Thói Đời
Thời gian rọi thấu cuộc đời
Đôi khi ngồi góc thảnh thơi riêng mình
Xa gần có lắm minh tinh
Nổi trên màn bạc tài tình nhập vai
Người đời hớn hở khen hay
Kẻ khờ nói thật tự đay nghiến mình
Nghĩ rồi phải chọn làm thinh
Để còn nhập tiêc lưu linh trần đời
Ngả nghiêng nửa tỉnh nhẹ lời
Nịnh cho khéo nhé hòng vơi tội khờ
Nửa say chỉ nói vu vơ
Chén thù chén tạc mai đờ đẫn ra
Việc công, tư cứ nhập nhà
Nói sao cho thuận miệng hà hơi cay
Thực hư lẫn lộn qua ngày
Được ngay quên cả vai đày đọa sau.
Đời sẽ dịu dàng hơn biết mấy, khi con người biết đặt mình vào vị trí của nhau.
Thói đời không chấp nhận nhưng vẫn tồn tại
Thói đời là thói quen không tốt mà người đời thường mắc phải, nhất là ở những nơi, những lúc đang có sự tranh chấp quyền lợi, đang có sự chuẩn bị cho những biến đổi lớn. Nó có tính phổ biến đến mức ai cũng cảm thấy quen thuộc, hình như nó có ở người này, người kia, có cả ở người quen thân, gần gũi mình và có lẽ cả trong bản thân mình.
Có
người gọi thói đó là một căn bệnh vì nó cũng gây tác hại, cũng có nguyên nhân
và cũng có độ lây lan nhất định. Song có đều là chẳng ai thấy cần phải chạy chữa,
nó xấu đấy nhưng cũng có vẻ không xấu lắm, nó nguy hiểm đấy nhưng có lúc thấy
chẳng nguy hiểm lắm.
Vậy
thói đời mà ta thường thấy trong cuộc sống là gì? Xin tạm kể mấy thói chủ yếu.
Thứ
nhất, là thói nói mỗi nơi mỗi khác, nói trong cuộc họp, trong phòng
làm việc không giống như nói ở nhà, ở vỉa hè, ở quán nước. Có lẽ vì có sự khác
nhau về đối tượng và môi trường đối thoại. Những người có mặt trong cuộc họp,
trong phòng làm việc là đối tượng áp đặt. Môi trường ở đó là môi trường nghiêm
túc, "một lời nói một đọi máu”, nên ăn nói phải cẩn thận, phải khép mình
vào kỷ cương, nền nếp, dù trong lòng nghĩ khác nhưng bên ngoài phải nói đúng ý
cấp trên, đúng nội dung văn bản. Còn những nơi khác, thì đối tượng thường là
cùng hội cùng thuyền, thuộc diện ngoài vòng cương tỏa, thuộc diện tự do chủ
nghĩa nên chẳng cần giữ gìn làm chi, có gì trong bụng nhất là phần đen tối tuôn
ra hết.
Thứ
hai, là nói xả hơi, mặc đời khi về hưu. Khi đương chức, cái ghế là
cuộc sống, là vị trí xã hội cần phải được củng cố, cần phải bảo đảm an toàn.
Làm gì, nói gì cũng phải cân nhắc, không được lệch dù chỉ là một ly. Hợp ý
trên, được lòng dưới là khuôn vàng thước ngọc, là tiêu chí phấn đấu của không
ít cán bộ quản lý còn đầu óc cơ hội. Và chính những người đó khi về hưu, mọi cơ
chế ràng buộc không còn nữa thì cái đầu óc cơ hội đó lại tháo khoán hoàn toàn,
cho mặc sức thả phanh. Họ nói cho sướng mồm, phê phán cán bộ lãnh đạo đương chức
hết lời, khuyết điểm bé xé ra to, quy kết chụp mũ đủ những tội tày đình, hận đời
chửi hậu thế. Họ mang nặng tư tưởng công thần, sống ngang tàng, không theo pháp
luật, bất chấp cả mọi quy chế của địa phương nơi mình ở, trở nên lực cản cho biết
bao cấp ủy phường xã...
Thứ
ba, là thói trở cờ thay đổi thái độ đối với thủ trưởng đã thôi chức
hoặc về hưu. Tất nhiên mọi sự biến đổi bao giờ cũng đi kèm theo những diễn biến
tương ứng tự nhiên. Điều chỉnh thái độ cho thích hợp và cương vị mới của thủ
trưởng cũ mà vẫn giữ được đạo lý nhân tình thì chẳng nói làm ai đó nào đó đã giật
mình dừng lại vì mơ hồ cám thấy nó tồn tại gì. Điều đáng nói ở đây là sự thay đổi
theo kiểu không trong sáng. Khi thủ trưởng đang ngồi ở ghế lãnh đạo thì một sếp
hai sếp, làm gì và chuyện trò với ai cũng luôn nhắc đến lệnh của sếp. Lời sếp
nói ra, bất luận sai đúng, hợp hay không hợp với lòng người, đều được coi là là
vàng lời ngọc. Sếp chưa ngỏ lời đã biết ngay mình phải làm gì để vừa lòng sếp.
Nhưng đến khi sếp đó thôi chức, chuyển sang làm chuyên viên hoặc về hưu thì lập
tức những con người đó quay ngoắt 180 độ , thái độ khác hẳn. Từ lời chào, cái bắt
tay cho đến sự đối đáp đều mất hết tính chất kính trọng, tình nghĩa.
Thứ
tư, là gió chiều nào theo chiểu đó, không cần xác định rõ lẽ phải ở
đâu, chân lý đang nghiêng về ai, chi cần biết ai đang có thế mạnh hiện nay là đứng
ngay về phía đó. Cách tư duy ấy đã chi phí không ít người đã tạo nên một sức mạnh
không bền vững nhưng lại có sức công phá trước mắt khá mạnh mẽ. Thói đời đó còn
dẫn người ta đến một kiểu trò chuyện "đầu lưỡi”, ngồi với ai thì nói chuyện
theo tạng của người đó. Ngồi với người hay có ý mới, ý khác người thì luôn ca
ngợi tư tưởng tìm tòi sáng tạo, ca ngợi đường lối tư duy, ngồi với người bảo thủ,
ngại thay đổi thì lại luôn mồm phê phán tư tưởng phiêu lưu, thiếu cẩn trọng,
thiếu chín chắn. Thói đời đó cũng dẫn người ta đến một kiểu quan hệ bạn bè có
điều kiện. Đang quen thân nhưng bỗng chốc một trong hai người lên chức, đặc biệt
lên vượt cấp thì tình bạn cũng chuyển màu - mức đậm đà, tính sắt son, chất vô
tư đều không còn như trước. Đang quen thân mà bỗng chốc một trong hai người
giàu ụ lên thì tình bạn cũng dễ có những biến đổi tương tự.
Thứ
năm, là thói ghen đố kỵ.Niềm vui của người này chưa hẳn là niềm vui
của người khác, thậm chí thắng lợi của bạn mình có khi dễ bị coi là nguyên nhân
thất bại của mình hoặc bị coi là cản trở cho sự phát triển của mình. Một tài
năng mới xuất hiện, một sự nổi trội về mặt khả năng của ai đó chưa hẳn đã được
tất cả hoan nghênh, nhất là những người có điều kiện và hoàn cảnh tương tự và
những đương sự nói trên.
Tuy
nhiên, cần phải nói rõ một điều khi ta gọi nó là thói đời là khi nó còn ở mức
nhẹ nhàng, nhiều người có, còn khi ai đó đã nâng cái thói đời trên lên đến mức
nặng nề, có nguy cơ gây thảm họa thì không còn là thói đời nữa, nó đã trở thành
bệnh cấp tính, phải chữa chạy, nghĩa là phải xử lý kịp thời.
Thói
đời, đúng là một căn bệnh, một căn bệnh nan y, tồn tại qua nhiều thế hệ. Hiện
nay khá nhiều người bi quan khi nhắc đến thói đời không tin là bệnh này có thể
giảm bót trong tương lai, nhất là nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát
triển. Có người khi phê phán nặng lề cái
bệnh đời thể hiện ở một người bạn nào đó đã giật mình dừng lại vì mơ hồ cảm thấy
nó tồn tại trong mình cũng chẳng kém.
Song, không ít người, nhất là giới trí thức vẫn tin là con người ngày càng hướng thiện hơn, sống trong sáng đẹp đẽ hơn, nhất là khi nền dân trí được nâng cao, nền văn minh thời đại được lan tỏa. Cái bệnh đời nói trên cũng có lúc phải biến dạng và mất dần. Nó là thói đời mà đời không chấp nhận.
THƠ CHÂM BIẾM THÓI ĐỜI
Điểm qua những bài châm biếm
thói đời của:Thơ Hồ Xuân Hương .
Đá
Ông Bà Chồng
Khéo khéo bày trò tạo hoá công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc
Thớt dưới sương pha đượm má hồng
Gan nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông
Đá kia còn biết xuân già giặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung.
Vịnh Cái Quạt
Một lỗ xâu xâu mới cũng vừa
Duyên em dính dán tự ngàn xưa
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng:
“Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?”
Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.
Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền
Cũng đòi học nói nói không nên
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Ðôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Ði thì cũng dở ở sao xong
Điểm
qua những bài châm biếm thói đời của:Tú Xương
Con
Buôn
Ai đấy ai ơi khéo hợm mình!
Giàu thì ai trọng, khó ai khinh ?
Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện
Chú lái nghiêng thoi mắc giọng tình
Có khéo có khôn thì có của,
Càng già càng trẻ lại càng xinh.
Xuống chân lên mặt ta đây nhỉ ?
Chẳng biết rằng dơ dáng dại hình!
Nào có nghĩa gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò
Đi Thi
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi
Cũng lều cũng chõng cũng đi thi
Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn
Sờ bụng, thầy không một chữ gì!
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch
Phúc nhà nay được sạch trường quy
Ba kỳ trọn vẹn, thêm kỳ nữa
Ú ớ u ơ ngọn bút chì!
Giễu Người Thi Đỗ
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không !
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng.
Sư Ông Và Mấy Ả Lên Đồng
Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng!
Thà rằng bạn quách với sư xong!
Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ,
Hai ả tròn xoe đứng múa bông.
Thấp thoáng bên đèn lên bóng cậu
Thướt tha dưới án nguýt sư ông.
Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng:
“Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!”
Thương Vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không.
Thói
Đời Điêu Ngoa
Tác giả: Phạm Hải Đăng
Ô hay ! một kiếp con người
Trần gian thế thái, thói đời điêu ngoa
Ai là bè bạn với ta
Đắng cay, chia sẻ mới là tình thân
Đến khi vướng cảnh nợ nần
Ví thiu, túi rám mình cần họ quên !
Bè bạn như cái bấc đèn
Vui tỏ, buồn lụi, thấp hèn, cao sang
Giàu sang, vẻ mặt khoe khoang
Bần hèn nuốt đắng, ai màng đến đâu ?
Sông có chỗ cạn chỗ sâu
Biển mênh mông biển biết đâu lòng người
Có tiền kẻ nịnh người chơi
Hết tiền lúi húi đơn côi một mình
Bè thì cạn máng ráo tình
Còn ta, chỉ biết lặng thinh nhìn đời.
Thói Đời
Tác giả: Ngạo Thiên
Người đời họ diễn, thiên tài nhập vai
Biết rằng diễn xuất rất hài
Nhìn thôi đã hiểu, chẳng nài nói ra
Lòng người hai mặt thôi mà
Cuộc đời là thế, chẳng thà để xem
Trước mặt không ngớt lời khen
Sau lưng nói xấu, nhỏ nhen từng lời
Buồn thay cái thói ở đời
Miệng đời là thế, những lời dèm pha
Tiểu nhân ganh ghét thôi mà
Thôi thì cứ diễn, ta thì cứ xem.
Thói Quen Xấu Tại Sao Biết Xấu Vẫn Đâm Đầu Vào
Để
khám phá thói quen xấu là gì, chúng ta hãy bắt đầu bằng những câu nói hay về
thói quen xấu. Thông qua đó con người ta sẽ nắm được phần nào khái niệm về thói
quen xấu, và điều quan trọng hơn cả là nguyên nhân tại sao thói quen xấu là xấu
mà hầu hết mọi người vẫn cắm đầu vào thực hiện nó.
Thói
quen xấu là gì và những câu nói hay về thói quen xấu
Thói quen xấu là cái giường êm ái, quá dễ để ngả lưng, quá khó để
bật dậy.
Thói quen xấu là nút thắt dây thừng. Một khi đã thắt chặt, rất
khó để gỡ ra.
Thói quen xấu giống như những cái cây, càng lớn thì rễ nó càng
bám sâu xuống đất và khó nhổ đi
Thói quen xấu là mật ngọt, mà mật ngọt thì chết ruồi.
Thói quen xấu là quả bom hẹn giờ, với tiếng tíc tắc là âm thanh
êm ái, nhưng chỉ cho tới khi nó nổ tung với những hậu quả khôn lường.
Thói quen xấu là một cái hang rất sâu, mà đi xuống thì bao giờ
cũng dễ hơn là trèo lên.
Thói quen xấu giống như cỏ dại, cản trở sự tăng trưởng của khu
vườn thói quen tốt trong tâm trí con người ta.
Thói quen xấu giống một bãi biển đẹp với những con sóng thơ mộng,
nhưng càng bước ra xa, thì càng nguy hiểm, và con người ta có thể sẽ không quay
trở lại.
Còn theo khoa học hành vi, thói quen xấu là gì và không phải là gì?
Theo
Wikipedia thì thói quen xấu là gì? Họ mô tả thói quen xấu là mô hình hành vi
tiêu cực. Theo định nghĩa này, thì các thói quen xấu phổ biến bao gồm trì hoãn,
chi tiêu vô độ, cắn móng tay, thậm chí tệ nạn bắt nạt ở học đường.
Theo
sách vở, thì thói quen xấu là gì? Trong cuốn Sức mạnh của thói quen (Power of
Habits), Charles Duhigg đã mô tả thói quen đầu bằng một mô hình tâm lý được gọi
là “vòng lặp thói quen”, bao gồm kích hoạt, lề thói, và phần thưởng. Theo định
nghĩa này thì khi bước vào một vòng lặp thói quen xấu, con người ta sẽ bị cuốn
vào dẫn tới các kết quả xấu không như ý muốn.
Theo
các nhà tâm lý, thì thói quen xấu là gì? Thói quen là một hành vi lặp đi lặp lại
một cách vô thức. Thói quen xấu và tốt khác nhau ở mặt hệ quả tác động lên sức
khỏe (hút thuốc, ăn uống quá độ…) hoặc tinh thần (trì hoãn, bồn chồn…).
Ngoài
ra, một số thói quen cũng có thể coi là xấu, tùy theo quan niệm văn hóa, xã hội.
Chẳng hạn, việc ăn bốc (ăn bằng tay) có thể xấu với nhiều quốc gia, nhưng ở Ấn
Độ lại là chuyện thường. Hoặc việc tạo ra tiếng xì xụp chóp chép khi ăn có thể
xấu Việt Nam, nhưng ở Nhật đó lại là hành vi tích cực, thể hiện rằng món ăn đó
rất ngon.
Trong
khuôn khổ phát triển bản thân này, thì một định nghĩa đơn giản về thói quen xấu:
Đó là những THÓI QUEN, mang lại hệ quả XẤU cho cơ thể, và tâm trí, cản trở việc
hoàn thành các mục tiêu tốt đẹp trong cuộc sống của con người ta.
Bên
cạnh đó, thói quen xấu khác với nghiện ngập, và các bệnh về tâm thần. Với thói
quen, con người ta có thể kiểm soát được bằng lý trí của mình, tức là con người
ta có thể dừng nó lại khi nhận ra. Còn nghiện ngập, và các bệnh lý tinh thần
thì rất khó kiểm soát, người bệnh và người nghiện có thể mất hết lý trí khi thực
hiện các hành vi đó.
Tại
sao biết thói quen xấu là xấu, mà hầu hết mọi người vẫn cứ làm?
Theo James Clear, tác giả của cuốn Atomic Habits, thì hầu hết
các thói quen xấu đều xuất phát từ:
1 – Áp lực
2 – Buồn chán
Tất
nhiên, đôi khi còn có những lý do sâu thẳm hơn như là nỗi sợ hãi, một ký ức xấu,
một ấn tượng khó phai nào đó trong bộ tiềm thức. Song trong hầu hết mọi trường
hợp, các thói quen xấu từ lướt Facebook quá nhiều, cày phim liên tục, cắn móng
tay vô thức, v.v… đều là do bộ não của con người ta cảm thấy áp lực hoặc buồn
chán.
Thêm
vào đó, hầu hết các thói quen xấu thường là các hành vi rất dễ làm, và đem lại
sự giải tỏa ngay lập tức, nên bộ não sẽ có xu hướng bị hút về chúng như một phản
ứng tự nhiên. Giống như dẫu biết ăn mì gói không tốt, song những lúc đói rồi,
thì làm một gói mì vẫn sướng hơn là đi nấu cơm.
Cuộc
sống ngày càng áp lực căng thẳng, thì nhu cầu giải tỏa của bộ não càng lớn. Và
với những phương tiện giải trí càng hiện đại, thì càng đem lại cảm giác giải tỏa
nhanh chóng, thì sẽ càng khiến cho bộ não ngày càng lười biếng, dễ chán nản. Vì
nó sẽ ngày càng đòi hỏi những thứ mới hơn, mới hơn nữa, sướng hơn, sướng hơn nữa,
nhanh hơn, nhanh hơn nữa.
Để
bỏ một thói quen xấu phải bắt đầu từ đâu?
Nếu
ai đó gõ trên Google cách bỏ thói quen xấu, thì sẽ tìm thấy vô vàn lời giải
thích về thói quen xấu là gì, và ti tỉ lời khuyên nên làm gì để bỏ thói quen xấu.
Tuy nhiên, hầu hết chúng đều khá chung chung, khó áp dụng.
Thói
ghen ghét, đố kỵ của người Việt
Sự
ghen ghét, đố kỵ hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và
tức giận vì điều đó. Sự ghen ghét, đố kỵ thường không chỉ dừng lại trong suy
nghĩ của con người, nó luôn bộc lộ ra ngoài thông qua hành động lời nói để giải
tỏa ẩn ức mặc cảm tự ti. Điều này làm cho con người càng trở nên thấp kém hơn
chứ không mang lại suy nghĩ tích cực cần vươn lên để hoàn thiện bản thân.
Người
ta ví người Việt như những con cua bị nhốt trong giỏ không đậy nắp nhưng không
con nào thoát được vì mỗi khi có con nào vươn lên liền bị các con khác kéo xuống.
Sự ghen ghét, đố kỵ làm cho con người ta hại người hại mình và cùng chết mà
không biết. Nó gây tổn thương, chia rẽ và không thể có được sự đoàn kết.
Thấy
nhà hàng xóm ăn nên làm ra, con người ta không vui mừng thay cho họ, không học
hỏi sự siêng năng cần mẫn giỏi giang hay kinh nghiệm của họ, con người ta ghen
ghét đố kỵ và nhìn họ bằng con mắt ác cảm và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong
đầu để nhủ họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được, chẳng qua là vì xấu xa
bất chính nên mới giàu. Và rồi con người ta bịa đặt, nói xấu, vu khống, thậm
chí quăng rác sang cổng nhà hoặc cho chó ỉa một bãi trước cổng nhà nó cho đỡ
ghét.
Thấy
đứa trong công ty làm việc giỏi được sếp yêu quý, cất nhắc, lương thưởng cao, con
người ta không coi đó là động lực thúc đẩy bản thân học hành thêm để tiến bộ, con
người ta luôn tìm cách gây hại cho nó phải bị kỷ luật thậm chí mất việc thì mới
hả dạ.
Ai
làm được một việc gì đó có ích nho nhỏ, được nhiều người khen ngợi, lập tức sẽ
có một số lượng người không nhỏ khác cảm thấy không vui và ghen ghét, đố kỵ. Họ
sẽ tìm cách chê bai, dè bỉu, thậm chí phá hoại để người khác thấy rằng người
kia cũng thường thôi, thậm chí kém hơn họ, có gì đáng mà khen.
Hoạt
động trong một nhóm mà ý kiến được nhiều người nghe hơn những người lập nhóm,
làm nhiều việc tích cực được ngợi khen thì chẳng sớm cũng muộn liền bị đá văng
ra khỏi nhóm.
Dạo
gần đây, thỉnh thoảng, ta lại đọc thấy những tin người này người kia bị ai đó bỏ
thuốc vào ao cá nuôi, phá hoại cây cối mùa màng. Sự ghen ghét đố kỵ tạo ra thù
hằn ngấm ngầm và bùng phát công khai khi con người không còn kiểm soát được nó.
Con
người trong xã hội mất niềm tin vào nhau, luôn nghi ngờ và đề phòng, cảnh giác,
không còn dám nói thật sống thật với nhau vì sợ bị ghen ghét đố kỵ, do đó cũng
không dám giúp nhau bởi lo âu người ta sẽ giỏi hơn mình, mình sẽ lép vế hơn.
Trong
một xã hội có nhiều người ghen ghét đố kỵ thì xã hội đó sẽ rất chậm tiến trong
mọi lĩnh vực vì không có sự khuyến khích phát triển. Người tài thường bị vùi dập.
Sự chia rẽ nghi ngờ và giả dối triệt tiêu mọi yếu tố cần thiết để gây dựng tình
yêu thương gắn kết trong cộng đồng.
Cộng
đồng người Việt định cư hoặc đi làm thuê ở nước ngoài cũng gặp tình trạng “ghen
ăn tức ở” gây ra sự mất đoàn kết và tranh giành xâu xé lẫn nhau khá khốc liệt,
hoàn toàn không có tính đoàn kết để xây dựng, bảo bọc và giúp nhau. Có những
chuyện rất buồn đã xảy ra. Khi trao đổi, con người ta biết rất nhiều người muốn
dân tộc mình có sự gắn kết đoàn kết như nhiều dân tộc khác. Tôi thèm muốn điều
đó. Nhưng, cuối cùng, con người ta vẫn là những cá thể mong manh yếu đuối dễ bẻ
gãy vì đã tự chặt đứt sức mạnh của đám đông bằng sự ghen ghét, đố kỵ.
Hôm
trước, một người anh lớn tuổi cười cười nói vui, “Em biết vì sao con voi nó chết
không? Vì cái ngà. Nó có cái ngà quý nên nó bị giết để lấy ngà. Con người có của
thì đừng phô phang vì người ta ghét, có tài năng thì cũng giấu bớt đi kẻo thiên
hạ đố kỵ mà gây hại.” Mình giật mình, thanh minh, “Em có đồng bạc nào đâu mà
phô. Nhưng đúng là em thường hay viết về kiến thức thường thức để chia sẻ với cộng
đồng vì em muốn người chưa biết sẽ biết được như mình, giỏi hơn mình. Việc đó
có gì đâu mà đố kỵ, anh ha?!” Ổng cười. Cái cười của người sống đủ lâu, trải
nghiệm đủ nhiều ấy làm cho mình hiểu rằng cái suy nghĩ mình không bị ghen ghét
đố kỵ là một suy nghĩ rất hồn nhiên, ngây thơ.
Ngẫm
lại, thấy cũng nhiều lần xấc bấc và bị tổn thương vì người ghen ghét đố kỵ hại
rồi, có phải không đâu, mình không chết vì việc đó nên nhanh quên thôi. Viết được
một bài kha khá là nhờ đọc nhiều, nghiên cứu kỹ và suy ngẫm rất nhiều ở nhiều
góc độ cùng sự trải nghiệm đủ nhiều. Nhưng người ghen ghét đâu hiểu điều đó, họ
bảo, “Nó làm sao mà viết được bài đó, toàn người khác viết cho.”
Bị
cô lập, vùi dập và dựng chuyện nói xấu vu khống đủ các kiểu từ những người mình
quen và cả không hề quen biết… mình trải đủ hết, có thiếu gì. Những việc ấy
không làm mình buồn nhiều. Nhưng nó làm mình nghĩ ngợi về chuyện lớn hơn: Làm
sao để sửa được tính ghen ghét đố kỵ đang xé nát xã hội này?
Mình
nghĩ, để có thể sửa được tính ghen ghét, đố kỵ, trước tiên con người cần nhìn
nhận rõ bản thân mình. Cần nhận ra bản thân có điều này giỏi nhưng còn yếu kém
mặt kia. Mặt giỏi thì ta phát huy và truyền kinh nghiệm cho người khác, mặt kém
thì học của người giỏi hơn để hoàn thiện bản thân.
Ngoài
việc nhận rõ mạnh yếu của bản thân, con người ta cũng cần tình yêu thương trong
tâm hồn mình để dẹp tan những mầm mống của ghen ghét, đố kỵ. Khi có tình yêu
thương nhau trong tâm hồn, ta sẽ vui sướng khi họ thành công chứ không ghen
ghét. Sự yêu thương cũng làm ta bao dung, dễ học hỏi, chia sẻ với nhau hơn
trong mọi việc.
Trong
gia đình, khi nuôi dạy con nhỏ, ta cần sửa tính của mình để con không phải chứng
kiến cảnh ta vứt rác sang nhà hàng xóm chỉ vì nhà nó mới mua ô tô. Ta cần yêu
thương và cử xử với các con một cách công bằng để chúng không đố kỵ lẫn nhau,
triệt tiêu mầm mống ghen ghét đố kỵ của con trẻ ngay khi còn nhỏ. Ta cần khuyến
khích chúng chia sẻ và nhận thức rõ về bản thân, không hoắng huýt về những điều
không thực chất để thể hiện.
Sửa
mình luôn là một quá trình đau đớn, nhưng buộc phải làm nếu muốn tốt đẹp hơn
cho bản thân. Mỗi người có thay đổi thì xã hội mới thay đổi. Mình bớt lười thì
mình sẽ thay đổi được thôi.
Một
cuộc đời
Đời người như ngọn gió thu
Thoảng bay nhè nhẹ vi vu giữa trời
Sớm mai sương đọng hoa cười
Nắng trưa gay gắt vẽ vời đẩy đưa
Chiều tàn xối xả cơn mưa
Đêm buồn rủ bóng lưa thưa giọt sầu
Heo may vội vã canh thâu
Chập chờn thức tỉnh còn đâu giấc nồng
Hiên nhà lành lạnh gió đông
Rít bên khe cửa, se lòng hắt hiu…..
Một đời sống để thương yêu
Tránh gây phiền phức, làm điều không hay
Cho dù nhanh chậm tháng ngày
Ra đi thanh thản, hồn bay nhẹ nhàng
Xác thân rồi cũng sẽ tan
Người trần không trách, không bàn về ta
Những thói hư tật xấu của người Việt
Người
nước ngoài nhìn ta:
1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.
2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm
tư duy dài hạn, chủ động.
3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự
hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên
thành lý luận.
5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến
đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không
phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học
vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê)
6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền.
7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ
(sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ
trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt
hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu
thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục.
10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh
(Cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì
hỏng).
Ta
tự nhìn ta:
1. “Giờ cao su”: Nhìn chung, ý thức giờ giấc của người Việt Nam
rất kém. Nhiều bạn đi du học ở các nước phát triển lúc đầu rất hay bị bỡ ngỡ. Họ
dễ bị trễ tàu, lỗi hẹn nhưng dần dần họ cũng khắc phục được. Ðến khi về nước họ
lại khó chịu với “giờ cao su” của chúng ta.
2. Thiếu tự tin và óc phê phán: Ðây cũng là nhược điểm của văn
hoá phương Ðông có lối sống khép kín. Nhiều bạn sinh viên năm thứ ba, thứ tư Ðại
học mà vẫn ngại phát biểu ý kiến hoặc trình bày vấn đề trước đám đông vì thiếu
tự tin, thiếu thói quen suy nghĩ, đi học chỉ biết “chép chính tả”. Kiểu giáo dục
thụ động luôn tỉ lệ thuận với sức ì của tư duy và tỉ lệ nghịch với óc phê phán
(critical thinking) của thanh niên.
3. Bệnh hình thức: Có bạn trong cơ quan hay công ty mình làm việc
đang chẳng đâu vào đâu thì lại đi học master. Có bạn tốt nghiệp rồi mà chưa tìm
được việc làm cũng đi học master. Tư duy nặng về “điểm chác”, bằng cấp rất phổ
biến. Không xác định tư tưởng học để làm việc mà học để lấy bằng. Người Mỹ có
quan điểm: to learn is to change. Còn chúng ta ra sức theo học rất nhiều lớp học
nhưng rốt cuộc cách làm việc không thay đổi gì cả, điều khác là chúng ta có
thêm mấy cái bằng bổ sung vào hồ sơ cá nhân.
4. Không tiết kiệm: hay tâm lí thích tiêu xài phung phí. Ðây là
virus đang rất phổ biến và rất dễ lây lan trong giới trẻ. Họ quan tâm đặc biệt
đến quảng cáo, thích xem các loại tem nhãn quần áo, nhận xét, đánh giá người
khác qua tài sản, thấy thèm muốn, thán phục nếu ai đó có nhiều quần áo, xe, điện
thoại, nhà…”xịn” hoặc tiêu xài sang hơn mình. Chúng ta đang tiêu dùng nhiều hơn
chúng ta kiếm được.
5. Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể: Nói
chung trong những người bình thường, chúng ta thường hay đùn đẩy trách nhiệm, bất
kỳ việc gì chuyển được sang cho người khác cũng đều thấy nhẹ cả người. Khi xảy
ra sai phạm đó sẽ là lỗi chung của cả tập thể chứ không của riêng cá nhân nào.
“Sẵn sàng” nhận cả “phần” không phải của mình…
6. Thể lực kém: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế độ dinh
dưỡng, chương trình học quá tải, học lệch, tâm lí lười vận động… Và hậu quả là
khi làm việc với các đồng nghiệp nước ngoài, mặc dù rất cố gắng nhưng người Việt
trẻ vẫn rất hay bị hụt hơi và cảm thấy khó có thể theo được cường độ làm việc của
họ.
7. Thiếu thực tế: Ông Kim Woo Choong – Chủ tịch Công ty Deawoo
viết: “tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ… lịch sử thuộc về những
người biết ước mơ”. Nhưng đó là những ước mơ hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.
Chúng ta thường hay suy nghĩ viển vông, thiếu suy nghĩ thực tế và chưa có suy
nghĩ học là để làm việc.
8. Tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế. Thế kỷ
21 là thế kỷ làm việc theo nhóm vì tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ngay
cả văn học và nghệ thuật, một cá nhân cũng không thể đảm đương được. Mạnh ai nấy
sống…
9. Tác phong công nghiệp: Ðây là điểm rất quan trọng, có thể bao
hàm một vài điểm đã nêu trước. Một nhà xã hội học Mỹ nói về nguồn gốc của cách
làm việc tiểu nông như sau: “Anh nông dân sau khi gieo lúa xong có thể nhậu lai
rai, ngủ dài dài và chờ đến thời điểm nhổ cỏ, bón phân mới làm tiếp. Mà việc
này có làm muộn vài ngày cũng chẳng sao, không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới.
Nhưng một người công nhân đứng máy luôn luôn phải đúng giờ, có thao tác chính
xác tuyệt đối và tinh thần kỷ luật cao. Một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tác hại
đến cả dây chuyền.”
10. Thích đi trên lối đi có sẵn – Lối mòn, không thích tự mình mở ra một lối đi mới cho riêng mình.
Phê Phán Thói Đời
Trong
cuộc sống bên cạnh những con người nỗ lực cống hiến để xã hội tốt hơn thì vẫn
còn có nhiều người có lối sống, cách suy nghĩ lệch lạc, rơi vào những thói hư tật
xấu ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Thói là lối, cách sống, cách hoạt động không
tốt được lặp lại lâu ngày thành quen. “Tật” là thói quen xấu, khó sửa. “Thói hư
tật xấu” là cách sống, cách hành động sai lầm được lặp đi lặp lại thành thói
quen khó sửa. Thói hư tật xấu chính là những thói quen không tốt, không phù hợp
với thuần phong mỹ tục của đất nước mà chúng ta cần bài trừ, loại bỏ để xã hội
ngày càng tốt đẹp hơn. Thói quen xấu là người bạn đồng hành của chủ nghĩa cá
nhân ích kỉ. Trong mỗi con người, thường có cả hai mặt tốt và xấu. Lối
sống buông thả là mảnh đất màu mỡ cho những thói quen xấu nảy nở và phát
triển. Tác hại của các thói hư tật xấu là vô cùng ghê gớm. Một khi đã nhiễm
phải tệ nạn lâu ngày thì rất khó từ bỏ. Thói hư tật xấu gây ra hậu quả lớn
làm cho xã hội chậm phát triển. Chính vì vậy, chúng ta cần phải tránh xa những
cạm bẫy của thói hư tật xấu để trước hết là bảo vệ phẩm cách được trong
sáng, sau đó là góp phần bảo vệ gia đình, xã hội, bảo vệ truyền thống đạo
đức tốt đẹp của dân tộc. Khi đã lỡ mắc thói xấu phải quyết tâm từ bỏ nó,
để làm lại cuộc đời. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết trong xã hội hiện nay vẫn
còn nhiều người tốt bụng, biết yêu thương, sống có lí tưởng, hướng đến những điều
tốt đẹp. Lại có những người sớm nhật ra những khuyết điểm của bản thân, có ý thức
sửa chữa, khắc phục để hoàn thiện chính mình,… những người này xứng đáng được
tuyên dương và ca ngợi. Cuộc đời quá ngắn để có chỗ cho những sai lầm có thể
trượt dài. Nếu bạn lỡ có những thói hư tật xấu hãy sớm nhận thức được và hối cải,
thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực, bỏ đi những thói quen xấu đó để bản
thân cũng như xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Thói
đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như thơ của ông nói chung, nặng về nhân tình thế
thái, triết lý đạo làm người, đúc kết giáo lý mà vẫn nóng hổi cảm xúc.
Thơ
ông, do vậy, nặng về nhân tình thế thái, triết lý đạo làm người. Chủ đề này vốn
dễ khô khan, nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng cách nghĩ, cách nói của nhân
dân, giữ được tính sinh động thời sự của sự kiện, nên câu thơ đúc kết giáo lý
mà vẫn nóng hổi cảm xúc. Một trong những bài thơ điển hình mang hơi thở đó của
Nguyễn Bỉnh Khiêm là bài
“Thói
đời I”:
“Thế gian biến cải vũng nên đồi,
Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt
bùi
Còn bạc, còn tiền còn đệ
tử
Hết cơm, hết rượu hết ông
tôi.
Xưa nay đều trọng người chân thực,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.
Ở thế mới hay người bạc
ác,
Giàu thì tìm đến khó tìm
lui”.
Và
bài “Thói đời II”:
“Vụng khéo nào ai chẳng có nghề
Khó khăn phải lụy đến thê
nhi
Ðược thời, thân thích
chen chân đến
Thất thế, hương lân ngảnh
mặt đi
Thớt có hôi tanh, ruồi muỗi đậu
Sanh không mật mỡ, kiến bò chi
Ðời nay những trọng người nhiều của
Bằng đến tay không, mấy kẻ vì”.
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi
Mặn,
nhạt, chua, cay, ngọt, bùi, chỉ những trạng thái, tình cảnh, tình huống ngang
trái trong cuộc sống đa đoan, tục luỵ, chìm nổi. Đệ tử, chỉ những kẻ dưới quyền,
tay chân, thuộc hạ sống bám vào việc tâng bốc cấp trên. Kẻ đãi bôi, kẻ nói lời
ngon ngọt lấy lòng, không thật, xảo ngôn.
Qua
bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy sự thật một trạng thái về bộ mặt của người
đời, nơi đó, đầy rẫy những kẻ hám danh vụ lợi, tầm thường, vì miếng cơm, manh
áo quên điều nhân nghĩa, dù trong tận đáy lòng, con người cũng biết trọng điều
chân thật, ghét sự dối trá, gian manh; mà chỉ những tâm hồn sống từng trải nếm
qua mọi cảnh đời mới thấu hiểu được.
Bài
thơ có bố cục theo thể thơ Đường luật, thất ngôn bát cú: câu một và hai nêu rõ,
cuộc đời luôn thay đổi, thăng trầm đầy vơi với mọi cảnh ngộ; câu ba và bốn nêu
tâm lý, thói đời vụ lợi và phù thịnh, quên nhân nghĩa; câu năm và sáu nêu thiện
ý của con người xưa nay ưa chân thật, ghét gian ngoan; câu bảy và tám nêu, có sống
ở đời, mới rõ được nhân tình thế thái.
Mở đầu bài thơ, tác giả cho thấy cảnh đời luôn biến đổi tang thương, trong đó con người cũng từng trải qua bao cảnh ngộ đa đoan, trớ trêu, đau khổ và hạnh phúc… Nhưng không phải con người luôn giữ được bản chất thiện lương của mình. Mỗi thay đổi cũng xuất hiện đầy rẫy những cảnh ngộ lọc lừa, phản phúc, trắng trợn đến mức tàn nhẫn, phũ phàng: “Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử - Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”.
.jpg)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét