Tiếp theo 3
Mục lục
I-Nhận
Thức Cản Tính
1-Khái
niệm.
2-Nhận
thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính là cảm giác và tri giác.
2.1-Cảm
giác.
2.2-Các
loại cảm giác.
3-Các
quy luật cơ bản của cảm giác.
3.1 Quy luật ngưỡng cảm giác.
3.2-Quy
luật thích ứng cảm giác.
3.3-Quy
luật tác động lẫn nhau của cảm giác.
4-Tri
giác.
4.1-Khái niệm.
4.1-Các
loại tri giác.
4.1.1-Tri giác không gian.
4.1.2-Tri
giác thời gian.
4.1.3-Tri giác vận động.
4.2-Các
quy luật cơ bản của tri giác.
4.2.1-Quy
luật về tính đối tượng của tri giác.
4.2.2-Quy
luật về tính lựa chọn của tri giác.
4.2.3-Quy
luật về tính có ý nghĩa của tri giác.
4.2.4-Quy luật về tính ổn định của tri giác.
4.2.5-Quy luật tổng giác.
4.2.6-Tri giác nhầm.
5-
Nhận thức lý tính.
6-
Tìm hiểu về quá trình tư duy
6.1- Tính “có vấn đề” của tư duy
6.2– Tính gián tiếp của tư duy.
6.3– Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
6.4 – Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
6.5 – Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm
tính
II.
Tìm hiểu về quá trình tưởng tượng
1– Tưởng tượng tiêu cực và tích cực, tái tạo và sáng
tạo
2-Tưởng tượng tích cực gồm hai loại: tái tạo và sáng
tạo
III-
So ѕánh giữa nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính
IV-TƯ
DUY.
1-Tư duy là gì
2-
Các đặc điểm tư duy:
2.1-Tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề
2.2-Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
2.3-Tư duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ
2.4 -Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính
3-Các
thao tác tư duy:
3.1-So sánh.
3.2-Phân tích và tổng hợp
3.3-Trừu
tượng hoá và khái quát hoá.
3.4-Các
loại tư duy:
3.4.1-Tư
duy trực quan - hành động:
3.4.2-Tư
duy trực quan - hình ảnh:
3.4.3-Tư
duy trừu tượng:
3.4.4-Tư
duy thực hành:
3.4.5-Tư
duy hình ảnh cụ thể:
3.4.6
-Tư duy lí luận:
V-
NGÔN NGỮ
1-Khái
niệm về ngôn ngữ:
2-
Hệ thống:
3-Các
chức năng của ngôn ngữ:
3.1-Chức
năng chỉ nghĩa:
3.2-Chức
năng thông báo:
3.3-Chức
năng khái quát hoá:
3.4-Vai
trò của ngôn ngữ đối với nhận thức.
3.4.1-Vai
trò của ngôn ngữ đối với nhận thức cảm tính.
3.4.2-Đối
với cảm giác.
3.4.3-Đối
với tri giác .
3.4.4-Đối với trí nhớ.
4-Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và lí tính.
Phần II
CÁC
QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
I-Nhận
Thức Cản Tính
1-Khái niệm:
Mỗi sự vật, hiện tượng quanh ta đều được
thể hiện ra bên ngoài hàng loạt các đặc
điểm như màu sắc (xanh, đỏ...), trọng lượng (nặng, nhẹ...), khối lượng (to, nhỏ...). Chúng ta biết được những thuộc
tính đó là nhờ bộ não. Biểu tượng
của những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi sự vật,
hiện tượng đang trực tiếp tác
động vào ta được gọi là các biểu tượng nhận thức cảm tính.
Quá trình chúng ta nhận biết được các thuộc tính đó là
quá trình nhận thức cảm tính.
Ví dụ: khi ta nhắm mắt, người bạn đặt
vào lòng bàn tay ta một vật gì đó. Nếu
không sờ mó, nắm, bóp, ta chỉ có thể
cảm nhận được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh.
Chúng ta đang quan sát ngôi nhà. Trong
đầu chúng ta khi
đó xuất hiện
hình ảnh ngôi nhà.
Chúng ta có cảm giác nóng, lạnh, trong
đầu có hình
ảnh ngôi nhà…
đó chính là biểu tượng nhận thức
cảm tính. Khi
chúng ta đang cảm thấy nóng hoặc khi chúng ta đang
nhìn ngôi nhà thì đó là quá trình nhận thức cảm tính.
Đặc điểm chung nhất của nhận thức cảm
tính là
chỉ phản ánh được những thuộc tính bên ngoài của sự
vật, hiện tượng khi sự vật
hiện tượng đang trực tiếp tác
động vào giác quan chúng ta.
2-Nhận
thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính là cảm giác và tri giác.
2.1-Cảm
giác:
Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh
từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác
quan của ta.
Cảm giác là hình thức phản ánh tâm
lí, sơ đẳng,
đơn giản nhất. Biểu
tượng của nó chỉ là những thuộc tính riêng rẽ của sự vật. Tuy nhiên nó
lại đóng vai trò khởi đầu cho các quá trình tâm lí
khác như tưởng tượng, tư duy, trí nhớ…
Cảm giác cũng là khâu đầu tiên trong sự nhận thức hiện
thực khách quan
của con người.
2.2-Các
loại cảm giác:
Cảm giác bên ngoài:
Cảm giác nhìn (thị giác): cho chúng ta
biết thuộc tính ánh
sáng, màu sắc, kích thước của đối tượng.
Cảm giác nghe (thính giác): cho chúng ta
biết những thuộc tính của âm thanh.
Cảm giác ngửi (khứu giác): giúp con
người nhận biết được mùi.
Cảm giác nếm (vị giác): giúp chúng
ta nhận
biết các loại
vị: mặn, nhạt,
đắng, cay…
Cảm giác da (mạc giác): cho ta biết về
nhiệt độ.
Cảm
giác bên trong:
Cảm
giác vận động.
Cảm giác thăng bằng.
Cảm giác nội tạng.
3.1 Quy
luật ngưỡng cảm giác (quy luật về tính nhạy cảm):
Muốn có cảm giác thì phải
có kích thích. Tuy nhiên cường độ kích thích phải đạt đến độ nhất định
mới có thể gây ra được cảm giác. Mức độ đó được gọi là ngưỡng cảm giác.
Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu
của kích thích để có thể gây ra được cảm giác.
Quy luật này còn gọi là quy luật về tính
nhạy cảm bởi lẽ khi
nói đến tính nhạy cảm cao thì
điều đó có nghĩa là chỉ
cần cường độ kích thích nhỏ nhưng
đã có thể có cảm giác. Ví dụ: người ta nói một người nào đó
có đôi tai rất thính có nghĩa là với âm thanh khá nhỏ, trong khi người
khác chưa nghe thấy thì
người đó đã nghe thấy. Như vậy độ
nhạy cảm càng cao thì
có nghĩa là ngưỡng
cảm giác càng thấp.
Điểm đáng lưu ý ở đây là khi
chúng ta nói đến ngưỡng cảm giác
là chúng ta đề cập đến đại lượng
vật lí, ví dụ
như cường độ âm
thanh, trọng lượng… còn khi ta nói độ nhạy cảm thì đó lại
là “đại lượng” tâm lí. Do không đo được
trực tiếp độ nhạy cảm của giác
quan nên người ta phải đo nó một cách gián tiếp, thông qua việc đo các
kích thích vật lí bên ngoài.
3.2-Quy
luật thích ứng cảm giác:
Để phản ánh được tốt nhất và bảo vệ
hệ thần kinh, cảm giác của con
người có khả năng thích ứng với kích thích.
Thích ứng là khả năng thay
đổi độ nhạy
cảm của cảm giác
cho phù hợp với sự thay đổi của
cường độ kích thích: khi cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm giảm và ngược
lại, độ nhạy cảm
tăng khi cường độ
kích thích giảm. Ví dụ: khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích
mạnh), đi vào chỗ tối (cường độ kích thích yếu) thì lúc đầu ta không nhìn
thấy gì, sau đó dần dần mới nhìn rõ mọi
vật. Điều này là do độ nhạy cảm tăng
dần.
Tất cả các giác quan đều tuân theo
quy luật thích
ứng. Tuy nhiên
mức độ khác nhau. Cảm giác thị
giác có khả năng thích
ứng cao. Trong
bóng tối tuyệt đối, độ nhạy cảm với ánh sáng tăng gần
200.000 lần sau 40 phút.
Bên cạnh đó, cảm giác đau hầu như không thích ứng.
Khả năng thích ứng của cảm
giác cũng có
thể được phát triển do
rèn luyện. Ví dụ: công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao
tới 500 - 600C
trong hàng giờ đồng hồ.
3.3-Quy
luật tác động lẫn nhau của cảm giác:
Các cảm giác không tồn tại độc
lập mà luôn tác động qua lại lẫn
nhau. Do sự tác động qua lại như vậy,
tính nhạy cảm của cảm giác bị
thay đổi. Kích thích yếu lên cơ
quan phân tích này lại làm tăng độ nhạy
cảm của giác quan kia. Ngược lại,
tác động mạnh lên giác quan này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan phân
tích khác.
Ví dụ: khi nghe nhạc, có ánh sáng mầu kèm theo thì các bản nhạc cũng được cảm nhận rõ nét hơn.
4-Tri
giác:
4.1-Khái niệm:
Tri giác là một quá trình tâm lí
nhận thức cảm tính, phản ánh một cách trọn
vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật,
hiện tượng đang trực tiếp
tác động vào giác quan người ta.
Cũng giống với cảm giác, tri giác là một
quá trình nhận thức cảm tính.
Là một quá trình vì có khởi đầu, diễn
biến và kết thúc.
Là quá trình nhận thức vì biểu tượng tri
giác giúp cho con người nhận biết được hiện thực khách quan bên ngoài.
Là cảm tính vì chỉ
gọi là biểu tượng tri giác
khi sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan.
Tuy nhiên biểu tượng tri giác là là một
hình ảnh trọn vẹn về sự vật, hiện tượng. Biểu tượng này được cấu thành từ các
cảm giác. Ví dụ: hình
ảnh ngôi nhà mà
chúng ta đang nhìn thấy bao gồm những cảm giác
khác nhau về màu sắc, kích thước. Lẽ đương nhiên đó không phải là một
tổng số học mà là một tổng thể các cảm
giác.
4.1-Các
loại tri giác:
4.1.1-Tri
giác không gian: tri giác không gian giúp người ta nhận biết được kích thước, hình dạng, khoảng cách, phương
hướng của đối tượng.
4.1.2-Tri giác
thời gian:
tri giác thời
gian là sự phản ánh độ lâu, vận
tốc và tính kế tục của các hiện tượng.
4.1.3-Tri
giác vận động: phản ánh những thay đổi về
vị trí của các sự vật trong
không gian.
Ngoài cách phân loại theo đối tượng tri
giác như trên còn có cách phân
loại theo giác quan. Theo cách phân loại này, người ta có các
loại tri giác: thị giác, thính
giác, khứu giác…
4.2-Các
quy luật cơ bản của tri giác:
4.2.1-Quy
luật về tính đối tượng của tri giác:
Hình ảnh mà tri giác đem lại bao giờ
cũng là biểu tượng của một sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới bên ngoài. Tính đối tượng của tri giác nói lên cái mà tri giác đem lại. Trong quy luật này đã hàm
chứa tính chân thực của tri giác.
4.2.2-Quy
luật về tính lựa chọn của tri giác:
Tri giác không thể phản ánh được toàn
bộ những
kích thích đang tác động lên giác quan của con người ở tại một thời
điểm. Do vậy để tri giác, con người phải
tách đối tượng ra khỏi bối cảnh.
Sự lựa chọn của tri giác cũng không mang
tính cố định. Nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài cũng như bên trong
của chủ thể.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác
được ứng dụng nhiều trong thực tiễn:
kiến trúc, quảng cáo, quân sự (nguỵ trang), trong giáo dục và dạy học.
4.2.3-Quy
luật về tính có ý nghĩa của tri giác:
Tri giác của con người gắn chặt với
tư duy,
với bản chất
của sự vật,
hiện tượng. Chính vì lẽ đó, biểu tượng tri giác cho phép người
ta gọi tên được sự vật hiện tượng, có thể sắp xếp chúng vào
một nhóm, lớp nhất định.
4.2.4-Quy
luật về tính ổn định của tri giác:
Tính ổn định của tri giác thể hiện ở
chỗ trong các điều kiện khác
nhau nhưng nội dung của biểu tượng tri giác vẫn không thay đổi. Ngôi
nhà, dù có
cách xa chúng ta hàng ngàn mét và
hình ảnh của nó trên võng mạc nhỏ hơn hình ảnh của một người đang đứng trước
mặt chúng ta thì ngôi nhà
vẫn được tiếp nhận
to hơn so với con người. Sự ổn
định tri giác còn thể hiện ở cả về mầu sắc, kích thước...
4.2.5-Quy
luật tổng giác:
Quy luật này thể hiện ở chỗ nội
dung các biểu tượng tri giác
còn phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lí của chủ thể: thái độ, nhu
cầu, cảm xúc, động cơ... (Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ - Nguyễn Du).
4.2.6-Tri
giác nhầm:
Trong một số trường hợp, hình ảnh của tri
giác không phù hợp với
thực tại. Cần phân biệt tri giác nhầm với ảo giác. Tri
giác nhầm là quá
trình chúng ta vẫn đang tri giác
(sự vật, hiện tượng vẫn đang tác
động vào giác
quan) song biểu tượng tri giác
không tương xứng với thực tiễn. Ví dụ: khi
ta nhìn cái thìa đang để trong nửa cốc nước, ta thấy như cái thìa bị gãy
ở chỗ mặt nước. Ảo giác là hiện tượng con người vẫn “nhìn” thấy, ví
dụ: nhìn thấy rắn rết bò
đầy trên giường nhưng thực tế không có, nghe thấy
tiếng nói nhưng xung quanh không có
ai. Tri giác nhầm là hiện tượng bình thường còn ảo giác là hiện tượng
bệnh lí.
Cảm giác và tri giác đều là quá trình nhận thức cảm tính. Trong thực tế, khi chúng ta quan sát sự vật hiện tượng thì sự xuất hiện của cảm giác và tri giác là đan xen nhau, có thể cái này xuất hiện trước cái kia. Ví dụ: “bắt mắt” là màu đỏ, sau đó chúng ta mới quan sát tổng thể ngôi nhà. Cũng có thể hình ảnh ngôi nhà xuất hiện trước, sau đó với xuất hiện các cảm giác.
Nhận thức lý tính là giai đoạn tiếp theo
và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức
cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ rất
hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những cái như
tốc độ ánh sáng, giá trị của hàng hoá, quan hệ giai cấp, hình thái kinh tế – xã
hội, v.v.. Muốn hiểu được những cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu
tượng.
6-
Tìm hiểu về quá trình tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh
những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất
qui luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta
chưa biết.
Tư duy là một mức độ nhận thức mới về
chất so với cảm giác, tri giác. Nếu cảm giác, tri giác chỉ phản ánh những thuộc
tính bên ngoài, những mối quan hệ ngoài của sự vật và hiện tượng, thì tư duy phản
ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những quan hệ có tính qui luật của sự
vật và hiện tượng.
Tư duy, với tư cách là một mức độ cao
của hoạt động nhận thức (nhận thức lý tính), có những đặc điểm cơ bản sau đây:
6.1-
Tính “có vấn đề” của tư duy:
Không phải bất cứ tác động nào của hoàn
cảnh cũng đều gây ra tư duy. Bình thường mà nói, người ta không phải lúc nào
cũng chịu tư duy, vì quả thật tư duy mệt óc và tốn nhiều năng lượng. Trên thực
tế, tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu
biết cũ, con người không đủ để giải quyết, để nhận thức, con người phải vượt
qua những hiểu biết cũ đi tìm cái mới. Những tình huống, hoàn cảnh có tính chất
như vậy gọi là tình huống có vấn đề.
Không phải tình huống có vấn đề nào cũng
kích thích được hoạt động tư duy. Muốn làm nảy sinh quá trình tư duy thì tình
huống có vấn đề đó phải được chủ thể nhận thức được một cách đầy đủ, được
chuyển thành nhiệm vụ tư duy của chủ thể, nghĩa là xác định cái gì đã biết, cái
gì đã cho và cái gì chưa biết cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm nó. Dĩ nhiên
những dữ kiện đó nằm ngoài phạm vi hiểu biết của chủ thể thì tư duy cũng không
xuất hiện.
6.2–
Tính gián tiếp của tư duy:
Khác với nhận thức cảm tính là phản ánh
thế giới một cách trực tiếp, tư duy có khả năng nhận thức một cách gián tiếp
nhờ ngôn ngữ. Thông qua ngôn ngữ con người sử dụng vốn kinh nghiệm, những phát
minh, kết quả tư duy của người khác để thực hiện quá trình tư duy. Dựa trên
những quy luật về giữa các mối liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra trong thiên
nhiên mà con người có thể hiểu biết được, khám phá được những hiện tượng xảy ra
trên mặt trăng, mặt trời mà chúng ta không thể trực tiếp nghiên cứu được, dựa
vào một vài hoá thạch nhà khảo cổ biết được sự sống trên trái đất hàng vạn năm
về trước.
Trên cơ sở nắm được các quy luật của thế
giới mà con người đã sáng tạo ra nhiều công cụ từ đơn giản đến phức tạp (như
nhiệt kế, vôn kế, ampe kế…) giúp cho con người nhận thức hiện thực một cách
gián tiếp.
Nhờ sự phản ánh gián tiếp, tư duy giúp
con người nhận thức được sâu sắc về thế giới xung quanh, mở rộng khả năng hiểu
biết của con người đến vô tận.
6.3–
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:
Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản
ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và cá lẻ. Tư duy có khả năng trừu xuất
khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể, cá biệt, chỉ
giữ lại những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật và hiện tượng
riêng lẻ khác nhau, nhưng có chung những thuộc tính bản chất thành một nhóm,
một loại hay một phạm trù. Nói cách khác, tư duy mang tính chất trừu tượng và
khái quát. Ví dụ khi nghĩ tới “cái bảng” là cái bảng nói chung, chứ không chỉ
một cái bảng cá lẻ, cụ thể nào cả.
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
cho phép con người không chỉ giải quyết những nhiệm vụ hiện tại, mà còn nhìn xa
vào tương lai nữa, nghĩa là giải quyết ở trong đầu những nhiệm vụ đề ra cho họ
sau này. Ví dụ: do nắm được qui luật đàn hồi của kim loại dưới tác động của
nhiệt, người kỹ sư đã thiết kế những khoảng cách nhỏ giữa các đoạn đường này.
Nhớ có tính khái quát của tư duy mà
trong khi giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó, con người không xem nó như là
một cái gì hoàn toàn khác thường, mà có thể xem nó vào một phạm trù, một nhóm
nhất định, có thể lựa chọn những khái niệm, những quy tắc, phương pháp tương
ứng cần sử dụng trong trường hợp ấy.
6.4
– Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ:
Sở dĩ tư duy ở người có những đặc điểm
trên đây (tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát) là vì
tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ. Mối quan hệ này cho đến nay vẫn còn
được các trường phái, các xu hướng tâm lý học khác nhau xem xét một cách khác
nhau.
Những người theo xu hướng duy tâm thì
cho rằng tư duy không phụ thuộc vào ngôn ngữ, mà ngôn ngữ cũng chẳng phụ thuộc
vào tư duy. Họ lập luận rằng chính vì vậy nên con người mới suy nghĩ thầm được,
đồng thời lại có thể suy nghĩ về người khác trong khi nói chuyện với một người
thứ hai; hoặc một ý nghĩ có thể được biểu hiện bằng nhiều thứ tiếng khác nhau…
nghĩa là tư duy và ngôn ngữ có thể cùng tồn tại mà không hề phụ thuộc vào nhau.
Những người theo xu hướng hành vi chủ
nghĩa lại ngược hẳn lại, cho rằng tư duy và ngôn ngữ là một, chúng đồng nhất
với nhau.
Cả 2 quan điểm trên đều sai, đều là phản
biện chứng trong việc xem xét mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ.
Quan điểm duy vật biện chứng xem tư duy
có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ, chúng thống nhất với nhau, nhưng không đồng
nhất, cũng không tách rời nhau được: tư duy không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ
được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy. Quan hệ
giữa tư duy và ngôn ngữ là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Thật vậy,
nếu không có ngôn ngữ (với công cụ là từ ngữ) thì các sản phẩm của tư duy sẽ
không được chủ thể và người khác tiếp nhận, cũng như chính bản thân quá trình
tư duy cũng không diễn ra được. Ngược lại, nếu không có tư duy (với những sản
phẩm của nó) thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa, không có nội
dung, chẳng khác nào những tín hiệu âm thanh trong giới động vật.
Nhưng tư duy không phải là ngôn ngữ, vì
3 lý do sau đây: tư duy và ngôn ngữ là những quá trình tâm lý có chức năng khác
nhau, chúng cho những sản phẩm khác nhau và tuân theo những quy luật khác nhau.
6.5
– Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính:
Tư duy là mức độ nhận thức cao hơn hẳn so với nhận thức cảm tính, nhưng tư duy không tách rời khỏi nhận thức cảm tính. Dù tư duy có trừu tượng, khái quát đến mấy cũng phải dựa vào các tài liệu trực quan mà cảm giác và tri giác đưa lại. Hơn nữa, muốn tư duy được trước hết phải tri giác được hoàn cảnh có vấn đề, tri giác được các dữ kiện. Như vậy, tri giác là một khâu, là thành phần của quá trình tư duy. Kết quả của qua trình tư duy đòi hỏi phải được kiểm tra bằng thực tiễn thông qua các quá trình nhận thức cảm tính. Tư duy cũng ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức cảm tính. Nhờ có tư duy mà chúng ta tri giác được nhanh hơn, chính xác hơn. Tư duy ảnh hưởng đến tính lựa chọn, tính có ý nghĩa của tri giác.
II. Tìm hiểu về quá trình tưởng tượng
Tư duy là một hoạt động nhận thức cao
cấp, nó giúp cho con người giải quyết những nhiệm vụ, những vấn đề do thực tiễn
đề ra. Tư duy chỉ nảy sinh khi con người bị đặt trước một hoàn cảnh có vấn đề.
Tư duy phản ánh cái mới mà con người chưa biết.
Tuy nhiên, không phải trong bất cứ
trường hợp nào thì các nhiệm vụ, vấn đề của thực tiễn đề ra đều được giải quyết
bằng tư duy cả. Có nhiều trường hợp, khi đứng trước một hoàn cảnh có vấn đề con
người không thể dùng tư duy để giải quyết vấn đề, mà phải dùng một quá trình
nhận thức cao cấp khác, gọi là tưởng tượng.
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản
ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng
những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Tưởng tượng cần thiết cho bất kỳ một
loại hoạt động nào của con người. Sự
khác nhau căn bản giữa lao động của con
người với hành vi bản năng của con vật chính là ở cái biểu tượng về kết quả
mong đợi do tưởng tượng tạo nên. Ý nghĩa quan trọng nhất của tưởng tượng là nó
cho phép ta hình dung được kết quả của lao động trước khi bắt đầu lao động,
hình dung được không phải chỉ cái kết quả cuối cùng, mà cả những kết quả trung
gian của lao động nữa. Cho nên, tưởng tượng giúp con người định hướng trong quá
trình hoạt động bằng cách tạo ra một mô hình tâm lý về những sản phẩm cuối cùng
hoặc trung gian của lao động, điều đó hỗ trợ cho sự thể hiện thành hiện vật của
những sản phẩm đó. Chính vì vậy, V.I.Lênin đã viết: “Thật là sai lầm nếu nghĩ
rằng chỉ có nhà thơ mới cần tưởng tượng. Đó là một định kiến ngu xuẩn! Ngay cả
trong toán học cũng cần có tưởng tượng, không có nó thì không thể tìm ra phép
tính vi phân và tích phân được. Tưởng tượng là một phẩm chất vô cùng quí báu”.
Thật vậy, tưởng tượng cần thiết đối với
nhà khoa học trong việc xây dựng giả thuyết, đề ra giả thuyết về nguyên nhân
của các hiện tượng, dự kiến các biến cố… Nhà văn phải tạo ra trong trí tưởng
tượng của mình hình ảnh các nhân vật để sau đó đưa vào các tác phẩm văn học;
nhà họa sĩ phải nhìn thấy bức tranh mình định vẽ ở trong đầu trước đã. Khi chuẩn
bị bài giảng, người thầy giáo phải hình dung trước tiến trình của bài giảng,
phải dự kiến phản ứng có thể có của học sinh, những câu hỏi và câu trả lời của
các em… Khi tiến hành công tác giáo dục, nhà giáo dục phải tạo ra trong đầu cái
hình ảnh của con người mà mình muốn giáo dục ở học sinh, với tất cả các phẩm
chất tâm lý xác định của con người ấy.
Nếu không có sự phát triển đầy đủ của
tưởng tượng, thì học sinh không thể học tập có kết quả được. Khi đọc hay kể lại
một tác phẩm văn học, học sinh phải hình dung đúng được ở trong đầu về cái mà
tác giả nói đến. Học địa lý, học sinh phải gợi lên trong trí tưởng tượng của
mình cảnh tượng của cái thiên nhiên mà mình chưa hề biết. Đôi khi, học sinh
không thể lĩnh hội được tài liệu học tập chỉ vì các em không thể hình dung được
cái mà thầy giáo nói đến hoặc được viết ở trong sách giáo khoa. Trong việc tập
làm văn của học sinh, tưởng tượng giữ vai trò rất quan trọng, đặc biệt với
những chủ đề tự do.
Tưởng tượng có 2 đặc điểm đặc trưng là tính tích cực và tính hiệu lực. Căn cứ vào hai dấu hiệu đó, người ta phân loại tưởng tượng.
Như trên đã nói, tưởng tượng là một điều
kiện của hoạt động sáng tạo cá nhân, hướng vào sự cải tổ thế giới xung quanh.
Nhưng trong một số hoàn cảnh nhất định, nó có thể xuất hiện như là một vật thay
thế cho hoạt động. Trong trường hợp đó, con người tạm thời “biến thân” sâu vào
địa hạt của những biểu tượng hoang đường, xa rời thực tế để núp vào đó mà trốn
tránh những nhiệm vụ không giải quyết được, những điều kiện nặng nề của đời
sống, những hậu quả của những sai lầm của mình… Ở đây, tưởng tượng tạo ra những
hình ảnh không được thể hiện trong đời sống, vạch ra những chương trình hành vi
không được thực hiện và luôn luôn không thể thực hiện được. Nó là loại tưởng
tượng tiêu cực.
Tưởng tượng tiêu cực có thể xảy ra một
cách có chủ định, nhưng không gắn liền với ý chí thể hiện những hình ảnh tưởng
tượng đó ở trong đời sống, đó là loại tưởng tượng tiêu cực gọi là mơ mộng. Mơ
mộng về cái gì đó vui sướng, dễ chịu, hấp dẫn là một hiện tượng vốn có ở mọi
người. Trong những hình ảnh mơ mộng dễ dàng phát hiện được mối liên hệ của các
sản phẩm tưởng tượng với những nhu cầu của cá nhân. Nhưng nếu tưởng tượng ở con
người chủ yếu chỉ là mơ mộng, thì đó lại là một thiếu sót của sự phát triển
nhân cách, nó nói lên tính tiêu cực của nhân cách đó. Nếu con người ươn hèn,
không tranh đấu cho một tương lai tốt đẹp hơn, mà cuộc sống hiện tại lại khó
khăn, sầu thảm, thì họ thường tạo ra cho mình một cuộc sống hão huyền, tưởng
tượng, trong đó mọi nhu cầu của họ đều được thỏa mãn hoàn toàn, ở đó, họ giữ
cái vị trí mà trong hiện tại họ không thể nào hy vọng có được.
Tưởng tượng tiêu cực cũng có thể nảy
sinh một cách không chủ định. Chủ yếu điều này xảy ra khi hoạt động của ý thức,
của hệ thống tín hiệu thứ hai bị suy yếu, khi con người ở tình trạng không hoạt
động, trong giấc ngủ (chiêm bao), trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, trong
trạng thái xúc động, trong những rối loạn bệnh lý của ý thức (ảo giác)…
Khi tưởng tượng tạo ra những hình ảnh
nhằm đáp ứng những nhu cầu kích thích tính tích cực thực tế của con người, thì
gọi là tưởng tượng tích cực.
2-Tưởng
tượng tích cực gồm hai loại: tái tạo và sáng tạo.
Khi tưởng tượng tạo ra những hình ảnh
chỉ là mới với cá nhân người tưởng tượng, và dựa trên cơ sở của một sự mô tả
của người khác, thì gọi là tưởng tượng tái tạo. Ví dụ tưởng tượng của học sinh
về những điều được mô tả trong sách giáo khoa địa lý, sử học, văn học…
Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây
dựng hình ảnh mới một cách độc lập, những hình ảnh này là mới với cá nhân, lẫn
xã hội, chúng được thực hiện trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị.
Nảy sinh trong lao động, tưởng tượng sáng tạo là một mặt không thể thiếu được
của mọi sự sáng tạo: sáng tạo kỹ thuật, sáng tạo nghệ thuật…
– Ước mơ, lý tưởng là một loại tưởng
tượng đặc biệt được hướng về tương lai, nó biểu hiện những ước ao, mong muốn
của con người. Ước mơ có điểm giống với tưởng tượng sáng tạo ở chỗ nó cũng là
một quá trình tạo ra những hình ảnh mới một cách độc lập. Nhưng nó khác ở chỗ:
ước mơ không hướng trực tiếp vào hoạt động trong hiện tại. Xét về mặt ý nghĩa
thì có 2 loại ước mơ có lợi và ước mơ có hại. Ước mơ chỉ có lợi khi nó thúc đẩy
cá nhân vươn lên, biến ước mơ thành hiện thực. Còn khi ước mơ không dựa trên cơ
sở của những khả năng thực tế, thì nó trở thành hiện thực được, do đó nó có thể
làm cho cá nhân thất vọng, chán nản. Tất nhiên, ngoài ý nghĩa của ước mơ đối
với cá nhân, ta còn phải tính đến ý nghĩa xã hội của nó. Lý tưởng có tính tích
cực và hiện thực cao hơn ước mơ. Lý tưởng là hình ảnh chói lọi, rực sáng, cụ
thể của cái tương lai mong muốn. Nó là một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta
vươn lên giành lấy tương lai.
III-
So ѕánh giữa nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính
Sau khi tìm hiểu ᴠề nhận thức cảm tính
ᴠà nhận thức lý tính, có thể thấу hai thuật ngữ thường dễ bị nhầm lẫn ᴠới nhau.
Để giúp Quý ᴠị nhận biết dễ dàng hơn, хin đưa ra một ѕố tiêu chí nhằm ѕo ѕánh
nhận thức cảm tính ᴠà nhận thức lý tính như ѕau:
|
Tiêu chí |
Nhận thức cảm tính |
Nhận thức lý tính |
|
Bản chất ᴠề giai đoạn |
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình
nhận thức. Đó là giai đoạn con người ѕử dụng các giác quan để tác động ᴠào ѕự
ᴠật nhằm nắm bắt ѕự ᴠật ấу. |
Là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu
tượng, khái quát ѕự ᴠật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán
đoán, ѕuу luận. |
|
Đặc điểm |
–
Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức. –
Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên ᴠà ngẫu nhiên, cả cái bản chất
ᴠà không bản chất. –
Giai đoạn nàу có thể có trong tâm lý động ᴠật. – Hạn chế của nó là chưa khẳng định
được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất уếu bên trong của ѕự ᴠật. Để
khắc phục, nhận thức phải ᴠươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính. |
–
Là quá trình nhận thức gián tiếp đối ᴠới ѕự ᴠật, hiện tượng. –
Là quá trình đi ѕâu ᴠào bản chất của ѕự ᴠật, hiện tượng. – Nhận thức cảm tính ᴠà lý tính không
tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ ᴠới nhau. |
|
Quan hệ lẫn nhau |
Nếu không có nhận thức cảm tính thì
tất уếu ѕẽ không có nhận thức lý tính; Và nếu không có nhận thức lý tính thì
không nhận thức được bản chất của ѕự ᴠật – chúng có mối quan hệ tương quan,
bổ ѕung cho nhau phát triển. |
|
IV-TƯ DUY.
1-Tư
duy là gì ?
Cảm giác, tri giác đã giúp cho con người
nhận biết được các của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên đó mới chỉ là
các đặc điểm bên ngoài. Để nhận biết được cái bên trong, cái cốt lõi của các sự vật
hiện tượng đó, con người cần đến tư duy.
Tư duy là một quá trình nhận
thức phản ánh
những thuộc tính bản chất,
những liên hệ, quan hệ có tính quy luật
của sự vật
hiện tượng khách
quan mà trước đó ta chưa biết.
2-
Các đặc điểm tư duy:
2.1-Tư
duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề:
Hoàn cảnh có vấn đề có thể là một bài
toán, một nhiệm vụ cần
phải giải quyết… Cùng một hoàn
cảnh song đối với người này là
hoàn cảnh có
vấn đề nhưng đối với người khác
lại không. Như vậy
hoàn cảnh có vấn đề là
hoàn cảnh kích thích con người suy nghĩ.
-Tính
gián tiếp của tư duy:
Tư duy nhận biết được bản chất của sự
vật hiện tượng
nhờ sử dụng công cụ (các dụng cụ
đo đạc, máy móc…); các kết quả của nhận
thức (quy tắc, công thức, quy luật…).
Tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở
chỗ nó được thể hiện thông qua
ngôn ngữ.
2.2-Tính
trừu tượng và khái quát của tư duy:
Tư duy phản ánh cái bản chất, cái
chung nhất cho
một loại, một
lớp hiện tượng sự vật và
khái quát chung bởi
khái niệm. Nhờ có tư duy,
con người có thể đi sâu vào đối
tượng, cho phép họ nhận thức được
những vấn đề mà cảm giác, tri giác không tiếp cận được.
2.3-Tư
duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ:
Tư duy trừu tượng không thể tồn tại nếu
không có
ngôn ngữ. Nhờ
có ngôn ngữ, tư duy có được tính khái
quát và gián
tiếp. Cũng nhờ có
ngôn ngữ, những sản phẩm của tư duy mới được truyền đạt
cho người khác.
Trong lâm sàng tâm thần, ngôn ngữ
được coi là hình thức của tư duy
và việc phân
loại các rối loạn hình thức tư duy dựa trên ngôn ngữ.
2.4
-Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính:
Nhận thức cảm tính thu
thập tư liệu. Các
biểu tượng của nhận thức cảm tính là nguyên liệu cho tư duy. Tư duy
phát triển cũng giúp định hướng nhận thức cảm
tính.
3-Các
thao tác tư duy:
3.1-So
sánh:
Dùng trí óc đối chiếu các đối tượng
hoặc những thuộc tính, bộ phận... để xem xét sự giống nhau hay khác
nhau, đồng nhất hay không đồng nhất.
So sánh là cơ sở của mọi hiểu biết và
của tư duy. Chúng ta nhận biết thế giới không ngoài cách thông qua so
sánh và phân
biệt với một
vật gì khác
thì chúng ta không thể có ý niệm
nào và không thể nói lên một điểm nào về sự vật đó cả (Usinxki).
3.2 -Phân
tích và tổng hợp:
Phân tích: dùng óc phân chia đối tượng
thành bộ phận, thuộc tính, quan hệ.
Tổng hợp: kết hợp những đối tượng, thuộc
tính quan hệ v.v.. thành tổng thể.
3.3-Trừu
tượng hoá và khái quát hoá:
Trừu tượng hoá: gạt bỏ những bộ phận,
thuộc tính, quan hệ thứ yếu, chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết của đối tượng để
tư duy.
Khái quát hoá là dùng trí óc bao quát
nhiều đối tượng khác nhau trên cơ
sở một số thuộc tính, quan hệ, bộ phận giống
nhau sau khi đã
gạt bỏ
những điểm khác nhau.
Khái quát hoá là loại tổng hợp mới sau
khi đã trừu tượng hoá.
Trong tư duy, các thao tác được thực
hiện theo một hệ thống nhất định.
3.4-Các
loại tư duy:
+Theo lịch sử hình thành:
3.4.1-Tư
duy trực quan - hành động:
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết
nhiệm vụ được thực
hiện nhờ sự cải tổ các tình huống bằng các hành
động vận động
có thể quan sát được. Loại tư
duy này có ở cả động vật cao cấp.
3.4.2-Tư
duy trực quan - hình ảnh:
Đây là loại tư duy mà việc giải
quyết các nhiệm
vụ được thực hiện bằng sự
cải tổ tình huống chỉ trên bình diện hình ảnh
mà thôi. Loại
này đã phát
triển mạnh ở trẻ nhỏ.
3.4.3-Tư
duy trừu tượng:
Loại tư duy được thực hiện trên cơ sở sử
dụng các khái niệm, kết cấu logic, được tồn tại trên cơ sở tiếng nói
Ba loại tư duy trên tạo thành các giai
đoạn của
phát triển tư duy
trong quá trình phát sinh chủng
loại và cá thể.
+Theo hình thức biểu hiện của vấn đề
(nhiệm vụ) và phương thức giải quyết vấn đề:
3.4.4-Tư
duy thực hành:
Tư duy thực hành là loại tư duy mà
nhiệm vụ
của nó được đề ra
một cách
trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương
thức giải quyết
là những hành
động thực hành. Ví dụ: tư duy của
người thợ sửa xe hơi khi xe hỏng.
3.4.5-Tư
duy hình ảnh cụ thể:
Đây là loại tư duy mà nhiệm
vụ của nó được đề ra dưới hình thức một hình ảnh cụ thể và sự giải
quyết nhiệm vụ
cũng được dựa trên những hình ảnh
đã có. Ví dụ: suy nghĩ xem từ trường về nhà đi đường nào là tối ưu cho
xe máy.
3.4.6
-Tư duy lí luận:
Đó là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra
dưới hình thức lí luận và việc giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi phải sử
dụng hệ thống khái niệm trừu tượng, những tri thức lí luận. Ví
dụ: giải quyết các bài toán về kinh doanh.
V-
NGÔN NGỮ.
Mặc dù ngôn ngữ
không phải hoàn
toàn là quá trình nhận thức
song nó gắn bó một cách mật thiết với
tư duy nên chúng ta đề cập sâu thêm về hiện tượng tâm lí này cũng là nhằm hiểu sâu sắc hơn lĩnh vực
nhận thức.
1-Khái
niệm về ngôn ngữ:
Con người có khả năng truyền đạt kinh
nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụng kinh nghiệm của người khác vào
hoạt động của mình nhờ có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội - lịch sử
. Do
sống và hoạt động cùng nhau nên
con người có nhu cầu giao tiếp.
Nói một cách chung nhất, ngôn ngữ là một
hệ thống kí hiệu từ ngữ.
Kí hiệu: Pavlov đã nói ngôn ngữ là tín hiệu của tín hiệu.
2-
Hệ thống: chỉ có ý
nghĩa và thực hiện một chức năng
nhất định trong hệ thống của mình.
Ngôn ngữ - hệ thống kí hiệu từ ngữ gồm 3
bộ phận:
-Ngữ âm.
-Từ
vựng.
-Ngữ pháp
Hệ thống các quy tắc thành lập từ, cấu
thành câu (từ pháp và cú pháp), sự phát âm (âm pháp).
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình
vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản...
3-Các
chức năng của ngôn ngữ:
3.1-Chức
năng chỉ nghĩa:
Ngôn ngữ để chỉ chính sự vật, hiện tượng,
tức là thay thế chúng. Nói
một cách khác, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng có thể
được khách quan
hoá lần nữa và có thể di chuyển
đi nơi khác, làm cho con người
có thể nhận thức
được chúng ngay cả khi chúng không xuất hiện trước mặt.
Chức năng chỉ nghĩa còn được gọi là chức
năng làm
phương tiện tồn
tại, truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người.
Ngôn ngữ khác hẳn với những tiếng kêu
của động vật. Về bản chất, động vật
không có ngôn ngữ.
3.2-Chức
năng thông báo:
Ngôn ngữ được dùng để truyền đạt,
tiếp nhận thông tin, để biểu cảm và
nhờ đó, điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động của con người.
Chức năng thông báo của ngôn ngữ còn
được gọi là chức năng giao tiếp.
3.3-Chức
năng khái quát hoá:
Ngôn ngữ
không chỉ một
sự vật, hiện tượng riêng rẽ mà cả một loại, lớp có chung một/một số thuộc tính: phạm trù,
khái niệm, thuật ngữ... Nhờ vậy nó là phương tiện đắc lực cho hoạt động trí
tuệ.
Ngôn ngữ vừa là công cụ tồn tại của hoạt
động trí tuệ, vừa là phương tiện lưu lại kết quả của hoạt
động này. Do vậy hoạt động trí tuệ không bị gián đoạn, không bị lặp lại và có cơ sở cho sự phát triển tiếp
theo.
Chức năng khái quát hoá của ngôn ngữ còn
gọi là chức năng nhận thức hay chức năng làm công cụ hoạt động trí tuệ.
Trong 3 chức năng
của ngôn ngữ kể trên, chức
năng giao tiếp là chức năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá
trình giao tiếp, con người mới
lĩnh hội được tri
thức về hiện thực, điều chỉnh hành vi của mình
cho phù hợp
với hoàn cảnh sống. Về thực chất,
chức năng nhận thức cũng là quá trình giao tiếp, ở đây là giao tiếp với chính bản thân mình. Còn chức năng
chỉ nghĩa chỉ là điều kiện để thực
hiện hai chức năng kia.
3.4-Vai
trò của ngôn ngữ đối với nhận thức:
3.4.1-Vai
trò của ngôn ngữ đối với nhận thức cảm tính:
3.4.2-Đối
với cảm giác: ảnh hưởng
mạnh đến ngưỡng cảm giác.
3.4.3-Đối
với tri giác: làm cho
quá trình tri giác dễ dàng hơn, đặc biệt trong quan sát.
3.4.4-Đối
với trí nhớ:Vai trò của
ngôn ngữ trong nhận thức lí tính.
Gắn bó rất mật thiết với tư duy. Ở người
trưởng thành, tư duy và ngôn ngữ không tách rời nhau.
Ngôn ngữ là phương tiện để truyền tải tư duy.
Nhận thức của con người bắt đầu từ nhận
thức cảm tính.
Các biểu tượng nhận thức cảm tính được
trí nhớ lưu giữ lại.
Nhiều biểu tượng cùng loại với nhau được
“cô đặc” lại vào từ.
Các từ, khái niệm (hoặc cũng có thể các
biểu tượng cảm tính) được sử dụng cho tư duy: giải quyết một nhiệm vụ nào đó.
Biểu tượng cảm tính càng phong phú
thì hệ thống khái
niệm cũng phong phú theo và là điều kiện tốt cho tư
duy.
Tư duy, ngôn ngữ phát triển nó sẽ định hướng, lựa chọn, hỗ trợ đắc lực (cùng với cảm xúc, tình cảm) cho nhận thức cảm tính.








