Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG phần mở đầu :QUY LUẬT TIỀM NĂNG THUẦN KHIẾT

Nôi dung bài viết

Lời giới thiệu

1 Quy luật tiềm năng thuần khiết

2 Quy luật cho

3 Quy luật nghiệp quả hay nguyên nhân và hệ quả

4 Quy luật nỗ lực tối thiểu

5 Quy luật mục đích và khát vọng

6 Quy luật buôn bỏ

7 Quy luật “DHARMA” hay mục đích cuộc đời

LỜI GIỚI THIỆU

Bài viết Bảy Quy luật Tinh thần của Cuộc sống, bởi đây đều là những quy luật mà tự nhiên dùng để tạo ra mọi thứ tồn tại ở dạng vật chất - những thứ chúng ta có thể nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm được vào.

Trong cuốn Tạo ra sự Giàu có: Ý thức về sự Giàu có trong Trường Mọi Khả năng của mình, tác giả đã vạch ra những bước đi hướng tới ý thức về sự giàu có dựa trên sự hiểu biết đúng đắn về cách thức vận hành của tự nhiên. Cuốn Bảy Quy luật Tinh thần của cuộc sống làm nên điều cốt tủy của bài học này. Khi hiểu biết này hòa nhập vào ý thức của mình, nó sẽ giúp chúng ta có khả năng tạo ra sự giàu có vô biên mà không cần quá nhiều cô gắng, và trải nghiệm thành công trong mọi nỗ lực của mình.

Thành công trong cuộc sống có thể định nghĩa là niềm hạnh phúc không ngừng được tăng lên và những mục tiêu đáng trọng không ngừng được thực hiện. Thành công là khả năng hiện thực hóa những khát vọng của mình mà không cần quá nhiều cố gắng. Thế mà thành công, bao gồm việc tạo ra sự giàu có, vẫn luôn được coi là một quá trình đòi hỏi sự lao lực, và người ta hay cho rằng để có được thành công thì phải đánh đổi những thứ khác. Chúng ta cần phải có cách tiếp cận mang tính tinh thần hơn đối với thành công và sự giàu có, những thứ sẽ mang lại vô số điều tốt lành cho mình. Khi đã hiểu biết về các quy luật tinh thần và thực hành nó, chúng ta tự đặt chính mình trong mối liên hệ hài hòa với tự nhiên và tạo ra sự giàu có bằng sự thảnh thơi, niềm vui và tình yêu.

Thành công có rất nhiều khía cạnh; giàu có về vật chất chỉ là một trong số đó. Hơn nữa, thành công là cuộc hành trình, chứ không phải là điểm đến. Do vậy, dư dả về vật chất, dù biểu hiện dưới hình thức nào chăng nữa, cũng lại là một trong những yếu tố khiến cuộc hành trình đó trở nên thú vị hơn. Tuy nhiên, nói đến thành công còn có nghĩa sức khỏe tốt, sinh lực tràn đầy và lòng nhiệt tình đối với cuộc sống, hoàn thiện các mối quan hệ, tự do sáng tạo, sự ổn định về tình cảm và tâm lý, hạnh phúc và thanh thản trong tâm hồn. Thậm chí khi trải nghiệm tất cả những điều đó, chúng ta vẫn có cảm giác chưa thực sự thỏa mãn nếu chúng ta không nuôi dưỡng hạt giống của sự thần thánh bên trong chúng ta. Trên thực tế, chúng ta chính là thần thánh ngụy trang, và Trời Phật phôi thai trong chúng ta đang đòi hỏi được hiện nguyên hình. Do vậy, thành công đích thực là sự trải nghiệm điều kỳ diệu. Đó là sự bộc lộ tính thần thánh bên trong chúng ta. Đó là khả năng nhận thức được sự thần thánh ở bất cứ nơi đâu chúng ta đến, trong bất cứ điều gì chúng ta lĩnh hội - trong đôi mắt của trẻ thơ, trong vẻ đẹp của bông hoa, trong cái chao lượn của cánh chim. Khi chúng ta bắt đầu trải nghiệm cuộc sống như là biểu hiện diệu kỳ của sự thần thánh - không phải thỉnh thoảng, mà là luôn luôn - thì chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa thực sự của thành công.

Trước khi đi vào định nghĩa Bảy Quy luật Tinh thần, chúng ta hãy cùng tìm hiểu khái niệm quy luật. Quy luật là quá trình mà qua đó những điều không hiển lộ trở nên hiển lộ; là quá trình người quan sát trở thành cái được quan sát; là quá trình người ngắm cảnh trở thành cảnh vật; là quá trình mà qua đó người mơ mộng, hiện

thực hóa giác mơ. Mọi tạo vật, mọi thứ tồn tại trong thế giới vật chất này đều là

kết quả của quá trình cái không hiển lộ tự chuyển đổi thành hiển lộ. Mọi thứ chúng ta nhìn thấy đều đến từ những thứ ta chưa từng biết. Cơ thể vật chất của chúng ta, vũ trụ vật chất - bất cứ thứ gì và tất cả những gì mà chúng ta nhận biết được thông qua các giác quan - đều là sự chuyển đổi từ cái không hiển lộ, chưa biết và vô hình sang cái hiển lộ, đã biết và hữu hình.

Vũ trụ vật chất chẳng khác gì cái Tôi uốn ngược trở lại ngay bên trong Bản thân nó để được trải nghiệm chính Bản thân nó dưới dạng tinh thần, tâm trí và vật chất. Nói cách khác, mọi quá trình sáng tạo đều là những quá trình mà thông qua đó Cái Tôi hay tính thần thánh tự bộc lộ Bản thân nó. Ý thức trong sự vận động tự bộc lộ chính nó như những khách thể của vũ trụ trong vũ điệu vĩnh hằng của sự sống.

Nguồn cảm hứng cho mọi sáng tạo chính là cái thần thánh (hay tinh thần); quá trình sáng tạo là cái thần thánh trong vận động (hay tâm trí); và đối tượng sáng tạo là vũ trụ vật chất (bao gồm cơ thể con người). Cả ba yếu tố này của thực tại - tinh thần, tâm trí và cơ thể, hay người quan sát, quá trình quan sát và đối tượng được quan sát - về bản chất là một. Tất cả đều đến từ cùng một nơi: trường tiềm năng thuần khiết vốn thuần túy không hiển lộ.

Những quy luật vật chất của vũ trụ thực ra là toàn bộ quá trình cái thần thánh trong vận động, hay ý thức trong vận động. Khi hiểu được những quy luật này và áp dụng chúng vào cuộc sống, chúng ta có thể tạo ra bất cứ thứ gì chúng ta muốn, bởi chính những quy luật mà tự nhiên dùng để tạo ra cánh rừng, dải ngân hà, ngôi sao hay cơ thể con người cũng có thể giúp chúng ta thực hiện được những khát khao sâu kín nhất của mình.

Vậy thì hãy cùng đến với Bảy Quy luật Tinh thần của cuộc sống để xem chúng ta có thể vận dụng chúng vào cuộc sống như thế nào.

1-QUY LUẬT TIỀM NĂNG THUẦN KHIẾT

Nguồn gốc của mọi sáng tạo là ý thức thuần khiết... tiềm năng thuần khiết tìm kiếm biểu hiện từ những điều chưa hiển lộ cho đến những điều hiển lộ.Và khi nhận ra Cái Tôi đích thực của chúng ta là một trong những tiềm năng thuần khiết, chúng ta trở nên ngang hàng với thứ sức mạnh có khả năng khiến vạn vật trong vũ trụ trở nên hiển lộ.

Thuở ban đầu

Chẳng có tồn tại hay không tồn tại,

Toàn bộ thế giới này chỉ là năng lượng không hiển lộ...

Người thở, mà không có hơi thở, với nội lực của chính mình

Chẳng có gì khác trong đó...

----Tụng ca Sáng tạo-Kinh Vệ đà ---

Quy luật tinh thần đầu tiên của thành công là Quy luật Tiềm năng Thuần khiết. Quy luật này dựa trên thực tế là chúng ta, về bản chất, đều là ý thức thuần khiết. Ý thức thuần khiết là tiềm năng thuần khiết; nó là trường của mọi khả năng và của tính sáng tạo bất tận. Ý thức thuần khiết là cốt tủy tinh thần của chúng ta. Bất tận và không ranh giới, nó cũng chính là niềm vui thuần khiết. Các thuộc tính khác của ý thức bao gồm kiến thức thuần khiết, im lặng vô hạn, cân bằng hoàn hảo, ý chí không gục ngã, sự giản đơn và sự toàn phúc. Đó là bản chất cốt yếu của chúng ta. Và bản chất cốt yếu ấy là bản chất của tiềm năng thuần khiết.

Khi chúng ta khám phá ra bản chất cốt yếu của mình và biết rõ  mình thực sự là ai, trong sự tự nhận thức ấy là khả năng thực hiện được bất cứ ước mơ nào của mình, bởi mình cũng là khả năng vĩnh cửu, là tiềm năng vô hạn của tất cả những điều đã, đang và sẽ là. Quy luật Tiềm năng Thuần khiết cũng có thể gọi là Quy luật Đồng nhất bởi bên dưới sự đa dạng bất tận của cuộc sống này là sự thống nhất của một tinh thần lan tỏa khắp nơi. Không có sự cách biệt nào giữa mình  và trường năng lượng này. Trường tiềm năng thuần khiết là Cái Tôi của chính mình. Và càng trải nghiệm bản chất đích thực của mình, chúng ta sẽ càng tiến gần hơn tới trường tiềm năng thuần khiết.

Việc trải nghiệm Cái Tôi, hay còn gọi là “hướng-tới-cái-tôi”, có nghĩa điểm tham chiếu nội tại của chúng ta chính là tinh thần chúng ta chứ không phải các đối tượng của sự trải nghiệm đó. Trái ngược với hướng-tới-cái-tôi là hướng-tới-khách-thể. Trong hướng tới khách thể, chúng ta luôn bị tác động bới những yếu tố khách quan

bên ngoài Cái Tôi, bao gồm các hoàn cảnh, tình huống, con người và sự vật. Trong hướng-tới-khách-thể, chúng ta không ngừng tìm kiếm sự ủng hộ từ những người khác. Suy nghĩ và hành vi của chúng ta luôn trong trạng thái lường trước một phản ứng nào đó. Do vậy mà nó thường dựa trên sợ hãi.

Trong hướng-tới-khách-thể, chúng ta còn luôn cảm thấy nhu cầu khẩn thiết muốn kiểm soát mọi thứ. Chúng ta cảm thấy nhu cầu khẩn thiết có được sức mạnh bên ngoài. Nhu cầu được ủng hộ, nhu cầu kiểm soát mọi thứ và nhu cầu có được ngoại lực là những nhu cầu dựa trên sự sợ hãi. Kiểu sức mạnh này không phải là sức mạnh của tiềm năng thuần khiết, hay sức mạnh của Cái Tôi, hay thứ sức mạnh thực sự. Một khi chúng ta có được sức mạnh của Cái Tôi thì sẽ không còn chỗ cho sự sợ hãi, không còn nỗi thôi thúc muốn kiểm soát, và không còn phải đấu tranh để được ủng hộ hay để có ngoại lực.

Trong hướng-tới-khách-thể, điểm quy chiếu nội tại của mình là bản ngã hướng ngoại. Bản ngã hướng ngoại ấy, tuy vậy, không phải là con người thực sự của mình. Nó là sự tự nhận thức về chính mình; nó là thứ mặt nạ  mình mang vào khi sống ngoài xã hội; nó là vai trò mà mình đang có. Mặt nạ xã hội của mình phát triển nhờ vào sự ủng hộ. Nó muốn kiểm soát, và nó được duy trì bởi sức mạnh, vì nó tồn tại trong sợ hãi.

Cái Tôi đích thực của mình, vốn là tinh thần của mình, là tâm hồn của mình, hoàn toàn không chịu tác động bởi những thứ đó. Nó miễn nhiễm với mọi sự chỉ trích, nó không sợ bất cứ thử thách nào và nó không cảm thấy thấp kém trước bất kỳ ai. Vậy nhưng nó cũng nhún nhường và không cảm thấy ưu việt hơn ai, bởi nó nhận ra rằng bất cứ ai cũng đều có Cái Tôi như thế, có thứ tinh thần như thế - chỉ là chúng nằm trong những dáng vẻ ngụy trang khác nhau mà thôi.

Đó là sự khác biệt mang tính bản chất giữa hướng-tới-khách thể và hướng-tới-cái-tôi. Trong hướng-tới-cái-tôi, chúng ta sống với con người đích thực của mình, không sợ hãi trước bất cứ thứ thách nào, tôn trọng tất cả mọi người và không cảm thấy thấp kém trước bất kỳ ai. Do vậy, sức-mạnh-cái-tôi là sức mạnh đích thực.

Trong khi đó, sức mạnh trên cơ sở hướng-tới-khách-thể lại là sức mạnh giả tạo. Thứ sức mạnh dựa vào bản ngã hướng ngoại này thường chỉ tồn tại khi yếu tố khách thể đó vẫn còn tồn tại. Nếu chúng ta có một chức danh nhất định - chẳng hạn, nếu mình là Chủ tịch nước hay Chủ tịch một tập đoàn - hoặc nếu mình có nhiều tiền thì thứ sức mạnh mà mình được hướng gắn liền với chức danh, với công việc và với tiền bạc. Sức mạnh dựa vào bản ngã hướng ngoại chỉ kéo dài trong thời gian những thứ đó vẫn còn hiện hữu. Nếu chức danh, công việc và tiền bạc biến mất thì sức mạnh đó cũng không còn.

Mặt khác, sức-mạnh-cái-tôi là vĩnh cửu bởi nó dựa trên sự hiểu biết về Cái Tôi. Và sức-mạnh-cái-tôi có một số đặc trưng nhất định.

Nó lôi kéo mọi người về phía  mình và đồng thời lôi kéo theo cả những thứ mình muốn về phía  mình. Nó hút lấy mọi người, những điều kiện và cảnh huống để giúp ta thực hiện khát vọng của mình. Điều này còn được gọi là sự hỗ trợ từ các quy luật tự nhiên. Đó là sự hỗ trợ của thần thánh; là sự hỗ trợ mang tính ơn phúc. Sức mạnh của mình là thứ sức mạnh  mình gắn kết với mọi người; và mọi người cũng gắn kết với mình. Sức mạnh của mình là sức mạnh của sự gắn kết - sự gắn kết bắt nguồn từ tình yêu đích thực.

Vậy làm thế nào có thể áp dụng Quy luật Tiềm năng Thuần khiết, trường của mọi khả năng, vào cuộc sống chúng ta? Nếu mình muốn được hưởng những lợi ích từ tiềm năng thuần khiết, nếu mình muốn tận dụng mọi khả năng sáng tạo gắn kết với ý thức thuần khiết thì  mình phải tiếp cận được nó. Và một cách để tiếp cận nó là luyện tập hàng ngày: giữ im lặng, tham thiền và không-phán-xét. Dành thời gian hòa mình vào tự nhiên cũng sẽ giúp ta tiếp cận được những đặc tính gắn liền với trường này: sáng tạo, tự do và hạnh phúc vô hạn.

Luyện tập im lặng đồng nghĩa với việc lập cam kết dành ra một khoảng thời gian nhất định để đơn giản là Sống. Trải nghiệm sự im lặng có nghĩa  mình sẽ định kỳ rút khỏi hoạt động giao tiếp bằng lời.

Đồng thời, nó còn có nghĩa  mình sẽ không xem tivi, nghe radio hay đọc sách trong những khoảng thời gian định kỳ. Nếu chúng ta không bao giờ tự mang đến cho mình cơ hội trải nghiệm sự im lặng, điều này sẽ dẫn đến sự xáo trộn trong đối thoại nội tâm bên trong con người mình.

Đôi khi hãy dành ra một chút thời gian để trải nghiệm sự im lặng. Hay đơn giản chỉ là cam kết giữ im lặng trong một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày. Chúng ta có thể im lặng trong hai giờ đồng hồ, hoặc nếu như thế có vẻ quá nhiều, hãy giữ im lặng trong khoảng một giờ đồng hồ thôi. Rồi dần dần kéo dài thời gian trải nghiệm sự im lặng, chẳng hạn trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc thậm chí cả một tuần.

Điều gì xảy ra khi chúng ta bước vào sự trải nghiệm im lặng này?

Ban đầu, đối thoại nội tâm bên trong con người mình thậm chí trở nên xáo trộn hơn. Chúng ta cảm thấy nhu cầu cấp thiết được nói. Tôi có biết những người hoàn toàn phát điên trong một hoặc hai ngày đầu khi họ tự cam kết kéo dài thời gian im lặng. Cảm giác bức thiết và lo lắng đột nhiên choán lấy họ. Nhưng khi họ tiếp tục giữ im lặng, đối thoại nội tâm bắt đầu lắng xuống. Và không lâu sau, im lặng trở nên sâu xa. Đó là do, sau một khoảng thời gian, tâm trí đầu hàng; nó nhận ra rằng chẳng ích gì khi cứ nổi loạn như thế nếu mình - Cái Tôi, tinh thần, người lựa chọn - vẫn sẽ không nói. Sau đó, khi đối thoại nội tâm lắng xuống, chúng ta bắt đầu trải nghiệm sự im lặng thuộc trường tiềm năng thuần khiết.

Luyện tập giữ im lặng theo thời gian định kỳ khi thuận tiện cho mình là một cách để trải nghiệm Quy luật Tiềm năng Thuần khiết.

Một cách khác là dành thời gian tham thiền mỗi ngày. Tốt nhất, chúng ta nên thiền ít nhất ba mươi phút vào mỗi buổi sáng, ba mươi phút vào mỗi buổi tối. Thông qua ngồi thiền, chúng ta sẽ biết cách trải nghiệm trong im lặng thuần khiết và ý thức thuần khiết. Bên trong trường im lặng thuần khiết này là trường tương quan vô hạn, trường quyền năng tổ chức vô hạn, nền tảng tối hậu của sáng tạo nơi vạn vật được gắn kết với nhau không thể tách rời.

Trong quy luật tinh thần thứ năm, Quy luật Mục đích và Khát vọng, chúng ta sẽ thấy có thể bắt đầu đưa ra một mục đích mờ nhạt trong trường này như thế nào, và việc hình thành những khát vọng của mình sẽ xảy đến một cách tự nhiên ra sao. Nhưng trước hết, chúng ta phải trải nghiệm sự tĩnh lặng. Tĩnh lặng là yêu cầu đầu tiên để hiện thực hóa những khát vọng của mình, bởi trong tĩnh lặng ta được kết nối với trường tiềm năng thuần khiết vốn có khả năng sắp đặt vô vàn những chi tiết cho mình.

Hãy tưởng tượng chúng ta ném một viên đá nhỏ xuống mặt hồ phẳng lặng và quan sát mặt hồ gợn sóng. Một lát sau, khi những gợn sóng đó lặn đi, có thể ta mới ném hòn tiếp theo. Đó chính xác là điều ta làm khi đi vào trường im lặng thuần khiết và đưa ra mục đích của mình. Trong sự tĩnh lặng này, ngay cả mục đích mờ nhạt nhất cũng sẽ gợn sóng qua tầng đáy của ý thức vũ trụ, nơi kết nối vạn vật với nhau. Nhưng, nếu mình không trải nghiệm sự tĩnh lặng trong ý thức, nếu tâm trí mình giống như một đại dương đầy biến động, thì ta có thể ném cả Tòa nhà 25 tầng vào nó mà không nhận thấy điều gì. Trong Kinh Thánh có viết, “Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Chúa Trời.” Điều này chỉ có thể đạt được qua việc ngồi thiền.

Một cách khác tiếp cận trường tiềm năng thuần khiết là qua việc luyện tập không-phán-xét. Phán xét là không ngừng đánh giá sự việc theo chiều hướng đúng hay sai, tốt hay xấu. Khi liên tiếp đưa ra những đánh giá, phân loại, xếp hạng, phân tích, chúng ta sẽ tạo ra vô số những xáo trộn trong đối thoại nội tâm. Sự xáo trộn này cản trở dòng chảy năng lượng giữa mình  với trường tiềm năng thuần khiết.

Do vậy, việc không-phán-xét sẽ giúp ta thu hẹp được “khoảng trống” giữa những ý tưởng.

Khoảng trống là mối liên hệ của mình với trường tiềm năng thuần khiết. Đó là trạng thái ý thức thuần khiết, là khoảng lặng giữa những ý tưởng, là sự tĩnh lặng bên trong kết nối mình với sức mạnh thực sự. Và khi chúng ta siết hẹp khoảng trống, có nghĩa là ta siết chặt mối liên hệ giữa mình  với trường tiềm năng thuần khiết và sáng tạo vô tận.

Trong cuốn Một khoá học về phép màu có một lời cầu nguyện rằng, “Ngày hôm nay tôi sẽ không phán xét bất cứ điều gì xảy ra.”

Không- phán-xét tạo ra sự tĩnh lặng trong tâm trí. Do vậy, sẽ là một ý tưởng hay nếu bắt đầu một ngày mới với câu nói đó. Và trong cả ngày hôm ấy, hãy tự nhắc mình nhớ đến lời cầu nguyện đó mỗi khi ta bắt gặp chính mình đang phán xét. Nếu làm vậy suốt cả ngày có vẻ như quá khó khăn, chúng ta có thể chỉ đơn giản là tự nhắc mình rằng, “Trong hai giờ tới, mình sẽ không phán xét điều gì cả,” hoặc “Mình sẽ không đưa ra bất kỳ phán xét nào trong một giờ tiếp theo.” Sau đó ta có thể dần dần kéo dài thời gian không-phán-xét.

Thông qua phương pháp im lặng, Ngồi thiền và không-phánxét, chúng ta sẽ tiếp cận được quy luật đầu tiên, Quy luật Tiềm năng Thuần khiết. Khi bắt đầu thực hiện điều đó, chúng ta có thể bổ sung thêm phương pháp luyện tập thứ tư, đó là ta đều đặn dành thời gian trực tiếp giao hòa với thiên nhiên. Dành thời gian sống với thiên

nhiên sẽ giúp ta cảm nhận được sự giao hòa của mọi nhân tố và các lực cấu thành nên cuộc sống, mang lại cho mình cảm giác hòa hợp với mọi thành phần của cuộc sống. Bất kể đó là dòng suối, cánh rừng, ngọn núi, là ao hồ hay bãi biển thì mối liên hệ với trí tuệ tự nhiên cũng sẽ giúp ta tiếp cận được trường tiềm năng thuần khiết.

Chúng ta phải học cách chạm đến bản chất sâu thẳm nhất trong con người mình. Bản chất đích thực này vượt ra ngoài bản ngã. Nó đầy dũng khí; nó tự do; nó miễn nhiễm với mọi chỉ trích; nó không sợ bất cứ thử thách nào. Nó không thấp kém hơn ai, cũng chẳng đứng trên ai, và nó đầy ma lực, kỳ bí và lôi cuốn.

Tiếp cận bản chất đích thực cũng sẽ giúp ta nhìn thấu được tấm gương của các mối quan hệ, bởi tất cả các mối quan hệ đều là sự phản chiếu quan hệ của mình với chính bản thân mình. Chẳng hạn, nếu mình thấy có lỗi, sợ hãi và bất an về tiền bạc, thành công hay bất cứ điều gì khác thì đó là những phản chiếu về tội lỗi, nỗi sợ hãi và cảm giác bất an như những khía cạnh cơ bản của tính cách con người mình. Chẳng có khoản tiền hay thành công nào có thể giải quyết được những vấn đề căn bản của sự tồn tại; chỉ có việc thấu rõ Cái Tôi mới có thể đem lại sự hàn gắn đích thực. Và khi chúng ta đã quá thấu hiểu về Cái Tôi đích thực - khi chúng ta thực sự hiểu được bản chất đích thực của mình - Ta sẽ không bao giờ có cảm giác tội lỗi, sợ hãi hay bất an về tiền bạc, của cải hay việc thực hiện những khát vọng của mình, bởi mình sẽ nhận ra rằng bản chất của mọi giàu có vật chất chính là năng lượng cuộc sống, đó là tiềm năng thuần khiết. Và tiềm năng thuần khiết là bản chất bên trong của mình.

Khi chúng ta càng tiếp cận gần hơn tới bản chất đích thực của mình, chúng ta sẽ có được những ý tưởng sáng tạo một cách tự nhiên, bởi trường tiềm năng thuần khiết cũng là trường của sáng tạo vô hạn và kiến thức thuần khiết. Franz Kaa, nhà triết học và là nhà thơ người Áo, từng nói: “Bạn không cần phải rời căn phòng của mình. Hãy cứ ngồi tại chỗ mà lắng nghe. Thậm chí bạn không cần phải lắng nghe,

chỉ cần chờ đợi. Chúng ta thậm chí chẳng cần phải chờ đợi, chỉ cần học cách trở nên im lặng, trầm mặc, và cô tịch. Thế giới sẽ tự dâng nó cho mình và mở ra trước mắt mình. Nó không có lựa chọn nào khác; nó sẽ lăn mình trong nhập định dưới chân bạn.”

Sự giàu có của vũ trụ - sự phô bày phong phú và tràn đầy của vũ trụ - là một biểu hiện của tâm trí tự nhiên đầy sáng tạo. Càng hòa nhập sâu vào tâm trí tự nhiên, chúng ta càng đến gần hơn với sức sáng tạo vô tận và không giới hạn của nó. Nhưng trước hết, chúng ta phải vượt qua sự xáo trộn trong đối thoại nội tâm của mình để kết nối với tâm trí tràn đầy, giàu có, vô hạn và đầy sáng tạo đó. Tiếp đó ta tạo cho mình khả năng hoạt động năng nổ, đồng thời vẫn mang trong mình sự tĩnh lặng của tâm trí vĩnh cửu, không giới hạn và đầy sáng tạo. Sự kết hợp mật thiết giữa một tâm trí tĩnh lặng, không giới hạn và vô tận với một tâm trí năng động, có giới hạn và cá biệt là sự cân bằng hoàn hảo cùng lúc của sự tĩnh lặng với sự vận động có thể tạo ra bất cứ thứ gì mình muốn. Sự tồn tại song song đồng thời của những nhân tố đối nghịch nhau - sự tĩnh lặng và năng động - khiến ta không phải phụ thuộc vào hoàn cảnh, tình huống, con người và sự vật.

Khi thanh thản nhận thức được sự tồn tại song song mật thiết của những nhân tố đối lập này, chúng ta gắn kết bản thân mình với thế giới năng lượng - hỗn hợp lượng tử, phi-vật-chất phi-chất- liệu vốn là nguồn gốc của thế giới vật chất. Thế giới năng lượng này không tĩnh lặng, co giãn, dễ biến đổi, đầy năng động và luôn vận động.

Nhưng đồng thời nó cũng không thay đổi, tĩnh lặng, yên ắng, vĩnh cửu và thanh tịch.

Bản thân tĩnh lặng là tiềm năng sáng tạo; bản thân vận động là sự sáng tạo được giới hạn vào một khía cạnh biểu hiện nhất định của nó. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa vận động và tĩnh lặng giúp ta phát huy sức sáng tạo của mình trên tất cả mọi hướng - bất cứ nơi nào sức mạnh của sự chú ý đưa mình tới.

Dù ta đi tới bất cứ đâu trong sự vận động và hoạt động, hãy luôn mang theo sự tĩnh lặng trong con người mình. Để rồi sự vận động hỗn loạn quanh mình sẽ không bao giờ làm lu mờ được con đường đưa ta đến với nguồn sáng tạo, trường tiềm năng thuần khiết.

ÁP DỤNG QUY LUẬT TIỀM NĂNG THUẦN KHIẾT

Tôi sẽ thực hiện Quy luật Tiềm năng Thuần khiết bằng cách cam kết tuân theo các bước sau:

1. Tôi sẽ tiếp cận trường tiềm năng thuần khiết bằng cách mỗi ngày dành ra một khoảng thời gian để im lặng, để chỉ Hiện hữu. Tôi cũng sẽ ngồi thiền một mình trong im lặng ít nhất hai lần một ngày với khoảng ba mươi phút vào buổi sáng và ba mươi phút vào buổi tối.

2. Mỗi ngày tôi sẽ dành thời gian giao hòa với thiên nhiên và lặng lẽ nhận thức khả năng vốn có bên trong mỗi sinh linh.

Tôi sẽ lặng lẽ ngồi ngắm mặt trời lặn, hay lắng nghe âm thanh của đại dương hay dòng suối, hoặc đơn giản chỉ là ngửi mùi hoa. Trong trạng thái nhập định tĩnh lặng của riêng mình, và bằng cách giao hòa với tự nhiên, tôi sẽ tận hưởng được nhịp đập của các thời đại, trường tiềm năng thuần khiết và sáng tạo vô biên.

3. Tôi sẽ thực hiện phương pháp không-phán-xét. Tôi sẽ bắt đầu một ngày mới của mình với câu nói, “Ngày hôm nay, tôi sẽ không phán xét bất kỳ điều gì xảy ra,” và suốt cả ngày, tôi sẽ tự nhắc mình không được phán xét.


 

BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG phần 2

2 QUY LUẬT CHO

Vũ trụ vận động thông qua sự trao đổi rất năng động... cho và nhận là những mặt khác nhau của cùng một dòng năng lượng trong vũ trụ.

Và khi tự nguyện cho đi những thứ đang tìm kiếm, ấy là chúng ta đang giữ cho sự giàu có của vũ trụ luân chuyển trong cuộc sống của chính mình.

Thân này thuyền nhỏ mỏng manh đã bao lần Người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi. Sáo này cây sậy khẳng khiu Người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng, và thổi nên bao giai điệu mới mẻ bất tử... Tặng vật Người ban vô biên vô tận, nhưng để đón xin, tôi chỉ có đôi tay bé nhỏ vô cùng này. Thời gian lớp lớp đi qua, Người vẫn chưa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.

— Rabindranath Tagore, Gitanjali

Quy luật tinh thần thứ hai của thành công là Quy luật Cho. Quy luật này còn được gọi là Quy luật Cho và Nhận, bởi vũ trụ vận động thông qua sự trao đổi năng động. Chẳng có gì là bất biến. Cơ thể chúng ta trao đổi năng động và không ngừng với cơ thể vũ trụ; còn tâm trí mình cũng tương tác một cách linh hoạt với tâm trí vũ trụ; năng lượng của mình chính là biểu hiện của năng lượng vũ trụ.

Dòng chảy cuộc sống thực chất là sự tương tác hài hòa của tất cả các yếu tố và lực cấu thành nên sự sống. Sự tương tác hài hòa này của các yếu tố và thành phần trong cuộc đời mình tuân theo Quy luật Cho. Bởi Cơ thể chúng ta, trí óc mình và vũ trụ đều luôn trong trạng thái trao đổi năng động không ngừng; việc ngừng trao đổi năng lượng chẳng khác nào chặn đứng mạch máu lại. Bất cứ lúc nào máu ngừng  lưu thông, nó sẽ tự đông, đóng cục và làm tắc nghẽn mạch máu. Đó là lý do tại sao ta phải cho và nhận để luôn luân chuyển sự giàu có và thịnh vượng - hay bất cứ thứ gì mình muốn - trong cuộc sống.

Từ “affluence” (sự giàu có) bắt nguồn từ từ gốc “affluence”, nghĩa là “chảy tới”. Do đó, từ “affluence” có nghĩa “chảy tràn đầy”.

Tiền thực sự là biểu tượng của thứ năng lượng sống mà chúng ta trao đổi và thứ năng lượng sống mà chúng ta sử dụng như là hệ quả của những gì chúng ta mang đến cho vũ trụ. Một từ khác dùng để chỉ tiền là “currency” (tiền tệ) cũng phản ánh bản chất chảy trôi của năng lượng. Từ “currency” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “currere” nghĩa là “chạy” hay “chảy”.

Do vậy, nếu chúng ta ngừng lưu thông tiền tệ - nếu chúng ta chỉ muốn nắm giữ và tích trữ tiền - thì bởi nó là năng lượng sống nên chúng ta cũng sẽ chặn vòng chu chuyển khiến nó không quay lại được với cuộc sống chúng ta. Để giữ cho nguồn năng lượng đó luôn đến được với chúng ta, chúng ta phải duy trì nguồn năng lượng ấy luôn lưu thông. Cũng giống như dòng sông, tiền cũng phải chảy, nếu không nó sẽ bắt đầu tắc nghẽn, đình trệ, chết nghẹt và kìm hãm sinh lực của chính nó. Lưu thông sẽ giữ cho nó sống và có giá trị.

Bất cứ mối quan hệ nào cùng đều là cho và nhận. Cho sinh nhận, và nhận sinh cho. Thứ gì lên cao ắt sẽ hạ xuống; thứ gì ra đi ắt sẽ quay lại. Trên thực tế, nhận cũng giống như cho, bởi cho và nhận là các mặt khác nhau của cùng một dòng năng lượng trong vũ trụ.

Nếu mình chặn dòng chảy của một trong hai thứ đó thì có nghĩa chúng ta đã can thiệp vào trí tuệ tự nhiên.

Trong mỗi hạt giống là tương lai của hàng ngàn cánh rừng. Nhưng hạt giống đó không phải để cất đi; nó phải mang sức sống của mình đến với mảnh đất màu mỡ. Bằng cách ấy, nguồn năng lượng vô hình của nó sẽ tuôn chảy để hiển lộ thành vật chất hữu hình.

Càng cho đi, chúng ta sẽ càng nhận lại được nhiều bởi mình sẽ giữ được sự giàu có của vũ trụ luôn vận động trong cuộc sống của mình.

Trên thực tế, bất cứ thứ gì có giá trị trong cuộc sống chỉ càng nhân lên khi nó được cho đi. Cái không được nhân lên khi đem cho thì không đáng cho cũng không đáng nhận. Nếu cho đi, chúng ta cảm thấy mất một thứ gì đó thì rõ ràng món quà ấy chưa thực sự được cho và sẽ không được nhân lên. Nếu chúng ta cho đi một cách miễn cường, thì chẳng có chút năng lượng nào đằng sau hành động đem cho.

Như vậy, chính chủ ý đằng sau hành động cho đi và nhận lại của mình là điều quan trọng nhất. Nó phải luôn mang lại hạnh phúc cho cả người cho và người nhận, bởi hạnh phúc là nhân tố hỗ-trợ-cuộc-sống và duy-trì-cuộc-sống, do vậy sẽ tạo ra sự gia tăng về giá trị. Khi hành động cho đi là vô điều kiện và xuất phát từ trái tim, những gì nhận lại sẽ tỷ lệ thuận với những gì đã cho đi. Đó là lý do tại sao hành động cho đi phải vui vẻ - ta phải cảm nhận được niềm vui sướng từ tâm trí mình trong chính hành động cho đi. Có như thế, năng lượng ẩn sau việc cho đi mới nhân lên nhiều lần.

Thực ra, việc thực hiện Quy luật: Cho rất đơn giản: nếu mình muốn có niềm vui, hãy mang niềm vui đến cho người khác; nếu mình muốn được yêu thương, hãy học cách yêu thương người khác; nếu chúng ta muốn được quan tâm và thấu hiểu, hãy học cách quan tâm và thấu hiểu người khác; nếu mình muốn được giàu có về vật chất, hãy giúp người khác trở nên giàu có về vật chất. Thực tế, cách dễ dàng nhất để đạt được những gì  mình muốn là giúp người khác đạt được những gì họ muốn. Nguyên tắc này đúng với mọi cá nhân, tổ chức, xã hội và quốc gia. Nếu chúng ta muốn được ai đó cầu cho mình mọi điều tốt lành trong cuộc sống, hãy học cách lặng lẽ cầu những điều tốt lành trong cuộc sống cho mọi người.

Thậm chí ý nghĩ cho đi, ý định cầu chúc hay một lời cầu nguyện giản đơn lại có sức mạnh tác động đến người khác. Có điều này là bởi khi quy về trạng thái bản chất, cơ thể chúng ta là một bó năng lượng và thông tin khu biệt trong một vũ trụ năng lượng và thông tin. chúng ta là những bó ý thức khu biệt trong một vũ trụ ý thức. Từ “ý thức” không chỉ hàm ý năng lượng và thông tin mà còn hàm ý năng lượng và thông tin cũng sống động như tư duy. Do vậy, chúng ta là những bó tư duy trong một vũ trụ tư duy. Và tư duy thì có khả năng chuyển đổi.

Cuộc sống là vũ điệu bất tử của ý thức, ý thức lại tự bộc lộ bản thân nó là sự trao đổi năng lượng động của những xung năng giữa thế giới vi mô và thế giới vĩ mô, giữa cơ thể con người và cơ thể vũ trụ, giữa tâm trí con người và tâm trí vũ trụ.

Khi học cách cho đi thứ mình tìm kiếm, chúng ta sẽ khởi nguồn và dàn dựng một vũ điệu với những bước nhảy đầy tinh tế, mạnh mẽ và sinh động tạo nên nhịp đập bất tử cho cuộc sống.

Cách tốt nhất để thực hiện Quy luật Cho - để khởi động toàn bộ quá trình luân chuyển - là hãy quyết định mang đến một thứ gì đó cho bất cứ ai mà ta gặp vào bất kỳ lúc nào. Món quà đó không nhất thiết phải có giá trị vật chất; nó có thể là một bông hoa, một lời chúc hay một lời nguyện cầu.

Thực tế, những món quà cho đi có giá trị nhất chính là những thứ phi vật chất. Quan tâm, chăm sóc, quý mến, thấu hiểu và thương yêu là những món quà quý giá nhất ta có thể cho đi mà chúng không lấy đi thứ gì ở mình. Khi chúng ta gặp một ai đó, chúng ta có thể thầm gửi cho họ một lời cầu chúc hạnh phúc, mong cho họ đầy niềm vui và tiếng cười. Cách cho đi lặng lẽ như thế có rất nhiều sức mạnh.

Một trong những điều tôi được dạy khi còn bé, và chính tôi dạy lại con cái mình là không bao giờ được đến nhà ai mà không mang theo thứ gì đó - không bao giờ tới thăm ai mà không mang cho họ chút quà. Có thể ai đó sẽ nói, “Làm sao tôi có thể cho họ trong khi còn chưa đủ cho chính bản thân mình?” Chúng ta có thể mang một bông hoa. Một bông hoa thôi. Chúng ta có thể mang một mẩu giấy hay tấm

thiệp thể hiện tình cảm của mình đối với người mà mình đang đến thăm. Chúng ta có thể mang theo một lời khen. Chúng ta có thể mang theo một lời cầu nguyện.

Với bất cứ nơi nào chúng ta đến, bất cứ ai chúng ta gặp, hãy quyết định cho. Nếu cho đi, chúng ta sẽ được nhận lại. Theo tác động kỳ diệu của quy luật này chúng ta càng cho đi, chúng ta sẽ càng nhận được lòng tin. Và bởi chúng ta nhận được nhiều hơn nên chúng ta cũng sẽ có thể cho đi nhiều hơn.

Bản chất thực sự của chúng ta là bản chất của sự giàu có và dư dả; khi sinh ra, chúng ta đã giàu có bởi tự nhiên đáp ứng cho chúng ta mọi nhu cầu và khát vọng. Chúng ta không thiếu thứ gì bởi bản chất vốn có của chúng ta thuộc tiềm năng thuần khiết và khả năng vô hạn. Do vậy, chúng ta phải hiểu rằng mình vốn đã giàu có rồi, bất kể chúng ta có nhiều tiền hay ít, bởi ngọn nguồn của mọi sự giàu có là tiềm năng thuần khiết - đó là nhận thức được làm thế nào để thực hiện được mọi nhu cầu, kể cả niềm vui, tình yêu thương, nụ cười, hòa bình, hòa hợp và tri thức. Nếu chúng ta tìm kiếm những điều này trước - không chỉ cho chính bản thân mình, mà cho cả người khác - thì tất cả những điều khác cũng sẽ tự nhiên đến với mình.

ÁP DỤNG QUY LUẬT CHO

Tôi sẽ thực hiện Quy luật Cho bằng cách cam kết tuân theo các bước sau:

1. Bất cứ nơi nào tôi đến và bất cứ người nào tôi gặp, tôi đều sẽ tặng họ một món quà. Món quà đó có thể là một lời khen ngợi, một đóa hoa hay một lời cầu nguyện. Ngày hôm nay, tôi sẽ tặng quà cho những người tôi gặp, và như vậy tôi sẽ bắt đầu quá trình luân chuyền niềm vui, sự giàu có và dư dả trong cuộc sống của mình cũng như trong cuộc sống của những người khác.

2. Hôm nay, tôi sẽ vô cùng biết ơn khi nhận được tất cả những món quà mà cuộc sống mang lại cho tôi. Tôi sẽ nhận những món quà từ thiên nhiên: ánh mặt trời và tiếng chim hót hay mưa xuân hoặc tuyết đầu mùa. Tôi cũng sẽ mở rộng lòng mình để nhận từ những người khác, dù đó là món quà vật chất, tiền bạc, hay một lời khen, một lời cầu nguyện.

3. Tôi sẽ cam kết luôn giữ cho sự giàu có luân chuyển trong cuộc sống của mình bằng cách cho đi và nhận lại những món quà quý giá nhất: sự quan tâm, chăm sóc, thấu hiểu và yêu thương. Mỗi lần gặp ai đó, tôi sẽ thầm chúc cho họ hạnh phúc, tràn ngập niềm vui và tiếng cười.


BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG phần 3

3- QUY LUẬT NGHIỆP QUẢ: HAY NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ QUẢ.

Mọi hành động đều tạo ra thứ sức mạnh quay lại với chúng ta trong trạng thái giống ban đầu... chúng ta gieo cây nào sẽ gặt quả nấy.

Và khi chúng ta lựa chọn những hành động mang lại hạnh phúc và thành công cho người khác, trái ngọt của nghiệp quả sẽ là hạnh phúc và thành công.

Nghiệp quả là sự khẳng định vĩnh cửu tự do con người... Suy nghĩ của chúng ta, ngôn từ của chúng ta và hành vi của chúng ta là những sợi chỉ của tấm lưới mà chúng ta quăng quanh bản thân mình.

— Swami Vivekananda

Quy luật tinh thần thành công thứ ba là Quy luật Nghiệp quả. “Nghiệp quả” vừa là hành động vừa là hệ quả của hành động đó; nó là nguyên nhân, đồng thời là kết quả, bởi mọi hành động đều tạo ra thứ sức mạnh quay lại với chúng ta trong trạng thái giống ban đầu.

Luật Nghiệp quả không phải là điều gì mới mẻ. Hẳn mọi người đã từng nghe “Gieo cây nào, gặt quả ấy.” Rõ ràng, nếu muốn tạo dựng hạnh phúc trong cuộc đời mình, chúng ta phải học cách gieo mầm hạnh phúc. Do vậy, nghiệp quả dùng để chỉ hành động đưa ra lựa chọn có ý thức.

Về bản chất, cả chúng ta và tôi đều là những người không bao giờ ngừng lựa chọn. Trong từng khoảnh khắc tồn tại của mình, chúng ta đều nằm trong địa hạt của mọi khả năng nơi chúng ta được tiếp cận vô số những lựa chọn. Một vài lựa chọn của chúng ta có ý thức, trong khi số khác thì vô thức. Nhưng cách tốt nhất để hiểu và vận  dụng được tối đa luật nghiệp quả là trong bất cứ thời điểm nào cũng phải nhận thức rõ những lựa chọn của chúng ta. Dù chúng ta thích hay không thì bất cứ điều gì đang diễn ra tại thời điểm  này đều là kết quả của những lựa chọn của mình trong quá khứ. Thật không may, nhiều người trong chúng ta lại chọn lựa một cách vô thức, và do vậy chúng ta không nghĩ rằng đó là những sự lựa chọn - trong khi thực tế đúng là như vậy.

Nếu tôi xúc phạm ai đó, rất có thể họ sẽ chọn cách tỏ ra khó chịu. Nếu tôi khen ngợi ai đó, rất có thể họ sẽ chọn cách cảm thấy hài lòng hoặc hãnh diện. Nhưng hãy nghĩ về nó: nó vẫn chỉ là một lựa chọn.

Tôi có thể khiến ai đó bực mình và tôi có thể xúc phạm ai đó, và họ có thể chọn cách không cảm thấy bực mình. Tôi có thể khen ngợi ai đó và họ cũng có thể chọn cách không để điều đó khiến mình hãnh diện.

Nói cách khác, hầu hết chúng ta - thậm chí ngay cả khi chúng ta là những người có khả năng lựa chọn vô hạn - đều trở thành những mớ phản ứng có điều kiện vốn không ngừng được con người và các tình huống tác động mà biến thành những kết quả hành vi có thể đoán trước được.

Những phản ứng có điều kiện này cũng giống như phản xạ Pavlov. Pavlov trở nên nổi tiếng khi chứng minh được rằng nếu mỗi lần cho chó ăn ta đều rung chuông thì dần dần con chó sẽ bắt đầu chảy nước miếng khi chúng ta mới chỉ rung chuông, bởi nó có sự liên tưởng giữa tác nhân kích thích này với tác nhân kích thích kia.

Hầu hết chúng ta đều có những phản ứng lặp lại và có thể đoán trước đối với các nhân tố kích thích trong môi trường như là kết quả của một quá trình điều kiện hóa. Có vẻ như những phản ứng của chúng ta đều do con người và các tình huống gây nên, và chúng ta quên mất rằng đây vẫn chỉ là những chọn lựa mà chúng ta đang

đưa ra trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Chỉ là chúng ta đang chọn lựa một cách vô thức mà thôi.

Nếu mình quay lại một thời điểm và quan sát những chọn lựa của mình trong thời điểm đưa ra lựa chọn ấy, thì chỉ qua hành động quan sát này, chúng ta nắm được toàn bộ quá trình tứ địa hạt vô thức tới địa hạt ý thức. Quá trình chọn lựa và quan sát có ý thức này có tác động mạnh mẽ.

Khi chúng ta đưa ra một lựa chọn - bất kể lựa chọn nào - ta có thể tự hỏi mình hai điều: Thứ nhất, “Hệ quả của lựa chọn mình đang đưa ra là gì?” Ta sẽ ngay lập tức biết rõ câu trả lời từ trong thâm tâm. Thứ hai, “Liệu lựa chọn mình đang đưa ra có mang lại hạnh phúc cho mình và những người xung quanh hay không?” Nếu câu

trả lời là có thì hãy thực hiện lựa chọn đó. Nếu câu trả lời là không, nếu lựa chọn đó khiến mình hay những người xung quanh cảm thấy phiền muộn, hãy gạt nó đi. Đơn giản thế thôi.

Trong số rất nhiều những lựa chọn luôn có sẵn thì chỉ duy nhất một lựa chọn sẽ mang lại hạnh phúc cho mình cũng như những người quanh mình. Và khi chúng ta đưa ra lựa chọn đó, chúng ta sẽ có được một dạng hành vi gọi là hành động đúng đắn tự nhiên. Hành động đúng đắn tự nhiên là hành động phù hợp tại một thời điểm phù hợp. Nó là phản ứng đúng đắn cho mọi tình huống khi nó xảy ra. Chính hành động đó đem lại lợi ích cho mình và bất cứ ai chịu tác động của nó.

Một cơ chế rất thú vị là vũ trụ phải giúp ta đưa ra được những lựa chọn đúng đắn tự nhiên. Cơ chế này gắn với những cảm giác trong Cơ thể chúng ta. Cơ thể chúng ta cảm nhận được hai loại cảm giác: một là dễ chịu, và một là khó chịu. Tại thời điểm mình lựa chọn một cách có ý thức, hãy chú ý đến cơ thể mình và tự hỏi, “Nếu mình đưa ra lựa chọn này, điều gì sẽ xảy ra?” Nếu Cơ thể chúng ta gửi tín hiệu cảm

giác dễ chịu, đó là lựa chọn đúng. Nếu Cơ thể chúng ta gửi tín hiệu khó chịu thì đó không phải là lựa chọn phù hợp.

Với một số người, tín hiệu cảm giác dễ chịu và khó chịu nằm trong vùng đám rối dương , nhưng với hầu hết mọi người thì nó lại nằm trong trái tim. Hãy luôn có ý thức quan tâm tới trái tim mình và hỏi nó mình nên làm gì. Và hãy chờ đợi phản ứng - một phản ứng mang tính vật lý dưới hình thức cảm giác. Nó có thể thuộc cấp độ mờ nhạt nhất trong cảm giác - nhưng nó vẫn hiện hữu ở đó, trong cơ thể mình.

Chỉ có trái tim mới biết câu trả lời chính xác. Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng trái tim ủy mị và đa cảm. Nhưng không hẳn thế. Trái tim mang tính trực giác; tính chính thể , phù hợp với hoàn cảnh, và có tính liên đới. Nó không theo định hướng được-mất. Nó gắn vào bộ não vũ trụ - trường tiềm năng thuần khiết, tri thức thuần

khiết và quyền năng tổ chức vô hạn - và lưu tâm đến tất cả mọi thứ.

Đôi lúc có vẻ như trái tim không có lý trí, nhưng nó có khả năng tính toán chính xác và tỉ mỉ hơn nhiều so với bất cứ thứ gì trong giới hạn của tư duy thuần lý.

Chúng ta có thể vận dụng Quy luật Nghiệp quả để tạo ra tiền bạc và của cải, và vô số những điều tốt lành khác, vào bất cứ lúc nào mình muốn. Nhưng trước hết, chúng ta phải ý thức rõ tương lai mình là kết quả của những lựa chọn mà mình đưa ra trong từng thời điểm của cuộc sống. Nếu thường xuyên ý thức được điều đó, chúng ta sẽ tận dụng được tối đa Quy luật Nghiệp quả. Càng đưa ra được những lựa chọn dựa trên ý thức, chúng ta sẽ càng có được những chọn lựa chính xác một cách tự nhiên - cả cho mình lẫn những người xung quanh.

Vậy còn nghiệp quả trong quá khứ thì sao và nó đang ảnh hưởng tới mình như thế nào? Có ba điều ta có thể làm đối với nghiệp quả trong quá khứ. Một là trả những món nợ nghiệp quả.

Hầu hết mọi người đều chọn cách này - một cách vô thức, tất nhiên.

Đây cũng có thể là lựa chọn của mình. Đôi khi việc trả những món nợ đó mang lại nhiều đau khổ, nhưng theo Quy luật Nghiệp quả thì không có món nợ nào trên thế gian này lại không phải trả. Trên thế gian này tồn tại một hệ thống kế toán hoàn hảo, và mọi thứ đều là sự trao đổi “qua lại” không ngừng của năng lượng.

Điều thứ hai mình có thể làm là chuyền hóa hoặc chuyền đổi nghiệp quả của mình thành một trải nghiệm đáng mong muốn hơn. Đây là một quá trình rất thú vị mà trong đó khi đang trả món nợ nghiệp quả, chúng ta tự hỏi mình, “Tôi có thể học được gì từ trải nghiệm này? Tại sao điều này lại xảy ra và đâu là thông điệp mà vũ trụ gửi đến tôi? Làm thế nào tôi có thể khiến trải nghiệm này trở nên hữu ích cho đồng loại của tôi?”

Bằng cách này, chúng ta tìm kiếm hạt giống cơ hội và sau đó gắn hạt giống ấy với pháp , với mục đích cuộc sống của mình, điều này chúng ta sẽ nói đến trong Quy luật Tinh thần thứ bảy của Thành công.

Cách này cho phép mình chuyển hóa nghiệp quả sang một dạng thức thể hiện mới.

Chẳng hạn, nếu mình gẫy chân trong lúc chơi thể thao, có thể mình sẽ hỏi, “Tôi có thể học được gì tử trải nghiệm này? Đâu là thông điệp mà vũ trụ gửi đến tôi?” Có thể thông điệp đó là ta cần phải chơi chậm lại và hãy cẩn thận hay chú ý hơn đến cơ thể mình trong những lần sau. Và nếu pháp của mình là dạy những người khác điều mình biết, thì bằng cách hỏi, “Làm thế nào tôi có thể khiến trải nghiệm này trở nên hữu ích cho đồng loại của tôi?” có thể ta sẽ quyết định chia sẻ những gì  mình biết được bằng cách viết sách về việc chơi thể thao một cách an toàn. Hoặc ta có thể thiết kế ra một loại giày hay dụng cụ đặc biệt hỗ trợ chân, có khả năng phòng ngừa loại chấn thương như mình từng gặp phải.

Bằng cách này, trong khi trả món nợ nghiệp quả, chúng ta cũng sẽ biến điều bất lợi thành thuận lợi có thể mang lại cho mình sự giàu có và thỏa mãn. Đây là sự chuyển hóa nghiệp quả của mình thành một trải nghiệm tích cực. Chúng ta chưa thực sự thoát khỏi nghiệp quả, nhưng ta có thể hóa giải được một phần nghiệp quả và tạo ra nghiệp quả mới mạng tính tích cực từ nghiệp quả ấy.

Cách thứ ba để đối mặt với nghiệp quả là vượt lên nghiệp quả.

Vượt lên nghiệp quả nghĩa là trở nên độc lập với nghiệp quả. Cách để vượt lên nghiệp quả là không ngừng trải nghiệm khoảng trống, Cái Tôi và Tinh thần. Điều này cũng giống như giặt một miếng vải bẩn trên dòng suối. Mỗi lần giặt nó, chúng ta sẽ làm mờ bớt vết bần. Chúng ta tiếp tục giặt đi giặt lại, và cứ sau mỗi lần giặt nó sẽ trở nên sạch hơn một chút. Chúng ta rũ sạch hay vượt lên hạt giống nghiệp quả bằng cách đi vào khoảng trống rồi lại đi ra. Tất nhiên, điều này được thực hiện

thông qua phương pháp thiền.

Tất cả mọi hành động đều là một phần nghiệp quả. Uống một tách cà phê là một phần nghiệp quả. Hành động đó tạo ra ký ức, và ký ức có khả năng hay tiềm tăng tạo ra khát vọng. Khát vọng lại sinh ra hành động. Phần mềm điều hành của tâm hồn mình là nghiệp quả, ký ức và khát vọng. Tâm hồn mình là một tập hợp ý thức chứa đựng hạt giống nghiệp quả, ký ức và khát vọng. Bằng cách ý thức về những hạt giống hiện hữu này, chúng ta sẽ trở thành người có ý thức tạo ra thực tại. Bằng cách trở thành một người lựa chọn có ý thức, chúng ta sẽ bắt đầu đưa ra những hành động mang tính tiến hóa cho mình và những người xung quanh. Và đó là tất cả những gì  mình cần làm.

Chừng nào nghiệp quả còn mang tính tiến hóa - cho Cái Tôi và bất cứ ai chịu tác động của Cái Tôi - thì hạnh phúc và thành công sẽ chính là những trái ngọt của nghiệp quả.

ÁP DỤNG QUY LUẬT “NGHIỆP QUẢ” HAY LUẬT NHÂN QUẢ

Tôi sẽ thực hiện Quy luật Nghiệp quả bằng cách cam kết tuân theo các bước sau:

1. Hôm nay tôi sẽ xem xét những lựa chọn mà tôi đưa ra tại mỗi thời điểm. Và trong khi thuần túy xem xét những lựa chọn này, tôi sẽ quan tâm, ý thức đến chúng. Tôi sẽ biết cách tốt nhất để chuẩn bị cho bất cứ thời điểm nào trong tương lai chính là việc ý thức đầy đủ ngay từ hiện tại.

2. Bất cứ lúc nào đưa ra một lựa chọn, tôi sẽ tự đặt cho mình hai câu hỏi: “Những hệ quả của lựa chọn mà tôi đưa ra là gì?” và “Liệu lựa chọn này có mang lại sự thỏa mãn và hạnh phúc cho tôi cũng như những người chịu tác động của lựa chọn này hay không?”

3. Sau đó tôi sẽ tìm sự chỉ dẫn từ trái tim mình và sẽ được chỉ dẫn thông qua tín hiệu dễ chịu hay khó chịu của trái tim.

Nếu lựa chọn đó mang lại cảm giác dễ chịu, tôi sẽ tự do lao về phía- trước. Nếu lựa chọn đó khiến tôi khó chịu, tôi sẽ dừng lại và xem xét những hậu quả của hành động bằng cái nhìn nội tâm của tôi. Chỉ dẫn này sẽ giúp tôi đưa ra những lựa chọn đúng đắn tự nhiên cho chính tôi và những người xung quanh.


BẢY QUY LUẬT TINH THẦN CỦA CUỘC SỐNG phần 4

4- QUY LUẬT NỖ LỰC TỐI THIỂU

Trí tuệ tự nhiên vận hành một cách không cần gắng sức... với sự thảnh thơi, hài hòa và yêu thương. Và khi khai thác những nguồn lực hài hòa niềm vui và tình yêu thương, chúng ta tạo nên thành công và may mắn mà không cần gắng sức.

Thánh nhân không đi mà biết, không nhìn mà thấy rõ, không làm mà nên. — Lão Tử

Quy luật tinh thần thứ tư của thành công là Quy luật Nỗ lực Tối thiểu. Quy luật này dựa trên thực tế là trí tuệ tự nhiên thực hiện chức năng với sự thảnh thơi buông bỏ và không cần nhiều nỗ lực. Đây là nguyên tắc hành động tối thiểu, không đối kháng. Do vậy, đây là nguyên tắc hòa hợp và yêu thương. Khi học được bài học này từ tự nhiên, chúng ta sẽ dễ dàng thực hiện được những khát vọng của mình.

Nếu quan sát thế giới tự nhiên trong trạng thái hoạt động, chúng ta sẽ thấy tình trạng nỗ lực tối thiểu rất phố biến, cỏ không cố mọc, nó mọc tự nhiên. Cá không cố bơi, chúng bơi tự nhiên. Hoa không cố nở, chúng nở tự nhiên. Chim không cố bay, chúng bay tự nhiên. Đây là bản chất tự nhiên của chúng. Trái đất không cố gắng quay quanh trục của nó; đó chỉ là bản chất của trái đất - quay với tốc độ chóng mặt và chuyển động vũ bão trong không gian. Bản chất của trẻ thơ là luôn sống hạnh phúc. Bản chất của mặt trời là chiếu sáng. Bản chất của những ngôi sao là nhấp nháy và lấp lánh. Còn bản chất của con người là biến những ước mơ của mình trở nên hữu hình một cách đơn giản và dễ dàng.

Trong Kinh Vệ đà, triết học cổ Ấn Độ, nguyên tắc này được biết đến là nguyên tắc tiết kiệm nỗ lực, hay “làm ít hơn mà đạt được nhiều hơn”. Cuối cùng thì ta đạt đến trạng thái chẳng làm gì nhưng lại có mọi thứ. Điều này có nghĩa  mình chỉ đặt ra một mục tiêu nhỏ, rồi sau đó thực hiện mục tiêu đó mà không cần cố gắng nhiều.

Điều thường được gọi là “phép màu” thực ra chỉ là một biểu hiện của Quy luật Nỗ lực Tối thiểu.

Trí tuệ tự nhiên thực hiện vai trò của mình một cách không cần dụng sức, không căng thẳng và rất tự nhiên. Nó không phải là tuyến tính. Nó mang tính trực giác, tính chính thể và có tác dụng nuôi dưỡng. Và khi sống hài hòa với tự nhiên, khi hiểu thấu được Bản ngã đích thực của mình, chúng ta có thể tận dụng được Quy luật Nỗ lực Tối thiểu.

Nỗ lực tối thiểu được áp dụng khi hành động của mình xuất phát từ tình yêu, bởi tự nhiên được gắn kết với nhau nhờ năng lượng của tình yêu. Khi tìm kiếm quyền lực và muốn kiểm soát người khác, chúng ta sẽ tiêu tốn năng lượng. Khi tìm kiếm tiền bạc hay quyền lực vì bản ngã hướng ngoại, chúng ta tiêu tốn năng lượng theo đuổi ảo mộng hạnh phúc thay vì tận hướng hạnh phúc trong từng khoảnh khắc.

Khi kiếm tiền chỉ cho riêng bản thân mình, chúng ta đã chặn đứng dòng năng lượng chảy đến chỗ mình, và can thiệp vào biểu hiện của trí tuệ tự nhiên. Nhưng khi chúng ta hành động xuất phát từ tình yêu thương thì năng lượng sẽ không bị mất đi. Khi hành động của mình xuất phát từ tình yêu thương, năng lượng của mình sẽ được nhân lên và lũy tiến - và nguồn năng lượng dư thừa mà mình tập hợp và tận hưởng có thể được chuyển hóa để tạo ra bất cứ thứ gì mình muốn, kể cả sự giàu có vô hạn.

Chúng ta có thể xem thể xác mình như một công cụ kiểm soát năng lượng: nó có thể tạo ra, dự trữ và tiêu tốn năng lượng. Nếu biết cách tạo ra, dự trữ và tiêu tốn năng lượng một cách hiệu quả, chúng ta có thể trở nên giàu có ở bất cứ mức độ nào. Việc chú ý đến bản ngã tiêu tốn nhiều năng lượng nhất. Khi điểm quy chiếu nội tại của mình là bản ngã, khi chúng ta tìm kiếm quyền lực và kiểm soát người khác hay kiếm tìm sự ủng hộ từ người khác, thì ta đang lãng phí năng lượng của

mình.

Khi năng lượng đó giải phóng, nó có thể được tái chuyền hóa và sử dụng để tạo ra bất cứ thứ gì mình muốn. Khi điểm quy chiếu nội tại của mình là tinh thần, khi chúng ta miễn nhiễm với mọi chỉ trích và không sợ bất cứ thử thách nào, chúng ta có thể tận dụng được sức mạnh tình yêu, và sử dụng năng lượng một cách sáng tạo để tận hưởng sự giàu có và phát triển.

Trong cuốn Nghệ thuật Mơ ước, Don Juan nói với Carlos Castaneda rằng, "... hầu hết năng lượng của chúng ta đều phục vụ cho tầm quan trọng của chúng ta... Nếu chúng ta có khả năng bỏ đi phần nào đó cái tầm quan trọng ấy, hai điều phi thường sẽ xảy đến:

Một là, chúng ta sẽ giải phóng năng lượng của mình, thôi không nỗ lực duy trì ảo tưởng về tầm vĩ đại của mình nữa; và hai là, chúng ta sẽ tự cấp cho mình đủ năng lượng để... có một ý niệm thoáng qua về sự vĩ đại thực sự của vũ trụ.”

Có ba yếu tố cấu thành Quy luật Nỗ lực Tối thiểu - ba điều chúng ta có thể làm để biến nguyên tắc “làm ít mà đạt được nhiều” thành hành động. Yếu tố đầu tiên là sự chấp nhận. Chấp nhận chỉ đơn giản có nghĩa là ta hứa: “Ngày hôm nay tôi sẽ chấp nhận những con người, những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện xảy ra.” Điều này có nghĩa tôi sẽ biết được thời điểm này là như nó cần phải thế, bởi toàn bộ vũ trụ cũng đang trong trạng thái như nó cần phải thế. Thời điểm này - thời điểm mình đang trải nghiệm - là đỉnh điểm của mọi thời điểm mình đã trải nghiệm trong quá khứ. Thời điểm này diễn ra như nó vốn thế bởi toàn bộ vũ trụ cũng đang diễn ra như nó vốn thế.

Nếu đấu tranh chống lại thời điểm này, thì thực ra chúng ta đang đấu tranh chống lại toàn thể vũ trụ. Thay vì như thế, chúng ta có thể quyết định hôm nay sẽ không đấu tranh chống lại toàn thể vũ trụ bằng cách không chống lại thời điểm hiện tại. Điều này có nghĩa sự chấp nhận của mình đối với thời điểm này là hoàn toàn và tuyệt đối.

Chúng ta chấp nhận các sự việc như chúng vốn thế, chứ không như mình ao ước chúng như thế trong thời điểm này. Hiểu được điều này rất quan trọng. Chúng ta có thể ước những điều trong tương lai sẽ khác đi, nhưng tại thời điểm này chúng ta phải chấp nhận sự việc như chúng vốn thế.

Khi chúng ta cảm thấy bực tức hay cáu giận một người hay tình huống nào đó, hãy nhớ rằng không phải mình đang phản ứng lại con người hay tình huống đó, mà chính là phản ứng lại những cảm xúc của mình về con người hay tình huống đó. Đây đều là những cảm xúc của mình, mà cảm xúc của mình thì không phải là lỗi của ai đó. Khi chúng ta nhận biết và hiểu được điều này một cách đầy đủ, thì ta đang sẵn sàng chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình và thay đổi nó. Và nếu chúng ta có thể chấp nhận sự việc như chúng vốn thế, thì ta đang sẵn sàng chịu trách nhiệm về hoàn cảnh của mình và về tất cả những vấn đề mà mình cho là khó khăn.

Điều này dẫn chúng ta đến yếu tố thứ hai của Quy luật Nỗ lực Tối thiểu, đó là trách nhiệm. Vậy trách nhiệm nghĩa là gì? Trách nhiệm có nghĩa ta không đổ lỗi cho bất cứ ai hay bất cứ điều gì đối với hoàn cảnh của mình, kể cả chính mình. Khi đã chấp nhận tình huống này, sự kiện này, khó khăn này, thì khi đó trách nhiệm có nghĩa là khả năng đưa ra một phản ứng sáng tạo trước tình huống như nó đang diễn ra. Tất cả mọi khó khăn đều chứa đựng những hạt giống cơ hội, và nhận thức được điều này cho phép  mình nắm bắt thời điểm và biến nó thành một tình huống hay sự việc tốt đẹp hơn.

Một khi thực hiện được điều này, mỗi tình huống bị coi là gây khó chịu sẽ trở thành cơ hội sáng tạo ra thứ gì đó mới mẻ và tốt đẹp, và người bị coi là kẻ hành hạ hay kẻ bạo ngược sẽ trở thành người thầy của mình. Thực tế là một sự diễn giải. Và nếu chọn diễn giải thực tế theo cách này, chúng ta sẽ có rất nhiều người thầy xung quanh mình, và nhiều cơ hội được mở ra cho mình.

Bất cứ lúc nào phải đối mặt với kẻ bạo ngược, kẻ hành hạ, người thầy, người bạn, hay kẻ thù của mình (những từ này đều mang nghĩa giống nhau) thì hãy tự nhắc mình rằng, “Thời điểm này đang diễn ra như nó nên thế.” Bất cứ mối quan hệ nào  mình cuốn vào cuộc sống của mình tại thời điểm này đều chính là những thứ mình

cần trong cuộc đời mình tại thời điểm này. Đằng sau mọi sự việc đều có một ý nghĩa tiềm ẩn nào đó, và ý nghĩa tiềm ẩn này đang giúp cho sự tiến hóa của chính mình.

Yếu tố thứ ba của Quy luật Nỗ lực Tối thiểu là không tự bảo vệ, điều này có nghĩa nhận thức của mình được tạo ra mà không được bảo vệ, và mình từ bỏ nhu cầu thuyết phục người khác hay làm cho người khác tin quan điểm của mình. Nếu quan sát những người xung quanh, chúng ta sẽ thấy họ dành tới chín mươi chín phần trăm thời gian để bảo vệ chính kiến của họ. Nếu chỉ từ bỏ nhu cầu bảo vệ ý kiến của mình, thì trong sự từ bỏ đó mình sẽ tiếp cận được một nguồn năng lượng khổng lồ từng bị lãng phí trước đây.

Khi chúng ta bắt đầu bảo vệ quan điểm của mình, chỉ trích người khác, và không chấp nhận hay đầu hàng thời điểm này, cuộc sống của mình sẽ gặp phải sự phản kháng. Bất cứ khi nào mình đối mặt với sự phản kháng, hãy nhận ra rằng nếu mình phản ứng lại tình huống đó, thì mức độ phản kháng chỉ càng tăng lên. Chúng ta không nên giống cây sồi cao lớn đứng cứng đơ để rồi nứt toác và sụp đổ trong giông bão. Thay vào đó, chúng ta cần mềm dẻo, như cỏ dại rạp xuống dưới mưa bão và sống sót.

Hãy thôi bảo vệ quan điểm của mình. Khi chúng ta không có lý do gì để bảo vệ, thì đừng để tranh luận xảy ra. Nếu chúng ta kiên trì thực hiện điều này - nếu mình thôi tranh cãi và kháng cự - Chúng ta sẽ hoàn toàn trải nghiệm được hiện tại, nó là một món quà. Có ai đó từng nói với tôi rằng, “Quá khứ là lịch sử, tương lai là bí ẩn, và hiện tại là một món quà.”

Nếu mình trân trọng hiện tại và trở thành một phần của nó, hòa vào nó, thì ta sẽ cảm nhận được sự ấm áp, hăng hái và rạng rỡ của niềm vui rộn ràng trong tất thảy mọi sinh thể hữu tri. Khi chúng ta bắt đầu cảm nhận được niềm hân hoan tinh thần này trong vạn vật đang tồn tại, khi chúng ta trở nên gần gũi với nó thì niềm vui sẽ được sinh ra ngay bên trong ta, và mình sẽ quên đi những phiền toái và gánh nặng tồi tệ của tính hay chống đối, hay oán giận và dễ tổn thương.

Chỉ như thế chúng ta mới trở nên thư thái, thảnh thơi, vui vẻ và tự do. Trong sự tự do đầy vui sướng và giản đơn này, chúng ta sẽ biết chắc chắn từ trái tim mình rằng điều mình muốn luôn có sẵn cho mình bất cứ khi nào mình cần, bởi nó đến từ hạnh phúc chứ không phải từ lo lắng hay sợ hãi. Chúng ta chẳng cần phải chứng tỏ; chỉ đơn giản là bộc lộ ý định của mình với chính bản thân, và mình sẽ cảm nhận được sự thỏa mãn, vui sướng, hân hoan, tự do tự tại và tự do ý chí trong từng khoảnh khắc cuộc sống.

Hãy cam kết đi theo con đường không có sự kháng cự. Đây là con đường mà qua đó trí tuệ tự nhiên sẽ tự mở ra, không xung đột hay cần nhiều nỗ lực. Khi khéo léo kết hợp việc chấp nhận, trách nhiệm và không bảo vệ quan điểm, chúng ta sẽ trải nghiệm được cuộc sống chảy trôi một cách nhẹ nhàng.

Khi chúng ta giữ thái độ cởi mở với mọi quan điểm - không cứng nhắc thiên về một quan điểm duy nhất nào - thì những ước mơ và khát vọng của mình sẽ hòa cùng những khát vọng của tự nhiên. Khi đó chúng ta có thể giải phóng những dự định của mình, không tham đắm, chỉ chờ đợi thời điểm thích hợp để những khát vọng của mình thực sự đơm hoa kết trái. Chúng ta có thể chắc chắn rằng khi thời điểm đó đến, khát vọng của mình sẽ trở thành hiện thực. Đây được gọi là Quy luật Nỗ lực Tối thiểu.

ÁP DỤNG QUY LUẬT NỖ LỰC TỐI THIỂU

Tôi sẽ thực hiện Quy luật Nỗ lực Tối thiểu bằng cách cam kết tuân theo các bước sau:

1. Tôi sẽ thực hiện việc Chấp nhân. Ngày hôm nay tôi sẽ chấp nhận những con người, những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện xảy ra. Tôi sẽ biết được rằng thời điểm này là như nó nên thế, bởi toàn bộ vũ trụ cũng đang trong trạng thái như nó nên thế. Tôi sẽ không đấu tranh chống lại toàn thể vũ trụ bằng cách chống lại thời điểm này. Sự chấp nhận của tôi là hoàn toàn và tuyệt đối. Tôi chấp nhận sự việc như chúng vốn thế tại thời điểm này, chứ không phải như tôi mong muốn.

2. Khi chấp nhận mọi thứ như chúng vốn thế, tôi sẽ chịu trách nhiệm về hoàn cảnh của mình và về tất cả những vấn đề mà mình cho là khó khăn. Tôi biết rằng chịu trách nhiệm có nghĩa không đổ lỗi cho bất cứ ai hay bất cứ điều gì đối với hoàn cảnh của mình (và cả chính bản thân mình). Tôi cũng biết mỗi khó khăn đều là một cơ hội được ngụy trang, và sự tỉnh táo trước các cơ hội này cho phép tôi nhận lấy thời điểm này và biến nó thành lợi ích to lớn hơn.

3. Ngày hôm nay nhận thức của tôi sẽ vẫn được đặt trong trạng thái Không được bảo vệ, Tôi sẽ từ bỏ nhu cầu bảo vệ quan điểm của mình. Tôi sẽ cảm thấy không cần thiết phải thuyết phục hay làm cho người khác chấp nhận quan điểm của mình. Tôi vẫn sẽ cởi mở với mọi quan điểm chứ không cứng nhắc thiên về một quan điểm cụ thể nào trong số đó.


TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...