâu dài, khoan dung với người thân, với những người xung quanh
ta và với chính bản thân mình có như thế thì xã hội mới trở nên gắn bó và trở
thành một khối chỉnh thể thống nhất, đoàn kết.
Lòng khoan dung
dễ dàng dẹp đi những chướng ngại vật trong tâm hồn và trước mắt mình để cuộc
sống rộng mở là một cuộc sống trải đầy hoa hồng,bằng phẳng. Khi xóa bỏ những hận thù , những ganh tị không đáng ở
trong lòng tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhõm hẳn, thoải mái và bỗng dưng cảm thấy
cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn. Như chúng ta đã biết, xã hội “ nhân vô thập
toàn” không ai là hoàn hảo và không mắc những sai lầm cả, những lúc như thế cần
có lòng khoan dung thì như những chiếc chìa khóa gỡ bỏ tất cả những rắc rối của
bản thân với mọi người. Nếu như có lòng khoan dung con người sẽ xích lại gần
nhau hơn, sẽ trở nên gắn bó, thân thiết với nhau nhiều hơn, biết tha thứ, dung
nạp lẫn nhau. Khoan dung, tha thứ lỗi lầm cho người khác thì có thể cảm hoá
được họ. Khi được nhận lòng khoan dung của ta, thì bản thân người đó sẽ ăn năn
hối lỗi, tự tu chỉnh bản thân mình, sửa chữa lỗi lầm và có thể biết ơn ta nữa,
để từ đó không tiếp tục phạm lỗi mà họ đã từng mắc phải. Chính lòng bao dung đã
góp phần tẩy rửa phần con, tô đậm thêm phần người, phẩm giá làm người. Nó làm
cho tâm hồn ta trở nên thánh thiện, cao thượng và giàu có hơn mà như chúng ta
đã biết sự gìn, trân trọng.Không những thế lòng khoan dung còn đem lại cho cuộc
sống con người sự bình yên,hòa thuận. Trong gia đình, thì vợ chồng cũng cần
nhẫn nhịn, khoan dung cho nhau thì mới xây dựng nên được một gia đình gắn bó,
bền chặt. Như chúng ta đã biết sau khi những chiến thắng kết thúc, Việt Nam
chúng ta cũng không quên mở lòng khoan dung, tha thứ, chuẩn bị lương thảo,
thuyền bè cho kẻ thù trở về nước. Đây cũng có thể hiểu là những mưu kế tinh anh
của ta. Có những lúc ta cần bao dung cho chính bản thân mình thì mới có thể bao
dung cho người khác được. Ta bao dung người, yêu thương, độ lượng, tha thứ
người thì một lúc nào đó sẽ được người hay người khác tha thứ cho ta.
Tuy nhiên trong
cuộc sống không phải ai ta cũng khoan dung. Có những người xấu muốn hãm hại ta,
ta không thể khoan dung cho họ được, hay những kẻ ác, những tội phạm chuyên
giết người thì ta cũng không thể nhân nhương. Như vậy,lòng khoan dung phải được
đặt đúng lúc, đúng chỗ. Sự khoan dung, nếu được dùng đúng chỗ và đúng lúc thì
còn có tác dụng mạnh mẽ hơn sự trừng phạt, bởi nó tác động rất mạnh đến nhận
thức mỗi con người. Cuộc sống của con người sẽ trở nên tẻ nhạt, bản thân mỗi
con người sẽ trở nên ích kỉ nếu không có lòng khoan dung. Bản thân mỗi chúng ta
phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình lòng khoan dung. Không vì
những lợi ích cá nhân mà trở nên ích kỉ, phải luôn yêu thương, gắn bó đoàn kết
với nhân loại. Trong cuộc sống cũng có một số người sống thờ ơ, vô cảm, luôn
chắp nhặt những chuyện vặt vãnh, chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Những người như
thế cũng khiến cho xã hội tụt hậu so với bạn bè thế giới.
Tục
ngữ Ba Lan đã khẳng định: “ Sự khoan dung là món trang sức của đức hạnh”. Chúng
ta hãy sống chậm lại một chút, lắng nghe thấu hiểu bản thân và những người xung
quanh, biết tha thứ cảm thông thì cuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp và ý nghĩa biết
bao.
“ Thay vì lên án
người khác, hãy cố hiểu họ. Hãy cố tìm hiểu tại sao họ lại làm điều họ làm.
Điều đó có ích và hấp dẫn hơn nhiều phê phán; và nó sinh ra sự cảm thông, lòng
khoan dung và sự tử tế”
8- Khoan Dung Độ Lượng Của Dân Tộc
Việt
Vào cuối thế kỷ
XIII, sau ba lần chiến thắng quân Mông - Nguyên, Trần Hưng Đạo đã chỉ ra nguyên
nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi đó là do: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả
nước góp sức”. Giai cấp phong kiến muốn là người đại diện chân chính cho dân
tộc thì phải “sâu gốc bền rễ” trong dân và trong dân tộc. Muốn thế chính quyền
phải gần dân, thân dân, khoan dân, hạn chế quan liêu, chuyên quyền độc đoán, kết
hợp mềm dẻo giữa nhà nước và làng xã, giữa “phép vua” và lệ làng, giữa cái
chính thống và cái dân gian, giữa nhà nước và xã hội. Khoan dung, độ lượng, vị
tha, thương người chính là tinh thần cơ bản của một nền chính trị thân dân, tạo
nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc trong dựng nước và giữ nước.
Khúc Hạo (907 -
917) là nhà cải cách đầu tiên ở thế kỷ X. Nối nghiệp và nối chí cha của mình là
Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo đã đảm đương một cách tài giỏi trọng trách củng cố nền
tự chủ còn non trẻ của Việt Nam. Ông đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng về
các mặt. Khúc Hạo chỉ ra rằng, chính trị cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân
dân đều được yên vui”. Trong đó, khoan dung, tức là không thắt buộc, khắt khe
quá quắt đối với dân, chống bọn tham quan ô lại, một tệ nạn lớn của thời Bắc
thuộc. Giản dị, là không làm phiền hà, nhiễu dân bởi quá nhiều thủ tục hành
chính quan liêu. Yên vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống nông dân
nơi xóm làng. Điều đó có nghĩa là, bất cứ một phong trào dân tộc chân chính nào
cũng phải có một nội dung dân chủ nào đó. Khúc Hạo đã sửa đổi lại chế độ điền
tô, thuế má và lực dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Ông ra lệnh “bình quân
thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp
trưởng (quản giáp) trông coi”. Vì nhu cầu của công cuộc xây dựng nền tự chủ,
thống nhất đất nước, Khúc Hạo đã biết khoan dung với dân, phát huy sức mạnh của
dân. Ông hiểu rằng chăm lo xây dựng bồi dưỡng sức dân tức là chăm lo xây dựng
nền tảng độc lập của dân tộc.
Kỷ nguyên Đại Việt
cho đến thế giữa thế kỷ XV, đường lối chính trị của các triều đại vẫn theo
cương lĩnh bốn chữ: “khoan - giản - an - lạc”, phát triển dưới hai định hướng:
dân tộc và thân dân. Các chính sách kinh tế - xã hội của các vua thời Lý tỏ ra
rất uyển chuyển, thoáng mở. Giống như lời khuyên khôn ngoan của sư Pháp Thuận
với triều đình Tiền Lê trước đó “Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh”, các
vua Lý đã chủ trương một đường lối cai trị thấm đượm tinh thần Phật - Đạo, đó
là hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước vào đời sống tự nhiên của nhân dân,
để cho họ tự lo liệu, giải quyết lấy những vấn đề cuộc sống của chính bản thân
họ. Lý Thái Tông, một mặt tuy vẫn kiên quyết trấn áp những cuộc phản loạn trong
triều đình cũng như ngoài biên ải, vẫn đề cao một chính sách an dân dẫn ra từ
đời Nghiêu Thuấn: “Thuỳ y củng thủ nhi thiên hạ đại trị” (rủ áo khoanh tay mà
thiên hạ thái bình).
Trong xã hội thời
Lý, dưới cái khung bao trùm của một thể chế quân chủ tập trung, là cộng đồng
các làng xã còn đậm tính tự trị, tự quản. Nó tạo nên thế đối trọng tập quyền -
tản quyền, nhà nước - dân gian, ở đó, chế độ ruộng công do làng xã tự chia vẫn
còn chiếm ưu thế, sự phân tầng thứ bậc trong làng xã vẫn dựa vào “thiên tước”,
“tuổi tác”, vai trò của tầng lớp bô lão hương ấp được nể trọng; dân chúng vẫn
sống một cuộc sống tự do, tự tại, theo các phong tục cổ truyền, thờ cúng tổ
tiên, lên chùa lễ Phật. Đối với chính sách kinh tế hàng hoá dân gian, các vua
Lý vẫn chưa có chính sách kiểm soát ngặt nghèo, mà để cho tự do phát triển. Nhà
nước cũng chưa thi hành chính sách bế quan toả cảng đối với ngoại thương, thay
vào đấy là một chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực (qua việc thành
lập các bạc dịch trường vùng biên, lập trang Vân Đồn buôn bán với các thuyền
buôn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á). Xã hội thời Lý là một xã hội mở, khai
phóng, nhân văn và nhân bản. Trong đó tinh thần khoan dung và tư tưởng hiếu
sinh Phật giáo (một hình thức của quyền sống, quyền con người) được tôn trọng ở
một mức độ khá cao. Nói như Giáo sư Đặng Thai Mai, đó là một xã hội vẫn có chỗ
cho một “mép lề phóng khoáng”, phi độc tôn, phi cực quyền.
Biên niên sử Việt Nam chép nhiều việc các vua Lý đi thăm
dân, xem xét mùa màng, miễn giảm tô thuế, lấy của cho chuộc đàn bà con gái vì
nhà nghèo phải đem thân đi ở thế nợ; giảm nhẹ các hình phạt. Như Phan Huy Chú
đã nhận xét: “Hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan rộng”. Lý Thánh Tông (1065) tuyên
bố: yêu dân như con; nhiều vị thiền sư khuyên vua Lý gần dân, theo đường lối an
dân. Vì vậy, 216 năm dưới triều Lý dường như không có khởi nghĩa nông dân.
Nhà nước Đại Việt
Trần, cũng như Đại Việt Lý - quân chủ Phật giáo hay đúng hơn là đặt trên ý thức
hệ Tam giáo, với đường lối tư duy và hành động khoan dung. Giáo sư Đặng Thai
Mai có nhận xét: “Nét đặc biệt rõ ràng trong đời sống Việt Nam ở giai đoạn này
là sự giản dị trong quan hệ giữa con người với con người. Giữa vua quan với
nhân dân, sự cách biệt còn chưa đến nỗi quá gay gắt, “cách trùng”. Một nhà vua
nổi tiếng là anh minh của nhà Trần (Nhân Tông) đã nhiều lần nhắc nhở con cháu
mình chớ nên quên rằng tổ tiên họ xưa kia cũng chỉ là những người dân đen (chài
cá). Từ cung điện ở phủ Thiên Trường, nhà vua ngắm cảnh thôn quê và lắng nghe
tiếng sáo của các em bé chăn trâu đi dọc theo con đường làng bên bờ ruộng, nơi
hai cái cò trắng vừa tà tà hạ cánh...” . Giáo sư Mỹ O.W. Wolters, chuyên gia
lớn về thời Trần của Đại học Cornell (Mỹ) đã khái quát: “Thời Trần, chính quyền
kiểm soát dân chúng hơn là cai trị dân chúng” (3). Chính vì theo đường lối nới
sức dân, khoan dung với người dưới mà triều Trần ba lần đại thắng xâm lược Mông
- Nguyên (1258, 1285, 1288). Người dưới có lỗi, các vua Trần thường nhận là do
lỗi của mình trước, xét xử đầy khoan hậu, ít nghiêm khắc. Xe vua gặp các gia nô
nhà vương hầu, thường dừng lại hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Đám tang vua
quần chúng hàng vạn người tràn cả vào hoàng cung xem lễ, nhà Trần không dùng
chế độ cảnh sát để giải tán quần chúng mà cho quân sĩ phân thành từng nhóm ca
hát để thu hút họ do đó làm dãn bớt đám đông...
Từ thời Đinh,
Phật giáo được chính thức thừa nhận làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho nhà vua
và dân chúng, cho chính sự nói chung. Rất nhiều thiền sư tham gia chính sự tuy
không tham gia chính quyền. Sư bàn cả việc quân sự, khuyên vua đánh Tống, bình
Chiêm.
Trước thời hậu Lê
(từ thế kỷ XV về trước) triều đình Đại Việt biết dung hợp cả ba ý thức hệ Phật,
Đạo, Nho. Các vua đầu đời Trần, từ Thái Tông đến Anh Tông, đều có căn bản vững
chắc về Phật học. Thiền phái Trúc Lâm ra đời và phát triển mạnh, có tính dân
tộc. Dưới sự chi phối của tinh thần dân tộc, của hệ tư tưởng yêu nước, Phật
giáo đời Trần cũng mang tính cách “nhập thế” mạnh. Phật, Nho, Đạo đều phụng sự
cho đời sống, đời sống tâm linh giải thoát cũng như đời sống xã hội thực tiễn.
Cũng do nhu cầu cố kết nhân tâm và hoà hợp dân tộc, cũng như thời Lý, tam giáo
vẫn thịnh hành cùng với những tín ngưỡng dân gian khác. Vua tu thiền nhưng các
con vua có thể không tu thiền, theo Đạo hoặc mở trường học Nho. Tinh thần khoan
dung và tự do vẫn chi phối. Cũng như thời Lý, thời Trần không chỉ “thi Nho mà
thi cả tam giáo”. Cạnh văn là võ. Cái tinh thần cơ bản của thời Lý, Trần vẫn là
tinh thần thượng võ. Tuổi trẻ thời Trần, từ quý tộc đến bình dân phần nhiều
chuộng võ dũng. Lê Quý Đôn - nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII đã hết lời ca
ngợi nhà Trần đãi ngộ nhân tài một cách khoan dung, cởi mở, cẩn trọng, lễ phép
cho nên nhân sĩ thời ấy ai ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn kiệt vượt ra ngoài
lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất, há phải đời
sau kịp được đâu! (Kiến Văn tiểu lục) .
Văn hóa thời Lý, Trần là nền văn hóa dân tộc, độc lập. Chữ
nôm ra đời, một nền văn học nôm hình thành và bước đầu phát triển. Những bộ sử
đầu tiên của dân tộc ra đời. Thần thoại và truyện cổ dân gian được sưu tầm và
biên soạn thành sách và cho in ấn. Sinh hoạt văn hoá cung đình vẫn mang đậm
tính chất dân gian, đậm đà chất Đông Nam Á: đấu vật, đua thuyền, hát phết, hát
chèo, rối cạn, rối nước... Vua tôi dang tay nhau mà hát, sau những buổi tiệc ở
nội điện. Phong tục cung đình vẫn được khen là giản dị chất phác. Trong nhân
dân, sinh hoạt văn hoá thời Lý, Trần diễn ra quanh trung tâm chùa tháp (Phật)
và đền miếu (Đạo). Văn hoá xóm làng thấm đượm tình người. Sử sách thời này còn
ghi lại những tập tục như: “Đêm trừ tịch (30 tháng Chạp), con gái con trai nhà
nghèo, trong năm không có đủ tiền sắm đồ sính lễ, cứ việc lấy nhau”. Mùa xuân
trai gái tự do họp bạn, hát múa giao duyên, tung còn, hát phết, “ưng ý nhau thì
lấy nhau, mẹ cha không ngăn cấm”.
Quan hệ cha con
trong thời Trần thì quả là thắm thiết, như thể chế Thái thượng hoàng (chế độ
hai vua) đảm bảo hoạt động tập thể ở vị trí tối cao của quyền lực. Thượng hoàng
là người kèm cặp vua, nhưng không phải chỉ là người kèm cặp mà là người cùng xử
lý việc nước với vua (ngay cả khi vua đã khôn lớn). Sử ghi lại nhiều hành động
chí hiếu của các vua quan Trần đối với cha mẹ. Chữ hiếu được tôn trọng theo
hướng tích cực của nó, không lấy sự lạm dụng chữ hiếu để đi đến những hành động
sai lầm.
Nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín theo Nho giáo chưa từng được trực tiếp đề cập trong các văn kiện thời
Trần. Tuy nhiên những hành động nhân nghĩa lại khá nhiều. Vua thương yêu người
thuộc hạ, người cơ hàn nghèo khổ, tổ chức phát chẩn, cứu đói, giải phóng một
phần con nợ... Gia nô trung thành với chủ như Yết Kiêu, Dã Tượng... là điều
không lạ trong đời Trần. Nhà vua trong kết cấu đẳng cấp thời Lý, Trần đã giữ
một vai trò đặc biệt quan trọng như “mặt trời, mặt trăng” nhưng qua những nội
dung trình bày trên có thể thấy lúc này, vua quan vẫn chưa trở thành những đẳng
cấp cách biệt, xa lạ với nhân dân. Tinh thần khoan dung được thể hiện trong các
chính sách và đường lối trị nước thời Trần, trong các mối quan hệ giữa vua -
quan - dân là nét đặc sắc của văn hóa chính trị Việt Nam trong kỷ nguyên Đại
Việt. Tinh thần này đã được Nguyễn Trãi kế thừa và thể hiện rất sâu sắc trong
đường lối chính trị Nhân nghĩa - đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thế kỷ XV.
“ Hãy luôn là bạn
đồng hành với lòng khoan dung, chúng ta sẽ an toàn”
9-Tạm Kết
Khoan dung, độ lượng, vị tha là những giá trị xuyên suốt
trong lịch sử dân tộc, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực từ đời sống xã hội
đến đời sống vật chất, tinh thần; từ chính trị đến quân sự, ngoại giao. Trong
lịch sử hiện đại của dân tộc, đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ bảo vệ Tổ quốc, tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha
càng được phát huy và có tác dụng to lớn, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ
đại. Nếu như trước đây, khi kẻ thù đầu hàng và quy phục, ông cha ta không giết,
mà còn cấp ngựa, cấp thuyền và lương thực cho kẻ bại trận lui về nước, thì
trong lịch sử cận - hiện đại, với kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân và đế quốc
phương Tây có sức mạnh vượt trội so với kẻ thù truyền thống - âm mưu của kẻ thù
là xảo quyệt, sự tàn phá là vô cùng tàn ác đối với nhân dân; nhưng ngược lại,
Chính phủ và nhân dân ta lại hết sức khoan dung, độ lượng, vị tha đối với kẻ
thù khi chúng là kẻ bại trận. Với bọn hàng binh Pháp, chiến sỹ ta không chỉ có
thái độ nhân đạo mà còn nhường cơm xẻ áo cho chúng khi cần thiết; đối với tù
binh là các phi công Mỹ, Chính phủ ta có chính sách khoan hồng, được nhân dân
ta chăm sóc tử tế.
Nhân nghĩa Việt Nam là sự khoan dung, độ lượng, vị tha. Năm 1997, cộng đồng quốc tế phát động năm Khoan dung quốc tế. Ngày 08-9-2000, Liên hợp quốc ra Tuyên bố Thiên niên kỷ, trong đó cho rằng, lòng khoan dung là một trong những giá trị cơ bản không thể thiếu trong quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI và nó phải bao gồm cả việc tích cực thúc đẩy nền văn hóa hòa bình và đối thoại giữa các nền văn minh, với những con người tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc - những con người không lo ngại hoặc kiềm chế những khác biệt trong nội bộ xã hội và giữa các xã hội với nhau, mà trái lại, trân trọng sự khác biệt đó như là một tài sản quý giá của nhân loại .Đối với Việt Nam, sự kiện này không xa lạ, bởi vì truyền thống của người Việt Nam là khoan dung. Khoan dung của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong chính trị mà cả trong quân sự, ngoại giao, trong các hoạt động kinh tế, xã hội và trong ứng xử hàng ngày. Khoan dung là phẩm chất phổ biến của dân tộc Việt Nam, nó cũng là giá trị văn hóa chính trị đặc sắc, có thể nói là hiếm thấy trong các nền chính trị thế giới./.
AI TRONG
ĐỜI
Đừng oán than số phận mình đen
bạc
Vốn dĩ đời có hợp có ly tan
Cớ sao người rơi dòng lệ đẫm
chan
Lên khoé mi để mang thêm hờn
tủi
Chuyện đã rồi cần chi mà nhớ
tới
Hãy thả lòng nhẹ theo áng mây
trôi
Bởi đường đời còn rộng lắm ai
ơi
Mạnh mẽ lên tìm nụ cười trở lại
Ai trong đời cũng một lần ngây
dại
Vấp ngã rồi thì phải tự đứng
lên
Để mai này bước trên nẻo chông
chênh
Chẳng ngỡ ngàng khi gập ghềnh
trắc trở
Hoa đâu phải bốn mùa đều đua nở
Người khác gì nào muôn thuở
đắng cay
Nên vững vàng hướng đến một
ngày mai
Vì cuộc đời không gì luôn tồn tại.
“ Ta tiến xa tới đâu
trong đời phụ thuộc vào việc mình có nhẹ nhàng với người trẻ, cảm thông với
người già, đồng cảm với người đang tranh đấu, và khoan dung với cả kẻ yếu và kẻ
mạnh. Bởi vì một ngày nào đó trong đời, ta sẽ thấy mình đã từng trải qua tất cả
những khoảnh khắc ấy”
.jpg)

