Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN VỀ CHỮ “NGHĨA”.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN VỀ CHỮ “NGHĨA”.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2024

ÂN NGHĨA TRONG ĐỜI- Phần mở đầu

 Lời giới thiệu.

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” Câu hát mang đến cho ta nhiều suy ngẫm về cuộc đời nhất là về lòng Ân nghĩa . Để cuộc sống của chúng ta được trọn vẹn và tốt đẹp hơn, chúng ta hãy sống có lòng Ân nghĩa .

Ân nghĩa là truyền thống luân lý đạo đức lưu truyền từ ngàn xưa đến nay. Bất kì nền văn hóa nào cũng đều lấy ân nghĩa làm trọng. Ông cha ta đã dạy: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”. Nhớ ơn và đền đáp công ơn là quy tắc đạo đức và cũng là một trong những hạnh nguyện lớn của con người . Do vậy, những lời dạy của Cổ Nhân rất gần gũi, là tình thương bao la đối với mọi người và cả cỏ cây, quê hương đất nước. Giáo lý của Thiện Nhân đi vào lòng người vì thấm nhuần tính nhân bản. Thiện Nhân không dạy những gì cao siêu xa xôi mà chỉ cho ta nhìn thẳng vào thực tại. Thiện Nhân dạy ta về bốn trọng ân, thức tỉnh bao con người phải nhớ đến bổn phận của mình. Ân Nghĩa là những đạo lý quan trọng, là nền tảng đạo đức căn bản của con người.

Mục lục bài viết

Phần I :Tản mạn về chữ “Nghĩa”

1-Trong lý niệm của cổ nhân

2- Trong văn học

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Phần II :Phật dạy ân nghĩa là gốc của con người

1-Ân Nghĩa cha mẹ

2-Ân Nghĩa thầy

3-Ân Nghĩa Tam bảo

4-Ân Nghĩa Quốc gia xã hội

Phần III:Quan điểm nho giáo về ân nghĩa

1. Ân nghĩa là gì?

2. Giới thiệu về Nho giáo:

3. Tư tưởng Ân nghĩa trong Nho giáo

4. Nội dung bao quát của “Ân nghĩa”

Phần IV: Tư tưởng “Ân nghĩa”  tại Việt Nam

1-Ân nghĩa là gì?

2-Biểu hiện của Ân nghĩa

3-Ví dụ về Ân nghĩa

4-Ý nghĩa của Ân nghĩa

5-Cách rèn luyện lòng Ân nghĩa

ân nghĩa trong đời- Phần mở đầu

Phần I :Tản mạn về chữ “Nghĩa”

Mục lục

1-Trong lý niệm của cổ nhân

2- Trong văn học

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Chi tiết

1-Trong lý niệm của cổ nhân

Các bậc hiền đức thời xưa đều có tín niệm kiên định phi thường, không bởi vì lâm vào nghịch cảnh, không bởi vì đối mặt với sinh tử, không bởi vì cám dỗ trước công danh lợi lộc mà vứt bỏ tiết tháo, phẩm chất, Ân nghĩa của mình. Họ, nam có, nữ có, đã ở trong các hoàn cảnh khác nhau mà đặt định cho hậu thế nội hàm bao la của chữ “Nghĩa”, trở thành những tấm gương trung trinh, liệt nghĩa cho người đời sau.

Chữ “Nghĩa”  Mang hàm nghĩa rằng con người ta có thể quên đi bản thân mà hiến dâng cho điều cao quý, cho chính đạo trong Trời đất.

Xưa kia, khi bị áp giải đến Yên Kinh vì chống quân Nguyên Mông, Văn Thiên Tường đã từng viết:

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”

“Đời người xưa nay ai không chết?

 Lưu lại lòng son rọi sử xanh”,

Hai câu này đã trở thành một áng thơ tuyệt mỹ để tỏ bày lòng tin chính nghĩa không thể lu mờ. Nhìn lại dòng sông dài lịch sử, những cá nhân cao quý như vậy không thời nào là không có.

Hơn 100 năm trước, cụ Phan Thanh Giản vì không giữ được thành Vĩnh Long mà vào một chòi tranh, tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống á phiện với dấm thanh để tự vẫn trong sự van xin của con cháu.

Cụ Hoàng Kế Viêm là phò mã nhà Nguyễn, bác dượng vua Tự Đức, thế mà chống lệnh triều đình, nhiều năm dẫn quân chống Pháp, lại ngầm giúp đỡ các cuộc khởi nghĩa, khiến người Pháp phải kính sợ.

Hơn 200 năm trước, tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không giữ nổi thành Bình Định, một người tự thiêu, một người uống thuốc độc tự sát, để khỏi liên lụy binh lính toàn thành.

Đôi vợ chồng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu kiên tâm chống giữ nhà Tây Sơn. Đến khi bị bắt, được vua Gia Long gia ân mà Trần Quang Diệu vẫn tạ từ: “Nhận chức quan của triều đại mới thì không phải là trượng phu”, để rồi bị giết.

Hơn 600 năm trước, Lê Lai mặc áo vàng, dẫn hai con voi và 500 quân tới trại giặc khiêu chiến, dũng cảm đánh cho đến khi bị bắt, bị xử cực hình cực ác, vậy mà chưa từng hé răng. Tất cả chỉ vì để Lê Lợi thoát đi, sau này đánh bại quân Minh, lập ra triều đại quân chủ thịnh thế nhất trong lịch sử đất nước.

Hơn 700 năm trước, Trần Tử Đức dẫn quân Ngũ Yên tinh nhuệ chặn giặc Nguyên Mông, phía sau lưng ông, vua Trần rút lui tổ chức quân đội, dân chúng thành Thăng Long khẩn trương di tản. Sau hơn 10 ngày chặn giặc làm tròn nhiệm vụ, bị giặc vây, ông tuẫn quốc. Phu nhân của ông là Bùi Thiệu Hoa dẫn quân đến nơi an toàn, làm lễ tế chồng, rồi tự tử chết theo.

Trên bình diện cá nhân mà nói, con người khi sinh ra chỉ có một tấm thân trần, khi chết đi cũng chỉ có hai bàn tay trắng. Dẫu đứng trên đỉnh cao của tiền tài, danh vọng, phú quý, tới khi nhắm mắt xuôi tay hết thảy đều về không. Điều có thể lưu lại chính là tấm lòng Ân nghĩa .

2- Trong văn học.

Thời cổ đại, các cuộc chinh chiến, thảo phạt, dẫu là dùng bạo lực và đánh giết làm phương tiện, cũng vẫn phải lấy điều kiện tiên quyết là “Nghĩa”. Bởi vậy Mạnh Tử nói: “Ta nghe Chu Vũ Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chứ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ”. Chu Vũ Vương là vị vua sáng lập triều Chu trong lịch sử. Trụ Vương là vị vua cuối cùng của nhà Thương. Chu Vũ Vương khởi binh đánh vua Trụ vô đạo, sau đó lên ngôi vua. Mạnh Tử cho rằng vì Trụ Vương vô đạo, nên không còn được coi là vua nữa, người có đức hạnh lên thay là hợp với đạo Trời, chính là “Nghĩa” vậy.

Các tác phẩm của cổ nhân không phải tác phẩm nào cũng có thể lấy tên là “diễn nghĩa”. “Phong thần diễn nghĩa”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tùy Đường diễn nghĩa”, những tác phẩm này được xưng là “diễn nghĩa”. “Tây Du Ký” chỉ có thể được gọi là “ký”, “Thủy Hử truyện” cũng chỉ có thể được gọi là “truyện”.

Vì sao lại được gọi là “diễn nghĩa”? Chính là làm rõ hàm ý của chữ “Nghĩa” này. “Phong thần diễn nghĩa” mô tả việc Khương Tử Nha phò tá Chu Văn Vương thảo phạt nhà Thương, đem lại chính nghĩa cho thế gian. “Tam Quốc diễn nghĩa” mô tả cách hành xử chí tình của các cá nhân kiệt xuất tại Ngụy, Thục, Ngô trong thời loạn thế Tam Quốc. “Tùy Đường diễn nghĩa” cũng là lấy lòng yêu thương dân chúng của Lý Thế Dân làm nền tảng chủ đạo. Lương Sơn anh hùng của “Thủy Hử truyện” mặc dù tự xưng là thay Trời hành đạo nhưng lại là một nhóm cường đạo, không thuộc về chính nghĩa, nên chỉ là “truyện”. “Tây Du Ký” mặc dù là ngay chính nhưng không có ý đồ làm rõ nội hàm của chữ “Nghĩa” này nên mới xưng là “ký”.

Có thể thấy rằng trong lý niệm của cổ nhân, dẫu là ở phương diện cá nhân hay ở phương diện xã hội thì “Nghĩa” là sự vô tư vô ngã, phù hợp với chính đạo, phù hợp với Thiên đạo. Bởi vì “Nghĩa” là thể hiện của thiên đạo, cho nên xưa nay con người luôn tin tưởng vững chắc rằng chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng tà ác. Bảo vệ chính nghĩa cũng là trách nhiệm của mỗi người.

Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng: Ta sống tốt, ta cũng không hại ai hết, ta là người lương thiện. Nhưng như thế nào mới là thiện lương đây? Thời điểm giao tranh giữa cái thiện và cái ác, cái chính và cái tà, cái đúng và cái sai, nếu như ai im lặng trước chính nghĩa thì cũng bằng như ủng hộ cái phi nghĩa. Mỗi người không thể thờ ơ trước lựa chọn của bản thân, bởi đó chính là lựa chọn tương lai, là đang tự “diễn nghĩa” cho chính mình.

Từ xưa đến nay con người luôn tin tưởng vững chắc rằng, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng tà ác! Cũng chính bởi, “nghĩa” là thể hiện của thiên đạo, cho nên, bảo vệ chính nghĩa là trách nhiệm của mỗi người…

Lịch sử Việt Nam nối tiếp nhau giữa các triều đại tạo nên những nền văn minh rực rỡ và huy hoàng. Trong dòng sông dài lịch sử, các triều đại nối tiếp nhau không ngừng hình thành những nền văn hóa sống động, đa dạng và phong phú.

Trong 4.000 năm của nền văn minh Việt Nam, tiếp nối viết nên những câu chuyện hào hùng, bi tráng của các triều đại, thịnh, suy, cũng như triển hiển những điển tích, điển cố, diễn dịch sống động, từng triều đại, tạo nên một nền văn hóa huy hoàng trong lịch sử nhân loại.

3-Ý nghĩa của chữ “Nghĩa”

Chữ “Nghĩa” Thể hiện luôn đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân mình..

Người xưa có câu: Kẻ thù của con người là chính mình. Có thể nhìn ra ý này trong chữ “Ngã”. Yêu bản thân không phải là nuông chiều sở thích, nuôi dưỡng dục vọng để thỏa mãn bản thân. Mà là tay lăm lăm cầm vũ khí soi xét bản thân mình, nhìn thấy những nhân tâm bất hảo thì đào xới nó lên, đánh đuổi nó đi, làm cho bản thân mình thuần tịnh. Bản thân thuần tịnh rồi thì có thể tìm về chân ngã tiên thiên của mình.

Chữ “Nghĩa” là quên đi cái tôi vị tư, là vị tha, luôn nghĩ tới người khác, duy trì đạo nghĩa, đạo lý, lợi ích tập thể của những người khác.

-Chữ “Nghĩa” trong lịch sử xưa

Lịch sử Tam Quốc đã khắc họa và diễn giải sâu sắc nội hàm chữ “Nghĩa”, mở đầu là câu chuyện kết nghĩa vườn đào của ba anh em Huyền Đức, Quan Vũ, Dực Đức rồi lần lượt các nhân vật liên tục xuất hiện, phân chia, tranh hùng để rồi mở ra một trang lịch sử một triều đại mới.

Kỳ thực, “Tam Quốc diễn nghĩa” là xuyên suốt nội hàm cao siêu của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý truyền thống. Nó vượt xa khỏi phạm trù như lời nói “từ trên xuống dưới đều là tranh đoạt lợi” của Mạnh Tử. Nó là một loại cảnh giới vô tư, không vụ lợi và được gọi là “Nghĩa”.

Câu chuyện Quan Vũ “đơn đao phó hội” nổi tiếng ngàn năm, sau này đã được các nghệ nhân kể chuyện đời Tống, đời Nguyên chuyển thành một giai thoại tại nhân gian, được dựng thành những vở kịch nổi tiếng.

Một mình Quan Vũ tay vác bảo đao đi dự tiệc nước Ngô, mặc dù biết quân Đông Ngô có âm mưu hại mình, dự tiệc xong một tay nắm chặt Lỗ Túc (Thừa tướng nước Ngô) ra thuyền về thành an toàn. Quân Đông Ngô đã ém binh sẵn bên sông đành phải chịu thúc thủ. Nghĩa khí đó đã làm Lỗ Túc kinh sợ và nể phục.

Quan Vũ vì nghĩa mà thả Tào Tháo đã diễn giải lên đến đỉnh điểm chữ “Nghĩa”. Chúng ta hãy cùng xem lại trích đoạn “Tam Quốc diễn nghĩa” sau:

“Tào Tháo lại tha thiết kể lể: ‘Nhưng còn qua ngũ quan, trảm lục tướng của tôi thì sao? Vậy mà tôi một dạ không oán, lại chạy theo giã biệt hầu mong tặng lễ vật lộ phí đi đường. Tướng quân há quên chuyện Du Công Chi Tư đuổi theo Tử Trạc Nhu Tủ thời Xuân Thu sao? Hôm nay, tôi hoàn toàn là bại tướng xin được cầu an vào phút cuối cùng, Vân Trường là bậc đại tướng khoan dung há không một chút niệm tình ư?’.

Vân Trường suy nghĩ, thấy việc Tào Tháo kể ra không phải là không đúng, nhìn binh Tào người nào người nấy như muốn bật khóc thì Vân Trường động lòng bảo quân dang ra”.

Mặc dù biết thả Tào Tháo là vi phạm quân lệnh, Quan Vũ vẫn lựa chọn thả Tào trả ơn nghĩa khi xưa, xem ra thì bình thường nhưng có mấy ai làm được điều đó. Trước khi ra trận Quan Vũ đã “Lập quân lệnh”, nếu làm trái thì sẽ bị xử trảm theo đúng quân pháp. Vì “Nghĩa” đúng là đã vượt qua cảnh giới sinh tử hoàn toàn không còn nghĩ cho mình…

Lịch sử Tam Quốc đã để lại đời sau biết thế nào là Nghĩa, Trí, Dũng. Chữ “Nghĩa” cũng luôn được người xưa xem trọng, ngay cả giặc cướp cũng phải đề cao chữ “Nghĩa”, khi tập hợp nhau lại, họ gọi là tụ Nghĩa, làm việc phải có đạo Nghĩa, hoặc khi muốn làm việc lớn thường dùng chữ “vì Nghĩa” v.v.

Thời nay, người ta dùng chữ “diễn nghĩa” với hàm ý chỉ một loại hình thức nghệ thuật, như vậy là hoàn toàn sai lầm. Bởi vì, cổ nhân vô cùng coi trọng cách dùng từ ngữ. Không phải rằng, tất cả những chuyện xưa đều có thể lấy tên là “diễn nghĩa”.

 “Phong Thần diễn nghĩa”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tùy Đường diễn nghĩa”, “Thất hiệp ngũ nghĩa”, những tác phẩm này được xưng là “diễn nghĩa”. “Tây du ký” chỉ có thể được gọi là “ký” (ghi chép, ghi lại), “Thủy hử truyện” cũng chỉ có thể được gọi là “truyện”. Từ sự khác nhau về tên gọi, chúng ta có thể nhận thấy nội hàm giữa chúng khác nhau một trời một vực. Bởi vì, chỉ có vì thiện mà chinh chiến, thảo phạt thì mới gọi là “Nghĩa”.

“Phong Thần diễn nghĩa” còn có tên là “Phong Thần bảng”, tổng cộng có 100 hồi. Tên gọi là “Phong Thần diễn nghĩa” cho nên trọng điểm chính là từ “Nghĩa” này. Chính là chỉ việc Khương Tử Nha phụ tá Chu Văn Vương thảo phạt nhà Thương, đem lại chính nghĩa cho nhân dân. Đây là manh mối chính, nguyên nhân chính mà tác phẩm có tên là “diễn nghĩa”.

“Tam Quốc diễn nghĩa” cũng có nguyên nhân chính là từ Ân nghĩa của Lưu Bị mà có tên như vậy. “Tùy Đường diễn nghĩa” cũng là lấy lòng Ân nghĩa , yêu thương dân của Lý Thế Dân làm lý do chủ đạo để có tên “diễn nghĩa”. “Thất hiệp ngũ nghĩa” về cơ bản cũng là như vậy.

Nhân vật chính Lương Sơn hảo hán của “Thủy hử truyện” mặc dù là thay trời hành đạo nhưng lại là một nhóm cường đạo, không có nhân tố thiện nên cũng chỉ có tên là “truyện”. Dùng cường đạo mà dựng truyện nên không thể được xưng là “nghĩa”. “Tây du ký” mặc dù là ngay chính, là tu luyện, không có liên quan đến chiến tranh, cho nên lấy tên là “ký” (ghi chép). Tác phẩm “Hồng Lâu Mộng” cũng tương tự như vậy.

Chỉ có vì chính nghĩa mà chinh chiến thì mới được gọi là “diễn nghĩa”. Do đó, khi chúng ta đọc chuyện xưa phải biết được ý nghĩa chính và tinh thần chủ đạo của nó, có phải chân chính thuộc về thiện hay không.

Thời điểm giao tranh giữa cái chính nghĩa và cái phi nghĩa, nếu như ai im lặng trước cái chính nghĩa thì cũng tương đương với ủng hộ cái phi nghĩa. Mỗi người không thể thờ ơ tước việc bản thân mình lựa chọn và hành xử như thế nào trước chính nghĩa và phi nghĩa, bởi đó chính là cách mỗi người đang tự “diễn nghĩa” cho chính mình!

-Chữ “Nghĩa” trong xã hội hiện nay

Nhìn lại xã hội ngày nay, nhiều người không khỏi băn khoăn “xã hội hiện nay là như thế nào vậy?”, đầy rẫy các vấn đề; lý tưởng sống thay đổi, đạo đức xuống cấp, thứ văn hóa rẻ tiền lên ngôi.

Giá trị truyền thống đang bị thay thế, còn đâu những Võ Tòng vì nghĩa mà trừ hổ giúp dân, những Quan Vũ vì nghĩa mà không màng sống chết. Không còn văn hóa tiến bộ soi đường cho tinh thần, không dùng văn hóa dẫn dắt con người quay về những giá trị đạo đức chân chính thì sự lớn mạnh của văn minh vật chất chỉ khiến xã hội ngày một bất ổn định hơn mà thôi.

 Một tòa cao ốc đồ sộ nguy nga mất nhiều công sức xây dựng, nhưng hoàn toàn có thể sụp đổ trong chốc lát vì một chút bất cẩn của con người, “kiếm củi ba năm thiêu một giờ”. Cho nên nếu chỉ biết chạy theo tiến bộ vật chất mà bỏ quên những giá trị văn hóa tinh thần thì chẳng khác nào cứ cố xây nhà cao mà không chú ý đến sức chịu đựng của cái móng.

4-Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa

Người ta yêu nhau vì tình và sống với nhau lâu dài vì nghĩa. Chính các gia đình Việt Nam đã chứng minh điều đó.

Các thế hệ cha ông chúng ta lấy vợ không có tình yêu, thậm chí còn không được tìm hiểu.

 "Nhà mình do má tìm cho

Nết ăn nết ở cũng do má tìm".

Vậy mà họ sống với nhau êm thấm cả đời, sinh con đàn cháu đống. Bây giờ yêu nhau hoàn toàn tự do, tìm hiểu rất kỹ, thậm chí còn sống thử trước khi cưới, vậy mà tỷ lệ ly hôn ngày càng tăng và nạn bạo lực gia đình đã đến mức phải báo động. Liên tiếp có những vụ án đau lòng, chồng giết vợ, vợ thiêu sống chồng và nhiều nơi đã phải xây nhà tạm lánh cho những bà vợ trốn khỏi những trận đòn của những kẻ vũ phu.

Tình yêu mặn nồng mấy rồi cũng nhạt dần qua năm tháng, nhưng thời gian cũng có thể làm cho nghĩa vợ chồng ngày một mặn mà hơn. Cái nghĩa được hình thành và củng cố tấm lòng vợ chồng dành cho nhau. Cùng chung sức vượt qua khó khăn xây dựng vun vén tổ ấm gia đình, bát cháo chén thuốc khi đau ốm, sự quan tâm chu đáo trong những việc nhỏ nhất như cái ăn, cái mặc, tất cả làm nên nghĩa vợ chồng và thành điểm tựa của nhau trong suốt cuộc đời. Có khi chỉ vì yêu một cái lúm đồng tiền mà người đàn ông cưới hẳn cả một cô gái. Nhưng khi nếp nhăn hằn sâu trên gương mặt thì cái lúm đồng tiền không còn nữa mà chỉ còn cái nghĩa ở đời với nhau.

Nghĩa vợ chồng được hình thành từ rất nhiều bao dung, nhiều tha thứ, nhiều chấp nhận. Nếu cứ đòi hỏi nhau nhiều quá, soi nhau nhiều quá mà không biết chấp nhận cá tính của nhau thì không hình thành được nghĩa vợ chồng và như thế thì những năm tháng sống chung sẽ là tù ngục; tờ hôn thú sẽ là bản án chung thân.

 Người phụ nữ lãng mạn rất thích nghe câu: "Anh yêu em". Còn người đàn bà thông minh thì quý nhất câu: "Anh rất cần em". Chữ cần trong câu này vô cùng quan trọng.

 Vì cần em nên anh không thể xem thường em. Vì cần em mà anh phải cố hết sức để giữ em ở bên mình, vì anh không thể thiếu em được và đó là sự đảm bảo đầu tiên cho một đời sống hôn nhân bền vững.

Tình yêu ngày càng xa hơn nguyên nghĩa của từ này. Không còn nữa những mối tình một túp lều tranh hai trái tim vàng, tình yêu bây giờ thực dụng hơn, dấu ấn của giá trị vật chất đậm hơn. Quá trình tìm hiểu để yêu nhau nhiều khi có sự đo đếm, tính toán được mất về vật chất. Tấm lòng làm nên nghĩa chứ vật chất không làm nên nghĩa, đơn giản đó chỉ là sự đổi chác mua bán, khi không còn cái gì để đổi nữa, không còn gì để lợi dụng nữa thì gia đình tan vỡ như một sự tất yếu.

Người ta yêu nhau một thời và sống chung với nhau một đời. Khi chữ tình nhẹ dần thì chữ nghĩa nặng hơn, đó là nền móng của gia đình, nền móng này phải được xây dựng từ trong văn hóa sống.

 


 

 

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...