Lời giới thiệu
Minh Tôi Cầu Mong : Mỗi Người , Mỗi Nhà Ai Ai Cũng : BÌNH YÊN TRONG TÂM THỨC YÊN ỔN TRONG TÂM HỒN
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI .
Trong thực tiến cuộc sống, hay trong quá trình học của các môn khao học
thì thuật ngữ “quy luật” không phải là thuật ngữ xa lạ đối với chúng ta. Khi
chúng ta học triết học Mác – Lênin thì định nghĩa quy luật là gì và việc phân
loại quy luật chúng ta càng cần phải nắm chắc.
Quy luật có thể hiểu theo cách thông thường và đơn giản nhất đó chính là
những hiện tượng có tính logic, trật tự và lặp đi lặp lại trong cuộc sống hằng
ngày. Nó đã trở thành một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại và không dừng lại hay
bỏ qua bước nào. Ví dụ: như việc nước dưới mặt hồ bốc hơi, ngưng tự thành mây
sau một thời gian tích lũy đủ sẽ thành những hạt mưa quay lại mặt hồ.
Còn quy luật được xác định dưới góc nhìn của triết học thì nó lại là sản
phẩm của hoạt động tư duy khoa học. Quy luật sẽ phản ánh sự liên hệ của các sự
vật và tính tổng thể của chúng. Việc này có thể hiểu là những sự việc, hiện
tượng trong cuộc sống, và dưới tư duy, nhận thức của con người, mà nó được đúc
kết thành những quy luật cụ thể.
Còn đối với góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì tính khách
quan luôn luôn có trong quy luật. Điều này có nghĩa là quy luật sẽ luôn tồn tại
trong thực tiễn, diễn ra hằng ngày dù không có sự nhận thức, phản ánh của tư
duy con người. Nó có thể hiểu như sinh lão bệnh tử của con người, mặc dù con
người biết trước được quy luật đó những không thể nào tác động đến để tạo ra
hay làm biến mất các quy luật mà chỉ có thể nhận thức, chấp nhận và vận dụng chúng trong cuộc sống thực tiễn.
Đối với chủ nghĩa duy tâm thì lại quan niệm sự phản ảnh của tư duy não bộ
mỗi người là quy luật. Cũng chính vì thế mà theo quan niệm này quy luật lại
luôn mang theo sự đánh giá, quan điểm cá nhân, vì vậy, quy luật không thể có
tính khách quan.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát
triển nhất định của văn minh nhân loại. Nó tuân theo các quy luật riêng bao
gồm: Giá trị, cung cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ và giá trị thặng dư; ở đó
tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng
vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định. Sự ra
đời và phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường cho các chủ thể
trong xã hội thỏa mãn đam mê, sáng tạo trong vấn đề kinh doanh, sản xuất, đồng
thời tạo điều kiện để tăng cường sự cạnh tranh của các thành phần trong nền
kinh tế, phát triển hoạt động trao đổi, mua bán trên thị trường. Có thể kể đến
một số mô hình kinh tế điển hình cụ thể như: kinh tế thị trường tự do, kinh tế
thị trường, xã hội.
Khách quan là những sự vật, sự việc, hiện tượng hình thành, tồn tại một
cách ngẫu nhiên và mặc định, không phụ thuộc vào ý chí hay mong muốn của một
chủ thể nào đó. Không chịu sự chi phối, tác động của bất kỳ ai. Đó là những gì
thuộc về tự nhiên, vốn dĩ đã có trước khi con người có nhận thức hoặc có ý định
tác động.
Chủ quan được hiểu là suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm,
cách nhìn nhận... của con người được hình thành trong quá trình nhận thức và
tích luỹ thông qua hoạt động thực tiễn; từ đó nảy sinh hành động, cách ứng xử,
giải quyết các vấn đề của mỗi cá nhân riêng biệt.
Khách quan là nền tảng, cơ sở, có vai trò quyết định đối với chủ quan.
Quy luật khách quan tồn tại độc lập và không lệ thuộc vào ý thức chủ thể. Do
đó, việc một chủ thể nào đó mong muốn áp đặt các vấn đề khách quan là điều
không thể, chính vì vậy, mọi hành động, việc làm của mỗi con người đều được
hình thành và phát sinh dựa trên các yếu tố khách quan tồn tại ngẫu nhiên, sẵn
có. Từ chính những sự trải nghiệm và tiếp xúc với các vấn đề khách quan, sau
quá trình tư duy mà có được nhận thức tạo nên suy nghĩ, tình cảm, ý chí và hành
vi ứng xử.
Tóm lại, khách quan và chủ quan là 2 yếu tố luôn tồn tại song hành trong
mỗi chủ thể, có quan hệ qua lại, gắn bó mật thiết, cân bằng, đối trọng, kiểm
soát và chi phối lẫn nhau. Để phát triển một cách đầy đủ và toàn diện, con
người phải nhận thức được khách quan và dựa vào khách quan để có các quyết định
phù hợp, đồng thời dùng ý chí và khả năng chủ quan để tác động làm thay đổi
khách quan theo hướng có lợi cho mục đính bản thân.
Về thực tiễn khách quan, trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, quan hệ
hàng hoá - tiền tệ có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển, điều đó cho
thấy, các yếu tố của kinh tế hàng hoá hình thành, đó là biểu hiện đặc trưng của
kinh tế thị trường. Tuy nhiên, ở nước ta, đường lối phát triển đất nước được
xác định đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Do đó, dù xây dựng và phát triển
kinh tế thị trường, song không thể tách khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Ngoài ra, đây cũng là lựa chọn tất yếu, vừa phù hợp với quy luật khách
quan như đã nói trên, đồng thời cũng phù hợp mục tiêu phát triển của đất nước
phồn vinh, hạnh phúc... phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát
triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, việc phát triển kinh tế thị
trường cũng là tiền đề, điều kiện, phương thức và động lực để thực hiện thành
công mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế tri thức ngày một phát triển, hoà bình
và hợp tác là xu thế lớn, cạnh tranh đang ngày càng gay gắt, Việt Nam đang hội
nhập ngày một sâu rộng, các hiệp định FTA thế hệ mới có hiệu lực giúp nền kinh
tế nước ta sớm hoà cùng dòng chảy chung của kinh tế thế giới, chính vì vậy, để
thích nghi và có đủ sức kháng cự trước những biến động khôn lường cùng nhiều
nguy cơ bất ổn, buộc chúng ta phải lựa chọn khách quan, phù hợp với thời đại đó
là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về chủ quan, trước hết phải kể đến vai trò cầm quyền và độc tôn của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra các chủ trương, đường lối, nghị quyết. Đảng
ta đã tổng kết thực thực tiễn, nâng tầm lý luận, sáng suốt lựa chọn đúng đắn
việc phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị
trường nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ, từng giai
đoạn.
Bên cạnh đó là sự ứng phó linh hoạt, kịp thời thông qua các quyết sách
trong quá trình tổ chức thực hiện của Nhà nước với phương châm: "Kỷ cương,
liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả" đã để lại những dấu ấn
quan trọng với những thành tự to lớn trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời còn có sự đồng thuận, thống nhất cao và năng lực làm chủ của
nhân dân cùng chính quyền các cấp đã hiện thực hoá một cách cụ thể các quan
điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước trong quá trình xây
dựng và phát triển.
Thực trạng điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy, hai
yếu tố này có quan hệ tương hỗ, qua lại, quy định lẫn nhau. Nếu điều kiện khách
quan có vai trò quyết định thì nhân tố chủ quan giữ vị trí quan trọng, là điều
kiện cần và đủ để có thể giúp tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh, hài hoà trong
bức tranh chung của nền kinh tế,xã hội,con người
Nội dung bài viết:
-
Phần dẫn nhập :Mối quan hệ giữa
tự nhiên và xã hội.
-
Phần I Khái quát chung về quy
luật
-
Phần II : Các quá trình của nhận
thức.
-
Phần III : Những quy luật cơ bản
của phép biện chứng duy vật.
-
Phần IV : Sáu cặp phạm trù trong
triết học.
-
Phần V : Các quy luật trong đạo
phật .
-
Phần VI : Các quy luật cơ bản của
cảm giác và tri giác.
-
Phần VII: Các quy luật cơ bản của
đời sống tình cảm.
-
Phần VIII: Những quy luật cơ bản
về phát triển xã hội sản xuất và phương thức sản xuất.
-
Phần IX: Các quy luật của kinh tế
thị trường.
-
Phần X : Các quy luật của đời
sống thường nhật.
-
Phần XI: Các luật của tự nhiên xã
hội tác động đến đời sống con người.
-
Phần XII: Các câu nói để đời về
cuộc sống con người.
Nội Dung Chi Tiết.
Phần dẫn nhập
Mối quan hệ
giữa tự nhiên và xã hội
Mục lục
-
1.Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên
-
2.Tự nhiên Con người Xã hội nằm
trong một chỉnh thể thống nhất
-
3.Tác động tiêu cực tới thiên nhiên, con người đang phải trả giá.
-
4.Tự nhiên - nền tảng của xã hội.
-
5.Tác động của xã hội đến tự nhiên.
-
6.Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.
Vấn đề này đã được con người quan tâm từ rất sớm, cho đến nay quan niệm
về vấn đề này đã trở nên hoàn thiện hơn bao giờ hết.
Để bắt đầu chúng ta hãy làm rõ các khái niệm: Tự nhiên: theo nghĩa rộng
tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất vô cùng vô tận. Theo nghĩa này thì con
người và xã hội loài người cũng là một bộ phận của tự nhiên. Chúng ta xem xét
tự nhiên theo nghĩa này.
Xã hội: xã hội là hình thái vận
động cao nhất của vật chất, hình, thái này lấy mối quan hệ của con người và sự
tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Theo Mác: "Xã hội
không phải gồm các cá nhân người. Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những
quan hệ của các cá nhân với nhau". Mối quan hệ biên chứng giữa tự nhiên và
xã hội: Tự nhiên và xã hội thực sự có một mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau:
Theo định nghĩa tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan
vậy con người và xã hội loài người cũng là một bộ phận của thế giới vật chất ấy
- con người và xã hội cũng là bộ phận của tự nhiên. Nguồn gốc của con người là
tự nhiên.
Quá trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật
tiến hóa, trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiên từ động vật.
Con người sống trong giới tự nhiên như mọi sinh vật khác bởi con người là một
sinh vật của tự nhiên.
Ngay cả bộ óc con người, cái mà con người vẫn tự hào cũng chính là sản
phẩm cao nhất của vật chất. Chính tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát
triển của con người. Con người ra đời không chỉ nhờ những quy luật sinh học mà
còn nhờ lao động.
Lao động là một quá trình được tiến hành giữa con người với tự nhiên,
trong quá trình này con người khai thác và cải tiến giới tự nhiên để đáp ứng
nhu cầu tồn tại của mình. Trong lao động cấu tạo cơ thể người dần hoàn thiện và
do nhu cầu trao đổi thông tin ngôn ngữ xuất hiện.
Lao động và ngôn ngữ là hai kích thích chủ yếu chuyển biến bộ não động
vật thành bộ não người, tâm lý động vật thành tâm lý người. Sự hình thành con
người đi kèm với sự hình thành các quan hệ giữa người với người, cộng đồng
người dần thay đổi từ mang tính bầy đàn sang một cộng đồng mới khác hẳn về
chất, ta gọi đó là xã hội.
Đây cũng là quá trình chuyển biến từ vận động sinh học thành vận động xã
hội. Vậy xã hội là gì? Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình
thái này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với
người làm nền tảng. Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của
các cá nhân với nhau, "là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con
người".
Như vậy xã hội cũng là một bộ phận của tự nhiên. Song bộ phận này có tính
đặc thù thể hiện ở chỗ: phần còn lại của tự nhiên chỉ có những nhân tố vô thức
và mù quáng tác động lẫn nhau; còn trong xã hội, nhân tố hoạt động là của con
người có ý thức, hành động có suy nghĩ và theo đuổi những mục đích nhất định.
Hoạt động của con người không chỉ tái sản xuất ra chính bản thân mình mà còn
tái sản xuất ra giới tự nhiên.
Con người và xã hội không chỉ là
một bộ phận của tự nhiên. Hơn thế tự nhiên - con người - xã hội nằm trong một
chỉnh thể thống nhất. Theo nguyên lí về tính thống nhất vật chất của thế giới
thì thế giới tuy vô cùng phức tạp, đa dạng và được cấu thành từ nhiều yếu tố
khác nhau song suy đến cùng có ba yếu tố cơ bản là tự nhiên, con người và xã
hội loài người. Ba yếu tố này thống nhất
với nhau trong một hệ thống tự nhiên - con người - xã hội bởi chúng đều là
những dạng thức khác nhau, những trạng thái, đặc tính, mối quan hệ khác nhau
của vật chát đang vận động.
3-Tác động tiêu cực tới thiên nhiên, con
người đang phải trả giá.
Thế giới vật chất luôn luôn vận động theo những qui luật, tất cả các quá
trình trong tự nhiên, con người và xã hội đều chịu sự chi phối của những qui
luật phổ biến nhất định. Sự hoạt động của các qui luật đó đã nồi liền các yếu
tố của thế giới thành một chỉnh thể thống nhất vĩnh viễn và phát triển không
ngừng trong không gian và theo thời gian. Con người là hiện thân của sự thống
nhất giữa tự nhiên và xã hội: Con người là sản phẩm của tự nhiên. Con người tạo
ra xã hội.
Con người vốn tồn tại trong tự nhiên nhưng sau khi tạo ra xã hội thì lại
không thể tách rời xã hội. Để trở thành một con người đích thực con người cần
được sống trong môi trường xã hội, trong mối quan hệ qua lại giữa người với
người với người. Con người mang trong mình bản tính tự nhiên và bản chất xã
hội. Chính vì thế ta có thể nói rằng con người còn là hiện thân của sự thống
nhất giữa xã hội và tự nhiên.
4- Tự nhiên - nền tảng của xã hội.
Xã hội và tự nhiên thống nhất với nhau nên nó tương tác với nhau. Đây là
một mối quan hệ biện chứng hai chiều, trước hết ta xét chiều thứ nhất là những
tác động của tự nhiên lên xã hội loài người. Tự nhiên vô cùng quan trọng với xã
hội Tự nhiên vừa là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vừa là môi trường tồn tại
và phát triển của xã hội. Tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vì xã
hội được hình thành trong sự tiến hóa của thế giới vật chất.
Tự nhiên là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội vì chính tự nhiên
đã cung cấp những điều kiện cần thiết nhất cho sự sống của con người và cũng
chỉ có tự nhiên mới cung cấp được những điều kiện cần thiết cho các hoạt động
sản xuất xã hội.
Theo Mác, con người không thể sáng
tạo ra được cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình
bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của con người được thực hiện, trong
đó lao động của con người tác động, từ đó và nhờ đó, lao độn của con người sản
xuất ra sản phẩm.
Tóm lại tự nhiên đã xung cấp mọi thứ cho sự tồn tại của xã hội, mọi thứ
mà lao động của con người cần. Mà chính lao động đã tạo ra con người và xã hội
do đó vai trò của tự nhiên với xã hội là vô cùng to lớn. Tự nhiên có thể tác
động thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất xã hội; có thể thúc đẩy hoặc kìm
hãm xã hội phát triển bởi nó là nền tảng của xã hội.
5 -Tác động của xã hội đến tự nhiên.
Tự nhiên tác động đế xã hội nhiều
như thế nào thì xã hội cũng tác động lại vào tự nhiên như thế. Trước hết phải
khẳng định lại rằng xã hội là một bộ phận của tự nhiên như vậy mỗi thay đổi của
xã hội cũng có nghĩa là tự nhiên thay đổi. Bên cạnh đó xã hội còn tương tác với
phần còn lại của tự nhiên một cách mạnh mẽ.
Sự tương tác này thông qua các hoạt động thực tiễn của con người trước
hết là quá trình lao động sản xuất. Lao động là đặc trưng cơ bản đầu tiên phân
biệt hoạt động của con người với động vật. Song lao động cũng là yếu tố đầu
tiên, cơ bản nhất, quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa xã hội và
tự nhiên.
Bởi "lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và
tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian, điều tiết và kiểm soát sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên".
Sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên thể hiện ở chỗ: tự nhiên cung cấp
cho con người điều kiện vật chất để con người sống và tiến hành hoạt động sản
xuất.
Cũng chính trong quá trình sử dụng
những nguồn vật chất này con người đã làm biến đổi nó và các điều kiện môi
trường xung quanh tức là làm biến đổi tự nhiên một cách mạnh mẽ. Hoạt động sống
và lao động sản xuất của con người trong xã hội là vô cùng phong phú nên sự tác
động vào tự nhiên cũng vô cùng phong phú nên sự tác động vào tự nhiên cũng vô
cùng phong phú như khai thác khoáng sản, đánh bắt cá hay kể cả đốt rừng, đẩy
trả rác thải ra tự nhiên...
Thực tế xã hội luôn tác động tự nhiên. Giờ đây với sức mạnh của khoa học
công nghệ, một lực lượng dân số khổng lồ, sự tác động này trở nên mạnh mẽ hơn
bao giờ hết. Vấn đề hiện nay là trong quá trình tác động này con người cần kiểm
tra, điều tiết việc sử dụng khai thác, bảo quản các nguồn vật chất của tự
nhiên, nếu không thì khủng hoảng sẽ xảy ra, sự cân bằng của hệ thống tự nhiên -
xã hội sẽ bị đe dọa.
Ấy vậy mà hiện nay con người lại đang đi ngược lại với những điều đúng
đắn: Con người chính là sinh vật có khả năng làm biến đổi tự nhiên nhiều nhất -
Chính vì vậy họ đang là sinh vật tàn phá thiên nhiên khủng khiếp nhất.
Tóm lại trong mối quan hệ với môi
trường tự nhiên xã hội có vai trò ngày càng quan trọng. Để giữ gìn môi trường
tồn tại và phát triển của mình con người cần nắm chắc các qui luật tự nhiên,
kiểm tra điều tiết sử dụng hợp lí, bảo quản khai thác có hiệu quả đảm bảo khả
năng tái tạo các nguồn vật chất của tự nhiên, đảm bảo cân bằng hệ thống tự
nhiên - xã hội.
6 -Những yếu tố tác động đến mối quan hệ
giữa tự nhiên và xã hội.
Có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội trong đó
quan trọng nhất là trình độ phát triển của xã hội và sự độ nhận thức, vận dụng
qui luật tự nhiên, xã hội vào hoạt động thực tiễn của con người. Mối quan hệ tự
nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội: Thông qua các
hoạt động của con người lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội đã trở nên gắn bó và
quy định lẫn nhau.
Sự gắn bó và quy định này phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà
tiêu chí để đánh giá là phương thức sản xuất. Sự ra đời của những phương thức
sản xuất mới quyết định sự biến chuyển về chất của xã hội loài người.
Chính phương thức sản xuất quy định tính chất của mối quan hệ giữa tự
nhiên và xã hội vì mỗi phương thức sản xuất khác nhau sẽ có những công cụ lao
động khác nhau để khai thác giới tự nhiên, sẽ có những mục đích tiến hành sản
xuất khác nhau. Khi công cụ thay đổi, mục đích sản xuất của mỗi chế độ sản xuất
thay đổi thì tính chất của mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên cũng thay đổi
theo.
Ngày nay, khi có khoa học và kĩ thuật phát triển song với chế độ sở hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa thì con người coi tự nhiên không chỉ là môi trường
sống mà còn là đối tượng chiếm đoạt nhằm mục đích lợi nhuận. Khủng hoảng môi
trường đã xảy ra ở nhiều nơi và đang đe dọa sự sống của nhân loại.
Để tồn tại và phát triển con người phải chung sống hòa bình với thiên
nhiên, thay đổi cách đối xử với tự nhiên mà quan trọng nhất là phải xóa bỏ chế
độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa - nguồn gốc sâu xa của việc phá hoại tự
nhiên nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ của tất cả mọi người.
Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức và vận
dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn: Mối quan hệ giữa tự nhiên và con
người được thể hiện thông qua hoạt động của con người. Song con người hành động
theo suy nghĩ do đó mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ
nhận thức, trước hết là nhận thức các quy luật và việc vận dụng nó trong các
hoạt động thực tiễn.
Một nhận thức tốt đi kèm với những hành động theo quy luật thì con người
đã tạo ra một thế giới hài hỏa, thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của xã hội.
Ngược lại, nếu làm trái quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những cái có sẵn
trong giới tự nhiên thì sự nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡ cân
bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là không tránh khỏi.
Con người sẽ phải trả giá và diệt vong. Việc nhận thức quy luật tự nhiên
cần đi kèm việc nhận thức quy luật của xã hội và đồng thời vận dụng chúng trong
thực tiễn. Thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển, nhận thức đã được
nâng lên nhiều vấn đề còn lại là phải hành động cho đúng. Phải tuân theo các
quy luật vốn có của tự nhiên
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
TRIẾT LÝ THẦU HIỂU
1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...
-
Bí quyết để thành công có lẽ là câu hỏi được nhiều người quan tâm trên con đường tìm kiếm đích đến của chính mình. Có người may mắn gặp co...
-
Bố Dặn Con Trai. Đã 34 năm kể từ ngày một mình Bố đón con từ phòng mổ, Mẹ im nằm thở rất nhẹ, con thì khóc oa oa , Bác sĩ đưa toa t...
-
Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Ngọc Minh ghi nhớ và làm theo ...









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét