Thứ Ba, 14 tháng 3, 2023

NGƯỜI THAM VỌNG LÀ GÌ VÀ NÓ KHÁC GÌ SO VỚI KHÁT VỌNG, HY VỌNG, THAM LAM


 LÒNG THAM VÔ ĐÁY

Ngẫm xem thiên hạ thời nay

Mấy ai lòng dạ thẳng ngay mà lường

Biết ai là người thiện lương

Con người mưu mẹo nhiều đường hiểm thâm

Thế gian xem nhẹ chữ Tâm

Vì câu lợi ích âm thầm hại nhau…

 

Bần hàn hay kẻ sang giàu

Thi nhau chà đạp để cầu lợi danh

Môi trường nào cũng cạnh tranh

Hơn thua thủ đoạn giật giành cho mau

Bạn bè hôm trước hôm sau

Đã thay đổi hẳn bởi câu…tiền tài…

 

Người có một, muốn có hai

Lòng tham vô đáy, chẳng ai muốn dừng…

Anh em xem tựa người dưng

Phân chia của cải…chẳng ưng thiệt thòi

Đồng nghiệp để ý săm soi

Nhỏ to với sếp… Mong đòi tiến thăng…

 

Hơn thua cũng bởi miếng ăn

Cũng bởi cái mặc… Bởi rằng cái Tôi

Vì tham kẻ có “ghế” ngồi

Làm bao nhiêu chuyện tệ tồi xấu xa…

Vì tham trai lấy bà già

Gái lấy ông lão để mà sướng thân…

 

Vì tham chẳng ngại chẳng ngần

Trăm câu chót lưỡi, trăm lần đầu môi…

Cũng vì ái dục mà thôi

Cũng vì hưởng thụ… Phân ngôi, chia hàng

Vì danh lắm kẻ làm càn

Vì lợi lắm kẻ trăm đàng … Vét vơ…

 

Vì tham lắm kẻ “ăn dơ ”

Lắm người bạc ác làm ngơ…lộng quyền

Cũng vì coi trọng đồng tiền

Làm cho thiên hạ đảo điên trăm điều

Làm sao biết ít hay nhiều ?

Bao nhiêu cho đủ… Mà chiều lòng tham…

Tham vọng, khát vọng, hy vọng là gì? Tham lam là gì? Bài viết này Ngọc Minh sẽ cung cấp tới chúng ta những thông tin cần thiết để hiểu những khía cạnh này của bản thân.

1.Tính Người tham vọng

Có thể thích nghi tốt, xuất sắc, luôn có mục tiêu, động lực, nhận thức được hình ảnh cá nhân, đồng thời luôn cố gắng thành công để giành được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của người khác.

Họ là những người dễ tạo sự tin tưởng, hấp dẫn và lôi cuốn. Sống có hoài bão, tài năng và tràn đầy năng lượng, người tham vọng cũng muốn nhận được sự công nhận từ phía xã hội và có lực đẩy lớn vào sự cải tiến.

Họ có tài ngoại giao, giao tiếp giỏi, đĩnh đạc nhưng đôi khi cũng quan tâm thái quá vào hình ảnh bên ngoài và điều người khác nghĩ về họ.

Vấn đề họ thường gặp là “nghiện việc” và thích cạnh tranh.

Động lực cốt lõi: Muốn được công nhận và khác biệt, để được chú ý, để được ngưỡng mộ và gây ấn tượng với những người khác.

Người tham vọng sẽ có hoạch định kế hoạch rõ ràng

2.Tham Vọng Là Gì?

Tham vọng (ambition) có thể được định nghĩa là sự phấn đấu để đạt được một loại thành tích hoặc sự khác biệt nào đó; trước tiên, nó là mong muốn đạt được thành tích và thứ hai là sự sẵn sàng làm việc để đạt được điều đó ngay cả khi đối mặt với nghịch cảnh hoặc thất bại.

Có tham vọng là đạt được mục tiêu nhưng không phải bởi mong muốn đạt được bất kì một thành tựu nào cả mà vì mục đích phân biệt mình với người khác. Để dễ hiểu hơn thì giả sử nếu như chúng ta là người duy nhất còn sống trên trái đất, thì tham vọng sẽ rất ít khi tồn tại hoặc trở nên vô nghĩa.

Tham vọng là một cấu trúc phức tạp được hình thành từ nhiều yếu tố không giới hạn bao gồm các hình mẫu và kỳ vọng của cha mẹ, thứ tự sinh và sự ganh đua của anh chị em, cảm giác thua kém hoặc vượt trội, sợ thất bại và bị từ chối, trí thông minh, những thành tựu trong quá khứ, tính cạnh tranh, đố kỵ, tức giận, trả thù và những thôi thúc bản năng về cuộc sống và tình dục.

Phân Biệt Tham Vọng Với Một Số Khái Niệm Khác

1.Tham Vọng Và Khát Vọng

Tham vọng thường bị nhầm lẫn với khát vọng (aspiration). Không giống như khát vọng đơn thuần và có mục tiêu cụ thể cho từng đối tượng thì tham vọng là một đặc điểm hoặc một khuynh hướng kéo dài và phổ biến. Sau khi đạt được một mục tiêu, người có tham vọng sẽ sớm hình thành một mục tiêu khác để tiếp tục phấn đấu.

Khát vọng được hiểu đơn giản giống như những ước mơ, hoài bão mà con người mong muốn có được. Nhưng ở khát vọng lại tồn tại một nội lực mạnh mẽ hơn, thúc giục chúng ta cố gắng để vượt qua mọi trở ngại và không bao giờ mỏi mệt trước mọi hành động để đạt được mục tiêu. Những người có khát vọng vĩ đại thường đề ra mục tiêu cụ thể để thực hiện hơn là ngồi đó mơ mộng.

Biểu hiện của khát vọng

Nghiêm khắc với bản thân: Trong học tập và cả công việc dường như những người có khát vọng không bao giờ hài lòng với kết quả hiện tại mà đối với họ thành quả phải cao hơn nếu còn có thể. Luôn luôn có những kế hoạch và mục tiêu trong mỗi giai đoạn thực hiện, ra sức hoàn thành và sẽ làm tốt hơn trong những lần sau đó.

Gắn liền với mục đích: Khác với những ước mơ xa rời thực tế, khát vọng luôn hướng đến mục tiêu cụ thể mà ta có thể ra sức thực hiện. Chẳng hạn, nếu hôm nay mình không có tiền thì ngày mai và những ngày sau đó phải ra sức làm việc và tiền tự động đến tay bạn. Nếu bạn không có chuyên môn giỏi thì hãy học hỏi và rèn luyện ngay để bù đắp lỗ hỏng kiến thức của mình, hoặc yếu kỹ năng nào thì chúng ta cứ chủ động rèn luyện… Tất cả chỉ dựa vào tinh thần tự giác có ý thức của chính mỗi người.

Không bỏ cuộc: Từ bỏ là việc làm không bao giờ xảy ra với những người có khát vọng thật sự. Bởi với họ khát vọng gắn liền với mục đích sống, cực kỳ mãnh liệt và cháy bỏng. Đến nỗi khi gặp những vấp ngã, họ sẵn sàng vượt qua và thậm chí còn vùng vẫy mạnh mẽ hơn những lần sau đó nhờ vào kinh nghiệm đã gặt hái được.

2.Tham Vọng Và Hy Vọng

Tham vọng thường được nói đến cùng một luồng với hy vọng. Hy vọng là mong muốn kết hợp với dự đoán về một điều gì đó sẽ xảy ra. Ngược lại, tham vọng là mong muốn đạt được thành tựu hoặc sự khác biệt kết hợp với sự sẵn sàng làm việc để đạt được điều đó. Đối lập với hy vọng là sợ hãi, thất vọng hay tuyệt vọng còn đối lập với tham vọng chỉ đơn giản là "thiếu tham vọng" hoặc “không có tham vọng” chứ không phải là trạng thái tinh thần tiêu cực nào cả.

Ngoài ra, tham vọng còn có một trạng thái đối lập được diễn giải xác đáng hơn. Trong nhiều nền văn hóa phương Đông, tham vọng được coi là một điều ác vì nó trói buộc chúng ta vào việc theo đuổi những phù phiếm của thế gian, khiến chúng ta xa rời đời sống tâm linh và những thành quả như là đức hạnh, trí tuệ và sự tĩnh lặng. Ngược lại, ở phương Tây, tham vọng được ca ngợi như một điều kiện tiên quyết hoặc tiền thân của thành công, mặc dù bản thân tiêu chuẩn phương Tây có xu hướng chống lại nó.

Hy vọng là niềm tin, sự lạc quan, hướng đến một ước mơ, một lí tưởng cao đẹp, những điều tốt đẹp sẽ xảy đến. Bên cạnh đó, hy vọng còn là bản lĩnh, là ý chí vượt qua khó khăn, thử thách ở thời điểm hiện tại và hướng về một đích đến tốt đẹp hơn.

Hy vọng rất cần thiết trong cuộc sống, sự hy vọng là động lực thúc đẩy con người cố gắng nhiều hơn nữa.

Biểu hiện của người có niềm hy vọng

Luôn có niềm tin vào cuộc sống, vào con người, sống với tinh thần lạc quan, tích cực, hướng đến những điều tốt đẹp.

Cố gắng, nỗ lực học tập, làm việc, khắc phục những khó khăn trước mắt và xây dựng kế hoạch lâu dài cho bản thân.

Đầu tư tâm huyết cho những ước mơ, mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của bản thân.

Khi gặp phải những khó khăn, thử thách trong cuộc sống vẫn luôn vững tin vào những điều tốt đẹp, giữ cho mình được ý chí, tinh thần lạc quan để bước tiếp.

3.Tham Vọng Và Lòng Tham

Cho đến ngày nay, theo Aristotle, người ta vẫn nói về tham vọng là "tham vọng lành mạnh" (healthy ambition), "tham vọng không lành mạnh" (unhealthy ambition) và "thiếu tham vọng" (lack of ambition). Tham vọng lành mạnh có thể được hiểu là sự phấn đấu có cân nhắc để đạt được thành tích hoặc sự khác biệt. Tham vọng không lành mạnh là sự phấn đấu thái quá hoặc hỗn loạn để đạt được điều đó. Tham vọng lành mạnh mang lại lợi ích cho cá nhân và mang tính xây dựng xã hội, trong khi tham vọng không lành mạnh mang tính ức chế và phá hoại, đồng thời gần giống với lòng tham (greed) hơn.

Trong xã hội hiện đại này, lòng tham chi phối mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả người giàu. Nguyên nhân là do cách giáo dục của thế hệ đi trước có nhiều lỗ hổng, những bậc làm cha làm mẹ lao vào công việc kiếm tiền, làm giàu rồi cung phụng cho con cái vật chất đủ đầy, khiến cho mọi nhu cầu của chúng luôn được đáp ứng.

Lòng tham biểu hiện từ nhỏ đến lớn, từ những thứ đơn giản đến những thứ phức tạp và càng vi tế hơn rất nhiều. Nó sẽ khiến con người không có điểm dừng và tạo ra những nghiệp xấu, rơi vào nhân quả trầm luân sinh tử mà không khéo chúng ta không nhận ra mình đang tham và mức độ tham của mình như thế nào?

Tham là sự đắm say, sự tham đắm, sự ham muốn, sự đam mê về một điều gì đó. Có năm nhu cầu khiến con người dễ sinh lòng tham, đó là: Tài (tài sản); sắc (sắc đẹp, hình thức bên ngoài); danh (danh thơm, tiếng tốt, đức cao vọng trọng); thực (ăn uống); thùy (ngủ nghỉ).

Lòng tham là khao khát vượt quá quy chuẩn, trái với khuôn khổ hoặc những gì xứng đáng được nhận. Tham lam không đến từ việc mong muốn những điều tốt đẹp mà đến từ sự ích kỷ cá nhân của bản thân và thường gây tổn hại cho người khác hoặc xã hội.

Nguồn Gốc Của Lòng Tham

Lòng tham thường nảy sinh từ những trải nghiệm tiêu cực ban đầu như sự vắng mặt của cha mẹ, sự mâu thuẫn hoặc bị bỏ mặc. Trong cuộc sống sau này, cảm giác lo âu và dễ bị tổn thương, kết hợp với lòng tự trọng thấp khiến một người bị ám ảnh bởi một sự thay thế (có thể là tiền bạc, địa vị, quyền lực) để thay cho tình yêu và sự an toàn mà họ vô cùng thiếu thốn. Việc theo đuổi sự thay thế này (chính là tiền thân của lòng tham) khiến họ phân tâm khỏi những cảm giác tiêu cực và sự tích tụ của nó cũng mang lại sự thoải mái và trấn an cần thiết.

Vì sao tham lam phát triển ở con người nhiều hơn so với các loài động vật khác? Điều này một phần là do con người có khả năng phóng chiếu bản thân trong tương lai xa hơn, đến thời điểm họ chết đi và thậm chí là xa hơn nữa. Viễn cảnh về cái chết làm nảy sinh những lo âu về mục đích, giá trị và ý nghĩa bản thân. Khi cảm thấy lo lắng hay bị đe dọa, họ thường dựa vào các giá trị văn hóa để cảm thấy được an ủi và thoải mái. Có những nền văn hóa rất coi trọng chủ nghĩa duy vật hay nói một cách khác là lòng tham. Lòng tham được nhấn mạnh đến mức khiến con người không còn thấy sự hài lòng và sau khi đạt được một mục tiêu, họ tiếp tục bắt tay ngay vào mục tiêu mới. Ngày nay, đối tượng của ham muốn không còn là sự thỏa mãn nữa mà là chính sự ham muốn.

Một lý thuyết khác về lòng tham cho rằng nó được lập trình trong gen của chúng ta bởi vì trong quá trình tiến hóa, nó có xu hướng thúc đẩy sự tồn tại và sinh sản. Nếu không có một số dạng thức của lòng tham, các cá nhân và cộng đồng có nhiều khả năng cạn kiệt nguồn lực, thiếu phương tiện và động lực để đổi mới và đạt được thứ họ muốn, khiến họ dễ bị tổn thương hơn trước sự mơ hồ của số phận và sự sắp đặt của kẻ thù.

Lòng Tham Có Hoàn Toàn Xấu?

Mặc dù nghe có vẻ đầy mù quáng và đầy tham vọng, lòng tham lại dẫn đến những kết quả kinh tế và xã hội vượt trội. Lòng tham là một động lực nguyên thủy và phù hợp một cách lý tưởng với sự phát triển công nghiệp hóa và tiêu dùng hàng loạt của chúng ta. Chúng mang lại của cải vật chất và tăng trưởng kinh tế. Dù muốn hay không, xã hội của chúng ta cũng đang được thúc đẩy bởi lòng tham và nếu không có nó, xã hội sẽ trở nên nghèo đói và hỗn loạn. Không chỉ trong xã hội hiện nay, lòng tham cũng chạy ngầm trong tất cả các mô hình xã hội cổ đại và cận đại thành công. Nhà kinh tế học Milton Friedman lập luận rằng vấn đề của tổ chức xã hội không phải là tiêu diệt lòng tham, mà là thiết lập một sự sắp xếp để lòng tham ít gây hại nhất.

Lòng Tham Và Hạn Chế

Lòng tham là một con dao hai lưỡi. Những người bị lòng tham bào mòn trở nên hoàn toàn tập trung vào đối tượng kích thích sự tham lam của họ. Cuộc sống của họ chỉ còn ít hơn một nhiệm vụ là tích lũy bất cứ điều gì họ thèm muốn và khao khát càng nhiều càng tốt. Mặc dù họ đã đáp ứng được mọi nhu cầu hợp lý của mình, thậm chí là hơn thế nhưng họ hoàn toàn không thể chuyển hướng động lực và ham muốn của mình sang những thứ khác và những điều cao hơn. Sau một thời gian khi lòng tham trở nên đáng xấu hổ, những người cảm thấy xấu hổ vì lòng tham của mình có thể giấu nó sau một nhân cách được trau chuốt cẩn thận. Lòng tham cũng dẫn đến những hành động như lừa dối, đố kỵ và thù hằn cùng các hành vi tiêu cực như cờ bạc, đầu cơ, gian xảo và trộm cắp.

Lòng tham cũng có liên quan đến các trạng thái tâm lý tiêu cực như căng thẳng, kiệt sức, lo lắng, trầm cảm và tuyệt vọng. Bỏ qua lý trí, sự trắc ẩn và tình yêu, lòng tham đã nới lỏng mối quan hệ gia đình và cộng đồng, đồng thời làm xói mòn các mối quan hệ và giá trị mà xã hội được xây dựng.

Lòng tham có thể thúc đẩy nền kinh tế, nhưng lịch sử gần đây đã cho thấy rõ ràng rằng lòng tham không được kiểm soát cũng có thể dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế sâu sắc và kéo dài. Hơn nữa, quá trình hiện đại hóa của chúng ta đã và đang tiếp tục gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường như nạn phá rừng, sa mạc hóa, axit hóa đại dương, tuyệt chủng các loài sinh vật và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn. Có một câu hỏi đặt ra là liệu lòng tham như vậy có thể bền vững trong ngắn hạn hay không chứ chưa nói đến dài hạn.

Lòng Tham Và Tháp Nhu Cầu Của Maslow

Nhà tâm lý học Abraham Maslow đề xuất rằng con người khỏe mạnh có một số nhu cầu nhất định và những nhu cầu này có thể được sắp xếp theo 5 cấp độ với một số nhu cầu (chẳng hạn như nhu cầu sinh lý và an toàn) là nguyên thủy hoặc cơ bản hơn những nhu cầu khác (chẳng hạn như xã hội và nhu cầu bản ngã). Maslow gọi 4 cấp độ dưới cùng của tháp là nhu cầu thiếu hụt (deficiency needs) bởi con người sẽ không cảm thấy gì nếu chúng được đáp ứng đầy đủ. Những nhu cầu vật chất như ăn uống, ngủ nghỉ cùng nhu cầu an ninh, nhu cầu xã hội như tình thân, tình bạn, tình yêu và tình dục là những nhu cầu thiếu hụt. Mặt khác, Maslow gọi cấp độ cao nhất của tháp là nhu cầu phát triển (growth needs) vì nó cho phép một người 'tự hiện thực hóa', nghĩa là đạt được tiềm năng cao nhất hoặc đầy đủ nhất của mình như một con người. Một khi tất cả các nhu cầu thiếu hụt của một người được đáp ứng, trọng tâm của sự lo lắng của họ chuyển sang sự tự hiện thực hóa để suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống của họ.

Vậy lòng tham ảnh hưởng như thế nào đến những nhu cầu này? Hãy tưởng tượng nếu ta luôn không bao giờ cảm thấy đủ, luôn cảm thấy các tầng nhu cầu phía dưới trong Tháp Maslow của mình không được đáp ứng trọn vẹn thì điều này cũng đồng nghĩa với việc ta sẽ mãi mãi bị mắc kẹt trong các tầng dưới và không thể tiến lên tầng đỉnh của sự phát triển và tự hiện thực hóa. Tất nhiên đây là mục đích chính xác của lòng tham, đó là để bảo vệ chống lại sự lo lắng hiện hữu – một kiểu lo lắng liên quan đến đỉnh của kim tự tháp

4.Tham Vọng Có Tốt Hay Không?

Tham vọng mang lại những điều không tốt với tâm lý con người nếu chúng là những tham vọng không lành mạnh hoặc thái quá.

Những người có nhiều tham vọng rất nhạy cảm với sự kháng cự và thất bại, và hầu như thường xuyên trải qua sự không hài lòng hoặc thất vọng. Giống như Tantalus có một tảng đá treo lủng lẳng trên đầu, những người đầy tham vọng cũng có một chiếc thòng lọng thất bại treo trên cổ họ.

Thật vậy, chính nỗi sợ thất bại đã ngăn cản tham vọng của tất cả mọi người; tham vọng cũng có thể kết thúc bằng đau khổ và tuyệt vọng. Sống với tham vọng là sống trong sợ hãi và lo lắng, trừ khi sức nặng của tham vọng được giảm bớt bằng lòng biết ơn - đó là cảm giác đánh giá cao tất cả những gì chúng ta đã có. Tham vọng sẽ ít độc hại hơn nhiều nếu chúng ta hiểu rằng ngay cả khi chúng ta không cố gắng vươn cao thì cuộc sống vẫn đáng sống.

Tham vọng hiếm khi thuần túy mà thường xen lẫn với các mục tiêu và động cơ không mang tính ích kỷ và có thể những thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta đều tới từ sự ngẫu nhiên của tham vọng.

Trong chừng mực đó, tham vọng giống như củ cà rốt treo lủng lẳng để dắt con lừa kéo xe. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, trung bình, những người có tham vọng đạt được trình độ học vấn và thu nhập cao hơn, tạo dựng được sự nghiệp danh giá hơn và bất chấp những tác động xấu của tham vọng, họ báo cáo mức độ hài lòng về cuộc sống tổng thể cao hơn. Có thể do thiếu may mắn hoặc khả năng phán đoán chưa tốt nên những người có tham vọng có thể không đạt được tham vọng của mình, nhưng điều đó vẫn giúp họ vượt xa những người đồng trang lứa khiêm tốn hơn.

Từ góc độ tâm lý thuần túy, tham vọng có thể được coi là một biện pháp bảo vệ cái tôi, bảo vệ và duy trì một quan niệm nhất định về bản thân. Có hai biện pháp bảo vệ bản ngã được đặt trong bối cảnh tham vọng mà chúng ta có thể tìm hiểu dưới đây.

-Biện pháp đầu tiên khá tiêu cực và mang lại những kết quả không tốt. Thay vì tham vọng, nhiều người hợp lý hóa rằng "cuộc sống không công bằng". Nếu cái tôi của họ lớn hơn lòng dũng cảm, họ có thể trở nên coi thường. Sự tiêu cực, thậm chí dẫn đến sự phá hoại, là một phương tiện để thu hút sự chú ý hoặc hủy hoại bản thân, cốt chỉ để cung cấp một cái cớ sẵn sàng cho sự thiếu thành công của họ: "Không phải tôi thất bại, mà là tôi đã bị trật khỏi đường ray."

-Một biện pháp bảo vệ bản ngã khác đáng được khám phá cụ thể trong bối cảnh tham vọng là sự thăng hoa (sublimation). Đây là một trong những biện pháp bảo vệ bản ngã thành công nhất. Ví dụ nếu chúng ta tức giận với ông chủ của mình, ta có thể về nhà và thể hiện sự tức giận của mình bằng cách đập vỡ một vài cái đĩa, hoặc thay vào đó mình có thể chạy trên máy chạy bộ.

Trường hợp đầu tiên (đập vỡ một số đĩa) là một ví dụ về sự dịch chuyển, chuyển hướng cảm giác khó chịu sang ai đó hoặc điều gì đó ít quan trọng hơn - đó là sự bảo vệ bản ngã chưa trưởng thành. Ví dụ thứ hai (chạy trên máy chạy bộ) là việc chuyển các năng lượng tiêu cực, không hiệu quả hoặc phá hoại vào các hoạt động được xã hội chấp nhận và thường mang tính xây dựng. Tất nhiên, đó là một sự bảo vệ bản ngã trưởng thành hơn nhiều.

Ba Cấp Độ Điều Chỉnh Cảm Xúc Lòng Tham

Việc điều tiết cảm xúc cũng diễn ra theo từng cấp độ từ dễ đến khó với những hiệu quả nhất định từ thấp đến cao.

Cấp Độ 1 - Suy Nghĩ Về Những Điều Tốt Đẹp

Nghĩ về những điều tốt đẹp là cách tiếp cận cơ bản nhất, dễ dàng nhất nhưng cũng kém hiệu quả nhất trong 3 cấp độ điều chỉnh cảm xúc lòng tham. Nói một cách dễ hiểu, nó có nghĩa là chỉ hy vọng những điều tích cực nhất xảy đến (và không làm gì thêm).

Ví dụ: Người ta đang rơi vào một mớ hỗn độn đầy sự lo lắng và băn khoăn về tương lai và họ tự nhủ rằng: “Không sao đâu, những chuyện này sẽ kết thúc sớm thôi.”

Người ta đang lặp đi lặp lại những kí ức đau buồn trong đầu và họ hy vọng những chuyện tồi tệ như vậy sẽ không xảy ra trong tương lai.

Người ta cảm thấy một cơn giận bùng lên trong họ và họ hy vọng họ sẽ không làm điều gì bốc đồng và liều lĩnh.

Cấp độ này không hiệu quả bởi nếu chúng ta chỉ ngồi yên và suy nghĩ, những tưởng tượng và hy vọng trong đầu mình chỉ khiến ta cảm thấy tốt lên tức thì. Nhưng sự thật thì tự nó không thể thay đổi điều gì và không khiến mọi thứ thực sự trở nên tốt đẹp hơn. Vì vậy, ta không nên lạm dụng phương pháp này quá nhiều.

Cấp Độ 2 - Kỹ Năng Ứng Phó

Thuật ngữ Kỹ năng ứng phó là một chiến lược giúp chúng ta ngăn chặn các cảm xúc tiêu cực (hay chữa cháy các tình huống tạm thời). Đối với nhiều người, kĩ năng ứng phó chiếm phần lớn nhất trong việc điều chỉnh cảm xúc của họ. Khi có điều làm tâm trạng hoặc cảm xúc của chúng ta chìm xuống, chúng ta sẽ sử dụng các kỹ năng ứng phó để đối mặt và giải quyết, với hy vọng cảm thấy tốt hơn.

Ví dụ:Chúng ta cảm thấy nôn nao và lo âu, vì vậy chúng ta hít thở sâu để cảm thấy tốt hơn.

Chúng ta cảm thấy tức giận và mất kiềm chế, vì vậy chúng ta đi vào phòng của mình, đóng cửa lại, đặt một chiếc gối trước mặt và hét lên để xả cơn giận dữ.

Không có gì sai khi sử dụng kĩ năng ứng phó để kiểm soát cảm xúc của bản thân và kĩ năng này cũng phát huy tác dụng trong một số trường hợp. Tuy vậy khi đề cập tới đời sống tinh thần, kỹ năng ứng phó có thể ẩn chứa những tác dụng phụ không mong muốn. Về lâu dài, chúng sẽ làm ta cảm thấy tồi tệ hơn vì chúng ngăn cản mình tìm kiếm nguyên nhân cốt lõi gây ra sự đau khổ. Khi ta giải quyết được phần ngọn thì cũng là lúc ta bị phân tâm khỏi phần gốc rễ.

Kỹ năng ứng phó mang lại sự giải tỏa tạm thời nhưng lại bắt chúng ta trả giá bằng việc xác định vấn đề cốt lõi.

Cấp Độ 3 - Xây Dựng Thói Quen

Không ít người đã từng nghe đến cụm từ “phòng hơn chống” và nó vô cùng chính xác trong trường hợp này. Trong khi hai cấp độ điều chỉnh cảm xúc nói trên là cách để chúng ta chống lại những cảm xúc tiêu cực thì cấp độ cuối cùng là biện pháp hiệu quả để phòng tránh chúng – cũng có nghĩa là nó hiệu quả và triệt để nhất.

Ví dụ: Người ta đoán rằng trong tương lai mình phải đối mặt với sự lo âu và sợ hãi bởi ý kiến trái chiều từ người khác. Vậy thì thay vì chờ sự việc đến và chống lại nó, người ta phải hiểu rằng nguồn gốc của những sự lo âu này đến từ việc người ta ngại phải đứng lên bảy tỏ ý kiến, quan điểm của bản thân rằng mình muốn gì và không muốn gì. Sau khi hiểu được nguyên nhân, người ta cần xây dựng thói quen giao tiếp hiệu quả, quyết đoán và biết đặt ra những ranh giới lành mạnh cho bản thân. Đó mới là cách giải quyết triệt để sự lo âu.

Bằng cách giữ cho mình khả năng tự nhận thức, sự linh hoạt trong suy nghĩ và cân bằng về mặt cảm xúc, Ta có thể ngăn chặn được những điều không tốt có thể xảy ra trong tương lai. Tất nhiên cấp độ cuối cùng này cũng đòi hỏi mình phải làm nhiều thứ hơn hai cấp độ trước.

Năm Thói Quen Cải Thiện Khả Năng Điều Chỉnh Cảm Xúc

-Chính Niệm

Kỹ năng chính niệm này không chỉ mang lại sự thư giãn và giảm bớt lo lắng mà cốt lõi của chúng còn giúp mình tăng khả năng tập trung vào một việc và tránh bị chuyển dời sang những việc không hữu ích.

-Trắc Ẩn Với Bản Thân

Hãy trắc ẩn với chính mình bằng cách đối xử bao dung với bản thân như cách mình đối xử với một người bạn tốt, đặc biệt là sau những sai lầm hoặc thất bại, đừng phán xét quá mức và khắc nghiệt với bản thân vì những lỗi lầm và sai lầm của mình. Điều này sẽ khiến chúng ta đau khổ và khó thoát ra khỏi những cảm xúc tội lỗi.

-Tái Cấu Trúc Nhận Thức

Tái cấu trúc nhận thức nghĩa là học cách xác định những suy nghĩ tiêu cực, phi thực tế và sắp xếp lại chúng để chúng trở nên cân bằng, chính xác và hữu ích hơn.

-Hiểu Rõ Nguyên Tắc Của Bản Thân

Thay vì loại bỏ hay né tránh các cảm xúc tiêu cực, chúng ta có thể học cách chấp nhận và đối mặt với chúng. Và việc có thể chấp nhận những cảm xúc này sẽ dễ hơn nhiều nếu mình hiểu rõ nguyên tắc của bản thân và đâu mới là mục đích ta hướng tới trong cuộc sống. Nhờ đó, ta sẽ thoát khỏi vòng luẩn quẩn với những nỗi sợ vô hình.

-Quyết Đoán

Quyết đoán là dám nói ra những gì mình muốn và nói không với những gì mình không muốn - theo cách trung thực với bản thân và tôn trọng người khác. Bởi nếu ta trì hoãn mong muốn của bản thân để làm hài lòng mọi người, điều này về lâu dài sẽ dẫn đến nhiều oán giận, lo âu và khó điều chỉnh cảm xúc nói chung.

Lời Kết

Trong cuộc sống, rất ít những điều chỉ tốt hoặc xấu. Thay vào đó, mặt tốt và mặt xấu của chúng phụ thuộc vào những gì chúng ta có thể hoặc không thể hiểu được từ chúng. Những người có nhiều tham vọng lành mạnh là những người có trí tuệ và sức mạnh (sức mạnh thường được sinh ra từ sự sáng suốt) để kiểm soát những thế lực mù quáng của tham vọng, tức là định hình tham vọng của họ sao cho phù hợp với lợi ích và lý tưởng của họ, khai thác chúng để chúng làm sục sôi quyết tâm trong họ mà không đốt cháy hay “làm bỏng” những người khác. Sự hiểu biết cao nhất sinh ra từ sự khiêm tốn, đó là không nhất thiết phải có tham vọng để vươn tới tầm cao hoặc để cảm thấy mình đang sống.

Mọi người hoặc thu hẹp hoặc mở rộng về mức độ và bản chất của tham vọng của họ. Tham vọng cần được chắt lọc và tu dưỡng mà không bất kì người thầy nào có thể dạy chúng ta.

ƯỚC MƠ VÀ MƠ ƯỚC

Cuộc sống dẫu không như mơ

Nhưng niềm tin vẫn làm hồng mơ ước

Tình yêu không như mơ

Nhưng tình đời phải rạng ngời cháy bỏng!

Hãy sống như đời sông

Dù ngoằn nghèo vẫn chảy

Qua bão giông, qua đồi núi điệp trùng

Rồi một ngày... sẽ tới biển mênh mông...

Cuộc đời sẽ tươi đẹp Mình có thấy không

Ta sẽ tô son cho ngôi nhà cùng vui hạnh phúc!

Thêm sắc màu!

Thêm mơ ước xôn xao...

Bất luận ngoài trời đổ bao nhiêu bão giông

Ta sẽ để « bão dừng sau cánh cửa ...

Nào cùng nhau thổi bùng lên ngọn lửa

Niềm tin...

Tất cả sẽ như mơ và như ước...

Vì trái tim đỏ thắm yêu đời!


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...