Mục lục
Minh Tôi Cầu Mong : Mỗi Người , Mỗi Nhà Ai Ai Cũng : BÌNH YÊN TRONG TÂM THỨC YÊN ỔN TRONG TÂM HỒN
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC QUY LUẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC QUY LUẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 10
1. Quy luật lưu thông tiền tệ
2. Quy luật giá trị
3.Cạnh tranh và quan hệ cung cầu
4.Quy luật sản xuất giá trị thặng dư
4.1 Nội dung của quy luật giá trị thặng
dư
4.2 Đặc trưng của quy luật giá trị thặng
dư
4.3-Đặc trưng của sản xuất giá trị thặng
dư cụ thể như sau
4.4-Đặc trưng của sản xuất giá trị thặng
dư cụ thể như sau
4.5- Đặc điểm của thặng dư
4.6-Thặng dư kinh tế
4.7- Lý do thặng dư xảy ra
4.8- Kết quả của thặng dư
4.9-Giá trị thặng dư siêu ngạch là
4.10- Đặc điểm giá trị thặng dư siêu
ngạch.
4.11- Ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu
ngạch.
4.12-Nguồn gốc giá trị thặng dư siêu
ngạch.
4.13- Phân biệt giá trị thặng dư siêu
ngạch và giá trị thặng dư tương đối.
4.14- Thặng dư tiêu dùng là .
4.15- Đo lường thặng dư của người tiêu
dùng bằng đường cầu.
4.16-Các giả định của lý thuyết thặng dư
người tiêu dùng.
4.17- Hạn chế trong thặng dư tiêu dùng.
Phần IX
Các quy luật
của kinh tế thị trường
1. Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết
cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định .
Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì số
lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức :
M=P.Q/V
Trong đó :
M :là lượng tiền cần thíêt cho lưu thông
P :là mức giá cả
Q :là khối lừợng hàng hóa đem ra lưu thông
V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ
Tức :
M= Tổng giá cả hàng hóa đem ra lưu thông / số vòng luân chuyển trung bình
của một đơn vị tiền tệ
Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số lượng cần
thiết cho lưu thông được xác định như sau :
2. Quy luật giá trị
– Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị :
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng
hóa Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở
giá trị của nó ,tức trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết .
Trong sản xuất quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức
hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội
cần thiết ,có như vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay lưu
thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá .Hai hàng hóa được trao đổi với
nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi mua bán hàng
hóa phải thực hiện với giá cả bằng gía trị .
Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp
giá cả bằng giá trị.
-Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:
(+)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa :
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai
trường hợp sau:
Thứ nhất ,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa
bán chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư
thêm tư liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng hóa
khác nhau cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu sản xúât
và sức lao động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ
vốn.Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này
hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức lao
động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể
tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản
xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã
hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ
nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp
phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định .
(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao
động hạ giá thành sản phẩm.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên
thị trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao
động cá biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được
trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng
hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần
thiết thì sẽ đựơc nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích những
người sản xuất hàng hóa cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất ,cải tiến tổ
chức quản lí ,thực hiền tiết kịêm …nhằm tăng năng xuất lao động ,hạ chi phí sản
xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ
hơn.Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ
năng xuất lao động xã hội không ngừng tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không
ngừng giảm xuống.
(+)Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu ,nghèo.
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp
hơn mức lao động hao phí xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa theo mức hao phí
lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi ,giàu lên có thể mua sắm thêm
tư liệu sản xuất ,mở rộng sản xuất kinh doanh,thậm chí thuê lao động trở thành
ông chủ.
Ngược lại những người sản xuất hàng hóa nào có mức lao động cá biệt lớn
hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình
trạng thua lỗ ,nghèo đi ,thậm chí có thể phá sản,trở thành lao động làm thuê.
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản
xuất TBCN ,cơ sở ra đời của CNTB. Như vậy quy luật giá trị vừa có tác động tích
cực vừa có tác động tiêu cực .Do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng
hóa phát triển ,nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực hạn
chế mặt tiêu cực của nó ,đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
3.Cạnh tranh và quan hệ cung cầu
– Cạnh tranh :
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản
xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ
hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể diễn ra giữa những người sản xuất và người tiêu dùng
Trong cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau .
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh
mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển.Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên
năng động nhạy bén ,thường xuyên cải tiến kĩ thuật ,áp dụng tiến bộ khoa
học,công nghệ nâng cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng
xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành mạnh.Thực tế
cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì
trệ bảo thủ ,kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh
tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp
luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến lợi ích của tập
thể ,xã hội cộng đồng như làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền
tung tin phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau
nghèo hoặc tổn hại đối với môi trường sinh thái …
– Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng
không phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền
tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc vào
các nhân tố chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi
xuất thị hiếu của người tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc
biệt quan trọng .
(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung
cấp cho thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng hóa
.Như vậy cung do sản xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng
nhất với sản xuất .Ví dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có
khả năng đưa tới thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ
thuộc chủ yếu vào số lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí sản xuất
,giá cả hàng hóa trong đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có vai trò đặc biệt
quan trọng .
Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại
cung xác định cầu .Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của cung về hàng hóa: hỉ có
những hàng hóa nào có cầu thì mới được sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ
được nhiều ,nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngựơc lại .Đến
lượt mình cung tác động đến cầu ,kích thích cầu :những hàng hóa được sản xuất
cung ứng phù hợp với nhu cầu ,thị hiếu sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa
thích hơn ,bán chạy hơn ,làm cho cầu về chúng tăng lên .Vì vậy người sản xuất
hàng hóa phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu ,thị hiếu ,sở thích của người
tiêu dùng ,dự đoán sự thay đổi của cầu ,phát hiện các nhu cầu mới ..,để cải
tiến chất lượng ,hình thức mẫu mã cho phù hợp ;đồng thời phải quảng cáo để kích
thích cầu ..
Cung- cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả:
Khi cung = cầu , thì giá cả = giá trị
Khi cung > cầu , thì giá cả < giá trị
Khi cung < cầu , thì giá cả > giá trị
Đồng thời giá cả cũng có tác động đến cung và cầu .Nhìn chung trong cơ
chế thị trường khi không có sự nhất trí giữa cung và cầu ,thì giá cả có tác
động đìêu tíêt đưa cung và cầu trở về xu hướng cân bằng nhau .Ví dụ :khi cung
>cầu ,giá cả sẽ giảm xuống ,khi giá cả gỉam thì cầu sẽ tăng lên ngược lại
cung sẽ giảm dần và như vậy cung và cầu lại trở về xu thế cân bằng .Đó cũng
chính là cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hóa .
Như vậy chúng ta thấy rằng :cạnh tranh,cung-cầu ,giá cả .gía trị là những
yếu tố luôn đi liền với nhau và cùng tác động đến sản xuất và lưu thông hàng
hóa.
4.Quy luật sản xuất giá trị thặng dư
Như chúng ta đã biết với quy luật giá trị thặng dư là qui luật kinh
tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi vì nó qui định bản chất của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế
của xã hội tư bản.
Như vậy nên ta thấy thương thì không có sản xuất giá trị thặng dư
thì không có chủ nghĩa tư bản. Theo C. Mác, chế tạo ra giá trị thặng
dư, đó là qui luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Như vậy nên ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có
chủ nghĩa tư bản và theo đó nên ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở
đó có sản xuất giá trị thặng dư. Chính vì vậy, Lênin gọi qui luật
giá trị thặng dư là qui luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư
bản.
4.1 Nội dung của quy luật giá trị thặng
dư:
Vơi quy luật sản xuất giá trị thặng dư ta có thể nói đây là một trong
những quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Vói những nội dung quy luật
giá trị thặng dư ta thấy đây là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị
thặng dư bằng cách tăng cường độ bóc lột công nhân làm thuê.
Theo đó nếu quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa là quy luật giá
trị thì quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật
giá trị thặng dư. Theo đó nên giá trị thặng dư là cội nguồn sinh ra các yếu tố
như giá trị về sự giàu có đầy đủ vì xuất hiện giá trị mới, nên để duy trì và
phát triển sự giàu có dôi dư này, giai cấp tư sản có xu hướng không ngừng sản
xuất với quy mô ngày càng lớn hơn trước. Như vậy các giá trị về vật chất như
tiền bạc thu được đều được đưa vào tái đầu tư, tái sản xuất, thuê mua nguyên
vật liệu nhà xưởng để vận hành tạo giá trị thặng dư Nội dung của qui luật
này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư
bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.
Hiện nay rất dễ để thấy việc sản xuất nhiều và ngày càng nhiều
giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc
đẩy sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản;
Đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày
càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng
một xã hội cao hơn.
Nếu nhìn dựa trên tổng thể thì quy luật giá trị thặng dư xuất hiện và
sẽ đứng đằng sau trên thị trường của tư bản chủ nghĩa. Quy luật này với
mục đích là thu được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các
nhà tư bản cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được qui
mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn.
Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư
bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, cải tiến sản xuất.
Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền
sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa
tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt.
Tất cả những yếu tố đó đưa xã hội tư bản đến chỗ phủ định
chính mình.
4.2 Đặc trưng của quy luật giá trị thặng
dư:
Giá trị thặng dư được Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và
số tiền nhà tư bản bỏ ra trong kinh doanh. Nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình
thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao
động gọi là tư bản khả biến. Tuy nhiên, người lao động sẽ đưa vào hàng hoá một
lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động.
Phần dư ra được gọi là giá trị thặng dư, tức là số lượng của hàng hoá mà người
lao động làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và
mức chênh lệch đó là giá trị thặng dư.
Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản
ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Theo C.Mác,
tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa.
Theo đó nên ta thấy khi ta nhắc tới giá trị này được hiểu là phần giá trị
mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư
bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư
bản và quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động
không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản.
Như vậy ta có thể thấy việc chúng ta sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa
không chỉ phản ánh nhu cầu và hướng tới mục đích chung của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, bên cạnh
đó còn để có thể vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt
được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường độ
lao động và kéo dài ngày lao động tăng năng suất lao động và mở rộng sản xuất.
4.3-Đặc trưng của sản xuất giá trị thặng
dư cụ thể như sau
Đặc trưng của sản xuất ra giá trị thặng dư đầu tiên chúng ta phải biết
đến nó cụ thể với quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, là cơ sở của
sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nội dung trọng tâm nhất là vấn
đề sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân
làm thuê. Theo đó ta thấy với những quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại
cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Bên cạnh đó đây là điều
kiện để quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa
tư bản. Có thể xem đây là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản,
đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất
yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.
Như vậy ta có thể thấy chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy có những điều chỉnh
nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào
đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn
tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi. Thực
tế thì nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh
tế và xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản.
Đầu tiên đặc trưng của quy luật này đó là do kỹ thuật và công nghệ hiện
đại được sử dụng và thực hiện hoạt động rộng rãi nên khối lượng giá trị thặng
dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Theo đó việc tăng năng suất
lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao
động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh bởi có các loại máy móc hiện đại
thay thế được nhiều lao động sống hơn.
Bên cạnh đó còn có thể kể đến cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản
phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Co thể thấy việc chúng ta áp dụng rộng
rãi kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng
lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp. Như vậy nên lao động trí
tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng; có vai trò quyết định trong
việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Sử dụng lực lượng lao động ngày nay mà tỷ
suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều.
Cuối cùng đó là đặc trưng của quy luật giá trị thặng dư trên sự bóc lột
của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng được mở rộng dưới
nhiều hình thức.
4.4-Thặng dư là
Thặng dư là một khái niệm được sử dụng để mô tả số lượng tài sản hoặc tài
nguyên vượt quá phần được sử dụng hiệu quả.
Khoản thặng dư có thể đề cập đến các hạng mục khác nhau, bao gồm thu
nhập, lợi nhuận, vốn và hàng hóa.
Trong ngữ cảnh hàng tồn kho, thặng dư được dùng nhằm để mô tả các sản
phẩm vẫn còn tồn đọng trên các kệ hàng, và không được mua.
Trong ngữ cảnh ngân sách, thặng dư xảy ra khi thu nhập kiếm được vượt quá
chi phí phải trả. Thặng dư ngân sách cũng có thể đề cập đến chính phủ khi doanh
thu thuế vẫn còn sau tất cả các chương trình tài trợ của chính phủ.
4.5- Đặc điểm của thặng dư
Thặng dư trên thực tế không phải là lúc nào cũng được mong muốn xảy ra.
Ví dụ cụ thể khi một nhà sản xuất dự kiến quá mức nhu cầu trong tương lai
cho một sản phẩm nhất định có thể tạo ra quá nhiều đơn vị sản phẩm chưa bán
được, điều này gây ra thặng dư hàng hóa, ảnh hưởng đến tổn thất tài chính hàng
quý hoặc hàng năm.
Sự dư thừa của hàng hóa dễ hỏng cụ thể như ngũ cốc có thể gây ra tổn thất
vĩnh viễn vì nó không thể bán được.
4.6-Thặng dư kinh tế
Có hai loại thặng dư kinh tế: đó là thặng dư tiêu dùng (Consumer surplus)
và thặng dư sản xuất (Producer surplus).
– Thặng dư tiêu dùng được hiểu là thước đo kinh tế về lợi ích của người
tiêu dùng, xảy ra khi giá mà người tiêu dùng phải trả cho một sản phẩm, dịch vụ
thấp hơn so với giá họ sẵn sàng trả.
Thặng dư tiêu dùng xảy ra khi giá của sản phẩm hoặc dịch vụ thấp hơn giá
cao nhất mà người tiêu dùng sẵn sàng trả.
Ví dụ trong cuộc đấu giá bức tranh, trong đó người mua giữ trong đầu mình
một giới hạn về giá mà họ sẽ không trả vượt quá. Thặng dư tiêu dùng xảy ra nếu
người mua này mua bức tranh với giá thấp hơn giới hạn định trước của mình.
Trong một ví dụ cụ thể khác, giả sử giá mỗi thùng dầu giảm, khiến giá
xăng giảm xuống dưới mức giá mà một tài xế đã quen đổ xăng. Trong trường hợp cụ
thể này, lợi nhuận của các chủ thể là người tiêu dùng có được chính là thặng dư
tiêu dùng.
– Thặng dư sản xuất là chênh lệch giữa tổng doanh thu mà người bán nhận
được từ việc bán một lượng hàng hóa nhất định và tổng chi phí biến đổi để sản
xuất số hàng hóa đó.
Trong đó:
+ Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi khi mức sản lượng thay đổi.
+ Tổng doanh thu là tổng sản lượng hàng hóa bán ra nhân với giá bán trên
mỗi đơn vị sản phẩm.
Tổng chi phí biến đổi được đo bằng diện tích bên dưới đường cung. Đường
cung thể hiện mức giá thấp nhất mà người bán sẽ sẵn sàng chấp nhận cho mỗi đơn
vị hàng hóa bán thêm. Đây là chi phí sản xuất đơn vị tiếp theo, được gọi là chi
phí cận biên.
Thặng dư sản xuất sẽ xảy ra khi hàng hóa được bán với giá cao hơn giá
thấp nhất mà nhà sản xuất sẵn sàng bán.
Trong bối cảnh đấu giá tương tự, nếu một nhà đấu giá đặt giá mở cửa ở mức
giá thấp nhất, họ sẽ thoải mái bán một bức tranh, thặng dư nhà sản xuất xảy ra
nếu người mua tạo ra một cuộc chiến đấu thầu, khiến mặt hàng được bán với giá
cao hơn, vượt xa giá mở cửa tối thiểu.
Theo quy luật, thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất sẽ loại trừ lẫn
nhau, trong đó cái mang lại lợi ích cho cái này thì mang lại thiệt hại cho cái
kia.
4.7- Lý do thặng dư xảy ra
Thặng dư xảy ra khi giữa cung và cầu cho một sản phẩm mất kết nối với
nhau, hoặc khi một số người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho một sản phẩm hơn
những người khác.
Theo giả thuyết, nếu có một mức giá định sẵn cho một con búp bê nổi tiếng
nào đó, rằng mọi người đều nhất trí và sẵn sàng trả tiền, thì sẽ không xảy ra
thặng dư hay thiếu hụt.
Nhưng điều này trên thực tế rất hiếm khi xảy ra trong thực tế, bởi vì
nhiều người và doanh nghiệp có ngưỡng giá khác nhau, cả khi mua và bán.
Những chủ thể là các nhà cung cấp liên tục cạnh tranh nhau để cho ra càng
nhiều sản phẩm càng tốt, với giá tốt nhất. Nếu nhu cầu về sản phẩm tăng đột
biến, nhà cung cấp đưa ra mức giá thấp nhất có thể hết nguồn cung, điều này có
xu hướng dẫn đến tăng giá chung trên thị trường, gây ra thặng dư sản xuất.
Điều ngược lại sẽ xảy ra là nếu giá giảm, và cung cao, nhưng lại không đủ
cầu, thì điều này dẫn đến thặng dư tiêu dùng.
Thặng dư thông thường xảy ra khi chi phí của một sản phẩm ban đầu được
đặt quá cao và không ai sẵn sàng mua mức giá đó. Trong những trường hợp cụ thể
như vậy, các doanh nghiệp thông thường bán sản phẩm với chi phí thấp hơn so với
dự kiến ban đầu, để chuyển sang dự trữ trong kho.
4.8- Kết quả của thặng dư
Thặng dư sẽ gây ra sự mất cân bằng thị trường trong cung và cầu của sản
phẩm. Sự mất cân bằng này có nghĩa là sản phẩm không thể phân phối trong thị
trường một cách hiệu quả. Tuy nhiên, chu kì thặng dư và thiếu hụt sẽ có cách tự
mình cân bằng.
Đôi khi, để nhằm mục đích khắc phục sự mất cân bằng này, chính phủ sẽ
tham gia vào và áp dụng một mức giá sàn (Price floor) – đưa ra một mức giá tối
thiểu mà hàng hóa phải được bán. Mức giá áp dụng sẽ cao hơn so với người tiêu
dùng dự định trả, do đó mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp.
Đôi lúc, sự can thiệp của chính phủ vào quá trình thặng dư là không cần
thiết, vì sự mất cân bằng trong thặng dư có xu hướng tự điều chỉnh.
Khi các chủ thể là nhà sản xuất có nguồn cung dư thừa, họ phải bán sản phẩm
với giá thấp hơn. Do đó, nhiều người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm vì giá sản phẩm
rẻ hơn. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn cung nếu nhà sản xuất không thể
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Sự thiếu hụt nguồn cung khiến giá tăng trở lại, do đó khiến người tiêu
dùng quay lưng lại với sản phẩm vì giá cao, và chu kì cứ thể tiếp tục.
4.9-Giá trị thặng dư siêu ngạch là
Giá trị thặng dư siêu ngạch là thuật ngữ quen thuộc và phổ biến, thường
xuyên được sử dụng trong hoạt động kinh doanh; Đây là một trong các quy luật
kinh tế được chủ nghĩa Mác – Lênin phát triển trong nền tảng kiến thức về triết
học của ông. Nếu chưa đi vào tìm hiểu, giá trị thặng dư siêu ngạch là một thuật
ngữ mang tính trừu tượng; đặc biệt đối với những người mới tìm hiểu về lĩnh vực
này. Cho nên ta có thể giải thích giá trị thặng dư siêu ngạch như sau:
Trong một xã hội mà có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản với
nhau đòi hỏi các nhà tư bản phải tích cực phát triển và tìm kiếm phương pháp
sản xuất tốt nhất, hiệu quả nhất để tăng năng suất lao động trong các nhà máy,
xí nghiệp; đồng thời hướng đến giảm giá trị cá biệt của hàng hóa, nhờ đó thu
được giá trị thặng dư siêu ngạch.
Theo Triết học Mác – Lê Nin thì Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá
trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá
biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm
thời nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ
xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường
xuyên. Đây là động lực để các nhà tư bản cải thiện kỹ thuật, áp dụng công nghệ
mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hóa.
Hiểu theo cách dễ hiểu thì Giá trị thặng dư siêu ngạch tiếng Anh là Extra
surplus value là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng khoa học công nghệ
mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của sản phẩm hàng hóa
công ty này thấp hơn giá trị thị trường.
4.10- Đặc điểm giá trị thặng dư siêu
ngạch.
Thứ nhất: Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh xuất
hiện và cũng nhanh mất đi.
Giá trị thặng dư siêu ngạch được sinh ra từ các hoạt động tăng cường áp
dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp,
nhà tư bản; Vậy tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng mang tính
tạm thời nhanh xuất hiện và cũng nhanh biết mất. Bởi lẽ, trong môi trường cạnh
tranh khốc liệt như hiện nay với sự xuất hiện có nhiều tập đoàn, công ty lớn
kinh doanh cùng một loại sản phẩm khiến cho thị phần trên thị trường bị thu
hẹp, chia thành nhiều miếng nhỏ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích cực trong
việc đổi mới phương thức sản xuất, áp dụng kỹ thuật – công nghệ mới vào hoạt
động sản xuất nhằm tăng năng suất lao động tạo ra thật nhiều giá trị thặng dư
siêu ngạch.
Tuy nhiên các đối thủ cạnh tranh cũng không đứng yên một chỗ một khi
doanh nghiệp này áp dụng thành công những cải tiến về mặt kỹ thuật làm tăng
năng suất lao động thì ngay lập tức các doanh nghiệp khác cũng sẽ áp dụng
phương pháp đó hay phát triển nhiều phương thức sản xuất mới khiến cho giá trị
thặng dư siêu ngạch của các doanh nghiệp khác bị mất đi và cứ tác động qua lại
trong xu thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp giá trị thặng dư siêu ngạch nhanh
chóng xuất hiện rồi cũng nhanh chóng mất đi.
Thứ hai:Giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư
tương đối.
Giá trị thặng dư tương đối – GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được
từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng việc nâng cao năng suất lao
động trong hoạt động sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao
động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài
ngày lao động không thay đổi, cường độ lao động vẫn như cũ.
4.11- Ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu
ngạch.
Đầu tiên việc tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch một cách hợp lý và hiệu
quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nhà tư bản, doanh nghiệp; Với
việc áp dụng các kỹ thuật công nghệ mới vào hoạt động sản xuất doanh nghiệp sẽ
tạo ra số lượng sản phẩm lớn với chất lượng tốt hơn qua đó tạo chỗ đứng vững
chắc trên thị trường tiêu thụ, dành được nhiều thị phần trước các đối thủ cạnh
tranh trực tiếp đến lợi nguồn lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp. Như vậy ý nghĩa
đầu tiên mà giá trị thặng dư siêu ngạch đem lại lợi nhuận lớn.
Bên cạnh đó để nhằm tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch và nhằm đối trọng
với đối thủ cạnh tranh đòi hỏi các nhà tư bản, doanh nghiệp phải tiến hành áp
dụng kỹ thuật – công nghệ mới, hiện đại và tiến bộ vào sản xuất. Điều này giúp
cho người lao động giảm bớt sức lao động và thời gian cần thiết để tạo ra một
sản phẩm. Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề hai mặt khi mà áp dụng kỹ thuật –
công nghệ vào sản xuất thì đông thời vai trò của người lao động sẽ bị giảm đi
và người lao động phải học hỏi thêm các kỹ năng để vận hành kỹ thuật – công
nghệ mới, những người không đáp ứng được các điều kiện thì sẽ bị đào thải, tăng
tỷ lệ thất nghiệp.
4.12-Nguồn gốc giá trị thặng dư siêu
ngạch.
Về bản chất, giá trị thặng dư siêu ngạch chính là mang lại thật nhiều lợi
nhuận cho các nhà tư bản và doanh nghiệp; vì vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư
siêu ngạch do:
Do sự cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp với nhau kinh
doanh cùng một mặt hàng và trên cũng một thị trường tiêu thụ các doanh nghiệp
muốn bán được nhiều hàng hóa thu được thật nhiều lợi nhuận trước các đối thủ
cạnh tranh trực tiếp đòi hỏi các doanh nghiệp phải sản xuất được một số lượng
hàng hóa lớn và chất lượng đạt chuẩn để có thể thu hút người tiêu dùng.
Để làm được điều đó các doanh nghiệp phải có những phương pháp mới và phù
hợp; đặc biệt quan trọng hiện nay là việc áp dụng kỹ thuật – công nghệ vào sản
xuất để hạn chế sức lao động và thời gian, chi phí bỏ ra để tạo ra sản phẩm
đồng thời khi áp dụng kỹ thuật – công nghệ hiện đại, tiên tiễn sẽ giúp cải thiện
chất lượng của sản phẩm. Khi đó số lượng hàng hóa sản xuất ra sẽ nhiều hơn và
có chất lượng đạt chuẩn giúp mang lại nhiều lợi ích về giá trị thặng dư siêu
ngạch qua hoạt động bán hàng hóa.
Căn bản của giá trị thặng dư chính là tạo ra sản phẩm có giá trị cá biệt
lớn hơn giá trị xã hội. Mà để giá trị cá
biệt là giá trị riêng do 1 người tạo ra còn giá
trị xã hội là giá trị do nhiều người cùng tạo ra, và để làm được điều đó
thì đồng nghĩa ta phải khiến cho 1 người lao động làm sao đó có thể tự tạo ra
được 1 hàng hóa và đó chính là thông quá sự hỗ trợ của công nghệ mới.
4.13- Phân biệt giá trị thặng dư siêu
ngạch và giá trị thặng dư tương đối.
Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương
đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà
tư bản, doanh nghiệp thu được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của
các nhà tư bản, doanh nghiệp đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê bằng
việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện thời gian lao động của
ngày lao động không đổi, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư, để tạo ra giá
trị thặng dư tương đối thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá
trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Đối với giá trị
thặng dư siêu ngạch là sự thể hiện áp dụng các phương pháp sản xuất mới hiện
đại vào hoạt động sản xuất để sản xuất được nhiều sản phẩm và thu được nhiều
lợi nhuận bên cạnh sức ép của thị trường và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm
thuê, mà còn trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản.
Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp,
mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao
động, giảm giá trị của hàng hoá.
4.14- Thặng dư tiêu dùng là .
Thặng dư tiêu dùng hay còn được gọi là thặng dư người tiêu dùng, tiếng
Anh là Consumer Surplus
Thặng dư của người tiêu dùng, còn được gọi là thặng dư của người mua, là
thước đo kinh tế của lợi ích vượt quá của khách hàng. Nó được tính toán bằng
cách phân tích sự khác biệt giữa mức độ sẵn sàng trả của người tiêu dùng cho
một sản phẩm và giá thực tế mà họ phải trả, còn được gọi là giá cân bằng. Thặng
dư xảy ra khi mức độ sẵn sàng trả của người tiêu dùng cho một sản phẩm lớn hơn
giá thị trường của sản phẩm đó.
Thặng dư của người tiêu dùng dựa trên lý thuyết kinh tế về mức thỏa dụng
cận biên, là sự thỏa mãn bổ sung mà một người thu được khi tiêu dùng thêm một
đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự hài lòng khác nhau tùy theo người tiêu dùng,
do sự khác biệt về sở thích cá nhân. Theo lý thuyết, người tiêu dùng càng mua
nhiều sản phẩm thì họ càng ít sẵn sàng trả nhiều hơn cho mỗi đơn vị bổ sung do
mức độ thỏa dụng cận biên thu được từ sản phẩm đó giảm dần.
Khái niệm thặng dư tiêu dùng được phát triển lần đầu tiên bởi Jules
Dupuit, kỹ sư dân dụng và nhà kinh tế người Pháp, vào năm 1844 và được phổ biến
bởi nhà kinh tế học người Anh Alfred Marshall, khái niệm này phụ thuộc vào giả
định rằng mức độ hài lòng của người tiêu dùng (mức độ tiện ích) là có thể đo
lường được. Bởi vì tiện ích mang lại cho mỗi đơn vị hàng hóa bổ sung thường
giảm khi số lượng mua tăng lên và vì giá của hàng hóa chỉ phản ánh tiện ích của
đơn vị mua cuối cùng chứ không phải tiện ích của tất cả các đơn vị, nên tổng
tiện ích sẽ vượt quá tổng giá trị thị trường.
Tầm quan trọng của thặng dư của người tiêu dùng là nó cung cấp một thước
đo tiền tệ về lợi ích mà người tiêu dùng thu được từ việc cung cấp một sản phẩm
với các điều kiện mà nó được cung cấp. Do đó, dường như có thể đưa ra khả năng
đánh giá tác động ròng lên phúc lợi của các chính sách làm thay đổi các điều
khoản mà các sản phẩm khác nhau được cung cấp. Các nhà kinh tế đã sử dụng khái
niệm này để lập luận rằng một số hệ thống thuế kém hơn những hệ thống khác vì
chúng dẫn đến sự mất mát lớn hơn thặng dư của người tiêu dùng.
Người ta cũng đề xuất rằng trong các ngành chi phí giảm, trong đó chi tiêu
của người tiêu dùng cho một sản phẩm sẽ không bao gồm tổng chi phí – nếu sản
phẩm được bán trên thị trường với giá thống nhất hoặc, trong hầu hết các công
thức hiện đại, với giá bằng chi phí cận biên – nhà nước nên tạo khả năng sản
xuất sản phẩm thông qua trợ cấp khi lợi nhuận thặng dư của người tiêu dùng sẽ
biện minh cho điều này. Trên thực tế, những gì người tiêu dùng sẵn sàng trả
nhưng không (hoặc chính xác hơn, ước tính của nhà nước về điều này) nên được
coi là một yếu tố phụ trợ bên cạnh những gì họ phải trả, trong việc xác định
sản lượng, bởi vì nó chỉ ra càng nhiều những gì họ làm trả giá trị của sản phẩm
cho họ.
4.15- Đo lường thặng dư của người tiêu
dùng bằng đường cầu.
Trong các thị trường cạnh tranh về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, thường
có nhiều nhà sản xuất bán các mặt hàng đó và nhiều người tiêu dùng mua chúng.
Việc tham gia vào thị trường càng hấp dẫn đối với người sản xuất thì giá càng
cao mà họ có thể bán được sản phẩm của mình. Do đó, số lượng của mặt hàng được
cung cấp trên thị trường tăng lên khi giá tăng và đường cung nói chung là dốc
lên. Ngược lại, việc tham gia vào thị trường càng hấp dẫn người tiêu dùng thì
mức giá mà họ có thể mua được càng thấp. Do đó, lượng cầu tăng lên khi giá giảm
và đường cầu nói chung là dốc xuống. Điểm cân bằng thị trường, bao gồm giá p *
của mặt hàng và số lượng q * được mua và bán, được xác định khi cung gặp cầu,
tức là nơi đường cung và đường cầu cắt nhau.
Đối với số lượng mặt hàng thấp hơn q *, người tiêu dùng trên thị trường
sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn p *. Tuy nhiên, ở trạng thái cân bằng, họ có thể
mua và tiêu thụ tất cả q * của mặt hàng với giá p * trên một đơn vị. Chênh lệch
giữa mức giá cao hơn mà họ phải trả cho số lượng thấp hơn và số lượng thấp hơn
có giá p * là thặng dư của người tiêu dùng. Đây là một lợi ích cho người tiêu
dùng về giá trị mà họ gắn vào mặt hàng vượt quá giá mà họ phải trả cho nó.
Thặng dư của người tiêu dùng được biểu diễn trong biểu đồ dưới đây bằng diện
tích bên dưới đường cầu D kéo dài đến mức giá p *.
Điểm mà cung và cầu gặp nhau là giá cân bằng. Khu vực trên mức cung và
dưới mức giá cân bằng được gọi là thặng dư sản phẩm (PS), và khu vực dưới mức
cầu và trên mức giá cân bằng là thặng dư tiêu dùng (CS).
Trong khi tính đến đường cầu và đường cung, công thức tính thặng dư của
người tiêu dùng là CS = ½ (cơ sở) (chiều cao).
4.16-Các giả định của lý thuyết thặng dư
người tiêu dùng.
– Tiện ích là một thực thể có thể đo lường được: Lý thuyết thặng dư của
người tiêu dùng cho rằng giá trị của mức độ thỏa dụng có thể được đo lường.
Theo kinh tế học Marshall, mức độ hữu dụng có thể được biểu thị dưới dạng một
con số. Ví dụ, tiện ích bắt nguồn từ một quả táo là 15 đơn vị.
– Không có sản phẩm thay thế: Không có sẵn sản phẩm thay thế cho bất kỳ
hàng hóa nào đang được xem xét.
– Ceteris Paribus: Nó cho biết rằng thị hiếu, sở thích và thu nhập của
khách hàng không thay đổi.
– Tiện ích biên của tiền không đổi: Nó nói rằng tiện ích thu được từ thu
nhập của người tiêu dùng là không đổi. Có nghĩa là, bất kỳ sự thay đổi nào về
lượng tiền mà người tiêu dùng có đều không làm thay đổi lượng tiện ích mà họ
thu được từ nó. Nó là bắt buộc bởi vì không có nó, tiền không thể được sử dụng
để đo lường mức độ tiện ích.
– Quy luật thỏa dụng cận biên giảm dần: Nó chỉ ra rằng một sản phẩm hoặc
dịch vụ được tiêu thụ càng nhiều, thì mức độ thỏa dụng cận biên thu được từ
việc tiêu thụ thêm mỗi đơn vị càng thấp.
– Tiện ích biên độc lập: Tiện ích cận biên thu được từ sản phẩm đang được
tiêu dùng không bị ảnh hưởng bởi tiện ích cận biên thu được từ việc tiêu dùng
hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự. Ví dụ, nếu ta uống nước cam, công dụng có được
từ nó sẽ không bị ảnh hưởng bởi công dụng có được từ nước táo.
4.17- Hạn chế trong thặng dư tiêu dùng.
Nếu mức thỏa dụng biên của tiền được giả định là không đổi đối với người
tiêu dùng ở mọi mức thu nhập và tiền được chấp nhận là thước đo mức độ thỏa
dụng, thặng dư của người tiêu dùng có thể được thể hiện dưới dạng vùng tô bóng
dưới đường cầu tiêu dùng trong hình. Nếu người tiêu dùng mua MO của hàng hóa ở
mức giá ON hoặc ME, thì tổng giá trị thị trường hoặc số tiền anh ta trả là
MONE, nhưng tổng tiện ích là MONY. Sự khác biệt giữa chúng là khu vực bóng mờ
NEY, thặng dư của người tiêu dùng.
Khái niệm này trở nên sai lệch khi nhiều nhà kinh tế thế kỷ 20 nhận ra
rằng tiện ích thu được từ một mặt hàng này không độc lập với tính sẵn có và giá
cả của các mặt hàng khác; Ngoài ra, có những khó khăn trong việc giả định rằng
mức độ tiện ích có thể đo lường được.
Khái niệm này vẫn được các nhà kinh tế học giữ lại, bất chấp những khó
khăn trong việc đo lường, để mô tả lợi ích của việc mua hàng hóa sản xuất hàng
loạt với giá thấp. Nó được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế phúc lợi và thuế.
Xem tiện ích và giá trị. Ngoài ra còn có một số hạn chế khác:
– Rất khó để đo lường các tiện ích biên của các đơn vị khác nhau của một
loại hàng hóa mà một người tiêu dùng. Do đó, không thể đo lường chính xác thặng
dư của người tiêu dùng.
– Đối với hàng hóa cần thiết, tiện ích biên của một vài đơn vị đầu tiên
là vô cùng lớn. Do đó thặng dư của người tiêu dùng là vô hạn đối với hàng hóa
đó.
– Sự sẵn có của các sản phẩm thay thế cũng ảnh hưởng đến thặng dư của
người tiêu dùng.
– Việc xác định thang đo tiện ích cho hàng hóa danh giá như kim cương là
rất khó.
– Chúng ta không thể đo lường thặng dư của người tiêu dùng bằng tiền.
Điều này là do tiện ích biên của tiền thay đổi khi người tiêu dùng mua hàng và
lượng tiền dự trữ của họ giảm đi.
– Khái niệm này chỉ được chấp nhận với giả định rằng chúng ta có thể đo
lường mức độ tiện ích bằng tiền hoặc bằng cách khác. Nhiều nhà kinh tế học hiện
đại chống lại khái niệm này.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
TRIẾT LÝ THẦU HIỂU
1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...
-
Bí quyết để thành công có lẽ là câu hỏi được nhiều người quan tâm trên con đường tìm kiếm đích đến của chính mình. Có người may mắn gặp co...
-
Bố Dặn Con Trai. Đã 34 năm kể từ ngày một mình Bố đón con từ phòng mổ, Mẹ im nằm thở rất nhẹ, con thì khóc oa oa , Bác sĩ đưa toa t...
-
Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Ngọc Minh ghi nhớ và làm theo ...






















