Mục lục
Minh Tôi Cầu Mong : Mỗi Người , Mỗi Nhà Ai Ai Cũng : BÌNH YÊN TRONG TÂM THỨC YÊN ỔN TRONG TÂM HỒN
Hiển thị các bài đăng có nhãn SÁU CẶP PHẠM TRÙ TRONG TRIẾT HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SÁU CẶP PHẠM TRÙ TRONG TRIẾT HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 5
Mục lục
1. Cái riêng - cái chung
1.1 Phạm trù cái riêng, cái chung
1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái
riêng và cái chung
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
2. Nguyên nhân và kết quả
2.1. Phạm trù nguyên nhân, kết
quả
2.2. Quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
3. Tất nhiên - ngẫu nhiên
3.1. Phạm trù tất nhiên, ngẫu
nhiên
3.2 Quan hệ biện chứng giữa tất
nhiên và ngẫu nhiên
3.3. Ý nghĩa phương pháp
luận
4. Nội dung - hình thức
4.1. Phạm trù nội dung, hình thức
4.2. Quan hệ biện chứng giữa nội
dung và hình thức
4.3. Ý nghĩa phương pháp
5. Bản chất - hiện tượng
5.1. Phạm trù bản chất, hiện
tượng
5.2. Quan hệ biện chứng giữa bản
chất và hiện tượng
5.3. Ý nghĩa phương pháp
luận
6. Khả năng - hiện thực
6.1. Phạm trù khả năng, hiện thực
6.2. Quan hệ biện chứng giữa khả
năng và hiện thực
6.3. Ý nghĩa phương pháp
luận
Phần IV
Sáu cặp phạm
trù trong triết học
1. Cái riêng - cái chung
1.1 Phạm trù cái riêng, cái chung
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ
một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định; còn phạm trù cái chung
dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ,... lặp
lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Trong mỗi sự vật, hiện tượng
ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc tính, những tính
chất,... chỉ tồn tai một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các
sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ: Mỗi người là một thể thực
riêng biệt, bên trong mỗi người đều có điểm chung như có đầu óc để quan sát và
điều khiển hành vi của mình. Có trái tim để cảm nhận thế giới xung quanh.
1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng
và cái chung
Theo quan điểm duy vật biện
chứng: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan. Trong đó,
cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của nó; cái chung không tồn tại biệt lập tách rời cái riêng, tức là không
tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể.
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái riêng
tồn tại độc lập tuyệt đối tách rời cái chung.
Cái riêng là cái toàn bộ, phong
phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản
chất hơn cái riêng. Bởi vì, cái riêng là tổng hợp của cái chung và cái đơn
nhất; còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng.
Cái chung và cái đơn nhất có
thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xác định.
Mối quan hệ biện chứng giữa cái
riêng và cái chung đã được V.I.Lênin khái quát ngắn gọn: "Như vậy, các mặt
đối lập (cái riêng đối lập với cái chung) là đồng nhất: cái riêng chỉ tồn tại
trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng,
thông qua cái riêng. Bất cứ cái riêng (nào cũng) là cái chung. Bất cứ cái chung
nào cũng là (một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất) của cái riêng. Bất
cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ.
Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung,... Bất cứ cái
riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái
riêng thuộc loại khác (sự vật, hiện tượng, quá trình),...
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Cần phải nhận thức cái chung để
vận dụng vào cái riêng cụ thể trong các hoạt động của con người; không nhận thức cái chung thì trong
thực tiễn giải quyết mỗi cái riêng, mỗi trường hợp cụ thể sẽ vấp phải những sai lầm, mất phương
hướng. Muốn nắm được cái chung thì cần
phải xuất phát từ những cái riêng bởi
cái chung không tồn tại trừu tượng ngoài những cái riêng.
Mặt khác, cần phải được cá biệt
hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể; khắc phục bệnh giáo điều,
siêu hình, máy móc, hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng mỗi cái chung để giải quyết mỗi trường hợp cụ thể.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cũng cần phải biết tận dụng các điều
kiện cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo những mục đích nhất
định, bởi vì giữa cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong
những điều kiện cụ thể.
2. Nguyên nhân và kết quả
2.1. Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ
sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự
vật, hiện tượng với nhau thì gây nên một biến đổi nhất định. Phạm trù kết quả
là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt,
các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng tạo
nên. Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là cái không có mối
liên hệ bản chất với kết quả. Điều kiện là những yếu tố bên ngoài tác động tới
hình thành kết quả.
Ví dụ: Gieo gió ắt sẽ gặp bảo,
làm việc phi pháp sự ác đến ngay, ở hậu gặp hậu ở bạc gặp bạc
2.2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân
và kết quả
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và
kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào
không dẫn tới kết quả nhất định; và ngược lại, không có kết quả nào không có
nguyên nhân.
Nguyên nhân sinh ra kết quả, do
vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất
hiện sau nguyên nhân.Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và
một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên.
Sự tác động của nhiều nguyên
nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận,
nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả, nhưng vị trí,
vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián
tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,... Ngược lại, một nguyên
nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và
không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,...Trong sự vận động của thế giới vật
chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng. Ph.Ăngghen viết: "Chúng ta cũng thấy rằng
nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết
quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi
chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với
toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với
nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến,
trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây
hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác lại là kết
quả, và ngược lại".
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả có tính
khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới
hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó.
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức
tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương
pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn
đến nhiều kết quả và ngược lại một kết quả có thể có nhiều nguyên nhân nên
trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể
trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân - quả.
3. Tất nhiên - ngẫu nhiên
3.1. Phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên
Phạm trù tất nhiên dùng để chỉ
cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chất quyết định và
trong những điều kiện nhất định, nó phải xảy ra như thế, không thể khác. Còn
phạm trù ngẫu nhiên dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu
hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định, do đó nó có thể xuất hiện hoặc
không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc như thế khác.
Ví dụ: Để đạt được kết quả nhất
trong việc học tập thì cần siêng năng, chăm chỉ là điều tất nhiên, tuy nhiên
tới ngày thi thì mắc vấn đề sức khỏe nên làm bài thi kết quả thấp là điều ngẫu
nhiên.
3.2 Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và
ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn
tại khách quan và đều có vai trò nhất định đối với sự vận động, phát triển của
sự vật và hiện tượng, trong đó cái tất nhiên đóng vai trò quyết định.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại
trong sự thống nhất biện chửng với nhau; không có cái tất nhiên thuần túy và
ngẫu nhiên thuần túy. Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông
qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên,
là cái bổ sung cho tất nhiên. Ph.Ăngghen cho rằng: "Cái mà người ta quả
quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, và
cái được coi là ngẫu nhiên, lại là hình thức dưới đó ẩn nấp cái tất yếu".
Ranh giới giữa cái tất yếu và ngẫu nhiên có tính chất tương đối. Trong những
điều kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn nhau, tất nhiên trở thành ngẫu nhiên
và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên
3.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn, cần phải căn cứ vào cái tất nhiên chứ không phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên không
được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên khỏi cái ngẫu nhiên. Cần xuất phát từ
cái ngẫu nhiên để đạt đến cái tất nhiên, và khi dựa vào cái tất nhiên phải chú ý đến cái ngẫu
nhiên. Tất yếu và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau. Vì vậy, cần tạo ra
những điều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo
mục đích nhất định.
4. Nội dung - hình thức
4.1. Phạm trù nội dung, hình thức
Phạm trù nội dung là phạm trù
dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên
sự vật, hiện tượng. Trong khi đó, phạm trù hình thức dùng để chỉ phương thức
tồn tại và phát triển của sự vật, hiện
tượng đó, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố
của nó.
Ví dụ: Nội dung trong một cuốn
sách như thế nào sẽ quyết định phải làm bìa như thế đó, nếu nội dung buồn mà
lại có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu vui nhộn thì sẽ rất phản cảm, người
đọc sẽ không bao giờ quyết định đọc cuốn sách đó.
4.2. Quan hệ biện chứng giữa nội dung và
hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó
chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, vì vậy không có một hình thức nào không chứa dựng nội dung,
đồng thời không có nội dung nào lại không tồn
tại trong một hình thức nhất định. Cùng một nội dung có thể biểu hiện
trong nhiều hình thức, và cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nội
dung quyết định hình thức và hình thức
tác động trở lại nội dung. Khuynh hướng
chủ đạo của nội dung là khuynh hướng
biến đổi còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng.
Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên,
không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình
thức. Nội dung quyết định hình thức
nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Hình
thức phù hợp với nội dung thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Nếu hình
thức không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.
4.3. Ý nghĩa phương pháp
Nội dung và hình thức luôn luôn
thống nhất hữu cơ với nhau. Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, không được tách rời giữa
nội dung và hình thức, hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó. Nội dung quyết
định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải căn cứ vào
nội dung. Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội dung
của nó. Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với
nội dung; mặt khác cũng cần phải thực
hiện những thay đổi đối với những hình thức không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung.
5. Bản chất - hiện tượng
5.1. Phạm trù bản chất, hiện tượng
Ví dụ: Nước có bản chất là lỏng thì sẽ thể hiện ra
bằng hiện tượng.
5.2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và
hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều tồn
tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập với nhau. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện
tượng: bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ
cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định. Không có bản chất tồn tại
thuần túy tách rời hiện tượng, cũng như không có hiện tượng lại không biểu hiện
của một bản chất nào đó.
Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo. Khi bản chất mất
đi thì hiện tượng cũng mất theo. Vì vậy, Lênin viết: "Bản chất hiện ra, còn
hiện tượng có tính bản chất". Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng: Sự
đối lập của mâu thuẫn biện chứng thể hiện: bản
chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt phong
phú và đa dạng. Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài. Bản chất là cái tương đối ổn định, còn hiện
tượng là cái thường xuyên biến đổi.
5.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện
tượng thì không dừng lại ở hiện tượng bên ngoài mà phải đi vào bản chất. Phải thông qua nhiều hiện
tượng khác nhau mới nhận thức đúng bản chất.
Lênin viết: " Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện
tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai". Mặt khác,
bản chất phản ánh tính tất yếu, tính qui luật nên trong nhận thức và thực tiễn
cần phải căn cứ vào bản chất chư không căn cứ vào hiện tượng thì mới có thể
đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về
sự vật, hiện tượng đó.
6. Khả năng - hiện thực
6.1. Phạm trù khả năng, hiện thực
Phạm trù khả năng dùng để chỉ
những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự. Còn phạm trù hiện thực dùng để chỉ
những gì chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng.
Ví dụ: Trước mắt là bút, giấy và
thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra được một hộp đựng quà.
6.2. Quan hệ biện chứng giữa khả năng và
hiện thực
Khả năng và hiện thực tồn tại
trong mối liên hệ thống nhất, không tách rời, luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau.
Quá trình đó biểu hiện: khả năng chuyển hóa thành hiện thực, và hiện thực lại
chứa đựng những khả năng mới; khả năng mới, trong những điều kiện nhất định,
lại chuyển hóa thành hiện thực. Trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự
vật, hiện tượng có thể tồn tại một hoặc
nhiều khả năng: khả năng thực tế, khả năng tất nhiên, khả năng ngẫu
nhiên, khả năng gần, khả năng xa,... Trong đời sống xã hội, khả năng chuyển hóa
thành hiện thực phải có điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan. Nhân tố chủ quan là tính tích cực xã hội của ý thức
chủ thể con người để chuyển hóa khả năng thành hiện thực. Điều kiện khách quan
là sự tổng hợp các mối quan hệ về hoàn cảnh, không gian, thời gian để tạo nên
sự chuyển hóa ấy.
6.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và thực
tiễn, cần phải dựa vào hiện thực để xác lập nhận thức và hoạt động. Lênin cho rằng: "Chủ nghĩa
Mác căn cứ vào những sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng... người
Macxit chỉ có thể sử dụng, để làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõ rệt và không
thể chối cãi được". Tuy nhiên, trong nhận thức và thực tiễn cũng cần phải
nhận thức toàn diện các khả năng từ trong hiện thực để có được phương pháp hoạt
động thực tiễn phù hợp với sự phát triển trong những hoàn cảnh nhất định. Tích
cực phát huy nhân tố chủ quan trong việc nhận thức và thực tiễn để biến khả năng thành hiện thực theo
mục đích nhất định.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
TRIẾT LÝ THẦU HIỂU
1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...
-
Bí quyết để thành công có lẽ là câu hỏi được nhiều người quan tâm trên con đường tìm kiếm đích đến của chính mình. Có người may mắn gặp co...
-
Bố Dặn Con Trai. Đã 34 năm kể từ ngày một mình Bố đón con từ phòng mổ, Mẹ im nằm thở rất nhẹ, con thì khóc oa oa , Bác sĩ đưa toa t...
-
Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Ngọc Minh ghi nhớ và làm theo ...






