Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂN NGHĨA TRONG ĐỜI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂN NGHĨA TRONG ĐỜI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2024

ÂN NGHĨA TRONG ĐỜI- Phần II


 Phật dạy ân nghĩa là gốc của con người

Mục lục

1-Trong lý niệm của cổ nhân

2- Trong văn học

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Chi tiết

Ân nghĩa là một truyền thống luân lý đạo đức được truyền từ ngàn xưa đến nay. Bất cứ dân tộc nào, đất nước nào cũng đều lấy ân nghĩa làm trọng yếu. Nhớ ơn và đền đáp công ơn đó là một quy luật đạo đức và cũng là hạnh nguyện lớn nhất của người con Phật.

1-Ân Nghĩa cha mẹ

 Người con hiếu thảo là hết lòng cung kính và dưỡng nuôi cha mẹ dù bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không nệ hà hay phiền trách. Ai luôn biết hiếu dưỡng với cha mẹ là người sống có nhân cách đạo đức, nên dễ thành công trên đường đời. Nếu chúng ta chỉ nuôi dưỡng cho cha mẹ bằng vật chất thì gọi là hiếu thế gian, còn những ai biết hướng dẫn cha mẹ quy hướng về Phật pháp, tin sâu nhân quả, tránh dữ làm lành là hiếu dưỡng cao thượng.

Nếu nói về hiếu gồm có 4 phương diện: Hiếu dưỡng, hiếu tâm, hiếu hạnh và hiếu đạo.

- Hiếu dưỡng: Nghĩa là cung kính dưỡng nuôi cha mẹ đầy đủ về phương diện vật chất từ thức ăn uống, chỗ ở cho đến thuốc thang mỗi khi bệnh hoạn hay những lúc già yếu. Người Phật tử chân chính nếu biết cúng dường Tam Bảo, làm từ thiện để giúp đỡ người khác thì trước tiên phải biết cung kính hiếu thảo với cha mẹ mình.

- Hiếu tâm: Cung cấp và dưỡng nuôi cho cha mẹ là trách nhiệm và bổn phận của con cái. Tuy nhiên, không ít trường hợp người con báo hiếu cha mẹ không thật lòng, chẳng qua là vì hoàn cảnh bắt buộc. Cho nên, con cái cung kính hiếu thảo với cha mẹ, một lòng mong muốn cha mẹ được an vui, hạnh phúc gọi là hiếu tâm.

- Hiếu hạnh: Báo hiếu nghĩa là một trách nhiệm thiêng liêng và cao quý của con cái, báo hiếu là truyền thống tốt đẹp, là một nếp sống đạo đức được truyền thừa lại cho con cháu. Nếu nói cho đúng nghĩa, báo hiếu là việc làm của người giác ngộ, của các vị Bồ-tát. Chính vì vậy, ai đã làm người phải xem việc báo hiếu là một nghĩa vụ thiêng liêng của đời mình.

- Hiếu đạo: Con người ở đời nhờ ơn cha mẹ mà lớn lên, cho nên đạo lý làm người là phải biết nhớ ơn và đền trả công đức sinh thành của bậc song thân. Đây là đạo lý nền tảng giúp cho mọi người sống phải có ý thức trách nhiệm, về mọi hành vi đạo đức ở đời nhằm thăng hoa cuộc sống mà hoàn thiện chính mình, bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.

Một người con dù trai hay gái, phải biết báo đáp công ơn sanh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Việc báo hiếu đó phải thực hiện trên hai phương diện là vật chất và tinh thần.

- Báo hiếu phương diện vật chất: Những điều cần thiết mà người con cần phải phụng dưỡng cha mẹ là thức ăn, đồ mặc, chỗ ở, thuốc men, giải trí. Đặc biệt khi cha mẹ già yếu mất sức lao động thì con cái phải có trách nhiệm dưỡng nuôi cha mẹ. Tuy nhiên, việc làm ra của cải vật chất để phụng dưỡng cha mẹ bằng đôi bàn tay và khối óc của mình một cách lương thiện. Trong kinh Phật dạy: “Người con vì cha mẹ mà làm các điều xấc ác để báo hiếu cho cha mẹ, người ấy sẽ bị đọa lạc vào chỗ thấp kém.

- Báo hiếu phương diện tinh thần: Theo đạo Phật, báo hiếu về phương diện tinh thần không chỉ đơn thuần là làm cho cha mẹ luôn được vui vẻ, hạnh phúc, mà còn phải hướng cha mẹ tin sâu nhân quả, dứt ác làm lành, biết buông xả và sống đời bình yên, hạnh phúc.

Tóm lại, con người dù ở địa vị giàu sang hay nghèo khó, dù đẹp đẽ hay xấu xí, dù thông minh hay ngu dốt… tất cả đều nhờ vào công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Do đó, bổn phận làm con phải biết nhớ tưởng và báo đáp công ơn cha mẹ bất cứ hoàn cảnh nào. Như chúng ta đã biết, nền tảng đạo đức con người được xây dựng trên tinh thần của lòng biết ơn và đền ơn.

2-Ân Nghĩa thầy

 Giúp ta mở rộng kiến thức, thầy dạy cho ta biết đọc, biết viết, biết ăn ở hiền lành phải đạo làm người, biết những điều hay lẽ phải, cốt để làm cho mình trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Cho nên ngạn ngữ có câu: ”Không thầy đố mầy làm nên”.

Chẳng những thầy dạy cho ta hiểu biết mà còn dạy cho ta biết nghiệm xét, suy tư quán chiếu làm cho trí tuệ phát sinh, để chúng ta có thể thấy biết đúng như thật, mọi vấn đề của sự sống.

Nhờ có thầy luôn khuyến khích, nhắc nhỡ, chỉ dạy, chính vì vậy mà chúng ta được động viên an ủi khi buồn vui, giúp ta vượt qua mọi chướng duyên nghịch cảnh để làm mới lại chính mình bằng trái tim thương yêu và hiểu biết.

 

3-Ân Nghĩa Tam bảo


 Đối với Phật-Pháp-Tăng là ba ngôi quý báu, hiếm có khó được nên người Phật tử có những trọng ân như sau:

- Ân Phật Bảo: Khổ đau của chúng sinh do già bệnh chết chi phối, làm cho người ta phải tái sinh luân hồi sống chết không có ngày thôi dứt, khi thì hưởng phúc báu cõi trời người, khi thì bị đọa ba đường ác địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Bồ-tát Sĩ Đạt Ta đã tìm ra con đường giải thoát mọi ràng buộc khổ đau đó, bằng sự tu chứng của chính mình, là người Phật tử chân chính chúng ta phải nhớ đến ân đức của Ngài:

Ai đã làm được như Phật? Ngài đã dám lìa bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, bỏ thần dân thiên hạ để đi tìm con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn giúp cho mình và người, biết cách thoát ra khỏi khổ đau sinh, già, bệnh, chết.

Trước khi thành đạo đức Phật đã năm năm tu với hai vị thiền sư nỗi tiếng thời bấy giờ nhưng không đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát nên Ngài từ giã ra đi. Rồi Ngài tự tu sáu năm khổ hạnh nơi rừng già cùng với nhóm ông Kiều Trần Như, nhịn đói, chịu rét trong chốn rừng già hiu quạnh, thậm chí có ngày chỉ ăn một hạt mè hay hạt bắp.

Thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh: Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh cực đoan, Ngài quay trở về lối tu trung đạo, không lợi dưỡng, không ép xác, ăn vừa đủ no ngày một bữa, tham thiền và chứng đắc Phật quả chấm dứt khổ đau sống chết. Ngài thấy chúng sinh trôi lăn trong ba cõi sáu đường đều do mình tạo ra, mình làm lành được hưởng phúc, mình làm ác chịu khổ đau, không ai có khả năng ban phúc hay giáng họa! Ngài đem chân lý do tu chứng và thấy biết đúng như thật, chỉ dạy lại cho mọi người tu tập để được giải thoát luân hồi sinh tử.

- Ân Nghĩa Pháp bảo: Nhờ có kinh điển lưu truyền đến ngày nay chúng ta mới biết giáo lý của đạo Phật, do đó Pháp bảo chỉ cho chúng ta hiểu được cuộc đời là vô thường giả tạm, bởi yêu thương xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được như ý khổ và vô vàn nỗi khổ niềm đau khác.

- Chỉ dạy phương pháp tu học: Người xuất gia muốn giác ngộ, giải thoát xa lìa sinh tử Phật chỉ dạy pháp tứ Thánh đế diệt khổ, pháp tu thành Phật. Người tại gia do còn gia đình người thân nên Phật dạy quy hướng Tam bảo, giữ năm giới, tu mười điều thiện, hành Bồ-tát đạo cho đến khi thành Phật viên mãn mới thôi.

- Bình đẳng tu chứng: Đức Phật trước kia là một con người lịch sử giống như tất cả mọi người chúng ta, Ngài cũng được sinh ra từ bụng mẹ, vẫn hưởng thụ ngũ dục như mọi người, nhưng do quyết tâm lìa bỏ nên đã tu chứng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta cũng là con người, nếu cố gắng buông xả hết mọi vọng niệm và gieo trồng phước đức đầy đủ, thì cũng sẽ có ngày thành Phật viên mãn.

Để tạo sự an lạc cho tất cả mọi người, đem lại hòa bình cho thế giới, Phật dạy chúng ta hãy tin sâu nhân quả, tránh dữ làm lành, phát triển tâm từ bi rộng lớn thương yêu bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù.

- Ân Nghĩa Tăng bảo: Tăng là những người đã lìa bỏ gia đình, là đoàn thể sống an vui hạnh phúc, vừa học, vừa tu, vừa dấn thân truyền bá giáo lý Phật đà nên ân này rất to lớn.

- Duy trì chính pháp: Những vị Tăng tu hành giữ gìn giới luật tinh nghiêm, từ bỏ ngũ dục lạc thế gian để sống đời đơn giản đạm bạc, muốn ít biết đủ và từ bi trí tuệ làm cho giáo lý Phật đà tồn tại ở thế gian, nhờ đó chúng ta mới biết đạo Phật, biết phương pháp tu học giác ngộ, giải thoát.

- Thay Phật hóa độ chúng sinh: Tăng là những vị có nhiệm vụ truyền trì Phật pháp, đem giáo lý nhân quả làm lành được hưởng phúc, làm ác chịu khổ đau, do mình là chủ nhân của bao điều họa phúc và kế thừa sự nghiệp đức Phật để giáo hóa cho mọi người tu học.

- Truyền trao giới pháp: Chúng ta muốn phát tâm cầu học đạo từ bi và trí tuệ trước tiên phải quy y Tam Bảo, phát nguyện giữ từ một giới cho đến khi nào giữ tròn năm giới viên mãn, chính những vị Tăng sẽ thay Phật truyền trao giới pháp này, giúp cho chúng ta tu học bền vững và lâu dài.

Ngoài những ân như cha mẹ, ân thầy tổ, ân Tam bảo, còn có một ân nữa là ân quốc gia xã hội.

4-Ân Nghĩa Quốc gia xã hội

 Chúng ta sống trong một đất nước, sống yên ổn, ấm no và hạnh phúc, không bị chiến tranh là nhờ quốc gia và xã hội góp phần duy trì và gìn giữ, cho nên chúng ta đã thọ những ân nghĩa như sau:

- Làm tròn bổn phận công dân: Trước tiên là một công dân là phải đóng góp vào việc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, sự độc lập của quốc gia, dân tộc, góp phần bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người dân. Phát huy sáng tạo kỹ nghệ, kinh doanh thương mại làm cho đất nước ngày càng phát triển hưng thịnh, bền vững và lâu dài.

- Phát huy văn hóa và bảo vệ những truyền thống tốt đẹp dân tộc: Người Phật tử cũng là một công dân, có bổn phận gìn giữ phát huy nền văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một đất nước có trên bốn ngàn năm lịch sử văn hiến, và lấy đạo thờ ông bà tổ tiên làm nền tảng, kết hợp với tâm linh Phật giáo để duy trì di sản văn hóa ông cha ta để lại, chúng ta cần phải gìn giữ và phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp đó.

Những truyền thống tốt đẹp đó, như thời cực thịnh của Phật giáo đời Trần đã 3 lần đánh đuổi quân xâm lược Mông Cổ, 1000 năm không bị đồng hóa và lệ thuộc nước Tàu, cùng với 100 năm Pháp thuộc, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần dân tộc, giữ gìn biên cương bờ cõi, bảo toàn độc lập và giữ trọn vẹn bản sắc văn hóa tốt đẹp con Rồng cháu Tiên.

Giữ vẹn biên cương bờ cõi, bảo toàn độc lập: Nhờ có quốc gia giữ gìn, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và bảo toàn sự trọn vẹn về độc lập. Một đất nước nếu bị mất chủ quyền, mất độc lập thì dân chúng sẽ bị sưu cao, thuế nặng, làm lụng vất vả mà không có quyền bình đẳng về con người.

Nhờ sự đồng lòng tích cực của toàn dân mỗi người đều có trách nhiệm công ăn việc làm riêng, hòa hợp trở lại để cùng đảm bảo an sinh đời sống cho tất cả mọi người. Một người dù có tài giỏi đến đâu, cũng không thể nào làm đủ những nhu cầu cần thiết cho chính bản thân mình tiêu dùng trong ăn, mặc, ngủ nghĩ và làm việc.

Ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm gạo ăn, ta không nuôi tằm dệt vải nhưng vẫn có quần áo để mặc, rồi tất cả những nhu cầu khác cũng lại như thế, chúng ta đều nương nhờ lẫn nhau để bảo tồn mạng sống. Xã hội đã phân công cho mỗi người một nghề, một trách nhiệm để làm một công việc nhằm đáp ứng các nhu cầu cần thiết để cho con người, đảm bảo an sinh đời sống tốt đẹp.

Tóm lại, vâng theo Phật dạy tất cả chư Tăng, Ni là những người có nhiệm vụ quan trọng và cao cả, kế thừa sự nghiệp duy trì chính pháp được lưu bố rộng khắp nhân gian, vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho tất cả mọi người dứt ác làm lành để sống đời bình yên, hạnh phúc.

Còn người Phật tử tại gia, có trách nhiệm hộ trì Tam bảo được trường tồn ở thế gian này, để giúp cho chư Tăng, Ni có thời gian tu học đến nơi đến chốn để dấn thân đóng góp từ thiện và giáo dục tâm linh, với tinh thần “tốt đạo đẹp đời”. Chúng ta tu học theo hạnh nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm luôn đồng hành, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, đem niềm vui đến với mọi người và sẵn sàng san sẻ nỗi khổ niềm đau, với tấm lòng vô ngã, vị tha.


 

ÂN NGHĨA TRONG ĐỜI- Phần mở đầu

 Lời giới thiệu.

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” Câu hát mang đến cho ta nhiều suy ngẫm về cuộc đời nhất là về lòng Ân nghĩa . Để cuộc sống của chúng ta được trọn vẹn và tốt đẹp hơn, chúng ta hãy sống có lòng Ân nghĩa .

Ân nghĩa là truyền thống luân lý đạo đức lưu truyền từ ngàn xưa đến nay. Bất kì nền văn hóa nào cũng đều lấy ân nghĩa làm trọng. Ông cha ta đã dạy: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”. Nhớ ơn và đền đáp công ơn là quy tắc đạo đức và cũng là một trong những hạnh nguyện lớn của con người . Do vậy, những lời dạy của Cổ Nhân rất gần gũi, là tình thương bao la đối với mọi người và cả cỏ cây, quê hương đất nước. Giáo lý của Thiện Nhân đi vào lòng người vì thấm nhuần tính nhân bản. Thiện Nhân không dạy những gì cao siêu xa xôi mà chỉ cho ta nhìn thẳng vào thực tại. Thiện Nhân dạy ta về bốn trọng ân, thức tỉnh bao con người phải nhớ đến bổn phận của mình. Ân Nghĩa là những đạo lý quan trọng, là nền tảng đạo đức căn bản của con người.

Mục lục bài viết

Phần I :Tản mạn về chữ “Nghĩa”

1-Trong lý niệm của cổ nhân

2- Trong văn học

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Phần II :Phật dạy ân nghĩa là gốc của con người

1-Ân Nghĩa cha mẹ

2-Ân Nghĩa thầy

3-Ân Nghĩa Tam bảo

4-Ân Nghĩa Quốc gia xã hội

Phần III:Quan điểm nho giáo về ân nghĩa

1. Ân nghĩa là gì?

2. Giới thiệu về Nho giáo:

3. Tư tưởng Ân nghĩa trong Nho giáo

4. Nội dung bao quát của “Ân nghĩa”

Phần IV: Tư tưởng “Ân nghĩa”  tại Việt Nam

1-Ân nghĩa là gì?

2-Biểu hiện của Ân nghĩa

3-Ví dụ về Ân nghĩa

4-Ý nghĩa của Ân nghĩa

5-Cách rèn luyện lòng Ân nghĩa

ân nghĩa trong đời- Phần mở đầu

Phần I :Tản mạn về chữ “Nghĩa”

Mục lục

1-Trong lý niệm của cổ nhân

2- Trong văn học

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Chi tiết

1-Trong lý niệm của cổ nhân

Các bậc hiền đức thời xưa đều có tín niệm kiên định phi thường, không bởi vì lâm vào nghịch cảnh, không bởi vì đối mặt với sinh tử, không bởi vì cám dỗ trước công danh lợi lộc mà vứt bỏ tiết tháo, phẩm chất, Ân nghĩa của mình. Họ, nam có, nữ có, đã ở trong các hoàn cảnh khác nhau mà đặt định cho hậu thế nội hàm bao la của chữ “Nghĩa”, trở thành những tấm gương trung trinh, liệt nghĩa cho người đời sau.

Chữ “Nghĩa”  Mang hàm nghĩa rằng con người ta có thể quên đi bản thân mà hiến dâng cho điều cao quý, cho chính đạo trong Trời đất.

Xưa kia, khi bị áp giải đến Yên Kinh vì chống quân Nguyên Mông, Văn Thiên Tường đã từng viết:

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”

“Đời người xưa nay ai không chết?

 Lưu lại lòng son rọi sử xanh”,

Hai câu này đã trở thành một áng thơ tuyệt mỹ để tỏ bày lòng tin chính nghĩa không thể lu mờ. Nhìn lại dòng sông dài lịch sử, những cá nhân cao quý như vậy không thời nào là không có.

Hơn 100 năm trước, cụ Phan Thanh Giản vì không giữ được thành Vĩnh Long mà vào một chòi tranh, tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống á phiện với dấm thanh để tự vẫn trong sự van xin của con cháu.

Cụ Hoàng Kế Viêm là phò mã nhà Nguyễn, bác dượng vua Tự Đức, thế mà chống lệnh triều đình, nhiều năm dẫn quân chống Pháp, lại ngầm giúp đỡ các cuộc khởi nghĩa, khiến người Pháp phải kính sợ.

Hơn 200 năm trước, tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không giữ nổi thành Bình Định, một người tự thiêu, một người uống thuốc độc tự sát, để khỏi liên lụy binh lính toàn thành.

Đôi vợ chồng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu kiên tâm chống giữ nhà Tây Sơn. Đến khi bị bắt, được vua Gia Long gia ân mà Trần Quang Diệu vẫn tạ từ: “Nhận chức quan của triều đại mới thì không phải là trượng phu”, để rồi bị giết.

Hơn 600 năm trước, Lê Lai mặc áo vàng, dẫn hai con voi và 500 quân tới trại giặc khiêu chiến, dũng cảm đánh cho đến khi bị bắt, bị xử cực hình cực ác, vậy mà chưa từng hé răng. Tất cả chỉ vì để Lê Lợi thoát đi, sau này đánh bại quân Minh, lập ra triều đại quân chủ thịnh thế nhất trong lịch sử đất nước.

Hơn 700 năm trước, Trần Tử Đức dẫn quân Ngũ Yên tinh nhuệ chặn giặc Nguyên Mông, phía sau lưng ông, vua Trần rút lui tổ chức quân đội, dân chúng thành Thăng Long khẩn trương di tản. Sau hơn 10 ngày chặn giặc làm tròn nhiệm vụ, bị giặc vây, ông tuẫn quốc. Phu nhân của ông là Bùi Thiệu Hoa dẫn quân đến nơi an toàn, làm lễ tế chồng, rồi tự tử chết theo.

Trên bình diện cá nhân mà nói, con người khi sinh ra chỉ có một tấm thân trần, khi chết đi cũng chỉ có hai bàn tay trắng. Dẫu đứng trên đỉnh cao của tiền tài, danh vọng, phú quý, tới khi nhắm mắt xuôi tay hết thảy đều về không. Điều có thể lưu lại chính là tấm lòng Ân nghĩa .

2- Trong văn học.

Thời cổ đại, các cuộc chinh chiến, thảo phạt, dẫu là dùng bạo lực và đánh giết làm phương tiện, cũng vẫn phải lấy điều kiện tiên quyết là “Nghĩa”. Bởi vậy Mạnh Tử nói: “Ta nghe Chu Vũ Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chứ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ”. Chu Vũ Vương là vị vua sáng lập triều Chu trong lịch sử. Trụ Vương là vị vua cuối cùng của nhà Thương. Chu Vũ Vương khởi binh đánh vua Trụ vô đạo, sau đó lên ngôi vua. Mạnh Tử cho rằng vì Trụ Vương vô đạo, nên không còn được coi là vua nữa, người có đức hạnh lên thay là hợp với đạo Trời, chính là “Nghĩa” vậy.

Các tác phẩm của cổ nhân không phải tác phẩm nào cũng có thể lấy tên là “diễn nghĩa”. “Phong thần diễn nghĩa”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tùy Đường diễn nghĩa”, những tác phẩm này được xưng là “diễn nghĩa”. “Tây Du Ký” chỉ có thể được gọi là “ký”, “Thủy Hử truyện” cũng chỉ có thể được gọi là “truyện”.

Vì sao lại được gọi là “diễn nghĩa”? Chính là làm rõ hàm ý của chữ “Nghĩa” này. “Phong thần diễn nghĩa” mô tả việc Khương Tử Nha phò tá Chu Văn Vương thảo phạt nhà Thương, đem lại chính nghĩa cho thế gian. “Tam Quốc diễn nghĩa” mô tả cách hành xử chí tình của các cá nhân kiệt xuất tại Ngụy, Thục, Ngô trong thời loạn thế Tam Quốc. “Tùy Đường diễn nghĩa” cũng là lấy lòng yêu thương dân chúng của Lý Thế Dân làm nền tảng chủ đạo. Lương Sơn anh hùng của “Thủy Hử truyện” mặc dù tự xưng là thay Trời hành đạo nhưng lại là một nhóm cường đạo, không thuộc về chính nghĩa, nên chỉ là “truyện”. “Tây Du Ký” mặc dù là ngay chính nhưng không có ý đồ làm rõ nội hàm của chữ “Nghĩa” này nên mới xưng là “ký”.

Có thể thấy rằng trong lý niệm của cổ nhân, dẫu là ở phương diện cá nhân hay ở phương diện xã hội thì “Nghĩa” là sự vô tư vô ngã, phù hợp với chính đạo, phù hợp với Thiên đạo. Bởi vì “Nghĩa” là thể hiện của thiên đạo, cho nên xưa nay con người luôn tin tưởng vững chắc rằng chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng tà ác. Bảo vệ chính nghĩa cũng là trách nhiệm của mỗi người.

Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng: Ta sống tốt, ta cũng không hại ai hết, ta là người lương thiện. Nhưng như thế nào mới là thiện lương đây? Thời điểm giao tranh giữa cái thiện và cái ác, cái chính và cái tà, cái đúng và cái sai, nếu như ai im lặng trước chính nghĩa thì cũng bằng như ủng hộ cái phi nghĩa. Mỗi người không thể thờ ơ trước lựa chọn của bản thân, bởi đó chính là lựa chọn tương lai, là đang tự “diễn nghĩa” cho chính mình.

Từ xưa đến nay con người luôn tin tưởng vững chắc rằng, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng tà ác! Cũng chính bởi, “nghĩa” là thể hiện của thiên đạo, cho nên, bảo vệ chính nghĩa là trách nhiệm của mỗi người…

Lịch sử Việt Nam nối tiếp nhau giữa các triều đại tạo nên những nền văn minh rực rỡ và huy hoàng. Trong dòng sông dài lịch sử, các triều đại nối tiếp nhau không ngừng hình thành những nền văn hóa sống động, đa dạng và phong phú.

Trong 4.000 năm của nền văn minh Việt Nam, tiếp nối viết nên những câu chuyện hào hùng, bi tráng của các triều đại, thịnh, suy, cũng như triển hiển những điển tích, điển cố, diễn dịch sống động, từng triều đại, tạo nên một nền văn hóa huy hoàng trong lịch sử nhân loại.

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

Chữ “Nghĩa” Thể hiện luôn đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân mình..

Người xưa có câu: Kẻ thù của con người là chính mình. Có thể nhìn ra ý này trong chữ “Ngã”. Yêu bản thân không phải là nuông chiều sở thích, nuôi dưỡng dục vọng để thỏa mãn bản thân. Mà là tay lăm lăm cầm vũ khí soi xét bản thân mình, nhìn thấy những nhân tâm bất hảo thì đào xới nó lên, đánh đuổi nó đi, làm cho bản thân mình thuần tịnh. Bản thân thuần tịnh rồi thì có thể tìm về chân ngã tiên thiên của mình.

Chữ “Nghĩa” là quên đi cái tôi vị tư, là vị tha, luôn nghĩ tới người khác, duy trì đạo nghĩa, đạo lý, lợi ích tập thể của những người khác.

-Chữ “Nghĩa” trong lịch sử xưa

Lịch sử Tam Quốc đã khắc họa và diễn giải sâu sắc nội hàm chữ “Nghĩa”, mở đầu là câu chuyện kết nghĩa vườn đào của ba anh em Huyền Đức, Quan Vũ, Dực Đức rồi lần lượt các nhân vật liên tục xuất hiện, phân chia, tranh hùng để rồi mở ra một trang lịch sử một triều đại mới.

Kỳ thực, “Tam Quốc diễn nghĩa” là xuyên suốt nội hàm cao siêu của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý truyền thống. Nó vượt xa khỏi phạm trù như lời nói “từ trên xuống dưới đều là tranh đoạt lợi” của Mạnh Tử. Nó là một loại cảnh giới vô tư, không vụ lợi và được gọi là “Nghĩa”.

Câu chuyện Quan Vũ “đơn đao phó hội” nổi tiếng ngàn năm, sau này đã được các nghệ nhân kể chuyện đời Tống, đời Nguyên chuyển thành một giai thoại tại nhân gian, được dựng thành những vở kịch nổi tiếng.

Một mình Quan Vũ tay vác bảo đao đi dự tiệc nước Ngô, mặc dù biết quân Đông Ngô có âm mưu hại mình, dự tiệc xong một tay nắm chặt Lỗ Túc (Thừa tướng nước Ngô) ra thuyền về thành an toàn. Quân Đông Ngô đã ém binh sẵn bên sông đành phải chịu thúc thủ. Nghĩa khí đó đã làm Lỗ Túc kinh sợ và nể phục.

Quan Vũ vì nghĩa mà thả Tào Tháo đã diễn giải lên đến đỉnh điểm chữ “Nghĩa”. Chúng ta hãy cùng xem lại trích đoạn “Tam Quốc diễn nghĩa” sau:

“Tào Tháo lại tha thiết kể lể: ‘Nhưng còn qua ngũ quan, trảm lục tướng của tôi thì sao? Vậy mà tôi một dạ không oán, lại chạy theo giã biệt hầu mong tặng lễ vật lộ phí đi đường. Tướng quân há quên chuyện Du Công Chi Tư đuổi theo Tử Trạc Nhu Tủ thời Xuân Thu sao? Hôm nay, tôi hoàn toàn là bại tướng xin được cầu an vào phút cuối cùng, Vân Trường là bậc đại tướng khoan dung há không một chút niệm tình ư?’.

Vân Trường suy nghĩ, thấy việc Tào Tháo kể ra không phải là không đúng, nhìn binh Tào người nào người nấy như muốn bật khóc thì Vân Trường động lòng bảo quân dang ra”.

Mặc dù biết thả Tào Tháo là vi phạm quân lệnh, Quan Vũ vẫn lựa chọn thả Tào trả ơn nghĩa khi xưa, xem ra thì bình thường nhưng có mấy ai làm được điều đó. Trước khi ra trận Quan Vũ đã “Lập quân lệnh”, nếu làm trái thì sẽ bị xử trảm theo đúng quân pháp. Vì “Nghĩa” đúng là đã vượt qua cảnh giới sinh tử hoàn toàn không còn nghĩ cho mình…

Lịch sử Tam Quốc đã để lại đời sau biết thế nào là Nghĩa, Trí, Dũng. Chữ “Nghĩa” cũng luôn được người xưa xem trọng, ngay cả giặc cướp cũng phải đề cao chữ “Nghĩa”, khi tập hợp nhau lại, họ gọi là tụ Nghĩa, làm việc phải có đạo Nghĩa, hoặc khi muốn làm việc lớn thường dùng chữ “vì Nghĩa” v.v.

Thời nay, người ta dùng chữ “diễn nghĩa” với hàm ý chỉ một loại hình thức nghệ thuật, như vậy là hoàn toàn sai lầm. Bởi vì, cổ nhân vô cùng coi trọng cách dùng từ ngữ. Không phải rằng, tất cả những chuyện xưa đều có thể lấy tên là “diễn nghĩa”.

 “Phong Thần diễn nghĩa”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tùy Đường diễn nghĩa”, “Thất hiệp ngũ nghĩa”, những tác phẩm này được xưng là “diễn nghĩa”. “Tây du ký” chỉ có thể được gọi là “ký” (ghi chép, ghi lại), “Thủy hử truyện” cũng chỉ có thể được gọi là “truyện”. Từ sự khác nhau về tên gọi, chúng ta có thể nhận thấy nội hàm giữa chúng khác nhau một trời một vực. Bởi vì, chỉ có vì thiện mà chinh chiến, thảo phạt thì mới gọi là “Nghĩa”.

“Phong Thần diễn nghĩa” còn có tên là “Phong Thần bảng”, tổng cộng có 100 hồi. Tên gọi là “Phong Thần diễn nghĩa” cho nên trọng điểm chính là từ “Nghĩa” này. Chính là chỉ việc Khương Tử Nha phụ tá Chu Văn Vương thảo phạt nhà Thương, đem lại chính nghĩa cho nhân dân. Đây là manh mối chính, nguyên nhân chính mà tác phẩm có tên là “diễn nghĩa”.

“Tam Quốc diễn nghĩa” cũng có nguyên nhân chính là từ Ân nghĩa của Lưu Bị mà có tên như vậy. “Tùy Đường diễn nghĩa” cũng là lấy lòng Ân nghĩa , yêu thương dân của Lý Thế Dân làm lý do chủ đạo để có tên “diễn nghĩa”. “Thất hiệp ngũ nghĩa” về cơ bản cũng là như vậy.

Nhân vật chính Lương Sơn hảo hán của “Thủy hử truyện” mặc dù là thay trời hành đạo nhưng lại là một nhóm cường đạo, không có nhân tố thiện nên cũng chỉ có tên là “truyện”. Dùng cường đạo mà dựng truyện nên không thể được xưng là “nghĩa”. “Tây du ký” mặc dù là ngay chính, là tu luyện, không có liên quan đến chiến tranh, cho nên lấy tên là “ký” (ghi chép). Tác phẩm “Hồng Lâu Mộng” cũng tương tự như vậy.

Chỉ có vì chính nghĩa mà chinh chiến thì mới được gọi là “diễn nghĩa”. Do đó, khi chúng ta đọc chuyện xưa phải biết được ý nghĩa chính và tinh thần chủ đạo của nó, có phải chân chính thuộc về thiện hay không.

Thời điểm giao tranh giữa cái chính nghĩa và cái phi nghĩa, nếu như ai im lặng trước cái chính nghĩa thì cũng tương đương với ủng hộ cái phi nghĩa. Mỗi người không thể thờ ơ tước việc bản thân mình lựa chọn và hành xử như thế nào trước chính nghĩa và phi nghĩa, bởi đó chính là cách mỗi người đang tự “diễn nghĩa” cho chính mình!

-Chữ “Nghĩa” trong xã hội hiện nay

Nhìn lại xã hội ngày nay, nhiều người không khỏi băn khoăn “xã hội hiện nay là như thế nào vậy?”, đầy rẫy các vấn đề; lý tưởng sống thay đổi, đạo đức xuống cấp, thứ văn hóa rẻ tiền lên ngôi.

Giá trị truyền thống đang bị thay thế, còn đâu những Võ Tòng vì nghĩa mà trừ hổ giúp dân, những Quan Vũ vì nghĩa mà không màng sống chết. Không còn văn hóa tiến bộ soi đường cho tinh thần, không dùng văn hóa dẫn dắt con người quay về những giá trị đạo đức chân chính thì sự lớn mạnh của văn minh vật chất chỉ khiến xã hội ngày một bất ổn định hơn mà thôi.

 Một tòa cao ốc đồ sộ nguy nga mất nhiều công sức xây dựng, nhưng hoàn toàn có thể sụp đổ trong chốc lát vì một chút bất cẩn của con người, “kiếm củi ba năm thiêu một giờ”. Cho nên nếu chỉ biết chạy theo tiến bộ vật chất mà bỏ quên những giá trị văn hóa tinh thần thì chẳng khác nào cứ cố xây nhà cao mà không chú ý đến sức chịu đựng của cái móng.

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Người ta yêu nhau vì tình và sống với nhau lâu dài vì nghĩa. Chính các gia đình Việt Nam đã chứng minh điều đó.

Các thế hệ cha ông chúng ta lấy vợ không có tình yêu, thậm chí còn không được tìm hiểu.

 "Nhà mình do má tìm cho

Nết ăn nết ở cũng do má tìm".

Vậy mà họ sống với nhau êm thấm cả đời, sinh con đàn cháu đống. Bây giờ yêu nhau hoàn toàn tự do, tìm hiểu rất kỹ, thậm chí còn sống thử trước khi cưới, vậy mà tỷ lệ ly hôn ngày càng tăng và nạn bạo lực gia đình đã đến mức phải báo động. Liên tiếp có những vụ án đau lòng, chồng giết vợ, vợ thiêu sống chồng và nhiều nơi đã phải xây nhà tạm lánh cho những bà vợ trốn khỏi những trận đòn của những kẻ vũ phu.

Tình yêu mặn nồng mấy rồi cũng nhạt dần qua năm tháng, nhưng thời gian cũng có thể làm cho nghĩa vợ chồng ngày một mặn mà hơn. Cái nghĩa được hình thành và củng cố tấm lòng vợ chồng dành cho nhau. Cùng chung sức vượt qua khó khăn xây dựng vun vén tổ ấm gia đình, bát cháo chén thuốc khi đau ốm, sự quan tâm chu đáo trong những việc nhỏ nhất như cái ăn, cái mặc, tất cả làm nên nghĩa vợ chồng và thành điểm tựa của nhau trong suốt cuộc đời. Có khi chỉ vì yêu một cái lúm đồng tiền mà người đàn ông cưới hẳn cả một cô gái. Nhưng khi nếp nhăn hằn sâu trên gương mặt thì cái lúm đồng tiền không còn nữa mà chỉ còn cái nghĩa ở đời với nhau.

Nghĩa vợ chồng được hình thành từ rất nhiều bao dung, nhiều tha thứ, nhiều chấp nhận. Nếu cứ đòi hỏi nhau nhiều quá, soi nhau nhiều quá mà không biết chấp nhận cá tính của nhau thì không hình thành được nghĩa vợ chồng và như thế thì những năm tháng sống chung sẽ là tù ngục; tờ hôn thú sẽ là bản án chung thân.

 Người phụ nữ lãng mạn rất thích nghe câu: "Anh yêu em". Còn người đàn bà thông minh thì quý nhất câu: "Anh rất cần em". Chữ cần trong câu này vô cùng quan trọng.

 Vì cần em nên anh không thể xem thường em. Vì cần em mà anh phải cố hết sức để giữ em ở bên mình, vì anh không thể thiếu em được và đó là sự đảm bảo đầu tiên cho một đời sống hôn nhân bền vững.

Tình yêu ngày càng xa hơn nguyên nghĩa của từ này. Không còn nữa những mối tình một túp lều tranh hai trái tim vàng, tình yêu bây giờ thực dụng hơn, dấu ấn của giá trị vật chất đậm hơn. Quá trình tìm hiểu để yêu nhau nhiều khi có sự đo đếm, tính toán được mất về vật chất. Tấm lòng làm nên nghĩa chứ vật chất không làm nên nghĩa, đơn giản đó chỉ là sự đổi chác mua bán, khi không còn cái gì để đổi nữa, không còn gì để lợi dụng nữa thì gia đình tan vỡ như một sự tất yếu.

Người ta yêu nhau một thời và sống chung với nhau một đời. Khi chữ tình nhẹ dần thì chữ nghĩa nặng hơn, đó là nền móng của gia đình, nền móng này phải được xây dựng từ trong văn hóa sống.

 


 

 

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...