Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý nghĩa chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý nghĩa chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Ý nghĩa chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín

   
 
5 đức tính cần có của mỗi người là: Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín vẫn luôn rất được coi trọng. Cuộc sống ngày dù có rất nhiều thay đổi, nhưng chuẩn mực về tư tưởng, lối sống và đạo đức của mỗi người vẫn được lưu truyền qua hàng trăm năm. Vậy 5 chữ này có ý nghĩa như thế nào mà lại được mọi người nhắc đến nhiều như vậy và còn được đưa vào trong các tác phẩm nghệ thuật? Hãy cùng tìm hiểu nhé.

   Theo Wikipedia, ngũ thường xuất phát từ Nho giáo ở Trung Quốc hay chính là hằng có, đức tính của của con người ở đời, gồm:

 – Nhân (trong “nhân hậu”), thuộc Mộc;

 – Lễ (trong “lễ phép, lễ giáo”), thuộc Hỏa;

 – Nghĩa (trong “chính nghĩa”), thuộc Kim;

 – Trí (trong “trí tuệ”), thuộc Thủy;

 – Tín (trong “uy tín”), thuộc Thổ.

 Để có thể hiểu sâu hơn về 5 chữ: Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín này; chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu về ý nghĩa của từng chữ.

  Ý nghĩa chữ Nhân

Chữ nhân là biểu hiện của con người giữa đời thường, được thể hiện qua cách đối nhân xử thế; yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, chia sẻ với mọi người. Đặc biệt, đây không chỉ là đức tính cần thiết mà chính là trách nhiệm của mỗi cá nhân; là sợi dây liên kết, ràng buộc giữa người với người và thể hiện nghĩa tình qua các mối quan hệ như: vua – tôi, vợ – chồng, cha – con, anh – em.

   Theo Ngũ hành, nhân ứng với mộc hay chính là hiện thân của các loại cây xanh. Hiện trạng của mộc là cố định, nhưng vẫn luôn có sự sống và ý chí mạnh mẽ vượt qua mọi hoàn cảnh, dù có là thời tiết khắc nghiệt đi chăng nữa cũng vẫn sẽ dành chiến thắng.

   Nhắc tới hành Mộc chính là nhắc đến nhân, mang ý nghĩa rất sâu sắc về nhân cách của con người, sự lương thiện, bao dung, độ lượng và trong đó ẩn chứa cả sự vị tha.

  

Ý nghĩa chữ Lễ

 Lễ hay cũng chính là lễ nghi, lễ giáo. Đây cũng chính là một truyền thống tốt đẹp từ thời ông cha chúng ta. Để thể hiện sự tôn trọng, và giúp cho mối quan hệ giữa người với người trở nên hài hòa hơn thì chắc chắn sẽ không thể thiếu đi lễ. Hay khi chúng ta chịu nhận ân huệ từ những người khác thì điều chúng ta cần làm chính là “trả” lễ cho họ. Đặc biệt, lễ còn được xem là một nét đẹp trong văn hóa của dân tộc. Bởi khi có việc gì quan trọng sẽ không thể thiếu được lễ. Điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến lễ chính là ánh sáng và hình thức đặc trưng, còn được gọi là Tế tự.

   Mà lửa, ánh sáng hay những luồng năng lượng mạnh mẽ lại chính là biểu thị đặc trưng của hành Hỏa. Xét theo Triết học, sự tôn kính quỷ thần của con người cũng thuộc thuộc trong hành Hỏa. Vì vậy, những điều này khiến cho hành Hỏa và lễ của con người lại được xếp cùng với nhau.

   Ý nghĩa chữ Nghĩa

Chữ nghĩa xuất hiện rất nhiều trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta, trong sự dạy dỗ và dẫn dắt một con người theo lẽ sống phải đạo và được coi là chuẩn mực, hành vi mà con người cần hướng đến.

   Niềm tin vào chính nghĩa luôn chiến thắng tà ác; biểu tượng của thiên đạo được gọi là nghĩa. Hay nghĩa còn là sự công bằng, lẽ phải hợp với đạo lý chung; sự nhận thức đúng đắn về chân lí những điều này sẽ không dễ dàng bị biến đổi.

   Bên cạnh đó, biểu tượng của hành Kim lại chính là bạc hay những kim loại có bề ngoài sáng bóng và cứng rắn. Do vậy, ứng với hành Kim chắc chắn sẽ là nghĩa mà không phải là chữ khác.

   Ý nghĩa chữ Trí

  Theo Đức Phật, trí tuệ và sức khỏe là tài sản lớn nhất của mỗi người. Trí tuệ hay trí huệ, trong đó bảo gồm: trí là quán thấy và huệ là hiểu rõ. Trí tuệ là sự sáng suốt, tinh thông, am hiểu và nhanh nhạy về trí óc. Đặc biệt, khi sở hữu trí, người đó sẽ không dễ dàng rơi vào u mê tội lỗi và thể hiện sự hiểu biết minh bạch, tường tận.

   Như người xưa đã có câu “Trí giả nhạo Thủy” (Bậc trí giả thích nước). Bởi người sở hữu trí đạt sự lý thông thông suốt mọi lẽ không dễ bị đình trệ; giống như dòng nước chảy có thể bỏ qua được tất cả mọi dào cản; có lẽ vì vậy mà người trí rất ưa thích nước. Vì vậy, khi nhắc đến trí người ta sẽ biết ngay tới hành Thủy bởi những đặc tính tương đồng này.

 

  Ý nghĩa chữ Tín

 Tín là niềm tin, giữ điều hẹn ước và thực hiện đúng như lời đã nói ra. Người biết giữ chữ tính là người coi trọng lòng tin của người khác đối với mình và là người biết trọng lời hứa, đáng tin cậy.

   Khi con người không giữ được chữ tín, thì cuộc sống sẽ luôn phải trong trạng thái phòng bị lẫn nhau; đã có quan niệm rằng: người không biết giữ chữ tính thì cũng sẽ sống không có nhân nghĩa. Nhưng với những người trọng chữ tín; thì tín cũng chính là sợi dây liên kết mật thiết mỗi con người với nhau; và cũng là nền tảng và căn nguyên để con người sống chân thành với nhau hơn.

   Trong ngũ thường, tuy rằng vị trí của tín là ở cuối cùng nhưng lại là điểm mấu chốt không thể di dời; quyết định cho những đức tính trên. Bởi nếu không có đức tín, không nhận được sự tin tưởng từ người khác thì cũng sẽ chỉ là một người không được coi trọng và đánh giá cao. Cũng giống như Thổ luôn bất biến.

   Không phải tự nhiên mà hành Thổ lại được ví như Tín của con người. Những loài cây sinh sống và phát triển nhờ và đất; nếu có được sự hậu thuẫn từ đất thì chúng sẽ sinh sôi nãy nở rất tốt; vòng tuần hoàn theo đúng trật tự này cũng chính là yếu tố để thấy rằng hành Thổ tương đồng với chữ Tín.

   Mỗi chữ đều mang những ý nghĩa khác nhau; nhưng khi đứng cạnh nhau 5 chữ này lại mang ý nghĩa rất sâu sắc về mọi mặt trong cuộc sống. Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín nếu chúng ta thiếu bất kỳ một trong những đức tính trên; đặc biệt là Tín thì bản thân chúng ta sẽ không được coi trọng và khó có thể thành công và thuận lợi.

   Cũng bởi vậy, bộ tranh chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín được sử dụng trong rất nhiều gia đình; như lời nhắc nhở mỗi người phải sống đúng với luân thường đạo lý.

 


Bàn về Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín: xưa và nay

  Việt Nam đã có hơn nghìn năm lịch sử phong kiến, và nho giáo luôn là tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị, văn hóa của dân tộc. Cho đến hôm nay cũng không thể phủ nhận những giá trị văn hóa to lớn mà tư tưởng nho giáo để lại trong đời sống xã hội. Nói đến tư tưởng nho giáo người ta không thể không nhắc đến năm chữ Nhân, Lễ Nghĩa, Trí, Tín. Dù đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, cho đến bây giờ những giá trị nhân văn của tư tưởng đó thể hiện qua năm chữ trên vẫn không mất đi giá trị. Song ở mỗi thời mỗi khác và hôm nay  Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cũng gắn liền với sự chuyển biến của xã hội hiện tại, ở một khía cạnh phương diện nào đó đã thể hiện với những tư tưởng và cách suy nghĩ không giống xưa, cũng như tâm quan trọng của mỗi chữ thể hiện trong thứ tự sắp xếp, điều đó cần được bàn thêm.

 


Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín hay Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Lễ ?

Thời nào cũng vậy, chữ nhân luôn đặt lên hàng đầu, là quan trọng hơn cả, nó đã là bao quát, là đạo làm người. Dù thời xưa hay thời nay chữ nhân đó vẫn thể hiện trong cách sống, lối sống của mỗi con người. Cách đôi nhân xử thế, tấm lòng của người giữa đời thường, cũng như vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Chữ nhân trong mõi người không chỉ là một tấm lòng, tấm lòng yêu thương con người, quê hương đất nước mà còn biết gắn cái riêng của mình vào cái chung của xã hội hiện tại, với sự ràng buộc giữa người với người, bằng những mối liên quan gắn kết. Người xưa cho rằng chữ nhân thể hiện qua nhiều luân thường đạo lý: Vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em bằng hữu… Nam thì Tam cang ngũ thường ( Tam cang : ba mối quan hệ giữa vua – tôi, cha- con, vợ – chồng . Ngũ thường : Chính là năm yếu tố để  trở thành nhân cách một con người: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín ). Điều đó thể hiện rõ nét trong tư tưởng nho giáo với mối quan hệ giữa vua – tôi thế nào, cha – con ra sao… Cũng như chữ trung     luôn đặt trên chữ hiếu.  Quân bảo thần tử , thần bất tử bất trung ( Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là không trung ). Đó thể hiện cái suy nghĩ của chế độ phong kiến quân chủ tập quyền. Nhưng suy nghĩ đó ngày nay đã không còn phù hợp, một cá nhân trong cuộc sống đất nước thì cần phải suy nghĩ gì trước vận mệnh chung của dân tộc, tất nhiên là phải vì lợi ích chung, cái lợi của nhân dân, của dân tộc chứ không phải vì một lợi ích riêng của cá nhân nào. Còn theo ngôn ngữ khoa học thì nhân ( hạt nhân ) nghĩa là cái trung tâm, cái quan trong, cơ bản nhất của mỗi vật chất. Con người cũng vậy, nhân   không chỉ thể hiện cái riêng của mỗi cá nhân mà còn là một tấm lòng bao la của con người khi gắn cái riêng đó với cái chung trong cuộc sống xã hội đời thường. Nữ thì Tam tòng tứ đức (Tam tòng: Sống theo cha, có chồng theo chông, chồng mất thì theo con. Tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Công: là sự giỏi gian, đảm đang trong công việc, Dung: nhan sắc người phụ nữ, Ngôn: lời ăn tiếng nói, cách ứng xử lễ phép, Hanh: cái trinh tiết, tiết hạnh của người phụ nữ- ý nói cần giữ gìn ). Có nhất thiết phải ở vậy theo con khi mà người chồng chăng may mất sớm không? Chẳng lẽ không cho người phụ nữ cái quyền được sống, được có hạnh phúc mới khi còn tuổi xuân sao? Đối với một số dân tộc như Champa, hay đời nhà Tần bên Trung Quốc thời xưa còn có tục khi người chống mất người vợ phải chết theo, nhất là đối với những bậc vua chúa. Làm vậy chẳng phải là quá khắc khe, ích kỷ và tàn nhẫn đối với người phụ nữ sao? – Điều đó ngày nay đã hoàn toàn không còn phù hợp. Công ở thời xưa và thời nay đã không còn giống nhau trên phương quan điểm, nhất là đối với người phụ nữ ngày nay ngày càng có nhiều quyền bình đẳng hơn. Có một thực tế là ở chế độ phong kiến ngày xưa quan niệm xem nhẹ vai trò người phụ nữ, cũng như tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào suy nghĩ của mọi người, như ngày nay có thể nói điều đó đã dân thay đổi. Mọi người cần phải thay đổi lại cách suy nghĩ và nhìn nhận đúng về vai trò người phụ nữ. Người xưa cho rằng , người phụ nữ đảm đang thì chỉ cần gói gọn trong việc nâng khăn sửa túi cho chồng, chăm lo con cái, gia đình chứ không cần có một công việc riêng tư. Nhưng ngày nay thì đã khác, người phụ nữ cũng có một công việc riêng tư như bao người đàn ông, một cuộc sống tự lập chứ đâu cần phải theo ai! Điều đó chứng minh qua xã hội ngày nay có nhiều người phụ nữ thành đạt, họ không chỉ chăm lo tốt chồng con, gia đình mà thành công trong công việc chuyên môn, có một địa vi nhất định trong xã hội mà nhiều người đàn ông cũng phải ao ước, ngưỡng mộ theo chứ chưa nói gì đến những người phụ nữ là lãnh đạo, nguyên thủ của một quốc gia. Điều đó cũng đã đủ nói lên vai trò to lớn của người phụ nữ ngày nay. Dung là nhan sắc, ở mọi thời đại đó vẫn là một lợi thế của họ, thế mạnh trời cho này của người phụ nữ nếu họ biết ăn nói dịu dàng lễ phép , kính trên nhường dưới, giao tiếp nhã nhặn với mọi người xung quanh đúng như trong chữ ngôn nữa thì đó là điều tuyệt vời. Ngày nay quan niệm về hanh – trinh tiết của người phụ nữ đã không còn khắc khe như xưa, nhưng đó cũng là điều mà người phụ nũ luôn trân trọng, giữ gìn- nhất là đối với những người phụ nữ Á đông với tư tưởng văn hóa phương đông, bao đời đã tạo nên một nét riêng so với người phụ nữ phương tây và được mọi người trong xã hội đánh giá cao. Tất cả những đều trên khẳng định một điều rằng: Đối với mỗi người thì chữ nhân không thế thiếu được.

Với người xưa họ rất xem trọng lễ vì vậy sau chữ nhân  là lễ  . Xem qua cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời. Chữ lễ ở đây không chỉ là lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới trong đạo vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em mà còn thể hiện qua những hình thức lễ nghi theo truyền thống đương thời, cũng chính vì thế mà có nhiều lễ nghi rờm rà, tốn kém, nhưng là điều không thể thiếu khi hành xử một việc gì đó cho là quan trọng, để rồi nó trở thành một nét văn hóa của dân tộc. Họ cho răng có lễ rồi mới có nghĩa, và ngày nay lễ cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong văn hóa giao tiếp ứng xử của mọi người trong xã hội. Nhưng ngày có phải lễ quan trọng hơn nghĩa không, điều đó cần phải bàn. Thực tế cho thấy, nếu đánh giá một con người, một gia đình mà chỉ xét qua cánh hành lễ nghi thôi không xét về nghĩa thì quả là thiếu sót. Bỡi có nhiều người trong xã hội hàng ngày hành sự có thừa lễ nghi nhưng nghĩa thì lại thiếu, cũng chính vì thiếu nghĩa ở đời mà sinh ra nhiều lễ nghi không phù hợp lại lãng phí thời gian tiền của, nên không hợp với lòng người và làm sai lễ, không đúng với giá trị thuần túy của lễ. Nghĩa ở đây thể hiện vai trò trách, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình dòng họ, ồng bà cha mẹ, vợ con, anh em bằng hữu cũng là nghĩa. Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa. Tại sao có nhiều người luốn biết quan tâm giúp đỡ mọi người trong xã hội, làm từ thiện tri ân với đời… cũng vì họ sống có nghĩa với đời, với cuộc sống hiện tại, họ biết cho khi đã nhận. Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình. Có những việc có thể họ chưa biết hành xử sao cho đúng với lễ nghi, nhưng giá trị thực trong con người thực của họ qua những việc làm nghĩa thì sẽ được mọi người người trong xã hội nhận ra và tôn trọng. Còn hơn là những lễ nghi mang tính chất hình thức mà không có nghĩa. Vì vậy phải chăng ngày ngay chữ nghĩa cần đặt trước chữ lễ.

   Nếu muốn làm được việc nghĩa thì phải có trí, phải có một sự hiểu biết nhất định ở xã hội. Có nhân,

có nghĩa mà không có trí thì chẳng khác nào một người lính ra trận chỉ có áo giáp mà không có gươm, đao, chỉ bảo vệ được mình mà không bảo vê được người khác. Sống ở đời nếu chí sống cho riêng ta thì đơn giản quá, mà muốn giúp đỡ được người khác tất mình phải có tài, có hiểu biết. Trí là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả. Nếu như ngày xưa đánh giá chữ trí của một con người qua sự hiểu biết về đạo quân tử, triết lý khổng giáo, lão giáo hay phật giáo thì ngày nay ngoài sự hiểu biết về lĩnh vực văn hóa xã hội, triết học thì cần có một sự hiểu biết về khoa học tự nhiên, bước sang thế kỷ XXI, với cuộc sống hiện đại, thông tin chóng mặt thì điều đó là cần thiết. Hiểu biết nhiều có thể làm được nhiều việc có ích với đời nếu người đó có nhân, có nghĩa trong tâm.

  

 Có trí mà không có tín thì chưa phải là điều tốt, ai đó có tài nhưng lại không có được uy tín, lòng tin đối với người khác thì cũng chẳng được ai tôn trọng. Chữ tín  trong cuộc sống hàng ngày rất quan trọng, dù thời xưa hay thời nay thì sống ở đời mọi người cũng cần có một uy tín nhất định trong quan hệ với mọi người xung quanh. Thời xưa cái uy tín với bạn bè luôn được đánh giá cao, uy tín đó sẽ gây dựng được lòng tinh, mọi người tin tưởng sẽ dễ dàng được mọi người giúp đỡ trong cuốc sống. Nói thì phải làm, sống trung thực với mọi người, với bản thân. Ngày nay cũng vậy cho dù anh có tài nhưng không có được uy tín thì cũng chẳng ai theo, muốn được người khác giúp đỡ thì bản thân mình phải giữ được lòng tin trước mọi người, chưa nói đến trong quan hệ làm ăn ở xã hội, chữ tín cái uy tín trong công việc luôn đặt lên hàng đầu, quyết định đến sự thành công.

   Có được nhân, nghĩa, trí, tín tất lễ cũng phải có, bốn chữ trên gân như bao gồm cả một nhân cách con người thì lý gì lễ không có? Chí ít gì cũng hiểu biết thế nào là lễ và vì sao gọi là lễ ở đời. Vì vậy nếu nói: Người xưa thì NHÂN, LÊ, NGHĨA, TRÍ, TÍN Còn người nay thì NHÂN, NGHĨA, TRÍ, TÍN, LỄ thì cũng không gì là quá. Nhưng cho dù là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín hay nhân, nghĩa, trí, tín, lễ đi chăng nữa thì sự gắn kết cũng như mối tương quan bổ trợ giữa năm chữ trên cũng không bao giờ thay đổi được. Năm chữ trên



TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...