NHÂN CÁCH
Đây là một phạm trù vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người
, Nó quá rộng lớn và đa sắc mầu , bên cạnh mục đích giúp Con Cháu Ta phải Tu
Luyện Nhân Cách cho mình và PHẢI GIŨ NHÂN CÁCH LÀM NGƯỜI .
Ngọc Minh ta cũng đặt vấn đề mở rộng hơn đó là : NHÌN NGƯỜI BIẾT
NGƯỜI MÀ SỐNG .
Chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết vì từ cổ nhân đến nay vẫn phổ
biến câu : LÒNG NGƯỜI KHÓ ĐOÁN .
Nào Chúng ta vào vấn đề nhé.
Nhân
cách
Nhân cách được định nghĩa là một tập hợp các đặc tính của những
kiểu mẫu hành vi, nhận thức, và cảm xúc được hình thành từ các yếu tốt sinh học
và môi trường. Tuy hiện chưa có một định nghĩa nào của nhân cách được chấp nhận
rộng rãi, đa số các thuyết tập trung về sự tương tác của động lực và tâm lý tới
môi trường của ai đó. Những thuyết nhân cách dựa trên tính trạng, như thuyết của
Raymond Cattell, định nghĩa nhân cách là những tính trạng dùng để dự đoán hành
vi của chủ thể. Ở một khía cạnh khác, những lý thuyết nhân cách dựa trên hành
vi định nghĩa nhân cách qua sự học hỏi và thói quen. Nhìn chung, đa số các lý
thuyết đều cho rằng nhân cách là một đặc tính có độ ổn định.
Lĩnh vực về tâm lý của nhân cách, được gọi là tâm lý nhân cách,
đang nghiên cứu để giải thích về những thiên hướng làm cơ sở cho sự khác biệt
trong hành vi. Có nhiều cách thức khác nhau đã được áp dụng để nghiên cứu về
nhân cách bao gồm những lý thuyết dựa trên sinh học, nhân thức, học hỏi, và
tính trạng – và bao gồm tâm lý động lực (psychodynamic) và tâm lý nhân văn
(humanistic psychology). Những nhà tâm lý nhân cách học thời kỳ đầu đã có những
bất đồng quan điểm, một số thuyết nổi bật được tạo ra bởi những nhà tâm lý học
như Sigmund Freud, Alfred Adler, Gordon Allport, Hans Eysenck, Abraham Maslow,
và Carl Rogers.
Tâm lý học nhân cách là một nhánh của tâm lý học nghiên cứu tính
cách và sự biến đổi của nó giữa các cá nhân. Đây là một nghiên cứu khoa học nhằm
mục đích cho thấy mọi người khác nhau như thế nào do các lực lượng tâm lý. Các
lĩnh vực trọng tâm của nó bao gồm:
Xây dựng một bức tranh mạch lạc của cá nhân và các quá trình tâm
lý chính của họ
Điều tra sự khác biệt tâm lý cá nhân
Điều tra bản chất con người và sự tương đồng tâm lý giữa các cá
nhân
"Tính cách" là một tập hợp các đặc điểm năng động[cần
giải thích] và được tổ chức do một người nào đó sở hữu, mà có ảnh hưởng đến môi
trường, nhận thức, cảm xúc, động lực và hành vi của họ trong các tình huống
khác nhau. Từ personality (tính cách) bắt nguồn từ từ Latin personna, có nghĩa
là " mặt nạ ".
Tính cách cũng đề cập đến mô hình suy nghĩ, cảm xúc, điều chỉnh
xã hội và hành vi luôn được thể hiện theo thời gian có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kỳ
vọng, nhận thức, giá trị và thái độ của một người. Tính cách cũng dự đoán phản ứng
của con người với người khác, với các vấn đề và với sự căng thẳng. Gordon
Allport (1937) mô tả hai cách chính để nghiên cứu tính cách: nomothetic và
idiographic. Tâm lý học nomothetic tìm kiếm các quy luật chung có thể được áp dụng
cho nhiều người khác nhau, chẳng hạn như nguyên tắc tự thực hiện hoặc đặc điểm
của sự lật đổ. Tâm lý học idiographic là một nỗ lực để hiểu các khía cạnh độc
đáo của một cá nhân cụ thể.
Nghiên cứu về tính cách có một lịch sử rộng lớn và đa dạng trong tâm lý học với sự phong phú của các truyền thống lý thuyết. Các lý thuyết chính bao gồm quan điểm bố trí (đặc điểm), tâm lý học, nhân văn, sinh học, hành vi, tiến hóa và quan điểm học tập xã hội. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu và nhà tâm lý học không xác định rõ ràng bản thân với một quan điểm nhất định và thay vào đó có một cách tiếp cận chiết trung. Nghiên cứu trong lĩnh vực này được định hướng theo kinh nghiệm - chẳng hạn như mô hình thứ nguyên, dựa trên số liệu thống kê đa biến như phân tích nhân tố - hoặc nhấn mạnh sự phát triển lý thuyết, chẳng hạn như lý thuyết tâm động học. Ngoài ra còn có một sự nhấn mạnh đáng kể trong lĩnh vực ứng dụng kiểm tra tính cách. Trong giáo dục và đào tạo tâm lý, nghiên cứu về bản chất của tính cách và sự phát triển tâm lý của nó thường được xem xét như một điều kiện tiên quyết cho các khóa học về tâm lý học bất thường hoặc tâm lý học lâm sàng.
HOẠT ĐỘNG.
Khái
niệm hoạt động:
Khái
niệm của Triết học: hoạt động là quan hệ biện
chứng của chủ thể với khách thể bao gồm:
Quá trình khách thể hoá: chủ thể chuyển những đặc điểm của mình
vào đối tượng.
Quá trình chủ thể hoá khách thể: chủ thể tiếp thu những đặc điểm
của khách thể vào năng lực của bản thân.
Khái
niệm của Sinh lí học: hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần
kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực khách quan.
Tâm
lí học: hoạt động là phương thức tồn tại của con người
bằng cách tác động vào đối tượng,
tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn những nhu cầu (trực tiếp/gián tiếp) của bản thân
và xã hội.
Hoạt động là sự thể hiện mối quan hệ của con người với môi trường
xung quanh.
Hoạt đông luôn nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định.
Các
loại hoạt động:
Về
phương diện cá thể, có thể chia thành các loại hoạt động:
Vui chơi.
Học tập.
Lao động.
Về
phương diện sản phẩm, có thể chia thành:
Hoạt động thực tiễn: tạo ra sản phẩm vật chất; gọi là hoạt động
bên ngoài.
Hoạt động lí luận: tạo ra sản phẩm tinh thần; còn gọi là hoạt động
bên trong.
Dạng hoạt động thứ nhất tác động vào sự vật nhằm biến đổi sự vật.
Dạng hoạt động thứ hai không làm biến đổi vật thể tại vật thể.
Cách
chia khác:
Hoạt động biến đổi: dạng điển hình là lao động. Tuy
nhiên hoạt động biến đổi còn bao hàm cả biến đổi xã hội:
Hoạt động xã hội – chính trị.
Hoạt động quản lí (xã hội, kinh tế, khoa học v.v.).
Hoạt động biến đổi con người.
Hoạt
động nhận thức: là một dạng hoạt động tinh thần, không
làm biến đổi các vật thể thực,
quan hệ thực. Nó chỉ phản ánh các sự vật, quan hệ bằng các biểu tượng, khái niệm,
hình ảnh... Hoạt động nhận thức
có cả ở mức độ kinh nghiệm thực
tiễn, có cả ở mức độ lí luận khoa học.
Hoạt động định hướng giá trị: là một dạng hoạt động tinh thần,
xác định ý nghĩa của thực tại đối với bản
thân.
Cấu
trúc của hoạt động:
Theo các nhà tâm lí học Mác Xit, có thể phân tích hoạt động thành các thành tố cấu thành.
Hình 6.1: Cấu trúc của hoạt động.
Mỗi hoạt động của con người được thúc đẩy bởi một hay một số động
cơ. Đơn vị của hoạt động là hành động. Hành động nhằm đạt được mục đích nhất định.
Trong một hoàn cảnh cụ thể, hành động được
thực hiện bởi một loạt
các thao tác. Kết quả cuối cùng
là sản phẩm của hoạt động.
Ví dụ: hoạt động học tập của sinh viên được thúc đẩy bởi động cơ
nghề nghiệp (và có thể có cả các động cơ
cá nhân khác). Hoạt động học tập được
chia nhỏ thành các hành động nhằm đạt được từng mục tiêu cụ thể trên đường
đi tới
đích cuối cùng. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng cấu trúc của hoạt động là
rất linh hoạt. Việc phân biệt, ví dụ động
cơ với mục đích cũng chỉ mang tính tương đối.
Các
loại nhu cầu của con người:
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu, khách quan, là sự cần thiết về một
cái gì đó cần được thỏa mãn. Chính mọi hoạt
động của con người nhằm thỏa mãn
nhu cầu nào đó nên các nhu cầu của
con người, được tập hợp lại trong một
hệ thống nhất định, đóng vai trò là động cơ thúc đẩy mọi hoạt
động.
Nhu cầu của con người rất đa dạng. Tuy nhiên cũng có thể chia
thành hai nhóm chính là nhu cầu (mang tính)
sinh học và nhu cầu
(mang tính) xã hội. Hoặc cũng có thể chia thành nhu cầu vật chất và
nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu sinh học/sinh lí: là những nhu cầu cần để duy trì sự tồn
tại của cơ thể người. Ví dụ: nhu cầu về ăn, uống, nhu cầu tình dục.
Nhu
cầu vật chất: là những đòi hỏi về vật chất.
Nhu
cầu tinh thần: rất đa dạng và phong phú. Đó là những
nhu cầu về đạo đức, thẩm mĩ, nhu cầu về nhận thức và giao tiếp, nhu cầu
lao động cũng như các hoạt
động xã hội.
Maslow, một nhà tâm lí học Mĩ xếp nhu cầu của con người thành 5 bậc:
Hình 6.2: Sơ đồ thứ bậc nhu cầu của Maslow.
Một điều không kém phần quan trọng là khi
xem xét hành động/hành
vi của con người, cần phải xét xem những
hành động/hoạt động đó do động
cơ gì. Nói cách khác là cần quan tâm đến lĩnh vực động cơ - nhu cầu của mỗi con
người.
Kĩ
năng, kĩ xảo và thói quen:
Hành
động tự động hoá: là những hành động vốn
lúc đầu có sự kiểm soát mạnh mẽ của ý thức sau do lặp đi lặp lại nhiều lần,
trở thành tự động. Vai
trò kiểm soát của ý thức đối với hành động tự động hoá chỉ ở mức độ tối thiểu, công việc này chủ yếu dành cho
vô thức. Trong quá trình thực hiện, nếu
có gì bất thường, ý thức lại dành quyền kiểm soát,
điều hành hành động.
Kĩ
năng và kĩ xảo: kĩ năng là khả
năng vận dụng
những tri thức
vào thực tiễn. Khi nào kĩ
năng được luyện
tập thường xuyên trở thành tự động hoá, khi đó trở thành kĩ xảo.
Thói quen: là những hành động đã được tự động hoá và trở thành nhu cầu của con người. Ví dụ: thói quen rửa tay trước khi ăn.
NHÂN
CÁCH.
Một
số khái niệm:
Con
người: thực thể tự nhiên (động vật có vú) và là thực thể xã hội (chủ thể của các hoạt động cá nhân và xã hội). Con người
là một sáng tạo mới của lịch sử.
Cá
nhân: đại diện cho loài người,
bất kì một
con người nào tồn tại
trong mỗi cộng đồng.
Cá
tính: mỗi cá nhân khác
nhau về thể tạng, kiểu
loại thần kinh cũng như về tính cách, nhu cầu, tình cảm...
Những đặc điểm riêng của cá nhân được bộc lộ trong các mối quan hệ,
trong cuộc sống theo kiểu riêng biệt, không trùng lặp với ai được gọi là cá tính. Cá tính nói lên bản sắc
cá nhân của mỗi con người.
+
Nhân cách: là tổ hợp những đặc điểm, thuộc
tính tâm lí của mỗi cá nhân, biểu hiện bản sắc, giá trị xã hội của
con người đó.
Theo
tiếng Việt: nhân - người, cách - cách thức, cách
lối, cốt cách. Nhân cách: đó là cách thức, cách lối làm người.
Nhân
cách: cấu tạo tâm lí mới, có khả năng tự điều chỉnh, có cấu trúc phức
tạp.
Cấu
trúc của nhân cách:
Cấu
trúc theo kiểu, loại:
Phân
kiểu dựa theo khí chất ưu thế:
Kiểu
nhân cách nóng nảy: đây là nhân cách của người
có kiểu thần
kinh mạnh, không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế. Họ là những người
nhanh thay đổi khí sắc, yêu, ghét rõ ràng, bộc trực, thẳng thắn, dễ nổi
nóng, chú ý đến những cái lớn. Họ là người dễ có sáng kiến song kém bền
bỉ trong công việc.
Kiểu
nhân cách bình thản: kiểu thần kinh của nhân
cách dạng này là mạnh, cân bằng,
không linh hoạt. Các mối quan hệ của họ không rộng, hình thành chậm nhưng bền.
Trong công việc họ chậm nhưng chắc,
có khả năng
thực hiện công việc một cách bền bỉ.
Kiểu
nhân cách hăng hái, sôi nổi: đây là kiểu nhân cách
tương ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt.
Người có kiểu nhân
cách này là người hăng hái trong
công việc, dễ thích nghi với hoàn cảnh mới, các mối quan hệ rộng. Tuy nhiên tình cảm của họ thường không sâu bền, dễ bắt tay
vào công việc song cũng dễ rút lui.
Kiểu
nhân cách ưu tư: cơ sở thần kinh của kiểu nhân cách
này là kiểu thần kinh yếu, ức chế mạnh hơn hưng phấn. Họ
là người
nhạy cảm, tinh tế, dễ xúc
động, các quyết định thường dựa trên tình cảm.
Quan hệ hẹp nhưng
sâu và bền. Tuy nhiên họ thường khó thích nghi với cái mới,
nhút nhát và kém quyết đoán.
Phân
kiểu dựa theo mẫu hành vi ưu thế:
Hiện nay trong nhiều tài liệu tâm lí lâm sàng đề cập đến cách
phân kiểu nhân cách dựa vào mẫu hành vi nổi bật của Friedman A. và Roseman:
Nhân
cách týp A có 3 đặc điểm nổi bật là:
Nhanh chóng trong hành động.
Quan tâm đến nghề nghiệp rõ rệt.
Có tinh thần cạnh tranh.
Những người này thường có tỉ lệ mắc bệnh động mạch vành cao
hơn (dao động từ 30% - 70% tùy theo từng nghiên cứu) so với tỉ lệ chung.
Nhân
cách týp B có những đặc điểm nổi bật:
Có thái độ rút lui trong hành động.
Thường hay thay đổi ý thích.
Kiểu A: người hăng hái, có tính ganh đua rất cao; kiểu B: ngược
lại.
Kiểu nhân cách hướng nội, hướng ngoại:
Người hướng ngoại điển hình: là người cởi mở,
giao tiếp rộng,
có nhiều bạn, người quen. Họ
hành động dưới ảnh hưởng chốc
lát, có tính chất xung động, vô
tâm, lạc quan, thích vận động và hành động. Tình cảm
và cảm xúc của họ
không được kiểm soát chặt chẽ.
Người hướng nội điển hình:
là người điềm tĩnh, rụt rè, nội quan, hay giữ kẽ, ít tiếp
xúc, giao tiếp với mọi người, trừ những bạn bè thân. Họ có khuynh hướng muốn hoạch định kế hoạch hành động. Không
thích sự kích động, làm công việc hàng
ngày với tinh thần nghiêm túc, thích trật
tự, ngăn nắp.
Kiểm soát chặt chẽ cảm xúc tình cảm của mình, không dễ
dàng buông thả.
Cấu
trúc ba khối: Cái Nó - Cái Tôi, Siêu tôi:
Nhân cách, theo Freud, gồm 3
bộ phận, 3
"con người" bé nhỏ:
Cái Nó (Id); cái Tôi "Ego" và cái Siêu tôi
(Super Ego).
Cái
Nó: đây là con người của bản năng,
đòi hỏi thoả mãn mọi nhu cầu và
phải thoả mãn ngay lập tức.
Ví dụ, khi
đói, con người bản năng này
thúc đẩy cơ thể phải có những hành động để thoả
mãn cái đói. Trong thành phần của
Cái nó
chỉ có vô thức.
Cái
Tôi - con người của hiện thực: không thể thoả mãn nhu cầu bằng mọi
giá mà cần phải tính đến hoàn cảnh hiện thực. Phần nhân cách Cái Tôi thực hiện các hoạt động chống lại Cái Nó bằng cách
giành quyền làm chủ các
ham muốn, quyết định xem những
đòi hỏi ấy có thể được thoả mãn hay không? phải trì hoãn đến thời điểm khác hay phải loại bỏ hoàn toàn?
Freud đã ví
Cái Nó như
con ngựa, thích chạy hướng nào tùy thích. Tuy nhiên cần phải có người kiểm
soát con ngựa đó. Cái Tôi đóng vai trò kị sĩ để điều khiển con ngựa Cái Nó.
Trong thành phần của mình, cái Tôi chứa chủ yếu là ý thức. Vô thức
cũng có nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ.
Siêu
tôi - con người xã hội: con người
sống trong xã hội và
cần phải thể hiện mình theo những
yêu cầu về đạo đức, pháp
luật, những yêu cầu mà xã hội đòi hỏi. Cũng là đói, cũng là có thức ăn song
người ta đã dạy rằng có những “miếng ăn là miếng nhục”. Trong một chừng mực
nào đó, Siêu tôi còn được
gọi là con người lí tưởng bởi nó là bộ phận luôn thúc đẩy con người tới
hoàn thiện.
Cấu
trúc yếu tố:
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: trong mỗi nhân cách có các yếu tố
khác nhau, cấu thành khác nhau. Tuy nhiên số lượng yếu tố được
đưa ra lại
không giống nhau.
Nhân cách bao gồm 4
nhóm thuộc tính
chính. Mô hình nay đang được đề cập nhiều trong các giáo trình tâm lí học
trong nước:
Xu
hướng: đó là hệ thống những động cơ,
mục đích thúc đẩy, quy định tính lựa chọn thái độ và tính
tích cực của con người. Xu hướng bao gồm một hệ thống các nhu cầu, hứng thú, niềm
tin, thế giới
quan, lí tưởng tác
động qua lại và liên hệ mật thiết
với nhau.
Tính
cách: hệ thống thái độ, hành vi của con người đối với mọi người xung
quanh, đối với xã hội và đối với bản thân.
Khí
chất: nói về động thái (cường độ, nhịp độ..)
của các hiện tượng tâm lí cá nhân.
Năng
lực: hệ thống các khả năng đảm bảo cho kết quả của các hoạt động.
Nhân
cách bao
gồm 2 yếu tố chính: yếu tố
hướng nội, hướng ngoại và yếu tố tính ổn định thần kinh. Hai yếu tố này kết hợp với nhau tạo nên kiểu nhân cách. Mô hình 2 yếu tố này về cơ bản,
tương thích với mô hình dựa theo khí chất.
Nhân
cách bao gồm 16 yếu tố. Đây là mô hình do Cattell
đề xuất trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn.
Mô
hình 5 yếu tố: đây
là mô hình
đang được ưa dùng hiện nay. Năm yếu tố gồm:
Tính
ổn định thần kinh: lo
âu, thù địch, trầm cảm, tự ý thức,
xung động, tính dễ bị tổn thương.
Tính
hướng ngoại: thân thiện, thích giao thiệp, tính
quyết đoán, tích cực
hoạt động, tìm kiếm sự kích thích, cảm xúc tích cực.
Tính mở đối với hiểu biết:
trí tưởng tượng, óc thẩm mĩ, nhạy cảm, hành động, ý tưởng, giá trị.
Tính
dễ chịu: chân thành, thẳng thắn, vị tha, phục tùng, khiêm tốn, nhân hậu.
Tính
ý thức: năng lực, trật tự, trách nhiệm, nỗ lực thành đạt, tự
giác, thận trọng.
Cấu
trúc hai mặt đức tài:
Đây là mô hình truyền thống ở trong nước, các nhà tâm lí học đã
đúc kết lại:
Đức (Phẩm chất)
Tài (Năng lực)
Phẩm chất xã hội/đạo đức -chính trị
Thế giới quan, niềm tin, lí tưởng, lập
trường, thái độ chính trị, thái độ lao động...
Năng lực xã hội hoá: khả năng
thích ứng, cơ động, linh hoạt, mềm
dẻo trong cuộc sống xã hội.
Phẩm chất cá nhân/đạo đức tư cách: các nết, thói, thú (ham muốn)
Năng lực chủ thể hoá: khả
năng thể hiện tính đọc đáo, đặc sắc, thể hiện cái
riêng của cá nhân.
Phẩm
chất ý chí: tính kỉ luật, tính tự chủ, tính mục
đích, tính phê phán...
Năng
lực hành động: khả năng hành động
có mục đích, chủ động, tích cực.
Cung cách ứng xử: tác
phong, lễ tiết...
Năng lực giao tiếp: khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ...
|
Đức
(Phẩm chất) |
Tài
(Năng lực) |
|
Phẩm
chất xã hội/đạo đức -chính trị Thế
giới quan, niềm tin, lí tưởng, lập trường, thái độ chính trị,
thái độ lao động... |
Năng
lực xã hội hoá: khả năng thích ứng, cơ động, linh
hoạt, mềm dẻo trong cuộc sống xã hội. |
|
Phẩm
chất cá nhân/đạo đức tư cách: các nết, thói, thú (ham muốn) |
Năng
lực chủ thể hoá: khả năng thể hiện tính đọc đáo, đặc sắc,
thể hiện cái riêng của cá nhân. |
|
Phẩm
chất ý chí: tính kỉ luật, tính tự chủ, tính mục đích, tính phê phán... |
Năng
lực hành động: khả năng hành động có mục đích, chủ động, tích
cực. |
|
Cung
cách ứng xử: tác phong, lễ tiết... |
Năng
lực giao tiếp: khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ... |
(Nguồn: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, 1988).
CÁC CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH.
Nhân cách con người không được sinh ra mà là được hình thành. Trong quá trình hình thành nhân
cách thì giáo dục, hoạt động, giao tiếp và tập thể có vai
trò quyết định và tạo ra những con đường cơ bản nhất.
Giáo dục:
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của nhân cách.
Giáo dục: toàn bộ các tác động sư phạm trực tiếp và
gián tiếp, trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Theo
nghĩa hẹp, giáo dục thường được
hiểu là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt tư tưởng, đạo đức, hành
vi.
Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách.
Giáo dục có thể đem lại những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền
hoặc môi trường tự nhiên không thể đem lại được: học tập, học nghề...
Giáo dục bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật.
Giáo dục có thể uốn nắn, điều chỉnh những phẩm chất tâm lí xấu.
Giáo dục có thể đi trước hiện thực.
Hoạt
động:
Tâm lí được hình thành và thể hiện trong hoạt động:
thông qua hoạt động và bằng hoạt động, chủ thể thực hiện quá
trình kép – nhập
tâm và xuất
tâm. Bằng hoạt động và thông qua hoạt động con người
lĩnh hội cũng như truyền đạt kinh nghiệm xã hội - lịch sử.
Giao tiếp:
Giao tiếp là điều kiện để con người thực hiện các hoạt động cùng
nhau, nhằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử.
Giao tiếp là con đường để loài người thực hiện di truyền xã hội.
Nhờ có giao tiếp, con người có thể nhận
thức được thế giới, nhận thức được chính bản thân.
Tập thể:
Mọi sự giao tiếp của con người đều diễn ra trong nhóm. Các tổ chức, hoạt động của nhóm đều là điều kiện cho sự hình thành nhân cách của con người.
Nhân
cách là gì?
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá
nhân, biểu thị bản sắc và giá trị xã hội của con người.
+ Nhân cách là tổng hợp không phải là những đặc điểm cá thể của
con người, mà chỉ là những đặc điểm nào quy định con người như là một thành
viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm người
của mỗi cá nhân.
+ Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ
mà là một cấu trúc tâm lý mới.Nói cách khác nhân cách là tổng thể những đặc điểm
tâm lý đặc trưng với một cơ cấu xác định. Do đó không phải con người sinh ra đã
có nhân cách, nhân cách được hình thành dần trong quá trình tham gia các mối
quan hệ xã hội của con người.
+ Nhân cách qui định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống
nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân là đại biểu
+ Những thuộc tính tâm lý tạo thành nhân cách thường biểu hiện ở
ba cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân, cấp độ biểu hiện ra bằng
hoạt động và các sản phẩm của nó.
Các
yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách
1.
Sự hình thành và phát triển nhân cách
Hình thành nhân cách là một quá trình khách quan mang tính quy
luật, trong đó một người thể hiện mình vừa trong tư cách là đối tượng của sự
tác động vừa trong tư cách là chủ thể của hoạt động và giao tiếp.
Giai đoạn hình thành nhân cách được tính ngay từ khi chủ thể
nhân cách còn nằm trong bào thai, giữ vai tò đặc biệt quan trọng – vai trò mang
tính tiền định nhân cách.
Phát triển nhân cách là quá trình hình thành nhân cách như là một
phẩm chất xã hội của cá nhân, là kết quả của sự xã hội hóa nhân cách và của
giáo dục.
Giai đoạn phát triển nhân cách có thể được xác định trong khoảng
thời gian trước tuổi trưởng thành của chủ thể nhân cách.
Từ sự xác định trên, chúng ta có thể đưa ra 5 yếu tố quan trọng
nhất ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cách, đó là: yếu tố di truyền,
yếu tố hoàn cảnh sống (gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội), yếu tố giáo
dục, yếu tố hoạt động, yếu tố giao tiếp.
2.
Các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách
a) Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách
– Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên,
là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Các yếu tố bẩm
sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo
và hoạt động của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền
lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh).
– Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có
ở đời trước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm
chất nhất định (sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới sạng nhưng tư chất và
năng lực) đã được ghi lại trong hệ thống gen di truyền.
Vai trò của di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân
cách
Nhân tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất đối với quá trình
hình thành và phát triển nhân cách con người vì:
– Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học
có ở cha mẹ, là sự truyền lại từ cha mẹ cho con cái những đặc điểm, những phẩm
chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen. Những thuộc tính, những đặc
điểm có thể di truyền là cấu trúc giải phẫu của cơ thể, những đặc điểm sinh học
(như màu da, tóc, vóc dáng…), tư chất của hệ thần kinh. Những yếu tố này trước
hết đảm bảo cho loài người phát triển, đồng thời giúp con người có thể thích ứng
với những biến đổi của điều kiện sinh tồn.
– Cần phân biệt khái niệm di truyền với bẩm sinh. Bẩm sinh là hiện
tượng sinh ra đã có – bẩm sinh có thể là do di truyền và có thể là không phải
do di truyền đem lại.
Các
tìm kiếm liên quan đến nhân cách là gì, Hoàn thiện nhân cách là gì, Giáo dục
nhân cách là gì, Sự phát triển nhân cách là gì, Bài viết về nhân cách con người,
Cấu trúc nhân cách, Ví dụ về nhân cách trong tâm lý học, Nhân cách và tính
cách, Ví dụ về khái niệm nhân cách.
Ta mong các con cháu ta cùng ta hoàn thiện hơn những nội dung đề cập trên
Ở một góc nhìn khác ta có Các nội dung cùng
các con cháu ta trao đổi như sau :
1. Khái niệm nhân cách
trong tâm lý học
2. Các thuộc tính tâm lý
của nhân cách
3. Mặt ý chí của nhân
cách
4. Sự hình thành và phát
triển nhân cách
1.
Khái niệm nhân cách trong tâm lý học
1.1. Nhân cách là gì?
Con người là thành viên của một cộng đồng xã hội, vừa là một thực
thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Người ta thường định nghĩa con người
là một thực thể sinh vật – xã hội và văn hóa. Với quan niệm này, trong nghiên cứu
về con người cần tiếp cận theo cả ba mặt: sinh vật, tâm lý và xã hội.
Để hiểu rõ khái niệm nhân cách cần phân biệt nhân cách với những
khái niệm gần gũi: cá nhân, cá tính, chủ thể.
Khái niệm cá nhân dùng để chỉ một con người cụ thể của một cộng
đồng, thành viên của xã hội, đại diện cho loài người. Cá nhân cũng là một thực
thể sinh vật – xã hội và văn hóa, nhưng được xem xét một cách cụ thể riêng từng
người, với các đặt điểm về sinh lý, tâm lý và xã hội để phân biệt nó với cá
nhân khác, với cộng đồng.
Khái niệm cá tính dùng để
chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm lý (hoặc sinh lý) của
cá thể động vật hoặc cá thể người (cá nhân).
Chủ thể là khái niệm dùng để chỉ một cá nhân khi cá nhân đó thực
hiện một hoạt động có ý thức, có mục đích. Khi cá nhân nhận thức và cải biến thế
giới trong quá trình hoạt động nó được gọi là chủ thể. Cũng cần lưu ý rằng khi
cá nhân chỉ đơn thuần tham gia một hoạt động thì nó chưa phải là chủ thể của hoạt
động đó. Chỉ khi mục đích của hoạt động được cá nhân ý thức sâu sắc, được coi
là có ý nghĩa đối với bản thân nó, khi nó tích cực, chủ động và tự giác tiến
hành hoạt động cá nhân mới là chủ thể của hoạt động đó.
Khái niệm nhân cách chỉ nói về mặt xã hội, mặt tâm lý của cá
nhân với tư cách thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ
người-người, của hoạt động có ý thức và giao tiếp. Nhà Tâm lý học Xô viết X.L.
Rubinstein đã viết: “Con người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt,
con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với người xung
quanh một cách có ý thức”.
Khái niệm nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp của tâm lý
học. Ở mỗi góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về
nhân cách. Vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách. Ngay từ năm 1949
G.Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về nhân
cách.
Trong các quan niệm, cũng có những quan niệm sai lầm coi nhân
cách nằm trong các đặc điểm sinh vật hay đặc điểm hình thể của con người theo
kiểu “nhìn hình dáng để đoán số mệnh con người”. Có quan niệm lại lấy quan hệ
gia đình, dòng họ để thay thế một cách đơn giản máy móc các thuộc tính của cá
nhân. Có quan niệm chỉ chú ý đến cái chung, bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng
nhất nhân cách với con người…
Trong tiếng Việt, khái niệm “nhân cách” gần như là “nên người”,
có nhân cách là nên người, không nên người là không có nhân cách. Các bậc cha mẹ
nuôi dạy con cái đều mong con cái khôn lớn, mong cho chúng nên người - “Con ơi
muốn nên thân người, lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha”. “Tính người” và “cách
làm người” cũng thuộc nội hàm khái niệm nhân cách. Một con người khi đã mất
tính người thì cũng không còn nhân cách. Nhân cách biểu hiện phong cách, cách sống
của con người. Tất nhiên, cách sống của con người phải khác cách sống của con vật.
Như vậy không phải cứ là con người, là cá nhân thì nghiễm nhiên là một nhân
cách.
Ngày nay, tâm lý học coi nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản
chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều
kiện lịch sử cụ thể của xã hội được chuyển vào trong mỗi con người. Có thể nêu
một số định nghĩa tiêu biểu về nhân cách như: “Nhân cách là một cá nhân có ý thức,
chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất
định”, hay “Nhân cách là một con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc
tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã
hội”.
Ở mỗi cá nhân, nhân cách do các thuộc tính tâm lý của cá nhân hợp
nhất lại mà thành. Vì vậy có thể định nghĩa “nhân cách là tổ hợp các đặc điểm,
những thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con
người”.
Như
vậy:
• Nhân cách không phải là
tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định
bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của con người như là một
thành viên của xã hội.
• Nhân cách không phải là
một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý phức hợp. Nói
cách khác nhân cách là tổng thể những đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu
xác định.
• Nhân cách con người
không bẩm sinh, không tự nhiên có, nhân cách được hình thành dần trong quá
trình tham gia các mối quan hệ của con người.
Nhân cách quy định bản sắc riêng của cá nhân trong sự thống nhất
biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại biểu.
Nhân cách biểu hiện trên ba cấp độ: bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp
độ siêu cá nhân
Ở cấp độ bên trong cá nhân, nhân cách thể hiện tính riêng biệt,
tính không đồng nhất, tính tích cực trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn
cảnh và của bản thân. Phân tích nhân cách ở cấp độ bên trong cá nhân là xem xét
nhân cách của bản thân cá nhân.
Ở cấp độ liên cá nhân, nhân cách được thể hiện trong các mối
quan hệ, liên hệ với nhân cách khác. Như vậy, phân tích nhân cách ở mức độ liên
cá nhân là đã đặt nhân cách trong nhóm của nó (trong nhóm, trong tập thể, trong
giai cấp…).
Cấp độ siêu cá nhân là mức độ cao nhất, ở cấp độ này nhân cách
được xem xét như là một chủ thể đang tích cực hoạt động và gây những biến đổi ở
người khác. Phân tích nhân cách ở mức độ siêu cá nhân là xem xét những hoạt động
của nhân cách có ảnh hưởng như thế nào tới những nhân cách khác, ảnh hưởng tới
mức độ nào.
1.2. Các đặc điểm cơ bản của nhân cách
Nhân cách có các đặc điểm
sau:
Tính
thống nhất của nhân cách.
Nhân cách là một chỉnh
thể thống nhất các thuộc tính, các đặc điểm tâm lý, là sự thống nhất giữa phẩm
chất và năng lực, giữa nhận thức, tình cảm và ý chí… là sự thống nhất của tất cả
mọi nét khác nhau của nó. Đó không phải là phép cộng của các nét, các thuộc
tính và đặc điểm tâm lý mà là sự tổng hòa các đặc điểm thuộc tính ấy
Do đó, khi đánh giá về nhân cách chúng ta cần đánh giá trong
tính thống nhất của nó chứ không tách riêng từng nét, từng thộc tính để đánh
giá; khi rèn luyện và hình thành nhân cách phải rèn luyện một cách đồng bộ,
không giáo dục nhân cách theo “từng phần”.
Tính
ổn định của nhân cách.
Nhân cách là tổ hợp các
thuộc tính tâm lý tương đối ổn định của cá nhân tạo nên bộ mặt tâm lý ổn định của
nhân cách. Chính nhờ điều này mà chúng ta có thể phân biệt nhân cách này với
nhân cách khác, và còn có thể dự đoán được hành vi của nhân cách trong tình huống
này hay khác. Các đặc điểm nhân cách cũng như cấu trúc nhân cách của cá nhân
khó hình thành và cũng khó mất đi. Trong thực tế, từng nét nhân cách (tính
cách, phẩm chất…) có thể thay đổi trong quá trình sống của con người, nhưng
nhìn tổng thể thì chúng vẫn là một cấu trúc trọn vẹn, tương đối ổn định. Do
tính ổn định của nhân cách, khi đánh giá nhân cách, chỉ đánh giá những phẩm chất
hoặc những nét tính cách khá ổn định của nhân cách. Đồng thời, trong hình thành
hay điều chỉnh nhân cách cần chú ý không nóng vội,đoi fhỏi kết quả nhanh chóng.
Tính
tích cực của nhân cách.
Tính tích cực là một
thuộc tính đặc trưng của nhân cách. Cá nhân được thừa nhận là một nhân cách khi
cá nhân tích cực hoạt động và hoạt động của cá nhân được đánh giá là hoạt động
tích cực. Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người
của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực hoạt động của cá nhân.
Tính tích cực của cá
nhân biểu hiện trong hoạt động như lựa chọn hoạt động tích cực, xác định mục
đích hoạt động đúng đắn và chủ động, tự giác, nỗ lực thực hiện hoạt động, giao
tiếp nhằm nhận thức và cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân. Trong cuộc sống,
tính tích cực của nhân cách luôn luôn cần được phát huy. Đánh giá nhân cách là
đánh giá tính tích cực và sản phẩm của tính tích cực ấy.
Tính
giao lưu của nhân cách
Nhân cách chỉ có thể
hình thành phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ
giao lưu với những nhân cách khác. Nhu cầu giao lưu là nhu cầu rất đặc biệt của
con người. Con người sinh ra và lớn lên luôn có nhu cầu giao lưu, giao tiếp với
người khác và với xã hội. Thông qua quan hệ giao lưu với người khác, con người
gia nhập các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá
trị xã hội, đồng thời cũng qua giao tiếp, con người được đánh giá theo quan hệ
xã hội và đóng góp giá trị nhân cách của mình cho xã hội, cho người khác.
1.3. Các kiểu nhân cách
Sự hình thành các kiểu nhân cách phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau như quan hệ xã hội, điều kiện lịch sử mà con người đó sống, kiểu thần
kinh, trình độ… Vì vậy có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại kiểu nhân cách.
Nhưng tất cả các cách phân loại chỉ mang tính chất tương đối, không có cách
phân loại nào có thể bao quát đuợc tất cả các tiêu chí.
Phân loại nhân cách theo định hướng giá trị thuộc về Spranger
(1882-1963), nhà tâm lý học Đức, thuộc trường phái Tâm lý học mô tả. Căn cứ vào
định hướng giá trị trong hoạt động sống của cá nhân Spranger đã chia ra 5 kiểu
nhân cách cơ bản sau: người lý thuyết, người chính trị, người kinh tế, người thẩm
mỹ, người vị tha. Tuy nhiên, Spranger mới chỉ dừng lại ở việc mô tả các biểu hiện
đặc trưng của các loại nhân cách, chưa lý giải được sự hoà nhập của các loại
nhân cách vào xã hội cũng như vị trí vai trò của từng loại nhân cách.
Karen Horney (1888- 1952) nhà Tâm lý học người Mỹ, đại diện cho
phái Phân tâm học, dựa vào định hướng giá trị trong quan hệ người – người, chia
ra 3 kiểu nhân cách: kiểu người nhường nhịn hay bị áp đảo; kiểu người công
kích, mạnh mẽ; kiểu người hờ hững lạnh lùng.
Phân
loại nhân cách qua giao tiếp
Dựa vào đặc điểm giao tiếp của nhân cách có thể phân loại nhân
cách thành: người thích sống nội tâm, người thích giao tiếp hình thức, người nhạy
cảm và người ba hoa.
Dựa vào cách bộc lộ bản thân trong hoạt động giao tiếp, người ta
thường nói tới hai kiểu nhân cách: nhân cách hướng nội và nhân cách hướng ngoại.
Phân loại nhân cách theo hình thái kinh tế xã hội chia nhân cách
thành các loại:
- Kiểu nhân cách
phong kiến của các ông bà già, còn lại cho đến bây giờ, họ thường bị bọn trẻ gọi
là các ông bà già phong kiến;
- Kiểu nhân cách XHCN
là nhân cách của người cách mạng, có tinh thần làm chủ tập thể, người lao động
- Kiểu nhân cách Tư bản
chủ nghĩa như: Nhân cách của các nhà Tư sản.
Phân
loại nhân cách theo nghề nghiệp
Con người tuỳ theo đặc điểm nghề nghiệp khác nhau đều có các đặc
điểm nhân cách riêng. Như vậy mỗi nghề có một kiểu nhân cách tương ứng.
Phân loại nhân cách theo đạo đức xã hội bàn đến các kiểu nhân
cách:
- Đại nhân : người có đức rộng, tài cao, chí lớn…
- Tiểu nhân: là những người nhỏ nhen, ích kỷ, thiểm cận, hẹp hòi;
- Người tốt: giàu lòng nhân ái, có nhiều đức tính tốt đẹp…
- Người xấu: có nhiều thói hư tật xấu, độc ác, nham hiểm…
Trên đây là một số cách phân
loại nhân cách thường gặp. Tất nhiên không có cách phân loại nào hoàn toàn bao
quát, nó chỉ có tính chất tương đối.
2.
Các thuộc tính tâm lý của nhân cách
2.1. Xu hướng nhân
cách và động cơ của nhân cách
Xu hướng nhân cách:
Xu hướng nhân cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá
nhân, bao gồm một hệ thống động cơ quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân
và quy định sự lựa chọn thái độ của nó. Xu hướng nhân cách nói lên chiều hướng
phát triển của nhân cách.
Xu hướng nhân cách thường biểu hiện ở các nhu cầu, hứng thú, lý
tưởng, thế giới quan, niềm tin của con người.
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thoả mãn để
tồn tại và phát triển, ví dụ nhu cầu nơi ở, ăn uống, việc làm, học tập, vui
chơi…
Nhu cầu của con người có nhưng đặc điểm cơ bản sau:
• Nhu cầu bao giờ cũng
có đối tượng. Khi có đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu, nó trở thành động
cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm tới đối tượng;
• Nội dung của nhu cầu
do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định;
• Nhu cầu có tính chu kỳ;
• Nhu cầu của con người
mang bản chất xã hội, khác về chất so với nhu cầu của con vật.
Nhu cầu của con người rất đa dạng. Nhu cầu vật chất gắn liền với
sự tồn tại của cơ thể như: nhu cầu ăn, ở, mặc,…; nhu cầu tinh thần bao gồm nhu
cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu hoạt động xã hội...
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào
đó – đối tượng vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái
cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.
Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, ở bề rộng
và chiều sâu của hứng thú. Hứng thú nảy sinh chủ yếu do tính hấp dẫn về mặt cảm
xúc của nội dung hoạt động, còn nhu cầu có thể không có yếu tố hấp dẫn.
Chẳng hạn khi bị bệnh, người ta có nhu cầu uống thuốc để điều trị
nhưng người ta không thấy khoái cảm khi uống thuốc. Đây chính là sự khác nhau
giữa hứng thú và nhu cầu.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng sức làm việc, đặc
biệt là tăng tính tự giác, tích cực trong hoạt động và vì vậy hứng thú làm tăng
hiệu quả hoạt động. Đặc biệt trong hoạt động nhận thức và hoạt động học tập, hứng
thú có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả học tập.
Những môn học có hứng thú bao giờ kết quả cũng tốt hơn những môn học không có hứng
thú. Vì vậy, giáo viên cần hình thành được hứng thú học tập cho học sinh
Hứng thú có quan hệ gần
gũi với nhu cầu. Cùng với nhu cầu, hứng thú là một thành phần trong hệ thống động
cơ của nhân cách. Hứng thú và nhu cầu cũng có thể chuyển hóa cho nhau, có khi
thống nhất với nhau, nhưng cũng có khi độc lập với nhau.
Lý tưởng là một mục tiêu
cao đẹp, được phản ánh trong ý thức con người dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực,
tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người tích cực hoạt động để vươn tới
lý tưởng đó. Lý tưởng tựa như ngôi sao sáng dẫn đường, chỉ hướng cho hành động
của cá nhân. Nhà tâm lý học Liên Xô, Ivanôp có viết: “Lý tưởng là cái vì nó mà
ta sống, dưới ánh sáng của nó ta hiểu được ý nghĩa của cuộc đời”.
Lý tưởng khác với ước mơ ở
chỗ, trong lý tưởng chứa đựng mặt nhận thức sâu sắc của chủ thể về các điều kiện
chủ quan và khách quan để vươn tới lý tưởng, đồng thời chủ thể có tình cảm mãnh
liệt đối với hình ảnh lý tưởng của mình. Chính vì thế, lý tưởng có sức mạnh lôi
cuốn toàn bộ cuộc sống con người vào các hoạt động vươn tới lý tưởng của mình.
Tuy vậy, ước mơ có thể là cơ sở cho sự hình thành lý tưởng cao đẹp sau này.
Lý tưởng vừa có tính hiện
thực, vừa có tính lãng mạn. Có tính hiện thực vì lý tưởng bao giờ cũng được xây
dựng từ nhiều “chất liệu” có thực trong đời sống. Song lý tưởng lại là hình ảnh
mẫu mực chưa có trong hiện thực của cá nhân, mà là cái chỉ có thể đạt được
trong tương lai. Lý tưởng phản ánh xu thế phát triển của con người.
Lý tưởng mang tính lịch sử
và giai cấp: ở các thời đại và chế độ chính trị khác nhau thì lý tưởng của con
người cũng khác nhau.
Lý tưởng là biểu hiện tập
trung nhất của xu hướng nhân cách, nó xác định mục tiêu và điều khiển toàn bộ
hoạt động của con người - “Sống mà không có lý tưởng cũng như người đi trong rừng
mà không có phương hướng”.
Niềm tin là sự tin tưởng
của con người vào những tri thức và những kinh nghiệm mà con người đă thể nghiệm
và rung động về tính đúng đắn của nó.
Niềm tin là thành phần
quan trọng trong hệ thống động cơ của cá nhân, nó thúc đẩy mạnh mẽ con người
hành động phù hợp với niềm tin của mình. Niềm tin càng mãnh liệt thì sức sống
càng dồi dào. Có một câu thành ngữ nói rằng: “Mất niềm tin là mất tất cả”. Điều
đó nói lên rằng sống phải có niềm tin. Tin tưởng, lạc quan làm cho cuộc sống
vui tươi, thoải mái, bình yên hơn. Tuy nhiên trong cuộc sống, người ta cũng cần
tránh các niềm tin mù quáng, chẳng hạn như niềm tin nhảm nhí, tin vào mê tín dị
đoan…
Thế giới quan là hệ thống
quan điểm và niềm tin của con người về thế giới khách quan, nó được hình thành
dần dần ở con người trên cơ sở lĩnh hội các tri thức, kinh nghiệm. Ở góc độ triết
học người ta phân biệt hai loại thế giới quan chủ yếu: thế giới quan duy vật và
thế giới quan duy tâm.
Thế giới quan có tính
khái quát hơn so với niềm tin. Niềm tin có tính cụ thể hơn, tuy nhiên thế giới
quan và niềm tin có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Thế giới quan
và niềm tin tạo cho con người ý chí, nghị lực để hành động phù hợp với quan điểm
đã chấp nhận và sẽ đấu tranh chống lại những điều trái với niềm tin đó
Hệ thống động cơ của nhân cách:
Vấn đề động cơ là vấn đề trung tâm trong các lý thuyết về nhân
cách. A.N. Lêonchiev cho rằng: “Trong sự hình thành nhân cách con người biểu hiện
về mặt tâm lý là sự phát triển mặt động cơ của nhân cách”.
Một số nhà tâm lý học giải thích nguồn gốc của động cơ chủ yếu
trên bình diện sinh vật, coi bản năng là nguồn động lực chủ yếu thúc đẩy con
người hoạt động.
Các nhà tâm lý học Macxit cho rằng những đối tượng đáp ứng nhu cầu
này hay nhu cầu khác nằm trong hiện thực khách quan, khi chúng được chủ thể ý
thức sẽ hướng dẫn và thúc đẩy chủ thể hoạt động và nó trở thành động cơ của hoạt
động.
Động cơ được phân chia thành nhiều loại:
• Động cơ ham thích và động
cơ nghĩa vụ;
• Động cơ gần và động
cơ xa;
• Động cơ cá nhân và động
cơ công việc;
• Động cơ quá trình và
động cơ kết quả.
Toàn bộ các thành phần trong xu hướng nhân cách như nhu cầu, hứng
thú, lí tưởng, thế giới quan, niềm tin… đều là thành phần trong hệ thống động
cơ của nhân cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt động và của sự hình
thành, phát triển nhân cách.
Các thành phần trong hệ thống động cơ của cá nhân có mối quan hệ
chi phối lẫn nhau theo những thứ bậc, trong đó có những thành phần giữ vai trò
chủ đạo, có thành phần giữ vai trò phụ trợ, tùy theo từng hoàn cảnh của hoạt động.
2.2. Tính cách
Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm
một hệ thống thái độ tương đối ổn định đối với hiện thực và thể hiện trong hệ
thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng. Nói cách khác, tính cách là
thái độ đã được củng cố trong những phương thức hành vi quen thuộc.
Tâm lý học định nghĩa tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm
tâm lý ổn định của con người, những đặc điểm này quy định phương thức hành vi
điển hình của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể
hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và với bản thân.
Trong cuộc sống hằng ngày ta thường dùng các từ “tính tình”, “tính
nết”, “tính cách” để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thường được gọi là
“đặc tính”, “lòng”, “tinh thần”…; những nét tính cách xấu thường được gọi là
“thói”, “tật”… Như vậy, tính cách được đánh giá về mặt đạo đức.
Tính cách mang tính ổn định, bền vững, thống nhất và tính độc
đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân. Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước
của xã hội.
Tính cách của con người không phải là bẩm sinh, không tự nhiên
có mà tính cách được hình thành trong sự phát triển của cá nhân, dưới tác động
của giáo dục và sự tích cực rèn luyện của cá nhân. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Tính cách có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm hệ thống thái độ và
hệ thống hành vi tương ứng:
Hệ thống thái độ của cá nhân có thể là thái độ tốt hoặc là thái
độ xấu, bao gồm các mặt sau đây:
• Thái độ đối với tập
thể và xã hội bao gồm các thái độ tốt là: yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, thái
độ chính trị, tinh thần đổi mới, tinh thần hợp tác cộng đồng … hoặc là thái độ
xấu như: bất mãn với chế độ, chống phá chế độ nhà nước…
• Thái độ đối với lao
động, gồm các thái độ tốt như: yêu lao động, cần cù, sáng tạo, lao động có kỷ
luật, tiết kiệm, đem lại năng xuất cao… Ngược lại là sự lười biếng, dối trá, cẩu
thả, lãng phí…
• Thái độ đối với mọi
người, gồm các thái độ như tính khiêm tốn, lòng tự trọng, tinh thần tự phê
bình…; ngược lại là tính tự kiêu, tính ích kỷ…
• Thái độ đối với bản
thân, gồm các thái độ tốt như: Tự trọng, nghiêm khắc với chính mình, tự chủ
hành vi bản thân…Ngược lại là tính buông thả, thiếu tự chủ,..
Hệ thống hành vi là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hệ thống
thái độ, nó rất đa dạng. Người có tính cách ổn định thì hệ thống thái độ sẽ
tương ứng với hệ thống hành vi, cử chỉ, lời nói... Tuy nhiên, cũng có khi không
có sự thống nhất của thái độ với hành vi cử chỉ.
Tính cách có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất khác như xu hướng,
khí chất, tình cảm, ý chí, kỹ xảo, thói quen và vốn sống của cá nhân.
2.3. Năng lực
Con người ta không những khác nhau về nhu cầu, hứng thú, tính
tình, khí chất…mà còn khác nhau về khả năng, năng lực. Trong hoạt động thực tế
có khi cùng một điều kiện làm việc, cùng một công việc nhưng có người đạt kết
quả cao mà có người chỉ đạt kết quả thấp. Có người làm tốt công việc này nhưng
không thể làm tốt công việc khác… Như vậy là có sự khác nhau về năng lực.
Để làm tốt một công việc, cá nhân cần phải có một số đặc điểm
thích ứng với công việc đó. Ví dụ như muốn học giỏi thì người phải có bộ óc thông
minh, chăm chỉ, say mê học tập, có chí hướng vươn lên, có phương pháp học tập tốt…
Sự phù hợp ấy gọi là năng lực.
Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp
với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định đảm bảo cho sự hoàn
thành hoạt động đó có kết quả.
Năng
lực có các đặc điểm sau:
Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo, có nghĩa là năng
lực không phải là một thuộc tính đơn nhất hoặc là những thuộc tính rời rạc, mà
năng lực là sự kết hợp nhiều thuộc tính của cá nhân với nhau.
Năng lực bao giờ cũng gắn với hoạt động cụ thể. Người ta không
nói về năng lực một cách chung chung. Thực tế có năng lực chung, nhưng năng lực
chung là năng lực chưa xác định, nó có thể không tạo thành năng lực cụ thể gì hết,
ví dụ như một người thông minh nhưng không có năng lực cụ thể nào cả. Mỗi hoạt
động đều có yêu cầu riêng, đòi hỏi con người thực hiện hoạt động ấy phải đáp ứng.
Thế nhưng không phải bất cứ thuộc tính nào của cá nhân cũng phù hợp với yêu cầu
của hoạt động đó. Có năng lực hay không có năng lực chính là có sự phù hợp hay
không giữa một bên là yêu cầu của hoạt động và một bên là các thuộc tính cá
nhân.
Những thuộc tính của cá nhân bao gồm cả những đặc điểm tâm lý
(tư duy, trí tuệ, các đặc điểm của trí nhớ, chú ý, tưởng tượng…) và những đặc
điểm giải phẫu sinh lý (những đặc điểm của hệ thần kinh, cơ bắp…). Có thể nói gần
như toàn bộ thuộc tính của cá nhân đều giúp cá nhân thực hiện hoạt động. Nói
như vậy không có nghĩa năng lực là toàn bộ thuộc tính của cá nhân mà chỉ có những
thuộc tính phù hợp với yêu cầu của hoạt động và trực tiếp góp phần làm cho hoạt
động đó đạt kết quả cao. Chẳng hạn những đặc điểm của cơ quan thính giác, phát
âm tốt cần cho năng lực âm nhạc, những đặc điểm của thị giác, trí nhớ không
gian… là một trong những đặc điểm cần thiết cho năng lực hội họa. Trong khi đó
lòng tốt, sự giản dị, sự khiêm tốn… không được xếp vào các thuộc tính tạo lập của
các năng lực trên.
Năng lực là tổng hợp những thuộc tính của cá nhân, nó có cấu
trúc nhất định. Theo nhà tâm lý học Liên Xô A.G.Côvaliôp thì năng lực gồm ba
nhóm thuộc tính sau đây:
• Thuộc tính chủ đạo;
• Thuộc tính cơ sở làm
chỗ dựa
• Thuộc tính hỗ trợ làm
thành một cái nền.
Ví dụ trong năng lực tạo hình thì thuộc tính chủ đạo gồm tưởng
tượng sáng tạo giúp cá nhân nắm được cái bản chất, xây dựng hình tượng độc đáo
của các hiện tượng, sự vật; thuộc tính làm chỗ dựa là tính nhạy cảm cao của bộ
máy phân tích thị giác giúp cho cá nhân nhận xét nhanh chóng các đường nét của
vật thể…; thuộc tính hỗ trợ là tình cảm, thái độ của người họa sĩ đối với sự vật
và hiện tượng. Nó tạo thành cái nền hỗ trợ cho hoạt động tạo hình.
Trong quá trình phát triển của năng lực, cấu trúc của nó từ lúc
nó còn là năng khiếu, đến lúc phát triển thành năng lực ở mức độ cao hơn cũng
thay đổi từ chỗ chưa ổn định, chưa hoàn thiện đến chỗ ổn định và hoàn thiện
hơn.
Người ta cũng phân biệt các mức độ của năng lực: có năng lực,
tài năng và thiên tài.
Có năng lực chỉ mức độ thấp nhất của năng lực là có khả năng
hoàn thành hoạt động ở mức độ đạt yêu cầu.
Tài năng chỉ mức độ cao hơn năng lực, người có tài năng ở lĩnh vực
hoạt động nào đó chính là người có khả năng giải quyết được vấn đề một cách
sáng tạo, tạo ra được những giá trị to lớn trong cuộc sống. Ví dụ như Quang
Trung là nhà quân sự có tài; hoặc Nguyễn Trãi có tài trong nhiều lĩnh vực.
Thiên tài chỉ mức độ cao nhất của năng lực. Người thiên tài thể
hiện sự hoàn thành một cách xuất chúng một hoạt động nào đó, họ là những vĩ
nhân trong lịch sử. Chẳng hạn như Mác, Ăngghen, Lênin là những bậc thiên tài đã
xây dựng nên học thuyết Mác-Lênin.
Năng lực được phân loại theo các căn cứ khác nhau.
Căn cứ vào mức độ phát triển của năng lực người ta chia năng lực
làm 2 loại: năng lực sáng tạo và năng lực học tập (lĩnh hội)
Năng lực sáng tạo thể hiện ở những cá nhân có khả năng đem lại
những giá trị mới, những sản phẩm mới quý giá cho xã hội.
Năng lực học tập thể hiện ở chỗ cá nhân nắm vững nhanh chóng và
vững chắc kĩ năng, kỹ xảo, tri thức theo một chương trình học tập nào đó.
Căn cứ vào mức độ chuyên biệt của năng lực thì người ta phân loại
năng lực là thành năng lực chung và năng lực chuyên môn (năng lực riêng).
Năng lực chung (trong tâm lý học phương Tây còn gọi là năng lực
trí tuệ) là năng lực cần thiêt cho nhiều loại hoạt động khác nhau. Nó đảm bảo
cho cá nhân nhanh chóng nắm vững tri thức trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác
nhau (ví dụ như thông minh, thính tai, tinh mắt, tháo vát…).
Năng lực chuyên môn là loại năng lực đảm bảo cho cá nhân hoạt động
đạt kết quả đối với một lĩnh vực nhất định. Chẳng hạn các năng lực tổ chức, hội
họa, toán học, âm nhạc, sư phạm, … là những năng lực chuyên môn.
Hai loại năng lực này không tách rời hay đối lập nhau. Tâm lý học
Mác xít cho rằng năng lực chung và năng lực riêng có quan hệ hữu cơ với nhau,
không đối lập với nhau, không loại trừ nhau. Năng lực chung là cơ sở phát triển
năng lực riêng; năng lực riêng là năng lực chung được phát triển theo hướng
chuyên biệt. Ngược lại, năng lực riêng càng phát triển cao thì năng lực chung
càng có điều kiện để phát triển cao. Một người có năng lực chuyên môn cao không
thể không có năng lực chung phát triển.
Tóm lại, một hoạt động đều đi hỏi phải có năng lực riêng và năng
lực chung, do đó chỉ phát triển toàn diện con người mới có thể phát triển được
cả năng lực riêng và năng lực chung. Việc phân chia thành các năng lực trên đây
chỉ có tính chất tương đối. Vì năng lực của con người thì rất đa dạng, phong
phú.
Sự
hình thành năng lực:
Người ta sinh ra không phải đã có sẵn năng lực đối với hoạt động
nào đó, mà phải qua quá trình hoạt động, rèn luyện năng lực mới hình thành và bộc
lộ. “Có khổ luyện mới thành tài”, “có công mài sắt có ngày nên kim”. Năng lực gắn
liền với hoạt động và hình thành trong hoạt động. Tuy nhiên, sự hình thành năng
lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sau đây chúng ta tìm hiểu sự hình thành năng lực
và các yếu tố ảnh hưởng tới nó.
Tư chất và năng lực
Tư chất là những đặc điểm giải phẫu sinh lý và chức năng của
chúng được biểu hiện trong giai đoạn hoạt động đầu tiên của con người.
Một cá nhân với cơ thể phát triển bình thường thì sẽ có một tư
chất này hay khác. C.Mác viết: “Con người trực tiếp là một thực thể tự nhiên. Với
tư cách là một thực thể tự nhiên và còn nữa là một thực thể tự nhiên sống, con
người được tự nhiên phú cho một phần sức mạnh tự nhiên, một sức sống. Những sức
mạnh này tồn tại dưới dạng tư chất”.
Tâm lý học hiện đại cho rằng tư chất là tiền đề phát triển năng
lực, nhưng nó không quyết định sự phát triển của năng lực. Nói theo ngôn ngữ
toán học thì tư chất là điều kiện cần nhưng chưa đủ để phát triển năng lực. Tư
chất không phải là năng lực, không quyết định trước mức độ phát triển của năng
lực. Từ tư chất đến năng lực còn một khoảng cách rất xa. Từ một tư chất có thể
phát triển thành nhiều năng lực khác nhau tuỳ theo điều kiện sống và hoạt động
của cá nhân cụ thể.
Các Nhà tâm lý học Xô viết thừa nhận ý nghĩa thực tế của tư chất,
coi tư chất là tiền đề phát triển năng lực. C.Mác nói: “Không phải mọi người đều
có dịp để trở thành Raphaen, mà chỉ người nào mang trong mình một Raphaen”. Điều
đó có nghĩa là chỉ có người nào mang mầm mống tự nhiên (tư chất) thích hợp với
năng lực thì mới hình thành được năng lực.
Tư chất là tiền đề vật chất có ảnh hưởng đến sự khác biệt về
năng lực giữa cá nhân. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng của
sự hình thành và phát triển năng lực.
Như vậy tư chất là một điều kiện cần thiết và thuận lợi cho sự
hình thành năng lực. Nhưng tư chất tự bản thân nó không phải là năng lực. Có tư
chất tốt, nhưng không được giáo dục, không gặp hoàn cảnh thuận lợi và không có
hoạt động tương ứng thì tư chất ấy cũng không biến thành năng lực mà có khi còn
bị thui chột đi.
Điều kiện xã hội lịch sử và năng lực
Thực tế cũng cho thấy hoàn cảnh sống, hoạt động của cá nhân có
vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực. Đặc biệt, hoạt động học tập
là một hoạt động có vai trò cực kỳ quan trọng để biến tư chất thành năng lực.
Trước khi cá nhân có thể tham gia vào hoạt động sáng tạo, nó cần phải được học
tập. Giáo dục rút ngắn được quá trình hình thành và phát triển năng lực, vì
giáo dục cung cấp cho con người hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết,
ngoài ra nó còn cung cấp cho nguời học phương pháp suy nghĩ sáng tạo. Nhờ giáo
dục, năng lực của con người nhanh chóng được hình thành và được phát hiện kịp
thời.
Năng lực hình thành và biểu hiện trong hoạt động, hoạt động lại
diễn ra trong một môi trường xã hội lịch sử nhất định, với những tác động của
trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, và chế độ chính trị. Như vậy sự
phát triển của năng lực con người cũng chịu sự quy định của điều kiện xã hội lịch
sử.
Quan hệ giữa năng lực và tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo
Năng lực có quan hệ chặt chẽ với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Để
phát triển một năng lực nào đó thì con người cần có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
nhất định. Nhưng cũng cần nhớ rằng, năng lực chỉ có quan hệ chặt chẽ với tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, chứ chúng không phải là một. Có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,
chưa phải là đã có năng lực.
Quan hệ giữa năng lực và xu hướng của cá
nhân
Xu hướng của cá nhân cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình
thành năng lực. Xu hướng đối với hoạt động nào đó thường phù hợp với năng lực
trong lĩnh vực hoạt động đó. Có xu hướng, cá nhân sẽ say mê, thích thú, quan
tâm đến lĩnh vực hoạt động đó nhiều hơn và nỗ lực cao trong quá trình hoạt động,
nhờ vậy sự hình thành năng lực rất thuận lợi và nhanh chóng. Ngược lại, khi
không có xu hướng, cá nhân không quan tâm, chán nản, không nỗ lực … do đó năng
lực khó được hình thành và bộc lộ.
Như vậy, vấn đề quan trọng
trong sự hình thành năng lực cũng là vấn đề phải làm cho học sinh có xu hướng,
có sự say mê, có sự nỗ lực cao trong quá trình rèn luyện hình thành năng lực,
hoặc tôn trọng các xu hướng cá nhân, động viên, khích lệ cá nhân đi theo xu hướng
đúng đắn của bản thân.
Quan hệ năng lực và tính cách
Năng lực không chỉ liên quan đến xu hướng hoạt động của cá nhân
mà còn có liên quan đến tính cách. Những nét tính cách tốt đẹp của con người có
ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành năng lực. Sự thống nhất tư chất, xu hướng,
tính cách là điều kiện cần và đủ để năng lực phát triển.
Nét tính cách tốt cần thiết cho sự hình thành năng lực là kiên
trì, bền bỉ, khiêm tốn, nghiêm túc và trung thực trong công việc. Những người
thiếu tư chất lại càng cần phải có tính kiên trì rèn luyện, học hỏi. Newton
nói: “ Thiên tài là sự kiên trì của trí tuệ, đã không phải thiên tài thì càng cần
phải kiên nhẫn”. Edixơn cũng nói: “Tài năng và óc sáng tạo chỉ chiếm 1% trong
phát minh, còn lại 99% là do lao động kiên trì.”
Một nét tính cách rất quan trọng để phát triển năng lực đó là
yêu cầu cao đối với bản thân, không chủ quan, tự mãn mà lúc nào cũng phải
nghiêm khắc với bản thân. Đánh giá đúng bản thân, dũng cảm nhìn nhận những yếu
kém và đề ra cho mình những nhiệm vụ mới, phức tạp hơn và nỗ lực để giải quyết,
khiêm tốn học hỏi những kinh nghiệm của người đi trước…
Tóm lại, tính cách và năng lực không đồng nhất với nhau nhưng
chúng có mối quan hệ rất mật thiết. Rèn luyện tính cách là một cơ sở quan trọng
cho sự hình thành năng lực.
Năng
khiếu và năng lực
Liên quan tới năng lực còn có vấn đề năng khiếu. Vậy năng khiếu
là gì?, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu như thế nào?
Trong số trẻ cùng trang lứa và còn rất ít tuổi nhưng có những em
tỏ ra vượt trội so với bạn bè ở một lĩnh vực hoạt động nào đó, những em như vậy
được gọi là có năng khiếu. Năng khiếu là dấu hiệu phát triển sớm ở trẻ em về một
năng lực nào đó, khi trẻ chưa được tiếp xúc một cách có hệ thống và đầy đủ với
lĩnh vực hoạt động tương ứng. Nói cách khác, trẻ có năng khiếu là những trẻ bộc
lộ khả năng học tập có hiệu quả, nhanh và sớm trong lĩnh vực cụ thể như: toán,
văn thơ, âm nhạc, hội họa, thể thao, kỹ thuật…
Năng khiếu thường xuất hiện sớm, một số nhà tâm lý học đã nghiên
cứu 92 nhà toán học xuất sắc nhất trên thế giới thấy rằng: ở 35 người năng khiếu
nảy nở trước 10 tuổi, 42 người năng khiếu bộc lộ từ 11 – 15 tuổi, số còn lại
năng khiếu cũng bộc lộ trước 20 tuổi.
Năng khiếu mới chỉ là đấu hiệu ban đầu của tài năng chứ nó chưa
phải là tài năng. Tài năng là một năng lực đã hoàn thiện và ở một trình độ rất
cao (xuất chúng, hiếm có). Đặc điểm của năng khiếu có những nét giống với đặc
điểm của tài năng nhưng năng khiếu thì chưa hoàn chỉnh, chưa ổn định, còn có thể
thay đổi. Từ năng khiếu đến tài năng còn một quá trình phát triển lâu dài.
Tuy nhiên có năng khiếu thì dễ trở thành tài năng hơn. Năng khiếu
báo hiệu cá nhân có thể phát triển thành tài năng. Nhưng trong thực tế có những
em đã có năng khiếu nhưng cũng không trở thành tài năng. Cho nên một vấn đề
quan trọng là phải phát hiện được năng khiếu và bồi dưỡng đúng cách.
2.4. Khí chất
Giữa các cá nhân với nhau có sự khác biệt khá rõ rệt trong những
đặc điểm bên ngoài của hành vi. Một số người linh hoạt, nhiệt tình, số khác lại
chậm chạp, điềm đạm; có người cởi mở, dễ tiếp xúc với mọi người, có người lại
kín đáo, không cởi mở, đóng kín bản thân. Những đặc điểm này chỉ thuần túy là
những đặc điểm bên ngoài của hành vi, không liên quan gì đến việc khả năng kiềm
chế của người đó như thế nào, tình cảm, thái độ của người đó ra sao, họ trung thực
hay giả dối… Những khác biệt này là những khác biệt về khí chất. – khác biệt về
cường độ, tính linh hoạt, tính cân bằng của các phản ứng hành vi của cá nhân.
Khí chất là những mối tương quan có quy luật của các đặc điểm cá
thể ổn định của nhân cách, quy định đồng thời hoạt động tâm lý và hành vi của
nhân cách ấy, làm nền cho hoạt động diễn biến.
Khí chất thể hiện cá nhân phản ứng như thế nào trong các tình huống
xác định của cuộc sống. Nó tạo phong thái hành vi, ứng xử và do đó ảnh hưởng đến
các quan hệ của con người - dễ xây dựng quan hệ, dễ thích ứng hay ngược lại khó
xây dựng các quan hệ với người khác, khó thích ứng.
Khí chất có nguồn gốc ở kiểu hoạt động thần kinh cấp cao và do
các tính chất (cường độ, sự cân bằng, tính năng động) của quá trình thần kinh
(hưng phấn và ức chế) quy định.
Căn cứ vào các đặc tính cường độ, sự cân bằng, tính năng động của
phản ứng hành vi của cá nhân người ta phân biệt các loại khí chất: hoạt (hoạt
bát), đằm (bình thản), nóng (nóng nảy) và ưu tư.
Người tính nóng: bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, lăn vào
công việc, dùng nghị lực để tác động đến người khác; trực tính, kiên nghị, gặp
thất bại hay thay đổi tâm trạng, mất hứng thú, “bốc” lại khi gặp việc khác hấp
dẫn.
Người tính hoạt: nhanh nhẹn, cân bằng, linh họat, cởi mở trong
công việc mà anh ta hứng thú; dễ quen với mọi người, chịu đựng giỏi trước những
biến đổi nhanh, thích ứng mau; dễ tiếp nhận cái mới, mềm dẻo trong cách ứng xử,
dễ gây được thiện cảm chung.
Người tính đằm: cân bằng về tình cảm và hành động, bình tĩnh,
ung dung, tự kiềm chế cao, suy nghĩ cẩn thận nhưng chậm chạp, khó thích ứng với
những thay đổi nhanh, khó chan hòa mau chóng mà cần thời gian mới “ăn ý” được với
mọi người, kiên trì trong công việc từ đầu đến cuối.
Người tính trầm (ưu): tinh tường, hay ngượng, khó tiếp xúc với mọi
người; dễ mặc cảm, tự ti; cần sự giúp đỡ, cổ vũ thường xuyên; chỉ cảm thấy tự
tin trong những tình huống quen thuộc.
Khí chất của con người không tiền định giá trị đạo đức – xã hội
của họ như là một nhân cách. Những người có khí chất khác nhau hoàn toàn có thể
có cùng các giá trị đạo đức – xã hội. Khí chất không tiền định trình độ của những
năng lực chung và năng lực riêng. Khí chất cũng không tiền định những nét tính
cách của con người – khí chất ở đây đóng vai trò nền tảng tự nhiên của tính
cách.
Nói tóm lại không có một mặt nào của nhân cách – tính cách, xu
hướng hay năng lực, lại do khí chất tiền định cả. Tuy nhiên, những đặc điểm về
động thái trong sự thể hiện của tất cả các thuộc tính của nhân cách đều phụ thuộc
vào khí chất ở một mức độ nhất định.
3.
Mặt ý chí của nhân cách
3.1. Khái niệm về ý chí
Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện
những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn. Ý
chí là một phẩm chất tâm lý của cá nhân, một thuộc tính tâm lý của nhân cách
cho nên người ta thường nói người này có ý chí, người kia thiếu ý chí…
Ý chí được xem là mặt năng động của ý thức, mặt biểu hiện cụ thể
của ý thức trong thực tiễn, bởi vì ở đó con người ý thức được mục đích hành động,
có sự đấu tranh động cơ, lựa chọn các biện pháp vượt qua khó khăn trở ngại để
thực hiện được mục đích đề ra.
Với tư cách một hiện tượng tâm lý, ý chí phản ánh các điều kiện
khách quan dưới hình thức mục đích hành động. Ý chí hình thành và biến đổi tùy
theo những điều kiện xã hội - lịch sử, tùy theo những điều kiện vật chất của đời
sống xã hội. Tính chất của những mục đích và những thúc đẩy đối với hành động của
con người được quyết định bởi chỗ họ đại diện cho ai, nhóm, giai cấp nào.
Ý chí là hình thức tâm lý điều chỉnh, điều khiển hành vi tích cực
nhất vì trong ý chí có cả mặt năng động của trí tuệ lẫn mặt năng động của tình
cảm đạo đức. Giá trị chân chính của ý chí không chỉ ở cường độ mạnh hay yếu, mà
điều chủ yếu là ở nội dung đạo đức của ý chí – ý chí hướng vào cái gì.
Ý chí có liên hệ chặt chẽ với các mặt, các chức năng tâm lý
khác. Đối với nhận thức ý chí làm cho nhận thức có nội dung nhất định. Nội dung
của ý chí nằm trong các hình ảnh, khái niệm, các biểu tượng do tri giác, tư
duy, tưởng tượng đem lại. Đối với hành vi, ý chí là một cơ chế khởi động và ức
chế. Ý chí cũng có quan hệ mật thiết với tình cảm – là mặt hoạt động của tình cảm.
Bản thân tình cảm chịu sự kiểm soát của ý chí. Ở mặt này ý chí chủ yếu thực hiện
chức năng ức chế của mình.
Ý chí là một phẩm chất nhân cách. Ý chí của cá nhân được thể hiện
qua các phẩm chất sau:
Tính mục đích là phẩm chất rất quan trọng của ý chí, là kỹ năng
đề ra mục đích cho hành động của mình và bắt hành vi phục tùng các mục đích ấy.
Tính mục đích giúp con người điều chỉnh hành vi hướng vào mục đích tự giác.
Ý chí bao giờ cũng đi liền với mục đích nhất định. Chưa có mục
đích thì chưa có ý chí. Mục đích có thể là mục đích xa như lý tưởng, ước mơ…;
có thể là mục đích cho một giai đoạn hoặc là mục tiêu cho từng công việc. Có mục
đích người ta mới có quyết tâm để đạt được mục đích.
Tính độc lập là phẩm chất ý chí cho phép con người có khả năng
quyết định và thực hiện hành động theo những quan điểm, niềm tin của mình,
không bị chi phối bởi những tác động bên ngoài. Rõ ràng, người có ý chí phải là
người chủ động quyết định mục đích và kế hoạch hoạt động, tự lực hoạt động, tự
tin vào bản thân, không chờ đợi từ người khác. Tuy nhiên, tính độc lập của ý
chí không có nghĩa là sự bảo thủ, độc đoán, không biết tiếp thu cái hay từ người
khác.
Tính quyết đoán là khả năng đưa ra quyết định kịp thời, dứt
khoát trên cơ sở đã tính toán cân nhắc cẩn thận. Người quyết đoán còn là người
biết giữ vững ý kiến đúng đắn của bản thân, không dễ giao động bởi tác động của
người khác.Tính quyết đoán còn thể hiện ở sự rõ ràng, minh bạch trong công việc,
làm việc nào ra việc ấy, không để các việc ảnh hưởng nhau một cách không cần
thiết.
Tính kiên trì là một biểu hiện của ý chí. Tính kiên trì được thể
hiện ở sự khắc phục những khó khăn, trở ngại khách quan và chủ quan để đạt được
mục đích đã đề ra. Người có ý chí phải bền bỉ trong công việc, phấn đấu đạt được
mục đích, không nản lòng và bỏ dở giữa chừng… Thậm chí, làm chưa được thì làm lại,
coi: “thất bại là mẹ thành công”. Tuy nhiên, không lì lợm để theo đuổi mục đích
mù quáng.
Tính dũng cảm là một yếu tố quan trọng của ý chí. Người có ý chí
phát triển là người có dũng cảm để khắc phục sự sợ hãi, bối rối trong hành động,
tìm cách tối ưu vượt qua khó khăn hoặc nguy hiểm để đạt được mục đích. Tuy
nhiên, dũng cảm không phải là liều mạng.
3.2. Hành động ý chí
Hành động ý chí là hành động được điều chỉnh bởi ý chí. Nói cách
khác, hành động ý chí là hành động có ý thức, có chủ tâm, đòi hỏi nỗ lực khắc
phục khó khăn, thực hiện bằng được mục đích đã đề ra.
Khác với hành động bình thường không ý chí (như hành động phản xạ,
hành động tự ý), hành động ý chí có đặc tính:
• Có mục đích đề ra từ
trước một cách có ý thức;
• Có sự lựa chọn phương
tiện, biện pháp để đạt mục đích;
• Có sự theo dõi, kiểm
tra, điều chỉnh để khắc phục những khiếm khuyết.
Căn cứ vào mức độ của các đặc tính trên, có thể phân loại hành động
ý chí thành:
• Hành động ý chí giản
đơn là hành động có mục đích rõ ràng nhưng hai đặc tính sau không rõ nét;
• Hành động ý chí cấp
bách là hành động khó nhưng đòi hỏi phải quyết định và thực hiện trong thời
gian ngắn;
• Hành động ý chí phức tạp
– điển hình là hành động có mục đích rõ ràng và việc đạt tới mục đích đòi hỏi
phải có sự khắc phục nhiều khó khăn, trong thời gian tương đối dài.
Một hành động ý chí điển hình thường có cấu trúc gồm 3 giai đoạn:
giai đoạn chuẩn bị; giai đoạn thực hiện và giai đoạn đánh giá.
Giai đoạn chuẩn bị: hành động ý chí là hành động có ý thức nên
nó thường có giai đoạn chuẩn bị chu đáo. Ở giai đoạn này chủ thể xác định mục
đích hành động, lập kế hoạch hành động, quyết định kế hoạch hành động. Ý chí thể
hiện trong giai đoạn này là có thể phải đấu tranh bản thân để chọn lấy mục đích
nào đó trong số nhiều mục đích, lựa chọn phương pháp thực hiện tích cực nhất.
Ví dụ: có mục đích làm giàu, nhưng phải lựa chọn phương thức làm giàu tích cực,
đáng khen, không chọn con đường xấu xa như trộm cắp, tham lam.
Giai đoạn thực hiện là giai đoạn thể hiện rõ ý chí của con người
với các biểu hiện là thực hiện hành động cần thiết, khắc phục khó khăn, kiềm chế
hành động không cần thiết.
Giai đoạn đánh giá kết quả hành động ý chí thể hiện ở sự phản
ánh trung thực kết quả hành động, tìm hiểu nguyên nhân, rút kinh nghiệm, khắc
phục hậu quả (nếu có) một cách tích cực.
3.3. Hành động tự động hóa
Hành động ý chí có vai trò quan trọng trong đời sống con người.
Tuy nhiên, trong các hoạt động phức tạp đòi hỏi sự kiểm soát thường xuyên của ý
thức, ý thức không thể cùng một lúc kiểm soát tất cả mọi khâu của hoạt động
(2). Ở con người hình thành nên, bên cạnh các hành động ý chí, một loại hành động
hỗ trợ khác là hành động tự động hóa.
Hành động tự động hóa là hành động đã được lặp đi, lặp lại nhiều
lần, nó trở nên rất thành thạo, có khi không cần có sự kiểm soát trực tiếp của
ý thức mà vẫn thực hiện có kết quả.
Hành động tự động hóa gồm hai loại: kỹ xảo và thói quen.
Kỹ xảo là hành động tự động hóa một cách có ý thức. Thông thường,
trong lao động có một số hành động kỹ thuật được người ta tập luyện thành kỹ xảo.
Trong học tập và làm việc trí óc con người cũng có kỹ xảo trí tuệ.
Kỹ xảo có các đặc điểm là:
• Không cần sự kiểm soát
thường xuyên của ý thức, không cần sự kiểm tra bằng thị giác;
• Động tác mang tính
khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn hao năng lượng thần
kinh và cơ bắp;
• Kỹ xảo có tính kỹ thuật,
nó là các kỹ năng luyện tập nhiều thành kỹ xảo.
Thói quen là hành động tự động hóa đã trở thành nhu cầu của con
người. Ví dụ như thói quen đọc sách, thói quen hoàn thành bài tập, thói quen
luyện tập thân thể …
Thói quen được đánh giá về mặt đạo đức - có thói quen tốt và có
thói quen xấu. Thói quen tốt thường phải luyện tập mới có được. Ví dụ như thói
quen gọn gàng ngăn nắp, thói quen lễ phép... Nhưng thói quen xấu thường rất dễ
hình thành, người ta không luyện tập nó cũng có.
Sự hình thành các hành động tự động hóa
Kỹ xảo được hình thành do luyện tập, nghĩa là vừa lặp đi lặp lại
một cách có hệ thống và có mục đích, vừa hoàn thiện hành động theo hướng tối ưu
hóa. Quá trình luyện tập để hình thành kỹ xảo diễn ra theo các quy luật sau:
Quy luật tiến bộ không đều của kỹ xảo: sự hình thành kỹ xảo diễn
ra không đồng đều, lúc tiến bộ nhanh, lúc tiến bộ chậm; và không phụ thuộc trực
tiếp vào số lần luyện tập.
Quy luật đỉnh của phương pháp luyện tập - mỗi phương pháp luyện
tập cho một kết quả cao nhất, khi đạt đến mức độ này nếu tiếp tục luyện tập
theo phương pháp cũ thì không có sự gia tăng kết quả nữa.
Quy luật tác động qua lại giữa kỹ xảo cũ và kỹ xảo mới. Kỹ xảo
cũ tác động đến sự hình thành kỹ xảo mới theo hai cách. Nếu kỹ xảo cũ tạo thuận
lợi cho sự hình thành kỹ xảo mới thì hiện tượng này được gọi là sự di chuyển kỹ
xảo. Nếu kỹ xảo cũ gây trở ngại, khó khăn cho sự hình thành kỹ xảo mới thì gọi
là sự giao thoa kỹ xảo.
Quy luật dập tắt kỹ xảo: một kỹ xảo đã được hình thành nhưng nếu
không được sử dụng thường xuyên thì nó sẽ bị suy yếu dần và có thể mất hẳn.
Thói quen hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, những thói
quen xấu thường hình thành một cách tự phát hay bắt chước, còn những thói quen
tốt thường hình thành bằng con đường giáo dục và tự giáo dục.
4.
Sự hình thành và phát triển nhân cách
4.1. Quá trình hình thành nhân cách
Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng vốn có,
mà nhân cách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành và phát triển trong quá
trình sống, giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động… như V.I.Lênin đã khẳng định:
“Cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là
thành viên”.
Nhân cách của con người được hình thành dưới ảnh hưởng của hệ thống
các quan hệ xã hội của con người và đặc biệt là dưới ảnh hưởng của hoạt động do
con người thực hiện với tư cách là chủ thể tích cực. Không thể có nhân cách nằm
ngoài xã hội, chỉ có trong xã hội thì mỗi người mới trở thành và thể hiện như một
nhân cách A.N.Leontiev viết: “nhân cách không phải được để ra mà được hình
thành”
Con người là chủ thể tích cực nên họ không thụ động tiếp nhận những
yếu tố bên ngoài mà có sự chọn lọc và chế biến thông qua hoạt động của con người
nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân. C.Mác viết: “Con người tạo ra
hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người trong chừng mực
ấy”.
Theo các nhà Tâm lý học thì quá trình hình thành nhân cách được
chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tuổi sơ sinh, giai đoạn trước tuổi đi học,
và giai đoạn tuổi đi học. Giai đoạn tuổi đi học gồm 3 thời kỳ: tuổi nhi đồng,
tuổi thiếu niên và tuổi thanh niên.
Quá trình hình thành nhân cách là quá trình phức tạp, với sự tác
động của nhiều yếu tố: môi trường, hoàn cảnh gia đình, tập thể, giáo dục, hoạt
động của cá nhân… Mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định trong việc hình thành
nhân cách, không có yếu tố nào có thể duy nhất đảm bảo hình thành nên một nhân
cách tốt đẹp. Các yếu tố có quan hệ hỗ trợ nhau, mỗi yếu tố chỉ phát huy tác dụng
của mình trong sự tương tác với các yếu tố khác.
4.2. Các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách
Giáo dục và nhân cách:
Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội, là quá trình tác động
tự giác, chủ động đến con người nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người
theo yêu cầu của xã hội.
Ở đây, nói về giáo dục theo nghĩa rộng nhất là toàn bộ sự tác động
của nhà trường, gia đình và xã hội đến thế hệ trẻ nhằm giúp trẻ hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện. Giáo dục bao gồm cả dạy học và các tác động đến
tư tưởng, hành vi và đạo đức của học sinh.
Với quá trình như trên, giáo dục có vai trò chủ đạo trong sự
hình thành và phát triển nhân cách vì giáo dục:
• Vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân
cách. Giáo dục có mục tiêu xác định là hình thành những mẫu người cụ thể, mô
hình nhân cách phát triển đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống và xã hội.;
• Tạo điều kiện để mỗi cá nhân lĩnh hội được nền văn hóa xã hội,
lịch sử đã được tinh lọc và hệ thống hóa để tạo nên nhân cách của mình một cách
nhanh chóng nhất
• Giáo dục có thể phát huy tối đa những mặt mạnh của các yếu tố
khác chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách như yếu tố bẩm sinh di truyền
(thể chất), hoàn cảnh sống… đồng thời bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do
các yếu tố trên gây ra (như những ngưới có hoàn cảnh không thuận lợi, người bị
khuyết tật hoặc người bị bệnh...);
• Giáo dục còn có thể uốn nắn những sai lệch nhân cách, làm cho
nó phát triển theo đúng mong muốn của xã hội (giáo dục lại).
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách nhưng giáo dục không phải là vạn năng. Cần phải tiến hành giáo dục
trong mối quan hệ hữu cơ với các hoạt động khác, như tự giáo dục, tự rèn luyện
của mỗi cá nhân.
Hoạt
động và nhân cách
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Dù có ở thời kỳ
nào, lứa tuổi nào thì con người cũng hoạt động. Tuy nhiên trong mỗi lứa tuổi lại
có hoạt động chủ đạo khác nhau. Hoạt động chủ đạo là hoạt động phù hợp với lứa
tuổi và là hoạt động chính của lứa tuổi, nó cũng là nhân tố cơ bản nhất của sự
phát triển tâm lý của lứa tuổi.
Hoạt động diễn ra với hai quá trình song song: xuất tâm và nhập
tâm. Vì vậy, thông qua hoạt động con người một mặt lĩnh hội được những kinh
nghiệm lịch sử xã hội loài người, một mặt xuất tâm những sức mạnh thể chất và
tinh thần của mình vào xã hội. Quá trình tham gia hoạt động làm nhân cách con
người hình thành và phát triển. Nếu con người không hoạt động thì các tác động
giáo dục trở nên vô nghĩa.
Hoạt động của con người luôn có tính tích cực, tính mục đích,
tính xã hội và được thực hiện bằng các thao tác và công cụ nhất định. Các đặc
điểm này làm cho hoạt động của con người có tính lựa chọn, có định hướng đúng đắn.
Như vậy hoạt động của cá nhân là nhân tố trực tiếp quyết định sự
hình thành và phát triển nhân cách. Cá nhân lựa chọn các hoạt động có ý nghĩa
và tích cực tham gia nhiều hoạt động để tạo ra các phẩm chất tâm lý tích cực
cho nhân cách. Với các em nhỏ thì do các em chưa có khả năng tự lựa chọn hoạt động
tích cực, vì vậy các nhà giáo dục phải lựa chọn và tổ chức các hoạt động đảm bảo
tính hiệu quả cao cho việc hình thành và phát triển nhân cách.
Hoạt động của con người luôn mang tính xã hội, tính cộng đồng và
luôn đi liền với giao tiếp. Giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động và
cũng là nhân tố cơ bản cho sự hình thành phát triển nhân cách.
Giao
tiếp và nhân cách
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của xã hội loài người. Không thể
có xã hội nếu không có giao tiếp giữa con người với nhau. Đối với cá nhân, giao
tiếp là điều kiện tồn tại và phát triển tâm lý, nhân cách của họ.
C.Mac đã chỉ ra rằng “Sự phát triển của một cá nhân được quy định
bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao tiếp một cách trực tiếp
hay gián tiếp với họ”. Bởi lẽ ở mỗi con người đều chứa đựng những kinh nghiệm
xã hội- lịch sử. Trong quá trình giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ được lĩnh hội những
kinh nghiệm ấy để tồn tại và phát triển tâm lý. Nếu hoạt dodọng liên quan nhiều
hơn đến sự hình thành mặt năng lực của nhân cách thì giao tiếp liên quan nhiều
hơn đến sự hình thành mặt đạo đức và ý thức bản ngã của nhân cách.
Không chỉ là điều kiện cho sự phát triển tâm lý, giao tiếp còn
là con đường hình thành nhân cách con người. Bằng giao tiếp, con người gia nhập
vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội tinh hoa văn hóa xã hội, các chuẩn mực đạo đức
xã hội… tổng hợp thành bản chất của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào
kho tàng văn hóa chung của nhân loại.
Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức được người khác, nhận
thức các quan hệ xã hội, mà còn nhận thức được chính bản thân mình thông qua sự
so sánh, đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản
thân mình để hình thành một thái độ cảm xúc với bản thân, hình thành năng lực tự
ý thức- một thành phần quan trọng trong nhân cách.
Tóm lại, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho quan hệ người -
người, là một yếu tố cơ bản của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức,
nhân cách. Song mọi hoạt động và giao tiếp
của con người chỉ có thể diễn ra trong cộng đồng, trong nhóm và tập thể
Tập
thể và nhân cách
Nhân cách của con người được hình thành trong môi trường xã hội.
Môi trường xã hội cụ thể là các nhóm mà cá nhân là thành viên, đó là: gia đình,
làng xóm, khu phố, cộng đồng, tập thể…Gia đình là một dạng nhóm, là chiếc nôi
nuôi dưỡng mầm mống đầu tiên của nhân cách con người từ ấu thơ. Tiếp theo đó,
con người có thể là thành viên của nhiều nhóm xã hội khác nhau: nhóm chính thức
(tập thể), nhóm không chính thức (nhóm bạn bè), nhóm chuẩn mực và nhóm quy chiếu…
Nhóm đạt tới sự phát triển cao nhất gọi là tập thể, nó có tổ chức và kỷ luật chặt
chẽ, đặc biệt là có mục đích chung, có ý nghĩa xã hội tích cực nhất.
Tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân
cách. Trước hết, tập thể giúp con người tìm thấy chỗ đứng của mình và thỏa mãn
nhu cầu giao tiếp, hoạt động. Tập thể tác động đến nhân cách và giúp đỡ nhân
cách qua hoạt động cùng nhau, qua dư luận tập thể, truyền thống tập thể, bầu
không khí tâm lý tập thể… Nhờ vậy nhân cách của mỗi thành viên liên tục được điều
chỉnh. Ngược lại, mỗi cá nhân tác động đến cộng đồng, xã hội, tới cá nhân khác
thông qua tập thể của mình. Chính vì thế trong giáo dục người ta thường vận dụng
nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.
Hoạt động tập thể còn là điều kiện và phương tiện thể hiện và
hình thành những năng khiếu, năng lực và phẩm chất của nhân cách.
Tóm lại, sự hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào nhiếu
yếu tố. Các yếu tố tác động đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau, hỗ trợ cho nhau
thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhân cách.
Sự
hoàn thiện nhân cách
Nhân cách của cá nhân không tự nhiên có mà nó được hình thành và
phát triển tới mức độ nhất định trên cơ sở cá nhân tích cực hoạt động và giao
tiếp trong các mối quan hệ xã hội, dưới tác động chủ đạo của giáo dục.
Nhân cách có thể coi là hoàn thiện khi nó đáp ứng yêu cầu xã hội
hiện đại. Xã hội luôn phát triển, con người phải luôn tự điều chỉnh nhân cách của
mình theo yêu cầu mới của xã hội, đó là sự hoàn thiện nhân cách. Sự hoàn thiện
nhân cách diễn ra thông qua việc cá nhân tự ý thức, tự rèn luyện, tự giáo dục,
tự học, tự bồi dưỡng không ngừng…
Ở những thời điểm nhất định, trong những hoàn cảnh cụ thể, hay ở
những bước ngoặt của cuộc đời… cá nhân có thể thay đổi một số nét nhân cách
theo hướng ngược lại với chuẩn mực xã hội – đó là sự suy thoái nhân cách. Nếu
được giúp đỡ, cá nhân tự điều khiển, tự điều chỉnh lại theo chuẩn mực, quá
trình đó cũng gọi là sự hoàn thiện nhân cách. Tự ý thức, tự giáo dục và tự rèn
luyện có ý nghĩa chủ đạo đối với sự hoàn thiện nhân cách.
4.3. Những sai lệch trong sự phát triển
nhân cách
Trong quá trình phát triển nhân cách con người có thể có những
sai lệch nhất định. Để nhận biết những sai lệch này, chúng ta phải xem xét các
chuẩn mực hành vi.
Chuẩn mực của hành vi
Có ít nhất 3 góc độ để xem xét chuẩn mực hành vi:
• Chuẩn mực xét về mặt
thống kê: khi đại đa số các thành viên trong cộng đồng có hành vi tương tự như
nhau trong các hoàn cảnh xác định nào đó thì hành vi đó được xem như là chuẩn mực,
còn hành vi nào khác như vậy thì bị gọi là lệch chuẩn.
• Chuẩn mực quy định
hoặc quy ước do cộng đồng hay do xã hội đặt ra. Loại chuẩn mực này được đưa ra
trên cơ sở những yêu cầu chung của cộng đồng đối với từng thành viên (chuẩn mực
pháp luật, đạo đức, truyền thống…). Những hành vi nào khác với quy định thì được
coi là hành vi lệch chuẩn
• Chuẩn mực chức năng:
loại chuẩn mực này được xác định ở mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân khi hành động đều đặt
ra mục đích cho hành động của mình. Vì vậy một hành vi được xem là hợp chuẩn
khi hành vi phù hợp với mục đích đặt ra. Còn hành vi không phù hợp với mục đích
đặt ra là hành vi lệch chuẩn.
Như vậy sự hợp chuẩn hay lệch chuẩn của một hành vi không phải
do cá nhân phán xét mà phải xem xét hành vi đó có được môi trường chấp nhận hay
không.
Các
mức độ sai lệch hành vi
Có thể chia thành 2 mức độ sai lệch hành vi: nhẹ và nặng.Sai lệch
ở mức độ nhẹ là khi cá nhân chỉ có một số hành vi không bình thường nhưng không
ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động chung của cộng đồng, của gia đình và của cá
nhân họ. Mức độ này không có gì trầm trọng, mọi người xung quanh vẫn có thể chấp
nhận được tuy họ không hoàn toàn thoải mái.
Sai lệch ở mức độ nặng là sự sai lệch ở hầu hết các hành vi, từ
hành vi trong sinh hoạt cá nhân đến hành vi trong công việc chung với nhiều người.
Nhũng hành vi sai lệch ở mức độ này ảnh hưởng đến đời sống cá nhân và hoạt động
chung của cộng đồng.
Phân loại các hành vi sai lệch và cách khắc phục:
Căn cứ vào mức độ nhận thức và chấp nhận chuẩn mực, có thể chia
làm hai loại sai lệch hành vi.
Sai lệch thụ động là những sai lệch hành vi do cá nhân không nhận
thức đầy đủ hoặc nhận thức sai các chuẩn mực xã hội. Cũng có thể do cá nhân có
quan điểm riêng quá khác biệt với mọi người nên cá nhân không chấp nhận các chuẩn
mực chung. Sai lệch này có khi còn gọi là các tật của cá nhân.
Cách khắc phục đối với những người có hành vi sai lệch do hiếu
biết không đầy đủ về chuẩn mực thì cần cung cấp thêm kiến thức cho họ. Đối với
những người do hiểu sai chuẩn mực hoặc chưa chấp nhận chuẩn mực thì cần có sự
thuyết phục từ từ để họ hiểu đúng chuẩn mực, để từ đó họ tự điều chỉnh hành vi
của mình.
Sai lệch chủ động là những sai lệch do cá nhân cố ý làm khác đi
so với chuẩn mực của xã hội. Ở đây cá nhân có thể nhận thức được chuẩn mực
nhưng vẫn cố làm theo ý mình do cá nhân không kiềm chế nổi nhu cầu của bản
thân, do ý thức tuân theo chuẩn mực còn yếu hoặc do chuẩn mực của xã hội chưa
nghiêm… Loại hành vi sai lệch này dễ gây hậu quả nghiêm trọng cho cộng đồng xã
hội. Ví dụ, người cố ý làm sai quy định của nhà nước,…
Cách khắc phục đối với loại sai lệch hành vi chủ động cần có sự giáo dục thường xuyên của cộng đồng: dùng dư luận lên án mạnh mẽ hoặc sự trừng phạt thích đáng bằng pháp luật… Tuy nhiên, tốt nhất vẫn là ngăn ngừa để hành vi sai lệch không xảy ra bằng cách tạo môi trường cộng đồng đoàn kết, trong sạch, không có cơ hội cho hành vi sai lệch xuất hiện./.
những Tính quy luật của sự hình thành
nhân cách
Bài viết luận giải nhằm làm rõ tính quy luật của sự hình thành,
phát triển nhân cách. Theo tác giả, tính quy luật đó biểu hiện ở chỗ: Thứ nhất,
sự hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển của con người
qua quá trình phát triển giáo dục, tự giáo dục và hoạt động thực tiễn. Thứ hai,
đó là quá trình thống nhất giữa cá nhân và xã hội, giữa mặt sinh vật và mặt xã
hội của con người; là sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan. Nội dung này ta cũng rất mong muốn các con cháu ta tham khảo và cùng ta
hoàn thiện , Rát có thể lắm chứ , những nội dung này sẽ trở thành cẩm nang
trong đại gia đình chúng ta ấy nhỉ ! khà khà chúng ta bắt đầu nhé.
Nhân cách là vấn đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Khảo sát các công trình khoa học nghiên cứu về nhân cách, chúng ta thấy có
nhiều định nghĩa về nhân cách. Với mỗi ngành khoa học nghiên cứu khoa học, với
mỗi công trình nghiên cứu, tuỳ vào yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể, các nhà
khoa học lại xây dựng một định nghĩa khác nhau về nhân cách.
Tư tưởng về nhân cách đã được Arixtốt (384 - 322 TCN.) - nhà triết
học cổ Hy Lạp - bàn đến khi ông cho rằng, con người là một “động vật chính trị”
(Joon poltikon). ở đây, bước đầu Arixtốt đã thấy được vai trò của xã hội, của
giáo dục tác động đến sự phát triển của con người như là một nhân cách. Đến cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hai nhà tâm lý học người Đức - Dilthey và Spranger mới
đưa ra khái niệm nhân cách. Theo các ông, nhân cách là cái mặt nạ có tính chất
xã hội của cái tôi bên trong. Khi nào cái mặt nạ đó trùng với cái tôi thì nhân
cách phát triển chín muồi .Thuật ngữ nhân cách (Personalyti) xuất phát từ tiếng
Latinh cổ đại Persona (cá tính) và tiếng Latinh trung cổ personalitas, nghĩa gốc
của từ mặt nạ, chỉ vẻ bên ngoài của một cá nhân. Tuy nhiên, nhân cách theo
nghĩa là mặt nạ không được sử dụng lâu dài vì đây là khái niệm bao hàm rất nhiều
nghĩa, bao gồm những đặc điểm bên trong, phẩm chất và diện mạo bên ngoài của một
cá nhân mang nhân cách. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân cách, có
thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu sau:
Theo thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud (1856 - 1939) - người
được nhận giải thưởng Goethe, bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay
sinh vật hóa thuộc tính nhân cách. Theo Phân tâm học, trước hết, Freud nhấn mạnh
hành vi con người do bản năng quyết định và chứng minh rằng hầu hết những khía
cạnh trọng yếu của hành vi bị ảnh hưởng sâu đậm bởi những động cơ mà chúng ta
không thể nhận thức được. Thứ hai, thuyết nhân cách của Freud có cấu trúc xác định
rõ ràng và liên quan đến 3 ý niệm trọng yếu là xung đột bản năng, bản ngã và
siêu ngã. Ba thành tố này tham gia điều khiển hành vi con người. Thứ ba, mô
hình nhân cách của ông chia hệ thống phân loại biến thiên của sự nhận thức
thành 3 giai đoạn: Nhận thức, vô thức và tiền nhận thức. Ông chính là triết gia
đầu tiên phát triển học thuyết khoa học tâm lý về vai trò của vô thức và cũng
là người đầu tiên đưa vô thức thành thành tố trung tâm của nhân cách. Ông khẳng
định: “Vô thức chứa đựng những ham muốn đầy quyền năng... tồn tại toàn bộ bên
ngoài trạng thái của ý thức nhưng lại chịu trách nhiệm cho toàn bộ hành vi quan
trọng của con người” . Mặc dù có đóng góp lớn cho khoa học, nhưng Freud lại quá
chú trọng tác động của yếu tố sinh vật đến hành vi con người mà không thấy được
những tác động khác đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con
người. Trong Tâm lý học phân tích, Carl Jung (1875 - 1961) coi nhân cách là sự
vô thức tập thể. Bản chất nhân cách là nhân tính con người. Nhân cách được hiểu
theo nhiều cách khác nhau: Nhân cách là động cơ tự động điều hành (G.Allport);
là toàn bộ mối quan hệ của cá nhân người; nhân cách được hiểu đồng nhất với
khái niệm con người; nhân cách được hiểu như cá nhân con người với tư cách là
chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức; nhân cách được hiểu là một
thuộc tính nào đó. Đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa nhân bản triết học tư sản
thế kỷ XX là M.Sêlơ - một nhà triết học Đức, cho rằng, “bản chất vốn có của con
người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tinh
thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách” . Theo quan niệm
của ông, con người không tồn tại thực mà chỉ là một bộ phận của thực tại tinh
thần. Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu
cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính chất thuần túy của cá
nhân con người mà không thấy được vai trò quyết định của xã hội trong sự hình
thành và phát triển nhân cách con người.
Triết học Mác ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư
tưởng của nhân loại. Theo đánh giá của V.I.Lênin, triết học Mác đã khắc phục được
hai thiếu sót lớn nhất của lịch sử triết học: Chủ nghĩa duy tâm “không thấy được”
điểm xuất phát là hiện thực khách quan và chủ nghĩa duy vật siêu hình “không thấy
được” vai trò tích cực của chủ thể con người. Chủ nghĩa Mác khẳng định: Con người
là một thực thể sinh vật - xã hội. Con người sinh ra và phát triển không chỉ
tuân theo những quy luật sinh học, mà còn chịu sự tác động của những quy luật
xã hội. Sự hoàn thiện bản chất xã hội trong mỗi con người cũng đồng thời là quá
trình hoàn thiện nhân cách. Trong quá trình này, cái sinh vật ngày càng được
xã hội hóa, nhân tính hóa nhiều hơn. Nhân cách được hình thành và phát triển
trong quá trình sống, lao động và trong các quan hệ giao tiếp của con người.
Khi bàn về vấn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý
đến bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ xã hội tham gia vào sự
hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạt động thực tiễn đối
với sự bộc lộ những sức mạnh bản chất Người tới sự hình thành, phát triển và
hoàn thiện nhân cách. Smirnov - nhà triết học Liên Xô trước đây đã từng nói,
con người được sinh ra, nhưng nhân cách thì phải được hình thành. Qua nghiên cứu,
bước đầu chúng tôi đưa ra tính quy luật của sự hình thành và phát triển nhân
cách như sau .
1. Sự hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với sự phát
triển của con người qua quá trình giáo dục, tự giáo dục và hoạt động thực tiễn
Giáo dục xuất hiện cùng với loài người và tồn tại, phát triển
cùng với loài người. V.I.Lênin gọi giáo dục là một phạm trù vĩnh cửu. Con người
lớn lên và trưởng thành qua quá trình tiếp nhận và thẩm thấu các tri thức văn
hóa, xây dựng kỹ năng, biến thành phẩm chất Người của mình trước hết bằng con
đường giáo dục và tự giáo dục.
Vai trò chủ đạo của giáo dục trong quá trình hình thành và phát
triển nhân cách với tư cách sự tác động khách quan của chủ thể giáo dục đến đối
tượng tiếp nhận giáo dục được thể hiện qua nội dung và hình thức giáo dục. Vai
trò ấy thể hiện trước hết ở giáo dục – cái vạch ra phương hướng, tạo dựng lên
những hình mẫu nhân cách phù hợp với các yêu cầu của xã hội hiện tại thông qua
nội dung giáo dục giá trị nhân cách, qua mục tiêu giáo dục mẫu hình nhân cách của
nhà trường và xã hội.
Hai là, giáo dục là sự truyền thụ các vốn văn hóa truyền thống của
dân tộc, để các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa, bảo tồn và phát triển những giá
trị truyền thống tốt đẹp. Giá trị truyền thống được coi là cơ sở, nền tảng để
hình thành giá trị nhân cách của con người.
Ba là, qua giáo dục và bằng giáo dục hướng thế hệ trẻ đến một
tương lai tốt đẹp. Giáo dục có khả năng uốn nắn những hành vi lệch chuẩn trong
sự phát triển nhân cách, tạo dựng những mẫu hình nhân cách mới đáp ứng những
đòi hỏi của xã hội. Hệ thống giáo dục của xã hội đã khẳng định vai trò quan trọng
trong quá trình xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách. Những yêu cầu,
những chuẩn mực xã hội (cộng đồng, giai cấp, dân tộc) không thể trực tiếp áp đặt
vào con người những phẩm chất cá nhân phù hợp với các yêu cầu, các chuẩn mực ấy.
Những phẩm chất của nhân cách được hình thành chủ yếu là do quá trình giáo dục
và tự giáo dục.
Nói cách khác, nhân cách trong sự hình thành và phát triển, một
mặt, chịu sự tác động có mục đích của quá trình giáo dục; mặt khác, nhân cách
cũng là kết quả của quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện trong bản thân mỗi con
người. Sự tự giáo dục biểu hiện ở chỗ mỗi chủ thể tự giáo dục hướng toàn bộ
năng lực, hành động của mình vào sự hình thành thế giới nội tâm bắt đầu từ sự tự
ý thức cho đến quá trình tham gia tích cực và tự giác vào việc tạo ra cho mình
những điều kiện, môi trường, hoàn cảnh để trong đó họ tồn tại. Trong quá trình
hoạt động tự giác ấy, mỗi con người đã biết tách mình ra thành hai phần riêng
biệt: Cái tôi - chủ thể và cái tôi - đối tượng để tự giác phấn đấu, cải tạo,
xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất tích cực trong nhân
cách. Chính sự phát triển của tình cảm, lý trí và ý chí, tức là sự phát triển của
ý thức nhân cách trong mỗi chủ thể hoạt động là yếu tố trực tiếp quy định khả
năng xác định, lựa chọn và thực hiện hành vi của nhân cách. Sự phát triển của ý
thức nhân cách chính là chỉ số phản ánh sự phát triển nhân cách và là điều kiện
quan trọng của việc thực hiện những hoạt động thực tiễn của nhân cách mỗi người
trong môi trường xã hội.
Đồng thời, hoạt động thực tiễn của mỗi người để cải tạo môi trường
xã hội cũng là nhân tố tác động quan trọng tới sự phát triển nhân cách của
chính họ. Tính xã hội là một trong những đặc trưng cơ bản nhất trong các hoạt động
thực tiễn của con người. Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người phải
trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ, phải sử dụng một khối lượng lớn văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần của nhân loại. Trong các hoạt động của mình, con người cần
thiết phải hợp tác với những người xung quanh. Họ phải tồn tại và phát triển
trong các mối quan hệ xã hội, nếu tách khỏi các mối quan hệ đó con người không
bao giờ có thể phát triển được. Trong quá trình ấy, mỗi cá nhân phản ứng trước
sự tác động của môi trường xã hội một cách khác nhau, thể hiện trong bản thân
mình nét này hoặc nét khác của môi trường xã hội tạo nên sự phong phú, đa dạng
của nhân cách con người. Có thể nói, thông qua hoạt động thực tiễn, con người
biểu hiện các năng lực và phẩm chất nhân cách của mình.
2. Sự hình thành và phát triển nhân cách là quá trình thống nhất
giữa cá nhân và xã hội, giữa mặt sinh vật và mặt xã hội. Đó là sự thống nhất giữa
điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
Như đã trình bày, nếu con người bị tách ra khỏi môi trường và các
hoạt động xã hội thì nhân cách con người không thể hình thành và phát triển được.
C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà duy vật Pháp về sự
tác động của môi trường xã hội đến cá nhân, đã khẳng định: “Nếu như con người bẩm
sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản
tính chân chính của mình trong xã hội và cần phải phán đoán lực lượng của bản
tính của anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ
vào lực lượng của toàn xã hội” . Nói cách khác, đây chính là quá trình xã hội
hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội, nhưng suy cho cùng, xã hội hóa cá nhân là yếu
tố quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì thế, có thể khái
quát một số yếu tố cơ bản tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách
như sau:
Một là, sự hình thành và phát triển nhân cách trước hết bị quy định
bởi điều kiện kinh tế - xã hội.
Con người trong hoạt động
sản xuất, hoạt động chính trị - xã hội... đều thể hiện mục đích, lợi ích của
mình trong quan hệ với những người xung quanh, với xã hội. C.Mác khẳng định rằng,
lịch sử không phải là cái gì khác hơn là hoạt động của con người theo đuổi những
mục đích của mình. Những mục đích của con người bao giờ cũng xuất phát và gắn
liền với tính chế định của điều kiện lịch sử - xã hội, của các quan hệ kinh tế
trong một thời đại nhất định. Tính quy định khách quan của điều kiện kinh tế -
xã hội đã tạo ra một giới hạn chung, một xu thế chung cho mọi hoạt động của con
người. Sự phát triển của nhân cách với tư cách sự phát triển các phẩm chất xã hội
của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội cũng không nằm ngoài những quy định
khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội hiện thời mà mỗi cá nhân đó là thành
viên. V.I.Lênin gọi đây là quyết định luận lịch sử.
Bị quy định khách quan bởi điều kiện kinh tế - xã hội, nhưng
cái trực tiếp quy định bản chất và đặc trưng của nhân cách lại không phải là tất
cả các quan hệ kinh tế, mà nhân tố quy định nhân cách ở tầng sâu nhất là quan hệ
lợi ích. Bởi cái lõi vật chất của đạo đức, nhân cách là vấn đề lợi ích. Nói cụ
thể hơn, tính chất của việc giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá nhân, lợi ích tập
thể và lợi ích xã hội là nhân tố sau cùng quy định bộ mặt của nhân cách. Sự
phát triển của con người nói chung, nhân cách nói riêng chỉ có thể phát triển
đúng quy luật khi mỗi cá nhân tự giác nhận thức đúng đắn, giải quyết hài hòa mối
quan hệ cá nhân - xã hội xét trên phương diện lợi ích. C.Mác và Ph.Ăngghen đã
chỉ rõ: “Chừng nào con người còn ở trong xã hội hình thành một cách tự nhiên,
do đó chừng nào còn có sự chia cắt giữa lợi ích riêng và lợi ích chung... thì
chừng đó bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối lập với con
người và nô dịch con người, chứ không phải bị con người thống trị” . Lợi ích cá
nhân là động lực trực tiếp cho mọi hoạt động của con người. Con người ở bất kỳ
thời đại nào cũng hành động trước hết vì lợi ích của bản thân mình. Vì vậy, lợi
ích cá nhân đóng vai trò trực tiếp, cơ sở cho mọi hoạt động tự giác, hoạt động
tích cực của con người. Lợi ích cá nhân cũng là nhân tố quyết định, là cơ sở để
thực hiện lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Lợi ích xã hội với ý nghĩa là lợi
ích hướng vào thỏa mãn những nhu cầu chung của nhiều thành viên hợp lại thành cộng
đồng, xã hội. Vì vậy, lợi ích xã hội là điều kiện và đóng vai trò định hướng
cho việc thực hiện lợi ích cá nhân. Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen căn dặn:
“Nếu lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó, cần ra sức
làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể
loài người” .
Việc giải quyết hài hòa giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân
là động lực của sự phát triển nhân cách được minh chứng rõ ràng qua quá trình
xây dựng đất nước ta. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lợi ích tập thể
được đề cao, lấn át lợi ích cá nhân, dẫn tới có sự đối lập, tách rời giữa việc
thực hiện hành vi đạo đức với việc thực hiện lợi ích cá nhân. Con người đứng
trước hai lựa chọn: Thực hiện hành vi đạo đức phải từ bỏ lợi ích của cá nhân;
ngược lại, hoạt động vì lợi ích cá nhân có thể không có động cơ để thực hiện
hành vi đạo đức, điều này khiến cho hoạt động đạo đức của nhân cách bị hạn chế.
Vì vậy, nhân cách không có điều kiện phát triển một cách hoàn thiện. Từ khi đất
nước bước vào công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường với tính đặc thù của nó là thừa nhận tính hợp
lý và thỏa mãn lợi ích cá nhân đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển nhân cách
của con người. Trên mặt tích cực của mình, lợi ích cá nhân là “chất kích thích”
thôi thúc con người năng động, sáng tạo, tích cực hoạt động. Quá trình con người
tham gia và chủ động tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội để tạo điều kiện
cho sự phát triển toàn diện của nhân cách. Bởi, nhân cách chỉ có thể được xác
định đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các nhu cầu và lợi ích.
Hai là, sự hình thành và phát triển nhân cách bị quy định bởi
nhân tố văn hóa của xã hội.
Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc có tác động mạnh mẽ đến
sự hình thành những kiểu mẫu hành vi, đến sự đánh giá và những tình cảm đạo đức
trong sáng của nhân cách. Hiệu quả của giáo dục với tính cách một nhân tố phát
triển nhân cách phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng vận dụng những giá trị truyền
thống vào hoàn cảnh xã hội mới để phục vụ xã hội và bản thân mỗi cá nhân.
Văn hóa xã hội là tổng hòa của văn hóa cá nhân; tuy nhiên, đây
không phải là phép cộng đơn giản của tất cả văn hóa cá nhân, mà nó là sự kết
tinh những tinh hoa của nhiều thời đại, nhiều thế hệ đã qua. Mỗi cá nhân khi
sinh ra đã được sống, được tiếp nhận một hệ các giá trị, hệ các chuẩn mực của
văn hóa xã hội. Những giá trị, chuẩn mực này được phản ánh trong thế giới quan,
hệ thống tri thức xã hội, trong những chuẩn mực về pháp lý, đạo đức, thẩm mỹ...
Chúng ta không thể nói đến nhân cách của một đứa trẻ sơ sinh. Nhân cách của con
người được hình thành và phát triển trong môi trường văn hóa xã hội một cách
gián tiếp thông qua quá trình giáo dục và tự giáo dục.
Trong những yếu tố cấu thành nên văn hóa tinh thần xã hội thì thế
giới quan, những chuẩn mực pháp lý, thẩm mỹ, đạo đức... có vị trí quan trọng
trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Trong đó, thế giới quan có vị
trí đặc biệt trong cấu trúc nhân cách. Nó được cấu thành từ những yếu tố cơ bản
là tri thức, niềm tin, lý tưởng. Một thế giới quan đúng đắn là cơ sở quan trọng
nhất để xây dựng một nhân cách phát triển toàn diện. Nói cách khác, thế giới
quan giữ vai trò định hướng chung cho con người trong mọi hoạt động hiện thực của
họ. Trong xã hội có phân chia giai cấp, thế giới quan bao giờ cũng mang tính
giai cấp và phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định. Do vậy, khi được tiếp
nhận trong ý thức đạo đức cá nhân, nó khẳng định về mặt đạo đức lợi ích của
giai cấp mà nó phản ánh. Hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa
học và tiến bộ nhất. Bởi vì, ngoài sự phản ánh lợi ích của giai cấp vô sản, nó
đồng thời phản ánh lợi ích trong xu thế vận động tất yếu của xã hội loài người.
Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay không chỉ là
làm cho những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh được quán triệt cho mọi người, mà còn phải làm cho những nguyên tắc ấy trở
thành niềm tin, động lực thúc đẩy mọi hoạt động của họ. Với ý nghĩa ấy, chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là động lực
cho sự phát triển nhân cách.
Tuy nhiên, khi chúng ta nhấn mạnh tính quyết định xã hội của
nhân cách thì phải hiểu rằng đó là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Trong hiện thực
cuộc sống, sự hình thành và phát triển của nhân cách không diễn ra đơn giản
như vậy. ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, của môi trường xã hội, môi trường
giáo dục đối với nhân cách không phải là quá trình thuận một chiều, mà giữa
chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Khi nhân cách được hình thành, con
người trở thành chủ thể xã hội với bản chất là hoạt động sáng tạo, cải tạo thế
giới hiện thực. Con người lại không ngừng tạo ra những điều kiện môi trường xã
hội mới, tốt đẹp làm cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Đó
chính là quá trình cá nhân hóa xã hội trong mỗi chủ thể hoạt động mang nhân
cách. Với sức sáng tạo của tư duy trí tuệ và thông qua hàng loạt các hoạt động
trong thực tiễn, nhân cách của con người tự biểu hiện, tự khẳng định chính
mình. Là sản phẩm của tự nhiên, của lịch sử - xã hội, đến lượt mình, con người
lại tác động vào tự nhiên nhằm khai thác mọi tiềm năng tự nhiên phục vụ mục
đích và nhu cầu của mình, tái tạo nên “tự nhiên thứ hai” cho đời sống con người.
Là chủ thể sáng tạo, tự ý thức, tự giác hành động, bằng năng lực tuyệt đối và
riêng có là hoạt động thực tiễn, con người ngày càng nắm bắt được các quy luật
tự nhiên, quy luật xã hội, ngày càng có khả năng sáng tạo to lớn để cải tạo tự
nhiên và xã hội, làm nên lịch sử nhân loại. Đồng thời, thông qua quá trình đó,
con người cũng không ngừng cải tạo bản thân mình. Sự thành đạt của mỗi người có
tác động tích cực đến việc lành mạnh hóa môi trường xã hội. Sự thành đạt ấy
không chỉ tạo nên tâm lý tự tin, niềm kiêu hãnh trong mỗi chủ thể hoạt động, mà
còn mở rộng khả năng hiện có và tác động tích cực đến tinh thần phấn đấu của những
người xung quanh.
Xã hội hóa cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển nhân
cách không chỉ biểu hiện sự tác động một chiều, mà còn bao hàm cả quá trình cá
nhân hóa xã hội. Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng. Mối quan hệ này khẳng định
vai trò to lớn của sự tác động xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân
cách, đồng thời khẳng định vai trò chủ thể hoạt động cải tạo xã hội của con người.
NHỮNG
QUY LUẬT CHI PHỐI NHÂN CÁCH CON NGƯỜI
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường nghe những lời bàn tán có tính cách phê phán như: "Nhân cách của ông A thật là hoàn hảo" hay "Tư cách người đó không ra gì...." hoặc "Sống sa đoạ quá làm mất cả nhân cách" v.v... và v.v... Vậy nhân cách là cái gì? Thông thường, người ta giải nghĩa Nhân là người, Cách là tư cách, là phẩm chất, là giá trị, là tư cách làm người... Như vậy Nhân cách là một thứ giá trị, phẩm chất đạo đức của mỗi con người được xây dựng và hình thành trong suốt thời gian con người đó tồn tại trong xã hội.
SỰ THÀNH HÌNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRONG ĐỜI SỐNG THẾ GIAN
Theo Triết học Tây phương thì Nhân cách con người được thành
hình do hai yếu tố.
-
Yếu tố bên ngoài :
Môi trường gia đình, trường học, xã hội là những yếu tố bên ngoài, là
nguồn gốc trực tiếp cung cấp kiến thức và kinh nghiệm để hình thành Nhân cách của
một con người. Người ta thường nói người giàu kiến thức sẽ có Nhân cách tốt. Điều
này cũng không chắc. Vì ở đời có nhiều người kiến thức uyên thâm, địa vị cao
sang trong xã hội, mà cách ăn ở của họ rất là tệ bạc, như bất hiếu với cha mẹ,
coi thường vợ con, ăn chơi đàn điếm, khinh khi người nghèo khó, hiếp đáp kẻ thế
cô v.v... Những người như thế bị xem là người thiếu Nhân cách. Ngược lại cũng
có người không được cắp sách đến trường, sống đời nghèo khó, nhưng lại là người
ăn ở có đạo đức, sống ngay thẳng không luồn cúi, nịnh bợ... được xem là người
có Nhân cách cao thượng đáng quý. Cho nên Nhân cách con người còn tuỳ thuộc
thêm một yếu tố khác nữa. Đó là Yếu tố bên trong thuộc về sinh lý và tâm lý của
con người.
-
Yếu tố bên trong: Là bản tánh tích cực hay
tiêu cực của từng cá nhân. Cũng theo Triết học Tây phương, khi con người vừa mới
sinh ra đã có một "bộ gene" riêng của mình, rất hiếm người này giống
người kia cho dù là anh, hay chị em sanh đôi cũng có điểm khác nhau. Do vậy, mỗi
người có khí chất, tính tình và khả năng tư duy khác nhau. Cho nên con người dù
sống trong một thời đại, một xã hội cùng giai tầng, giai cấp, cùng một môi trường
giáo dục giống nhau, hay thậm chí cùng một gia đình nhưng mỗi người có phẩm chất
giá trị riêng của mình. Yếu tố bên trong này góp phần hình thành Nhân cách đặc
biệt riêng tư của mỗi cá nhân.
- Về mặt tích cực:
Người có Nhân cách tốt là người sống biết người biết ta, nhờ có kiến thức nên
biết ứng xử trong mọi tình huống, biết cách làm hài lòng người khác, luôn tạo
cho mình một trạng thái vui vẻ, biết lúc nào cần cố gắng, biết lúc nào nên
buông bỏ, biết phân biệt phải trái, thiện ác và đặc biệt là sống phải đạo, biết
khoan dung, hy sinh, độ lượng, quan tâm và thông cảm với mọi người. Người có
Nhân cách đạo đức cao quý này không những nêu gương tốt cho gia đình con cái
mình, mà còn là một công dân tốt đối với nhân quần xã hội. Có người sau khi mất
đi còn được sử sách ghi chép lại để làm gương cho những thế hệ sau này.
-
Về mặt tiêu cực: Con người dù Nhân cách tốt cách mấy
cũng không tránh được trạng thái hỷ, nộ, ái, ố... khi gặp chuyện. Vì thế Nhân
cách con người cũng có lúc đổi thay, nhất là khi gặp những thất bại trong đời sống
như công việc làm ăn thua lỗ, gặp chuyện buồn phiền trong gia đình, con cái hư
hỏng phạm pháp tù tội, gặp nạn phân ly chia cắt với người thân yêu, chịu nhiều
khổ đau hết lần này sang lần khác... Do đó, Nhân cách con người cũng có thể từ
tốt chuyển thành xấu. Hơn nữa tư cách con người cũng thay đổi tuỳ theo môi trường
sống bên ngoài. Nếu sanh ra và lớn lên trong một xã hội đồi truỵ thì Nhân cách
con người cũng đồi truỵ theo, vì xung quanh mình ai cũng thế.
Nhìn chung, sống ở thế gian này, người có Nhân cách tốt cũng nhiều mà thiếu Nhân cách cũng không phải là ít. Cuộc sống thì lúc nào cũng thay đổi, khi vầy khi khác. Cho nên muốn giữ Nhân Cách là phải giữ suốt đời, nếu không thì những cám dỗ đam mê ngoài xã hội (tài, sắc, danh, thực, thuỳ) sẽ lôi kéo và nhận chìm mình vào hố sâu tội lỗi, khiến cho mình mất đi cái Nhân cách cao quý mà mình đã dày công xây dựng.
PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ
1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.
Hiện tượng tâm lí là gì?
Khi ta nhìn, quan sát thấy một sự vật hiện tượng, biểu
tượng đó xuất hiện trong đầu của chúng ta. Đó chính là biểu tượng
tâm lí.
Khi chúng ta vui hoặc buồn, trạng thái vui hay buồn đó
cũng là tâm lí.
Khi chúng ta suy nghĩ và đưa ra một nhận định, đánh giá
nào đó, những nhận định đánh giá của chúng ta cũng là các hiện
tượng tâm lí.
Lại nữa, có những cái không diễn ra tức thời như quá
trình suy nghĩ hay như trạng thái vui, buồn mà nó chỉ là những cái
khái quát từ các hiện tượng tâm lí khác. Ví dụ, khi ta nói yêu lao
động thì chúng ta đã đề cập đến một nét tính cách của con người.
Đối với một con người như vậy họ rất trân trọng, quý trọng sản phẩm
của lao động.
Trong ngôn ngữ Việt, bên cạnh thuật ngữ tâm lí còn có
thuật ngữ tâm hồn. Đôi khi người ta tách chữ tâm riêng, chữ hồn riêng.
Trong Từ điển tiếng Việt (1988), tâm hồn được định nghĩa là ý nghĩ
và tình cảm, làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của mỗi
con người.
Các hiện tượng tâm lí, tâm hồn của con người đều có
nguồn gốc từ bên ngoài, là sự phản ánh thế giới khách quan. Thế
giới vật chất được chuyển vào não, dưới các dạng biểu tượng, hình
ảnh đó không dừng lại ở mức độ xơ cứng, bất biến. Nhờ có các giác
quan, chúng ta có được những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng
của thế giới khách quan. Từ vô số các hình ảnh, biểu tượng về
những ngôi nhà có thực, trong óc con người dần khái quát hoá, thu
gọn tất cả những biểu tượng đó vào một khái niệm: nhà. Chính ngôn
ngữ đã giúp cho khả năng nhận biết của con người về thế giới bên
ngoài tăng lên một cách đột phá.
Cũng nhờ có ngôn ngữ, tư duy của con người đã chuyển
sang một bước ngoặt vĩ đại: từ tư duy bằng tay con người chuyển sang
tư duy bằng khái niệm. Nhờ có tư duy bằng khái niệm, con người đã có
khả năng “nhìn” sâu vào những cái mà bằng mắt thường không thể nhìn
thấy. Bằng mắt, con người không thể nào nhìn thấy đường đi của hạt
ánh sáng song bằng tư duy thì có thể.
Như vậy có thế nhận thấy các hiện tượng tâm lí-thế
giới nội tâm của con người, mặc dù là sự phản ánh thế giớ bên
ngoài song nó là các hiện tượng tinh thần. Thế giới tinh thần này
cũng có những cơ chế, quy luật hoạt động cho riêng mình. Bản thân nó
có cấu trúc phức tạp. Để có thể nghiên cứu sâu hơn các hiện tượng
tâm lí, người ta phân chia chúng thành các lớp hiện tượng khác nhau.
1.2.
Các cách phân loại
- Phân chia thành ý thức và vô thức
- Căn cứ vào thờ gián tồn tại:
+ Quá trình
+ Trạng thái
+ Thuộc tính
2.
CÁC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
2.1. Nhận thức cảm tính
2.1.1. Khái niệm
Mỗi sự vật, hiện tượng quanh ta đều được thể hiện ra
bên ngoài hàng loạt các đặc điểm
như màu sắc(xanh, đỏ...), trọng lượng (nặng, nhẹ...), khối lượng (to,
nhỏ...). Chúng ta biết được những thuộc tính đó là nhờ bộ não.
Biểu tượng của những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi
sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào ta được gọi là các
biểu tượng nhận thức cảm tính. Quá trình chúng ta nhận biết được
các thuộc tính đó là quá trình nhận thức cảm tính.
Ví dụ: khi ta nhắm mắt, người bạn đặt vào lòng bàn tay
ta một vật gì đó. Nếu không sờ mó, nắm ,bóp, ta chỉ có thể cảm
nhận được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh.
Chúng ta đang quan sát ngôi nhà. Trong đầu chúng ta khi đó
xuất hiện hình ảnh ngôi nhà.
Chúng ta có cảm giác nóng, lạnh, trong đầu có hình ảnh
ngôi nhà…đó chính là biểu tượng
nhận thức cảm tính. Khi chúng ta đang cảm thấy nóng hoặc khi chúng ta
đang nhìn ngôi nhà thì đó là quá trình nhận thức cảm tính.
Đặc điểm chung nhất của nhận thức cảm tính là chỉ
phản ánh được những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi
sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan chúng ta.
Nhận thức cảm tính bao gồm
2 quá trình chính là cảm giác và tri giác.
2.1.2.
Cảm giác
2.1.2.1.
Khái niệm
Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính
riêng lẻ của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác
quan của ta.
Cảm giác là hình thức phản ánh tâm lí, sơ đẳng, đơn
giản nhất. Biểu tượng của nó chỉ là những thuộc tính riêng rẽ của
sự vật. Tuy nhiên nó lại đóng vai trò khởi đầu cho các quá trình tâm
lí khác như tưởng tượng, tư duy, trí nhớ…Cảm giác cũng là khâu đầu
tiên trong sự nhận thức hiện thực khách quan của con người.
2.1.2.2.
Các loại cảm giác.
Cảm giác bên ngoài
- Cảm giác nhìn (thị giác) cho chúng ta biết thuộc tính
ánh sáng, mầu sắc, kích thước của đối tượng.
- Cảm giác nghe (thính giác) cho chúng ta biết những
thuộc tính của âm thanh.
- Cảm giác ngửi (khứu giác) giúp con người nhận biết
được mùi
- Cảm giác nếm (vị giác) giúp chúng ta nhận biết các
loại vị: mặn, nhạt, đắng, cay…
- Cảm giác da: (mạc giác) cho ta biết về nhiệt độ, va chạm.
Cảm giác bên trong:
- Cảm giác vận động
- Cảm giác thăng bằng
- Cảm giác nội tạng.
2.1.2.3.
Các quy luật cơ bản của cảm giác.
● Quy luật ngưỡng cảm giác (Quy luật về tính nhạy cảm)
Muốn có cảm giác thì phải có kích thích. Tuy nhiên
cường độ kích thích phải đạt đến độ nhất định mới có thể gây ra
được cảm giác. Mức độ đó được gọi là ngưỡng cảm giác.
Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu của kích thích
để có thể gây ra được cảm giác.
Quy luật này còn gọi là quy luật về tính nhạy cảm bởi
lẽ khi nói đến tính nhạy cảm cao thì điều đó có nghĩa là chỉ cần
cường độ kích thích nhỏ nhưng đã có thể có cảm giác. Ví dụ, người
ta nói một người nào đó có đôi tai rất thính có nghĩa là với âm
thanh khá nhỏ, trong khi người khác chưa nghe thấy thì người đó đã
nghe thấy. Như vậy độ nhạy cảm càng cao thì có nghĩa là ngưỡng cảm
giác càng thấp.
Điểm đáng lưu ý ở đây là khi chúng ta nói đến ngưỡng
cảm giác là chúng ta đề cập đến đại lượng vật lí, ví dụ như cường
độ âm thanh, trọng lượng…còn khi ta nói độ nhạy cảm thì đó lại là
“đại lượng” tâm lí. Do không đo được trực tiếp độ nhạy cảm của giác
quan nên người ta phải đo nó một cách gián tiếp, thông qua việc đo các
kích thích vật lí bên ngoài.
● Quy luật thích ứng cảm giác
Để phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh,
cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích.
Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm
giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích : khi
cường độ kích thích tăng thì độ
nhạy cảm giảm và ngược lại, độ nhạy cảm tăng khi cường độ kích
thích giảm. Ví dụ, khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích mạnh),
di vào chỗ tối (cường độ kích thích yếu) thì lúc đầu ta không nhìn
thấy gì, sau đó dần dần mới nhìn rõ mọi vật. Điều này là do độ
nhạy cảm tăng dần.
Tất cả các giác quan đều tuân theo quy luật thích ứng.
Tuy nhiên mức độ khác nhau. Cảm giác thị giác có khả năng thích ứng
cao. Trong bóng tối tuyệt đối, độ nhạy cảm với ánh sáng tăng gần
200.000 lần sau 40 phút. Bên cạnh đó, cảm giác đau hầu như không thích
ứng.
Khả năng thích ứng của cảm giác cũng có thể được phát
triển do rèn luyện. Ví dụ, công nhân luyện kim có thể chịu đựng được
nhiệt độ cao tới 500 – 600C trong hàng giờ đồng hồ.
● Quy luật tác động lẫn nhau của cảm giác
Các cảm giác không tồn tại độc lập mà luôn tác động
qua lại lẫn nhau. Do sự tác động qua lại như vậy, tính nhạy cảm của
cảm giác bị thay đổi. Kích thích yếu lên cơ quan phân tích này lại
làm tăng độ nhạy cảm của giác quan kia. Ngược lại, tác động mạnh lên
giác quan này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan phân tích khác.
Ví dụ, khi nghe nhạc, có ánh sáng mầu kèm theo thì các
bản nhạc cũng được cảm nhận rõ nét hơn.
2.1.3.
Tri giác
2.1.3.1.
Khái niệm
Tri giác là một quá trình tâm lí nhận thức cảm tính,
phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật,
hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan ta.
Cũng giống với cảm giác, tri giác là một quá trình
nhận thức cảm tính.
- Là một quá trình vì có khởi đầu, diễn biến và kết
thúc.
- Là quá trình nhận thức vì biểu tượng tri giác giúp
cho con người nhận biết được hiện thực khách quan bên ngoài.
- Là cảm tính vì chỉ gọi là biểu tượng tri giác khi
sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan.
Tuy nhiên biểu tượng tri giác là là một hình ảnh trọn
vẹn về sự vật, hiện tượng. Biểu tượng này được cấu thành từ các
cảm giác. Ví dụ hình ảnh ngôi nhà mà chúng ta đang nhìn thấy bao
gồm những cảm giác khác nhau về mầu sắc, kích thước. Lẽ đương nhiên
đó không phải là một tổng số học mà là một tổng thể các cảm
giác.
2.1.3.2.
Các loại tri giác
- Tri giác không gian: tri giác không gian giúp chúng ta
nhận biết được kích thước, hình dạng, khoảng cách, phương hướng của
đối tượng.
- Tri giác thời gian: tri giác thời gian là sự phản ánh
độ lâu, vân tốc và tính kế tục của các hiện tượng.
- Tri giác vận động: phản ánh những thay đổi về vị trí
của các sự vật trong không gian.
Ngoài cách phân loại theo đối tượng tri giác như trên còn
có cách phân loại theo giác quan. Theo cách phân loại này, chúng ta có
các loại tri giác: thị giác, thính giác, khức giác…
2.1.3.3.
Các quy luật cơ bản của tri giác
● Quy luật về tính đối tượng của tri giác
Hình ảnh mà tri giác đem lại bao giờ cũng là biểu
tượng của một sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới bên ngoài.
Tính đối tượng của tri giác nói lên cái mà tri giác đem lại. Trong
quy luật này đã hàm chứa tính chân thực của tri giác.
1.3.3.2.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:
Tri giác không thể phản ánh được toàn bộ những kích
thích đang tác động lên giác quan của con người ở tại một thời điểm.
Do vậy để tri giác, con người phải tách đối tượng ra khỏi bối cảnh.
Sự lựa chọn của tri giác cũng không mang tính cố định.
Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài cũng như bên trong của chủ
thể.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được ứng dụng
nhiều trong thực tiễn: kiến trúc, quảng cáo, quân sự (nguỵ trang),
trong giáo dục và dạy học.
● Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác:
Tri giác của con người gắn chặt với tư duy, với bản
chất của sự vật, hiện tượng. Chính vì lẽ đó, biểu tượng tri giác
cho phép chúng ta gọi tên được sự vật hiện tượng, có thể xắp xếp
chúng vào một nhóm, lớp nhất định.
● Quy luật về tính ổn định của tri giác:
Tính ổn định của tri giác thể hiện ở chỗ trong các
điều kiện khác nhau nhưng nội dung của biểu tượng tri giác vẫn không
thay đổi. Ngôi nhà, dù có cách xa chúng ta hàng ngàn mét và hình
ảnh của nó trên võng mạc nhỏ hơn hình ảnh của một người đang đứng
trước mặt chúng ta thì ngôi nhà vẫn được tiếp nhận to hơn so với con
người. Sự ổn định tri giác còn thể hiện ở cả về mầu sắc, kích
thước...
● Quy luật tổng giác:
Quy luật này thể hiện ở chỗ nội dung các biểu tượng
tri giác còn phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lí của chủ thể:
thái độ, nhu cầu, cảm xúc, động cơ...(Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ – Nguyễn Du).
●Tri giác nhầm
Trong một số trường hợp, hình ảnh của tri giác không
phù hợp với thực tại. Cần phân biệt tri giác nhầm với ảo giác. Tri
giác nhầm là quá trình chúng ta vẫn đang tri giác (sự vật, hiện
tượng vẫn đang tác động vào giác quan) song biểu tượng tri giác không
tương xứng với thực tiễn. Ví dụ, khi ta nhìn cái thìa đang để trong
nửa cốc nước, ta thấy như cái thìa bị gãy ở chỗ mặt nước. Hoặc
các ví dụ trong hình…ảo giác là hiện tượng con người vẫn “nhìn”
thấy, ví dụ, nhìn thấy rắn rết bò đầy trên giường nhưng thực tế
không có, nghe thấy tiếng nói nhưng xung quanh không có ai. Tri giác
nhầm là hiện tượng bình thường còn ảo giác là hiện tượng bệnh lí.
Cảm giác và tri giác đều là quá trình nhận thức cảm tính. Trong
thực tế, khi chúng ta quan sát sự vật hiện tượng thì sự xuất hiện
của cảm giác và tri giác là đan xen nhau, có thể cái này xuất hiện
trước cái kia. Ví dụ, “bắt mắt” là mầu đỏ, sau đó chúng ta mới quan
sát tổng thể ngôi nhà. Cũng có thể hình ảnh ngôi nhà xuất hiện
trước, sau đó với xuất hiện các cảm giác.
2.2.
Tư duy
2.2.1.
Tư duy là gì?
Cảm giác, tri giác đã giúp cho con người nhận biết được
các của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên đó mới chỉ là các đặc điểm
bên ngoài. Để nhận biết được cái bên trong, cái cốt lõi của các sự
vật hiện tượng đó, con người cần đến tư duy.
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc
tính bản chất, những liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật
hiện tượng khách quan mà trước đó ta chưa biết.
2.2.2.
Các đặc điểm tư duy
-Tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề
Hoàn cảnh có vấn đề có thể là một bài toán, một
nhiệm vụ cần phải giải quyết…Cùng một hoàn cảnh song đối với người
này là hoàn cảnh có vấn đề nhưng đối với người khác lại không. Như
vậy hoàn cảnh có vấn đề là hoàn cảnh kích thích con người suy
nghĩ.
-Tính gián tiếp của tư duy
Tư duy nhận biết được bản chất của sự vật hiện tượng
nhờ sử dụng công cụ (các dụng cụ đo đạc, máy móc…); các kết quả
cả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật…). Tính gián tiếp của tư
duy còn thể hiện ở chỗ nó được thể hiện thông qua ngôn ngữ.
- Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:
Tư duy phản ánh cái bản chất, cái chung nhất cho một
loại, một lớp hiện tượng sự và khái quát chung bởi khái niệm. Nhờ
có tư duy, con người có thể đi sâu vào đối tượng, cho phép họ nhận
thức được những vấn đề mà cảm giác, tri giác không tiếp cận được.
- Tư duy liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ
Tư duy trừu tượng không thể tồn tại nếu không có ngôn
ngữ. Nhờ có ngôn ngữ, tư duy có được tính khái quát và gián tiếp.
Cũng nhờ có ngôn ngữ, những sản phẩm của tư duy mới được truyền đạt
cho người khác. Trong lâm sàng tâm thần, ngôn ngữ dược coi là hình
thức của tư duy và việc phân loại các rối loạn hình thức tư duy được
trên ngôn ngữ.
- Tư duy liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính thu thập tư liệu. Các biểu tượng
của nhận thức cảm tính là nguyên liệu cho tư duy. Tư duy phát triển
cũng giúp định hướng nhận thức
cảm tính.
2.2.3.
Các thao tác tư duy
- So sánh
Dùng trí óc đối chiếu các đối tượng hoặc những thuộc
tính, bộ phận ...để xem xét sự giống nhau hay khác nhau, đồng nhất
hay không đồng nhất.
So sánh là cơ sở của mọi hiểu biết và của tư duy.
Chúng ta nhận biết thế giới không ngoài cách thông qua so sánh và phân
biệt với một vật gì khác thì chúng ta không thể có ý niệm nào và
không thể nói lên một điểm nào về sự vật đó cả.
- Phân tích và tổng hợp
Phân tích: dùng óc phân chia đối tượng thành bộ phận,
thuộc tính, quan hệ.
Tổng hợp: kết hợp những đối tượng, thuộc tính quan hệ
v.v.. thành tổng thể
- Trừu tượng hoá và khái quát hoá
Trừu tượng hoá: gạt bỏ những bộ phận, thuộc tính, quan
hệ thứ yếu, chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết của đối tượng để
tư duy.
Khái quát hoá là dùng trí óc bao quat nhiều đối tượng
khác nhau trên cơ sở một số thuộc tính, quan hệ, bộ phận giống nhau
sau khi đã gạt bỏ những điểm khác nhau.
Khái quát hoá là loại tổng hợp mới sau khi đã trừu
tượng hoá
Trong tư duy, các thao tác được thực hiện theo một hệ
thống nhất định
2.2.4.Các loại tư duy
2.2.4.1. Theo lịch sử hình thành
- Tư duy trực quan-hành động:
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được
thực hiện nhờ sự cải tổ các tình huống bằng các hành động vận
động có thể quan sát được. Loại tư duy này có ở cả động vật cao
cấp.
- Tư duy trực quan-hình ảnh:
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ
được thực hiện bằng sự cải tổ tình huống chỉ trên bình diện hình
ảnh mà thôi. Loại này đã phát triển mạnh ở tre nhỏ.
- Tư duy trừu tượng:
Loại tư duy được thực hiện trên cơ sở sử dụng các khái
niệm, kết caúu logic, được tồn tại trên cơ sở tiếng nói.
Ba loại tư duy trên tạo thành các giai đoạn của phát
triển tư duy trong quá trình phát sinh chủng loại và cá thể.
2.2.4.2. Theo hình thức biểu hiện của vấn đề (nhiệm vụ)
và phương thức giải quyết vấn đề
- Tư duy thực hành:
Tư duy thực hành là loại tư duy mà nhiệm vụ của nó
được đề ra một cách trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương thức
giải quyết là những hành động thực hành. Ví dụ, tư duy của người
thợ sửa xe hơi khi xe hỏng.
- Tư duy hình ảnh cụ thể:
Đây là loại tư duy mà nhiệm vụ của nó được đề ra dưới
hình thức một hình ảnh cụ thể và sự giải quyết nhiệm vụ cũng
được dựa trên những hình ảnh đã có. Ví dụ, suy nghĩ xem từ trường
về nhà đi đường nào là tối ưu cho xe máy.
- Tư duy lí luận:
Đó là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra dưới hình thức lí luận và
việc giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi phải sử dụng hệ thống khái
niệm trừu tượng, những tri thức lí luận. Ví dụ giải quyết các bài
toán về kinh doanh.
2.3. Ngôn ngữ
Mặc dù ngôn ngữ không phải hoàn toàn là quá trình nhận
thức song nó gắn bó một cách mật thiết với tư duy nên chúng ta đề
cập sâu thêm về hiện tượng tâm lí này cũng là nhằm hiểu sâu sắc
hơn lĩnh vực nhận thức.
2.3.1. Khái niệm về ngôn ngữ
Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho
người khác và sử dụng kinh nghiệm của ngươì khác vào hoạt động của
mình nhờ có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội – lịch sử . Do sống và
hoạt động cùng nhau nên con người có nhu cầu giao tiếp.
Nói một cách chung nhất, ngôn ngữ là một hệ thống kí
hiệu từ ngữ.
Ngôn ngữ - hệ thống kí hiệu từ ngữ gồm 3 bộ phận:
- Ngữ âm
- Từ vựng
- Ngữ pháp – hệ thống các quy tắc thành lập từ, cấu
thành câu (từ pháp và cú pháp), sự phát âm (âm pháp).
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu,
ngữ đoạn, văn bản...
2.2.3.2. Các chức năng của ngôn ngữ.
- Chức năng chỉ nghĩa:
Ngôn ngữ để chỉ chính sự vật, hiện tượng, tức là thay
thế chúng. Nói một cách khác, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng có
thể được khách quan hoá lần nữa và có thể di chuyển đi nơi khác,
làm cho con người có thể nhận thức được chúng ngay cả khi chúng không
xuất hiện trước mặt.
Chức năng chỉ nghĩa còn được gọi là chức năng làm
phương tiện tồn tại, truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội -
lịch sử loài người
Ngôn ngữ khác hẳn với những tiếng kêu của động vật. Về
bản chất, động vật không có ngôn ngữ.
- Chức năng thông báo:
Ngôn ngữ được dùng để truyền đạt, tiếp nhận thông tin,
để biểu cảm và nhờ đó, điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động của con
người.
Chức năng thông báo của ngôn ngữ còn được gọi là chức
năng giao tiếp.
- Chức năng khái quát hoá:
Ngôn ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượng riêng rẽ mà
cả một loại, lớp có chung một/một số thuộc tính: phạm trù, khái
niệm, thuật ngữ...Nhờ vậy nó là phương tiện đắc lực cho hoạt động
trí tuệ.
Ngôn ngữ vừa là công cụ tồn tại của hoạt động trí
tuệ, vừa là phương tiện lưu lại kết quả của hoạt động này. Do vậy
hoạt động trí tuệ không bị gián đoạn, không bị lặp lại và có cơ sở
cho sự phát triển tiếp theo.
Chức năng khái quát hoá của ngôn ngữ còn gọi là chức
năng nhận thức hay chức năng làm
công cụ hoạt động trí tuệ.
Trong 3 chức năng của ngôn ngữ kể trên, chức năng giao tiếp là chức
năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá trình giao tiếp, con người mới lĩnh
hội được tri thức về hiện thực, điều chỉnh hành vi của mình cho phù
hợp với hoàn cảnh sống. Về thực chất, chức năng nhận thức cũng là
quá trình giao tiếp, ở đây là giao tiếp với chính bản thân mình. Còn
chức năng chỉ nghĩa chỉ là điều kiện để thực hiện hai chức năng kia.
2.3.3.
Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức
Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức cảm tính.
- Đối với cảm giác: ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng cảm
giác.
- Đối với tri giác: làm cho quá trình tri giác dễ dàng
hơn, đặc biệt trong quan sát.
- Đối với trí nhớ:
Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lí tính.
Gắn bó rất mật thiết với tư duy. ở người trưởng thành,
tư duy và ngôn ngữ không tách rời nhau.
Ngôn ngữ là phương tiện để truyền tải tư duy.
2.4.
Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và lí tính.
+ Nhận thức của con người bắt đầu từ nhận thức cảm
tính.
+ Các biểu tượng nhận thức cảm tính được trí nhớ lưu
giữ lại.
+ Nhiều biểu tượng cùng loại với nhau được “cô đặc” lại
vào từ.
+ Các từ, khái niệm (hoặc cũng có thể các biểu tượng
cảm tính) được sử dụng cho tư duy: giải quyết một nhiệm vụ nào đó.
+ Biểu tượng cảm tính càng phong phú thì hệ thống khái
niệm cũng phong phú theo và là điều kiện tốt cho tư duy.
+Tư duy, ngôn ngữ phát triển nó sẽ định hướng, lựa
chọn, hỗ trợ đắc lực (cùng với cảm xúc, tình cảm) cho nhận thức
cảm tính.
3.
ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM
3.1.
Khái niệm
Trong đời sống cũng như trong các tài liệu tâm lí học,
thuật ngữ tình cảm được sử dụng theo 2 nghĩa:
- Lĩnh vực đời sống tình cảm của con người.
-Thuộc tính nhân cách: tình yêu, lòng thù hận...
Lĩnh vực đời sống tình cảm của con người cũng là một
chỉnh thể, bao gồm từ mức độ thấp như các rung động cho đến cảm xúc
và phức tạp nhất là tình cảm. Để dễ phân biệt, thay vì gọi đời
sống tình cảm, người ta thường dùng cụm từ cảm xúc, tình cảm.
Mọi hoạt động của con người đều nhằm thoả mãn những
nhu cầu nhất định. Nếu thoả mãn nhu cầu, con người cảm thấy khoan
khoái, dễ chịu. Trái lại, nếu không được thoả mãn nhu cầu, con người
cảm thấy khó chịu, bực bội, chán nản. Toàn bộ những hiện tượng:
vui sướng, bực bội, chán nản…là các hiện tượng cảm xúc.
Cảm xúc, tình cảm là những hiện tượng tâm lí phản ánh
mối quan hệ của sự vật hiện tượng có liên quan tới sự thoả mãn nhu
cầu của chủ thể.
- So sánh tình cảm và nhận thức:
-Cơ sở sinh lí của cảm xúc:
Có thể nói ở góc độ sinh lí, cảm xúc được điều hành
và kiểm soát bởi 2 cơ chế: thần kinh và thể dịch. Sự gắn bó chặt
chẽ này là cơ sở cho nhiều nghiên cứu đo các phản ứng cảm xúc gián
tiếp qua các chỉ số sinh lí (xem thêm trong giáo trình).
- Phân biệt cảm xúc và tình cảm:
3.2.
Các mức độ của tình cảm.
3.2.1.
Sắc thái cảm xúc của cảm giác
Đây là mức độ thấp nhất của phản ánh cảm xúc, đi kèm
theo cảm giác. Ví dụ, mầu xanh lá cây thường gây ra trạng thái khoan
khoái, nhẹ nhõm; mầu đỏ kèm theo một cảm xúc rạo rực, nhức nhối.
Trong tiếng Việt: đỏ lòm, xanh lè, inh tai, nhức
óc...nói lên sắc thái cảm xúc của cảm giác.
Sắc thái cảm xúc: thoáng qua, không mạnh mẽ, mang tính
chất rất cụ thể, gắn liền với cảm giác nhất định và không được
chủ thể ý thức một cách rõ ràng, đầy đủ.
3.2.2.
Rung cảm
Là những cảm xúc ban đầu, có cường độ thấp, chưa biểu
lộ rõ net ra bên ngoài. Những rung cảm thường thoáng qua, không rõ
nét và dễ mất đi, không đẻ lại
dấu vết gì: buồn thoảng qua, vui thoảng qua...
3.2.3.Cảm
xúc
Đây là mức độ phản ánh cao hơn, thường là sự thể hiện
cụ thể, trực tiếp một tình cảm nào đó.
Cảm xúc có những đặc điểm: xẩy ra nhanh, mạnh, rõ rệt
hơn so với mầu sắc của cảm xúc, được chủ thể ý thức rõ nét hơn.
Trong cảm xúc cũng có một số dạng đặc biệt:
+ Xúc động: Xúc động là dạng cảm xúc có cường độ
mạnh, xảy ra trong thời gian ngắn, chủ thể vẫn ý thức được song khó
có khả năng làm chủ được hành vi của mình ( Cả giận mất khôn –
thành ngữ).
+ Tâm trạng: Tâm trạng là một dạng cảm xúc diễn ra trong
một thời gian dài, cường độ thể hiện yếu, nhiều khi chủ thể không ý
thức được nguyên nhân:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. (Xuân Diệu)
Tâm trạng là một trạng thái tâm lí (cụ thể ở đây là
cảm xúc), làm nền cho các hoạt động của con người và ảnh hưởng rõ
rệt đến toàn bộ hành vi của chủ thể...
Trạng thái stress cũng là một trạng thái đặc biệt của
cảm xúc. Nó được xem ở góc độ là sự đáp ứng (cả về sinh lí, tâm
lí và hành vi) của chủ thể đối với những tác động/ tình huống gây
stress. Trạng thái stress có thể ảnh hưởng tốt hoặc không tốt đến
các hoạt động của con người.
3.2.4.Tình
cảm:
Đó là thái độ ổn định của con người đối với hiện
thực xung quanh và đối với bản thân mình.
Tình cảm là thuộc tính của nhân cách. Nó có các đặc điểm:
ổn định, được ý thức rõ ràng.
Trong tình cảm có một dạng đặc biệt, có cường độ rất
mạnh, thời gian tồn tại khá lâu dài và được ý thức rõ ràng: sự say
mê. Có say mê tích cực nhưng cũng có say mê tiêu cực thường được gọi
là đam mê.
Con người có nhiều loại tình cảm khác nhau. Có thể phân
chia thành tình cảm cấp thấp và tình cảm cáp cao. Tình cảm cấp
thấp liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu sinh lí, tình cảm cấp cao liên
quan đến sự thoả mãn nhu cầu xã hội của người.
3.3.
Các loại tình cảm
3.3.1.Tình
cảm đạo đức
Tình cảm đạo đức là những tình cảm có liên quan đén
sự thoả mãn nhu cầu đạo đức của con người. Tình cảm đạo đức còn
là sự thể hiện thái độ của con người đối với người khác, đối với
xã hội và đối với tránh nhiệm xã hội của bản thân.
- Tình yêu tổ quốc, yêu quê hương, yêu ông bà cha mẹ...
3.3.2.
Tình cảm trí tuệ:
Tình cảm trí tuệ là những tình cảm nảy sinh trong quá
trình hoạt động trí óc. Nó liên quan đến nhận thức, sáng tạo, đén
sự thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người.
Tình cảm trí tuệ biểu hiện thái độ của con người đối
với các ý nghĩ, tư tưởng, các quá trình và kết quả hoạt động trí
tuệ . Đó là: Cự ham hiểu biết, ngạc nhiên, hoài nghi, tin tưởng...
3.3.3.
Tình cảm thẩm mĩ
Tình cảm thẩm mĩ là những tình cảm có liên quan đến
nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu về cái đẹp của con người. Tình cảm thẩm
mĩ biểu hiện thái độ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực ( tự
nhiên, xã hội, con người, lao động).
3.4.
Các quy luật của tình cảm
3.4.1.Quy
luật lây lan
Cảm xúc, tình cảm của người này có thể được truyền,
“lây” sang người khác: buồn lây, vui lây...
Tình cảm tập thể, tâm trạng tập thể, tâm trạng xã hội
được hình thành theo quy luật này.
3.4.2.
Quy luật thích ứng
Giống như cảm giác, cảm xúc, tình cảm cũng có hiện
tượng thích ứng, nghĩa là khi chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần
thì cường độ bị suy yếu và lắng xuống (chai dạn tình cảm). Hiện
tượng “xa thương, gần thường” là một trong những biểu hiện của quy
luật này.
3.4.3.Quy
luật tương phản (hay cảm ứng)
Đó là sự tác động qua lại giữa những cảm xúc trái
chiều nhau: những cảm xúc âm tính lại có thể làm tăng cường độ của
cảm xúc dương tính và ngược lại.
Cũng như trong cảm giác, quy luật tương phản của cảm
xúc, tình cảm diễn ra theo 2 góc độ: tương phản kế tiếp và tương
phản đồng thời.
43..4.
Quy luật di chuyển
Cảm xúc, tình cảm có thể được di chuyển từ đối tượng
này sang đối tượng khác:
Yêu em yêu cả đường đi lối về hoặc: “Giận cá chém
thớt; Vơ đũa cả nắm đều là những
biểu hiện của quy luật này.
3.4.5.
Quy luật pha trộn
Quy luật pha trộn thể hiện ở chỗ trong một loại tình
cảm cùng tồn tại những cảm xúc trái dấu với nhau. Chúng không những
không loại trừ nhau mà ngược lại, có thể còn diễn biến theo quy luật
tương phản. Những cảm xúc yêu thương và ghen tuông có thể cùng tồn
tại trong tình yêu. Không ít trường hợp càng yêu mãnh liệt, càng ghen
dữ dội.
3.4.6.
Quy luật về sự hình thành tình cảm
Tình cảm được hình thành theo con đường tổng hợp hoá
và khái quát hoá các cảm xúc cùng loại. Ví dụ, tình cảm của con
cái đối với cha mẹ là do các cảm xúc dương tính do cha mẹ đem lại
trong suốt quá trình lớn khôn của đứa trẻ tạo thành.
4.
HOẠT ĐỘNG VÀ NHÂN CÁCH
4.1. Hoạt động.
4.1.1. Khái niệm hoạt động
Khái niệm của triết học: Hoạt động là quan hệ biện
chứng của chủ thể với khách thể bao gồm:
- Quá trình khách thể hoá: chủ thể chuyển những đặc
điểm của mình vào đối tượng.
- Quá trình chủ thể hoá khách thể: chủ thể tiếp thu
những đặc điểm của khách thể vào năng lực của bản thân.
Khái niệm của Sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao
năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện
thực khách quan.
Tâm
lí học:
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng
cách tác động vào đối tượng, tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn những
nhu cầu (trực tiếp/gián tiếp) của bản thân và xã hội.
Hoạt động là sự thể hiện mối quan hệ của con người
với môi trường xung quanh.
Hoạt đông luôn nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định.
4.1.2.
Các loại hoạt động
+ Về phương diện cá thể, có thể chia thành các loại
hoạt động:
- Vui chơi
- Học tập
- Lao động.
+ Về phương diện sản phẩm, có thể chia thành:
- Hoạt động thực tiễn: tạo ra sản phẩm vật chất. Còn
gọi là hoạt động bên ngoài.
- Hoạt động lí luận; sản phẩm tinh thần. Còn gọi là
hoạt động bên trong.
Dạng hoạt động thứ nhất tác động vào sự vật nhằm
biến đổi sự vật.
Dạng hoạt động thứ hai không làm biến đổi vật thể tại
vật thể.
+ Cách chia khác
- Hoạt động biến đổi: dạng điển hình là lao động. Tuy
nhiên hoạt động biến đổi còn bao hàm cả biến đổi xã hội:
+ Hoạt động xã hội – chính trị
+ Hoạt động quản lí (xã hội, kimh tế, khoa học v.v.)
+ Hoạt động biến đổi con người.
- Hoạt động nhận thức: là một dạng hoạt động tinh
thần, không làm biến đổi các vật thể thực, quan hệ thực. Nó chỉ
phản ánh các sự vật, quan hệ bằng các biểu tượng, khái niệm, hình
ảnh...
Hoạt động nhận thức có cả ở mức độ kinh nghiệm thực
tiễn, có cả ở mức độ lí luận khoa học.
- Hoạt động định hướng giá trị.
Hoạt động định hướng giá trị là một dạng hoạt động
tinh thần, xác định ý nghĩa của thực tại đối với bản thân.
4.1.3.
Cấu trúc của hoạt động.
Theo các nhà tâm lí học mác xít, có thể phân tích hoạt động
thành các thành tố cấu thành:
Mỗi hoạt động của con người được thúc đẩy bởi một hay
một số động cơ. Đơn vị của hoạt động là hành động. Hành động nhằm
đạt được mục đích nhất định. Trong một hoàn cảnh cụ thể, hành động
được thực hiện bởi một loạt các thao tác. Kết quả cuối cùng là
sản phẩm của hoạt động.
Ví dụ, hoạt động học tập của sinh viên được thúc đẩy
bởi động cơ nghề nghiệp (và có thể có cả các động cơ cá nhân
khác). Hoạt động học tập được chia nhỏ thành các hành động nhằm
đạt được từng mục tiêu cụ thể trên đườc đi tới đích cuối cùng. Tuy
nhiên cũng cần lưu ý rằng cấu trúc của hoạt động là rất linh hoạt.
Việc phân biệt, ví dụ động cơ với mục đích cũng chỉ mang tính tương
đối mà thôi.
4.1.4.
Các loại nhu cầu của con người.
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu, khách quan, là sự cần
thiết về một cái gì đó cần được thỏa mãn. Chính mọi hoạt động
của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó nên các nhu cầu của con
người, được tập hợp lại trong một hệ thống nhất định, đóng vai trò là
động cơ thúc đẩy mọi hoạt động.
Nhu cầu của con người rất đa dạng. Tuy nhiên cũng có thể
chia thành 2 nhóm chính là nhu cầu (mang tính) sinh học và nhu cầu
(mang tính) xã hội. Hoặc cũng có thể chia thành nhu cầu vật chất và
nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu sinh học/sinh lí: là những nhu cầu cần để duy
trì sự tồn tại của cơ thể người. Ví dụ, nhu cầu về ăn, uống, nhu
cầu tình dục.
Nhu cầu vật chất: là những đòi hỏi về vật chất.
Nhu cầu tinh thần: rất đa dạng và phong phú. Đó là
những nhu cầu vè đạo đức, thẫm mĩ, nhu cầu về nhận thức và giao
tiếp, nhu cầu lao động cũng như các hoạt động xã hội.
Maslow, một nhà tâm lí học Mĩ xếp nhu cầu của con người
thành 5 bậc:
Một điều không kém phần quan trọng là khi xem xét hành
động/hành vi của con người, cần phải xem xét xem những hành động/
hoạt động đó do động cơ gì. Nói cách khác là cần quan tâm đến lĩnh
vực động cơ-nhu cầu của mỗi con người.
4.1.5.
Kĩ năng, kĩ xảo và thói quen.
+ Hành động tự động hoá:
Hành động tự động hoá là những hành động vốn lúc đầu
có sự kiểm soát mạnh mẽ của ý thức sau do lặp đi lặp lại nhiều
lần, trở thành tự động. Vai trò kiểm soát của ý thức đối với hành
động tự động hoá chỉ ở mức độ tối thiểu, công việc này chủ yếu
dành cho vô thức. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì bất thường,
ý thức lại dành quyền kiểm soát, điều hành hành động.
+ Kĩ năng và kĩ xảo:
Kĩ năng là khả năng vận dụng những tri thức vào thực
tiễn. Khi nào kĩ năng được luyện tập
thường xuyên trở thành tự động hoá, khi đó trở thành kĩ xảo.
+ Thói quen:
Thói quen là những hành động đã được tự động hoá và
trở thành nhu cầu của con người. Ví dụ, thói quen rửa tay trức khi ăn.
4.2.
Nhân cách
4.2.1.
Một số khái niệm
+ Con người: thực thể tự nhiên (động vật có vú) và là
thực thể xã hội ( chủ thể của các hoạt động cá nhân và xã hội).
Con người là một sáng tạo mới của lịch sử.
+ Cá nhân: đại diện cho loài người, bất kì một con
người nào tồn tại trong mỗi cộng đồng.
+ Cá tính: mỗi cá nhân khác nhau về thể tạng, kiểu
loại thần kinh cũng như về tính cách, nhu cầu, tình cảm...Những đặc
điểm riêng của cá nhân được bộc lộ trong các mối quan hệ, trong cuộc
sống theo kiểu riêng biệt, không trùng lặp với ai được gọi là cá
tính.
- Cá tính nói lên bản sắc cá nhân của mỗi con người.
+ Nhân cách
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính tâm lí
của mỗi cá nhân, biểu hiện bản sắc, giá trị xã hội của con người
đó. Theo tiếng Việt: nhân - người, cách -
cách thức, cách lối, cốt cách. Nhân cách: đó là cách thức,
cách lối làm người.
Nhân cách: cấu tạo tâm lí mới, có khả năng tự điều
chỉnh, có cấu trúc phức tạp.
4.2.2.
Cấu trúc của nhân cách
4.2.2.1.
Cấu trúc theo kiểu, loại
* Phân kiểu dựa theo khí chất ưu thế:
- Kiểu nhân cách nóng nảy.
Đây là nhân cách của người có kiểu thần kinh mạnh, không cân
bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế. Họ là những người nhanh thay đổi
khí sắ, yêu, ghét rõ ràng, bộc trực, thẳng thắn, dễ nổi nóng, chú
ý đến những cái lớn. Họ là người dễ có sáng kiến song kém bền bỉ
trong công việc.
- Kiểu nhân cách bình thản. Kiểu thần kinh của nhân cách
dạng này là mạnh, cân bằng, không linh hoạt. Các mối quan hệ của họ
khong rộng, hình thành chậm nhưng bền. Trong công việc họ chậm nhưng
chắc, có khả năng thực hiện công việc một cách bền bỉ.
- Kiểu nhân cách hăng hái, sôi nổi. Đây là kiểu nhân cách
tương ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt. Người có kiểu
nhân cách này là người hăng hái trong công việc, dễ thích nghi với
hoàn cảnh mới, các mối quan hệ rọng. Tuy nhiên tình cảm của họ
thường không sâu bền, dễ bắt tay vào công việc song cũng dễ rút lui.
- Kiểu nhân cách ưu tư. Cơ sở thần kinh của kiểu nhân
cách này là kiểu thần kinh yếu, ức chế mạnh hơn hưng phấn. Họ là
người nhạy cảm, tinh tế, dễ xúc động, các quyết định thường dựa trên
tình cảm. Quan hệ hẹp nhưng sâu và bền. Tuy nhiên họ thường khó thích
nghi với cái mới, nhút nhát và kém quyết đoán.
* Phân kiểu dựa theo mẫu hành vi ưu thế:
Hiện nay trong nhiều tài liệu tâm lí lâm sàng đề cập
đến cách phân kiểu nhân cách dựa vào mẫu hành vi nổi bật của
Friedman A. và Roseman:
+ Nhân cách týp A có 3 đặc điểm nổi bật là:
- Nhanh chóng trong hành động.
- Quan tâm đến nghề nghiệp rõ rệt
- Có tinh thần cạnh tranh
Những người này thường có tỉ lệ mắc bệnh động mạch
vành cao hơn (giao động từ 30%-70% tuỳ theo từng nghiên cứu) so với tỉ
lệ chung.
+ Nhân cách týp B có những đặc điểm nổi bật:
- Có thái độ rút lui trong hành động
- Thường hay thay đổi ý thích.
Kiểu A: người hăng hái, có tính ganh đua rất cao, kiểu B
ngược lại.
* Kiểu nhân cách hướng nội, hướng ngoại
+ Người hướng ngoại điển hình là người cởi mở, giao
tiếp rộng, có nhiều bạn, người quen. Họ hành động dưới ảnh hưởng
chốc lát, có tính chất xung động, vô tâm, lạc quan, thích vận động
và hành động. Tình cảm và cảm xúc của họ không được kiểm soát
chặt chẽ.
+ Người hướng nội điển hình là người điềm tĩnh, rụt
rè, nội quan, hay giữ kẽ, ít tiếp xúc, giao tiếp với mọi người, trừ
những bạn bè thân. Họ có khuynh hướng muốn hoạch định kế hoạch hành
động. Không thích sự kích động, làm công việc hàng ngày với tinh
thần nghiêm túc, thích trật tự, ngăn nắp. Kiểm soát chặt chẽ cảm
xúc tình cảm của mình, không dễ dàng buông thả.
4.2.2.2.
Cấu trúc ba khối: Cái Nó - Cái Tôi,
Siêu tôi:
Nhân cách, theo Freud, gồm 3 bộ phận, 3 "con
người" bé nhỏ: Cái Nó (Id); cái Tôi "Ego" và cái Siêu
tôi (Super Ego).
+ Cái Nó. Đây là con người của bản năng, đòi hỏi thoả
mãn mọi nhu cầu và phải thoả mãn ngay lập tức. Ví dụ, khi đói, con
người bản năng này thúc đẩy cơ thể phải có những hành động để thoả
mãn cái đói. Trong thành phần của Cái nó chỉ có vô thức.
+Cái Tôi- con người của hiện thực. Không thể thoả mãn
nhu cầu bằng mọi giá mà cần phải tính đến hoàn cảnh hiện thực.
Phần nhân cách Cái Tôi thực hiện các hoạt động chống lại Cái Nó
bằng cách giành quyền làm chủ các ham muốn, quyết định xem những
đòi hỏi ấy có thể được thoả mãn hay không? phải trì hoãn đến thời
điểm khác hay phải loại bỏ hoàn toàn? Freud đã ví Cái Nó như con ngựa,
thích chạy hướng nào tuỳ thích. Tuy nhiên cần phải có người kiểm
soát con ngựa đó. Cái tôi đóng vai trò kị sĩ để điều khiển con ngựa
Cái Nó.
Trong thành phần của mình, cái tôi chứa chủ yếu là ý
thức. Vô thức cũng có nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ.
Siêu tôi–con người xã hội. Con người sống trong xã hội
và cần phải thể hiện mình theo những yêu cầu về đạo đức, pháp
luật, những yêu cầu mà xã hội đòi hỏi. Cũng là đói, cũng là có
thức ăn song người ta đã dạy rằng có những “miếng ăn là miếng nhục”.
Trong một chừng mực nào đó, Siêu tôi còn được gọi là con người lí
tưởng bởi nó là bộ phận luôn thúc đẩy con người tới hoàn thiện.
4.2.2.3.
Cấu trúc yếu tố:
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong mỗi nhân cách có các
yếu tố khác nhau cấu thành khác nhau. Tuy nhiên số lượng yếu tố được
đưa ra lại không giống nhau.
+ Nhân cách bao gồm 4 nhóm thuộc tính chính. Mô hình nay
đang được đề cập nhiều trong các giáo trình tâm lí học trong nước:
- Xu hướng: Đó là hệ thống những động cơ, mục đích
thúc đẩy, quy định tính lựa chọn thái độ và tính tích cực của con
người. Xu hướng bao gồm một hệ thống các nhu cầu, hứng thú, niềm
tin, thế giới quan, lí tưởng tác động qua lại và liên hệ mật thiết
với nhau.
- Tính cách: hệ thống thái độ, hành vi của con người
đối với mọi người xung quanh, đối với xã hội và đối với bản thân.
- Khí chất: nói về động thái (cường độ, nhịp độ..)
của các hiện tượng tâm lí cá nhân.
- Năng lực: Hệ thống các khả năng đẩm bảo cho kết quả
của các hoạt động.
+ Nhân cách bao gồm 2 yếu tố chính: yếu tố hướng nội,
hướng ngoại và yếu tố tính ổn định thần kinh. Hai yếu tố này kết
hợp với nhau tạo nên kiểu nhân cách. Mô hình 2 yếu tố này về cơ bản,
tương thích với mô hình dựa theo khí chất.
+ Nhân cách bao gồm 16 yếu tố. Đây là mô hình do Cattell đề
xuất trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn.
+ Mô hình 5 yếu tố. Đây là mô hình đang được ưa dùng
hiện nay. Năm yếu tố gồm:
- Tính ổn định thần kinh: Lo âu, Thù địch, Trầm cảm, Tự
ý thức, Xung động, Tính dễ bị tổn thương.
- Tính hướng ngoại: Thân thiện, Thích giao thiệp, Tính
quyết đoán, Tích cực hoạt động, Tìm kiếm sự kích thích, Cảm xúc
tích cực.
- Tính mở đối với hiểu biết: Trí tưởng tượng, óc thẩm
mĩ, Nhạy cảm, Hành động, ý tưởng, Giá trị.
- Tính dễ chịu: Chân
thành, Thẳng thắn, Vị tha, Phục tùng, Khiêm tốn, Nhân hậu.
- Tính ý thức: Năng lực, Trật tự, Trách nhiệm, Nỗ lực
thành đạt, Tự giác, Thận trọng.
4.
2.2.4. Cấu trúc hai mặt Đức Tài.
Đây là mô hình truyền thống ở trong nước, các nhà tâm lí học đã đúc kết lại:
Các con đường hình thành nhân
cách.
Nhân cách con người không được sinh ra mà là được hình thành.
Trong quá trình hình thành nhân cách thì giáo dục, hoạt động, giao
tiếp và tập thể có vai trò quyết định và tạo ra những con đường cơ
bản nhất.
Giáo
dục
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của
nhân cách.
Giáo dục: toàn bộ các tác động sư phạm trực tiếp và
gián tiếp, trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Theo nghĩa
hẹp, giáo dục thường được hiểu là quá trình tác động tới thế hệ
trẻ về mặt tư tưởng, đạo đức, hành vi.
Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Giáo dục có thể đem lại những cái mà yếu tố bẩm sinh
– di truyền hoặc môi trường tự nhiên không thể đem lại được: học tập,
học nghề...
Giáo dục bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật.
Giáo dục có thể uốn nắn, điều chỉnh những phẩm chất
tâm lí xấu.
Giáo dục có thể đi trước hiện thực.
Hoạt
động.
Tâm lí được hình thành và thể hiện trong hoạt động:
thông qua hoạt động và bằng hoạt động, chủ thể thực hiện quá trình
kép – nhập tâm và xuất tâm. Bằng hoạt động và thông qua hoạt động con
người lĩnh hội cũng như truyền đạt kinh nghiệm xã hội - lịch sử.
Giao
tiếp:
Giao tiếp là điều kiện để con người thực hiên các hoạt
động cùng nhau, nhằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử.
Giao tiếp là con đường để loài người thực hiện di
truyền xã hội. Nhờ có giao tiếp, con người có thể nhận thức được
thế giới, nhận thức được chính bản thân.
Tập
thể:
Mọi sự giao tiếp của con người đều diễn ra trong nhóm. Các tổ chức, hoạt động của nhóm đều là điều kiện cho sự hình thành nhân cách của con người.
Bàn về “nhân cách”
Chú ý: Tất cả những nội dung dưới đây thể hiện quan điểm và tư
tưởng cá nhân của nhiều người , chứ không phải một sự khẳng định chân lý nào cả.Bởi
trong cuộc sống ta nhận thấy vai trò của nhân cách rất quan trong , cho nên ta
chủ động có nhữ hoạt động “hội thảo” với bạn bè mình cũng như trao đổi với nhiều
giai tầng khác trong cộng đồng ta sinh sống , tựu trung lại ta khái lược ghi lại
như sau để con cháu ta rộng đường đánh giá.
Trong những đánh giá về một con người, đôi khi chúng ta có thể
thấy sự xuất hiện của từ “nhân cách”. Chúng ta hay nói rằng nhân cách một con
người là “lớn lao”, “cao cả”, “vĩ đại”, hay ngược lại là “thấp kém”, “nhỏ bé”,
“xấu xa”. Chúng ta có thể cảm nhận lờ mờ được rằng dường như “nhân cách” là một
thứ gì đó đại diện cho giá trị của một con người ở một khía cạnh nào đó. Vậy thực
sự thì nhân cách là gì? Và nếu nhân cách là một thứ được dùng để đánh giá giá
trị của chúng ta, thì chúng ta có thể làm gì để nâng cao giá trị đó? Bài viết
dưới đây sẽ tập trung vào việc làm rõ khái niệm “nhân cách”, đồng thời nêu ra một
số suy nghĩ mà cá nhân tôi cho rằng mọi người chúng ta nên có đối với khái niệm
này.
1.
Nhân cách là gì?
Nhân cách là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, nguyên tắc, niềm
tin của một con người về chính bản thân mình, và còn có thể được gọi là “tư
cách làm người” hay “tính người” của người đó. Nhân cách là thứ trả lời cho những
câu hỏi như “tôi là ai”, “tôi đến từ đâu”, “tôi là người thế nào”, “tôi mong muốn
cái gì”, “tôi coi trọng cái gì”, “tôi tin vào cái gì”,… Tùy vào mức độ phát triển
mà nội dung của nhân cách có thể rất phong phú:từ việc ý thức được mình là một “con người”, hay ít nhất là một
“thực thể” tách biệt khỏi thế giới xung quanh, cho đến hiểu biết về những nhu cầu,
sở thích, ham muốn, tính cách của bản thân, và cuối cùng là những nội dung trừu
tượng như niềm tin, triết lý, đạo đức,… Ví dụ về từng khía cạnh riêng lẻ của
nhân cách có thể là “tôi là người Việt Nam”, “tôi thích đồ ngọt”, “tôi rất giỏi
ngoại ngữ”, “tôi muốn làm nghề dạy học”, “tôi coi trọng tự do tư tưởng”, “tôi
tin rằng lợi ích cá nhân nên được đặt lên trên hết”,…
Nhân cách là nguồn gốc và căn cứ sâu xa nhất của tất cả những
đánh giá và quyết định có ý thức của con người. Tất cả mọi đánh giá và quyết định
có ý thức của chúng ta đều có thể được truy gốc về một hay nhiều mặt của nhân
cách mỗi cá nhân. Những tiêu chuẩn và tiền đề “khách quan” mà người ta thường
nói tới như đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng, pháp luật, hay cả khoa học cũng
đều chỉ là một trong những yếu tố được sử dụng trong quá trình đưa ra đánh giá
hay quyết định. Trong quá trình đó, nhân cách mới là thứ có tiếng nói quyết định.
Trong tâm trí của chúng ta, Trái Đất hình tròn không phải vì khoa học bảo thế,
mà vì chúng ta lựa chọn việc tin vào điều đó, hoặc tin vào khoa học. Chúng ta
không giết người không phải vì pháp luật cấm đoán, mà vì chúng ta không muốn phạm
pháp, hoặc không muốn trở thành kẻ thù của xã hội. Một khi nhân cách đã đưa ra
quyết định trái ngược thì bao nhiêu đạo đức khoa học hay pháp luật quy tắc cũng
đều là đồ bỏ.
Cần chú ý rằng nhân cách khác với tính cách. Tính cách là một phần
của nhân cách và bao gồm các khuynh hướng của cảm xúc, thái độ và hành động được
thể hiện ra ngoài như xuề xòa, vui vẻ, hài hước, nóng nảy, khiêm tốn,… Trong
cùng một con người có thể có rất nhiều tính cách đa dạng, đôi khi là trái ngược,
cùng tồn tại. Việc tính cách nào được thể hiện ra bên ngoài sẽ tùy thuộc vào
hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp cụ thể. Một người có thể nhũn nhặn với cấp
trên nhưng lại nóng nảy với cấp dưới, nhút nhát ở chỗ đông người nhưng sôi nổi
khi bàn luận riêng. Những biểu hiện bên ngoài đó tuy có thể rất khác nhau nhưng
đều xuất phát từ một nhân cách trung tâm ở bên trong, và sự khác biệt nảy sinh
tùy vào hoàn cảnh là điều hoàn toàn bình thường và hợp lý. Có thể nói rằng,
tính cách là những vai diễn, người đời là khán giả, và người diễn viên đằng sau
những vai diễn đó, người quyết định sẽ đóng vai nào trong hoàn cảnh nào, chính
là nhân cách.
Nhân cách cũng khác với tri thức hay hiểu biết thông thường.
“Trái Đất (có thể) hình tròn” hay “Trái Đất (có thể) hình đĩa” đơn thuần chỉ là
những giả thuyết hay ý tưởng, tương đương với một mệnh đề logic chưa được chứng
minh, và bản thân chúng không mang thông tin gì cả. Khi chúng ta gắn cho những
giả thuyết đó một giá trị chân lý đúng/sai dựa trên một số tiền đề nhất định
thì chúng ta có thông tin, hay còn gọi là tri thức, tương đương với một khẳng định
logic. Và cuối cùng, nhân cách của một người sẽ là thứ quyết định việc người đó
tin hay không tin, tin ở mức độ nào, với điều kiện gì, gắn những giá trị và ý
nghĩa gì, và sử dụng như thế nào đối với một thông tin hay tri thức nhất định.
Nói cách khác, nhân cách là quan tòa tối cao, là bộ lọc cuối cùng đối với mọi
tri thức mà chúng ta tiếp nhận, đồng thời cũng là một trong những mắt xích kết
nối tri thức với những suy nghĩ, hành động và quyết định cụ thể của chúng ta.
2.
Nhân cách tự thân và tiêm nhiễm
Đối với một con người sống trong một xã hội, nhân cách có thể được
chia làm hai bộ phận: nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm. Nhân cách tự
thân là nhân cách được hình thành một cách tự nhiên và tự do, không có sự can
thiệp trực tiếp từ bên ngoài. Trái lại, nhân cách tiêm nhiễm là nhân cách có
nguồn gốc từ bên ngoài, hoặc phải phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Có thể nói rằng,
nhân cách tự thân thể hiện cho con người thực của chúng ta, còn nhân cách tiêm
nhiễm thường thể hiện cho một hình ảnh về chúng ta trong mắt người khác, hoặc
hình ảnh một người khác bên trong chúng ta. Do đến từ bên ngoài hoặc phụ thuộc
vào bên ngoài, nên nhân cách tiêm nhiễm thường mang lại cảm giác “xa xôi”, “bất
biến”, “hiển nhiên”, “không thể chống lại”. Trong khi đó, nhân cách tự thân là
thứ chúng ta cảm thấy hoàn toàn có thể và có quyền thêm bớt hay thay đổi theo ý
muốn, tuy rằng có thay đổi và thay đổi được hay không lại là chuyện khác.
Nhân cách tiêm nhiễm thường thấy nhất là những chuẩn mực văn hóa
và đạo đức của xã hội mà chúng ta đang sống. Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam từ
trước đến nay người phụ nữ thường được (bị) giáo dục từ bé rằng cần phải hiền
thục đảm đang, gánh vác việc nhà, hy sinh vì gia đình,… Rất nhiều người trong số
đó khi lớn lên coi điều này là một chân lý hiển nhiên, hoặc ít nhất cảm thấy một
áp lực vô hình hướng bản thân tới hình ảnh lý tưởng ấy. Một ví dụ khác thường
thấy là những sự định hướng và kỳ vọng mang tính áp đặt của cha mẹ đối với con
cái trong các vấn đề sự nghiệp, tình cảm, gia đình,… Ngược lại, nhân cách tự
thân là những sở thích và mơ ước cá nhân, là những triết lý chúng ta tự khám
phá ra, là những nguyên tắc cốt lõi không thể khoan nhượng, là sự tự hào đối với
những thành tựu của bản thân,… Nhân cách tự thân là tất cả những điều gì khiến
cho chúng ta cảm thấy mình đang được là chính mình.
Khái niệm nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm hoàn toàn chỉ
mang tính tương đối và tượng trưng chứ không hề có một định nghĩa hay ranh giới
chính xác. Và do đó một người đứng bên ngoài quan sát khó có thể kết luận rõ
ràng rằng một hành vi hay một suy nghĩ nào đó của một cá nhân là biểu hiện của
nhân cách tự thân hay nhân cách tiêm nhiễm. Điều đó phải do tự bản thân cá nhân
đó quyết định lấy. Trong thực tế, một người hoàn toàn có thể đinh ninh rằng một
điều gì đó là một phần nhân cách thực của bản thân, cho đến khi nhận ra rằng đó
chỉ là một thứ bị tiêm nhiễm vào từ bên ngoài một cách vô thức. Nói cách khác,
cùng một suy nghĩ, cùng một hành động, cùng một quyết định có thể là xuất phát
từ nhân cách tự thân hoặc từ nhân cách tiêm nhiễm, tùy vào nội tâm của cá nhân
chủ thể.
3.
Sự xâm nhập nhân cách
Sự xâm nhập của nhân cách tiêm nhiễm có thể diễn ra ở nhiều mức
độ khác nhau. Ban đầu, một người có thể bị buộc phải chấp nhận sống bằng một
nhân cách nào đó do sự đe dọa về thể xác, lợi ích hoặc áp lực tinh thần. Khi
đó, nhân cách tiêm nhiễm sẽ chỉ nắm được quyền điều khiển nếu sự đe dọa hay áp
lực được duy trì. Ở mức độ này, có thể nói rằng nhân cách đến từ bên ngoài kia
chưa hề được chấp nhận làm một phần nhân cách bên trong của cá nhân, mà chỉ được
tuân thủ một cách máy móc. Khi đó nhân cách tự thân thường sẽ thể hiện sự kháng
cự thông qua một cảm giác bị ép buộc, dẫn tới sự giận dữ, và có thể là sự chống
đối công khai. Tất nhiên sự chống đối sẽ khó xảy ra nếu như nhân cách tự thân
quá yếu ớt hay áp lực bên ngoài quá lớn. Bước đầu tiên của quá trình tiêm nhiễm
này có thể dễ dàng thấy được khi trẻ em bị cha mẹ uốn nắn dạy dỗ một cách cưỡng
ép, hay khi một thành viên xã hội bị kiểm soát và điều khiển bởi vũ lực của tầng
lớp thống trị.
Khi nhân cách tiêm nhiễm đã xâm nhập sâu hơn, nó sẽ bám rễ bên
trong tâm trí của cá nhân. Lúc này cá nhân đã chấp nhận, hay đúng hơn là bỏ cuộc,
ở mức độ nào đó đối với sự xâm lấn từ bên ngoài. Nhân cách tiêm nhiễm sẽ có thể
tự xuất hiện và giành quyền kiểm soát nội tâm mỗi khi cá nhân có suy nghĩ gì đó
trái ngược với nó, mà không cần đến sự đe dọa hay áp lực có thực từ bên ngoài.
Cá nhân bắt đầu mất dần ý thức về nguồn gốc ngoại lai của nhân cách tiêm nhiễm
và chấp nhận nó như một phần khó có thể tách rời của nhân cách bản thân, dù muốn
dù không. Sự khuất phục trước uy quyền, ví dụ như uy quyền của cha mẹ hay thần
quyền, là một ví dụ điển hình của nhân cách tiêm nhiễm ở mức độ này. Có rất nhiều
người dù đã có gia đình riêng và hoàn toàn tự lập về tài chính, nhưng vẫn không
thể chống lại được lời cha mẹ, và sự khuất phục của hàng bao thế hệ người Châu
Âu trước quyền uy của Giáo hội La Mã là một sự thật lịch sử khó ai có thể phủ
nhận.
Nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể xâm nhập vào nội tâm một con
người theo những con đường “ôn hòa” hơn. Một người có thể tự mình tạo nên nhân
cách tiêm nhiễm bằng việc du nhập các tư tưởng bên ngoài một cách vô tội vạ mà
không có sự chọn lọc kiểm tra bằng suy nghĩ của bản thân. Những hạn chế về môi
trường, thông tin, hay đơn giản là sự may rủi cũng có thể khiến cho cá nhân tự
mình chấp nhận một cách vô thức rằng một niềm tin hay cách suy nghĩ nào đó là
điều hiển nhiên không thể thay đổi, chỉ bởi vì cá nhân không có cơ hội được tiếp
xúc với những lựa chọn khác. Khi đó, những niềm tin hay cách suy nghĩ ấy có thể
trở thành một phần vĩnh viễn của nhân cách nếu như bản thân cá nhân ngừng việc
suy nghĩ, đặt câu hỏi, và tìm kiếm những khả năng mới. Chẳng hạn, một người
sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ thường xuyên sử dụng vũ lực và
áp đặt suy nghĩ lên con cái, rất có thể sẽ tin rằng đó là cách duy nhất để dạy
dỗ những đứa con của chính mình, mặc dù có thể điều đó mâu thuẫn với tình yêu
người đó dành cho con.
Sự xâm lấn và mở rộng của nhân cách tiêm nhiễm thường đi cùng với
sự thu hẹp và phai nhạt của nhân cách tự thân. Cũng giống như kỹ năng hay tri
thức, nhân cách chỉ có thể được duy trì và phát triển nếu như thường xuyên được
sử dụng và bồi bổ. Việc thường xuyên sử dụng nhân cách tự thân sẽ giúp cho cá
nhân dần hiểu rõ được bản thân, biết cách tin tưởng và sử dụng sở thích, tính
cách và trực giác của bản thân, đồng thời chỉnh sửa, mở rộng nhân cách bản thân
cho phù hợp với nhu cầu thực tế lẫn thiên hướng có sẵn. Ngược lại, nếu bị đè
nén và phủ nhận, nhất là từ khi còn nhỏ, thì nhân cách tự thân sẽ không có cơ hội
phát triển và do đó sẽ rất hoang sơ, rời rạc vô tổ chức, và quan trọng nhất là
không được tin tưởng. Biểu hiện rõ ràng nhất của điều này là việc không biết
mình thích gì, muốn gì, không có khả năng hay không dám tự suy nghĩ, tự quyết định
và tự chịu trách nhiệm, mà luôn tìm kiếm sự chỉ dẫn từ một quyền lực nào đó như
cha mẹ, giáo viên, cấp trên, thần quyền,… Đối với một người mà nhân cách tự
thân đã bị xóa bỏ hoàn toàn, thì có lẽ đến cả việc tự chọn vị kem mình thích
cũng là điều khó khăn.
Tất nhiên, không phải mọi tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai đều trở
thành nhân cách tiêm nhiễm. Khi tiếp xúc với một tư tưởng từ bên ngoài mà cá
nhân cảm thấy hợp lý, tức là cảm thấy phù hợp với nhân cách tự thân của cá nhân
tại thời điểm đó, cá nhân có thể ngay lập tức kết nối tư tưởng mới ấy vào thành
một phần của nhân cách tự thân. Hay nói đúng hơn, khi đó đã diễn ra một quá
trình sáng tạo: cá nhân lấy những tư tưởng nguyên liệu từ bên ngoài và sáng tạo
lại thành một mảnh ghép mới của mô hình thế giới thu nhỏ bên trong trí não
(tham khảo bài viết trước). Điều này cũng tương tự với việc các thầy cô giáo
hay yêu cầu học sinh “biến kiến thức thành của mình” vậy. Điểm khác biệt của quá
trình này so với sự du nhập vô tội vạ là do tư tưởng mới đã được diễn giải, kết
nối và kiểm chứng bằng thế giới quan của chính mình, nên cá nhân có thể, và
trong đa số trường hợp sẽ bảo vệ tư tưởng đó chỉ bằng năng lực và nhân cách tự
thân (vd. “tôi thích nghĩ thế”), thay vì cảm thấy phải dựa dẫm vào những nguồn
quyền lực và lý luận ở bên ngoài như “khoa học”, “thời trang”, “thuần phong mỹ
tục”, “truyền thống đạo đức”, hay “cha mẹ bảo thế”.
4.
Vai trò của nhân cách tự thân
Ở đây tôi không muốn nói rằng nhân cách tự thân là “tốt” và nhân
cách tiêm nhiễm là “xấu”. Tuy nhiên, nhân cách tự thân có vai trò quan trọng đối
với hạnh phúc của mỗi chúng ta, và việc để cho nhân cách tiêm nhiễm xâm lấn và
chèn ép nhân cách tự thân có thể đem lại nhiều hậu quả không được mong muốn.
Trước hết, vì “tôi hạnh phúc khi nào” cũng là một nội dung quan trọng của nhân
cách, mà chỉ có nhân cách tự thân mới phản ánh đúng những quy luật cảm xúc tự
nhiên của chính chúng ta, nên chỉ có nhân cách tự thân mới có thể chỉ ra cho
chúng ta con đường để đi tới hạnh phúc thực sự và lâu bền cho bản thân. Mọi định
nghĩa hạnh phúc mà nhân cách tiêm nhiễm mang lại, nếu không phải là sai lệch
hoàn toàn, thì cùng lắm cũng chỉ có thể đem lại sự thỏa mãn một phần nào đó một
số nhu cầu tâm lý nhất thời mà thôi.
Một điểm dễ thấy ở những người có nhân cách tự thân yếu ớt là họ
thường sẽ ít cảm thấy có trách nhiệm với bản thân và thế giới xung quanh. Đó là
vì trách nhiệm và tự do là hai mặt của cùng một đồng tiền. Nhân cách tiêm nhiễm
thường là thứ chúng ta cảm thấy không có quyền hay không thể tự do lựa chọn. Mà
đã không được tự do lựa chọn, thì chúng ta sẽ không thấy lựa chọn đó là “của
mình”, hay nói cách khác chúng ta không cảm thấy có trách nhiệm với nó. Ngược lại,
nhân cách tự thân là thứ chúng ta đã tự lựa chọn một cách có ý thức và có thể tự
do thay đổi theo ý muốn. Chính điều này làm nên cảm giác trách nhiệm đối với lựa
chọn của bản thân. Cảm giác trách nhiệm này là một yếu tố có vai trò quan trọng
trong việc quyết định sự thành công cũng như cảm giác thỏa mãn mang lại bởi các
hoạt động của chúng ta trong thực tế cuộc sống.
Chú ý rằng, nhân cách tiêm nhiễm cũng có thể tạo ra ở cá nhân một
thứ có biểu hiện bề ngoài gần giống như tinh thần trách nhiệm, đó là sự sợ hãi.
Điều này có thể thấy ở một số ví dụ như một đứa trẻ tỏ ra chăm chỉ học hành khi
bị cha mẹ áp đặt định hướng vào một ngành nghề nào đó. Bên ngoài, đứa trẻ đó dường
như đang thể hiện trách nhiệm đối với cuộc đời của chính mình, hoặc là đối với
sự kỳ vọng của cha mẹ. Nhưng rất có thể bên trong nội tâm đứa trẻ đó, động lực
thôi thúc hành vi học hành lại là nỗi sợ hãi đánh mất sự chấp nhận và tình cảm
từ phía cha mẹ. Tương tự như vậy, một người phụ nữ cố gắng giữ vững hình ảnh hiền
thục đảm đang rất có thể đơn giản là vì sợ hãi sự đánh giá từ xung quanh, chứ
không phải vì một cảm giác trách nhiệm đối với vai trò người phụ nữ trong gia
đình và xã hội của bản thân.
Sự sợ hãi và cảm giác trách nhiệm có hai sự khác biệt chính. Thứ
nhất, sự sợ hãi dẫn đến sự bị động, trong khi trách nhiệm tạo nên sự chủ động:
một người có thể cố gắng đáp ứng tốt nhất mọi công việc được giao vì sợ hãi,
nhưng chỉ có trách nhiệm thực sự mới khiến người đó tự mình suy nghĩ sáng tạo
tìm cách cải thiện chất lượng công việc dù không được yêu cầu. Thứ hai, sự sợ
hãi là động lực bên ngoài, trong khi trách nhiệm là động lực bên trong: khi tất
cả các yếu tố bên ngoài gây nên sự sợ hãi đều biến mất, thì động lực còn sót lại
chính là trách nhiệm thực sự. Chính vì sự khác biệt về bản chất này của động lực
sản sinh bởi nhân cách tự thân và nhân cách tiêm nhiễm, nên trong đại đa số trường
hợp một người sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ không thể phát huy hết được
năng lực tiềm tàng của bản thân, nhất là năng lực sáng tạo và tự chủ, so với
khi người đó được sống bằng nhân cách thực của chính mình.
Một hệ quả tiêu cực khác của việc nhân cách tự thân yếu ớt là một
cá nhân sống bằng nhân cách tiêm nhiễm sẽ để cho nội tâm của mình phụ thuộc nhiều
vào tác động từ bên ngoài. Nói một cách đơn giản là người đó dễ mất phương hướng
và bị dắt mũi bởi thế giới xung quanh. Một số ví dụ đơn giản cho điều này là việc
chạy theo các xu hướng thời trang, tin theo tất cả các thông tin có gắn mác
“khoa học”, hay dễ bị dụ dỗ bởi những lời đường mật kiểu “bán hàng đa cấp”.
Trong các ví dụ này, một bộ phận nào đó của nhân cách cá nhân (vd. “thế nào là
đẹp”, “thế nào là đáng tin”, “thế nào là thành công”) đã được tiêm nhiễm vào từ
bên ngoài hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài về mặt nội dung, chứ
không được dựa trên những suy nghĩ của bản thân, và do đó nằm ngoài tầm kiểm
soát của cá nhân. Điều này dẫn tới việc suy nghĩ của cá nhân dễ bị thao túng,
hay nhẹ hơn là dễ biến động hoặc hoang mang khi môi trường xung quanh liên tục
cung cấp các thông tin thiếu thống nhất hay thậm chí trái ngược nhau.
Một ví dụ khác của điều được nói đến ở trên là việc danh tính
(identity) của cá nhân, một bộ phận rất quan trọng của nhân cách, được gắn chặt
hay thậm chí là định nghĩa hoàn toàn bởi những cái mác bên ngoài như tên tuổi,
xuất thân, bằng cấp, tài sản, quốc tịch, dân tộc, hay thậm chí là tình trạng
hôn nhân. Đối với những cá nhân đó, những cái mác này làm nên con người họ, chứ
không đơn thuần chỉ là một số thuộc tính họ ngẫu nhiên mang theo mình nữa. Đối
với họ, việc đánh mất một cái mác tương đương với việc đánh mất một phần sự tồn
tại của bản thân, và việc một cái mác gặp phải sự chỉ trích hay bôi nhọ tương
đương một đòn đánh trực diện vào nhân cách của chính họ. Điều này có nghĩa là
nhân cách của họ rất dễ bị tổn thương, và nếu nhân cách đó không còn gì khác
ngoài những cái mác, thì đó là một nhân cách nghèo nàn và thiếu thực chất. Một
nhân cách như vậy sẽ không phải là một lá chắn tốt giúp giữ vững sự ổn định
tinh thần của một con người.
Điều này mang lại nhiều bất lợi cho cá nhân, bởi tất cả những yếu
tố bên ngoài, kể cả những thứ tưởng chừng như trường tồn như quốc gia hay dân tộc,
đều có thể biến mất hay bị quên lãng bất cứ lúc nào. Nhân cách, ý chí và năng lực
tự thân mới là những thứ thực sự chắc chắn sẽ đi theo một con người suốt từ khi
sinh ra cho đến (gần) khi chết đi, đồng thời tạo nên ở con người đó sức hấp dẫn
và lôi cuốn bền bỉ đối với những người xung quanh. Bất lợi này càng rõ ràng hơn
khi cá nhân phải sinh sống và làm việc tại một môi trường hoàn toàn mới lạ như ở
nước ngoài, nơi mà những cái mác vốn có bỗng dưng hoàn toàn mất giá trị. Có thể
nói rằng một trong những phép thử cho nhân cách một con người là xem xem sau một
thời gian ở một môi trường mới, có được bao nhiêu người xung quanh nhìn người
đó như một con người hoàn toàn, hay hầu hết vẫn nhận diện người đó bằng những
cái mác như “thằng Việt Nam”.
Cuối cùng, một nhân cách tự thân dù cho có yếu ớt và bị chèn ép
đến đâu, cũng rất khó có thể biến mất hoàn toàn, mà chỉ có thể bị chôn vùi xuống
đáy tâm hồn và bị quên lãng đi mà thôi. Khi nhân cách tiêm nhiễm khiến cho cá
nhân có những suy nghĩ hay hành động trái ngược với một giá trị cốt lõi của
nhân cách tự thân đã bị vùi lấp, nhân cách đó sẽ trỗi dậy và tạo nên một sự
xung đột tâm lý trong nội tâm cá nhân, dù có thể là yếu đuối. Điều này có thể
được cảm nhận qua một cảm giác lấn cấn, do dự, “có cái gì đó sai”, hay đơn giản
chỉ là một sự khó chịu không rõ nguyên nhân. Những xung đột tâm lý này, nếu
không được lý giải rõ ràng và giải quyết tận gốc, thì qua thời gian có thể sẽ
tích tụ và lớn dần lên, tạo nên sự mâu thuẫn nội tâm ngày càng gay gắt, và cuối
cùng có thể dẫn đến những triệu chứng của các loại bệnh tâm thần.
5.
Xây dựng nhân cách của chính mình
Chính vì nhân cách tự thân có vai trò quan trọng như vậy, nên mỗi
người chúng ta đều nên để ý xây dựng nên cho mình một nhân cách độc lập và vững
vàng theo mong muốn của bản thân. Nhiều người cho rằng tính cách hay nhân cách
là do môi trường tạo nên. Khẳng định đó có thể phần nào phản ánh đúng hiện thực,
nhưng nó gián tiếp phủ nhận vai trò của ý chí tự do của mỗi cá nhân, cũng tức
là thể hiện sự lảng tránh trách nhiệm đối với nhân cách và qua đó là vận mệnh của
chính mình. Vậy, chúng ta có thể làm gì để phát triển nhân cách của bản thân?
a.
Phát triển
Trước hết, nếu một người không hề ý thức được gì về một thứ nào
đó, thì cũng có nghĩa là thứ đó không hề tồn tại đối với người ấy, và một thứ
không tồn tại thì không có cách nào phát triển được. Do vậy, điều đầu tiên
chúng ta nên làm là tự quan sát và ý thức được sự tồn tại của nhân cách tự thân.
Điều này không nhất thiết phải là cái gì to tát, mà có thể đơn giản bắt đầu từ
việc để ý xem mình thích ăn món gì, thích nghe nhạc gì, thích mặc đồ gì,… Mở rộng
ra, chúng ta có thể dành thời gian để quan sát và suy nghĩ về tính cách, năng lực,
đạo đức của bản thân: mình đối xử với xung quanh thế nào, mình thích làm và làm
tốt việc gì, mình cảm thấy tức giận vì điều gì,… Một phần rất lớn nhân cách của
chúng ta vốn đã tồn tại sẵn ở bên trong nội tâm mỗi người, vấn đề chỉ là chúng
ta có ý thức được sự tồn tại của chúng, và diễn đạt những nội dung đó ra thành
hình ảnh hay ngôn từ được hay không mà thôi.
Song song với việc tự quan sát chính bản thân, chúng ta cũng nên
thường xuyên tìm kiếm và tiếp xúc với những ý tưởng, suy nghĩ, quan điểm mới mẻ
để có thêm nguyên liệu cho quá trình xây dựng nhân cách, thông qua những phương
tiện như sách vở, báo chí, internet, nói chuyện, hay đơn giản là quan sát từ
xung quanh,… Ý tưởng hay suy nghĩ mới không nhất thiết phải là từ những sách vở
chuyên ngành nhất định, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thậm chí ở cả những
nơi tưởng chừng như chẳng hề liên quan. Chú ý rằng quá trình thu thập thông tin
này cần gắn liền với sự chọn lọc, lý giải và kiểm chứng bằng nhân cách tự thân,
chứ không nên là sự tiếp thu vô điều kiện. Có thể nói rằng, đây là quá trình
tìm kiếm những công cụ mới để mô tả một cách ngày càng rõ ràng và chính xác hơn
về nhân cách tự thân đã có sẵn, đồng thời mở rộng hoặc cải biến nhân cách đó mà
vẫn giữ được tính thống nhất và hợp lý của nó, chứ không đơn thuần là sự chắp
vá một cách tùy tiện.
Một trong những phương pháp tốt nhất để quan sát và xây dựng
nhân cách tự thân là tự đặt mình vào trong một môi trường sống mới, mà ví dụ điển
hình là một cuộc sống ở một vùng đất mới, trong một cộng đồng mới. Chúng ta chỉ
có thể nhận ra sự tồn tại của một thứ gì đó khi có một thứ khác biệt đứng bên cạnh
để so sánh. Cũng giống như việc con người không thể nhận ra sự tồn tại của
không khí nếu như không có chân không, chúng ta không thể nhận ra một thói quen
hay một khuôn mẫu tư tưởng của chính mình nếu như tất cả mọi người xung quanh đều
có chung thói quen hay khuôn mẫu đó. Một môi trường hoàn toàn mới sẽ buộc chúng
ta phải tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng và suy nghĩ xa lạ từ xung quanh, dù muốn
dù không, và qua đó có cơ hội nhận thức được rõ ràng hơn về nhân cách của chính
mình, cũng như chọn lọc tiếp thu được những điều mới mà có thể trước đây chúng
ta chưa bao giờ có cơ hội tiếp xúc.
b.
Bảo vệ & sử dụng
Để cho nhân cách tự thân có thể trở nên vững vàng hơn, chúng ta
cũng cần để ý bảo vệ và tin tưởng sử dụng nó vào thực tế. Điều này tưởng chừng
như đơn giản nhưng có thể lại rất khó khăn. Nếu như nhân cách tự thân của chúng
ta đã bị đè nén quá lâu, chúng ta có thể sẽ không có lòng tin vào nhân cách của
chính mình, mà sẽ lựa chọn việc sống theo những chuẩn mực, thói quen hay lòng
tin của những người xung quanh, vì những điều đó dù gì cũng (có lẽ) ít nhiều đã
được kiểm chứng bằng thực tế, và nhất là vì kể cả khi thất bại chúng ta cũng
không cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thất bại ấy. Cứ như thế, chúng ta càng
thiếu tin tưởng và không sử dụng nhân cách tự thân, thì nhân cách tự thân của
chúng ta càng không được phát triển, bị quên lãng đi, và do đó càng trở nên thiếu
tin cậy hơn. Vòng xoáy tiêu cực này sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là chúng ta
phó mặc hoàn toàn việc suy nghĩ, đánh giá và quyết định của bản thân cho thế giới
bên ngoài.
Điều đầu tiên chúng ta có thể làm được để phá vỡ vòng xoáy đó là
thường xuyên khẳng định sự tồn tại và thể hiện những nội dung của nhân cách tự
thân một cách rõ ràng bằng ngôn từ, hành động, hay ít nhất là suy nghĩ. Kể cả
khi hoàn cảnh khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định hay hành động trái ngược
với mong muốn, chúng ta cũng nên lắng nghe tiếng nói của nhân cách tự thân, tôn
trọng ý kiến đó, và nhận trách nhiệm hoàn toàn với từng quyết định hay hành động
cuối cùng của mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là: tôi biết thực sự mình thích
gì và muốn gì, nhưng trong trường hợp này tôi tự lựa chọn việc làm trái với những
điều đó bởi những lý do mà tôi tự chấp nhận. Có thể sẽ có người cho rằng đây là
một suy nghĩ kiểu AQ chủ nghĩa, nhưng cách suy nghĩ này sẽ giúp cho nhân cách tự
thân được duy trì và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi hoàn cảnh kể cả là khắc nghiệt
và tù túng.
Mở rộng ra, trong mọi trường hợp chúng ta đều nên hướng tới việc
lấy nhân cách tự thân làm chuẩn mực để đánh giá và đưa ra quyết định cho bản
thân, kể cả khi điều đó có thể khiến cho một số lợi ích vật chất hay trước mắt
khác bị ảnh hưởng ở một mức độ nhất định. Việc cân bằng giữa sự tôn nghiêm của
nhân cách tự thân với các lợi ích vật chất và tinh thần khác như thế nào là việc
mỗi người nên tự suy nghĩ và quyết định lấy, vì đó cũng là một phần của nhân
cách tự thân. Tuy nhiên, một khi chúng ta cảm thấy một giá trị cốt lõi nền tảng
của nhân cách tự thân bị đe dọa, nhất là khi đó là một nguyên tắc đạo đức tối
cao của bản thân, thì rất có thể đó là lúc chúng ta cần phải đứng lên khẳng định
và bảo vệ nhân cách của chính mình bằng mọi giá, vì sự phản bội nghiêm trọng một
giá trị cốt lõi của nhân cách tự thân là một quyết định mà trong đa số trường hợp
sẽ khiến chúng ta day dứt và hối hận cho đến mãi về sau.
c.
Chú ý
Trong quá trình xây dựng nhân cách tự thân, có hai điểm mà chúng
ta cần phải chú ý. Thứ nhất, đó là mọi nội dung của nhân cách tự thân đều cần
phải có tính chân thực, tức là xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thực sự tự
nhiên và tự do của bản thân. Nói cách khác, chúng ta nên trung thực với chính
mình. Chúng ta không nên xây dựng nhân cách chỉ để hòa đồng, để khác người, hay
vì bất cứ mục đích nào khác. Sự độc đáo khác biệt, hay bất cứ lợi ích gì khác nếu
có, chỉ nên là hệ quả phụ của việc khám phá và xây dựng nhân cách mà thôi. Vị
kem mà mình thích có thể đơn giản là “vị gì cũng được”, miễn là mình thực sự
nghĩ như vậy, chứ không nên là “khoai môn cam chanh thêm sầu riêng” chỉ vì mọi
người xung quanh đều thích vanila. Việc xây dựng nhân cách với một mục đích
khác ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách bản thân cũng chính là một biểu hiện của
nhân cách tiêm nhiễm, vì khi đó nhân cách tự thân đã không còn là chuẩn mực
đánh giá cao nhất nữa.
Thứ hai, chúng ta nên thận trọng đối với từng lời nói, hành động
và quyết định của bản thân. Con người nhìn chung đánh giá cao và đòi hỏi ở nhau
một sự thống nhất ở một mức độ nhất định trong lời nói và hành động. Và do đó
trong mỗi cá nhân đều có một nhu cầu, hay đúng hơn là sự thôi thúc, phải đưa ra
những hành vi thống nhất ở mức nào đó với những gì mình đã nói hay làm trong
quá khứ. Nói theo một cách khác, từng lời nói, từng hành động, từng suy nghĩ của
chúng ta đều có tác dụng định hướng nhân cách của chúng ta theo một cách nhất định,
dù có thể đó không phải điều chúng ta mong muốn. Một khi chúng ta đã thể hiện một
nhân cách nhất định trong một môi trường bên ngoài nào đó, thì áp lực từ môi
trường ấy, dù là có thực hay tưởng tượng, sẽ luôn tìm cách trói buộc chúng ta
vào nhân cách đó. Nếu như nhân cách được thể hiện không đúng với nhân cách tự
thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta đã tự tạo ra và khóa mình vào một nhân cách
giả tạo, cho đến khi nào chúng ta có thể trốn thoát khỏi môi trường ban đầu, hoặc
có đủ sự dũng cảm để trút bỏ nhân cách ấy.
Chúng ta hãy lấy một ví dụ đơn giản về một người giáo viên trước
mặt học sinh luôn tỏ vẻ, hay thậm chí tin tưởng, rằng mình biết nhiều hơn học
sinh, đúng hơn học sinh, và đáng được học sinh tôn trọng. Khi đó, áp lực từ
xung quanh, mà trong trường hợp này chúng ta thường gọi là sự sĩ diện, sẽ khiến
cho người giáo viên đó không thể chấp nhận được rằng mình có thể biết ít hơn học
sinh, không đúng bằng học sinh, hay không được học sinh tôn trọng, kể cả khi đó
là sự thật. Sự mâu thuẫn giữa hình ảnh về bản thân trong tâm trí với bản thân của
hiện thực sẽ tạo nên sự xung đột trong nội tâm người giáo viên, khiến người đó
cảm thấy mất khả năng kiểm soát đối với cuộc sống, và chỉ có thể được giải quyết
khi người đó chịu từ bỏ nhân cách giả tạo của mình. Chính vì lẽ đó, trong cuộc
sống hàng ngày chúng ta nên chủ động trung thực với chính mình: nếu mình ích kỷ,
hãy nói rằng mình ích kỷ, nếu mình ganh tị, hãy nói rằng mình ganh tị, nếu mình
kém cỏi, hãy nói rằng mình kém cỏi,… Điều này sẽ giúp cho tâm lý của chúng ta
được thoải mái hơn rất nhiều.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhân cách là một khái niệm có vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tinh thần của mỗi con người. Có thể nói rằng, nhân cách là sự tổng hợp tất cả “tính người” của một cá nhân, là phần “người” trong “con người”. Nhân cách tự thân, song hành cùng với ý chí tự do, là điều làm nên sự khác biệt giữa một con người với một cỗ máy hay một con vật. Tuy nhiên, nếu như không được để ý phát hiện, xây dựng, bảo vệ và sử dụng thì nhân cách tự thân của chúng ta có thể sẽ trở nên yếu ớt, lép vế trước sự xâm lấn của nhân cách tiêm nhiễm. Nếu như chúng ta để cho nhân cách tiêm nhiễm lấn át hoàn toàn nhân cách tự thân, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự đánh mất bản sắc con người cùng với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của bản thân, và quan trọng hơn cả là đánh mất tự do tư tưởng của chính mình.
Những câu nói hay về con người mang nhiều
giá trị nhân văn nhất
Mời các các con cháu ta cùng xem qua những câu nói, những danh ngôn
hay về con người được ta nhiều người bạn
ta ưa thích. Những câu nói này sẽ cho các con cháu ta cái
nhìn đa chiều về con người, về quan điểm, tính cách, bản chất qua những góc
nhìn khác nhau của nhiều tác giả. Qua đây chúng ta cũng sẽ nhìn thấy được những
định nghĩa khác nhau về con người – về chính chúng ta. Cùng đọc và suy ngẫm nhé
các con cháu ta !
những câu nói hay về con người
1.Gương mặt của loài người, rốt cuộc chẳng là gì nhiều ít hơn một
cái mặt nạ.
2. Con người chỉ thấy những thứ mà họ đã chuẩn bị tinh thần để
thấy.
3. Tiền bạc khó mua được sức khỏe nhưng sức khỏe sẽ được tăng cường
hơn nhờ tiền bạc; tiền bạc khó mua được hạnh phúc nhưng muốn có hạnh phúc, buộc
phải có sức khỏe.
4. Chúng ta đều là những nhạc cụ được phú cho cảm xúc và trí nhớ.
Những cảm giác của chúng ta là rất nhiều sợi dây đàn được gõ bởi các vật xung
quanh, và thường xuyên tự mắc vào chính mình.
5. Đừng chỉ vì ai đó trông mạnh mẽ, không có nghĩa là tất cả mọi
thứ đều ổn. Ngay cả những người mạnh mẽ nhất cũng cần một người bạn để dựa vào
vai mà khóc. Hãy kết hôn với người mà mình thích chuyện trò với người đó, vì
khi mình già đi, mình sẽ phát hiện ra rằng thích chuyện trò là một ưu điểm lớn.
6. Đừng xem trọng bề ngoài vì nó có thể đánh lừa mình. Đừng xem
trọng sự giàu sang vì nó có thể mất dần. Hãy đến với người biết làm mình cười,
vì chỉ có nụ cười mới biến ngày buồn thành vui.
7. Quá khứ đã là lịch sử. Tương lai là một phép màu nhiệm. Còn
hiện tại là một món quà của cuộc sống, chính vì thế mà chúng ta gọi đó là một tặng
phẩm quý giá.
8. Đi ngược lại với đám đông có nghĩa là mình cực kì thông minh
hoặc cực kì ngu dốt.
9. Ta không thể điều khiển hướng gió, chỉ có thể điều khiển cánh
buồm. Ta không cần phải thấy hết các bậc thang mà chỉ cần đi bước đầu tiên với
một niềm tin.
10. Tôi nghĩ rằng, sau cùng, cuộc sống cũng chỉ là một sự chia
ly. Nhưng điều đau đớn nhất, chính là không kịp nói lời tạm biệt.
11. Thỉnh thoảng mình cần đi xa, không phải để cho ai đó nhận ra
vị trí của mình trong lòng họ. Mà để chính mình hiểu và nhận ra giá trị của
chính bản thân mình.
12. Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự
tin là người vô dụng.
13. Con người là động vật duy nhất mà sự tồn tại của chính mình
là một vấn đề phải đi tìm lời giải.
14. Tôi tin rằng con người không chỉ đơn thuần chịu đựng. Anh ta
sẽ chiến thắng. Anh ta bất tử, không phải bởi anh ta là sinh vật duy nhất có giọng
nói không mệt mỏi, mà vì anh ta có linh hồn, một linh hồn có lòng trắc ẩn, biết
hy sinh và có sức bền.
15. Dù rất chua chát nhưng sự thật là, nhà ở có sửa to, rộng hơn
thế nào đi nữa cũng chỉ là nơi ở tạm thời. Cái quách sành mới là nhà ở vĩnh hằng
của tất cả chúng ta. Thế nên, nhà rộng chẳng bằng tâm rộng, tấm lòng rộng mở, bề
ngoài an yên không bằng cõi lòng an yên.
Nếu trong lòng có tâm trạng, các con cháu ta có thể update những dòng status ý nghĩa, hay
nhất về tính cách con người lên trang cá nhân. các con cháu ta vừa giải
tỏa được tâm trạng bản thân vừa để ai đó
đọc được dòng stt và hiểu ra vấn đề. Ghi nhớ những câu nói hay về con người dưới
đây để khi tâm trạng không được thoải mái con cháu ta có thể đăng lên tường cá nhân để xua tan đi nỗi
buồn nhé.
16.Gương mặt của loài người, rốt cuộc chẳng là gì nhiều ít hơn một
cái mặt nạ.
17. . Chỉ con người sinh ra đã khóc, sống để phàn nàn và và chết
trong thất vọng.
18. Con người cần ít đổ rắc rối của mình lên môi trường xung
quanh, và học cách thể hiện ý chí – trách nhiệm cá nhân trong lĩnh vực niềm tin
và đạo đức.
19. Chúng ta đều là những nhạc cụ được phú cho cảm xúc và trí nhớ.
Những cảm giác của chúng ta là rất nhiều sợi dây đàn được gõ bởi các vật xung
quanh, và thường xuyên tự mắc vào chính mình.
20. Con người là động vật duy nhất mà sự tồn tại của chính mình
là một vấn đề phải đi tìm lời giải.
21. Nếu bộ não của con người đơn giản đến mức chúng ta có thể hiểu
được nó, chúng ta sẽ đơn giản đến mức chúng ta chẳng thể hiểu được.
22. Cuộc sống không phải là phim ảnh, không có nhiều đến thế… những
lần không hẹn mà gặp.
23. Tình yêu, tình bạn, không phải là cả đời không cãi nhau, mà
là cãi nhau rồi vẫn có thể bên nhau cả đời.
24. Người ta nghĩ sao về mình, không có liên quan gì đến mình. Ta
sống thế nào, cũng không có liên quan gì đến người ta.
25. “Cái tôi” chính là thứ duy nhất hủy hoại một mối quan hệ.
Hãy là một người trưởng thành, buông bỏ cái tôi của chính mình.
26. Đừng chiến thắng người khác bằng tranh cãi. Hãy đánh bại họ
bằng nụ cười của mình. Bởi vì những người luôn muốn tranh cãi với mình không thể
chịu đựng được sự im lặng của mình.
27. “Tôi có một triết lý đơn giản đó là: lấp đầy những khoảng trống,
làm trống những khoảng đầy và gãi những chỗ ngứa.”
28. “Không có ai thực sự hiểu sự ưu sầu hay nỗi vui mừng của kẻ
khác.”
29. “Những người thông minh và những người xinh đẹp đều mắc
chung một tật: cứ tưởng như thế là mãi mãi.”
30. Tất cả con người có ba cuộc đời: công khai, riêng tư, và bí
mật.
31. Là con người nghĩa là sở hữu cảm xúc thấp kém luôn không ngừng
lấn đến cuộc chinh phục chính nó. Cảm xúc thấp kém càng cao, thôi thúc chinh phục
và sự bất an về cảm xúc càng mãnh liệt.
32. Không phải cứ thân nhau là mình
Ở đời còn rất nhiều đứa khốn nạn gắn nhãn bạn thân.
33. Cuộc sống là một vấn đề; con người phàm tục được tạo ra để
giải quyết vấn đề đó đúng hay sai cách.
Con người cần ít đổ rắc rối của mình lên môi trường xung quanh, và học cách thể hiện ý chí – trách nhiệm cá nhân trong lĩnh vực niềm tin và đạo đức. Mỗi chúng ta cần biết sẻ chia, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hoàn thiện bản thân hơn để tạo nên xã hội tốt đẹp hơn. Hi vọng những câu nói hay về con người, những câu nói dạy đời hay nhất ở trên đã giúp các con cháu ta hiều thêm về tính cách, bản chất con người từ đó hình thành nếp sống đẹp đẽ cho bản thân.
Những câu thơ hay về cuộc sống tươi đẹp
Những câu thơ hay về cuộc sống tươi đẹp là nguồn cảm hứng, động
lực mang đến sự vui vẻ, lạc quan trong cuộc sống. Những câu thơ hay về cuộc sống
tươi đẹp, mang giá trị sâu sắc thổi một luồng gió mát vào tâm hồn đang dần khô
cằn, xóa tan đi những bế tắc, áp lực, căng thẳng, vươn tới những điều tốt đẹp hằng
mơ ước.
Ta
cứ cười- (Nguyễn Hưng)
Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc
Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh
Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn
Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ
Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ
Cho vui lòng bạn hữu với anh em
Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm
Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt
Cười khoan dung với những người không thật
Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân
Cười thứ tha cho những kẻ bất phân
Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối
Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi
Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau
Cười hả hê cho cuộc sống lao đao
Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng
Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận
Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô
Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô
Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.
Quên
lãng- (Thanh Hiếu)
Khi vấp ngã đừng lo bạn nhé
Hãy đứng lên bạn sẽ kiên cường
Nhìn về phía trước yêu thương
Mênh mông rộng lớn con đường mở ra
Nếu đã chót sa đà lầm lỗi
Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn
Bỏ qua không tính thiệt hơn
Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi
Xin đừng khóc vì sai lầm nữa
Một ngày gần cánh cửa rạng ngời
Kinh nghiệm ta có trong đời
Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần
Quên quá khứ làm thân hiện tại
Bao niềm vui sao phải đau buồn
Nước kia đâu có cạn nguồn
Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.
Suy
ngẫm- ( Nguyễn Thị Thắm)
Làm người phải sống thẳng ngay
Đừng như con bướm đậu bay vô tình.
Sống sao thật với lòng mình
Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.
Đừng đùa bỡn nhé bạn ơi
Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền
Nó như sợi chỉ nhân duyên
Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.
Dối người người sẽ dối ta
Thế nên hãy sống thật thà thì hơn
Đừng như con cá thờn bơn
Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.
Giản
đơn- ( An Nhiên)
Nếu có thể đừng than chi số phận
Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi
Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ
Sao bận lòng cho những phút sân si
Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé
Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời
Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi
Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi
Nếu có thể thả hồn nương theo gió
Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều
Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ
Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu
Nếu có thể giữ cho mình những phút
Khẽ khàng trôi không chút ầm ào
Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ
Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …
Đời người đâu mấy lần vui- ( Tùng Trần)
Kiếp con người mỏng manh như là gió
Sống trên đời có được mấy lần vui
Sao phải đau mà không thể mĩm cười
Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ
Nếu có thể sao ta không làm thử
Để tâm hồn khắc hai chữ bình an
Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng
Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi
Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi
Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn
Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn
Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo
Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão
Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi
Được cơm no áo ấm cũng vui rồi
Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở
Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ
Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô
Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau
Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.
Sống-
(Tùng Trần)
Sống phải biết trân trọng từng giây phút
Bởi hững hờ trong chốc lát mà thôi
Sẽ để ta ân hận cả cuộc đời
Mọi hối tiếc ăn năn thời vô nghĩa
Sống phải biết quan tâm và san sẻ
Bỏ ngoài tai lời mai mỉa khinh thường
Mở tấm lòng cho nhận những tình thương
Và đứng lên kiêng cường khi gục ngã
Sống phải biết mình cần chi vội vã
Chớ nghĩ suy rồi buồn bã tâm hồn
Chuyện qua rồi hãy cố gắng vùi chôn
Để nụ cười ung dung cùng thực tại
Sống phải biết không gì là e ngại
Cứ thật lòng đừng dối gạt lừa ai
Sống hôm nay nào biết được ngày mai
Tuy đời ngắn nhưng nghĩa dài vô tận
Sống phải biết còn bao người lận đận
Nên khổ sầu đừng khóc hận oán than
Chớ so bì người khó kẻ giàu sang
Không cần cù nào ai mang ban tặng
Sống phải biết để tâm hồn bình lặng
Được ấm no là may mắn hơn người
Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi
Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị.
YÊU
ĐỜI- (Huy Cận)
Em ơi! Dẫu sống trăm năm
Đến khi chết xuống, anh nằm không yên
Bởi đời đẹp quá đi, em!
Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa
Yêu đời biết mấy cho bưa
Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…
Tiếng gà lại giục bình minh
Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!
Giản đơn chiếc áo mặc vào,
Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường
Yêu đời trong máu, trong xương
Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi
Quê anh cà nhút mặn mòi
Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….
Bài
thơ Yêu Đời – Nguyễn Hữu Bào
Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng
Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ
Mẹ em phơi lụa hong tơ
Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời
Nắng hòa mưa thuận khắp nơi
Em mơ em ước mọi người ấm no
YÊU
ĐỜI
Em ơi! Dẫu sống trăm năm
Đến khi chết xuống, anh nằm không yên
Bởi đời đẹp quá đi, em!
Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa
Yêu đời biết mấy cho bưa
Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…
Tiếng gà lại giục bình minh
Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!
Giản đơn chiếc áo mặc vào,
Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường
Yêu đời trong máu, trong xương
Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi
Quê anh cà nhút mặn mòi
Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….
BÀI
THƠ YÊU ĐỜI
Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng
Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ
Mẹ em phơi lụa hong tơ
Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời
Nắng hòa mưa thuận khắp nơi
Em mơ em ước mọi người ấm no
Thành
Công
Bạn ơi! biết cười luôn, biết yêu nhiều
Được người đời kính trọng
Được con trẻ yêu mến
Được phê bình là ” tạm được”
Chịu đựng được cái đau bị bạn bè phản bội
Biết thưởng thức cái đẹp
Biết tìm ra cái tốt nhất nơi người khác;
Biết cống hiến hết mình
Để lại cho đời một cái gì tốt hơn
Ví như nuôi con cái nên người
Hoặc vun xới một mảnh vườn tốt tươi
Hoặc xã hội được cái thiện;
Đã chơi say mê và cười thoải mái
Và ca hát vang lừng
Biết đã giúp một cuộc đời được dễ thở hơn
Vì mình đã làm đã sống…
Bạn ơi, như vậy là đã thành công!
Dòng
Đời
Dòng đời lúc nổi lúc chìm
Lúc phiêu dạt, lúc có mình không ta
Lúc đời ngoạn mục thăng hoa
Lúc cay, lúc đắng, lúc xa, lúc gần
Lúc thắng, lúc bại, khổ thân!
Lại có lúc sang đúng chiều chiều sai
Ngày mai lại đúng
Có lúc nằm mơ mong thoát kiếp dại khờ
Lại có lúc không biết sống đến mai
Mà dành củ khoai đến mốt
Khi vinh, khi nhục nên phải biết sống căn cơ
Như âm dương nghịch cảnh đợi chờ
Cho nên muốn trọn kiếp người
Phải tu thân tích đức, phải nuôi chí bền
Khổ công rèn luyện mới nên
Dòng đời hết đục trong liền mênh mông.
Trôi vào bất tận biển Đông
Dòng đời sáng mãi trong ngần vinh quang!
Thơ
Tự Sự
Dù đục dù trong, con sông vẫn chảy
Dù cao dù thấp, cây lá vẫn xanh
Dù người phàm tục hay kẻ tu hành
Vẫn phải sống từ những điều rất nhỏ
Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó
Sao ta không tròn ngay tự trong tâm
Đất ấp ôm cho mọi hạt nảy mầm
Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng
Nếu tất cả đường đời đều trơn láng
Chắc gì ta đã nhận ra ta
Ai trong đời cũng có thể tiến xa
Nếu có khả năng tự mình đứng dậy
Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy
Không chỉ dành cho một riêng ai!
Lẽ
Sống
Lẽ sống tình đời sống khắp nơi
Sống đời có ích tệ sống chơi
Ai làm trăm sự cho ta sống
Cớ sao tham sống chỉ hại đời
Lẽ sống tình đời sống khắp nơi
Sống đẹp xem ai quyết xây đời
Tự tránh xa hoa nơi đàng điếm
Trần thế không nên sống ham chơi
Vui sao sống đẹp mãi sáng ngời
Ghi dấu sáng danh nghĩa tình đời
Nhân văn ghi chép thiên niên kỷ
Nghĩa tình cao cả với con người.
Bài
Học Từ Cuộc Sống
Trong cuộc sống bao buồn vui, cay đắng
Cám ơn đời! Ta học được chữ khôn
Để bỗng thấy mình như thêm lớn
Trong gian nan, vất vả mới sinh tồn
Có thể nhận nhát dao còn ngơ ngác
Máu nhỏ ròng mới thấy biết mình đau
Dạy bài học, rằng ta luôn cảnh giác
Để lần kề, phải trông trước, nhìn sau
Đời nhiều mặt, muôn màu trong cuộc sống
Dạy cho ta học được ít nhiều điều
Được và mất, thấy mất nhiều hơn được
Nên bây giờ chẳng còn được bao nhiêu !
Xin cám ơn cuộc đời ta đang sống
Dạy cho ta học hỏi biết bao điều
Những vực thẳm và dây kia thòng lọng
Luôn chực chờ khi đợi bước chân xiêu
Ta
cứ cười – Nguyễn Hưng
Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc
Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh
Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn
Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ
Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ
Cho vui lòng bạn hữu với anh em
Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm
Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt
Cười khoan dung với những người không thật
Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân
Cười thứ tha cho những kẻ bất phân
Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối
Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi
Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau
Cười hả hê cho cuộc sống lao đao
Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng
Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận
Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô
Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô
Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.
Quên
lãng – Thanh Hiếu
Khi vấp ngã đừng lo bạn nhé
Hãy đứng lên bạn sẽ kiên cường
Nhìn về phía trước yêu thương
Mênh mông rộng lớn con đường mở ra
Nếu đã chót sa đà lầm lỗi
Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn
Bỏ qua không tính thiệt hơn
Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi
Xin đừng khóc vì sai lầm nữa
Một ngày gần cánh cửa rạng ngời
Kinh nghiệm ta có trong đời
Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần
Quên quá khứ làm thân hiện tại
Bao niềm vui sao phải đau buồn
Nước kia đâu có cạn nguồn
Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.
Suy
ngẫm – Nguyễn Thị Thắm
Làm người phải sống thẳng ngay
Đừng như con bướm đậu bay vô tình.
Sống sao thật với lòng mình
Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.
Đừng đùa bỡn nhé bạn ơi
Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền
Nó như sợi chỉ nhân duyên
Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.
Dối người người sẽ dối ta
Thế nên hãy sống thật thà thì hơn
Đừng như con cá thờn bơn
Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.
Giản
đơn – An Nhiên
Nếu có thể đừng than chi số phận
Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi
Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ
Sao bận lòng cho những phút sân si
Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé
Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời
Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi
Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi
Nếu có thể thả hồn nương theo gió
Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều
Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ
Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu
Nếu có thể giữ cho mình những phút
Khẽ khàng trôi không chút ầm ào
Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ
Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …
Đời người đâu mấy lần vui – Tùng Trần
Kiếp con người mỏng manh như là gió
Sống trên đời có được mấy lần vui
Sao phải đau mà không thể mĩm cười
Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ
Nếu có thể sao ta không làm thử
Để tâm hồn khắc hai chữ bình an
Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng
Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi
Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi
Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn
Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn
Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo
Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão
Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi
Được cơm no áo ấm cũng vui rồi
Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở
Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ
Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô
Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau
Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.
Vì
em chính là em
Em không phải là người vĩ đại đâu anh
Chỉ bình thường, mỏng manh như hoa gió
Lúc dạt dào, lúc lững lờ bõ ngõ
Lúc nồng nàn, lúc hờ hững buông lơi
Mỗi ngày cuối tuần cũng rất thích rong chơi
Lượn lờ dạo quanh cùng bạn bè phố xá
Mặc lứa dôi cứ đi về vội vã
Em độc thân, đã quen với u sầu.
Cũng có những ngày suy nghĩ đâu đâu
Tưởng tượng đến anh rồi chợt buồn, chợt khóc
Anh biết không giữa cuộc đời khó nhọc
Sao tránh khỏi đau buồn, sao tránh nổi hanh hao.
Rồi đêm về trong những giấc chiêm bao
Niềm vui xa vời biết khi nào chạm tới
Em có buồn có suy tư nghĩ ngợi
Thì anh đâu hiểu hết trái tim này.
Khờ
dại
Em cứ thế luôn làm anh khờ dại
Mong nhớ hoài mê mải với tình si
Nắng cuối chiều nào đâu kịp nghĩ suy
Giấy ái ân thầm thì trong khắc khoải
Dấu yêu ơi vẫn thơ tình hoang hoải
Anh viết hoài sao mãi chẳng tròn câu
Cuối đông rồi hạt nắng bỏ đi đâu
Để mong nhớ lại nhạt mầu mong nhớ
Anh vẫn biết đời này anh mắc nợ
Nợ ân tình nợ cả những lo âu
Nợ em yêu những tháng hẹn hò
Nợ bến vắng đợi con đò xưa cũ
Anh muốn ôm ru em vào giấc ngủ
Để đêm buồn héo hắt rũ chẳng tàn canh
Để thời gian cũng cảm thấy mong manh
Bao con sóng tròng trành bờ biển vắng
Ly cafe chiều sao sao chát đắng
Anh dại khờ… Say đắm… Với tình si !
Chia
tay hoàng hôn
Níu kéo làm chi chuốc hận sầu
Tình mình đã nhạt có còn đâu.
Ngày vui; Bậu nói yêu nhiều lắm
Tháng hạn; Qua buồn nhớ lại câu…
Chỉ thắm se duyên ta đượm mãi
Tơ hồng buộc chặt mối tình sâu.
Ai ngờ nỗi nhịp cung đàn tắt
Để tím hoàng hôn rớt xuống cầu!
Mình
Chia Tay Rồi Sao
Chia tay thật rồi phải không anh
Em cứ mơ gương vỡ sẽ lại lành
Như mỗi chiều mặt trời đi vắng
Hừng đông về ánh sáng vây quanh
Chia tay thật rồi phải không anh
Em ngỡ chỉ hôm nay trăng khuyết
Đêm mai thôi lại tròn vành vạnh
Bầu trời khuya huyền ảo lung linh
Chia tay thật rồi phải không anh
Em tưởng lúc này trời đi vắng
Mưa buồn nên tuôn dòng lệ ướt
Lát nữa thôi lại bật nắng vàng
Chia tay thật rồi phải không anh
Em lại nghĩ gió hôm nay ngưng thổi
Nên sóng không trào dâng dữ dội
Mai gió về sóng biển sẽ xôn xao
Bao ước mơ chất chồng cao mãi
Dẫu biết anh đi chẳng trở về
Đôi hàng mi đêm đêm đẫm lệ
Phương trời nào anh có biết không ?
Chia xa
Đêm nay mượn rượu để say
Quên bao kỉ niệm chia tay người tình
Vùi chôn đi một bóng hình
Bao năm đeo đẵng làm mình khổ đau
Tim yêu dù phải nát nhàu
Người ơi gạt lệ quên sầu ra đi
Bùi ngùi giây phút biệt ly
Bởi không duyên nợ thôi thì chia xa
Tình
buồn
Ừ thì hai tiếng chia tay
Từ nay lỗi mộng chia hai lối về
Cung trăng đó ta nguyện thề
Mà nay kỷ niệm tràn về cõi thu
Thâu đêm khói cảnh sương mù
Tình là ảo ảnh phù du phím đàn
Tình sầu tình bước lang thang
Ve sầu ve khóc dỡ dang tình buồn
Thôi đành cắt đứt dây chuông
Thôi không vương vấn tình muôn kiếp sầu
VÔ
THƯỜNG
Thơ: Bách Tùng Vũ
Cõi hồng trần ngàn lần rơi lệ
Kiếp luân hồi mặc kệ chúng sinh
Bao hương linh thác khóc đòi về
Hồn não nề nhớ nhà da diết.
Dẫu đã biết Vô thường là thế
Chẳng có ai không thể ra đi
Vẫn sầu bi trăm ngàn ai oán
Tiếc trần gian một thuở đam mê.
Ai rồi cũng sẽ về thiên cổ
Dù giàu sang hay khổ một đời
Nước mắt rơi khi hồn lìa xác
Chỉ còn là cát bụi hư vô.
Dù chết oan hay mồ vô chủ
Sẽ luân hồi khi ngủ đã say
Sông Vong Xuyên chờ ngày trên bến
Cầu Nại Hà dẫn đến đầu thai.
Hỏi trần gian có ai sống mãi
Ai chắc mình không trải tử sinh
Bao vong linh xa lìa cõi thế
Có trở về thân xác nguyên trinh ?
Ai rồi cũng tử, sinh phải nhận
Dẫu sang giàu hay phận vất vơ
Trăm đường tơ trở về một cõi
Vô Thường rồi…thoát khỏi… Sầu bi.
ĐỜI
VỐN VÔ THƯỜNG
Thơ: Tùng Trần
Muốn hay không thì cuộc đời vẫn vậy
Cứ xuôi dần theo dòng chảy thời gian
Người cơ hàn hay là kẻ giàu sang
Khi chết đi vẫn hai bàn tay trắng
Được ấm no đã là điều may mắn
Hãy giữ gìn đời bình lặng sóng yên
Có những điều để tạo hoá tự nhiên
Đừng gượng ép kẻo muộn phiền vây lấy
Đáng hay không vì xa hoa bóng bẩy
Rồi tự mình xô đẩy dưới vực sâu
Nếu như tâm chẳng muốn vướng ưu sầu
Thì chớ nên cưỡng cầu trong mê muội
Biết ăn năn và nhận ra lầm lỗi
Nhớ dặn lòng phải sửa đổi bản thân
Dẫu vật chất thì ai sống cũng cần
Nhưng đừng để chữ tình thân rạn nức
Chuyện tử sanh mãi luôn là định luật
Đời vô thường sự thật chẳng thể thay
Là con người thì ai cũng như ai
Đến cuối cùng cũng phải về cát bụi.
THẾ
GIAN VÔ THƯỜNG
Thơ: Ngạo Thiên
Cuộc đời như áng mây trôi
Ngàn năm nhân thế đắng môi lệ sầu
Đời người sống được bao lâu
Trăm năm rũ bóng huyệt sâu đợi chờ
Đời người như giấc ngủ mơ
Biệt ly không hẹn không chờ đợi ai
Sắc kia thắm đẹp cũng phai
Có ai giữ mãi tiền tài bền lâu
Đời người đi mãi về đâu
Vô thường chi phối âu sầu thế gian
Cuộc đời có hợp có tan
Hỏi đâu vĩnh cửu mộng vàng trăm năm
Quay về sống với chân tâm
Hãy như sen trắng giữa đầm ngát hương
Con người sống để yêu thương
Mĩm cười hạnh phúc đoạn trường bi ai.
Những câu thơ hay về cuộc sống thật ý nghĩa phải không nào. Mỗi một bài thơ cuộc sống là tiếng lòng của nhà thơ, của tác giả thể hiện cảm xúc, nỗi lòng về cuộc sống. Cùng trải lòng mình, chia sẻ những cảm xúc khi đọc những bài thơ hay về cuộc sống tươi đẹp. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, hãy sống sao cho thật xứng đáng, thật hạnh phúc để có cuộc sống trọn vẹn hơn nhé.
THAY LỜI KẾT
Đánh mất nhân cách, phẩm giá là đánh mất
mình
Thời gian gần đây, báo chí nêu nhiều vụ cán bộ, đảng viên từ nhỏ
đến lớn, từ cấp thấp đến cấp cao vi phạm các nguyên tắc tổ chức, vi phạm pháp
luật do tham ô, tham nhũng, luồng lách tìm kẽ hở của chính sách, pháp luật… để
thu vén cho bản thân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, làm mất niềm tin
trong quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nhiều người đã bán rẻ nhân
cách, phẩm giá của mình một cách ô nhục mà cả đời họ vun vén, “phấn đấu”…
Mới đây nhất, vào ngày 20/9/2020, cựu Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ
Chí Minh - Nguyễn Thành Tài bị kết án 8 năm tù giam về tội “vi phạm quy định về
quản lý, sử dụng tài sản gây thất thoát, lãng phí”. Trước đó cũng trong tháng
9/2020, cựu Bộ trưởng Bộ Công thương - Vũ Huy Hoàng bị Viện Kiểm sát nhân dân Tối
cao truy tố về tội “vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, gây
thất thoát, lãng phí…” mà theo Điều 219, Bộ luật Hình sự, mức án từ 10 - 20 năm
tù. Trước đó không lâu, cựu Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông - Nguyễn Bắc
Son đã thoát án tử xuống còn chung thân về tội nhận hối lộ với số tiền rất lớn
trong vụ án MobiFone mua AVG…
Nêu lại những bản án dành cho những “bị cáo gạo cội” nói trên,
không phải để liệt kê các vụ vi phạm pháp luật của những người lạm chức, lạm
quyền (vì còn rất nhiều vụ) làm tổn hại đất nước, gây hậu quả nghiêm trọng về mọi
mặt kinh tế, đời sống… Ở đây muốn nhấn đến sự băng hoại về nhân cách, đạo đức,
phẩm giá con người - những con người đã bị mờ mắt vì vật chất, đồng tiền mà bán
rẻ nhân cách của mình để rồi ngụp lặn trong vũng lầy… tù tội!
Con người ta, dù ở cương vị nào, lớn hay nhỏ đều có “chỗ đứng”
riêng nhờ có nhân cách, phẩm giá. Nhân cách, phẩm giá là “linh hồn”, là “quyền
năng” lan tỏa tầm ảnh hưởng để người ta sống, làm việc và… tồn tại. Nhân cách,
phẩm giá là hai yếu tố làm nên giá trị con người. Hai yếu tố này luôn gắn kết với
nhau, tương tác cho nhau - tuy hai mà một!
Phẩm giá là giá trị tinh thần cao quý riêng của con người, thể
hiện qua thái độ, hành vi ứng xử của cá nhân trong các mối quan hệ gia đình, xã
hội mang giá trị về mặt văn hóa, đạo đức trong lối sống của con người. Nhân
cách là những đức tính tốt đẹp của con người phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
Đó là những đức tính về lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo, truyền thống uống nước
nhớ nguồn, tôn sự trọng đạo… được biểu hiện qua hành động, việc làm. Cũng như vậy,
phẩm giá thể hiện qua thái độ và hành vi ứng xử của cá nhân trong các mối quan
hệ gia đình, cộng đồng, xã hội…
Người có nhân cách, phẩm giá luôn làm chủ được suy nghĩ và hành
động để không ảnh hưởng đến người xung quanh, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân,
biết lắng nghe và luôn lắng nghe để hoàn thiện bản thân mình…
Xin được dừng lại và gạch dưới những cụm từ: Làm chủ được suy
nghĩ; luôn lắng nghe; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân… để thử “rọi” vào các “cựu
tù” nêu trên… Và… không có gì ngạc nhiên, vì hầu như những cụm từ này luôn mờ
nhạt và tăm tối trong “lai lịch” họ!
Tuy nhiên cũng cần công bằng, vì thiếu nhân cách, phẩm giá không
chỉ “gói” trong những “cựu tù”, nó còn được “mở rộng” ở những dạng người khác,
với những hình thức đa dạng khác…
Có lẽ ít nhiều trong đời sống, ai cũng từng nghe những lời phàn
nàn: “Ông ấy, cô ấy… lớn rồi nhưng… thiếu nhân cách”. Cái “thiếu” ở đây, tức là
do lối sống, do ứng xử, hành vi… của họ không phù hợp, trong khi nhân cách, phẩm
giá là những đức tính tốt đẹp của con người phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội?!
Nhân cách, phẩm giá con người còn được biểu hiện qua rất nhiều
hình thái: Ứng xử, lời ăn tiếng nói… “Lời nói không mất tiền mua…”. Bừa bãi
trong phát ngôn, không biết lựa lời… đôi khi không “rút” lại được! Thế là nhân
cách bị… “rơi rớt”. Một hành vi lố bịch - nhân cách, phẩm giá “đi chung đường”!
Một lời nói dối, thái độ dối trá… phẩm giá “bay” theo!
Nhân cách, phẩm giá còn được đánh giá qua tư tưởng, thái độ,
hành động… Có nhân cách - tư tưởng cởi mở, trong sáng; Thái độ: hòa hiếu; Hành
động: dứt khoát, quyết liệt… và ngược lại.
Nhưng làm thế nào để có nhân cách, phẩm giá? Đó là một quá trình
tự rèn luyện, học hỏi. Con người sinh ra “trong trắng” như nhau. Quá trình dạy
dỗ, học hỏi, trang bị, rèn luyện, vun đắp… sẽ hình thành nhân cách. Yếu tố môi
trường sống và học tập là vô cùng quan trọng: “gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng”. Nếu môi trường là “ánh sáng” sẽ làm cho con người học hỏi, tiếp thu, kế
thừa truyền thống đạo đức, lối sống cao đẹp… thì nhân cách, phẩm giá ấy cũng sẽ
theo suốt cuộc đời họ…
Tuy nhiên, mỗi người có nhân cách, phẩm giá khác nhau, làm nên sự
khác nhau về giá trị của bản thân. Trong xã hội có kẻ giàu, người nghèo nhưng
giá trị con người không nằm ở chỗ sang - hèn mà ở thước đo nhân cách. Xã hội
càng phát triển, hiện đại thì nhân cách, phẩm giá con người càng được tôn trọng.
Môi trường giáo dục tích cực, lành mạnh, trong sáng… là tiền đề
cho một nhân cách, phẩm giá cao quý. Sẽ không có trẻ em yếu kém, không có trẻ
em hư hỏng nếu chúng được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường “trong sạch”,
tích cực, lành mạnh…
Để có được nhân cách, phẩm giá, cần phải được học tập, rèn luyện,
trang bị kiến thức. Kiến thức là “chìa khóa”, là ánh sáng soi đường để phân biệt
tốt - xấu, đúng - sai, để biết tránh chướng ngại vật và để điều chỉnh bản thân
mình.
Vâng, giá trị con người là sự kết tinh của nhân cách và phẩm giá
- cho dù giá trị đó mang yếu tố tinh thần. Nhưng đó chính là “nội lực” để khẳng
định vị trí và niềm tin riêng có trong mỗi cuộc đời.
Đánh mất nhân cách, phẩm giá là đánh mất mình.
Nếu không phát triển được nhân cách tốt hơn , các con cháu ta giữ được nhân cách của mình thì ít nhất tổ tông ông bà cha mẹ cô dì chú bác đã cảm ơn các con rồi vì ít nhất các con cũng giữ được một phần truyền thống của đại gia đình dòng tộc nhà ta .
Cách để các con:Cải thiện nhân cách
Tính cách của con người có thể thay đổi nhiều lần trong suốt cuộc
đời. Ta có thể không nhận ra rằng các hành vi càng ăn sâu khi người ta càng nhiều
tuổi hơn. Chìa khóa để cải thiện tính cách là thay đổi hành vi để tăng cường phẩm
chất tốt đẹp và hạn chế tính cách xấu. Ta hãy chuẩn bị giấy bút để sẵn sàng tự
xem xét nội tâm.
I/Nhận diện nét tiêu biểu
1.Ngồi xuống và liệt kê những phẩm chất
tốt đẹp của bản thân.
Ta nên đánh số thứ tự
theo mức độ tự tin khi sở hữu những đặc điểm này. Ví dụ như những phẩm chất biết
lắng nghe, cởi mở, đầy cảm xúc, thường xem xét nội tâm, sâu sắc hoặc thông
minh.
2.Liệt kê những tính cách tiêu cực.
Đây là những điểm mà người
ta thường hay phản ứng lại, hoặc những thứ mà mình cho rằng đang cản trở mình.
Ví dụ như tính rụt rè, giận dữ, nói nhiều, hay phán xét hoặc quá lo lắng.
Lưu ý rằng sự tích cực hay tiêu cực trong tình huống này mang
tính chủ quan. Một số người nghĩ rằng họ quá cởi mở hay nói nhiều là điều tốt.
Việc thay đổi tính cách cần phải dựa trên quan điểm và mong muốn của mình trong
việc cải thiện bản thân.
Danh sách thứ hai này còn khó lập hơn danh sách đầu tiên. Ta cần
dành thời gian để cân nhắc phẩm chất của mình khi tiếp xúc với người khác hoặc
khi ở một mình, vì đây là những yếu tố chính mà mình muốn thay đổi.
3.Gạch chân những điều mà mình không muốn thay đổi, ít nhất là ở hiện tại.
Ta không thể ngay lập tức thay đổi mọi thứ liên quan đến tính cách của mình.
4.Đánh dấu sao bên cạnh những điểm mà mình muốn củng cố hoặc thay đổi. Có thể
mình là người thông minh, nhưng mình vẫn muốn trở nên sắc bén hơn.
5.Ưu tiên những mục đánh dấu sao. Việc thay đổi hành vi nên thực hiện từ
từ, thay đổi từng đặc điểm một thông qua sự luyện tập và lòng quyết tâm.
I/Thay đổi hành vi
1.Chọn những nét tính cách mà mình muốn thay đổi. Ví dụ, tưởng tượng rằng
mình muốn trở nên mạnh dạn hơn.
2.Liệt kê những hành vi cho thấy sự e dè của mình khi tiếp xúc với người
khác. Ta có thể ghi lại những hành động như rời tiệc sớm, không ngắt lời, không
đưa ra ý kiến, tránh mặt người khác hoặc từ chối tình nguyện.
3.Chọn hành vi ngược lại để thực hiện. Ví dụ, tình nguyện đảm nhận vai trò mới
trong công việc hoặc nhận nhiều lời mời tham gia các sự kiện xã hội.
4.Chọn một người mà mình ngưỡng mộ có tính cách này và bắt chước hành vi của họ.
Ta nên áp dụng từng đặc điểm một thay vì toàn bộ tính cách, vì tính cách của mỗi
người là không ai giống ai. Tuy nhiên, mình có thể học hỏi nhiều ở người có những
hành vi tốt đẹp trong cuộc sống thường ngày.
5.Thường xuyên nhắc nhở bản thân duy trì những hành vi mới này. Đặt ra những
câu thần chú như “Mình sẽ được lắng nghe.” Cài đặt chức năng nhắc nhở trong điện
thoại để tương tác với nhiều người hơn.
III/Cải thiện bản thân
1.Duy trì thái độ tích cực.
Thái độ tiêu cực sẽ làm
giảm sự tự tin và quyết tâm hoàn thiện bản thân.
2.Học hỏi những điều mới mẻ.
Tham gia các tổ chức, lớp
học, câu lạc bộ, hoặc các nhóm mới. Ta rất dễ quay trở lại với thói quen cũ khi
gặp gỡ những người quen thân; tuy nhiên, những người mới quen thường không
trông mong gì ở mình và mình sẽ có thể bắt đầu hành vi mới một cách thành công.
3.Thoải mái với bản thân.
Tính cách không thể thay đổi một sớm một chiều. Ta nên cho bản
thân nhiều thời gian và không gian để chuyển đổi hành vi thành phẩm chất hoàn
thiện hơn.
4.Thử dùng chiến thuật “Giả vờ cho đến
khi trở thành sự thật”.
Trong một số trường hợp, mình cần hành động như thể trở thành một
người khác sẽ đem lại cho mình những người bạn mới, hành vi mới và thành công mới.
Bảo đảm rằng con người “giả” này phải phù hợp với mục tiêu của bản thân để
không phát triển thành phẩm chất xấu. Cách này hữu ích đối với nhiều người,
nhưng nếu không gặp được người hội tụ những đặc điểm này, mình có thể xem phim
để "giả vờ" cho đến khi trở thành sự thật. Sau một thời gian, tự
nhiên mình sẽ không còn nhút nhát, hoặc sẽ điềm tĩnh hơn chẳng hạn.
5.Xem xét danh sách trong một tháng và
đánh giá mức độ thành công của mình.
Tiếp tục cải thiện các nét tính cách mới sau khi mình đã thành công ở đặc điểm đầu tiên. Ví dụ, nếu đã kết giao nhiều bạn bè mới và bắt đầu chia sẻ ý kiến ở nơi làm việc, có lẽ đây là lúc mình cần chuyển sang cải thiện những đặc điểm tiêu cực lớn hơn.
Cách để CÁC CON:Nhận diện Kẻ Thái nhân cách
The Hare Psychopathy Checklist (Bảng Kiểm tra Thái nhân cách
Hare) ban đầu được phát triển nhằm đánh giá tình trạng tâm lý của tội phạm, và
thường được sử dụng để chẩn đoán những người biểu hiện các đặc điểm và xu hướng
của một kẻ thái nhân cách. Hầu hết các chuyên gia sức khỏe tâm thần xác định kẻ
thái nhân cách là thú săn mồi cùng loài, lợi dụng người khác bằng sự quyến rũ,
lừa dối, bạo lực và cách khác để có được thứ mà họ muốn. Ta có thể nhận diện loại
người này bằng The Hare Psychopathy Checklist và tin vào trực giác của chính
mình.
I/Các bước
1.Nhìn vào sự quyến rũ giả tạo mang
tính chất bên ngoài.
Kẻ thái nhân cách thường mang trên mình bộ mặt dễ mến đáng yêu
và luôn thoải mái. Ví dụ, kẻ thái nhân cách thường làm điều tốt để có được sự
tin tưởng của nạn nhân.
2.Nhìn vào sự nhận thức mang tính phô
trương.
Kẻ thái nhân cách thường
tin rằng họ thông minh hay mạnh mẽ hơn bất kỳ ai khác, trong khi thực tế không
phải như vậy.
3.Nhìn vào nhu cầu muốn được kích
thích liên tục.
Kẻ thái nhân cách không
thích sự tĩnh lặng, yên ắng và suy tư. Họ cần được giải trí và hoạt động liên tục.
4.Xác định biểu hiện nói dối bệnh hoạn.
Kẻ thái nhân cách thường
hay nói dối, từ chuyện nhỏ nhặt đến to lớn khiến cho người khác hiểu nhầm.
5.Đánh giá mức độ thao túng.
Kẻ thái nhân cách thường
rất xảo quyệt và khiến người khác làm theo yêu cầu của mình. Họ lợi dụng cảm
giác tội lỗi, ép buộc và cách khác nhằm điều khiển nạn nhân.
6.Nhìn vào cảm giác tội lỗi.
Nếu một người không hề có
cảm giác này thì đó là dấu hiệu của chứng thái nhân cách. Loại người này không
có cảm giác tội lỗi với những người xung quanh.
Kẻ thái nhân cách thường giả vờ biểu hiện cảm giác tội lỗi về
hành vi xấu mà họ gây ra để người đối diện không giận dữ. Ví dụ, họ sẽ giả vờ cảm
thấy tội lỗi về hành động làm tổn thương người khác, khi đó nạn nhân lại trở
thành người đi an ủi họ.
7.Xem xét tác động hoặc phản ứng cảm
xúc của một người.
Các nghiên cứu cho thấy kẻ thái nhân cách thường không có phản ứng
về mặt tình cảm đối với các khái niệm gợi nên cảm xúc tích cực hay tiêu cực của
người khác, ví dụ như “yêu” hoặc “giận dữ”. Họ thường biểu hiện cảm xúc điển
hình đối với các trường hợp có người chết, bị thương, hoặc trường hợp khác làm
cho người đối diện phản ứng tiêu cực.
Sự khác nhau giữa phản ứng tự kỷ và thái nhân cách đó là người tự
kỷ ban đầu sẽ chết lặng đi, nhưng sau đó thể hiện sự đau buồn hoặc tìm mọi cách
để giúp đỡ. Kẻ thái nhân cách không hề
có cảm xúc sâu sắc ẩn giấu bên trong.
8.Nhìn vào sự thiếu hụt cảm thông và
lòng trắc ẩn.
Kẻ thái nhân cách thường
chai sạn về mặt cảm xúc và không giống với người bình thường tự nhiên.
Nghiên cứu chỉ ra rằng chứng thái nhân cách không chỉ đơn giản
là thiếu sự cảm thông. Họ không đồng cảm một cách tự phát, nhưng có thể thực hiện
theo ý muốn để quyến rũ người khác, và có khả năng đồng cảm nhận thức (khả năng
đọc và hiểu cảm xúc của người đối diện) nhưng sự cảm thông về mặt tình cảm bị
suy yếu (khả năng cảm nhận loại cảm xúc này).
Đây là một cách để phân biệt kẻ thái nhân cách và người tự kỷ;
loại người thứ hai có thể thiếu sự đồng cảm và hầu như bị trơ về mặt cảm xúc,
nhưng họ thật sự quan tâm người xung quanh và thể hiện lòng cảm thông sâu sắc.
9.Nhìn vào phong cách sống.
Kẻ thái nhân cách thường sống ký sinh, có nghĩa là sống nhờ vào
người khác. Họ lợi dụng người xung quanh để có được sức mạnh và nguồn lực, và
bước vào đời sống của họ một cách nhanh chóng và dễ dàng.
10.Quan sát hành vi.
The Hare Checklist bao gồm các đặc điểm hành vi như: thiếu kiểm
soát hành vi, tình dục bừa bãi và các vấn đề hành xử ban đầu.
11.Đề cập về mục tiêu.
Kẻ thái nhân cách thường
có mục tiêu lâu dài không thực tế. Họ không hề có mục tiêu, hoặc không thể đạt
được và dựa trên ý thức phóng đại về thành tích cũng như khả năng riêng.
12.Nhìn vào dấu hiệu bốc đồng lẫn vô
trách nhiệm.
Hai đặc điểm này thường
minh chứng cho trường hợp thái nhân cách.
13.Xem xét dấu hiệu một người không nhận
trách nhiệm.
Kẻ thái nhân cách sẽ
không bao giờ thừa nhận là mình sai hay nhận lỗi và sai sót. Khi được hỏi, họ sẽ
thừa nhận đã gây ra lỗi lầm, nhưng lại thao túng người khác để tránh hậu quả.
Bất kỳ lời buộc tội nào cũng sẽ có thể bị đánh bật trở lại người
tố cáo, làm cho người đó cảm thấy rằng họ là người độc ác hoặc không công bằng
khi đưa ra khiếu nại hợp lý. Nạn nhân sẽ bắt đầu xem xét lại vấn đề muốn đưa
ra.
14.Tìm hiểu đời sống hôn nhân.
Một vài kẻ thái nhân cách
thường không có mối quan hệ lâu dài. Họ hay đổ lỗi cho chồng/vợ cũ về các vấn đề
hôn nhân, và không bao giờ tự nhận mình làm cho cuộc hôn nhân thất bại.
15.Nhìn vào tiền sử phạm tội vị thành
niên.
Kẻ thái nhân cách thường
thể hiện hành vi phạm pháp trong độ tuổi thanh thiếu niên, bao gồm hành vi hung
hăng với người xung quanh.
Họ thường thể hiện những đặc điểm tính cách trong chuỗi hành động
thuộc tam giác Macdonald (Macdonald Triad) - một bộ ba các dấu hiệu sớm của
hành vi hung hăng. Một trong số đó bao gồm việc hành hạ động vật. Hãy nhớ câu
nói của Arthur Schopenhauer: "Một người làm hại một con vật thì không thể
là một người tốt". Có một câu nói khác tương tự của Mahatma Gandhi: "Ta
sẽ biết rõ một ai đó thông qua cách họ đối xử với động vật".
16.Nhìn vào khả năng phạm nhiều loại tội
ác.
Kẻ thái nhân cách có thể
thực hiện nhiều loại hành vi phạm pháp, và trong khi họ có thể bị bắt ở một vài
trường hợp, thì khả năng luồn lách và chạy trốn là một dấu hiệu của chứng thái
nhân cách.
17.Nhìn vào dấu hiệu thường xuyên sử dụng
“hình ảnh người bạn đáng thương”.
Kẻ thái nhân cách là
chuyên gia trong việc thao túng cảm xúc và sự bất an làm người khác xem họ là
“người bị đối xử bất công tội nghiệp”, vì thế sẽ giảm đề phòng và dễ bị lợi dụng
trong tương lai. Nếu điều này kết hợp với cá hành động không thể chấp nhận được
và xấu xa, thì đây là dấu hiệu cảnh báo rõ ràng nhất về bản chất thật sự của kẻ
thái nhân cách.
Họ thường thể hiện cảm xúc giả tạo.
Sự khác biệt giữa điều này và sự lo lắng đó là những người lo âu
sẽ có cảm giác tội lỗi tuyệt vọng sâu sắc, trong khi kẻ thái nhân cách chỉ thể
hiện bằng vẻ bên ngoài. Người hay lo lắng sẽ biểu hiện các triệu chứng đôi khi
gây ảnh hưởng lên họ, trong khi đó kẻ thái nhân cách có thể diễn xuất hoặc ngừng
theo ý muốn.
18.Chú ý tới hành vi của họ theo thời
gian.
Dù nhiều kẻ thái nhân cách đều là những diễn viên tài giỏi và có
thể hoà nhập tốt vào xã hội, họ có thể vô ý để lộ nhiều đặc điểm tính cách có vấn
đề.
Ví dụ, một kẻ thái nhân cách ở công ty có thể bắt nạt ai đó để
tiến xa hơn trong sự nghiệp. Họ có thể hạ thấp, bôi xấu, đối xử tệ, nhiếc móc
và tấn công thân thể (thậm chí là sát hại trong những trường hợp nghiêm trọng)
đối với những người mà họ thấy không có ích hoặc cản đường họ, và/hoặc họ còn mắc
thêm một chứng bệnh kết hợp như khổ dâm. Một vài đối tượng dễ bị tấn công bao gồm
người tàn tật, người già và trẻ em.
Lời khuyên
Hãy tin vào bản năng và trực giác của mình. Nếu tin rằng ai đó
biểu hiện đặc điểm của một kẻ thái nhân, mình cần giữ khoảng cách với người đó
để không bị thao túng hoặc bị kéo vào mối quan hệ có thể khiến mình đau đớn.
Suy xét cẩn thận để tránh nhầm lẫn giữa chứng thái nhân cách với
các rối loạn khác như lo lắng hay tự kỷ.
Cảnh báo
Không nên xếp người mình không thích vào loại mắc chứng thái nhân cách chỉ vì biểu hiện 1 hoặc 2 đặc điểm trong bảng kiểm tra Hare. Chứng thái nhân cách rất phức tạp và không dễ dàng nhận diện được. Chỉ có chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần có trình độ mới có thể chẩn đoán chính xác liệu một người có bị thái nhân cách hay không.
Cách để CÁC CON:Nhận biết Người Rối loạn Nhân cách Chống
đối Xã hội
Một người được coi là Sociopath khi họ mắc chứng Rối loạn nhân
cách chống đối xã hội (Sociopathic). Chứng bệnh này bao gồm các đặc điểm như:
coi nhẹ cảm giác của mọi người, không có cảm giác hối hận hoặc xấu hổ, thao
túng người khác, ích kỉ vô lối, luôn lừa dối để đạt được mục đích của mình.
Sociopath có thể cực kỳ nguy hiểm, hoặc có thể gây ra sự khó chịu cho mọi người.
Ta cần phải nhận ra mình có đang ở gần một người như vậy không, có thể đó là
người yêu của mình hoặc một đồng nghiệp nào đó. Nếu mình muốn biết những cách để
nhận ra một người mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội (Sociopath),
mình phải hết sức để ý tới những gì người đó nói hoặc làm. Chúng ta hãy bắt đầu
từ bước 1.
I/Nhận ra những Dấu hiệu
1.Hãy để ý nếu người đó không biết xấu hổ.
Hầu hết, người mắc chứng
bệnh này đều có những hành vi xấu nhưng lại không cảm thấy ăn năn hối lỗi. Những
hành vi đó có thể bao gồm: xâm phạm thân thể hoặc xúc phạm người khác ở nơi
công cộng. Nếu đúng là một người có nhân cách bệnh lý, anh ta hoặc cô ta sẽ
không cảm thấy hối hận vì đã làm đau người khác, nói dối, thao túng hoặc những
hành vi sai trái khác.
Khi Sociopath làm một điều sai trái, họ sẽ không bao giờ nhận lỗi
và sẽ đổ tội cho người khác.
Họ sẵn sàng làm người khác tổn thương bất kì lúc nào, miễn là đạt
dược mục đích của mình. Đó là lí do những Sociopath thường là những người thành
đạt.
Họ đối xử tàn bạo với động vật và hoàn toàn không cảm thấy ăn
năn vì điều đó.
2.Hãy để ý xem họ có thường xuyên nói
dối không.
Những người mắc hội chứng
này hoàn toàn cảm thấy thoải mái với việc nói dối về tất cả mọi thứ. Thực tế, họ
sẽ cảm thấy cực kỳ khó chịu khi phải nói ra sự thật. Nếu sự dối trá bị lật tẩy,
họ vẫn sẽ tiếp tục nói dối quanh co. Dù vậy, nếu họ sắp sửa bị lật tẩy một chuyện
tày đình, họ sẽ thú nhận toàn bộ mọi chuyện để duy trì niềm tin nơi mình.
Ví dụ, họ có thể hứa sẽ nhờ người khác giúp đỡ nhưng rồi không
làm theo lời hứa, hoặc họ chỉ thay đổi bản thân trong thời gian ngắn rồi đâu lại
vào đó.
Họ cũng rất thích nói dối về quá khứ của mình. Hãy để ý những điều
bất hợp lý trong câu chuyện mà họ kể.
Một vài người có khả năng che giấu những lời dối trá của mình rất
giỏi. Ví dụ, họ có thể giả vờ ra khỏi nhà để đi làm hàng ngày trong khi đang thất
nghiệp.
Nhiều người bệnh còn hoang tưởng đến mức tin rằng: mọi điều dối
trá mà họ nói đều là sự thật. Ví dụ, Charles Manson, một tên tội phạm giết người
nguy hiểm đã từng tuyên bố: “Tôi chưa từng giết người! Tôi đâu có cần phải giết
người!” (Hắn cho rằng tất cả là do đàn em của hắn gây ra chứ không phải bản
thân hắn.)
3.Hãy để ý xem họ có vẻ bình thản tới
mức kỳ lạ trong mọi hoàn cảnh không.
Sociopath có thể trải qua
một sự kiện chấn động mà không mảy may có chút cảm xúc gì, ngay cả nét mặt cũng
không thay đổi. Họ thường đón nhận tin vui với vẻ lạnh lùng và trống rỗng. Họ
không tiếp nhận các sự kiện như người bình thường. Họ có thể chỉ phản ứng tối
thiểu trong tình huống nguy hiểm hoặc đáng sợ.
Nếu mình nhận thấy mình đang bối rối hoặc sợ hãi mà người ở cạnh
mình lại không có phản ứng gì, có thể họ không đón nhận sự kiện đó giống như mình.
Đây là biểu hiện của người thiếu sự thấu cảm. Trong số đó có người mắc chứng rối
loạn nhân cách chống đối xã hội, những người không có lòng cảm thông với người
khác.
Hãy kiểm tra xem họ có bao giờ cảm thấy bồn chồn hoặc lo lắng
không, nhất là khi ở trong những tình huống gây ra trạng thái đó. Tất nhiên, có
những người bình tĩnh hơn những người khác, nhưng rồi họ cũng sẽ thể hiện ra một
chút bối rối.
Ta cũng nên để ý xem họ có phản ứng mạnh mẽ trong các tình huống
không rõ lý do. Đó có thể là cảm xúc giả tạo hoặc là cơ chế phòng vệ của họ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy một Sociopath sẽ không cảm thấy sợ hãi
ngay cả khi được xem những hình ảnh kinh khủng hoặc khi bị điện giật nhẹ. Trong
khi đó, những người bình thường sẽ cảm thấy khó chịu và sợ hãi trong những trường
hợp đó.
4.Hãy để ý xem họ có cực kỳ thu hút
lúc mới quen không.
Những người mắc chứng này
rất biết cách thu hút người khác, bởi vì họ biết cách đạt được thứ mình muốn.
Những người hấp dẫn luôn có thể khiến cho người khác cảm thấy đặc biệt, họ biết
hỏi đúng câu cần hỏi và được đánh giá là những người vui tính, dễ mến và thú vị.
Những người thật sự quyến rũ có khả năng thu hút bất kì ai, từ trẻ nhỏ tới người
già. Nếu người đó thu hút mình từ cái nhìn đầu tiên, nhưng sau này lại có những
hành vi khiến mình sợ hãi hoặc lo lắng, thì có thể mình đã gặp phải một
Sociopath.
Họ có thể hành động khác thường bằng cách giúp đỡ người lạ hoặc
cực kỳ rộng lượng với những người hầu như không quen. Tuy nhiên họ đối xử với
người thân và bạn bè theo cách ngược lại hoàn toàn.
Cũng có thể coi họ như những nghệ sỹ trong việc điều khiển người
khác vì họ có những bí quyết riêng. Họ cần phải thu hút người khác để có được
thứ mình cần. Để thực hiện được mục đích của mình, họ cần phải hòa nhập vào đám
đông, nghĩa là họ phải biết cách cười nói, chào đón mọi người và khiến mọi người
thấy thoải mái.
Cho dù những Sociopath rất quyến rũ nhưng họ đều có xu hướng chống
đối xã hội rất mạnh. Họ thường gặp khó khăn với việc giao tiếp trong một khoảng
thời gian dài. Họ đi vào phòng vệ sinh nhiều lần và ngồi đó rất lâu. Họ có thể
vô cùng hấp dẫn rồi sau đó lại lạnh lùng và xa cách. Họ cũng không giao tiếp một
cách tự nhiên được. Trong khi tính cách của mọi người đều dao động từ điểm rất
khó gần tới điểm rất thu hút, những người mắc chứng này lại ở hai thái cực đó rất
rõ ràng. Họ cũng có thể tìm ra những điểm yếu hoặc bí mật của người khác để
thao túng. Việc này thường đi kèm với biểu hiện thiếu lòng trắc ẩn hoặc vô cảm
với cuộc sống người người khác.
5.Hãy để ý xem họ có thao túng người
khác không.
Những người mắc chứng bệnh
này đều có khả năng nắm bắt điểm yếu của người khác và khai thác nó tối đa. Khi
đã quyết định, họ sẽ thao túng bất kỳ ai để làm bất kỳ việc gì. Họ thường nhắm
tới những người yếu đuối và tránh xa những người mạnh mẽ hơn mình. Đối tượng họ
tìm kiếm sẽ là những người đang buồn chán, bất an hoặc mất phương hướng. Đó là
những đối tượng dễ tấn công nhất. Nói cách khác, người có những nhu cầu chưa được
đáp ứng là người dễ bị thao túng nhất bằng chính những nhu cầu đó. Hãy xem liệu
anh ta hoặc cô ta có giỏi trong việc bắt người khác làm theo ý mình không.
Những Sociopath thật sự sẽ dần mở rộng tầm ảnh hưởng của mình và
điều khiển được người khác mà không bị ai nhận ra. Họ thích kiểm soát mọi trường
hợp và không thoải mái khi ở cạnh những người mạnh mẽ. Họ luôn lo sợ bị phát hiện.
Họ sẽ giữ khoảng cách nhất định, và từ đó, lân la tiếp xúc với
người “mạnh mẽ” để xem mình đã bị phát hiện chưa. Mặt khác, người bệnh lại rất
thích bám đuôi những người mà họ cảm thấy có thể lừa được. Nếu bị phát hiện, họ
sẽ chơi bài ngửa, hoặc bỏ đi với những lí do rất vô lý.
Phần lớn, họ chiếm được ưu thế bằng cách bạo hành tinh thần, khiến
người khác phải phụ thuộc vào họ. Họ muốn khiến người khác ngày một yếu thế hơn
mình. Họ cho rằng, chừng nào còn chưa bị phát hiện thì họ còn được an toàn.
Hãy để ý xem họ có lừa dối người khác một cách thản nhiên để đạt
được mục đích không, họ làm vậy có chút áy náy hay xấu hổ gì không.
6.Hãy để ý tới những dấu hiệu của hành
vi bạo lực.
Khi còn bé, một số người mắc chứng này đã từng hành hạ những động
vật nhỏ như ếch, mèo con, chó con hoặc những người không có khả năng tự vệ. (Lớn
lên, những biểu hiện này càng rõ rệt, nhưng thường họ sẽ bạo hành về mặt tinh
thần hơn.) Những hành vi đó luôn có ác ý chứ không nhằm mục đích tự vệ. Họ sẽ bất
ngờ tạo ra tình huống xấu hoặc bẻ cong lời người khác nói. Nếu bị chất vấn, họ
sẽ lập tức đổ lỗi cho người khác, vin vào lòng trắc ẩn của mọi người để lảng
tránh, miễn là họ vẫn được an toàn.
Nếu mình cảm thấy người đó có vẻ bề ngoài rất bình thản, đồng thời
lại có thể trở nên bạo lực một cách đột ngột thì có lẽ, họ đang có hành vi chống
đối xã hội.
7.Hãy để ý xem họ có cái tôi lớn hay
không.
Những người này bị hoang tưởng và cho rằng họ là người tuyệt nhất
thế giới. Họ không chấp nhận những lời chỉ trích và thường tự mãn về bản thân.
Họ rất nhạy cảm với vấn đề quyền lực và tự cho rằng mình xứng đáng được người
khác phục tùng mà không cần quan tâm tới ai. Họ chỉ muốn lợi dụng người khác.
Họ cũng có những cách nhìn nhận thiếu thực tế về khả năng của bản
thân. Ví dụ, họ có thể nghĩ rằng họ rất có tài năng ca hát hoặc nhảy múa, trong
khi thực tế, họ chẳng có chút năng khiếu nào. Họ bị ảo tưởng và/hoặc luôn nói
những điều để củng cố cho những lời nói dối của mình.
Họ luôn tin rằng mình giỏi hơn tất cả mọi người trong khi không
hề có một chứng cứ gì thuyết phục.
Họ cũng có thể chỉ biết yêu bản thân. Do đó, họ thường thích nói
về bản thân hơn là nghe người khác kể chuyện. Họ cũng dành rất nhiều thời gian
để nhìn ngắm bản thân trong gương thay vì quan sát cuộc sống. Nhìn chung, họ
không thích nghe những gì người khác muốn nói.
8.Hãy xem người đó có ít bạn bè không.
Cho dù không phải ai cũng
là người có rất nhiều mình, nhưng mình nên đề phòng ngay nếu người đó không hề
có một người bạn nào. Có thể anh ta hoặc cô ta có những kẻ xu nịnh vây quanh, nhưng
mình hãy tìm hiểu xem họ có mối quan hệ nào thật sự có ý nghĩa không. Nếu họ gần
như không có bạn bè gì thì rất có thể họ có vấn đề, trừ khi họ là người rất
nhút nhát hoặc có lí do bắt buộc nào khác.
Tương tự là với người nhà của họ. Nếu họ không có liên hệ gì với
gia đình và không bao giờ nhắc tới gia đình thì rất có thể đó là vấn đề. Tất
nhiên là họ có thể có lí do để làm vậy, ví dụ như những kí ức xấu hồi còn bé.
Hãy để ý nếu họ không có liên quan gì tới quá khứ của họ. Nếu họ
không có bạn bè nào từ thời trung học hoặc đại học, hoặc bất kỳ giai đoạn nào
trước đây, rất có thể họ bị nhân cách bệnh lý. Khi bị phát hiện hoặc tìm thấy một
đối tượng khác phù hợp hơn, họ sẽ bỏ đi.
9.Hãy xem người đó có muốn cô lập mình
không.
Những người bị hôi chứng
này thích gặp gỡ mọi người và làm thân rất nhanh. Vì thế, mình không có cơ hội
rút lui hoặc thay đổi quyết định. Có thể sau vài tuần, mình sẽ nhận ra họ trở
nên cực kỳ thân mật với mình nếu hai người đang hẹn hò. Anh ta hoặc cô ta sẽ khiến
mình cảm thấy hai người như đôi tri kỷ, đó là do họ có khả năng nói đúng những gì
mình muốn nghe. Khi họ nhận ra mình có nhu cầu nào đó chưa được thỏa mãn, họ sẽ
coi đó là một cơ hội tốt để nhập vai và thỏa mãn mong muốn của mình. Họ sẽ muốn
độc chiếm mình, thay vì “chia sẻ” mình với những người khác.
Nếu hai ngườiđang hẹn hò, người đó sẽ nhanh chóng ngăn cản mình
đi chơi với bạn bè do họ cảm thấy bị đe dọa. Họ sẽ đưa ra mọi lý do để không đi
chơi với bạn bè của mình như: “Họ không hiểu em bằng anh” hoặc “Họ không muốn
anh đi cùng” hoặc “Họ đang cố chia rẽ đôi ta vì họ không ưa anh”. Họ sẽ đóng
vai người bị hại để thu hút sự đồng cảm và bảo vệ của mình. Họ sẽ khiến mình cảm
thấy chỉ có mình mới giúp được họ, rằng mình nên dành thời gian ở bên họ và chỉ
lắng nghe họ mà thôi.
10 .Hãy để ý xem họ có phải là người
thiếu chín chắn không.
Sociopath không bao giờ học
được gì từ sai lầm, và họ sẽ mắc sai lầm hết lần này tới lần khác. Vì vậy, họ
không biết rút kinh nghiệm như người khác. Hãy để ý những hành vi thiếu chín chắn
mà họ che giấu dưới sự khéo léo và quyến rũ. Dưới đây là một vài hành vi như vậy:
Vô cùng ích kỷ. Họ muốn có mọi thứ bằng mọi giá. Kèm theo đó là
việc không thích chia sẻ với người khác.
Có một cái tôi rất lớn. Họ bị ám ảnh về bản thân mình đến nỗi
không quan tâm tới bất kỳ ai khác nữa.
Đeo bám. Họ muốn mình luôn ở bên họ bất kỳ khi nào họ cần.
Không thích gánh trách nhiệm. Họ không sẵn sàng hoặc không thể
giải quyết bất cứ một trách nhiệm nào được giao. Hoặc là họ sẽ đẩy việc cho người
khác rồi cướp công hoặc là họ sẽ hoàn toàn trốn tránh trách nhiệm đó.
11.Thao túng tinh thần.
Vì sociopath thường nói dối và lừa gạt nên họ có khuynh hướng
khiến nạn nhân của mình cảm thấy như họ là nguồn gốc của những rắc rối do
sociopath gây ra. Đây là dấu hiệu nổi bật của một sociopath.
Đổ lỗi cho mình về những gì họ làm. Nếu người đó nói dối và kết
tội mình nói dối, có lẽ mình đang đối mặt với một sociopath.
Khiến mình phát điên. Nếu họ làm gì đó khiến mình nổi khùng, và
tỏ vẻ như mình đang phát cáu một cách vô cớ, người đó có thể là một sociopath.
12.Nhìn chằm chằm với thái độ thao
túng.
Cái tôi của sociopath
càng lớn hơn khi nạn nhân của họ tỏ ra khó chịu.
Nếu họ nhìn một cách lạnh lùng và khó hiểu để đe dọa mình, và
không tỏ ra hối tiếc vì đã khiến mình căng thẳng, người đó có thể là một
sociopath.
I/Tránh xa và Chấm dứt Mối quan hệ
1.Đừng cho họ những gì họ muốn từ mình.
Khi giao tiếp với họ,
mình nên tỏ ra thật tẻ nhạt để không làm thỏa mãn nhu cầu ham vui của họ. Những
người đó rất nhanh chán. Việc nay bao gồm cả về mặt tinh thần. Khi nói chuyện với
họ, hãy luôn điềm đạm. Đừng tỏ ra hào hứng hoặc tranh cãi với họ. Luôn giả vờ rằng
mình không có những điều họ muốn, ví dụ như: bị mất tiền, bị ăn trộm… Dù họ muốn
gì, hãy từ chối một cách lạnh lùng và điềm tĩnh.
2.Hãy tránh xa nếu có thể.
Khi mình đã chắc chắn ai đó
là một Sociopath, mình hãy tránh họ càng xa càng tốt. Nếu người đó là đồng nghiệp
hoặc chơi cùng nhóm với mình, có lẽ mình sẽ không thể tránh mặt họ tuyệt đối được.
Nhưng mình hãy lánh mặt họ một cách lịch sự và khéo léo. Ta nên nhớ, họ sẽ nhận
ra mình đang cố tình xa lánh họ, và kết quả là họ càng muốn tiếp cận mình hơn.
Ta hãy cứng rắn và dành càng ít thời gian cho họ càng tốt.
Ta không nên tỏ ra xấu tính hoặc lạnh lùng quá đáng. Việc đó rất
dễ khiến mình gặp nguy hiểm.
Đừng bảo với họ: “Cậu bị bệnh rối loạn nhân cách chống đối xã hội”.
Việc này sẽ khiến họ tức giận và càng muốn lôi kéo mình hơn. Ta không nên để họ
biết rằng mình đang cảnh giác với họ. Hãy lánh mặt họ một cách thật khéo léo.
3.Hãy học cách “miễn nhiễm” với sự thu
hút của họ.
Người có nhân cách bệnh lý luôn muốn chinh phục mình bằng quà
cáp, lời khen hoặc những câu chuyện để lôi kéo cảm tình của mình. Nhưng hãy nhớ,
một khi mình đã nhận ra con người của họ, đừng bao giờ quay đầu lại. Không có
hành vi mua chuộc hoặc lời nói dối nào có thể khiến mình cho họ một cơ hội thứ
hai. Ta thông minh hơn thế nhiều.
Tuy nhiên, mình nên nhớ rằng cảm giác ngờ vực xuất hiện vào lúc
này là điều bình thường, vì sociopath biết cách khiến người khác nghi ngờ bản
thân bằng những hành vi lúc này lúc khác của họ.
Đừng nhượng bộ. Họ có thể khiến mình cảm thấy thương hại. Họ sẽ
nói về việc họ cảm thấy cô đơn thế nào, mình quan trọng với họ ra sao. Nhưng nếu
họ đúng là một người hay lừa dối và muốn thao túng mình, mình không nên thực
lòng thương họ. Ta chỉ nên thông cảm vì họ có một tâm lý không bình thường.
4.Nếu mình đang hẹn hò với một người
như vậy, hãy thoát khỏi mối quan hệ đó ngay.
Ta càng nấn ná, mọi chuyện
sẽ càng tồi tệ hơn, và mình càng dễ bị cuốn vào những suy nghĩ của họ. Nếu mình
muốn kết thúc mối quan hệ này, mình phải nói chia tay càng sớm càng tốt. Nhưng
mình đừng nói lý do chia tay là vì mình nghĩ họ có bệnh về tâm lý.
Hãy để họ ngờ vực về lý do chia tay để tránh thôi thúc họ có ý định
thao túng mình. Hãy kiên quyết với quyết định của mình vì có thể mình phải tái
cam kết nhiều lần với quyết định đó.
Hãy nhớ người thực sự vô tâm khác với người bị nhân cách bệnh
lý. Chỉ vì một người đối xử tệ bạc và vô tâm với mình, không có nghĩa là họ bị
bệnh, mà có thể họ chỉ là một người tồi tệ thôi. Một Sociopath thật sự sẽ không
quan tâm tới cảm giác của bất kỳ ai.
Nếu mình thực sự bị kiểm soát hoặc bị thao túng, mình hãy chủ động
cắt đứt quan hệ. Ta có thể nói chia tay qua điện thoại hoặc nhờ bạn bè giúp đỡ
nếu cần phải đến dọn đồ của mình đi. Đối với một Sociopath, câu nói “Không”
không phải là một câu trả lời. Nếu mình muốn chia tay, họ có thể sẽ tuyệt vọng
và dùng tới bạo lực để ép mình ở lại.
5 .Hãy cảnh báo mọi người.
Dù mình không nhất thiết phải đi loan truyền khắp nơi rằng người
đó bị nhân cách bệnh lý, trừ phi người đó thật sự nguy hiểm, mình vẫn nên cảnh
báo với những người quen của họ. Đặc biệt là nên cảnh báo những người đang muốn
hẹn hò với người bị bệnh. Đừng chọc giận họ bằng cách kể cho tất cả mọi người
cùng biết sự thật. Trong trường hợp mình thấy có người sắp trở thành nạn nhân của
họ, mình chắc chắn nên nói ra điều mình nghĩ.
Hãy ứng biến tùy trường hợp. Nếu người này ở một cấp cao hơn mình
trong công ty, mình không nên đi nói sự thật với mọi người. Ta chỉ cần tránh họ
càng xa càng tốt.
6.Hãy biết nghĩ cho bản thân.
Mục tiêu của những Sociopath là những người thiếu chính kiến hoặc
luôn cần sự giúp đỡ. Để tránh trở thành mục tiêu của họ, mình nên tự tin vào
chính mình và có chính kiến riêng. Người có nhân cách bệnh lý luôn tránh xa những
người mạnh mẽ và cứng rắn. Họ biết rằng họ không thể thao túng những người như
vậy.
Có thể việc này sẽ mất rất nhiều thời gian, nhưng bằng cách luôn
tỉnh táo với mọi thứ, tiếp cận vấn đề từ nhiều hướng, dành thời gian với những
người có suy nghĩ khác mình, mình có thể trở thành một người có chính kiến hơn.
Sự tự tin cũng rất cần thiết. Nếu mình tự tin, mình sẽ có những suy nghĩ độc lập. Như vậy, những người mắc chứng bệnh này sẽ không dám tiếp cận mình.
7.Đừng sợ những Sociopath.
Hãy vận dụng kỹ năng tư
duy của bản thân (như vừa đề cập), sử dụng lí lẽ và sự điềm đạm để đối đáp với
họ. Ban đầu, họ có thể nói dối về mọi thứ. Nếu người này giả vờ, mình không nên
a dua theo những lời nói rống tuếch của họ. Thứ hai, họ rất thông minh. Điều đó
cũng có thể khiến mình khó chịu khi phải gồng mình lên hoặc cố tổ ra thông minh
bằng họ. Hoặc rất có thể, mình phải lẩn tránh nhu cầu muốn trở thành trung tâm
của sự chú ý của họ.
Nếu mình không còn thấy sợ họ, ngừng ganh đua với họ, biết chấp
nhận bản thân và trân trọng giá trị của mình, họ sẽ không còn cơ hội thao túng mình
nữa. Phần đông những Sociopath không phải là kẻ sát nhân, độc ác hay quái dị. Họ
cũng là con người, những người mà mình nên cẩn trọng trong giao tiếp. Họ không
hề lựa chọn để trở thành người như vậy, và mình cũng không hề lựa chọn để trở
thành nạn nhân của họ. Tuy nhiên, mình có thể khiến việc thao túng của họ trở
nên dễ hơn hoặc khó hơn, lựa chọn này là của mình. Hãy tìm hiểu cách mà họ thao
túng người khác, đồng thời, hãy nắm chắc các phương pháp để tự bảo vệ bản thân.
Tất nhiên, Sociopath sẽ không thích khi mình thể hiện tính cách
mạnh mẽ hoặc từ chối họ. Nhưng nhờ đó, họ sẽ thôi đeo bám và ngừng cố gắng thao
túng mình, bởi vì họ biết kiểu gì cũng không lôi kéo được mình. Đối với họ, việc
đó rất đáng chán.
Lời khuyên
Nếu có ai đó tốt đến không tưởng tượng được thì rất có thể họ có
vấn đề. Đây là kết quả của bất kỳ chẩn đoán rối loạn tâm thần nào, từ rối loạn
nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ranh giới và chứng ái kỷ.
Sociopath luôn biết cách khiến người khác nghĩ mình là nạn nhân,
trong khi bản thân họ mới chính là thủ phạm. Đó là cách họ đấu trí với mình.
Họ sẽ nói đủ thứ để khiến mình tha lỗi, rồi sau đó lại bảo rằng:
họ chưa từng nói thế bao giờ.
Vài chuyên gia cho rằng: những người mắc chứng này bị tổn thương
ở phần vỏ não trước trán – nơi điều khiển cảm xúc, đạo đức...
Sociopath thường trách móc nạn nhân vì những thiếu sót của chính
mình. Họ không bao giờ tự nhận lỗi mà thay vào đó lại chỉ trích nạn nhân. Đó là
điểm mấu chốt trong các chẩn đoán về rối loạn tâm thần.
Phần lớn họ đều biết cách che giấu sự vô cảm của mình. Họ là những
diễn viên giỏi (nhập vai trong mọi hoàn cảnh). Vì thế, những điều này được phát
hiện ra dựa trên những hành vi lộ liễu của những Sociopath thiếu kinh nghiệm,
trẻ tuổi hoặc bị tự kỷ dạng thấp (những người không che giấu những hành vi hung
hăng chống đối xã hội).
Vài chuyên gia nói rằng: phần đông những người mắc chứng này đều
từng bị bạo hành khi còn nhỏ.
Hành vi chống đối xã hội là hành vi được di truyền. Hãy quan sát
kỹ gia đình của họ để nhận ra nhân cách thật sự của người đó.
Những người chống đối xã hội hay nói dối về quá khứ, mình đừng
tin vào những gì họ nói. Thay vào đó, hãy để ý tới những điểm bất nhất trong
câu chuyện của họ. Thông thường, sẽ có một hoặc hai chi tiết trong những câu
chuyện giả đối của họ không hề thay đổi. Hoặc đó là sự thật, hoặc đó chỉ là điều
mà họ tin là thật mà thôi.
Hãy nhận ra khi nào họ muốn thao túng mình. Nếu không, họ sẽ khiến
mình phải làm những điều mình không muốn.
Hãy cố gắng thao túng họ. Việc này rất khó, nhưng nếu làm được,
nó sẽ có lợi cho mình. Để làm được, mình phải khiến họ nghĩ rằng: đó (điều mà
mình muốn) là ý tưởng của họ. Hãy khiến họ tin rằng họ cũng muốn làm điều đó. Nếu
họ cho rằng mình không liên quan gì tới ý tưởng đó, họ sẽ thực hiện ngay.
Họ thường phản ứng thái quá. Họ sẽ quan sát phản ứng của người
khác trong từng hoàn cảnh rồi sẽ bắt chước theo. Ta hãy chú ý kỹ và sẽ thấy: phản
ứng của họ thường diễn ra sau khi họ quan sát xong. Họ thường nắm bắt cảm xúc rất
nhanh nhưng cũng sẽ diễn tả thái quá.
Cảnh báo
Sociopath là những người nói dối rất giỏi vì họ không cảm thấy
ăn năn. Họ sẽ biện minh đủ điều cho hành động của mình để tránh bị lộ chân tướng.
Dù không phải tất cả những người đó đều bạo lực, nhưng tốt nhất với
mình vẫn nên tránh xa họ trong mọi mối quan hệ.
Chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội rất dễ bị nhầm với chứng
rối loạn tự kỷ (Asperger) hoặc ngược lại. Điểm khác biệt mấu chốt chính là:
Sociopath không biết ăn năn, còn người bị rối loạn tự kỷ thì không có khả năng
suy nghĩ.
Sociopath có ít cảm xúc nên họ có thể dùng cảm xúc để chống lại mình.
Giao tiếp hiệu quả là khi mình tiếp cận người khác bằng những gì mà họ có thể
hiểu được. Đối với những người này, mình hãy để cảm xúc sang một bên, nếu
không, họ sẽ tìm được cách điều khiển mình.
Đừng để họ biết rằng mình cảnh giác với họ. Mỗi một Sociopath sẽ
tiếp nhận việc này theo một cách riêng, nhưng tốt nhất, họ không được biết những
điều mà mình biết.
Đương nhiên, mình hãy luôn tỉnh táo trước sức hút của họ.
Cách để CÁC CON: Đối phó với chứng Rối loạn Nhân cách Ái kỷ
Người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ (Narcissistic Personality Disorder, gọi tắt là NPD) ban đầu thường gây ấn tượng là người quyến rũ, hòa đồng và tự tin. Tuy nhiên, cá tính lôi cuốn đó rồi sẽ lu mờ, thay thế bằng hình ảnh con người ích kỷ. Loại người này rất khó đối phó. Theo các chuyên gia thì NPD là một trong các chứng bệnh tâm thần khó trị nhất. Nếu người mắc bệnh NPD là thành viên trong gia đình, sếp hoặc ai đó mà mình rất quan tâm thì chắc chắn mình đang muốn tìm cách ổn thỏa để tiếp tục tồn tại bên cạnh họ. Có thể mình phải chọn cách điều chỉnh bản thân để cùng sống chung với người mắc bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ, nhưng đó là con đường chông gai.
I/Đối phó với Tính Ái kỷ
1.Có cần thiết phải đối phó với loại
người này.
Họ hầu như không quan tâm lắng nghe mình và không để ý đến nhu cầu
của mình. Người ái kỷ cho rằng họ biết nhiều hơn người khác, chính vì vậy họ
xem quyết định của mình là câu trả lời hợp lý nhất cho mọi vấn đề. Người ái kỷ
luôn mong đợi mình chiều theo ý họ, và có khả năng xuất hiện các cuộc tranh
giành quyền lực hoặc vấn đề nghiêm trọng liên quan tới quyền kiểm soát trong mối
quan hệ giữa mình và người đó.
Dường như không có chuyện người này đầu tư tình cảm vào mối quan
hệ với mình, mà trở nên tức giận nếu nhận thấy bị phê bình bất kỳ theo cách
nào. Anh ta có tiền sử làm đổ bể các mối quan hệ vì những lý do nhỏ nhặt. Nếu
muốn duy trì mối quan hệ thì mình sẽ sống và bảo vệ tình cảm bằng cách nào?
Xác định xem có đúng với mình không thể hoặc sẽ không rời xa họ
trong cuộc đời. Nếu chỉ là người mới quen thì tốt nhất mình nên bỏ qua mối quan
hệ này.
2.Tránh đụng độ.
Ta không có cơ hội thuyết
phục người ái kỷ hiểu ra họ sai. Do đó mình chỉ chọn lúc cần thiết phải đối đầu,
không phí sức xử lý một vấn đề nào đó mà có trọng tâm liên quan tới hành vi của
anh ta vì hầu như chẳng thể xoay chuyển được nó.
Nếu vợ hoặc chồng mình độc chiếm buổi nói chuyện trong buổi họp
mặt gia đình tối qua và làm mình xấu hổ với những câu chuyện phóng đại, mình
hãy xem đó như chuyện đã qua. Áp dụng biện pháp đề phòng trong lần họp mặt tiếp
theo bằng cách sắp xếp cho anh ta ngồi cạnh một thành viên khác ít nói, người sẵn
sàng lắng nghe thành tích chói lọi của người khác.
Nếu vấn đề liên quan tới quyết định của mình, chẳng hạn như
không ngồi chung xe với anh ta nếu anh ta định lái xe sau khi uống rượu trong bữa
tiệc tối nay, thì mình hãy nói thẳng quyết định đó. Cứ tự nhiên bỏ đi mà không
cần giải thích lý do của hành động này. Đó là hành vi mình nên làm đối với một
người ái kỷ để anh ta hiểu và chấp nhận vấn đề, mình không cần phải khẩn khoản
trình bày lý lẽ.
Lời khuyên: Đặt ra ranh giới rõ ràng theo hình thức "nếu
mình làm X, thì tôi sẽ làm Y" và thực hiện theo đó. Ví dụ, "nếu mình
chửi bới tôi thì tôi sẽ bỏ đi."
3.Thiết lập sự tương tác hướng mục
tiêu.
Những người ái kỷ thích lập
chiến tích và rồi khoác lác về thành tích đạt được. Do đó mình nên đặt ra mục tiêu sao cho vừa thỏa
mãn nhu cầu của mình, vừa tạo niềm tự hào cho họ.
Nếu mình cảm thấy yếu thế mỗi khi nghĩ tới việc yêu cầu người chồng
ái kỷ của mình thu dọn sân sau nhà thì hãy gợi ý cho anh ta làm chủ bữa tiệc
ngoài trời sắp tới. Người ái kỷ thích đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trong các buổi
xã giao, vì vậy đây là loại sự kiện đem tới lượng khán giả mà anh ta rất thích.
Hỏi ý kiến anh ấy cần phải làm gì, sau đó nhận việc dọn dẹp nhà và chuẩn bị thức
ăn nhẹ cho buổi họp mặt. Tỏ ra thích thú với cơ bắp của anh ta trong khi đang
thu dọn sân. Thật buồn cười vì có khả năng mình còn thu được kết quả nhiều hơn
mong đợi là cái sân sạch sẽ, vì khi được khen ngợi anh ta thậm chí có thể chấp
nhận gợi ý của mình làm thêm một dự án khác (như xây hồ nước, nâng mặt đất vườn
hay làm vòi tưới cây). Đây là mấu chốt để anh ta rêu rao trong bữa tiệc.
4.Nhận biết điều gì quan trọng với người
ái kỷ.
Nhớ rằng người có tính ái
kỷ thường không hiểu hay tôn trọng lời nói và hành vi thể hiện cảm xúc của mình.
Thực tế anh ấy có thể khước từ một cách lạnh lùng và gây tổn thương cho mình.
Thay vào đó mình cần nghiên cứu đối tượng và nhận biết điều gì
quan trọng với anh ta. Sau đó tặng cho họ một món quà thật thực tế bằng thời
gian hoặc tiền của mình, khi đó mình sẽ nhận được một lời nói yêu thương thành
thật từ anh ta.
5.Đề nghị liệu pháp trò chuyện.
Cách điều trị hiệu quả
duy nhất đối với chứng rối loạn này là liệu pháp trò chuyện. Liệu pháp tâm lý
có thể xâm nhập nội tâm để tái định hình nhận thức của người bệnh về bản thân họ
và vị trí của họ trong thế giới xung quanh. Sau đó anh ta có cái nhìn chính xác
hơn về khả năng thực tế của mình, biết chấp nhận bản thân và tiếp thu ý kiến của
người khác trong quá trình tư duy.
Tuy nhiên, vì người ái kỷ xem bản thân họ gần như hoàn hảo nên sẽ
không nhận thấy nhu cầu phải điều trị tâm lý hoặc phải thay đổi hành vi.
Liệu pháp tâm lý giúp người ái kỷ học cách tìm đến sự hỗ trợ của
người khác để thu lợi nhiều hơn từ các mối quan hệ cá nhân và nghề nghiệp.
Thế nhưng rất khó để mình có thể thuyết phục người mắc chứng NPD
tìm đến chuyên viên trị liệu, tham gia vào liệu pháp điều trị và duy trì quá
trình đến khi đạt kết quả. Nếu người ái kỷ tìm đến sự hỗ trợ về tâm thần thì hầu
như chỉ để giải quyết chứng trầm cảm hay khuynh hướng tự tử của họ. Loại người
này thường khước từ bất kì buổi nói chuyện nào về chủ đề thay đổi nhân cách hay
điều chỉnh hành vi.
Không có thuốc điều trị rối loạn nhân cách ái kỷ, dù trong quá trình điều trị có thể phải dùng thuốc để kiểm soát một số triệu chứng hoặc vấn đề phát sinh như chứng trầm cảm.
1.Xem xét thời thơ ấu của người đó.
Bệnh NPD thường xuất hiện ở đàn ông, bắt đầu ở tuổi thanh niên
hoặc đầu giai đoạn trưởng thành. Các chuyên gia chưa xác định chính xác nguyên
nhân nhưng phỏng đoán có thể do một số cách nuôi dạy của bố mẹ:
Phương pháp nuôi dạy quá nghiêm khắc: Việc dạy dỗ quá hà khắc có
thể khiến sự khát khao được nâng niu của đứa trẻ tích lũy trong nhiều năm.
Nuông chiều quá mức: Ở phía bên kia của thái cực, cách nuôi dạy
quá yêu thương và nuông chiều lại tạo cho đứa trẻ suy nghĩ mình có mọi quyền
hành và là người hoàn hảo.
Nhưng người ái kỷ dường như là sản phẩm của cách nuôi dạy kết hợp
các yếu tố cực đoan, bao gồm cả sự lạnh lùng và quan tâm chăm sóc.
2.Để ý xem người đó có nghĩ rằng họ
luôn luôn đúng.
Đầu tiên tính ái kỷ thể hiện dưới dạng người có lòng tự trọng rất
cao, rất tự tin vào khả năng. Theo thời gian, họ bắt đầu lộ ra niềm tin quá mức
vào bản thân, rằng họ không bao giờ sai và có giá trị cao hơn những người xung
quanh.
3.Để ý xem người đó có coi họ là trung
tâm vũ trụ.
Người ái kỷ thường xem thế
giới phải xoay quanh anh ta, và làm bất kì điều gì để giữ nguyên trạng thái
đó, chẳng hạn như độc chiếm các buổi nói
chuyện.
4.Người đó có dễ dàng tức giận hoặc lạm
dụng ngôn từ.
Khi người ái kỷ cảm thấy
không được đối xử đặc biệt như anh ta mong đợi, họ bắt đầu tức giận hoặc nói
nhiều hơn để trấn áp người khác.
Phân biệt với bệnh Rối loạn Nhân cách Chống đối Xã hội (ASPD) bằng
cách để ý xem người đó có vi phạm pháp luật hay không. Một số người bị NPD có
thể nói chuyện rất hung hăng nhưng họ không có hành vi bạo lực hoặc vi phạm
pháp luật, và họ thường kiểm soát tốt hành vi của mình.
5.Người đó có kiêu căng hay khoác lác
không.
Người ta thường xem người mắc chứng NPD là kiêu căng, nổ, hoặc chỉ
biết coi trọng bản thân.Họ có khuynh hướng xem thường cấp dưới(mà cơ bản là bất
kì ai) và hạ thấp người khác để nâng cao mình lên. Họ sẽ thao túng người khác để
đạt được điều mình muốn.
6.Nhận diện sự thiếu đồng cảm.
Có lẽ vấn đề thách thức nhất khi đối phó với người ái kỷ đó là
anh ta thật sự không có khả năng đồng cảm với người khác,và cũng không muốn học
cách thông cảm.
Phân biệt chứng ái kỷ với tự kỷ bằng cách quan sát sự thương cảm
của họ dành cho người khác. Người tự kỷ có thể gặp khó khăn trong việc hiểu cảm
giác của người khác, nhưng họ quan tâm thật sự, có thể có lúc đề nghị giúp đỡ
và sẽ cảm thấy buồn bực khi nhìn thấy người khác đang có tâm trạng xấu (đôi khi
họ sẽ né tránh khi thấy quá tải). Người ái kỷ thưởng ít quan tâm tới cảm giác của
người khác.
Lời khuyên: Đối với người mắc chứng ái kỷ, sự thông cảm có thể
gói gọn như sau “Tôi biết cảm xúc của mình nhưng tôi không quan tâm.” Một số
người mắc NPD nhận biết và hiểu cảm xúc của người khác nhưng không biết chia sẻ.
Họ dùng thông tin này để thao túng người khác.
7.Chú ý xem người đó có phản ứng quá mức
khi bị phê bình.
Anh ta sẽ không cố gắng
thỏa mãn yêu cầu của người khác. Thật ra họ còn phản ứng giận dữ trước bất kì
yêu cầu nào như vậy, vì đó được xem là sự phê bình.
Đã có lúc người ta cho rằng suy nghĩ phóng đại về giá trị bản
thân của người ái kỷ là nhằm bù đắp cho sự thiếu tự tin vào giá trị của họ.
Nhưng ngày nay các chuyên gia khẳng định người ái kỷ tự lừa dối chính mình bằng
cách thực sự tin rằng họ là người vĩ đại. Họ cảm thấy có quyền được người khác
thán phục bất chấp bằng chứng về thành công của họ.
Vì thế người ái kỷ có thể phản ứng thái quá, thậm chí trở nên
hung hăng khi cảm thấy bị phê bình dù là nhỏ nhặt nhất.
Phân biệt NPD với bệnh Rối loạn Nhân cách Ranh giới (BPD) bằng
cách để ý xem họ có ghi nhớ sâu sắc lời phê bình của người khác hay không. Một
số người mắc NPD có thể nổi giận trong khi người mắc BPD còn bị hốt hoảng và
rơi vào vòng xoáy dẫn đến giảm dần lòng tự trọng.
8.Người đó có những kỳ vọng thiếu thực
tế không?
Người ái kỷ có niềm tin
phóng đại về tầm quan trọng của bản thân, sự ưu việt, thành tựu và năng lực; có
hành vi thao túng cũng như muốn được người khác vâng lời, thán phục và có quyền
hành; đầu họ tràn đầy suy nghĩ “ảo tưởng về thành công, quyền lực, sự xuất
chúng, vẻ đẹp và muốn có người bạn đời hoàn hảo”.
Họ đòi hỏi người khác phải đại diện cho mình tạo ra sản phẩm có
phẩm chất cao nhất hoặc “tốt nhất”.
9.Để ý xem người đó có lợi dụng không.
Người mắc chứng rối loạn
nhân cách ái kỷ thường có xu hướng thao túng hoặc lợi dụng tình huống và các mối
quan hệ trong cuộc sống để tiến thân hoặc thực hiện trót lọt một số hành vi. Nếu họ tìm được cách để đạt được điều mình muốn,
họ sẽ thường lại mọi thứ cần thiết.
Ví dụ, giả sử mình thiếu quyết đoán và thường có xu hướng thiếu
tự tin. Nếu mình và người ái kỷ cãi nhau về chuyện mà người ấy làm sai, và mình
đối chất với họ vài ngày sau đó, họ có thể phủ nhận bằng cách nói "Đừng có
ngốc thế, chuyện không phải như vậy", vì họ biết rằng câu đó sẽ khiến mình
hoài nghi quan điểm của chính mình.
10.Nhìn vào quan hệ yêu đương của họ.
Rất khó để sống hay làm
việc chung với người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ. Người mắc NPD có vấn đề
trong mối quan hệ yêu đương, cũng như trong môi trường làm việc hoặc trường học.
Một số nhận ra khiếm khuyết trong con người hoàn hảo của họ, dẫn
tới trầm cảm hoặc ưu tư. Suy nghĩ muốn tự
tử sẽ làm vấn đề thêm phức tạp.
11.Người đó có lạm dụng thuốc kích
thích hoặc rượu bia?
Khi cuộc sống không diễn
ra êm ả, người ái kỷ dễ lạm dụng chất kích thích hoặc rượu bia. Kiểm tra xem họ
uống bao nhiêu rượu hoặc có đang sử dụng thuốc kích thích không.
12.Phân biệt giữa người ái kỷ hiểm độc
và người ái kỷ đang cố gắng trở nên tốt hơn.
Mặc dù tính ái kỷ khiến người ta rất khó trở thành người tốt,
nhưng một số người mắc NPD không nhất thiết phải là người xấu.Người mắc NPD có
thể chọn cách đối xử tốt và tôn trọng người khác, mặc dù quan điểm sai lệch của
họ khiến việc này trở nên khó khăn.
Lựa chọn này phải do họ tự đưa ra. Ta không thể thay đổi họ, và
đó không phải là trách nhiệm của mình. Đừng tốn thời gian “sửa chữa” ai đó khi
họ không thấy có bất cứ điều gì sai trái trong hành vi của họ.
Để ý xem người đó có sẵn lòng nhìn lại hành vi của mình hay
không, có xin lỗi hay không, có thể hiện sự quan tâm đối với người khác hay
không, và có đối xử tốt với người khác không. Họ có thể học cách đối xử tốt hơn
với người xung quanh.
Không tha thứ cho việc lạm dụng ngôn từ. Không ai đáng phải nghe người khác mắng chửi, vậy nên mình hãy tránh xa họ nếu họ có hành vi này.
III/Chăm sóc Bản thân và Người xung
quanh
1.Tìm sự trợ giúp về tình cảm ở nơi
khác.
Ngay bây giờ mình phải chấp
nhận là nhu cầu tình cảm của mình sẽ không được người này đáp ứng.Tìm một người
bạn thân hoặc ai đó để tâm tình (ví dụ như người thân, chuyên viên tư vấn, thầy
tu), họ sẵn sàng lắng nghe và thấu hiểu mỗi khi mình cần tâm sự về những bức
xúc của mình. Ta phải xây dựng mạng lưới bạn bè để điền vào các khoảng trống
tình cảm trong cuộc sống.
Nếu vợ hoặc chồng mình mắc NPD, anh ta sẽ không chia sẻ niềm vui
với mình mỗi khi mình có thành tích trong công việc vì điều đó chẳng liên can đến
cá nhân anh ta. Thậm chí họ còn tiếp nhận thành tích của mình một cách tiêu cực
nếu bản thân không được khen ngợi thường xuyên trong công việc. Ta nên chuẩn bị
tinh thần nhận sự khinh thường từ anh ta.
Đăng một ghi chú thể hiện niềm vui lên trang mạng xã hội, hoặc gọi
cho bạn bè để họ chia vui với mình.
2.Tự mình học cách cải thiện chất lượng
cuộc sống.
Mỗi cá nhân đều là thực thể cá biệt, vì vậy mình cần học hỏi về
chứng rối loạn nhân cách ái kỷ, đồng thời cố gắng tìm hiểu cách người ái kỷ
nhìn nhận thế giới của họ. Hiểu về loại người này giúp mình điều chỉnh cách tiếp
cận anh ấy phù hợp hơn, để từ đó nhận được kết quả như mong đợi thường xuyên
hơn.
Dự đoán trước phản ứng của anh ta trong những tình huống cụ thể,
sau đó lên kịch bản để thu được kết quả mong muốn. Xem xét cách anh ta nhìn nhận
mình trong thế giới của họ, rồi cố gắng ép mình vào cái khuôn đó cho phù hợp nhất.
Không luồn cúi quá mức để dẫn tới đổ bể, nhưng hãy tùy cơ ứng biến
để có cái kết vui cho cả hai. Nhớ vận dụng câu nói bà thường rỉ tai với cháu
gái khi đi lấy chồng: Anh ta sẽ làm bất cứ việc gì con muốn nếu con khiến chồng
mình nghĩ rằng đó là ý tưởng của anh ta.
Ta càng hiểu và biết rõ hơn về người ái kỷ thì bức tường ngăn cách giữa hai ngườicàng mờ dần, thể hiện mình thật sự quan tâm đến họ và cuối cùng mang lại lợi ích cho cả hai.
3.Không bỏ qua cử chỉ tình cảm.
Có thể mình thấy rằng người ái kỷ phản ứng tốt với những việc
làm thiện chí nhưng không thể hiện tình cảm của mình, nhưng điều đó không có
nghĩa mình phải bỏ qua các cử chỉ tình cảm xuất phát từ trái tim mình.
Thật ra anh ấy rất thích được khoe với đồng nghiệp về lời nhắn
yêu thương mình bỏ trong hộp cơm trưa cho anh ta. Nhưng nhớ rằng mình chưa chắc
nhận được thái độ biết ơn khi anh ta về nhà vào tối hôm đó.
Thái độ ân cần sẽ đáp ứng được nhu cầu thể hiện yêu thương mà
không làm tổn thương mình với điều kiện mình đừng mong anh ta đáp trả lại cử chỉ
tình cảm đó.
4.Tìm lời khuyên từ người khác.
Ta đã đi đúng hướng khi tự
mình tìm hiểu về chứng rối loạn nhân cách ái kỷ. Có rất nhiều nhóm hỗ trợ, sách
vở và các nguồn tài nguyên để mình tìm ra lời khuyên hữu ích cho mình trong mối
quan hệ sóng gió này.
5.Chia sẻ ý kiến với người khác.
Ta nên nhớ mình không phải là người duy nhất phải sống chung với người ái kỷ. Ta có thể chia sẻ ý kiến của mình với bạn bè và đồng nghiệp của anh ta, vì chính họ cũng đang vật lộn để duy trì quan hệ với người đó.
6.Giám sát con cái anh ta.
Nếu có trẻ nhỏ sống chung với người ái kỷ thì mình phải cố gắng
giữ chúng an toàn khi ở bên người này. Bố hoặc mẹ ái kỷ thường lạm dụng lời nói
hoặc tình cảm. Ta phải để ý xem con mình có thiếu kỹ năng xã hội nào đó vì hành
vi anh ta gây ra. Sau đó mình tìm cách bổ sung hoặc giáo dục lại kỹ năng đó cho
trẻ để chúng không trở thành người ái kỷ sau này.
Lời khuyên
Thông thường đàn ông là đối tượng dễ mắc chứng rối loạn nhân
cách ái kỷ, nhưng đôi khi cũng có phụ nữ.
Cảnh báo
Nếu người mắc NPD có suy nghĩ muốn tự tử thì đem anh ta tới phòng cấp cứu ngay.
Cách để CÁC CON:Cư xử với Người bị Rối loạn Đa nhân cách
Rối loạn Nhân cách Phân ly (Dissociative Identity Disorder - DID), trước đây được gọi là bệnh Rối loạn Đa nhân cách, là một loại bệnh đem lại sự mệt mỏi và sợ hãi cho cả người mắc bệnh lẫn những người thân quen của họ. Bệnh DID có đặc trưng là sự phát triển của nhiều bản thể hoặc nhân cách riêng biệt. Đây là một chứng bệnh gây nhiều tranh cãi, vì thế, người mắc bệnh có thể phải chịu đựng nhiều sự kì thị từ người khác. Hãy cư xử với người mắc bệnh DID bằng lòng trắc ẩn để giúp họ cảm thấy khá hơn.
I/Hiểu về Bệnh Rối loạn Nhân cách Phân ly
1.Hiểu được triệu chứng của bệnh.
Đặc trưng của bệnh DID là sự hiện diện của nhiều nhân cách riêng
biệt, thường được gọi là các nhân cách thay thế. Những nhân cách này thường phức
tạp, sở hữu quá khứ, thể chất và hành vi khác nhau. Ví dụ: một người trưởng
thành có thể có nhân cách thay thế thuộc về một đứa trẻ. Ta có thể nhận ra những
sự thay đổi trong giọng nói, cử chỉ - ngoài những thay đổi về thái độ và sở
thích. Khi các nhân cách thay thế xuất hiện, người bệnh có thể mất khả năng nhớ
lại một phần kí ức hoặc một khoảng thời gian nào đó. Vì thế, họ không nhận ra sự
hiện diện của những nhân cách thay thế. Sự chuyển đổi giữa các nhân cách còn được
gọi là “switch” trong tiếng Anh.
Những người bị Rối loạn Nhân cách Phân ly thường bị lo âu, trầm
cảm, tự làm hại bản thân, rối loạn giấc ngủ và/hoặc lạm dụng đồ uống có cồn.
Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng đối với mỗi cá nhân là khác nhau.
2.Không phán xét.
Những người mắc bệnh tâm
lý thường không tự tìm tới bác sĩ hoặc hợp tác điều trị do những sự kì thị liên
quan tới việc mắc bệnh tâm lý. Điều này có thể rất đúng với những người bị mắc
DID do DID chưa được coi là một chứng bệnh rối loạn một cách rộng rãi, dù các
tiêu chuẩn chẩn đoán đã được ghi trong DSM-5 (Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về
các chứng rối loạn tâm thần). Tránh làm người mắc DID thêm xấu hổ và ngại ngùng
về tình trạng của mình.
Luôn ghi nhớ rằng việc kiểm soát phản ứng của người khác là rất khó. Điều này sẽ giúp mình hiểu được sự phức tạp của việc sống cùng một người mắc bệnh tâm lý.
3.Hãy hỏi han nếu mình quen thân với người bệnh.
Nếu người đó với bạn bè
hoặc người thân trong gia đình, hãy hỏi về những trải nghiệm của họ để thể hiện
sự quan tâm của mình. Những người lạ có thể cảm thấy khó chịu với những câu hỏi
về tâm lý của họ, vì thế, mình nên tránh đề cập.
Hỏi về cảm giác của họ trước và sau khi sự chuyển đổi giữa các
nhân cách diễn ra. Như vậy, mình sẽ hiểu rõ hơn về trải nghiệm của họ.
Thể hiện sự thông cảm bằng cách thấu hiểu sự sợ hãi, bối rối và hoang mang của họ.
II/Hỗ trợ Người bị Mắc bệnh Rối loạn Nhân cách Phân ly
1.Ở bên họ.
Sự xấu hổ và kì thị thường
khiến người mắc bệnh tâm lý cảm thấy bị cô lập. Hãy giúp đỡ họ duy trì một mối
quan hệ lành mạnh bằng cách chủ động trò chuyện với họ. Ta không cần phải bàn
luận về bệnh DID. Thực tế, sẽ tốt hơn nhiều nếu mình có thể ở bên họ mà không
nhắc gì tới chứng bệnh đó. Việc này sẽ giúp họ cảm thấy “bình thường”.
Lên kế hoạch gặp gỡ hàng tuần để duy trì mối quan hệ.
Tìm một hoạt động nào đó mà hai ngườicó thể cùng tham gia để hướng sự chú ý ra khỏi bệnh DID.
2.Tham gia một nhóm hỗ trợ.
Tham gia những nhóm hỗ trợ là một cách tuyệt vời để tìm thấy những
người có cùng hoàn cảnh. Hãy đề nghị cùng tham gia một nhóm với họ để thể hiện
sự ủng hộ.
DID là một chứng bệnh không phổ biến nên mình có thể khó tìm được
một nhóm hỗ trợ riêng biệt tại nơi mình ở. Các thành phố lớn có thể có những
nhóm dành riêng cho các chứng bệnh Rối loạn Phân ly, nhưng ở các thành phố nhỏ
hơn, mình có thể phải tìm kiếm những nhóm hỗ trợ các bệnh tâm lý nói chung.
Nếu không thể tìm được một nhóm hỗ trợ tại nơi mình sống, mình có thể tham gia một nhóm hỗ trợ trực tuyến.
3.Luôn ủng hộ.
Hãy thể hiện cho người bệnh
thấy rằng mình quan tâm và hỗ trợ họ bằng cách tham gia các nhóm ủng hộ. Việc
này sẽ giúp mình có thêm kiến thức và cơ hội để trở thành người có ích.
Động viên người đó tham gia cùng mình. Tham gia vào một nhóm ủng hộ sẽ giúp người bệnh hiểu rõ hơn về những trải nghiệm xã hội và vượt qua sự kì thị.
III/Kiểm soát Sự chuyển đổi Giữa các
Nhân cách
1.Giúp người mắc DID tránh các yếu tố
kích thích.
Chấn thương là yếu tố thường thấy ở những người mắc DID, và sự
phân ly nhân cách thường liên quan tới sự căng thẳng cảm xúc nghiêm trọng. Như
vậy nghĩa là những cảm xúc căng thẳng có thể gây ra sự chuyển đổi nhân cách. Đối
với người mắc DID, tránh được các yếu tố kích thích sẽ giúp họ nhận ra và kiểm
soát được những tình huống căng thẳng. Nếu mình thấy một sự việc nào đó có nguy
cơ kích thích cảm xúc, hãy thay đổi chủ đề nói chuyện hoặc đề nghị người đó
cùng tham gia những hoạt động không liên quan khác.
Thuốc và rượu bia có thể kích thích sự chuyển đổi, vì vậy, không khuyến khích họ sử dụng.
2.Tự giới thiệu bản thân.
Nếu một nhân cách thay thế
xuất hiện lúc mình đang ở đó, nhân cách đó có thể không hề biết mình là ai.
Trong trường hợp nhân cách đó không biết mình, họ có thể trở nên bối rối hoặc sợ
hãi. Hãy giúp họ bình tĩnh lại bằng cách tự giới thiệu bản thân và giải thích
vì sao mình quen họ.
Nếu người mắc DID là vợ/chồng của mình, có thể mình nên tránh việc tự giới thiệu mình là chồng/vợ của họ. Ví dụ: một nhân cách trẻ con có thể sẽ cảm thấy rất bối rối, một nhân cách thuộc giới tính khác có thể sẽ rất khó chịu với sự tác động của việc phân định giới tính này.
3.Động viên người bệnh hợp tác điều trị.
Việc điều trị bệnh DID thường bao gồm việc thường xuyên gặp gỡ
nhà trị liệu và thay đổi lối sống. Những người bị trầm cảm và/hoặc lo âu có thể
sẽ phải dùng thuốc điều trị. Việc điều trị phải được tuân thủ nghiêm ngặt để có
hiệu quả tốt nhất, vì thế, hãy khuyến khích họ hợp tác điều trị.
Động viên người bệnh đi gặp bác sĩ trị liệu bằng cách đi cùng họ.
Những thay đổi vể lối sống thường bao gồm việc ăn uống lành mạnh,
tập thể dục thường xuyên và tránh dùng thuốc/rượu bia. Ta có thể khuyến khích họ
thay đổi lối sống bằng cách áp dụng những thay đổi đó với chính mình, ít nhất
là khi mình đang ở cạnh người đang được điều trị.
Gợi ý cho người đó đặt chuông nhắc nhở để uống thuốc theo hướng
dẫn của bác sĩ.
Nếu người đó cho biết họ không thể hợp tác hoặc đang nghĩ tới việc
trở nên bất hợp tác, hãy đề nghị họ gặp bác sĩ để biết các hướng điều trị phù hợp.
Lời khuyên
Sức khỏe thể chất có liên quan tới sức khỏe tinh thần, vì vậy,
hãy luôn ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên.
Cảnh báo
Nếu mình sợ rằng người đó có thể tự gây hại cho bản thân hoặc những
người khác, hãy tìm sự trợ giúp ngay lập tức.
Ngừng dùng thuốc đột ngột có thể rất nguy hiểm. Động viên người
bệnh đi gặp bác sĩ ngay khi họ định ngừng dùng thuốc.
Các loại thuốc dùng để tiêu khiển và rượu bia có thể làm tăng tần
suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, vì thế, phải tránh sử dụng
chúng.













Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét