Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 7

 


Mục lục

I- Quy luật cơ bản của cảm giác:

1. Quy luật về “sức ỳ” và “quán tính” của cảm giác.

2. Quy luật “bù trừ”

3. Quy luật ngưỡng cảm giác

4. Quy luật về sự thích ứng của cảm giác

5. Quy luật tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác

II- Quy luật cơ bản của tri giác

1. Tính đối tượng của tri giác

2. Tính trọn vẹn của tri giác

3. Tính lựa chọn của tri giác

4. Tính ý nghĩa của tri giác

5. Tính ổn định của tri giác

6. Tổng giác

7. Ảo ảnh:Là sự phản ánh sai lệch về đối tượng tri giác một cách khách quan.

8. Quy luật về tính đối tượng của tri giác

9. Quy luật về tính ổn định của tri giác.

10. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác    

11. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

12. Quy luật tổng giác.

13. Ảo giác (ảo ảnh thị giác) Nhìn vào các hình ảnh sau

 

Phần VI

Các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác

 

I- Quy luật cơ bản của cảm giác:

1. Quy luật về “sức ỳ” và “quán tính” của cảm giác.

- Khoảng thời gian từ khi kích bắt đầu tác động đến khi xuất hiện cảm giác được gọi là khoảng thời gian trước cảm giác hay “sức ỳ” của cảm giác.

- Khoảng thời gian từ khi kích ngừng tác động đến khi mất hẳn cảm giác được gọi là khoảng thời gian sau cảm giác hay “quán tính” của cảm giác.

 

2. Quy luật “bù trừ”:

   Khi một cảm giác nào đó bị yếu đi hay mất hẳn thì độ nhạy cảm của một số cơ quan cảm giác khác tăng lên rõ rệt.

 

3. Quy luật ngưỡng cảm giác :

   Không phải mọi kích thích đều có thể gây ra được cảm giác. Một đốm sáng nhỏ ở quá xa thì không thể trông thấy được hay một âm thanh nhỏ phát ra từ xa cũng không thể nghe thấy. Một kích thích chỉ có thể gây ra được cảm giác khi cường độ của nó đạt tới một giới hạn nhất định. Giới hạn của cường độ kích thích mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác.

   Có hai loại ngưỡng cảm giác: ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía trên.

   Ngưỡng cảm giác phía trên: là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn cho ta cảm giác.

   Ngưỡng cảm giác phía dưới: là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây cảm giác.

Phạm vi giữa ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới là vùng cảm giác được trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất.

   Ví dụ, ngưỡng phía dưới của thị giác ở người là sóng ánh sáng có bước sóng 390µm, còn ngưỡng phía trên là 780µm. Ngoài hai giới hạn trên là những tia cực tím (tử ngoại) và cực đỏ (hồng ngoại) mà mắt người không nhìn thấy được.

   Cường độ kích thích nằm giữa ngưỡng trên và ngưỡng dưới gọi là vùng cảm giác được. Bên cạnh các ngưỡng trên còn có ngưỡng sai biệt.

   Ngưỡng sai biệt là mức đô khác biệt tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích để có thể phân biệt sự khác nhau giữa chúng.

   Điểm đáng lưu ý ở  đây là khi  chúng ta nói  đến ngưỡng  cảm giác  là chúng ta  đề cập đến đại lượng vật lí,    dụ  như  cường độ  âm  thanh, trọng lượng… còn khi ta nói độ nhạy cảm thì  đó lại  là “đại  lượng” tâm lí. Do  không đo được  trực  tiếp độ nhạy cảm của giác quan nên người ta phải  đo nó  một cách gián tiếp, thông qua việc đo các kích thích vật lí bên ngoài.

   Các cơ quan cảm giác khác nhau có ngưỡng riêng của mình ở các cá nhân khác nhau ngưỡng cảm giác cũng không giống nhau. Nó chịu ảnh hưởng của các điều kiện giáo dục và rèn luyện.

 

4. Quy luật về sự thích ứng của cảm giác:

 
  
Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và đảm bảo cho hệ thần kinh khỏi bị huỷ hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng vơí kích thích. Đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp vơí cường  độ kích thích.

   Có nhiều kiểu thích ứng của cảm giác:

  a)  Cảm giác hòan tòan mất đi khi quá trình kích thích kéo dài

Ví dụ: Ít ai có cảm giác về sức nặng của đồng hồ đeo tay, kính đeo ở mắt, quần áo mặc trên người

  Các quy luật của cảm giác đầy đủ nhất

  b)  Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm.

Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng , phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biệt được các vật chung quanh . Người lái máy bay bị đền chiếu dọi vào mắt ít nhất cũng qua từ 3 đến 6 giây mới giảm được sự nhạy cảm để nhìn rõ con số trên đồng hồ

   c) Khi cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng

Ví dụ : Từ nơi sáng bước vào bóng tối. Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở châu nước cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia

Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau. Khả năng thích ứng của các cảm giác là do rèn luyện

 

5. Quy luật tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác:

Các cảm giác luôn ảnh hưởng tác động tới nhau, làm đổi khác tính nhạy cảm của nhau. Sự ảnh hưởng tác động diễn ra theo quy luật như sau : Sư kích thích yếu lên một cơ quan nghiên cứu và phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan nghiên cứu và phân tích kia, sự kích thích lẫn cơ quan Phân tích này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan nghiên cứu và phân tích kia .Sự tác động ảnh hưởng hoàn toàn có thể diễn ra đồng thời hay tiếp nối đuôi nhau trên những cảm giác cùng loại hay khác loại .Tương phản chính là hiện tượng kỳ lạ ảnh hưởng tác động qua lại giữa những cảm giác cùng loại. Đó là sự đổi khác cường độ và chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng tác động của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời .Có hai loại tương phản tương phản tiếp nối đuôi nhau và tương phản đồng thời. Tương phản tiếp nối đuôi nhau là tương phản khi hai kích thích tác động ảnh hưởng tiếp nối đuôi nhau nhau lên một cơ quan cảm giác, còn tương phản đồng thời xảy ra khi hai kích thích tác động ảnh hưởng cùng một lúc lên cơ quan cảm giác .Ví dụ : tờ giấy trắng đặt trên nền đen tạo cho ta cảm giác “ trắng hơn ” tờ giấy trắng đặt trên nề xám ( tương phản đồng thời ). Hoặc sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm sẽ có vẻ như nóng hơn ( tương phản tiếp nối đuôi nhau ) .Trong dạy học, sự tương phản thường được sử dụng khi so sánh, hoặc muốn làm điển hình nổi bật một sự vật nào đó trước học viên .

Sự tăng tính nhạy cảm do tác động qua lại của các cảm giác, những như do luyện tập có hệ thống được gọi là sự tăng cảm. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú ý tận dụng sự tăng cảm bằng cách tuân thủ và tạo dựng một chế độ ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh, không khí, … trong lớp học phù hợp cũng như tác động đồng thời lên nhiều giác quan của học sinh.

 

II- Quy luật cơ bản của tri giác

1. Tính đối tượng của tri giác

• Khi tri giác sự vật và hiện tượng, trong óc của chúng ta có hình ảnh của sv và ht, hình ảnh đó là do các thuộc tính của sv và ht tác động vào cơ quan cảm giác chúng ta tạo nên trong não.

• Quy luật này cho phép con người định hướng hành vi và hoạt động.

• Quy luật này phủ nhận các quan điểm sai lầm của CN duy tâm chủ quan hoặc cho rằng có một “genstalt” (cấu trúc) có sẵn tạo nên.

 

2. Tính trọn vẹn của tri giác:

• Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn, tức là nó đem lại cho ta một hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng.

• Tính trọn vẹn có được là nhờ 2 yếu tố:

- Bản thân các sự vật, hiện tượng có cấu trúc trọn vẹn

- Quy luật hoạt động theo hệ thống của hệ thần kinh cấp cao.

 

3. Tính lựa chọn của tri giác:

• Hiện thực khách quan đa dạng và phong phú.

• Khả năng của tri giác cho phép tách một số dấu hiệu hoặc đối tượng ra khỏi bối cảnh để phản ánh tốt hơn.

• Quy luật này rất có ý nghĩa trong trang trí, hội hoạ, hoá trang, nguỵ trang...

• Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc:

- Nhu cầu, hứng thú của chủ thể tri giác.

- Trong tri giác ngôn ngữ giúp con người có khả năng nhận biết nhanh chóng sự vật.

 

4. Tính ý nghĩa của tri giác:

• Khi tri giác sự vật và hiện tượng khả năng của tri giác cho phép con người nhận biết được cái chúng ta đang tri giác, gọi tên và xếp chúng vào một nhóm đối tượng cùng loại.

• Sở dĩ như vậy bởi tri giác gắn chặt với tư duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm của cá nhân.

 

5. Tính ổn định của tri giác:

• Tính không thay đổi khi tri giác đối tượng trong sự thay đổi các điều kiện tri giác.

• Tính ổn định cho phép con người hoạt động linh hoạt, hiệu quả trong điều kiện môi trường hoạt động luôn thay đổi.

 

6. Tổng giác:

• Sự phụ thuộc của hình ảnh tri giác vào kinh nghiệm, vào đời sống tâm lý, nhân cách của chủ thể tri giác gọi là tổng giác.

• Tổng giác làm cho tri giác mang tính chủ thể rõ nét.

• Để tri giác tốt đòi hỏi con người phải phải rèn luyện khả năng tri giác, tích lũy kinh nghiệm, hình thành thái độ tích cực...

 

7. Ảo ảnh:Là sự phản ánh sai lệch về đối tượng tri giác một cách khách quan.

Các nguyên nhân:

• Nguyên nhân vật lý

• Nguyên nhân sinh lý, não tổn thương

• Nguyên nhân tâm lý: mệt mỏiCác quy luật của tri giác

 

8. Quy luật về tính đối tượng của tri giác

- Tri giác bao giờ cũng Có đối tượng là các sự vật trong hiện thực khách quan. Tri giác phản ánh các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan không phải dưới hình thức tập hợp đơn thuần các cảm giác lẫn lộn về mọi sự vật hiện tượng, mà nó phản ánh một cách trọn vẹn, cụ thể sự vật hiện tượng độc lập với sự vật hiện tượng khác. Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lai bao giờ cũng thuộc về một sự vật hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Nhờ sự phản ánh chân thực của tri giác mà con người có thể hoạt động với đồ vật tổ chức hoạt động của mình một cách có kết quả.

 

9. Quy luật về tính ổn định của tri giác.

- Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi .

- Tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động với đồ vật  và là một điều kiện cần thiết của đời sống con người. Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có.

 

10. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác    

- Khi ta tri giác một sự vật hiện tượng nào đó thì có nghĩa là ta tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh chung quanh lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình. Vai trò giữa đối tượng và bối cảnh có thể chuyển đổi cho nhau.                

- Có liên hệ chặt chẽ với tính trọn vẹn. 

- Do hứng thú, trạng thái tâm sinh lý cũng ảnh hưởng tới tri giác Ví dụ: trong sách có nhiều chữ in nghiêng để nhấn mạnh, giáo viên dùng mực đỏ đánh giấu chỗ sai của học sinh…    

- Xung quanh (điều kiện bên ngoài, ngôn ngữ…) ta có vô vàn sự vật, hiện tượng tác động vào tri giác không thể phản ánh được tất cả các sự vật hiện tượng mà chỉ lựa chọn, tách ra một số tác động để tạo thành tri giác về đối tượng. 

- Ứng dụng 

+ Trang trí, bố cục. 

+ Trong giảng dạy các thầy cô thường dùng bài giảng kết với tài liệu trực quan sinh động, yêu cầu học sinh làm các bài tập điển hình, nhấn mạnh những phần quan trọng giúp các học sinh tiếp thu bài.

 

11. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

- Hình ảnh tri giác bao giờ cũng có một ý nghĩa nào đó, được gắn với một tên gọi nhất định. Điều này có được do sự gắn bó chặt chẽ của tri giác với tư duy. Các cảm giác khi được tổ hợp lại thành một hình ảnh trọn vẹn, sẽ được đem so sánh đối chiếu với các biểu tượng của sự vật, hiện tượng đã được lưu giữ trong trí nhớ và được xếp vào một nhóm, một lớp hay một loại hiện tượng nhất định. Từ đó ta gọi được tên của sự vật.

 

12. Quy luật tổng giác.

- Ngoài bản thân những kích thích  gây ra nó, tri giác của con người còn bị quy định bơỉ một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác. Sự phụ thuộc của tri giác vào vào nội dung của đơì sống tâm lý, vào đặc điểm nhân cách của họ gọi là tổng giác.

 

13. Ảo giác (ảo ảnh thị giác) Nhìn vào các hình ảnh sau:                       

* Nguyên nhân: 

- Nguyên nhân khách quan:  

+ Do thiếu sự tương phản giữa vật và nền, do sự xóa nhòa giữa vật và nền. 

Ví dụ: lợi dụng điều này trong chiến tranh, người ta ngụy trang công sự, khẩu súng bằng lá cây. + Do hiệu ứng khuếch tán, nghĩa là vật sáng to hơn vật tối mặc dù chúng bằng nhau.    

+ Người ta ứng dụng việc này vào thời trang: nếu bạn nữ có da trắng hồng, hay lựa chọn màu áo thật thẫm thì nổi hơn và ngược lại người có làn da tối thì lựa chọn màu sáng chứ đừng mặc áo màu trắng hay đen, đỏ,… 

+ Nếu bạn thấp thì nên mặc áo kẻ dọc sẽ tạo cảm giác cao hơn, nếu bạn cao, ốm thì nên mặc áo kẻ ngang. 

- Nguyên nhân chủ quan: không hiểu được ý nghĩa về hinh ảnh mà mình cần tri giác.   

Từ đó ta đưa ra khái niệm:

- Ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch. Những hiện tượng này tuy không nhiều, song nó có tính qui luật. 

- Người ta lợi dụng ảo giác vào trong kiến trúc, hội họa, trang trí, trang phục…để phục vụ cho cuộc sống con người.   

- Bên cạnh đó, thì ảo giác còn gây ra hoang tưởng, mơ mộng về một việc mà biết chắc không có thật, phản ánh không đúng, sai lệch về bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng…


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...