Chữ nhân là biểu hiện của con người giữa đời thường,
được thể hiện qua cách đối nhân xử thế; yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, chia sẻ
với mọi người. Đặc biệt, đây không chỉ là đức tính cần thiết mà chính là trách
nhiệm của mỗi cá nhân; là sợi dây liên kết, ràng buộc giữa người với người và
thể hiện nghĩa tình qua các mối quan hệ như: vua – tôi, vợ – chồng, cha – con,
anh – em.
Lễ hay cũng
chính là lễ nghi, lễ giáo. Đây cũng chính là một truyền thống tốt đẹp từ thời
ông cha chúng ta. Để thể hiện sự tôn trọng, và giúp cho mối quan hệ giữa người
với người trở nên hài hòa hơn thì chắc chắn sẽ không thể thiếu đi lễ. Hay khi
chúng ta chịu nhận ân huệ từ những người khác thì điều chúng ta cần làm chính
là “trả” lễ cho họ. Đặc biệt, lễ còn được xem là một nét đẹp trong văn hóa của
dân tộc. Bởi khi có việc gì quan trọng sẽ không thể thiếu được lễ. Điều quan
trọng nhất ảnh hưởng đến lễ chính là ánh sáng và hình thức đặc trưng, còn được
gọi là Tế tự.
Chữ nghĩa xuất hiện rất nhiều trong đời sống hàng ngày
của mỗi chúng ta, trong sự dạy dỗ và dẫn dắt một con người theo lẽ sống phải
đạo và được coi là chuẩn mực, hành vi mà con người cần hướng đến.
Niềm tin vào chính nghĩa luôn chiến thắng tà ác; biểu tượng của thiên đạo được gọi là nghĩa. Hay nghĩa còn là sự công bằng, lẽ phải hợp với đạo lý chung; sự nhận thức đúng đắn về chân lí những điều này sẽ không dễ dàng bị biến đổi.
Theo Đức Phật,
trí tuệ và sức khỏe là tài sản lớn nhất của mỗi người. Trí tuệ hay trí huệ,
trong đó bảo gồm: trí là quán thấy và huệ là hiểu rõ. Trí tuệ là sự sáng suốt,
tinh thông, am hiểu và nhanh nhạy về trí óc. Đặc biệt, khi sở hữu trí, người đó
sẽ không dễ dàng rơi vào u mê tội lỗi và thể hiện sự hiểu biết minh bạch, tường
tận.
Tín là niềm
tin, giữ điều hẹn ước và thực hiện đúng như lời đã nói ra. Người biết giữ chữ
tính là người coi trọng lòng tin của người khác đối với mình và là người biết
trọng lời hứa, đáng tin cậy.
Bàn về Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín: xưa và nay
Việt Nam đã có
hơn nghìn năm lịch sử phong kiến, và nho giáo luôn là tư tưởng chủ đạo trong
đời sống chính trị, văn hóa của dân tộc. Cho đến hôm nay cũng không thể phủ
nhận những giá trị văn hóa to lớn mà tư tưởng nho giáo để lại trong đời sống xã
hội. Nói đến tư tưởng nho giáo người ta không thể không nhắc đến năm chữ Nhân,
Lễ Nghĩa, Trí, Tín. Dù đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, cho đến bây giờ
những giá trị nhân văn của tư tưởng đó thể hiện qua năm chữ trên vẫn không mất
đi giá trị. Song ở mỗi thời mỗi khác và hôm nay
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cũng gắn liền với sự chuyển biến của xã hội
hiện tại, ở một khía cạnh phương diện nào đó đã thể hiện với những tư tưởng và
cách suy nghĩ không giống xưa, cũng như tâm quan trọng của mỗi chữ thể hiện
trong thứ tự sắp xếp, điều đó cần được bàn thêm.
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín hay Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Lễ ?
Thời nào cũng vậy, chữ nhân luôn đặt lên hàng đầu, là
quan trọng hơn cả, nó đã là bao quát, là đạo làm người. Dù thời xưa hay thời
nay chữ nhân đó vẫn thể hiện trong cách sống, lối sống của mỗi con người. Cách
đôi nhân xử thế, tấm lòng của người giữa đời thường, cũng như vai trò trách
nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Chữ nhân trong mõi người không chỉ là một tấm
lòng, tấm lòng yêu thương con người, quê hương đất nước mà còn biết gắn cái
riêng của mình vào cái chung của xã hội hiện tại, với sự ràng buộc giữa người
với người, bằng những mối liên quan gắn kết. Người xưa cho rằng chữ nhân thể
hiện qua nhiều luân thường đạo lý: Vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em
bằng hữu… Nam thì Tam cang ngũ thường ( Tam cang : ba mối quan hệ giữa vua –
tôi, cha- con, vợ – chồng . Ngũ thường : Chính là năm yếu tố để trở thành nhân cách một con người: Nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín ). Điều đó thể hiện rõ nét trong tư tưởng nho giáo với mối quan
hệ giữa vua – tôi thế nào, cha – con ra sao… Cũng như chữ trung luôn đặt trên chữ hiếu. Quân bảo thần tử , thần bất tử bất trung (
Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là không trung ). Đó thể hiện cái suy
nghĩ của chế độ phong kiến quân chủ tập quyền. Nhưng suy nghĩ đó ngày nay đã
không còn phù hợp, một cá nhân trong cuộc sống đất nước thì cần phải suy nghĩ
gì trước vận mệnh chung của dân tộc, tất nhiên là phải vì lợi ích chung, cái lợi
của nhân dân, của dân tộc chứ không phải vì một lợi ích riêng của cá nhân nào.
Còn theo ngôn ngữ khoa học thì nhân ( hạt nhân ) nghĩa là cái trung tâm, cái
quan trong, cơ bản nhất của mỗi vật chất. Con người cũng vậy, nhân không chỉ thể hiện cái riêng của mỗi cá nhân
mà còn là một tấm lòng bao la của con người khi gắn cái riêng đó với cái chung
trong cuộc sống xã hội đời thường. Nữ thì Tam tòng tứ đức (Tam tòng: Sống theo
cha, có chồng theo chông, chồng mất thì theo con. Tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh,
Công: là sự giỏi gian, đảm đang trong công việc, Dung: nhan sắc người phụ nữ,
Ngôn: lời ăn tiếng nói, cách ứng xử lễ phép, Hanh: cái trinh tiết, tiết hạnh
của người phụ nữ- ý nói cần giữ gìn ). Có nhất thiết phải ở vậy theo con khi mà
người chồng chăng may mất sớm không? Chẳng lẽ không cho người phụ nữ cái quyền
được sống, được có hạnh phúc mới khi còn tuổi xuân sao? Đối với một số dân tộc
như Champa, hay đời nhà Tần bên Trung Quốc thời xưa còn có tục khi người chống
mất người vợ phải chết theo, nhất là đối với những bậc vua chúa. Làm vậy chẳng
phải là quá khắc khe, ích kỷ và tàn nhẫn đối với người phụ nữ sao? – Điều đó
ngày nay đã hoàn toàn không còn phù hợp. Công ở thời xưa và thời nay đã không
còn giống nhau trên phương quan điểm, nhất là đối với người phụ nữ ngày nay
ngày càng có nhiều quyền bình đẳng hơn. Có một thực tế là ở chế độ phong kiến
ngày xưa quan niệm xem nhẹ vai trò người phụ nữ, cũng như tư tưởng trọng nam
khinh nữ đã ăn sâu vào suy nghĩ của mọi người, như ngày nay có thể nói điều đó
đã dân thay đổi. Mọi người cần phải thay đổi lại cách suy nghĩ và nhìn nhận
đúng về vai trò người phụ nữ. Người xưa cho rằng , người phụ nữ đảm đang thì
chỉ cần gói gọn trong việc nâng khăn sửa túi cho chồng, chăm lo con cái, gia
đình chứ không cần có một công việc riêng tư. Nhưng ngày nay thì đã khác, người
phụ nữ cũng có một công việc riêng tư như bao người đàn ông, một cuộc sống tự
lập chứ đâu cần phải theo ai! Điều đó chứng minh qua xã hội ngày nay có nhiều
người phụ nữ thành đạt, họ không chỉ chăm lo tốt chồng con, gia đình mà thành
công trong công việc chuyên môn, có một địa vi nhất định trong xã hội mà nhiều
người đàn ông cũng phải ao ước, ngưỡng mộ theo chứ chưa nói gì đến những người
phụ nữ là lãnh đạo, nguyên thủ của một quốc gia. Điều đó cũng đã đủ nói lên vai
trò to lớn của người phụ nữ ngày nay. Dung là nhan sắc, ở mọi thời đại đó vẫn
là một lợi thế của họ, thế mạnh trời cho này của người phụ nữ nếu họ biết ăn
nói dịu dàng lễ phép , kính trên nhường dưới, giao tiếp nhã nhặn với mọi người
xung quanh đúng như trong chữ ngôn nữa thì đó là điều tuyệt vời. Ngày nay quan
niệm về hanh – trinh tiết của người phụ nữ đã không còn khắc khe như xưa, nhưng
đó cũng là điều mà người phụ nũ luôn trân trọng, giữ gìn- nhất là đối với những
người phụ nữ Á đông với tư tưởng văn hóa phương đông, bao đời đã tạo nên một
nét riêng so với người phụ nữ phương tây và được mọi người trong xã hội đánh
giá cao. Tất cả những đều trên khẳng định một điều rằng: Đối với mỗi người thì
chữ nhân không thế thiếu được.
Với người xưa họ rất xem trọng lễ vì vậy sau chữ nhân là lễ . Xem qua cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời. Chữ lễ ở đây không chỉ là lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới trong đạo vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em mà còn thể hiện qua những hình thức lễ nghi theo truyền thống đương thời, cũng chính vì thế mà có nhiều lễ nghi rờm rà, tốn kém, nhưng là điều không thể thiếu khi hành xử một việc gì đó cho là quan trọng, để rồi nó trở thành một nét văn hóa của dân tộc. Họ cho răng có lễ rồi mới có nghĩa, và ngày nay lễ cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong văn hóa giao tiếp ứng xử của mọi người trong xã hội. Nhưng ngày có phải lễ quan trọng hơn nghĩa không, điều đó cần phải bàn. Thực tế cho thấy, nếu đánh giá một con người, một gia đình mà chỉ xét qua cánh hành lễ nghi thôi không xét về nghĩa thì quả là thiếu sót. Bỡi có nhiều người trong xã hội hàng ngày hành sự có thừa lễ nghi nhưng nghĩa thì lại thiếu, cũng chính vì thiếu nghĩa ở đời mà sinh ra nhiều lễ nghi không phù hợp lại lãng phí thời gian tiền của, nên không hợp với lòng người và làm sai lễ, không đúng với giá trị thuần túy của lễ. Nghĩa ở đây thể hiện vai trò trách, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình dòng họ, ồng bà cha mẹ, vợ con, anh em bằng hữu cũng là nghĩa. Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa. Tại sao có nhiều người luốn biết quan tâm giúp đỡ mọi người trong xã hội, làm từ thiện tri ân với đời… cũng vì họ sống có nghĩa với đời, với cuộc sống hiện tại, họ biết cho khi đã nhận. Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình. Có những việc có thể họ chưa biết hành xử sao cho đúng với lễ nghi, nhưng giá trị thực trong con người thực của họ qua những việc làm nghĩa thì sẽ được mọi người người trong xã hội nhận ra và tôn trọng. Còn hơn là những lễ nghi mang tính chất hình thức mà không có nghĩa. Vì vậy phải chăng ngày ngay chữ nghĩa cần đặt trước chữ lễ.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét