Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NGHĨ VỀ KIẾP NGƯỜI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NGHĨ VỀ KIẾP NGƯỜI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2023

SUY NGHĨ VỀ KIẾP NGƯỜI

 Đời người đâu mấy lần vui

Kiếp con người mỏng manh như là gió

Sống trên đời có được mấy lần vui

Sao phải đau mà không thể mỉm cười

Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ

 

Nếu có thể sao ta không làm thử

Để tâm hồn khắc hai chữ bình an

Cho đôi chân bước thanh thản nhẹ nhàng

Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi

 

Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi

Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn

Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn

Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo

 

Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão

Sống chỉ cần chốn nương náu mà thôi

Được cơm no áo ấm cũng vui rồi

Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhỡ


 

O

án trách là tâm thái người yếu nhược, chẳng giúp ích gì cho sự việc, chẳng có lợi ích gì cho con người. Đời người tất bật nhọc nhằn, ba chìm bảy nổi.

Suy nghĩ về kiếp người

 Người ta thường nghĩ một kiếp của con người là từ sinh cho đến già, bệnh chết là hết, tức sinh ra để rồi kết thúc bằng cái chết; nếu một kiếp của con người đơn giản như vậy thì thật ra không đáng sống.

 Vì vậy, Đức Phật có suy nghĩ xa hơn là thấy được phía bên trong có cái gì khác nữa mà kinh Hoa Nghiêm diễn tả là Pháp giới duyên sinh.

 Khi Đức Phật dạy rằng con người sinh, già, bệnh, chết là khổ thì gần như ai cũng nhàm chán sống, tức sống để chịu khổ rồi chết. Từ đó, người theo Phật tu hành, xuất gia, bỏ nhà cửa, sự nghiệp và quyến thuộc để sống phạm hạnh. Như vậy, người xuất gia hầu như đã cắt bỏ hết cuộc sống bình thường, nhưng còn thân này thì họ còn phải ăn uống ngủ nghỉ. Tuy nhiên, người tu cắt bớt việc ăn uống ngủ nghỉ để không bị lệ thuộc bốn thứ này thì được giải thoát. Đó là pháp đầu tiên mà Phật dạy cho con người. Thật vậy, trong kinh Pháp hoa, Đức Phật nói rằng Ta vì những người nhàm chán sinh, già, bệnh, chết mới nói pháp Niết-bàn và chỉ dạy con đường đưa đến Niết-bàn là pháp đầu tiên gọi là Tứ Thánh đế, tức bốn chân lý không thay đổi.

 Từ bốn chân lý này mở ra cho con người ta cuộc sống có ý nghĩa là Đức Phật vẽ ra hai con đường sống là cuộc sống khổ đau và cuộc sống an lạc, hay kiếp người khổ đau và kiếp người an lạc. Nếu chọn con đường đi lên là thiên đường hay Niết-bàn, chọn con đường đi xuống là địa ngục. Và Đức Phật dạy rằng kiếp sống khổ hay vui cũng do ta tạo nên, đó là tư tưởng mới nảy sinh trái ngược với tư tưởng cổ của Ấn Độ thời bấy giờ chủ trương con người khổ hay vui đều do Thượng đế quyết định, Thượng đế ban vui, hay hành hạ con người khổ là toàn quyền của ngài. Nhưng Đức Phật dạy rằng con người quyết định vận mạng của mình, Ngài phủ nhận quyền sinh sát của Thượng đế và dạy rằng con người ta không nên giao vận mạng của mình cho người mà mình không biết gọi là Thượng đế.

 Mối liên hệ khắng khít của nhiều đời trước và đời này

Phật dạy khi đọa địa ngục, phải phát tâm Bồ-đề để thoát khổ

 Đức Phật hỏi người Bà-la-môn rằng ông có biết hay thấy Thượng đế hay không. Ông ta trả lời không thấy cũng không biết Thượng đế. Phật hỏi như vậy tại sao ông tin Thượng đế. Ông nói tại vì cha của con, ông của con, tổ tiên của con nói có Thượng đế. Bấy giờ Phật dạy rằng đừng tin những gì được nhiều người trước ta tin. Muốn tin phải kiểm chứng, coi điều ta tin có hợp lý hay không, nếu không hợp lý, ta không tin. Nếu thấy hợp lý rồi còn phải kiểm chứng trong cuộc sống và thấy kết quả không đúng cũng gạt bỏ. Không phải nghe rồi tin, không phải người xưa dạy rồi ta theo.

 Trên bước đường giáo hóa độ sinh, có lần Phật gặp người theo ngoại đạo nói rằng cha của ông dạy mỗi sáng phải lạy sáu phương, nên ông theo truyền thống này mà lạy. Phật mới bảo rằng không nên tin theo truyền thống, nhưng làm phải suy nghĩ truyền thống này có từ bao giờ và có lợi ích nào. Vì vậy, khi lễ bái sáu phương, lạy phương Đông phải nghĩ gì, lạy phương Tây nghĩ thế nào. Phật nói rằng những gì người xưa để lại, con người ta phải kiểm chứng và ngay như lời Phật dạy, cũng phải kiểm chứng trong cuộc sống của con người ta để ứng dụng cho đúng.

 Phật dạy rằng tất cả mọi người sống trên cuộc đời chỉ có một chữ là “Khổ”, không ai thoát được khổ, người giàu hay nghèo, già hay trẻ đều khổ, nói chung, suốt cuộc đời người là khổ. Nếu kiếp con người là khổ thì thử hỏi ai làm con người ta khổ và ai giải quyết được nỗi khổ này. Nếu Thượng đế làm con người ta khổ thì hãy tìm Thượng đế để ngài giải quyết. Nhưng theo Phật dạy chính ta làm khổ ta, như vậy ta phải tự tháo gỡ cái khổ cho mình.

 Phật nói tất cả mọi người đều sợ khổ, nhưng họ luôn tạo nhân khổ; trong kiếp người, ai cũng muốn an lạc nhưng không bao giờ tạo nhân an lạc. Vì vậy, theo Phật, nếu tạo nhân an lạc, dù không muốn an lạc, ta cũng được an lạc; nhưng tạo nhân khổ thì chắc chắn khổ cũng đến với ta, không thể thoát. Trên bước đường tu hành, ý thức như vậy là nhận diện được cái lý của khổ để cắt bỏ lần lần cho đến đoạn tuyệt nỗi khổ. Đầu tiên, nhận ra cái khổ và nguyên nhân của khổ, nhưng đó chỉ mới là giới hạn nỗi khổ niềm đau từ sinh đến chết trong kiếp người hiện tại.  Còn nguyên nhân xa là trước khi sinh, con người ta đã tạo nhân gì ở kiếp quá khứ và do nguyên nhân nào mà tái sinh làm người trên cuộc đời này. Ở đây, con người ta mới tìm cái nhân hiện tại và đoạn cái nhân hiện tại này là Tập đế và tu Đạo đế.

 Con người không khổ, nhưng tự mình làm mình khổ. Nói như vậy đôi khi Phật tử thấy lạ, nhưng suy nghĩ kỹ sẽ nhận ra lời Phật dạy là đúng. Đức Phật dạy rằng nỗi khổ của con người phát xuất từ sự ham muốn, vì ham muốn không được nên khổ gọi là cầu bất đắc khổ. Vì vậy, Phật bảo chỉ cắt bỏ ham muốn, con người ta sẽ hết khổ liền. Ham muốn cái gì? Tất cả mọi người trên cuộc đời này thường ham muốn tiền tài, địa vị, danh vọng là ba điều ham muốn căn bản nhất. Người có ham muốn như vậy thì dù địa vị cao tới đâu, hay tiền bạc có nhiều bao nhiêu cũng khổ. Cứ như vậy mà nỗi khổ tăng lên, không giảm được.

 Dấu mốc của một kiếp người

Nếu cắt được ham muốn phần nào sẽ hết khổ phần đó. Như vậy, thấy cái quả thì sẽ biết được cái nhân gì mà mình đã làm. Thấy Phật được người cung kính, thử nghĩ xem Phật đã làm gì để được như vậy. Đức Phật cho biết Ngài đã trải qua vô số kiếp thực hiện những việc làm của Thánh La-hán, của Bích chi Phật, của Bồ-tát. Hoặc thấy người người kính trọng Bồ-tát Quan Âm, ta cũng muốn được như vậy. Phật dạy rằng tất yếu phải làm như Quan Âm mới được kính trọng, nếu không có việc làm nào giống ngài mà muốn hưởng quả tốt đẹp như ngài chỉ là nấu cát muốn thành cơm.

 Trong kiếp quá khứ xa xưa, khi chưa gặp Phật, Quan Âm cũng phạm sai lầm là muốn người kính trọng và nghe lời. Được người kính trọng và nghe lời, điều này ai cũng muốn. Thí dụ làm thầy thì muốn học trò nghe lời, làm cha mẹ luôn muốn con cái vâng lời. Trước khi được Phật khai thị, Quan Âm có ham muốn quá lớn, muốn người theo ông làm đủ mọi việc, nên luôn thúc giục họ; nhưng họ không làm được thì ông đánh mắng và đuổi đi. Và xua đuổi người xung quanh đi hết, không còn ai, bấy giờ Quan Âm khổ cùng cực, mới thấy Phật. Con người ta cũng vậy, khi nào sung sướng, con người ta lo hưởng thụ, đến lúc rơi vào hoàn cảnh khổ, đọa địa ngục, con người ta mới nghĩ đến Phật.

Có thể thấy rõ trước cái chết, cái khổ, niềm tin con người ta dễ sinh ra, nhưng cuộc sống hơi vui là quên Phật ngay. Những người không khổ mà đi chùa phải biết đó là người có căn lành.

 Phật dạy khi đọa địa ngục, phải phát tâm Bồ-đề để thoát khổ và khi ra khỏi địa ngục, phải nhớ đến nỗi khổ ở địa ngục mà tu hành để không rơi vào cảnh khổ đó nữa và khi được sống trong cảnh sung sướng cũng phải khéo tu, nếu không sẽ bị khổ. Nhìn kỹ cuộc đời thấy bức tranh này có đủ, Trí Giả đại sư gọi là thập giới hỗ cụ. Nghĩa là mở mắt huệ mới thấy được trong một con người hay trong xã hội có đủ thành phần là ma quỷ, hay Phật, Bồ-tát, chư Thiên. Nhìn kỹ thấy quỷ làm việc của quỷ, ma làm việc của ma, Bồ-tát làm việc của Bồ-tát. Thực tế cho thấy có người hiện hữu trên cuộc đời chỉ nghĩ việc duy nhất là hại người, nhưng có người chỉ nghĩ đến việc giúp đỡ người khác, cứu các loài khác. Nhìn vào bức tranh xã hội thấy tất cả người nghèo hay giàu, già hay trẻ đều khổ và ngược lại, thấy có người nghèo nhưng hạn chế được lòng tham, họ vẫn sống an lạc.

 Người sống tri túc theo Phật, tức sống với phúc của mình, với cái mình có, làm sao khổ. Một ngày không sử dụng quá năm mươi phần trăm số tiền mình kiếm được, sẽ không khổ. Con người ta có tiền giúp người thoát khỏi cuộc sống khó khăn, họ sẽ nhớ ơn là con người ta có bạn tốt, hay việc làm của Bồ-tát.

 Đức Phật dạy Quan Âm nhận ra ý này, khi bạn bè, con cháu bỏ đi, ông không làm được gì mới nghĩ đến Phật. Bấy giờ Phật xuất hiện trước Quan Âm. Phật nói vì sai lầm, ông khổ, nay nhận ra sai lầm có thể sửa đổi kiếp người đau khổ thành kiếp người an lạc. Phật dạy Quan Âm, nhưng Ngọc Minh nghĩ rằng Phật dạy Minh tôi, nên Minh tôi tự hạn chế ham muốn của mình. Hạn chế tối đa ham muốn, con người ta sẽ được an lạc tối đa. Nâng ham muốn tối đa sẽ khổ tối đa.

 Tuân theo lời Phật dạy, hạn chế ham muốn tối đa, sống tri túc là sống vừa đủ thì ta còn thặng dư mới giúp đỡ cho người cần. Giúp một người, con người ta có thêm một người bạn, nghĩa là con người ta có thêm hai cánh tay và hai con mắt để thấy được việc xung quanh. Trước đó, con người ta không thấy, nhưng nay nhờ có thêm hai con mắt, nghĩa là nhờ bạn thấy, họ nói cho con người ta biết. Điển hình cho ý này là vào năm 1963, khi Phật giáo tranh đấu chống Chính phủ Diệm, ông có kế hoạch Nước lũ, ra lệnh cắm trại và tấn công tất cả các chùa vào 12 giờ đêm. Lúc ấy, có người ở trong Tổng thống phủ nghe được tin này liền trốn ra ngoài và đến chùa Ấn Quang để báo cho Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo biết. Theo Minh tôi, Phật giáo tranh đấu thành công năm 1963, một phần là nhờ được nhiều người thương, nhiều người hợp tác; vì ông Diệm muốn làm gì, Phật giáo đều biết trước là do các Phật tử làm việc trong Chính phủ báo cho biết.

 Vì vậy, có thể hiểu rằng có thêm một người bạn là ta có thêm hai tay, hay nói cách khác, có người làm thay ta, ta không thể một mình làm hết mọi việc. Cuối cùng, Quan Âm được lòng mọi người, nên mọi người ủng hộ ngài tiêu biểu bằng hình ảnh Quan Âm Bồ-tát có ngàn mắt ngàn tay, không phải có ngàn mắt ngàn tay thiệt. Và trong bàn tay Quan Âm có con mắt nghĩa là làm theo lời Phật dạy, tức hành động có trí tuệ chỉ đạo. Điều này nhắc nhở ta làm gì phải suy nghĩ, đừng làm càn, tu mù thì rất nguy hiểm. Trước khi hành động, ta phải biết việc đó. Muốn cứu người, giúp người, phải biết rõ có nên cứu, có nên giúp hay không và giúp bằng cách nào. Đa số Phật tử làm việc thiếu suy nghĩ, nên thất bại thì phiền não phát sinh. Việc đáng làm, người đáng giúp thì họ trở thành bạn tốt của ta, người không đáng giúp mà giúp, họ sẽ hại ta, làm ta buồn khổ. Có trí tuệ hành xử theo Phật, theo Bồ-tát, cuộc đời mình trở thành tươi đẹp. Như vậy, cuộc đời này trở thành thiên đường hay địa ngục cũng do con người ta quyết định. Làm theo lời Phật dạy Quan Âm thì xã hội con người ta đang sống phải an vui.

 Con người ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh, nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

Con người ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh, nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

 Ta-bà này, Bồ-tát Quan Âm làm được tất cả mọi việc công đức. Trước nhất, ngài có danh hiệu là Phật Viên Thông Thánh Tự Tại, nói đủ là nhĩ căn viên thông, tức ngài nghe được tiếng nói của chư Phật và nghe được những nỗi oan ức của chúng sinh, nên nói Quan Âm có hạnh lắng nghe, từ đó Quan Âm sử dụng lời Phật dạy để xóa bỏ nỗi khổ đau của chúng sinh. Ngày nay, nếu con người ta làm theo Quan Âm, con người ta cũng sẽ trở thành Quan Âm. Muốn vậy, con người ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh, nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

 Điển hình ý này, Đức Phật giới thiệu thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà có điều đặc biệt là tập hợp những người trí thức và đạo đức. Chỗ nào có người trí thức thì chỗ đó sỏi đá cũng thành cơm, vì trí tuệ đóng vai trò rất quan trọng. Thật vậy, ngày nay nếu có kỹ sư hầm mỏ phát hiện được trong lòng đất có mỏ vàng, mỏ đồng, mỏ sắt, mỏ dầu, mỏ than… và khai thác được quặng mỏ này dễ dàng làm giàu cho đất nước. Khi Phật Di Đà về phương Tây lập nghiệp, ở mảnh đất mới này không có gì. Con người ta tạm hình dung ra nước Mỹ ba trăm năm trước không là gì, nhưng ngày nay có rất nhiều người trí thức, tài năng làm việc, nên nước này trở thành cường quốc. Phật dạy chúng ta, nhưng nghiệm lại trong cuộc sống sẽ thấy rõ chỗ có người trí thức thì phát triển nhanh, người trí thức bỏ đi thì giàu trở thành nghèo.

 Hiện tượng nhớ về tiền kiếp: Bí ẩn và những giải mã ban đầu

 

Phật Di Đà xưa kia đến phương Tây hoang dã, Ngài tập hợp những người trí thức về đó. Ngài cho làm đường và trồng cây. Ngày nay con người ta mới nhận ra cây xanh quan trọng cho sự trong lành của môi trường sống của con người. Ở thế giới Cực lạc có bảy hàng cây báu, bảy hàng lưới giăng, ngày nay gọi là hệ thống ra-đa phát ra âm thanh khiến cho người nghe phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Có thể nói Đức Phật Di Đà là một kiến trúc sư vĩ đại và chư vị Bồ-tát là những kỹ sư tài giỏi hợp tác với Ngài, tạo thành thế giới Cực lạc.

 Ngoài ra, Đức Phật Di Đà cho đào ao thất bảo và rải vào đó vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, trân châu… Con người ta có cảm giác rằng Phật thiết kế ao thất bảo như một hồ tắm hiện đại, nước dơ được rút ra và đưa nước bát công đức vào khiến cho người tắm cảm thấy mát mẻ thư thái, không còn phiền não. Đặc biệt là ở trong ao đó, muốn nước tới bụng hay tới cổ thì liền được như vậy. Thoạt nghe điều này có vẻ trừu tượng, nhưng ngày nay trên thực tế, nếu ta xuống ao tắm cũng thấy như vậy, tức phía trên nước cạn và đi tiếp xuống nữa thì ao sẽ sâu hơn, nước sẽ dâng lên đến cổ hay qua khỏi đầu mình. Thiết nghĩ từ hàng ngàn năm trước, Đức Phật đã thiết kế cảnh giới trong lành có ao tắm hoàn toàn sạch sẽ với hệ thống nước lọc các tạp chất, mà ngày nay con người văn minh mới áp dụng được. Nghiên cứu thấy nghĩa sâu của kinh theo đó thế giới Cực lạc hoàn toàn an vui, vì đã được Đức Phật Di Đà kết hợp toàn những người trí thức và đạo đức.

 Bồ-tát Quan Âm ở Ta-bà, vào địa phủ để cứu vớt chúng sinh, ngài không vãng sinh về Tịnh độ, nhưng Đức Phật Di Đà nói rằng Ngài sẽ giao Cực lạc cho Quan Âm làm Giáo chủ.

 Tóm lại, bước theo dấu chân Phật, nếu cắt bỏ lòng tham và điều chỉnh cho đến hoàn thiện suy nghĩ, lời nói, việc làm của ta theo Phật, Bồ-tát, chắc chắn con người ta sẽ có Niết-bàn, Cực lạc ngay trong cuộc sống này.

 


Bao năm sống kiếp con người,

Về sau vui mãi nửa đời hoang vu.

Tôi đi khắp chốn sương mù,

Đi qua bao chốn chiến khu đã nhiều.

 

Đi tìm người để thương yêu,

Vui bao nhiêu tháng, bao nhiêu cuộc tình.

Xa xôi bao cuộc trường chinh,

Xa xôi quên cả người mình thầm thương.

 

Ôi sao yêu quá tầm thường,

Làm sao biết trước, khó lường được đâu.

Trăm năm cho tới bạc đầu,

Tình yêu ta vẫn cứ sầu hay sao?

 

Người ơi người hãy mau mau,

Yêu nhanh kẻo trễ thương nhau cho cùng.

Kiếp đời kiếp sống mung lung,

Làm sao ta biết đường cùng ở đâu?

 

Cuộc đời như rãnh hào sâu,

Ta đi ta té lúc nào không hay.

Sống trên trần thế đời này,

Phải yêu thương hết những ngày tiếp theo.


Thứ Ba, 21 tháng 2, 2023

SUY NGHĨ VỀ KIẾP NGƯỜI

 Kiếp Nhân Sinh

Hôm nay đây ta thấy lòng mệt mỏi

Muốn trốn đời vào một góc riêng tư

Mặc ngoài kia sum họp hay giã từ

Buồn vui kệ , sân si điều chi nữa

 

Ta buông trôi chẳng cần một chỗ dựa

Tự xem mình là điểm tựa bình yên

Không cần ai chia sẻ những ưu phiền

Để lặng lẽ vá may đời sướng khổ

 

Ngắm cuộc đời sao lắm điều ái ố

Buông khóc cười hỉ nộ kiếp nhân sinh

Sân si nhiều sao tránh được điêu linh

Càng toan tính thì càng nhiều oan trái

 

Hỏi thế gian ai có từng nhìn lại

Kiếp con người cuối cùng sẽ về đâu

Qua thăng trầm qua hết thảy bể dâu

Rồi ai cũng hoá thân thành cát bụi

 

Hà cớ chi gieo cho nhau buồn tủi

Đếm đong hoài rồi gian dối bon chen

Giành giật nhau trong một kiếp sang hèn

Ngoảnh đầu lại tóc xanh còn đâu nữa

 

Sao không đem yêu thương về thắp lửa

Ấm tình người giữa bể khổ trầm luân

Xem cuộc đời nhẹ bẫng tựa phù Vân

Để bản thân mỗi người luôn tự tại

 

Hỏi thế gian điều chi là mãi mãi

Nay còn đây mai hoá kiếp vô thường

M

 uốn khóc mà không còn nước mắt,

có phải là tột cùng của bi thương?

 Suy nghĩ về kiếp người

 

Người ta thường nghĩ một kiếp của con người là từ sinh  cho đến già, bệnh chết là hết, tức sinh  ra để rồi kết thúc bằng cái chết; nếu một kiếp của con người đơn giản như vậy thì thiệt ra không đáng sống.

 Vì vậy, Đức Phật có suy nghĩ xa hơn là thấy được phía bên trong có cái gì khác nữa mà kinh Hoa Nghiêm diễn tả là Pháp giới duyên sinh .

 Khi Đức Phật dạy rằng con người sinh , già, bệnh, chết là khổ thì gần như ai cũng nhàm chán sống, tức sống để chịu khổ rồi chết. Từ đó, người theo Phật tu hành, xuất gia, bỏ nhà cửa, sự nghiệp và quyến thuộc để sống phạm hạnh. Như vậy, người xuất gia hầu như đã cắt bỏ hết cuộc sống bình thường, nhưng còn thân này thì họ còn phải ăn uống ngủ nghỉ. Tuy nhiên, người tu cắt bớt việc ăn uống ngủ nghỉ để không bị lệ thuộc bốn thứ này thì được giải thoát. Đó là pháp đầu tiên mà Phật dạy cho con người. Thật vậy, trong kinh Pháp hoa, Đức Phật nói rằng Ta vì những người nhàm chán sinh , già, bệnh, chết mới nói pháp Niết-bàn và chỉ dạy con đường đưa đến Niết-bàn là pháp đầu tiên gọi là Tứ Thánh đế, tức bốn chân lý không thay đổi.

 Từ bốn chân lý này mở ra cho chúng ta cuộc sống có ý nghĩa là Đức Phật vẽ ra hai con đường sống là cuộc sống khổ đau và cuộc sống an lạc, hay kiếp người khổ đau và kiếp người an lạc. Nếu chọn con đường đi lên là thiên đường hay Niết-bàn, chọn con đường đi xuống là địa ngục. Và Đức Phật dạy rằng kiếp sống khổ hay vui cũng do ta tạo nên, đó là tư tưởng mới nảy sinh  trái ngược với tư tưởng cổ của Ấn Độ thời bấy giờ chủ trương con người khổ hay vui đều do Thượng đế quyết định, Thượng đế ban vui, hay hành hạ con người khổ là toàn quyền của ngài. Nhưng Đức Phật dạy rằng con người quyết định vận mạng của mình, Ngài phủ nhận quyền sinh sát của Thượng đế và dạy rằng chúng ta không nên giao vận mạng của mình cho người mà mình không biết gọi là Thượng đế.


Mối liên hệ khắng khít của nhiều đời trước và đời này

 Đức Phật hỏi người Bà-la-môn rằng ông có biết hay thấy Thượng đế hay không. Ông ta trả lời không thấy cũng không biết Thượng đế. Phật hỏi như vậy tại sao ông tin Thượng đế. Ông nói tại vì cha của con, ông của con, tổ tiên của con nói có Thượng đế. Bấy giờ Phật dạy rằng đừng tin những gì được nhiều người trước ta tin. Muốn tin phải kiểm chứng, coi điều ta tin có hợp lý hay không, nếu không hợp lý, ta không tin. Nếu thấy hợp lý rồi còn phải kiểm chứng trong cuộc sống và thấy kết quả không đúng cũng gạt bỏ. Không phải nghe rồi tin, không phải người xưa dạy rồi ta theo.

 Trên bước đường giáo hóa độ sinh , có lần Phật gặp người theo ngoại đạo nói rằng cha của ông dạy mỗi sáng phải lạy sáu phương, nên ông theo truyền thống này mà lạy. Phật mới bảo rằng không nên tin theo truyền thống, nhưng làm phải suy nghĩ truyền thống này có từ bao giờ và có lợi ích nào. Vì vậy, khi lễ bái sáu phương, lạy phương Đông phải nghĩ gì, lạy phương Tây nghĩ thế nào. Phật nói rằng những gì người xưa để lại, chúng ta phải kiểm chứng và ngay như lời Phật dạy, cũng phải kiểm chứng trong cuộc sống của chúng ta để ứng dụng cho đúng.

 Phật dạy rằng tất cả mọi người sống trên cuộc đời chỉ có một chữ là “Khổ”, không ai thoát được khổ, người giàu hay nghèo, già hay trẻ đều khổ, nói chung, suốt cuộc đời người là khổ. Nếu kiếp con người là khổ thì thử hỏi ai làm chúng ta khổ và ai giải quyết được nỗi khổ này. Nếu Thượng đế làm chúng ta khổ thì hãy tìm Thượng đế để ngài giải quyết. Nhưng theo Phật dạy chính ta làm khổ ta, như vậy ta phải tự tháo gỡ cái khổ cho mình.

 Phật nói tất cả mọi người đều sợ khổ, nhưng họ luôn tạo nhân khổ; trong kiếp người, ai cũng muốn an lạc nhưng không bao giờ tạo nhân an lạc. Vì vậy, theo Phật, nếu tạo nhân an lạc, dù không muốn an lạc, ta cũng được an lạc; nhưng tạo nhân khổ thì chắc chắn khổ cũng đến với ta, không thể thoát. Trên bước đường tu hành, ý thức như vậy là nhận diện được cái lý của khổ để cắt bỏ dần dần cho đến đoạn tuyệt nỗi khổ. Đầu tiên, nhận ra cái khổ và nguyên nhân của khổ, nhưng đó chỉ mới là giới hạn nỗi khổ niềm đau từ sinh  đến chết trong kiếp người hiện tại. Còn nguyên nhân xa là trước khi sinh , chúng ta đã tạo nhân gì ở kiếp quá khứ và do nguyên nhân nào mà tái sinh  làm người trên cuộc đời này. Ở đây, chúng ta mới tìm cái nhân hiện tại và đoạn cái nhân hiện tại này là Tập đế và tu Đạo đế.

 Con người không khổ, nhưng tự mình làm mình khổ. Nói như vậy đôi khi moi người thấy lạ, nhưng suy nghĩ kỹ sẽ nhận ra lời Phật dạy là đúng. Đức Phật dạy rằng nỗi khổ của con người phát xuất từ sự ham muốn, vì ham muốn không được nên khổ gọi là cầu bất đắc khổ. Vì vậy, Phật bảo chỉ cắt bỏ ham muốn, chúng ta sẽ hết khổ liền. Ham muốn cái gì? Tất cả mọi người trên cuộc đời này thường ham muốn tiền tài, địa vị, danh vọng là ba điều ham muốn căn bản nhất. Người có ham muốn như vậy thì dù địa vị cao tới đâu, hay tiền bạc có nhiều bao nhiêu cũng khổ. Cứ như vậy mà nỗi khổ tăng lên, không giảm được.


 Dấu mốc của một kiếp người

 Nếu cắt được ham muốn phần nào sẽ hết khổ phần đó. Như vậy, thấy cái quả thì sẽ biết được cái nhân gì mà mình đã làm. Thấy Phật được người cung kính, thử nghĩ xem Phật đã làm gì để được như vậy. Đức Phật cho biết Ngài đã trải qua vô số kiếp thực hiện những việc làm của Thánh La-hán, của Bích chi Phật, của Bồ-tát. Hoặc thấy người người kính trọng Bồ-tát Quan Âm, ta cũng muốn được như vậy. Phật dạy rằng tất yếu phải làm như Quan Âm mới được kính trọng, nếu không có việc làm nào giống ngài mà muốn hưởng quả tốt đẹp như ngài chỉ là nấu cát muốn thành cơm.

 Trong kiếp quá khứ xa xưa, khi chưa gặp Phật, Quan Âm cũng phạm sai lầm là muốn người kính trọng và nghe lời. Được người kính trọng và nghe lời, điều này ai cũng muốn. Thí dụ làm thầy thì muốn học trò nghe lời, làm cha mẹ luôn muốn con cái vâng lời. Trước khi được Phật khai thị, Quan Âm có ham muốn quá lớn, muốn người theo ông làm đủ mọi việc, nên luôn thúc giục họ; nhưng họ không làm được thì ông đánh mắng và đuổi đi. Và xua đuổi người xung quanh đi hết, không còn ai, bấy giờ Quan Âm khổ cùng cực, mới thấy Phật. Chúng ta cũng vậy, khi nào sung sướng, chúng ta lo hưởng thụ, đến lúc rơi vào hoàn cảnh khổ, đọa địa ngục, chúng ta mới nghĩ đến Phật. Nói đến đây, Ngọc Minh nhớ lại bốn mươi năm trước, có các sinh viên sợ bị đi bộ đội mới nhờ nhà chùa lo cho họ sang Nhật học. Vì vậy, lúc đó, nhà chùa bảo làm gì, họ đều nghe theo.

 Nhà chùa bảo tụng kinh Pháp hoa, ăn chay, đi chùa thì họ nghe theo răm rắp. Sau đó họ hỏi con làm như vậy rồi, chừng nào được đi Nhật. Nhà chùa bảo phải hết lòng tụng kinh, Phật sẽ độ. Các anh này ráng tụng kinh, lạy Phật nữa. Nhà chùa mới nói với Hòa thượng Yoshimizu rằng các sinh viên sợ đi lính, nếu Hòa thượng bảo lãnh họ sang Nhật học, họ không bị đi lính là cứu được một người thoát chết. Ông mới bảo lãnh họ sang Nhật. Các sinh viên hết lòng tụng kinh, được qua Nhật, tháng đầu họ còn đi chùa, nhưng đến tháng thứ hai, không đi chùa nữa viện cớ là bận. Có thể thấy rõ trước cái chết, cái khổ, niềm tin chúng ta dễ sinh  ra, nhưng cuộc sống hơi vui là quên Phật ngay. Những người không khổ mà đi chùa phải biết đó là người có căn lành.

 Phật dạy khi đọa địa ngục, phải phát tâm Bồ-đề để thoát khổ và khi ra khỏi địa ngục, phải nhớ đến nỗi khổ ở địa ngục mà tu hành để không rơi vào cảnh khổ đó nữa và khi được sống trong cảnh sung sướng cũng phải khéo tu, nếu không sẽ bị khổ. Nhìn kỹ cuộc đời thấy bức tranh này có đủ, Trí Giả đại sư gọi là thập giới hỗ cụ. Nghĩa là mở mắt huệ mới thấy được trong một con người hay trong xã hội có đủ thành phần là ma quỷ, hay Phật, Bồ-tát, chư Thiên. Nhìn kỹ thấy quỷ làm việc của quỷ, ma làm việc của ma, Bồ-tát làm việc của Bồ-tát. Thực tế cho thấy có người hiện hữu trên cuộc đời chỉ nghĩ việc duy nhất là hại người, nhưng có người chỉ nghĩ đến việc giúp đỡ người khác, cứu các loài khác. Nhìn vào bức tranh xã hội thấy tất cả người nghèo hay giàu, già hay trẻ đều khổ và ngược lại, thấy có người nghèo nhưng hạn chế được lòng tham, họ vẫn sống an lạc.

 Người sống tri túc theo Phật, tức sống với phúc của mình, với cái mình có, làm sao khổ. Một ngày không sử dụng quá năm mươi phần trăm số tiền mình kiếm được, sẽ không khổ. Riêng Ngọc Minh, trong thời sinh viên, tôi nghèo nhất, nhưng không khổ, vì không tiêu xài quá số tiền tôi có là 25 đồng một tháng. Không xài hết tiền, còn để dành giúp được người thì tôi có thêm một số người thương tôi. Chúng ta có tiền giúp người thoát khỏi cuộc sống khó khăn, họ sẽ nhớ ơn là chúng ta có bạn tốt, hay việc làm của Bồ-tát.

 Đức Phật dạy Quan Âm nhận ra ý này, khi bạn bè, con cháu bỏ đi, ông không làm được gì mới nghĩ đến Phật. Bấy giờ Phật xuất hiện trước Quan Âm. Phật nói vì sai lầm, ông khổ, nay nhận ra sai lầm có thể sửa đổi kiếp người đau khổ thành kiếp người an lạc. Phật dạy Quan Âm, nhưng Ngọc Minh nghĩ rằng Phật dạy Minh tôi, nên Minh tôi tự hạn chế ham muốn của mình. Hạn chế tối đa ham muốn, chúng ta sẽ được an lạc tối đa. Nâng ham muốn tối đa sẽ khổ tối đa.

 Tuân theo lời Phật dạy, hạn chế ham muốn tối đa, sống tri túc là sống vừa đủ thì ta còn thặng dư mới giúp đỡ cho người cần. Giúp một người, chúng ta có thêm một người bạn, nghĩa là chúng ta có thêm hai cánh tay và hai con mắt để thấy được việc xung quanh. Trước đó, chúng ta không thấy, nhưng nay nhờ có thêm hai con mắt, nghĩa là nhờ bạn thấy, họ nói cho chúng ta biết. Điển hình cho ý này là vào năm 1963, khi Phật giáo tranh đấu chống Chính phủ Diệm, ông có kế hoạch Nước lũ, ra lệnh cắm trại và tấn công tất cả các chùa vào 12 giờ đêm. Lúc ấy, có người ở trong Tổng thống phủ nghe được tin này liền trốn ra ngoài và đến chùa Ấn Quang để báo cho Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo biết. Theo đó, Phật giáo tranh đấu thành công năm 1963, một phần là nhờ được nhiều người thương, nhiều người hợp tác; vì ông Diệm muốn làm gì, Phật giáo đều biết trước là do các Phật tử làm việc trong Chính phủ báo cho biết.

 Vì vậy, có thể hiểu rằng có thêm một người bạn là ta có thêm hai tay, hay nói cách khác, có người làm thay ta, ta không thể một mình làm hết mọi việc. Cuối cùng, Quan Âm được lòng mọi người, nên mọi người ủng hộ ngài tiêu biểu bằng hình ảnh Quan Âm Bồ-tát có ngàn mắt ngàn tay, không phải có ngàn mắt ngàn tay thiệt. Và trong bàn tay Quan Âm có con mắt nghĩa là làm theo lời Phật dạy, tức hành động có trí tuệ chỉ đạo. Điều này nhắc nhở ta làm gì phải suy nghĩ, đừng làm càn, tu mù thì rất nguy hiểm. Trước khi hành động, ta phải biết việc đó. Muốn cứu người, giúp người, phải biết rõ có nên cứu, có nên giúp hay không và giúp bằng cách nào. Đa số Phật tử làm việc thiếu suy nghĩ, nên thất bại thì phiền não phát sinh . Việc đáng làm, người đáng giúp thì họ trở thành bạn tốt của ta, người không đáng giúp mà giúp, họ sẽ hại ta, làm ta buồn khổ. Có trí tuệ hành xử theo Phật, theo Bồ-tát, cuộc đời mình trở thành tươi đẹp. Như vậy, cuộc đời này trở thành thiên đường hay địa ngục cũng do chúng ta quyết định. Làm theo lời Phật dạy Quan Âm thì xã hội chúng ta đang sống phải an vui.

 Chúng ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh , nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

Chúng ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh , nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

Ở Ta-bà này, Bồ-tát Quan Âm làm được tất cả mọi việc công đức. Trước nhất, ngài có danh hiệu là Phật Viên Thông Thánh Tự Tại, nói đủ là nhĩ căn viên thông, tức ngài nghe được tiếng nói của chư Phật và nghe được những nỗi oan ức của chúng sinh , nên nói Quan Âm có hạnh lắng nghe, từ đó Quan Âm sử dụng lời Phật dạy để xóa bỏ nỗi khổ đau của chúng sinh . Ngày nay, nếu chúng ta làm theo Quan Âm, chúng ta cũng sẽ trở thành Quan Âm. Muốn vậy, chúng ta phải nghe được Phật âm và nghe chúng sinh , nghĩa là lấy an lạc xóa trừ khổ đau và áp dụng pháp an lạc, chắc chắn cuộc sống của ta sẽ được an lạc.

 Điển hình ý này, Đức Phật giới thiệu thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà có điều đặc biệt là tập hợp những người trí thức và đạo đức. Chỗ nào có người trí thức thì chỗ đó sỏi đá cũng thành cơm, vì trí tuệ đóng vai trò rất quan trọng. Thật vậy, ngày nay nếu có kỹ sư hầm mỏ phát hiện được trong lòng đất có mỏ vàng, mỏ đồng, mỏ sắt, mỏ dầu, mỏ than… và khai thác được quặng mỏ này dễ dàng làm giàu cho đất nước. Khi Phật Di Đà về phương Tây lập nghiệp, ở mảnh đất mới này không có gì. Chúng ta tạm hình dung ra nước Mỹ ba trăm năm trước không là gì, nhưng ngày nay có rất nhiều người trí thức, tài năng làm việc, nên nước này trở thành cường quốc. Phật dạy chúng ta, nhưng nghiệm lại trong cuộc sống sẽ thấy rõ chỗ có người trí thức thì phát triển nhanh, người trí thức bỏ đi thì giàu trở thành nghèo.


 Hiện tượng nhớ về tiền kiếp: Bí ẩn và những giải mã ban đầu

 Phật Di Đà xưa kia đến phương Tây hoang dã, Ngài tập hợp những người trí thức về đó. Ngài cho làm đường và trồng cây. Ngày nay chúng ta mới nhận ra cây xanh quan trọng cho sự trong lành của môi trường sống của con người. Ở thế giới Cực lạc có bảy hàng cây báu, bảy hàng lưới giăng, ngày nay gọi là hệ thống ra-đa phát ra âm thanh khiến cho người nghe phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Có thể nói Đức Phật Di Đà là một kiến trúc sư vĩ đại và chư vị Bồ-tát là những kỹ sư tài giỏi hợp tác với Ngài, tạo thành thế giới Cực lạc.

 Ngoài ra, Đức Phật Di Đà cho đào ao thất bảo và rải vào đó vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, trân châu… Chúng ta có cảm giác rằng Phật thiết kế ao thất bảo như một hồ tắm hiện đại, nước dơ được rút ra và đưa nước bát công đức vào khiến cho người tắm cảm thấy mát mẻ thư thái, không còn phiền não. Đặc biệt là ở trong ao đó, muốn nước tới bụng hay tới cổ thì liền được như vậy. Thoạt nghe điều này có vẻ trừu tượng, nhưng ngày nay trên thực tế, nếu ta xuống ao tắm cũng thấy như vậy, tức phía trên nước cạn và đi tiếp xuống nữa thì ao sẽ sâu hơn, nước sẽ dâng lên đến cổ hay qua khỏi đầu mình. Thiết nghĩ từ hàng ngàn năm trước, Đức Phật đã thiết kế cảnh giới trong lành có ao tắm hoàn toàn sạch sẽ với hệ thống nước lọc các tạp chất, mà ngày nay con người văn minh mới áp dụng được. Nghiên cứu thấy nghĩa sâu của kinh theo đó thế giới Cực lạc hoàn toàn an vui, vì đã được Đức Phật Di Đà kết hợp toàn những người trí thức và đạo đức.

 Bồ-tát Quan Âm ở Ta-bà, vào địa phủ để cứu vớt chúng sinh , ngài không vãng sinh  về Tịnh độ, nhưng Đức Phật Di Đà nói rằng Ngài sẽ giao Cực lạc cho Quan Âm làm Giáo chủ.

 Tóm lại, bước theo dấu chân Phật, nếu cắt bỏ lòng tham và điều chỉnh cho đến hoàn thiện suy nghĩ, lời nói, việc làm của ta theo Phật, Bồ-tát, chắc chắn chúng ta sẽ có Niết-bàn, Cực lạc ngay trong cuộc sống này.


TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...