Nợ Tam Sinh
Sống trên đời gặp nhau đâu có dễ
Chắc chúng mình có duyên nợ từ lâu
Hay kiếp trước năm trăm lần ngoái đầu
Nên Ta được quen Mình kiếp này nhỉ
Mà Mình à - Ta cứ Hoài suy nghĩ
NỢ TAM SINH - Ta - Mình có một đôi?
Phải duyên Ta sâu đậm lắm Mình ơi
Nên Kiếp này nhìn thôi đã thương nhớ
Mình có biết tuy Ta không hay nói
Nhưng yêu Mình hơn yêu chính thân Ta
Đôi mắt nhìn là an ủi dỗ dành
Đang sởi ấm trái tim Ta Mình đó
Ta và Mình khoảng cách đâu xa quá
Nhưng muộn màng để gặp gỡ yêu thương
Cứ lặng thầm giăng mắc sợi tơ vương
Sống trên đời - Mong Mình luôn vui vẻ
Mỗi sớm mai hãy mỉm cười khe khẽ
Ta vẫn thường gửi lời chúc bình an
Luôn mạnh khỏe và hãy thật nhẹ nhàng
Mình hạnh phúc - Ta thấy lòng yên ả
Nghĩ thế thôi chẳng mong hơn Mình ạ
TA - chỉ cần - được thấy MÌNH an - vui.
|
T |
a nghĩ rằng mục
đích của cuộc đời là sống hữu ích, sống có trách nhiệm, được tôn trọng và biết
yêu thương. Trên hết, điều thật sự có ý nghĩa là: Sống cho ai đó, vì cái gì đó
và tạo nên dấu ấn riêng của mình trên thế gian này.
Tam
sinh
Về từ “tam sinh”, chữ Hán
nghĩa là “ba sinh”, có người giải thích là ba kiếp sống, nhưng cũng có người
nói là ba con vật đem giết để tế thần. Xin cho biết về điều này?
- Thực
ra, đây là hai chữ Hán đồng âm nhưng khác tự dạng (ở chữ “sinh”) nên có nghĩa
khác nhau.
Tam sinh , Hán Việt
tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng: “Ba con vật giết đi để tế thần, gồm
trâu, dê và lợn”.
Tam sinh , cũng từ
điển này giảng: “Tiếng nhà Phật, chỉ ba kiếp sống để trả cho hết duyên nợ”. Tam
sinh (ba sinh) chỉ ba kiếp luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác của con người
là: Quá khứ, Hiện thực và Vị lai.
Về kiếp luân hồi,
tích xưa chép vào đời Đường bên Trung Hoa, có nhà sư Viên Trạch một hôm rủ bạn là
Lý Nguyên Thiện cùng đi chơi, gặp một người đàn bà gánh nước, Viên Trạch nói:
“Người đàn bàn này đã có mang ba năm đợi tôi vào làm con. Nay đã gặp đây, không
thể nào trốn được. Hẹn mười ba năm sau, ta lại sẽ gặp nhau tại chùa Thiên Trúc ở
Hàng Châu”.
Đêm hôm đó, Viên Trạch
mất. Người đàn bà nọ sinh con trai. 13 năm sau, Lý tìm đến nơi đã hẹn, gặp một
đứa trẻ chăn trâu hát rằng: “Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn... Thử thân tuy
dị, tính thường đồng” (Tinh hồn cũ gửi lại đá ba sinh... Thân này tuy khác nhưng
tính vẫn nguyên lành). Lý biết đứa trẻ chăn trâu đó chính là Viên Trạch.
Ở nước ta có thành
ngữ “duyên nợ ba sinh”, nghĩa là duyên nợ với nhau trong cả 3 kiếp. Truyện Kiều
có câu: Vì chăng duyên nợ ba sinh/ Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Người
vùng Kinh Bắc có câu: Đôi ta duyên bén nghĩa tình/ Kiếp này không phải ba sinh
xin đền.
Một trong những chuyện
“duyên nợ ba sinh” là mối tình nàng Mỵ Nương và chàng Trương Chi.
Chuyện chưa kể về ‘duyên nợ ba sinh’ trong tích truyện
dân gian Việt Nam
Phật gia giảng rằng
những người chúng ta gặp đều có duyên nợ từ kiếp trước. Kiếp này gặp được nhau
đã khó, nắm tay nhau để đi hết cuộc đời cho trọn nghĩa vẹn tình lại càng khó
hơn. Vậy nên cổ nhân luôn nhắn nhủ hãy trân quý tình nghĩa; nếu như kiếp này duyên
nợ chưa trả hết, thì hãy khắc cốt ghi xương để trả dần trong ba kiếp khác, gọi
là “duyên nợ ba sinh”.
Nhắc đến món nợ ba
sinh, người vùng Kinh Bắc có câu:
Đôi
ta duyên bén nghĩa tình
Kiếp
này không phải ba sinh xin đền
Câu “duyên nợ ba
sinh” mà người quan họ quê Kinh Bắc hay nhắc tới là gắn với câu chuyện có thật
xảy ra ở vùng sông Tiêu Tương thuộc miền Kinh Bắc xưa. Chuyện rằng, ngày xưa có
ông quan thừa tướng sinh được người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần.
Nàng ở cấm cung trong ngôi lầu Tây (chính là đồi Hồng Vân nay gọi là đồi Lim,
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) cạnh bờ sông Tiêu Tương, gần di tích
chùa Tiêu bây giờ.
Bấy giờ có một chàng
trai tên là Trương Chi, ngày ngày chèo đò trên sông Tiêu Tương. Chàng vẫn thường
vừa chèo đò vừa hát. Tiếng hát rất hay, khiến cho Mỵ Nương ở trong lầu xao xuyến
say mê.
Mỵ Nương liền cho gọi
anh lái đò lên để xem mặt. Trương Chi đội chiếc nón lá che mất khuôn mặt mình.
Mỵ Nương năn nỉ mãi, phải ra lệnh thì Trương Chi mới ngả nón ra. Nhưng khi nhìn
thấy mặt Trương Chi, nàng Mỵ Nương vỡ mộng vì Trương Chi xấu xí quê mùa quá.
Nàng cho chàng ra về và từ đó không còn tơ tưởng hình bóng Trương Chi nữa.
Trương Chi tủi cho
thân phận nghèo hèn của mình. Buồn chán và đau khổ, từ đó chàng không hát nữa.
Do không được nghe tiếng hát Trương Chi, Mỵ Nương sinh ra sầu não. Nàng bồn chồn
trông đợi. Tiếng hát vẫn vắng lặng và nàng bắt đầu đổ bệnh.
Thừa tướng cho mời
các lương y đến xem mạch, bốc thuốc. Một ông thầy đã đoán ra bệnh tình của Mỵ
Nương và khuyên thừa tướng cho gọi anh lái đò Trương Chi đến. Trớ trêu thay,
ông thầy nói rằng nếu Mỵ Nương muốn khỏi được bệnh thì phải uống thuốc do chính
tay chàng Trương Chi sắc. Hỏi rằng, nếu không phải do duyên nghiệp kiếp trước
thì sao sự tình lại trớ trêu đến thế này?
Bất kể những chuyện buồn xảy
ra trước đó với Mỵ Nương, chàng Trương Chi vẫn không quản ngại, chàng vui vẻ nhận
lời sắc thuốc cứu người. Có điều lúc nào chàng cũng đội nón che mặt để tránh Mỵ
Nương nhìn thấy lại buồn thêm.
Ông bà thừa tướng
cũng không cho con gái biết ai là người sắc thuốc ở ngoài kia. Cứ như vậy, thuốc
uống bao nhiêu thang cũng bằng thừa. Đã có lúc Trương Chi gần như muốn buông bỏ,
còn ông bà thừa tướng thì lo lắng. Rồi một hôm, Trương Chi buồn quá đành hát một
câu, và ngay sau khi chàng hát, nàng Mỵ Nương khỏi bệnh. Nhưng nợ tình đâu phải
muốn là trả được ngay. Thay vì cảm ơn người sắc thuốc cứu con mình, ông bà thừa
tướng lại lấy ba lạng vàng mà trả công cho ông thầy thuốc và đuổi chàng Trương
Chi đi. Âu cũng là dễ hiểu vì họ chẳng thích cái cái sự quê mùa xấu xí của
chàng Trương. Vả lại, họ sợ nếu Mỵ Nương biết chuyện sẽ đem lòng thương yêu
chàng vì ơn cứu mạng.
Chàng Trương buồn rầu
quay về bến đò xưa. Nghĩ đến thân phận nghèo hèn của mình và cái kết mông lung
về mối duyên tình với nàng Mỵ Nương, chàng đã nhảy xuống sông tự vẫn. Song cái
chết của chàng Trương Chi vẫn chưa phải là dấu hết của câu chuyện một duyên,
hai nợ, ba tình. Hồn chàng sau đó đã nhập vào một cây bạch đàn. Thừa tướng mua
được cây bạch đàn quý đó, truyền sai người tiện gỗ làm một bộ ấm chén. Nhân hôm
hai cha con đang vui vẻ, thừa tướng truyền pha trà bằng bộ ấm chén quý mới tiện
xong. Không ngờ, cứ cầm đến cái chén là Mỵ Nương lại thấy bóng hình Trương Chi
hiện lên, chèo thuyền và hát. Đến lúc này, Mỵ Nương mới nhận ra rằng Trương Chi
chính là người tình của mình kiếp trước, kiếp này đến để trả nợ tình, song vì
cuộc sống lầu son gác tía kia đã mê hoặc khiến nàng vô tình làm cho chàng phải
đau khổ mà đi đến cái chết. Nàng khóc, giọt nước mắt của nàng rơi vào chén nước,
lập tức người chèo thuyền và con thuyền cũng biến mất. Có lẽ giọt nước mắt của
nàng đã an ủi chàng, rằng họ đã nhận ra nhau nên hình bóng chàng và chiếc thuyền
kia đã tan biến đi. Chàng Trương đã ra đi nhưng duyên nợ giữa hai người thì chắc
phải chờ đợi đến các kiếp sau mới trả được.
Ngày nay ở vùng Tiên
Du thuộc tỉnh Bắc Ninh, trai gái hàng năm vẫn hẹn nhau ở đồi Lim, tương truyền
là nơi bến sông có chàng Trương Chi và nàng Mỵ Nương ngày xưa, để hát những câu
quan họ thiết tha như nhắn nhủ rằng: đời người trân quý cái nghĩa cái tình, nếu
đã có duyên gặp gỡ ở đời này kiếp này thì cần phải sống sao cho trọn nghĩa vẹn
tình để khi nhắm mắt lìa đời, không phải ôm mãi mối nợ nghiệp truyền từ kiếp
này sang kiếp sau nữa.
Có thơ rằng:
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thật xấu, hát thì thật hay
Cô Mỵ Nương người ở lầu Tây
Con quan Thừa Tướng ngày rày cấm cung
Anh Trương Chi ở dưới dòng sông
Chở đò ngang dọc suốt đêm đông anh dãi
dầu
Đêm thanh chàng hát một câu
Gió đưa thoang thoảng đến lầu Mỵ Nương
Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương
Mà trông thấy mặt anh chường lại chê
Anh Trương Chi bèn trở ra về
Cắm sào cho chặt anh mới hát thề một
câu:
“Kiếp này đã lỡ duyên nhau
Xin nguyền kiếp khác duyên sau lại
thành !”
Cô Mỵ Nương tư lự thất tình
Kém nhan sắc trước, sút võ hình hơn
xưa
Kém trang điểm, kém bữa ăn trưa
Kém ăn, kém ngủ cô thẫn thờ chẳng yên
Thất tình bệnh phát liên miên
Ông bà Thừa Tướng lo đêm lo ngày
Truyền mời đến một ông thầy
Ông thầy bắt mạch đoán ngay sự tình
Bệnh này duyên nợ ba sinh
Tương tư ắt có cầu tình với ai
Bệnh này nếu muốn khỏi ngay
Truyền người xuống bến gọi ngay anh
lái đò
Nhờ chàng sắc thuốc hộ cho
Chàng mà sắc thuốc tựa hồ thuốc tiên
Anh Trương Chi ở dưới đò lên
Quạt lò sắc thuốc anh ở bên cạnh lầu
Ngồi buồn anh hát một câu
Cô Mỵ Nương giải cơn sầu như không
Mười phần đổ bệnh xuống sông
Lấy vàng ba lạng mà thưởng công cho
ông thầy
Anh Trương Chi trở xuống đò ngay
Cắm sào cho chặt anh nhảy rày xuống
sông
Xác thời trôi ở giữa dòng
Hồn thời mới nhập vào trong cây bạch
đàn
Đến khi Thừa tướng thăng quan
Mua được cây gỗ bạch đàn quý thay
Gỗ thời để đã lâu ngày
Truyền gọi thợ khéo tiện ngay bộ chén
chè
Xong rồi quạt nước màn the
Cha con mang bộ chén chè uống chơi
Không cầm đến chén thì thôi
Hễ cầm đến chén lại thấy người hò
khoan
Cô Mỵ Nương đau đớn can tràng
Hạt châu rơi xuống vỡ tan thuyền tình!





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét