Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI .

 Lời giới thiệu

Trong thực tiến cuộc sống, hay trong quá trình học của các môn khao học thì thuật ngữ “quy luật” không phải là thuật ngữ xa lạ đối với chúng ta. Khi chúng ta học triết học Mác – Lênin thì định nghĩa quy luật là gì và việc phân loại quy luật chúng ta càng cần phải nắm chắc.

Quy luật có thể hiểu theo cách thông thường và đơn giản nhất đó chính là những hiện tượng có tính logic, trật tự và lặp đi lặp lại trong cuộc sống hằng ngày. Nó đã trở thành một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại và không dừng lại hay bỏ qua bước nào. Ví dụ: như việc nước dưới mặt hồ bốc hơi, ngưng tự thành mây sau một thời gian tích lũy đủ sẽ thành những hạt mưa quay lại mặt hồ.

Còn quy luật được xác định dưới góc nhìn của triết học thì nó lại là sản phẩm của hoạt động tư duy khoa học. Quy luật sẽ phản ánh sự liên hệ của các sự vật và tính tổng thể của chúng. Việc này có thể hiểu là những sự việc, hiện tượng trong cuộc sống, và dưới tư duy, nhận thức của con người, mà nó được đúc kết thành những quy luật cụ thể.

Còn đối với góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì tính khách quan luôn luôn có trong quy luật. Điều này có nghĩa là quy luật sẽ luôn tồn tại trong thực tiễn, diễn ra hằng ngày dù không có sự nhận thức, phản ánh của tư duy con người. Nó có thể hiểu như sinh lão bệnh tử của con người, mặc dù con người biết trước được quy luật đó những không thể nào tác động đến để tạo ra hay làm biến mất các quy luật mà chỉ có thể nhận thức, chấp nhận và  vận dụng chúng trong cuộc sống thực tiễn.

Đối với chủ nghĩa duy tâm thì lại quan niệm sự phản ảnh của tư duy não bộ mỗi người là quy luật. Cũng chính vì thế mà theo quan niệm này quy luật lại luôn mang theo sự đánh giá, quan điểm cá nhân, vì vậy, quy luật không thể có tính khách quan.

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Nó tuân theo các quy luật riêng bao gồm: Giá trị, cung cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ và giá trị thặng dư; ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định. Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường cho các chủ thể trong xã hội thỏa mãn đam mê, sáng tạo trong vấn đề kinh doanh, sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để tăng cường sự cạnh tranh của các thành phần trong nền kinh tế, phát triển hoạt động trao đổi, mua bán trên thị trường. Có thể kể đến một số mô hình kinh tế điển hình cụ thể như: kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường, xã hội.

 

Khách quan là những sự vật, sự việc, hiện tượng hình thành, tồn tại một cách ngẫu nhiên và mặc định, không phụ thuộc vào ý chí hay mong muốn của một chủ thể nào đó. Không chịu sự chi phối, tác động của bất kỳ ai. Đó là những gì thuộc về tự nhiên, vốn dĩ đã có trước khi con người có nhận thức hoặc có ý định tác động.

 

Chủ quan được hiểu là suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm, cách nhìn nhận... của con người được hình thành trong quá trình nhận thức và tích luỹ thông qua hoạt động thực tiễn; từ đó nảy sinh hành động, cách ứng xử, giải quyết các vấn đề của mỗi cá nhân riêng biệt.

 

Khách quan là nền tảng, cơ sở, có vai trò quyết định đối với chủ quan. Quy luật khách quan tồn tại độc lập và không lệ thuộc vào ý thức chủ thể. Do đó, việc một chủ thể nào đó mong muốn áp đặt các vấn đề khách quan là điều không thể, chính vì vậy, mọi hành động, việc làm của mỗi con người đều được hình thành và phát sinh dựa trên các yếu tố khách quan tồn tại ngẫu nhiên, sẵn có. Từ chính những sự trải nghiệm và tiếp xúc với các vấn đề khách quan, sau quá trình tư duy mà có được nhận thức tạo nên suy nghĩ, tình cảm, ý chí và hành vi ứng xử.

 

Con người trong quá trình tiếp xúc và nhận thức khách quan có thể cải tạo, điều chỉnh khách quan, tuy nhiên cần phải có những điều kiện nhất định như không gian, thời gian, kiến thức, năng lực, thái độ... điều kiện và hoàn cảnh sống của con người được tạo ra bởi các yếu tố khách quan, nhưng do con người nhận thức được những quy luật khách quan mà hình thành kỹ năng, thói quan để ứng phó phù hợp với hoàn cảnh và quy luật khách quan đáp ứng mong muốn, nhu cầu của bản thân. Mặt khác, từ những trải nghiệm, cùng quá trình trau rồi, rèn luyện, con người có thể tự mình quyết định và tạo ra đời sống bản thân.

 

Tóm lại, khách quan và chủ quan là 2 yếu tố luôn tồn tại song hành trong mỗi chủ thể, có quan hệ qua lại, gắn bó mật thiết, cân bằng, đối trọng, kiểm soát và chi phối lẫn nhau. Để phát triển một cách đầy đủ và toàn diện, con người phải nhận thức được khách quan và dựa vào khách quan để có các quyết định phù hợp, đồng thời dùng ý chí và khả năng chủ quan để tác động làm thay đổi khách quan theo hướng có lợi cho mục đính bản thân.

 

Về thực tiễn khách quan, trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, quan hệ hàng hoá - tiền tệ có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển, điều đó cho thấy, các yếu tố của kinh tế hàng hoá hình thành, đó là biểu hiện đặc trưng của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, ở nước ta, đường lối phát triển đất nước được xác định đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Do đó, dù xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, song không thể tách khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

 

Ngoài ra, đây cũng là lựa chọn tất yếu, vừa phù hợp với quy luật khách quan như đã nói trên, đồng thời cũng phù hợp mục tiêu phát triển của đất nước phồn vinh, hạnh phúc... phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, việc phát triển kinh tế thị trường cũng là tiền đề, điều kiện, phương thức và động lực để thực hiện thành công mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

 

Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế tri thức ngày một phát triển, hoà bình và hợp tác là xu thế lớn, cạnh tranh đang ngày càng gay gắt, Việt Nam đang hội nhập ngày một sâu rộng, các hiệp định FTA thế hệ mới có hiệu lực giúp nền kinh tế nước ta sớm hoà cùng dòng chảy chung của kinh tế thế giới, chính vì vậy, để thích nghi và có đủ sức kháng cự trước những biến động khôn lường cùng nhiều nguy cơ bất ổn, buộc chúng ta phải lựa chọn khách quan, phù hợp với thời đại đó là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Về chủ quan, trước hết phải kể đến vai trò cầm quyền và độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra các chủ trương, đường lối, nghị quyết. Đảng ta đã tổng kết thực thực tiễn, nâng tầm lý luận, sáng suốt lựa chọn đúng đắn việc phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.

 

Bên cạnh đó là sự ứng phó linh hoạt, kịp thời thông qua các quyết sách trong quá trình tổ chức thực hiện của Nhà nước với phương châm: "Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả" đã để lại những dấu ấn quan trọng với những thành tự to lớn trên mọi lĩnh vực.

 

Đồng thời còn có sự đồng thuận, thống nhất cao và năng lực làm chủ của nhân dân cùng chính quyền các cấp đã hiện thực hoá một cách cụ thể các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển.

 

Thực trạng điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy, hai yếu tố này có quan hệ tương hỗ, qua lại, quy định lẫn nhau. Nếu điều kiện khách quan có vai trò quyết định thì nhân tố chủ quan giữ vị trí quan trọng, là điều kiện cần và đủ để có thể giúp tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh, hài hoà trong bức tranh chung của nền kinh tế,xã hội,con người

Nội dung bài viết:

-         Phần dẫn nhập :Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.

-         Phần I Khái quát chung về quy luật

-         Phần II : Các quá trình của nhận thức.

-         Phần III : Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.

-         Phần IV : Sáu cặp phạm trù trong triết học.

-         Phần V : Các quy luật trong đạo phật .

-         Phần VI : Các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác.

-         Phần VII: Các quy luật cơ bản của đời sống tình cảm.

-         Phần VIII: Những quy luật cơ bản về phát triển xã hội sản xuất và phương thức sản xuất.

-         Phần IX: Các quy luật của kinh tế thị trường.

-         Phần X : Các quy luật của đời sống thường nhật.

-         Phần XI: Các luật của tự nhiên xã hội tác động đến đời sống con người.

-         Phần XII: Các câu nói để đời về cuộc sống con người.

Nội Dung Chi Tiết.

 

Phần dẫn nhập

Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội

Mục lục

-         1.Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên

-         2.Tự nhiên  Con người Xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất

-         3.Tác động tiêu cực tới thiên nhiên, con người đang phải trả giá.

-         4.Tự nhiên - nền tảng của xã hội.

-         5.Tác động của xã hội đến tự nhiên.

-         6.Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.

 

Vấn đề này đã được con người quan tâm từ rất sớm, cho đến nay quan niệm về vấn đề này đã trở nên hoàn thiện hơn bao giờ hết.

Để bắt đầu chúng ta hãy làm rõ các khái niệm: Tự nhiên: theo nghĩa rộng tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất vô cùng vô tận. Theo nghĩa này thì con người và xã hội loài người cũng là một bộ phận của tự nhiên. Chúng ta xem xét tự nhiên theo nghĩa này.

 

 Xã hội: xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình, thái này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Theo Mác: "Xã hội không phải gồm các cá nhân người. Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau". Mối quan hệ biên chứng giữa tự nhiên và xã hội: Tự nhiên và xã hội thực sự có một mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau:

 

1-Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên  

Theo định nghĩa tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan vậy con người và xã hội loài người cũng là một bộ phận của thế giới vật chất ấy - con người và xã hội cũng là bộ phận của tự nhiên. Nguồn gốc của con người là tự nhiên.

 

Quá trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa, trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiên từ động vật. Con người sống trong giới tự nhiên như mọi sinh vật khác bởi con người là một sinh vật của tự nhiên.

 

Ngay cả bộ óc con người, cái mà con người vẫn tự hào cũng chính là sản phẩm cao nhất của vật chất. Chính tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của con người. Con người ra đời không chỉ nhờ những quy luật sinh học mà còn nhờ lao động.

 

Lao động là một quá trình được tiến hành giữa con người với tự nhiên, trong quá trình này con người khai thác và cải tiến giới tự nhiên để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình. Trong lao động cấu tạo cơ thể người dần hoàn thiện và do nhu cầu trao đổi thông tin ngôn ngữ xuất hiện.

 

Lao động và ngôn ngữ là hai kích thích chủ yếu chuyển biến bộ não động vật thành bộ não người, tâm lý động vật thành tâm lý người. Sự hình thành con người đi kèm với sự hình thành các quan hệ giữa người với người, cộng đồng người dần thay đổi từ mang tính bầy đàn sang một cộng đồng mới khác hẳn về chất, ta gọi đó là xã hội.

 

Đây cũng là quá trình chuyển biến từ vận động sinh học thành vận động xã hội. Vậy xã hội là gì? Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình thái này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Xã hội biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau, "là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người".

 

Như vậy xã hội cũng là một bộ phận của tự nhiên. Song bộ phận này có tính đặc thù thể hiện ở chỗ: phần còn lại của tự nhiên chỉ có những nhân tố vô thức và mù quáng tác động lẫn nhau; còn trong xã hội, nhân tố hoạt động là của con người có ý thức, hành động có suy nghĩ và theo đuổi những mục đích nhất định. Hoạt động của con người không chỉ tái sản xuất ra chính bản thân mình mà còn tái sản xuất ra giới tự nhiên.

 

2-Tự nhiên - Con người - Xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất. 

 
Con người và xã hội không chỉ là một bộ phận của tự nhiên. Hơn thế tự nhiên - con người - xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất. Theo nguyên lí về tính thống nhất vật chất của thế giới thì thế giới tuy vô cùng phức tạp, đa dạng và được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau song suy đến cùng có ba yếu tố cơ bản là tự nhiên, con người và xã hội loài người.  Ba yếu tố này thống nhất với nhau trong một hệ thống tự nhiên - con người - xã hội bởi chúng đều là những dạng thức khác nhau, những trạng thái, đặc tính, mối quan hệ khác nhau của vật chát đang vận động.

 

3-Tác động tiêu cực tới thiên nhiên, con người đang phải trả giá.

Thế giới vật chất luôn luôn vận động theo những qui luật, tất cả các quá trình trong tự nhiên, con người và xã hội đều chịu sự chi phối của những qui luật phổ biến nhất định. Sự hoạt động của các qui luật đó đã nồi liền các yếu tố của thế giới thành một chỉnh thể thống nhất vĩnh viễn và phát triển không ngừng trong không gian và theo thời gian. Con người là hiện thân của sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội: Con người là sản phẩm của tự nhiên. Con người tạo ra xã hội.

 

Con người vốn tồn tại trong tự nhiên nhưng sau khi tạo ra xã hội thì lại không thể tách rời xã hội. Để trở thành một con người đích thực con người cần được sống trong môi trường xã hội, trong mối quan hệ qua lại giữa người với người với người. Con người mang trong mình bản tính tự nhiên và bản chất xã hội. Chính vì thế ta có thể nói rằng con người còn là hiện thân của sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên.

 

4- Tự nhiên - nền tảng của xã hội.

Xã hội và tự nhiên thống nhất với nhau nên nó tương tác với nhau. Đây là một mối quan hệ biện chứng hai chiều, trước hết ta xét chiều thứ nhất là những tác động của tự nhiên lên xã hội loài người. Tự nhiên vô cùng quan trọng với xã hội Tự nhiên vừa là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vừa là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội. Tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vì xã hội được hình thành trong sự tiến hóa của thế giới vật chất.

 

Tự nhiên là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội vì chính tự nhiên đã cung cấp những điều kiện cần thiết nhất cho sự sống của con người và cũng chỉ có tự nhiên mới cung cấp được những điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất xã hội.

 

 Theo Mác, con người không thể sáng tạo ra được cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của con người được thực hiện, trong đó lao động của con người tác động, từ đó và nhờ đó, lao độn của con người sản xuất ra sản phẩm.

 

Tóm lại tự nhiên đã xung cấp mọi thứ cho sự tồn tại của xã hội, mọi thứ mà lao động của con người cần. Mà chính lao động đã tạo ra con người và xã hội do đó vai trò của tự nhiên với xã hội là vô cùng to lớn. Tự nhiên có thể tác động thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất xã hội; có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm xã hội phát triển bởi nó là nền tảng của xã hội.

 

5 -Tác động của xã hội đến tự nhiên.

 
Tự nhiên tác động đế xã hội nhiều như thế nào thì xã hội cũng tác động lại vào tự nhiên như thế. Trước hết phải khẳng định lại rằng xã hội là một bộ phận của tự nhiên như vậy mỗi thay đổi của xã hội cũng có nghĩa là tự nhiên thay đổi. Bên cạnh đó xã hội còn tương tác với phần còn lại của tự nhiên một cách mạnh mẽ.

 

Sự tương tác này thông qua các hoạt động thực tiễn của con người trước hết là quá trình lao động sản xuất. Lao động là đặc trưng cơ bản đầu tiên phân biệt hoạt động của con người với động vật. Song lao động cũng là yếu tố đầu tiên, cơ bản nhất, quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên.

 

Bởi "lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm soát sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên". Sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên thể hiện ở chỗ: tự nhiên cung cấp cho con người điều kiện vật chất để con người sống và tiến hành hoạt động sản xuất.

 

 Cũng chính trong quá trình sử dụng những nguồn vật chất này con người đã làm biến đổi nó và các điều kiện môi trường xung quanh tức là làm biến đổi tự nhiên một cách mạnh mẽ. Hoạt động sống và lao động sản xuất của con người trong xã hội là vô cùng phong phú nên sự tác động vào tự nhiên cũng vô cùng phong phú nên sự tác động vào tự nhiên cũng vô cùng phong phú như khai thác khoáng sản, đánh bắt cá hay kể cả đốt rừng, đẩy trả rác thải ra tự nhiên...

 

Thực tế xã hội luôn tác động tự nhiên. Giờ đây với sức mạnh của khoa học công nghệ, một lực lượng dân số khổng lồ, sự tác động này trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vấn đề hiện nay là trong quá trình tác động này con người cần kiểm tra, điều tiết việc sử dụng khai thác, bảo quản các nguồn vật chất của tự nhiên, nếu không thì khủng hoảng sẽ xảy ra, sự cân bằng của hệ thống tự nhiên - xã hội sẽ bị đe dọa.

 

Ấy vậy mà hiện nay con người lại đang đi ngược lại với những điều đúng đắn: Con người chính là sinh vật có khả năng làm biến đổi tự nhiên nhiều nhất - Chính vì vậy họ đang là sinh vật tàn phá thiên nhiên khủng khiếp nhất.

 

 Tóm lại trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên xã hội có vai trò ngày càng quan trọng. Để giữ gìn môi trường tồn tại và phát triển của mình con người cần nắm chắc các qui luật tự nhiên, kiểm tra điều tiết sử dụng hợp lí, bảo quản khai thác có hiệu quả đảm bảo khả năng tái tạo các nguồn vật chất của tự nhiên, đảm bảo cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội.

 

6 -Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.

Có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội trong đó quan trọng nhất là trình độ phát triển của xã hội và sự độ nhận thức, vận dụng qui luật tự nhiên, xã hội vào hoạt động thực tiễn của con người. Mối quan hệ tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội: Thông qua các hoạt động của con người lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội đã trở nên gắn bó và quy định lẫn nhau.

 

Sự gắn bó và quy định này phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà tiêu chí để đánh giá là phương thức sản xuất. Sự ra đời của những phương thức sản xuất mới quyết định sự biến chuyển về chất của xã hội loài người.

 

Chính phương thức sản xuất quy định tính chất của mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội vì mỗi phương thức sản xuất khác nhau sẽ có những công cụ lao động khác nhau để khai thác giới tự nhiên, sẽ có những mục đích tiến hành sản xuất khác nhau. Khi công cụ thay đổi, mục đích sản xuất của mỗi chế độ sản xuất thay đổi thì tính chất của mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên cũng thay đổi theo.

 

Ngày nay, khi có khoa học và kĩ thuật phát triển song với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa thì con người coi tự nhiên không chỉ là môi trường sống mà còn là đối tượng chiếm đoạt nhằm mục đích lợi nhuận. Khủng hoảng môi trường đã xảy ra ở nhiều nơi và đang đe dọa sự sống của nhân loại.

 

Để tồn tại và phát triển con người phải chung sống hòa bình với thiên nhiên, thay đổi cách đối xử với tự nhiên mà quan trọng nhất là phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa - nguồn gốc sâu xa của việc phá hoại tự nhiên nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức và vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn: Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người được thể hiện thông qua hoạt động của con người. Song con người hành động theo suy nghĩ do đó mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức, trước hết là nhận thức các quy luật và việc vận dụng nó trong các hoạt động thực tiễn.

 

Một nhận thức tốt đi kèm với những hành động theo quy luật thì con người đã tạo ra một thế giới hài hỏa, thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của xã hội. Ngược lại, nếu làm trái quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những cái có sẵn trong giới tự nhiên thì sự nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡ cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là không tránh khỏi.

 

Con người sẽ phải trả giá và diệt vong. Việc nhận thức quy luật tự nhiên cần đi kèm việc nhận thức quy luật của xã hội và đồng thời vận dụng chúng trong thực tiễn. Thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển, nhận thức đã được nâng lên nhiều vấn đề còn lại là phải hành động cho đúng. Phải tuân theo các quy luật vốn có của tự nhiên




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...