Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI

 Tiếp theo 3

Mục lục

I-Nhận Thức Cản Tính

1-Khái niệm.

2-Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính là cảm giác và tri giác.

2.1-Cảm giác.

2.2-Các loại cảm giác.

3-Các quy luật cơ bản của cảm giác.

3.1 Quy luật ngưỡng cảm giác.

3.2-Quy luật thích ứng cảm giác.

3.3-Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác.

4-Tri giác.

4.1-Khái niệm.

4.1-Các loại tri giác.

4.1.1-Tri giác không gian.

4.1.2-Tri  giác  thời  gian.

4.1.3-Tri giác vận động.

4.2-Các quy luật cơ bản của tri giác.

4.2.1-Quy luật về tính đối tượng của tri giác.

4.2.2-Quy luật về tính lựa chọn của tri giác.

4.2.3-Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác.

4.2.4-Quy luật về tính ổn định của tri giác.

4.2.5-Quy luật tổng giác.

4.2.6-Tri giác nhầm.

5- Nhận thức lý tính.

6- Tìm hiểu về quá trình tư duy

6.1- Tính “có vấn đề” của tư duy

6.2– Tính gián tiếp của tư duy.

6.3– Tính trừu tượng và khái quát của tư duy

6.4 – Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ

6.5 – Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính

II. Tìm hiểu về quá trình tưởng tượng

1– Tưởng tượng tiêu cực và tích cực, tái tạo và sáng tạo

2-Tưởng tượng tích cực gồm hai loại: tái tạo và sáng tạo

III- So ѕánh giữa nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính

IV-TƯ DUY.

1-Tư duy là gì

2- Các đặc điểm tư duy:

2.1-Tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề

2.2-Tính trừu tượng và khái quát của tư duy

2.3-Tư duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ

2.4 -Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính

3-Các thao tác tư duy:

3.1-So sánh.

3.2-Phân tích và tổng hợp

3.3-Trừu tượng hoá và khái quát hoá.

3.4-Các loại tư duy:

3.4.1-Tư duy trực quan - hành động:

3.4.2-Tư duy trực quan - hình ảnh:

3.4.3-Tư duy trừu tượng:

3.4.4-Tư duy thực hành:

3.4.5-Tư duy hình ảnh cụ thể:

3.4.6 -Tư duy lí luận:

V- NGÔN NGỮ

1-Khái niệm về ngôn ngữ:

2- Hệ thống:

3-Các chức năng của ngôn ngữ:

3.1-Chức năng chỉ nghĩa:

3.2-Chức năng thông báo:

3.3-Chức năng khái quát hoá:

3.4-Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức.

3.4.1-Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức cảm tính.

3.4.2-Đối với cảm giác.

3.4.3-Đối với tri giác .

3.4.4-Đối với trí nhớ.

4-Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và lí tính.


 

Phần II

CÁC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC

 

I-Nhận Thức Cản Tính

1-Khái niệm:

Mỗi sự vật, hiện tượng quanh ta đều được thể hiện ra bên ngoài hàng loạt các  đặc điểm như màu sắc (xanh, đỏ...), trọng lượng (nặng, nhẹ...), khối lượng  (to, nhỏ...). Chúng ta biết được những thuộc tính đó là nhờ bộ não.  Biểu  tượng  của những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi  sự vật,  hiện tượng đang trực  tiếp tác động vào ta được gọi là các biểu tượng nhận thức cảm  tính.  Quá  trình  chúng ta nhận biết được các thuộc tính đó là quá trình nhận thức cảm tính.

 

Ví dụ: khi ta nhắm mắt, người bạn đặt vào lòng bàn tay ta một vật  gì đó. Nếu không sờ mó, nắm,  bóp, ta chỉ  có thể  cảm nhận được  vật  đó nặng hay nhẹ, nóng  hay lạnh.

 

Chúng ta đang quan sát ngôi nhà.  Trong  đầu  chúng  ta khi  đó  xuất  hiện  hình ảnh ngôi nhà.

 

Chúng ta có cảm giác nóng,  lạnh, trong  đầu    hình   ảnh  ngôi  nhà…  đó chính là biểu tượng nhận thức  cảm  tính.  Khi  chúng  ta  đang cảm thấy nóng hoặc khi chúng ta đang nhìn ngôi nhà thì đó là quá trình nhận thức cảm tính.

 

Đặc điểm chung nhất của nhận thức cảm tính    chỉ  phản  ánh  được  những thuộc tính bên ngoài của  sự  vật,  hiện tượng khi  sự vật  hiện tượng đang trực  tiếp tác động vào giác quan chúng ta.

 

2-Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính là cảm giác và tri giác.

2.1-Cảm giác:

Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta.

Cảm giác là hình thức phản ánh  tâm  lí,    đẳng,  đơn giản  nhất.  Biểu  tượng của nó chỉ là những thuộc tính riêng rẽ của sự vật. Tuy  nhiên nó  lại  đóng vai  trò khởi đầu cho các quá trình tâm    khác  như  tưởng tượng, tư duy,  trí nhớ…  Cảm giác cũng là khâu đầu tiên trong sự nhận thức  hiện  thực  khách  quan  của  con người.

 

2.2-Các loại cảm giác:

Cảm giác bên ngoài:

Cảm giác nhìn (thị giác): cho chúng ta biết  thuộc  tính ánh  sáng,  màu  sắc, kích thước của đối tượng.

Cảm giác nghe (thính giác): cho chúng ta biết những thuộc tính của âm thanh.

Cảm giác ngửi (khứu giác): giúp con người nhận biết được mùi.

Cảm giác nếm (vị giác): giúp chúng ta  nhận  biết  các  loại  vị:  mặn,  nhạt,  đắng, cay…

Cảm giác da (mạc giác): cho ta biết về nhiệt độ.

Cảm  giác  bên trong:

Cảm  giác  vận động.

Cảm giác thăng bằng.

Cảm giác nội tạng.


 3-Các quy luật cơ bản của cảm giác:

3.1 Quy luật ngưỡng cảm giác (quy luật về tính nhạy cảm):

Muốn có cảm giác thì  phải  có kích thích. Tuy nhiên cường độ kích thích phải đạt đến độ nhất định mới có thể gây ra được cảm giác. Mức độ đó được gọi là ngưỡng cảm giác.

Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu của kích thích để có  thể  gây ra được cảm giác.

Quy luật này còn gọi là quy luật  về tính  nhạy  cảm  bởi  lẽ  khi  nói  đến tính nhạy cảm cao thì điều đó    nghĩa là chỉ  cần cường độ  kích thích nhỏ  nhưng  đã có thể có cảm giác. Ví dụ: người ta nói một người  nào  đó có đôi tai rất thính có nghĩa là với âm thanh khá nhỏ, trong khi  người  khác  chưa nghe  thấy thì  người  đó đã nghe thấy. Như vậy độ nhạy cảm càng  cao  thì    nghĩa  là ngưỡng  cảm  giác càng thấp.

Điểm đáng lưu ý ở  đây là khi  chúng ta nói  đến ngưỡng  cảm giác  là chúng ta  đề cập đến đại lượng vật lí,    dụ  như  cường độ  âm  thanh, trọng lượng… còn khi ta nói độ nhạy cảm thì  đó lại  là “đại  lượng” tâm lí. Do  không đo được  trực  tiếp độ nhạy cảm của giác quan nên người ta phải  đo nó  một cách gián tiếp, thông qua việc đo các kích thích vật lí bên ngoài.

 

3.2-Quy luật thích ứng cảm giác:

Để phản ánh được tốt nhất và  bảo vệ  hệ  thần kinh, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích.

Thích ứng là khả năng  thay  đổi  độ  nhạy  cảm  của cảm  giác  cho  phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích: khi cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm giảm và ngược lại, độ  nhạy  cảm  tăng  khi  cường độ  kích thích giảm.    dụ: khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích mạnh), đi vào chỗ tối  (cường độ  kích thích yếu) thì lúc đầu ta không nhìn thấy gì, sau đó dần dần mới  nhìn rõ mọi vật.  Điều này là do độ nhạy cảm tăng dần.

Tất cả các giác quan đều tuân  theo  quy  luật  thích  ứng.  Tuy  nhiên  mức  độ khác nhau. Cảm giác thị giác có khả  năng  thích  ứng  cao.  Trong  bóng  tối  tuyệt đối, độ nhạy cảm với ánh sáng tăng  gần  200.000  lần  sau 40 phút.  Bên cạnh đó, cảm giác đau hầu như không thích ứng.

 

Khả năng thích ứng  của cảm  giác  cũng    thể  được phát  triển do  rèn luyện. Ví dụ: công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 500  -  600C  trong hàng giờ đồng hồ.

 

3.3-Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác:

Các cảm giác không tồn tại  độc  lập mà luôn tác  động qua lại lẫn nhau. Do  sự tác động qua lại như vậy, tính nhạy  cảm của cảm giác  bị  thay đổi. Kích thích yếu  lên cơ quan phân tích này lại làm  tăng độ  nhạy  cảm của giác quan kia. Ngược lại,  tác động mạnh lên giác quan này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan phân tích khác.

Ví dụ: khi nghe nhạc, có ánh sáng mầu kèm theo thì  các  bản nhạc  cũng được  cảm nhận rõ nét hơn.


4-Tri giác:

4.1-Khái niệm:

Tri giác là một quá trình tâm    nhận  thức  cảm tính, phản ánh một  cách trọn  vẹn các thuộc tính bề  ngoài  của sự vật,  hiện tượng đang trực  tiếp tác  động vào  giác quan người ta.

Cũng giống với cảm giác, tri giác là một quá trình nhận thức cảm tính.

Là một quá trình vì có khởi đầu, diễn biến và kết thúc.

Là quá trình nhận thức vì biểu tượng tri giác giúp cho con người  nhận  biết được hiện thực khách quan bên ngoài.

Là cảm tính vì  chỉ  gọi  là biểu tượng tri  giác  khi  sự vật,  hiện tượng đang  trực tiếp tác động vào giác quan.

Tuy nhiên biểu tượng tri giác là là một hình ảnh trọn vẹn về sự vật, hiện tượng. Biểu tượng này được cấu thành từ các cảm giác. Ví  dụ:  hình  ảnh  ngôi  nhà  mà chúng ta đang nhìn thấy bao gồm những cảm giác  khác nhau về màu sắc, kích thước. Lẽ đương nhiên đó không phải là một tổng số học mà là một tổng thể các  cảm giác.

 

4.1-Các loại tri giác:

4.1.1-Tri giác không gian: tri giác không gian giúp người ta nhận biết được  kích thước, hình dạng, khoảng cách, phương hướng của đối tượng.

4.1.2-Tri  giác  thời  gian:  tri  giác  thời  gian là sự phản ánh độ lâu, vận  tốc và  tính  kế tục của các hiện tượng.

4.1.3-Tri giác vận động: phản ánh những thay đổi về  vị  trí  của các sự vật  trong  không gian.

Ngoài cách phân loại theo đối tượng tri giác như  trên còn có  cách phân  loại theo giác quan. Theo cách phân loại này, người  ta    các  loại  tri giác: thị giác, thính giác, khứu giác…

 

4.2-Các quy luật cơ bản của tri giác:

4.2.1-Quy luật về tính đối tượng của tri giác:

Hình ảnh mà tri giác đem lại bao giờ cũng là biểu tượng của một sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới  bên ngoài. Tính đối tượng của tri giác  nói lên cái mà  tri giác đem lại. Trong quy luật này đã hàm chứa tính chân thực của tri giác.

4.2.2-Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:

Tri giác không thể phản ánh được toàn bộ  những  kích thích đang tác động lên giác quan của con người ở tại một thời điểm. Do  vậy  để tri giác, con người  phải  tách đối tượng ra khỏi bối cảnh.

Sự lựa chọn của tri giác cũng không mang tính cố  định.    phụ  thuộc  vào nhiều yếu tố bên ngoài cũng như bên trong của chủ thể.

Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được ứng dụng nhiều trong thực tiễn:  kiến trúc, quảng cáo, quân sự (nguỵ trang), trong giáo dục và dạy học.

4.2.3-Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác:

Tri giác của con người gắn chặt với tư  duy,  với  bản  chất  của  sự  vật,  hiện tượng. Chính vì lẽ đó, biểu tượng tri giác cho phép  người  ta gọi  tên được  sự vật hiện tượng, có thể sắp xếp chúng vào một nhóm, lớp nhất định.

4.2.4-Quy luật về tính ổn định của tri giác:

Tính ổn định của tri giác thể hiện ở chỗ  trong các  điều kiện khác  nhau nhưng nội dung của biểu tượng tri giác vẫn không thay  đổi. Ngôi  nhà,      cách  xa chúng ta hàng ngàn mét và hình ảnh của nó trên võng mạc nhỏ hơn hình ảnh của một người đang đứng trước mặt chúng ta thì  ngôi  nhà  vẫn  được  tiếp nhận  to  hơn so với con người. Sự ổn định tri giác còn thể hiện ở cả về mầu sắc, kích thước...

4.2.5-Quy luật tổng giác:

Quy luật này thể hiện ở chỗ  nội  dung  các  biểu tượng tri  giác  còn phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lí của chủ thể: thái độ, nhu cầu, cảm xúc, động cơ... (Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ - Nguyễn Du).

 

4.2.6-Tri giác nhầm:

Trong một số trường hợp, hình ảnh  của tri  giác  không  phù  hợp  với  thực tại. Cần phân biệt tri giác nhầm với ảo giác.  Tri  giác  nhầm  là quá  trình chúng  ta vẫn đang tri giác (sự vật, hiện tượng vẫn  đang  tác  động  vào  giác  quan) song  biểu tượng tri giác không tương xứng với thực tiễn. Ví dụ: khi  ta nhìn cái thìa đang để trong nửa cốc nước, ta thấy như cái thìa bị gãy ở chỗ mặt nước. Ảo  giác  là hiện tượng con người vẫn “nhìn” thấy, ví dụ: nhìn thấy rắn  rết     đầy  trên  giường nhưng thực tế không có, nghe  thấy  tiếng  nói  nhưng xung quanh  không có  ai. Tri giác nhầm là hiện tượng bình thường còn ảo giác là hiện tượng bệnh lí.

 

Cảm giác và tri giác đều là quá trình nhận  thức  cảm tính. Trong thực tế, khi chúng ta quan sát sự vật  hiện tượng thì  sự xuất  hiện của cảm  giác    tri giác    đan xen nhau, có thể cái này xuất hiện trước  cái  kia.    dụ:  “bắt  mắt” là màu đỏ, sau đó chúng ta mới quan sát tổng  thể  ngôi  nhà.  Cũng có thể  hình ảnh ngôi  nhà xuất hiện trước, sau đó với xuất hiện các cảm giác.


 5- Nhận thức lý tính.

Nhận thức lý tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những cái như tốc độ ánh sáng, giá trị của hàng hoá, quan hệ giai cấp, hình thái kinh tế – xã hội, v.v.. Muốn hiểu được những cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu tượng.

 

6- Tìm hiểu về quá trình tư duy

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất qui luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết.

Tư duy là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác, tri giác. Nếu cảm giác, tri giác chỉ phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những mối quan hệ ngoài của sự vật và hiện tượng, thì tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những quan hệ có tính qui luật của sự vật và hiện tượng.

Tư duy, với tư cách là một mức độ cao của hoạt động nhận thức (nhận thức lý tính), có những đặc điểm cơ bản sau đây:

 

6.1- Tính “có vấn đề” của tư duy:

Không phải bất cứ tác động nào của hoàn cảnh cũng đều gây ra tư duy. Bình thường mà nói, người ta không phải lúc nào cũng chịu tư duy, vì quả thật tư duy mệt óc và tốn nhiều năng lượng. Trên thực tế, tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu biết cũ, con người không đủ để giải quyết, để nhận thức, con người phải vượt qua những hiểu biết cũ đi tìm cái mới. Những tình huống, hoàn cảnh có tính chất như vậy gọi là tình huống có vấn đề.

Không phải tình huống có vấn đề nào cũng kích thích được hoạt động tư duy. Muốn làm nảy sinh quá trình tư duy thì tình huống có vấn đề đó phải được chủ thể nhận thức được một cách đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của chủ thể, nghĩa là xác định cái gì đã biết, cái gì đã cho và cái gì chưa biết cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm nó. Dĩ nhiên những dữ kiện đó nằm ngoài phạm vi hiểu biết của chủ thể thì tư duy cũng không xuất hiện.

 

6.2– Tính gián tiếp của tư duy:

Khác với nhận thức cảm tính là phản ánh thế giới một cách trực tiếp, tư duy có khả năng nhận thức một cách gián tiếp nhờ ngôn ngữ. Thông qua ngôn ngữ con người sử dụng vốn kinh nghiệm, những phát minh, kết quả tư duy của người khác để thực hiện quá trình tư duy. Dựa trên những quy luật về giữa các mối liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên mà con người có thể hiểu biết được, khám phá được những hiện tượng xảy ra trên mặt trăng, mặt trời mà chúng ta không thể trực tiếp nghiên cứu được, dựa vào một vài hoá thạch nhà khảo cổ biết được sự sống trên trái đất hàng vạn năm về trước.

Trên cơ sở nắm được các quy luật của thế giới mà con người đã sáng tạo ra nhiều công cụ từ đơn giản đến phức tạp (như nhiệt kế, vôn kế, ampe kế…) giúp cho con người nhận thức hiện thực một cách gián tiếp.

Nhờ sự phản ánh gián tiếp, tư duy giúp con người nhận thức được sâu sắc về thế giới xung quanh, mở rộng khả năng hiểu biết của con người đến vô tận.

 

6.3– Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:

 Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và cá lẻ. Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể, cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật và hiện tượng riêng lẻ khác nhau, nhưng có chung những thuộc tính bản chất thành một nhóm, một loại hay một phạm trù. Nói cách khác, tư duy mang tính chất trừu tượng và khái quát. Ví dụ khi nghĩ tới “cái bảng” là cái bảng nói chung, chứ không chỉ một cái bảng cá lẻ, cụ thể nào cả.

Tính trừu tượng và khái quát của tư duy cho phép con người không chỉ giải quyết những nhiệm vụ hiện tại, mà còn nhìn xa vào tương lai nữa, nghĩa là giải quyết ở trong đầu những nhiệm vụ đề ra cho họ sau này. Ví dụ: do nắm được qui luật đàn hồi của kim loại dưới tác động của nhiệt, người kỹ sư đã thiết kế những khoảng cách nhỏ giữa các đoạn đường này.

Nhớ có tính khái quát của tư duy mà trong khi giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó, con người không xem nó như là một cái gì hoàn toàn khác thường, mà có thể xem nó vào một phạm trù, một nhóm nhất định, có thể lựa chọn những khái niệm, những quy tắc, phương pháp tương ứng cần sử dụng trong trường hợp ấy.

 

6.4 – Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ:

Sở dĩ tư duy ở người có những đặc điểm trên đây (tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát) là vì tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ. Mối quan hệ này cho đến nay vẫn còn được các trường phái, các xu hướng tâm lý học khác nhau xem xét một cách khác nhau.

Những người theo xu hướng duy tâm thì cho rằng tư duy không phụ thuộc vào ngôn ngữ, mà ngôn ngữ cũng chẳng phụ thuộc vào tư duy. Họ lập luận rằng chính vì vậy nên con người mới suy nghĩ thầm được, đồng thời lại có thể suy nghĩ về người khác trong khi nói chuyện với một người thứ hai; hoặc một ý nghĩ có thể được biểu hiện bằng nhiều thứ tiếng khác nhau… nghĩa là tư duy và ngôn ngữ có thể cùng tồn tại mà không hề phụ thuộc vào nhau.

Những người theo xu hướng hành vi chủ nghĩa lại ngược hẳn lại, cho rằng tư duy và ngôn ngữ là một, chúng đồng nhất với nhau.

Cả 2 quan điểm trên đều sai, đều là phản biện chứng trong việc xem xét mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ.

 

Quan điểm duy vật biện chứng xem tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ, chúng thống nhất với nhau, nhưng không đồng nhất, cũng không tách rời nhau được: tư duy không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy. Quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Thật vậy, nếu không có ngôn ngữ (với công cụ là từ ngữ) thì các sản phẩm của tư duy sẽ không được chủ thể và người khác tiếp nhận, cũng như chính bản thân quá trình tư duy cũng không diễn ra được. Ngược lại, nếu không có tư duy (với những sản phẩm của nó) thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa, không có nội dung, chẳng khác nào những tín hiệu âm thanh trong giới động vật.

Nhưng tư duy không phải là ngôn ngữ, vì 3 lý do sau đây: tư duy và ngôn ngữ là những quá trình tâm lý có chức năng khác nhau, chúng cho những sản phẩm khác nhau và tuân theo những quy luật khác nhau.

 

6.5 – Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính:

Tư duy là mức độ nhận thức cao hơn hẳn so với nhận thức cảm tính, nhưng tư duy không tách rời khỏi nhận thức cảm tính. Dù tư duy có trừu tượng, khái quát đến mấy cũng phải dựa vào các tài liệu trực quan mà cảm giác và tri giác đưa lại. Hơn nữa, muốn tư duy được trước hết phải tri giác được hoàn cảnh có vấn đề, tri giác được các dữ kiện. Như vậy, tri giác là một khâu, là thành phần của quá trình tư duy. Kết quả của qua trình tư duy đòi hỏi phải được kiểm tra bằng thực tiễn thông qua các quá trình nhận thức cảm tính. Tư duy cũng ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức cảm tính. Nhờ có tư duy mà chúng ta tri giác được nhanh hơn, chính xác hơn. Tư duy ảnh hưởng đến tính lựa chọn, tính có ý nghĩa của tri giác.


 II. Tìm hiểu về quá trình tưởng tượng

Tư duy là một hoạt động nhận thức cao cấp, nó giúp cho con người giải quyết những nhiệm vụ, những vấn đề do thực tiễn đề ra. Tư duy chỉ nảy sinh khi con người bị đặt trước một hoàn cảnh có vấn đề. Tư duy phản ánh cái mới mà con người chưa biết.

Tuy nhiên, không phải trong bất cứ trường hợp nào thì các nhiệm vụ, vấn đề của thực tiễn đề ra đều được giải quyết bằng tư duy cả. Có nhiều trường hợp, khi đứng trước một hoàn cảnh có vấn đề con người không thể dùng tư duy để giải quyết vấn đề, mà phải dùng một quá trình nhận thức cao cấp khác, gọi là tưởng tượng.

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.

Tưởng tượng cần thiết cho bất kỳ một loại hoạt động nào của con người. Sự

khác nhau căn bản giữa lao động của con người với hành vi bản năng của con vật chính là ở cái biểu tượng về kết quả mong đợi do tưởng tượng tạo nên. Ý nghĩa quan trọng nhất của tưởng tượng là nó cho phép ta hình dung được kết quả của lao động trước khi bắt đầu lao động, hình dung được không phải chỉ cái kết quả cuối cùng, mà cả những kết quả trung gian của lao động nữa. Cho nên, tưởng tượng giúp con người định hướng trong quá trình hoạt động bằng cách tạo ra một mô hình tâm lý về những sản phẩm cuối cùng hoặc trung gian của lao động, điều đó hỗ trợ cho sự thể hiện thành hiện vật của những sản phẩm đó. Chính vì vậy, V.I.Lênin đã viết: “Thật là sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ có nhà thơ mới cần tưởng tượng. Đó là một định kiến ngu xuẩn! Ngay cả trong toán học cũng cần có tưởng tượng, không có nó thì không thể tìm ra phép tính vi phân và tích phân được. Tưởng tượng là một phẩm chất vô cùng quí báu”.

Thật vậy, tưởng tượng cần thiết đối với nhà khoa học trong việc xây dựng giả thuyết, đề ra giả thuyết về nguyên nhân của các hiện tượng, dự kiến các biến cố… Nhà văn phải tạo ra trong trí tưởng tượng của mình hình ảnh các nhân vật để sau đó đưa vào các tác phẩm văn học; nhà họa sĩ phải nhìn thấy bức tranh mình định vẽ ở trong đầu trước đã. Khi chuẩn bị bài giảng, người thầy giáo phải hình dung trước tiến trình của bài giảng, phải dự kiến phản ứng có thể có của học sinh, những câu hỏi và câu trả lời của các em… Khi tiến hành công tác giáo dục, nhà giáo dục phải tạo ra trong đầu cái hình ảnh của con người mà mình muốn giáo dục ở học sinh, với tất cả các phẩm chất tâm lý xác định của con người ấy.

 

Nếu không có sự phát triển đầy đủ của tưởng tượng, thì học sinh không thể học tập có kết quả được. Khi đọc hay kể lại một tác phẩm văn học, học sinh phải hình dung đúng được ở trong đầu về cái mà tác giả nói đến. Học địa lý, học sinh phải gợi lên trong trí tưởng tượng của mình cảnh tượng của cái thiên nhiên mà mình chưa hề biết. Đôi khi, học sinh không thể lĩnh hội được tài liệu học tập chỉ vì các em không thể hình dung được cái mà thầy giáo nói đến hoặc được viết ở trong sách giáo khoa. Trong việc tập làm văn của học sinh, tưởng tượng giữ vai trò rất quan trọng, đặc biệt với những chủ đề tự do.

Tưởng tượng có 2 đặc điểm đặc trưng là tính tích cực và tính hiệu lực. Căn cứ vào hai dấu hiệu đó, người ta phân loại tưởng tượng.


 1– Tưởng tượng tiêu cực và tích cực, tái tạo và sáng tạo.

Như trên đã nói, tưởng tượng là một điều kiện của hoạt động sáng tạo cá nhân, hướng vào sự cải tổ thế giới xung quanh. Nhưng trong một số hoàn cảnh nhất định, nó có thể xuất hiện như là một vật thay thế cho hoạt động. Trong trường hợp đó, con người tạm thời “biến thân” sâu vào địa hạt của những biểu tượng hoang đường, xa rời thực tế để núp vào đó mà trốn tránh những nhiệm vụ không giải quyết được, những điều kiện nặng nề của đời sống, những hậu quả của những sai lầm của mình… Ở đây, tưởng tượng tạo ra những hình ảnh không được thể hiện trong đời sống, vạch ra những chương trình hành vi không được thực hiện và luôn luôn không thể thực hiện được. Nó là loại tưởng tượng tiêu cực.

Tưởng tượng tiêu cực có thể xảy ra một cách có chủ định, nhưng không gắn liền với ý chí thể hiện những hình ảnh tưởng tượng đó ở trong đời sống, đó là loại tưởng tượng tiêu cực gọi là mơ mộng. Mơ mộng về cái gì đó vui sướng, dễ chịu, hấp dẫn là một hiện tượng vốn có ở mọi người. Trong những hình ảnh mơ mộng dễ dàng phát hiện được mối liên hệ của các sản phẩm tưởng tượng với những nhu cầu của cá nhân. Nhưng nếu tưởng tượng ở con người chủ yếu chỉ là mơ mộng, thì đó lại là một thiếu sót của sự phát triển nhân cách, nó nói lên tính tiêu cực của nhân cách đó. Nếu con người ươn hèn, không tranh đấu cho một tương lai tốt đẹp hơn, mà cuộc sống hiện tại lại khó khăn, sầu thảm, thì họ thường tạo ra cho mình một cuộc sống hão huyền, tưởng tượng, trong đó mọi nhu cầu của họ đều được thỏa mãn hoàn toàn, ở đó, họ giữ cái vị trí mà trong hiện tại họ không thể nào hy vọng có được.

 

Tưởng tượng tiêu cực cũng có thể nảy sinh một cách không chủ định. Chủ yếu điều này xảy ra khi hoạt động của ý thức, của hệ thống tín hiệu thứ hai bị suy yếu, khi con người ở tình trạng không hoạt động, trong giấc ngủ (chiêm bao), trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, trong trạng thái xúc động, trong những rối loạn bệnh lý của ý thức (ảo giác)…

Khi tưởng tượng tạo ra những hình ảnh nhằm đáp ứng những nhu cầu kích thích tính tích cực thực tế của con người, thì gọi là tưởng tượng tích cực.

 

2-Tưởng tượng tích cực gồm hai loại: tái tạo và sáng tạo.

Khi tưởng tượng tạo ra những hình ảnh chỉ là mới với cá nhân người tưởng tượng, và dựa trên cơ sở của một sự mô tả của người khác, thì gọi là tưởng tượng tái tạo. Ví dụ tưởng tượng của học sinh về những điều được mô tả trong sách giáo khoa địa lý, sử học, văn học…

Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập, những hình ảnh này là mới với cá nhân, lẫn xã hội, chúng được thực hiện trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị. Nảy sinh trong lao động, tưởng tượng sáng tạo là một mặt không thể thiếu được của mọi sự sáng tạo: sáng tạo kỹ thuật, sáng tạo nghệ thuật…

 

– Ước mơ, lý tưởng là một loại tưởng tượng đặc biệt được hướng về tương lai, nó biểu hiện những ước ao, mong muốn của con người. Ước mơ có điểm giống với tưởng tượng sáng tạo ở chỗ nó cũng là một quá trình tạo ra những hình ảnh mới một cách độc lập. Nhưng nó khác ở chỗ: ước mơ không hướng trực tiếp vào hoạt động trong hiện tại. Xét về mặt ý nghĩa thì có 2 loại ước mơ có lợi và ước mơ có hại. Ước mơ chỉ có lợi khi nó thúc đẩy cá nhân vươn lên, biến ước mơ thành hiện thực. Còn khi ước mơ không dựa trên cơ sở của những khả năng thực tế, thì nó trở thành hiện thực được, do đó nó có thể làm cho cá nhân thất vọng, chán nản. Tất nhiên, ngoài ý nghĩa của ước mơ đối với cá nhân, ta còn phải tính đến ý nghĩa xã hội của nó. Lý tưởng có tính tích cực và hiện thực cao hơn ước mơ. Lý tưởng là hình ảnh chói lọi, rực sáng, cụ thể của cái tương lai mong muốn. Nó là một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta vươn lên giành lấy tương lai.

 

III- So ѕánh giữa nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính

Sau khi tìm hiểu ᴠề nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính, có thể thấу hai thuật ngữ thường dễ bị nhầm lẫn ᴠới nhau. Để giúp Quý ᴠị nhận biết dễ dàng hơn, хin đưa ra một ѕố tiêu chí nhằm ѕo ѕánh nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính như ѕau:

Tiêu chí

 

Nhận thức cảm tính

 

Nhận thức lý tính

 

Bản chất ᴠề giai đoạn

 

Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người ѕử dụng các giác quan để tác động ᴠào ѕự ᴠật nhằm nắm bắt ѕự ᴠật ấу.

Là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát ѕự ᴠật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, ѕuу luận.

Đặc điểm

 

– Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.

– Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên ᴠà ngẫu nhiên, cả cái bản chất ᴠà không bản chất.

– Giai đoạn nàу có thể có trong tâm lý động ᴠật.

– Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất уếu bên trong của ѕự ᴠật. Để khắc phục, nhận thức phải ᴠươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.

– Là quá trình nhận thức gián tiếp đối ᴠới ѕự ᴠật, hiện tượng.

 

– Là quá trình đi ѕâu ᴠào bản chất của ѕự ᴠật, hiện tượng.

 

– Nhận thức cảm tính ᴠà lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ ᴠới nhau.

Quan hệ lẫn nhau

Nếu không có nhận thức cảm tính thì tất уếu ѕẽ không có nhận thức lý tính; Và nếu không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất của ѕự ᴠật – chúng có mối quan hệ tương quan, bổ ѕung cho nhau phát triển.

 

IV-TƯ DUY.

1-Tư duy là gì ?

Cảm giác, tri giác đã giúp cho con người nhận biết được các của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên đó mới chỉ    các  đặc  điểm bên ngoài. Để  nhận biết được  cái bên trong, cái cốt lõi của các sự vật hiện tượng đó, con người cần đến tư duy.

 

Tư duy là một quá trình  nhận  thức  phản  ánh  những  thuộc  tính  bản  chất,  những liên hệ, quan hệ có tính quy luật  của  sự  vật  hiện  tượng  khách  quan  mà trước đó ta chưa biết.

 

2- Các đặc điểm tư duy:

2.1-Tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề:

Hoàn cảnh có vấn đề có thể là một bài toán, một  nhiệm  vụ cần  phải  giải quyết… Cùng một hoàn cảnh song đối với người  này    hoàn  cảnh    vấn  đề nhưng đối với người khác lại không.  Như  vậy  hoàn cảnh có  vấn  đề  là hoàn cảnh kích thích con người suy nghĩ.

-Tính gián tiếp của tư duy:

Tư duy nhận biết được bản chất của  sự  vật  hiện  tượng  nhờ  sử dụng công cụ (các dụng cụ đo đạc, máy móc…); các  kết quả của nhận thức  (quy tắc, công thức, quy luật…). Tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở  chỗ nó được thể hiện thông  qua ngôn ngữ.

2.2-Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:

Tư duy phản ánh cái bản chất, cái chung  nhất  cho  một  loại,  một  lớp  hiện tượng sự vật    khái  quát  chung bởi  khái  niệm. Nhờ  có tư duy,  con người  có thể đi sâu vào đối tượng, cho phép họ nhận  thức  được  những vấn đề mà cảm giác, tri giác không tiếp cận được.

2.3-Tư duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ:

Tư duy trừu tượng không thể tồn tại nếu không    ngôn  ngữ.  Nhờ    ngôn ngữ, tư duy có được  tính khái  quát    gián  tiếp. Cũng  nhờ    ngôn  ngữ, những  sản phẩm của tư duy mới được truyền đạt cho  người  khác.  Trong  lâm sàng tâm thần, ngôn ngữ được coi là hình thức  của tư  duy    việc  phân  loại  các rối loạn  hình thức tư duy dựa trên ngôn ngữ.

2.4 -Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính:

Nhận thức cảm tính  thu  thập    liệu. Các  biểu tượng của nhận  thức  cảm tính là nguyên liệu cho tư duy. Tư duy phát triển cũng giúp định hướng nhận thức cảm  tính.

 

3-Các thao tác tư duy:

3.1-So sánh:

Dùng trí óc đối chiếu các đối tượng hoặc  những thuộc tính, bộ  phận... để xem xét sự giống nhau hay khác nhau, đồng nhất hay không đồng nhất.

So sánh là cơ sở của mọi hiểu biết và của tư duy. Chúng ta nhận biết thế giới không ngoài cách thông qua  so  sánh    phân  biệt  với  một  vật    khác  thì chúng  ta không thể có ý niệm nào và không thể nói lên một điểm nào về sự vật đó cả (Usinxki).

3.2 -Phân tích và tổng hợp:

Phân tích: dùng óc phân chia đối tượng thành bộ phận, thuộc tính, quan hệ.

Tổng hợp: kết hợp những đối tượng, thuộc tính quan hệ v.v.. thành tổng thể.

3.3-Trừu tượng hoá và khái quát hoá:

Trừu tượng hoá: gạt bỏ những bộ  phận,  thuộc  tính, quan hệ  thứ yếu, chỉ giữ  lại những yếu tố cần thiết của đối tượng để tư duy.

 

Khái quát hoá là dùng trí óc bao  quát  nhiều đối tượng khác  nhau trên cơ sở một số thuộc tính, quan hệ, bộ phận giống  nhau  sau  khi  đã gạt  bỏ  những  điểm khác nhau.

Khái quát hoá là loại tổng hợp mới sau khi đã trừu tượng hoá.

Trong tư duy, các thao tác được thực hiện theo một hệ thống nhất định.

 

3.4-Các loại tư duy:

+Theo lịch sử hình thành:

3.4.1-Tư duy trực quan - hành động:

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ  được  thực  hiện nhờ  sự cải  tổ các tình huống bằng các  hành  động  vận  động    thể quan sát được. Loại tư duy  này có ở cả động vật cao cấp.

3.4.2-Tư duy trực quan - hình ảnh:

Đây là loại tư duy mà việc  giải  quyết  các  nhiệm  vụ  được thực  hiện bằng sự  cải tổ tình huống chỉ trên bình diện hình  ảnh    thôi.  Loại  này  đã  phát  triển mạnh ở trẻ nhỏ.

3.4.3-Tư duy trừu tượng:

Loại tư duy được thực hiện trên cơ sở sử dụng các khái  niệm, kết  cấu logic, được tồn tại trên cơ sở tiếng nói

Ba loại tư duy trên tạo thành các giai đoạn  của  phát  triển tư  duy  trong  quá trình phát sinh chủng loại và cá thể.

 

+Theo hình thức biểu hiện của vấn đề (nhiệm vụ) và phương thức  giải  quyết vấn đề:

3.4.4-Tư duy thực hành:

Tư duy thực hành là loại tư  duy  mà nhiệm  vụ  của nó  được  đề  ra một  cách  trực quan, dưới hình thức cụ  thể,  phương  thức  giải  quyết    những  hành  động  thực hành. Ví dụ: tư duy của người thợ sửa xe hơi khi xe hỏng.

3.4.5-Tư duy hình ảnh cụ thể:

Đây là loại tư duy  mà nhiệm  vụ  của nó  được đề ra dưới  hình thức một hình  ảnh cụ thể và sự  giải  quyết  nhiệm  vụ  cũng được  dựa trên những  hình ảnh  đã có. Ví dụ: suy nghĩ xem từ trường về nhà đi đường nào là tối ưu cho xe máy.

3.4.6 -Tư duy lí luận:

Đó là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra dưới hình thức lí  luận và  việc giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi phải sử dụng hệ  thống khái  niệm trừu tượng, những tri thức lí luận. Ví dụ: giải quyết các bài toán về kinh doanh.

 

V- NGÔN NGỮ.

Mặc dù ngôn  ngữ  không  phải  hoàn  toàn là quá  trình nhận  thức  song nó  gắn  bó một cách mật  thiết với  tư duy  nên chúng  ta đề cập sâu thêm về  hiện tượng tâm  lí này cũng là nhằm hiểu sâu sắc hơn lĩnh vực nhận thức.

1-Khái niệm về ngôn ngữ:

Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người  khác  và sử dụng kinh nghiệm của người khác vào hoạt động của mình nhờ có ngôn ngữ.

Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội - lịch sử .  Do  sống và hoạt  động cùng nhau nên con người có nhu cầu giao tiếp.

Nói một cách chung nhất, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ.

Kí hiệu: Pavlov đã nói ngôn ngữ là tín hiệu của tín hiệu.


 

2- Hệ thống: chỉ có ý nghĩa và thực hiện một  chức  năng  nhất  định trong hệ  thống của mình.

Ngôn ngữ - hệ thống kí hiệu từ ngữ gồm 3 bộ phận:

-Ngữ âm.

-Từ  vựng.

-Ngữ pháp

Hệ thống các quy tắc thành lập từ, cấu thành câu (từ pháp và cú pháp), sự phát âm (âm pháp).

Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản...

 

3-Các chức năng của ngôn ngữ:

3.1-Chức năng chỉ nghĩa:

Ngôn ngữ để chỉ chính sự vật, hiện  tượng,  tức  là thay  thế  chúng.  Nói  một cách khác, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng có  thể  được  khách  quan  hoá lần nữa  và có thể di chuyển đi nơi khác, làm  cho  con người    thể  nhận thức  được chúng ngay cả khi chúng không xuất hiện trước mặt.

Chức năng chỉ nghĩa còn được gọi là chức năng  làm  phương  tiện  tồn  tại, truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người.

Ngôn ngữ khác hẳn với những tiếng kêu của động vật. Về bản chất,  động vật không có ngôn ngữ.

 

3.2-Chức năng thông báo:

Ngôn ngữ được dùng để truyền  đạt,  tiếp nhận  thông tin, để  biểu cảm và  nhờ đó, điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động của con người.

Chức năng thông báo của ngôn ngữ còn được gọi là chức năng giao tiếp.

 

3.3-Chức năng khái quát hoá:

Ngôn ngữ  không  chỉ  một  sự  vật,  hiện tượng riêng rẽ  mà cả một loại, lớp  có chung một/một số thuộc tính: phạm trù, khái niệm, thuật ngữ... Nhờ vậy nó là phương tiện đắc lực cho hoạt động trí tuệ.

Ngôn ngữ vừa là công cụ tồn tại của hoạt động trí tuệ, vừa là phương tiện lưu lại kết quả  của hoạt  động này. Do vậy hoạt động trí tuệ không bị  gián đoạn, không  bị lặp lại và có cơ sở cho sự phát triển tiếp theo.

Chức năng khái quát hoá của ngôn ngữ còn gọi là chức năng nhận  thức  hay chức năng làm công cụ hoạt động trí tuệ.

 

Trong 3 chức  năng  của  ngôn  ngữ  kể  trên, chức  năng giao  tiếp là chức  năng cơ bản nhất. Chỉ trong  quá  trình giao  tiếp, con người  mới  lĩnh hội  được  tri  thức về hiện thực, điều chỉnh hành vi của  mình  cho  phù  hợp  với  hoàn cảnh sống. Về thực chất, chức năng nhận thức cũng là quá trình giao tiếp, ở đây là giao  tiếp với chính bản thân mình. Còn chức năng chỉ nghĩa chỉ  là điều kiện để  thực  hiện hai chức năng kia.

 

3.4-Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức:

3.4.1-Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức cảm tính:

3.4.2-Đối với cảm giác: ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng cảm giác.

3.4.3-Đối với tri giác: làm cho quá trình tri giác dễ dàng hơn, đặc biệt trong quan sát.

3.4.4-Đối với trí nhớ:Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lí tính.

Gắn bó rất mật thiết với tư duy. Ở người trưởng thành, tư duy và  ngôn  ngữ không tách rời nhau.

Ngôn ngữ là phương tiện để truyền tải tư duy.


 4-MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC CẢM TÍNH VÀ LÍ TÍNH.

Nhận thức của con người bắt đầu từ nhận thức cảm tính.

Các biểu tượng nhận thức cảm tính được trí nhớ lưu giữ lại.

Nhiều biểu tượng cùng loại với nhau được “cô đặc” lại vào từ.

Các từ, khái niệm (hoặc cũng có thể các biểu tượng cảm tính) được sử dụng cho tư duy: giải quyết một nhiệm vụ nào đó.

Biểu tượng cảm tính càng phong  phú  thì  hệ  thống khái  niệm  cũng  phong phú theo và là điều kiện tốt cho tư duy.

Tư duy, ngôn ngữ phát triển nó sẽ định hướng, lựa chọn, hỗ trợ đắc lực (cùng với cảm xúc, tình cảm) cho nhận thức cảm tính.


TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...