Nhân Cách
Tôi ngồi nơi công viên, trời đã ngã về chiều
Ánh hoàng hôn đã tắt, bỗng có một em thơ, với bộ
đồ cũ rách
Em cất tiếng thân thương, con mời chú đánh giày
Hôm nay con làm ế, sáng giờ chẳng có ai
Trời đã dần vào tối , Đây đó ánh đèn đường
Nhìn em trẻ đáng thương, chắc là em đang đói
Tôi lặng yên không nói, chỉ khẽ nhẹ gật đầu
Em nhanh nhẩu làm mau, đôi giày tôi vừa cởi
Nhìn thấy em hồ hởi, tôi cất tiếng hỏi rằng
Cuộc sống có khó khăn, nhà em đâu em nhỉ?
Em trả lời lí nhí - Dạ con không có nhà
Ba mẹ đã đi xa, chỉ còn em thơ dại.
Lấy dạ cầu làm mái, anh em cùng sống chung
Sớm tối có nhau cùng, em con vừa lên bảy.
Tôi thấy lòng ái ngại, ôi những mảnh đời trôi
Đã biết chuyện trên đời, có bao người như vậy
Em làm xong đứng dậy.- thưa chú giày đã xong
Con xin chú ba đồng, tiền công con chú ạ!
Tôi lấy tiền ra trả. bằng tờ giấy trăm đồng
( Cũng thú thật với lòng , tôi không mang tiền
lẻ )
Tôi cúi nhìn cậu bé, thoáng bối rối lướt qua,
Em đưa mắt nhìn xa - Dạ thưa chờ con đổi!
Em bé đi rất vội, tôi chẳng kịp với theo
Ôi thương cậu bé nghèo, tôi cho em cũng được.
Trên đường về tôi bước, lòng suy nghĩ bâng quơ
Chuyện cũng chẳng thể ngờ, trẻ nghèo tham chẳng
lạ.
Trời vào đêm êm ả, bỗng có tiếng chuông vang
Tôi bước đến hành lang, nhìn xa ngoài cổng tối
Có tiếng ai cất gọi - thưa có phải ông không,
Người khách đã đánh giày, trong công viên lúc sớm?
Tôi đến gần cậu bé, Hỏi em có chuyện chi
Em bé nhỏ thầm thì - Thưa! anh sai con đến.
Vì lúc trời còn sớm, anh con đi đánh giày
Cầm tiền lớn trong tay, anh đi tìm người đổi
Nhưng vì do quá vội, anh bất cẩn sang đường
Xe đụng nên bị thương, giờ đang nằm bệnh viện
Anh bảo con mang trả, tiền thối lại cho ông
Và xin ông có lòng, cho anh con gặp mặt
Tôi theo chân cậu bé, vào bệnh viện thăm anh
Khuôn mặt cậu lét xanh, tấm thân mềm rượi rã
Thấy tôi cậu vội vã, môi mấp máy đau thương
Cậu nằm lặng trên giường, thều thào buông từng
tiếng
-Thưa chú con chỉ biết, con sắp phải đi rồi
Mà chỉ tội em thôi, nó dại khờ chú ạ.
Con đánh giày từng bữa, nuôi nhau còn khó khăn
Con mong chú một lần, nuôi em con khôn lớn
Con về bên thế giới, nguyện kết cỏ ngậm vành.
Rồi nước mắt thằng anh, rơi trên đầu em nhỏ
Tôi đứng yên trơ đó,nghe xúc động nghẹn ngào
- Em à chắc không sao, đừng nghĩ nhiều em nhé!
Thằng em đây chú sẽ, cho ăn học đàng hoàng
Nơi bệnh viện thuốc thang, chú sẽ toàn lo liệu
Đôi mắt em ngời sáng, Đôi tay chắp bàn tay
Em khẽ lạy tôi rồi, xuôi tay em nhắm mắt
Ánh đèn đâu chợt tắt, Đôi mắt trẻ mồ côi
Mà nhân cách thay lời. cao xa trong vời vợi
“Giàu chưa chắc đã
sang, nghèo chưa chắc đã hèn. Tất cả còn tùy thuộc vào “nhân cách” con người.”
Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức và giao tiếp thì chúng ta nói đến nhân cách của họ. Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, cộng tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống của con người.
Không thể nhìn bề ngoài
để đánh giá nhân cách con người. Nhân cách là phẩm chất bên trong, vô
hình, nhưng được thể hiện qua tính chính trực và các kỹ năng sống
của con người. Người có nhân cách tốt dễ thu nhận được cảm tình,
lòng tin, sự tôn trọng và hợp tác của người khác, vì vậy họ có
nhiều bạn đồng hành tốt trong cuộc đời. Ngược lại, người thiếu nhân
cách là người thiếu những kĩ năng sống thiết yếu, dễ gặp thất bại.
Có thể nói, nhân cách
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc đời của một con người.
1. Khái niệm nhân cách con người
Nhân cách là khái niệm
chỉ bao hàm phần xã hội, tâm lí của cá nhân, đó là một con người
với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định; là chủ
thể của các quan hệ người – người, của hoạt động có ý thức và giao
lưu. Hiện nay có rất nhiều lí thuyết khác nhau về nhân cách trong khoa
học tâm lí.
Các nhà tâm lí học theo
quan điểm của Mác –xít đều cho rằng khái niệm nhân cách phải là một
phạm trù xã hội chứ không thể thuần tâm lí. Tuy nhiên điều đó không
loại trừ việc mỗi ngành khoa học tiếp cận vấn đề nhân cách theo góc
độ của mình, trong số đó có khoa học tâm lí. Rõ ràng là một người
sẽ chỉ trờ thành nhân cách kho đã có tâm lí và ý thức. Sau đây là
một số định nghĩa về nhân cách của những nhà tâm lí theo quan điểm
Mác – xít được sử dụng rộng rãi:
“Nhân
cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong
xã hội và đang thực hiện một vai trò nhất định.” – A.G.Goovaliôp
“Nhân
cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và
phẩm chất tâm lí đang quy định những hình thức hoạt động và những
hành vi có ý nghĩa xã hội” – E.V.Sôrôkhôva
Mặc dù có các định
nghĩa khác nhau như trên nhưng các nhà tâm lí học Mác – xít đề thống
nhất với nhau ở quan điểm: “Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm
lý của một cá nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của
người ấy.”
Nói thuộc tính tâm lý
là nói hiện tượng tâm lý tương đối ổn định – kể cả phần sống động
và phần tiềm tàng (nét, thói, tính tình,,,) có tính quy luật chứ
không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên.
Dùng chữ “tổ hợp” có
nghĩa là những thuộc tính tâm lý hợp thành nhân cách có quan hệ
chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau làm thành một hệ thống, một
cấu trúc nhất định. Cũng một thuộc tính đó, nằm trong thuộc tính khác
cũng trở nên khác đi.
Dùng chữ “giá trị xã
hội” là muốn nói những thuộc tính đó thể hiện ra ở những việc
làm, những cách ứng xử, hành vi, hành động, hoạt động phổ biến của
người ấy và được xã hội đánh giá.
2. Các yếu tố hình thành, phát triển nhân cách
Cuộc sống thực của mỗi
con người diễn ra vô cùng sinh động, đa dạng, phong phú và phức tạp.
Do đó, nhân cách của mỗi người được hình thành dưới sự tác động
của rất nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát,
các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, nhân cách của bất kì ai
cũng được hình thành và phát triển dưới sự tác động của các yếu
tố: (1) Di truyền bẩm sinh, (2) Hoàn cảnh sống ( Hay có thể hiểu là
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), (3) Nhân tố giáo dục, (4)
Nhân tố hoạt động, (5) Yếu tố giao tiếp.
2.1. Nhân tố di truyền bẩm sinh
Trong khoa học, nói tới
yếu tố di truyền là nói tới đặc điểm nổi bật trong cấu tạo sinh
học của cơ thể sinh vật. Đó là sự truyền lại của thế hệ trước cho
thế hệ sau những đặc điểm, thuộc tính giống như mình do một hay
nhiều gen bằng con đường sinh học trực tiếp. Bằng con đường di truyền
thệ hệ trước để lại trong cấu tạo cơ thể của thế hệ sau một “vốn
liếng” tối thiểu giúp nó có thể tương tác với môi trường một cách
vô thức ngay từ khi ra đời theo hướng có lợi cho sự tồn tại của nó
(nhờ di truyền, con vịt biết bơi ngay từ khi nở ra từ trứng, tránh được
nguy hiểm dưới nước; gà con biết ẩn nấp dưới bụng mẹ mỗi khi nghe
thất tín hiệu báo nguy hiểm từ tiếng kêu của gà mẹ; đứa trẻ có
được những hành động tự phát thích hợp với những tác động đến từ
môi trường…).
Có thể nói, bẩm sinh –
di truyền đóng cai trò đáng kể trong sự hình thành phát triển tâm lý
nhân cách. Chính nó tham gia vào sự tạo thành cơ sở vật chất của
các hiện tượng tâm lý – những đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cơ thể,
trong đó có hệ thần kinh. Từ đó, có thể khẳng định vai trò tiền đề
vật chất của yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách.
Chúng ta có thể thấy
trong thực tế, có nhiều ví dụ về yếu tố di truyền ảnh hưởng đến
quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Chẳng hạn như, thiên
tài âm nhạc Mozart, ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình tràn đầy
chất âm nhạc. Cùng với sự chăm lo dạy dỗ của người cha mà khi lên 3
tuổi, Mozart đã nghe được nhạc, và khi lên 4 ông đã đánh được đàn dương cầm và organ, bắt đầu soạn
nhạc cho đàn phím khi 5 tuổi, viết bản nhạc hòa tấu lúc 8 tuổi.
Chính kích thích từ người cha và chị gái cùng niềm say mệ hứng thú
với âm nhạc từ thuở nhỏ đã tạo nên một thiên tài âm nhạc như Mozart.
Qua đây, ta càng có thể khẳng định ảnh hưởng của di truyền bẩm sinh
trong việc hình thành và phát triển nhân cách.
Hoàn cảnh tự nhiên
Nhân cách như một thành
viên xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những
giá trị vật chất, tinh thần, phong tục tập quán của dân tộc, của
địa phương, nghề nghiệp – những cái vốn có liên hệ với điều kiện tự
nhiên ấy và qua phương thức sống của chính bản thân nó. Một số nhà
tâm lý học hiện đại cho rằng, hoàn cảnh tự nhiên không giữ vai trò
quan trọng và quyết định trong sự phát triển tâm lý nhân cách. Cá nhân
em đồng tình với quan điểm ngược lại có nghĩa là, hoàn cảnh tự
nhiên cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và phát triển
nhân cách của con người.
Mỗi dân tộc sống trên
một lãnh thổ nhất định sẽ có cái độc đáo của hoàn cảnh địa lý,
như: ruộng đồng, khoáng sản, núi và sông, trời và biển, mưa và gió,
hoa cỏ và âm thanh. Những điều kiện ấy quy định đặc điểm của các
dạng, các ngành sản xuất, đặc tính nghề nghiệp và một số nét riêng
trong phạm vi sáng tạo nghệ thuật. Qua đó quy định các giá trị vật
chất và tinh thần ở một mức độ nhất định. Cho nên có thể nói rằng,
tâm lý học dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu
trung gian là phương thức sống.
Có thể lấy một ví dụ
để minh họa cho quan điểm trên như sau: Nhật Bản là một nước nghèo
tài nguyên thiên nhiên và lại nằm trong vùng vành đai núi lửa của
Thái Bình Dương nên thường phải chịu những thảm họa thiên nhiên hết
sức nặng nề như: động đất, sóng thần… Tuy vậy nhưng người dân Nhật
Bản có một cách sống luôn làm cả thế giới ngưỡng mộ, đó là một
Nhật Bản luôn luôn nêu cao tinh thần tiết kiệm, tính kỉ luật, tinh thần
lạc quan luôn tin vào tương lai và hướng về phía trước cùng với đó
là sự đoàn kết của cả cộng đồng. Có lẽ chính trong hoàn cảnh đất
nước đặc biệt như vậy đã hình thành nhân cách của người dân Nhật
Bản.
Hoàn cảnh xã hội
Trước tiên ta cần khẳng
định tâm lý nhân cách của con người chịu sự ảnh hưởng của xã hội.
Nếu không có sự tiếp xúc với con người thì cá thể lớn lên và phát
triển trong trạng thái động vật, nó không thể trở thành một con
người, một nhân cách. Nhân cách là một sản phẩm của xã hội, như thế
có nghĩa là nếu muốn một đứa trẻ trở thành một nhân cách đồng
nghĩa với việc phải cho nó tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri
thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị bước vào cuộc
sống và lao động trong văn hóa của thời đại.
Quan hệ sản xuất quy
định nội dung của nhiều nét tâm lý cơ bản của nhân cách, đồng thời
tâm lý nhân cách cũng phụ thuộc vào quan hệ chính trị và pháp luật.
Vị trí giai cấp của cá nhân sẽ kích thích tính tích cực của nó ở
mức độ này hay mức độ khác trong vai trò xã hội. Nhu cầu, hứng thú,
lý tưởng phụ thuộc không ít vào vai trò đó. Chẳng hạn, nếu một
người với địa vị là một nguyên thủ quốc gia thì người đó sẽ có
những lý tưởng riêng của mình, đó chính là phục vụ quốc gia, không
ngừng nỗ lực để với địa vị và quyền lực trong tay mình có thể
thúc đầy sự phát triển của đất nước, bảo đảm được cuộc sống cho
người dân của mình…
Theo quan điểm của tâm
lý học và giáo dục hiện đại thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo
trong sự phát triển nhân cách. Giáo dục là một hoạt động chuyên môn
của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo
những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Trong tâm lý học, giáo
dục thường được hiểu là quá trình tác động có ý thức, có mục
đích và có kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức và hành vi trong tập
thể trẻ em và học sinh, trong gia đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà
trường. Nhưng thực ra giáo dục còn có ý nghĩa rộng lớn hơn; giáo
dục bao gồm cả việc dạy học cùng với hệ thống các tác động sư
phạm khác, trực tiếp hoặc gián tiếp trong lớp hoặc ngoài lớp, trong
trường hoặc ngoài trường, trong gia đình và ngoài xã hội. Vai trò
chủ đạo của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách được thể hiện ở những điểm sau:
Giáo dục vạch ra chiều
hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và dẫn
dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều
hướng đó. (Ví dụ như: giáo dục hướng con người tuân thủ pháp luật
và những chuẩn mực đạo đức của xã hội để hình thành nhân cách cho
con người trở thành những người tốt, những công dân có ích cho cộng
đồng.)
Giáo dục có thể mang
lại những cái mà các yếu tó bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự
nhiên không thể đam lại được. (Chẳng hạn như: nếu đứa trẻ sinh ra không
bị khuyết tật thì theo sự tăng trưởng và phát triển bình thường của
cơ thể, đến một giai đoạn nhất định đứa trẻ sẽ biết nói. Nhưng muốn
biết đọc được sách báo thì nhất thiết đứa trẻ phải đi học.)
Giáo dục có thể bù
đắp những thiếu hụt do bệnh tật đem lại cho con người. (Ví dụ như:
Bằng các phương pháp giáo dục đặc biệt có thể giúp những người
khuyết tật phục hồi được chức năng đã mất hoặc có thể hạn chế ở
mức tối đa những bất tiện mà do thiếu hụt của bệnh tật mang lại,
đồng thời có thể phát triển tài năng và trí tuệ con người,như:người
mù có thể đọc được sách nhờ bảng chữ nổi,…)
Giáo dục có thể uốn
nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của môi trường
xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn
của xã hội, (Chẳng hạn như: những phạm nhân hình sự phải chịu hình
phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ. Hình phạt mà pháp luật quy
định cho họ nhằm mục đích giáo dục những người phạm tội)
Giáo
dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã
hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có của nó. (Chẳng
hạn như chúng ta đang trên con đường xây dựng con người mới xã hội chủ
nghĩa. Đây chính là tính chất tiên tiến của giáo dục.)
Những công trình nghiên
cứu về tâm lý học và giáo dục học hiện đại đã chứng minh rằng, sự
phát triển tâm lý của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong
điều kiện của sự dạy học và giáo dục.
2.4. Nhân tố hoạt động
Hoạt động là phương
thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự
hình thành và phát triển nhân cách. Hoạt động của con người là hoạt
động có mục đích, mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện bằng
những thao tác nhất định, với những công cụ nhất định. Thông qua hai
quá trình: đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động mà nhân
cách được bộc lộ và hình thành. Con người lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử bằng hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách. Mặt khác,
cũng thông qua hoạt động, con người đóng góp lực lượng bản chất của
mình vào việc cải tạo thế giới khách quan.
Khác với động vật,
hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức. Hoạt
động của con người được hình thành và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển ý thức, là nguồn gốc và nội dung của ý thức.
Hoạt động của con người được thực hiện không chỉ trong mối quan hệ
của con người với sự vật mà cả trong mối quan hệ giữa con người với
con người.
Ta có thể thấy rất rõ
ảnh hưởng của hoạt động trong việc hình thành và phát triển nhân
cách qua nhiều hoạt động thực tế. Ví dụ như những người thiếu hoạt
động sẽ rất dễ dẫn đến việc bị suy nhược cơ thể. Đôi lúc quá chú
trọng việc học tập mà quên đi những công việc hàng ngày như nấu cơm,
giặt quần áo, quét dọn nhà cửa, thâm chí còn bỏ thỏi quen luyện
tập thể thao của bản thân sẽ rất dễ gây nên tình trạng căng thẳng,
hay chúng ta thường gọi là stress đối với học sinh, sinh viên, nhất là
các bạn học sinh lớp 12 đang trong giai đoạn nước rút ôn thi tốt
nghiệp và thi đại học. Các bạn thường hay bực bội với mọi người,
tâm lí nhiều hơn với học tập, thậm chí muốn xa lánh mọi người,
thường trong tình trạng bức bối, bí bách, muốn giải phóng mình và
bị đè nặng bởi áp lực học tập và thi cử. Qua đây có thể thấy hoạt
động cho ta giá trị khác nhau của nhân cách mà chúng ta cần phải
biết tận dụng nó để nuôi dưỡng nhân cách của mình.
2.5. Yếu tố giao tiếp
Giao tiếp là điều kiện
tồn tại của cá nhân và xã hội loài người. Nhu cầu giao tiếp là một
trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người,
Nhờ giao tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh
hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực xã hội, đồng thời thông qua giao
tiếp, con người đóng góp năng lực của mình vào kho tàng chung của
nhân loại. Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận thức người khác,
nhận thức các quan hệ xã hội, mà còn nhận thức được chính bản thân
mình, tự đối chiếu so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã
hội, tự đánh giá bản thân mình như là một nhân cách.
Nếu một người giao tiếp
với những người có cách hành xử không đúng chuẩn mực đạo đức của
xã hội như hay ăn nói tục tĩu, hay kiếm chuyện gây gổ thì dù ít hay
nhiều cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi những tính xấu này của họ. Còn
nếu giao tiếp với những người có văn hóa, trong một môi trường lành
mạnh con người đó có thể sống tốt hơn, biết đặt ra mục tiêu để cố
gắng phấn đấu góp phần xây dựng cộng đồng chung tốt đẹp đó.
KẾT LUẬN
Tổng kết lại, ta có
thể thấy sự hình thành và phát triển của nhân cách chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố cơ bản, đóng vai trò quan
trọng như: yếu tố bẩm sinh – di truyền; yếu tố hoàn cảnh sống; nhân
tố giáo dục; nhân tố hoạt động; và yếu tố giao tiếp.
Mỗi người cần nên biết
những yếu tố cơ bản, quan trọng trên để từ đó có thể định hướng cho
mình một con đường đúng đắn trong việc hình thành và phát triển nhân
cách. Chúng ta có thể tự tạo cho mình một môi trường lành mạnh, tạo
môi trường sống từ gia đình, từ nơi học tập, làm việc… Bên cạnh đó,
mỗi cá nhân cũng cần nuôi dưỡng cho mình một kho tàng tri thức, biết
tiếp thu một cách chọn lọc những ảnh hưởng tốt cũng như sàng lọc,
gạn lược đi những thói hư tật xấu, những hệ quả tiêu cực của xã
hội hiện đại để ngày càng hoàn thiện hơn nhân cách của bản thân
mình.
Ở đời có 3 chữ Đừng
Đừng hiền quá để người ta bắt nạt.
Đừng ngốc quá để người ta đùa giỡn.
Đừng tin tưởng quá để khi bị lừa dối cũng không
đến nỗi bi thương.
Chuyện của người khác, hãy nói cẩn thận.
Chuyện của người lớn, ít nói.
Chuyện của trẻ con, hãy nhẹ nhàng khuyên bảo giảng
giải.
Chuyện nhỏ, nói một cách hài hước.
Chuyện làm không được, đừng nói.
Chuyện buồn, chỉ tìm bạn tri kỉ nói.
Chuyện của bản thân, nên nghe người khác nói thế
nào trước.
Chuyện vợ chồng, cùng nhau thương lượng.
Chuyện gấp, từ từ nói.
Chuyện chưa chắc có thể sẽ xảy ra, đừng nên nói
bậy.
Chuyện tổn thương người khác, tuyệt đối không
nói.
Trên đời này khó đoán nhất là tâm tư của người
khác
Khó điều khiển nhất là tình cảm của chính mình
Và khó giữ nhất là lòng người đã đổi thay.
Chơi với người tốt như đi trong sương
Tuy không ướt áo nhưng thân thường mát rượi
Chơi với người xấu như đi giữa rừng gươm
Tuy không bị thương nhưng thường sợ hãi.
Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người tuy cạn ai đo vơi đầy
Thốt ra lời nói thì hay
Nhưng mà lòng dạ thì đầy mưu mô
Vẽ người vẽ mặt, khó vẽ xong
Biết người biết mặt, khó biết lòng
Chân thành quá mức là một cái tội
Tin người quá vội là một cái ngu
Cách để Đối phó với Người Rối loạn Nhân cách Chống
đối Xã hội
Những người có
nhân cách chống đối xã hội (Sociopath) thường có vẻ rất quyến rũ và duyên dáng,
nhưng một khi chúng ta đã hiểu họ, tính cách thật sự của họ lúc đó mới được bộc
lộ. Nếu chúng ta có quen ai đó thích thao túng và không thương xót người khác, chúng
ta cần phải biết cách để đối phó với họ sao cho cảm xúc của mình không bị kiệt
quệ. Tranh cãi với một người bị rối loạn nhân cách chống đối xã hội sẽ không có
ích lợi gì cả. Tốt hơn là chúng ta nên thể hiện cho họ thấy rằng mình đủ thông
minh để không bị họ lôi kéo.
Phần 1
Hiểu một người bị rối loạn nhân cách chống đối
xã hội
1.Nhận ra những dấu hiệu của một người bị rối
loạn nhân cách chống đối xã hội.
Đây là một loại bệnh
rối loạn tâm lý khiến người bệnh không thể đạt tới sự thấu cảm với người khác.
Dù họ có vẻ rất thân thiện và dễ mến, họ thường dùng sự quyến rũ của mình để bắt
người khác làm theo ý mình. Một người bị rối loạn nhân cách dạng này thường có
những nét tính cách tiêu biểu sau:
Cực kỳ lôi cuốn;
dường như ai cũng yêu mến họ.
Không biết ăn năn;
họ không cảm thấy có lỗi khi làm sai.
Không có sự thấu cảm;
họ không quan tâm khi ai đó bị tổn thương.
Có xu hướng nói dối;
họ thường xuyên nói dối như thế đó là chuyện nhỏ.
Không biết yêu
thương; những người thân thiết nhất với họ thường nhận ra có điều gì đó bị thiếu.
Tự coi mình là
trung tâm; họ cảm thấy phấn chấn khi được làm trung tâm của sự chú ý.
Ảo tưởng sức mạnh;
họ tự đánh giá bản thân mình tuyệt vời hơn người khác.
Người bị rối loạn
nhân cách chống đối xã hội không có khả năng thay đổi. Chuyên gia tâm lý học
Liana Georgoulis cho rằng: "Có rất nhiều chứng cứ cho thấy người bị rối loạn
nhân cách chống đối xã hội sẽ không bao giờ thay đổi. Thật ra, biện pháp trị liệu
và các phương pháp điều trị khác có thể khiến tình hình tồi tệ hơn. Thời điểm duy nhất có thể can thiệp là vào độ
tuổi thiếu niên. Can thiệp ở giai đoạn thiếu nhi hay thiếu niên có thể hữu ích
và ngăn chặn bệnh này phát triển toàn diện, nhưng với người trưởng thành thì vô
tác dụng."
2.Hiểu động cơ của những người bị bệnh này.
Những người mắc bệnh
không có nhu cầu biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, giúp đỡ người khác hoặc
trở nên đáng tin cậy trong những mối quan hệ thân thiết nhất. “Làm điều đúng đắn”
không phải là động lực của họ; thay vào đó, họ muốn có quyền lực để thống trị
người khác và dùng nó để giành lấy những gì mình muốn, đó là: nhiều quyền lực
hơn, tiền bạc, tình dục...
Cho dù một người
chống đối xã hội có làm một việc gì đó tốt đẹp, họ thường sẽ có một lý do bí mật
ẩn giấu đằng sau.
Những người đó thường
lừa dối ta đời của mình bởi vì họ không cảm thấy tội lỗi khi làm vậy.
3.Những người bị rối loạn nhân cách chống đối
xã hội thường là những chuyên gia thao túng người khác.
Họ rất nguy hiểm bởi
vì họ có khả năng khiến người khác làm theo ý mình. Họ thường dùng nhiều kiểu
chiến lược để sai khiến người khác làm việc cho mình. Họ thường chia rẽ mọi người
để giành được thứ mình muốn, hoặc khiến ai đó nói dối thay mình để che đậy sự
thật.
Những người này
thường có một mối tình tay ba hoặc là thủ phạm phá vỡ hạnh phúc gia đình người
khác.
Trong công sở, họ
có thể sẽ bôi nhọ đồng nghiệp để khiến mình trở nên tuyệt vời hơn trước mặt sếp.
Đối với bạn bè, họ
sẽ gây ra những rắc rối và gây chia rẽ nhóm bạn, còn họ sẽ hoàn toàn kiểm soát
được tình hình.
4.Đừng mong đợi một người rối loạn nhân cách chống
đối xã hội biết quan tâm tới cảm xúc của ta.
Họ không quan tâm
nếu có ai đó đang bị lợi dụng hoặc tổn thương, bởi vì họ không cảm thấy lăn tăn
gì với việc lợi dùng lòng tốt của ta. Nét tính cách đặc trưng nhất của họ là: họ
không hiểu rằng người khác cũng có cảm xúc hoặc có thể bị hành động của họ gây
tổn thương.
Người bị rối loạn
nhân cách chống đối xã hội không thể thay đổi để trở nên biết thương xót người
khác. Không có cuộc nói chuyện thẳng thắn nào hoặc bất kỳ cơ hội nào có thể biến
họ trở thành một con người tốt hơn.
Nếu chúng ta có thể
tránh xa người đó đủ để nhận ra rằng: vấn đề không nằm ở mình, chúng ta sẽ có đủ
dũng khí để đứng lên chống lại người bị rối loạn nhân cách đó.
5.Để có thể đối phó với một người mắc chứng bệnh
này, hãy suy nghĩ như họ.
Khi chúng ta nhận ra người quen của mình bị bệnh
này, chúng ta sẽ thấy được những động lực cũng như những điểm yếu của họ. Nếu chúng
ta cư xử với họ như với một người có tâm lý bình thường, chúng ta sẽ chỉ rơi
vào trạng thái bối rối hoặc bị lôi kéo vào những bi kịch.
Khi giao tiếp với
một người bị mắc bệnh, hãy luôn tỉnh táo và tránh tìm cách nói chuyện để thay đổi
người đó.
Hãy nhớ rằng động
lực của họ không phải là tình yêu mà là quyền lực. Do đó, chúng ta nên thể hiện
rằng ta sẽ không để cho họ điều khiển mình.
Phần 2
Giao tiếp hiệu quả
1.Xem xét việc tránh mặt người đó hoàn toàn.
Những người bị rối
loạn tâm lý chống đối xã hội rất khó giao tiếp, vì thế chúng ta nên tránh xa
người đó ra, như vậy là tốt nhất. Mối quan hệ với người đó sẽ không bao giờ cải
thiện được. Nếu chúng ta đang hẹn hò một người có vẻ bị mắc chứng Sociopath, hoặc
nếu đó là bạn bè của mình, chúng ta vẫn nên mạnh mẽ chấm dứt mối quan hệ này.
Việc này sẽ rất có
ích nếu chúng ta thuộc tuýp người thấu cảm hoặc nhạy cảm. Sociopath rất hay đeo
bám những người có tính cách như vậy, vì thế, hãy chạy ngay đi khi còn kịp.
Trong một vài trường
hợp, chúng ta không thể chấm dứt mối quan hệ được. Có thể người bị bệnh lại là
sếp của mình, hoặc tệ hơn là bố mẹ hoặc con cái hoặc anh em của ta. Nếu vậy, chúng
ta cần phải học cách giao tiếp hiệu quả khi ở bên họ.
2.Hãy luôn phòng thủ.
Đừng để bản thân
trở nên dễ bị tổn thương khi ở bên cạnh một người rối loạn nhân cách như vậy.
Khi chúng ta thể hiện cảm xúc thật của mình, chúng ta rất dễ trở thành mục tiêu
của họ, bởi vì họ sẽ nhận ra rằng chúng ta rất dễ bị thao túng. Khi phải giao
tiếp với một người bị rối loạn nhân cách dạng này, hãy luôn thể hiện sự tự chủ.
Hãy luôn thể hiện
một vẻ mặt vui vẻ khi người đó hiện diện. Dù chúng ta không cảm thấy thật sự
vui vẻ, nhưng chúng ta không bao giờ nên thể hiện cảm xúc thật của mình cho người
đó biết.
Thể hiện rằng mình
không dễ bị gục ngã hay tổn thương cũng rất quan trọng. Nếu hôm đó chúng ta cảm
thấy thật sự không vui, hãy tránh mặt người đó.
3.Hãy cẩn trọng với mọi thứ mà người đó kể.
Hãy nhớ rằng họ cực
kỳ giỏi việc khiến người khác bộc lộ cảm xúc. Nếu chúng ta có thể tiên đoán được
điều này, chúng ta sẽ tránh được sự thao túng của người đó. Hãy luôn bình tĩnh
và tự nhiên, dù người đó có nói gì đi nữa..
Ví dụ, chúng ta
đang có một buổi sáng tuyệt vời ở công ty, đột nhiên, người đồng nghiệp đó xuất
hiện và nói rằng sếp đang rất tức giận vì bản báo cáo của ta. Đừng tin điều đó
cho tới khi chính sếp chúng ta nói ra.
Có thể một người bạn
trong nhóm bị bệnh này và thường kể cho chúng ta về một bữa tiệc mà chúng ta
không được mời đến dự. Đừng phản ứng gì cho tới khi chúng ta được nghe câu chuyện
này từ một người khác.
4.Hãy trò chuyện một cách bình thản.
Thay vì để cho người
đó nói luôn mồm, hãy lên tiếng và lái câu chuyện theo hướng chúng ta muốn. Như
vậy, chúng ta có thể vừa giữ cho mình an toàn, lại vừa không để người kia có cơ
hội chọc tức mình. Hãy tỏ ý đồng tình và khen ngợi người đó bất kỳ lúc nào có
thể.
Hãy nói về bất kỳ
chuyện gì có chủ đề an toàn và chung chung, ví dụ như chính trị, thời tiết, tin
tức, thể thao...
Thường xuyên thay
đổi chủ đề nói chuyện (nhất là khi người đó đang nói gì đó xúc phạm mình) và đừng
để sự im lặng kéo dài quá lâu.
5.Đừng bao giờ chia sẻ những thông tin cá nhân.
Đừng kể về gia
đình, bạn bè, công việc, tài chính, ước mơ, mục tiêu… Những người đó muốn lợi dụng
chúng ta, người thân của chúng ta, tài chính cũng như các mối quan hệ khác của chúng
ta. Để ngăn chặn không cho họ lấy được thứ họ muốn, chúng ta phải thể hiện rằng
mình không có những thứ mà họ cần.
Nếu người đó muốn
tiền của chúng ta, đừng để họ dễ dàng phát hiện ra là chúng ta có tiền. Họ có
thể tra cứu sao kê tài khoản của chúng ta mà không có sự cho phép của chúng ta.
Vì thế, hãy giữ thông tin về tài khoản thật an toàn. Hãy tạo ra ấn tượng rằng chúng
ta không có nhiều tiền, cả bạn bè và người thân của chúng ta cũng thế, nhờ vậy,
chúng ta sẽ không trở thành mục tiêu của họ.
Nếu họ muốn quyền
lực, hãy thể hiện rằng chúng ta chẳng có mối quan hệ nào to tát cả.
Nếu họ muốn lợi dụng
chúng ta, hãy thể hiện bản thân mình chẳng có gì cho họ lợi dụng.
6.Tránh nói về những điều khiến chúng ta hạnh
phúc hoặc đau khổ.
Nếu người đó biết
những điều chúng ta yêu hoặc những gì chúng ta ghét, họ sẽ dùng thông tin đó
làm vũ khí chống lại chúng ta.
Tránh than vãn với
họ, vì mọi thứ liên quan tới điểm yếu của chúng ta, những thứ khiến chúng ta
đau khổ, bực mình, bối rối hoặc tổn thương đều có thể bị họ dùng để khủng bố chúng
ta.
Đừng để họ biết những
lúc chúng ta đau buồn. Họ có thể sẽ làm lại hành động đó để khiến chúng ta bị tổn
thương lần nữa.
Phần 3
Tự bảo vệ bản thân
1.Bảo mật toàn bộ kế hoạch.
Nếu người rối loạn
nhân cách chống đối xã hội biết trước những kế hoạch của chúng ta, người đó sẽ
dùng những thông tin đó để hạ nhục, xem thường, ngăn cản hoặc xúc phạm chúng ta.
Nếu chúng ta đang định làm gì đó, đừng kể trước với người kia. Hãy để tới khi chúng
ta làm xong việc rồi mới chia sẻ thông tin cho họ.
Ví dụ, nếu chúng
ta định thay đổi công việc, hãy cứ đi thi, phỏng vấn, nhận việc mới, nghỉ việc
cũ trước khi chia sẻ thông tin với người mắc chứng bệnh tâm lý này. Khi mọi sự ở
vào thế đã rồi, người đó sẽ không có cách nào để khiến chúng ta thất bại nữa.
Nếu chúng ta ở cùng
nhà hoặc làm cùng chỗ với người bị rối loạn nhân cách dạng này, hãy dùng những
lúc người đó đi ra ngoài để mua sắm, thay đổi hoặc hoàn thiện việc của mình.
2.Hãy thể hiện cho người đó biết rằng ta biết tỏng
động cơ của họ.
Nếu chúng ta muốn
người đó biến khỏi cuộc đời mình mãi mãi, người đó phải nhận ra rằng chúng ta
không phải đối tượng dễ bị thao túng. Người đó sẽ bỏ cuộc và chuyển sang một đối
tượng khác dễ thao túng hơn.
Đừng phản ứng nếu
người đó xúc phạm ta.
Hãy bình tĩnh đề
nghị giải thích khi người đó đang nói dối trắng trợn.
Hãy thể hiện rằng ta
không dễ bị thao túng.
3.Đừng mắc nợ Sociopath bất cứ thứ gì.
Họ thường thao
túng người khác bằng cách tạo ra những tình huống khiến họ được đứng ở vị trí
có quyền lực. Đừng làm bất kỳ việc gì khiến người đó có cơ sở dùng nó để điều
khiển chúng ta sau này. Ví dụ:
-Đừng vay mượn tiền bạc của họ.
-Đừng nhận quà dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu
người đó muốn khen ngợi chúng ta với sếp, cứ lịch sự từ chối.
-Từ chối nhận sự giúp đỡ.
-Đừng làm bất kỳ điều gì khiến bản thân mình cảm
thấy có lỗi với họ.
4.Lưu lại những hành vi xúc phạm của họ.
Nếu chúng ta cảm
thấy người đó đang cố làm hại thanh danh của mình, chúng ta nên thu thập bằng
chứng của việc này. Những người đó thường khá có tiếng nên có thể sẽ không ai
tin lời chúng ta nói, trừ khi chúng ta có chứng cớ để chứng minh điều ngược lại.
Hãy lưu lại e-mail và những hình thức bằng chứng khác để có thể chia sẻ với các
bên có liên quan trong trường hợp cần thiết.
Khi thu thập bằng
chứng, hãy hành động cẩn trọng. Ghi âm lời nói của người khác mà không báo cho
họ biết có thể được coi là phạm pháp tại một số địa phương. Nếu chúng ta bị xúc phạm và cần thu thập bằng chứng,
chúng ta có thể nói chuyện với luật sư của mình để tìm ra phương hướng tốt nhất.
5.Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ của các chuyên gia.
Nếu chúng ta bị phụ
thuộc vào người đó về mặt cảm xúc, và người đó gây ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc
sống của mình, chúng ta có thể nói chuyện với một người thứ ba không liên quan
tới chúng ta. Hãy tìm một bác sĩ trị liệu tâm lý để vượt qua những rắc rối và
tìm ra cách tốt nhất để đối phó với người kia.
Học cách từ chối.
Không gì khiến một Sociopath chuyển hướng sang một mục tiêu dễ tiếp cận hơn là
việc chúng ta tỏ ra “thiếu nguồn cung cấp” cho họ (tiền bạc hoặc sự giúp đỡ).
Họ cần phải được
biết rằng đâu là giới hạn. Đừng tỏ ra thích thú với những gì họ nói, bởi vì họ
rất tài giỏi trong việc thao túng người khác, và khiến người khác nghĩ rằng mọi
cách mà họ bày ra mới là tốt nhất. Hãy luôn cẩn trọng và luôn cảnh giác với họ.
Đừng bao giờ nói với
họ rằng họ đã sai. Những người đó luôn tự cho rằng họ đúng và luôn tìm cách để
chiến thắng. Nếu chúng ta nói rằng họ đã sai hoặc tìm cách phản bác họ, rất có
thể sẽ xảy ra một trận cãi nhau hoặc ẩu đả.
Tìm kiếm sự giúp đỡ
là một việc quan trọng. Nhất là khi người đó đã cô lập chúng ta trong mối quan
hệ và chúng ta không thể tìm tới bạn bè, đồng nghiệp và người thân được nữa.
Các chuyên gia cho biết: khi chúng ta nghĩ rằng người đó đang bộc lộ triệu chứng
rối loạn tâm lý với mình, và chúng ta thì hoàn toàn “bình thường”, việc đó sẽ
giúp chúng ta tự tin hơn rất nhiều.
Hãy luôn vững
vàng, không thể hiện cảm xúc, không lên giọng và không khóc lóc. Hãy luôn tự nhủ điều này nếu người đó đang cố
khiến chúng ta thay đổi quyết định của mình. Đừng chịu thua. Hãy nói những điều
như: “Không, việc đó không hiệu quả với tớ, cảm ơn. Tớ không thích thế. Tớ sẽ
xem xét, cảm ơn”. Hãy tiếp tục trả lời mông lung hoặc nói những câu gây cụt hứng
khác. Đừng để họ bắt thóp được chúng ta.
Sociopath cũng là
con người. Họ không hề nguy hiểm như những gì truyền thông nói về họ. Thực tế,
có 4% số CEO được ghi nhận là bị rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Họ chỉ
đơn giản là thiếu một số đức tính nên người khác thường dán mác họ là “những kẻ
nguy hiểm”. Vì thiếu lòng từ bi, đầy tự tin và quyến rũ, họ đều trở thành những
CEO tài năng cũng như những công ty đầy quyền lực khác.
Hãy tìm hiểu mọi
điều họ nói. Những người mắc bệnh này thường nói dối về mọi thứ, ngay cả khi việc
đó không có lợi lộc gì.
Cách phòng vệ tốt
nhất là "tránh voi chẳng xấu mặt nào". Hãy tìm một việc khác và tránh
xa người đó ra! Đừng chia sẻ những thông tin cá nhân và chuyện riêng tư. Hãy cảnh giác khi tâm trạng không tốt và sự
phòng thủ của mình bị yếu đi.
Nếu đó là người
nhà của chúng ta, đừng kể sự thật về người đó cho gia đình biết. Họ sẽ không
tin ta và kết quả là chúng ta sẽ trở thành người xấu. Thay vào đó, hãy kể với bạn
bè hoặc một người không có quan hệ gì với người bị rối loạn tâm lý kia.
Cảnh báo
Tránh mặt là cách
đối phó tốt nhất. Nếu chúng ta không thể tránh mặt họ hoàn toàn, hãy tạo dựng
những mối quan hệ mật thiết với những người có thể bảo vệ được ta, và thường
xuyên nhắc tới họ trước mặt người bị rối loạn tâm lý kia. Hãy nói rằng ta luôn
kể mọi việc với những người đó. Người bị chứng Sociopath không cảm thấy thoải
mái khi ở gần cảnh sát hoặc các bác sĩ tâm lý
Con người một thước không đo nổi lòng
Miệng lưỡi ít thẳng nhiều cong
Ngoằn ngoèo uốn khúc đường vòng quá xa
Đấy biển sâu rộng bao la
Đo rất đơn giản cho ra tứ bề
Lòng người tuy ngắn khó ghê
“Hành vi lương thiện chính là hành động lấy
nhân cách con người làm mục đích. Nhân cách là tất cả những giá trị cơ bản
trong cuộc sống. Trong vũ trụ này chỉ có nhân cách con người mới có giá trị tuyệt
đối.”

