DANH TÍN
Trong mệnh đề này có 02 khái niệm đó là Danh và Tín . Chúng ta lần lượt tìm hiểu 02 khái niệm này và mối quan hệ của chúng .Nào Chúng ta bắt đầu.
Danh dự là Sự coi trọng của xã hội về con người hoặc tổ chức nào
đó và được thừa nhận như một quyền nhân thân. Là phạm trù cá nhân mang tính xã
hội, luôn gắn liền với chủ thể xác định, là một trong những yếu tố để khẳng định
vai trò, vị trí, uy tín của một người hoặc một tổ chức trong xã hội, được Hiến
pháp, pháp luật bảo hộ, không ai được xâm phạm.
Danh
dự có vai trò: làm cho con người có tiếng tăm hơn ,
dòng họ gia đình được mọi người quý trọng và biết đến nhiều hơn đối với mỗi cá
nhân chúng ta
Tại
vì cần coi trọng danh dự của bản thân ?
- Danh dự của mình là ảnh hưởng đến cả dòng tộc , vì vậy không
nên đùa dỡn
- Danh dự làm dòng họ gia đình được mọi người quý trọng và biết
đến nhiều hơn
Tại
sao cần tôn trọng danh dự của người khác?
- Nếu Chúng ta làm lăng mạ
, hình nhục chắc chăn danh dự của người khác sẽ bị hạ thấp
- Nó ảnh hưởng đến tiếng tăm của cả dòng họ
Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với
một người dựa trên giá trị tinh thần đạo đức của người đó. Do vậy danh dự là
nhân phẩm được đánh giá và công nhận.
Danh dự có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi người, giữ gìn danh dự và
nhân phẩm được xem là sức mạnh tinh thần của một cá nhân có đạo đức.
Nhân phẩm là toàn bộ phẩm chất mà mỗi con người có được nói cách
khác nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi người
- Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với
một người dựa trên giá trị tinh thần đạo đức của người đó. Do vậy danh dự là
nhân phẩm được đánh giá và công nhận.
- Vai trò của nhân phẩm, danh dự đối với đạo đức cá nhân:
+ Nhân phẩm và danh dự có quan hệ khăng khít với nhau làm nền tảng
giá trị của mỗi con người.
+ Nhân phẩm và danh dự có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi người, giữ
gìn danh dự và nhân phẩm được xem là sức mạnh tinh thần của một cá nhân có đạo
đức.
- Người nghiện ma tuý khó giữ được nhân phẩm và danh dự vì:
+ Người nghiện luôn tạo ra cho mình những nhu cầu thiếu lành mạnh
và rất khó bỏ.
+ Để thỏa mãn cơn nghiện, họ có thể làm bất cứ điều gì kể cả những
điều trái với đạo đức và pháp luật.
Nhân phẩm và danh dự được cho là phẩm chất và giá trị của một
con người. Chính vì thế mà nhân phẩm và danh dự có ý nghĩa bao hàm cả việc mình
nhìn nhận về bản thân và người khác nhìn nhận mình. Để có thể hiểu rõ hơn về
nhân phẩm và danh dự, các con cháu ta hãy cùng ta đi từng nội dung sau đây!
Nội
dung trao đổi
1.1 Nhân phẩm là gì?
1.2 Danh dự là gì?
2 Nhân phẩm và danh dự là hai phạm trù đạo đức khác nhau nhưng lại
có quan hệ lẫn nhau
Khái
niệm Danh dự và Nhân phẩm
Nhân phẩm và danh dự là hai phạm trù đạo đức học khác nhau nhưng
lại có quan hệ quy định lẫn nhau. cho xã hội.
Nhân
phẩm là gì?
Mỗi con người chúng ta luôn có những phẩm chất nhất định. Những
phẩm chất này làm nên giá trị của cá nhân. Đó là nhân phẩm.
Vậy:
Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được.
Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người.
Người có nhân phẩm là người có lương tâm,có nhu cầu vật chất và
tinh thần lành mạnh, luôn thực hiện tốt các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội và
người khác, biết tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức tiến bộ.
Người có nhân phẩm được xã hội đánh giá cao và được kính trọng.
Người thiếu nhân phẩm hoặc tự đánh mất nhân phẩm sẽ bị xã hội đánh giá thấp, bị
coi thường và khinh rẻ, bị tố cáo và lên án.
Trong cuộc sống, đa số mọi người đều ý thức quan tâm giữ gìn nhân phẩm của mình nhưng vẫn có những kẻ coi thường nhân phẩm của chính mình, của người khác, có suy nghĩ và hành vi đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng
Để trở thành người có nhân phẩm, con người cần phải
Có lương tâm trong sáng.
Nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh.
Thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức.
Thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức.
Tôn trọng nhân phẩm của chính mình cũng như của mọi người xung
quanh.
Danh
dự là gì?
Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với
một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó
Khi con người tạo ra được cho mình những giá trị tinh thần, đạo
đức và những giá trị đó được xã hội đánh giá, công nhận thì người đó có danh dự
Danh dự có cơ sở từ những cống hiến thực tế của con người đối với
gia đình ,xã hội, với người khác. Là con người, ai cũng đóng góp ít nhiều cho
cuộc sống của mình ,gia đình mình, cho xã hội, do đó, ai cũng có danh dự. Tuy
nhiên, mỗi chúng ta phải luôn giữ gìn và bảo vệ danh dự của mình và tôn trọng
danh dự của người khác. Khi chúng ta biết giữ gìn danh dự của mình, của các cá
nhân có được một sức mạnh tinh thần để làm điều tốt, hướng chúng ta đến điều
thiện và tránh xa các điều xấu.
Nhân phẩm và danh dự là hai phạm trù đạo đức khác nhau nhưng lại
có quan hệ lẫn nhau
Nhân phẩm là giá trị làm người, còn danh dự là kết quả của quá
trình xây dựng và bảo vệ nhân phẩm.
Mỗi con người có danh dự không chỉ biết giữ gìn nhân phẩm của bản
thân mà còn phải biết làm nhân phẩm của mình được xã hội công nhận thông qua
hành động cống hiến không mệt mỏi cá nhân cho xã hội.
Khi biết giữ gìn danh dự của mình, các cá nhân có được một sức mạnh
tinh thần để làm điều tốt và không làm điều xấu. Đó chính là ý nghĩa quan trọng
của danh dự.
Tiền, bạc mất đi có thể tìm lại được nhưng một khi chúng ta đánh
mất nhân phẩm và danh dự là mất đi phẩm chất và giá trị làm người. Đó là yếu tố
tạo nên giá trị của một con người. Vì vậy, chúng ta hãy sống, học tập và làm việc
cho thật tốt. Sống không có nghĩa là chỉ biết nghĩ cho mình, mà hãy vì người
khác, trước hết là cho những người thân nhất của mình , gia đ2nh , dòng tộc,quê
nưng mình. Bởi lẽ, chúng ta chỉ thật sự hạnh phúc khi biết đem lại niềm vui và
hạnh phúc cho người khác. Đó mới là niềm vui là số l
Danh dự và nhân phẩm là quyền của mỗi người, được pháp luật công nhận và bảo vệ, điều này được thể hiện nhiều trong nhiều quy định pháp luật khác nhau, từ đạo luật cao nhất là hiến pháp cho đến các quy định pháp luật chuyên ngành
2 Mối quan hệ giữa danh dự và nhân phẩm
– Trên thực tế danh dự và nhân phẩm có mỗi quan hệ khăng khít với
nhau và tạo nên giá trị của mỗi con người. Nhân phẩm chính là toàn bộ những phẩm
chất của một con người còn danh dự chính là sự coi trọng, đánh giá của dư luận
xã hội với một con người trên cơ sở giá trị đạo đức tinh thần của người đó.
– Từ đó có thể hiểu nhân phẩm chính là giá trị làm người của một
con người còn danh dự chính là kết quả của quá trình xây dựng, bảo vệ nhân phẩm
của một con người.
– Nếu cá nhân biết bảo vệ và giữ gìn danh dự, nhân phẩm của mình
thì sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần để cá nhân đó có thể làm những điều tốt trong
cuộc sống.
– Khi cá nhân đánh mất danh dự, nhân phẩm của mình thì đồng
nghĩa với việc là người đó mất đi phẩm chất và giá trị làm người bởi vì đây là
hai yếu tố tạo nên giá trị của một con người.
– Danh dự, nhân phẩm của mỗi con người được pháp luật thừa nhận
và bảo vệ. Điều này được thể hiện cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật khác
nhau như hiến pháp và các quy định của pháp luật chuyên ngành.
Cụ thể tại Điều 20 của Hiến pháp có quy định cụ thể như sau: Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Không được tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh sự, nhân phẩm của người khác.
Những câu nói hay về Danh Dự
Danh dự là sự coi trọng của xã hội về con người hoặc tổ chức nào đó và được thừa nhận như một quyền nhân thân. Cùng tìm hiểu chủ đề này qua bài viết “Những câu nói hay về danh dự”.
Mọi điều lớn lao đều đơn giản, và nhiều điều có thể được thể hiện
chỉ bằng một danh từ: tự do, công lý, danh dự, bổn phận, khoan dung, hy vọng. -
Winston Churchill
Còn lại gì nếu danh dự mất? - Publilius Syrus
Tôi luôn thấy bí ẩn không hiểu tại sao con người lại có thể tìm
vinh dự dựa trên sự nhục nhã của đồng loại. - Mahatma Gandhi
Sự khác biệt giữa người có đạo đức và người có danh dự là người
sau hối tiếc hành động nhục nhã, ngay cả khi nó thành công và anh ta không bị bắt
quả tang. - Henry Louis Mencken
Bổn phận, Danh dự, Đất nước. Ba từ thiêng liêng ấy cung kính nêu
lên điều anh phải trở thành, điều anh có thể trở thành và điều anh sẽ trở
thành. - Douglas MacArthur
Một người có danh dự nếu anh ta giữ mình kiên trì theo đuổi lý
tưởng về đạo đức cho dù nó bất tiện, không đem lại lợi lộc hoặc thậm chí là
nguy hiểm. - Walter Lippmann
Ai cũng coi tính mạng là quý giá; nhưng người đáng quý coi danh
dự quý giá hơn tính mạng nhiều. - William Shakespeare
Điều bi thảm nhất trên thế giới là khi bậc thiên tài lại không
phải là người có danh dự. - George Bernard Shaw
Ta sẽ không bao giờ làm được gì trên thế gian này mà không có
lòng can đảm. Đó là phẩm chất tốt nhất của trí tuệ sau danh dự. - Aristotle
Có ba loại người; yêu tri thức, yêu danh dự, và yêu lợi lộc. -
Plato
Tôi thà thất bại trong danh dự còn hơn là thắng nhờ gian lận. -
Sophocles
Đừng bao giờ nhận xét tiêu cực, hay tung lời đồn đại về bất cứ
ai. Nó hạ thấp thanh danh của họ, và của mình . - Brian Koslow
Đừng đầu hàng, đừng đầu hàng, đừng bao giờ, đừng bao giờ - trong
bất cứ việc gì, quan trọng hay nhỏ bé, lớn lao hay tủn mủn - đừng đầu hàng trừ
khi vì bị thuyết phục bởi lẽ phải và danh dự. - Winston Churchill
Năng lực thiếu đi danh dự chỉ là vô dụng. - Marcus Tullius Cicero
Tổng hợp những câu nói hay về cách đối
nhân xử thế
1. Bớt nghe, bớt nói, bớt nhìn. Để tâm thanh tịnh mới là thảnh
thơi.
2. Một ngày làm ác phước liền giảm mất. Một ngày làm lành họa tự
lìa xa.
3. Cứ mỗi phút tức giận là
mình đã vĩnh viễn mất đi 60 giây hạnh
phúc.
4. Ta đối xử với người thế
nào, người sẽ hành xử lại thế ấy.
5. Hôm nay phụ nghĩa mẹ cha, ngày mai nghiệp chướng ắt tạo ra.
Hôm nay bất hiếu mẹ cha, ngày mai nghịch tử xót xa thế trần.
6. Ai có những cách xử thế lễ độ và mặn mà là có trong tay những
lá thư giới thiệu gởi gắm thường xuyên .
7. Khi ta ý thức được mình là người khiêm tốn nghĩa là mình không còn khiêm tốn nữa .
8. Ta không hoàn hảo không có nghĩa là ai cũng như mình. Bớt tự an ủi và bắt đầu tuyệt vọng
đi.
9. Đừng để thể xác ảnh hưởng đến tinh thần, cũng đừng để tinh thần
chế ngự thể xác.
10. Hãy đơn giản sống theo cách của chính mình. Không ai hoàn hảo nên mình không ích kỷ, sống tử tế và biết người biết ta, lợi ích của mình có được từ lao động và sáng tạo của mình không xâm phạm lợi ích của người khác là sống thoải mái và thanh thản, tâm trí tinh minh.
11. Đừng tập trung vào lỗi lầm của người khác, những việc đã làm
hoặc chưa làm của người khác. Chỉ xem xét những gì chính mình đã làm hoặc chưa
làm.
12. Đừng phán xét cũng đừng lên án những gì con không biết
nguyên nhân nó diễn ra, cũng như kết quả của nó là gì. Và hãy nhớ rằng những gì
con lên án sẽ lên án con. Và những gì con phán xét một ngày nào đó sẽ đến với
con.
13. Hãy lựa chọn cách sống lạc quan chúng ta sẽ cảm thấy tốt hơn
rất nhiều.
14. Có thể ăn bậy ngủ bậy, nhưng nếu nói bậy có thể gây hoạ cho
chính mình.
15. Khi người trách mắng ta, ta cũng nên nhìn lại. Nếu không
đúng thì chẳng cần phải phá bỏ hình tượng bản thân mình.
16. Bởi lòng tham của con người thường là vô tận, vậy nên tự đặc
cho mình 1 điểm dừng, đủ là được.
17. Hãy đối xử tốt với người khác, vì họ nhớ đến sự tử tế hơn là
nhớ đến thành công của mình .
18. Không có gì là tốt hay xấu chỉ có suy nghĩ của ta biến nó
thành như vậy.
19. Tiền không phải là tất cả, tất cả nằm ở nhân cách một con người. Một thìa trước khi đi ngủ - giảm 7 kg mỗi tuần! Chủ quan khi bị hôi miệng? Sự thật đằng sau khiến ta rùng mình, trị ngay với dung dịch này Phục hồi lại thị lực 100% mà không cần phẫu thuật! Bí quyết thật đơn giản
20. Có được ngàn vạn sự yêu mến cũng không bằng phá giải nỗi oán
hận của một con người.
21. Muốn người khác quan tâm đến mình – trước tiên hãy tự mình
làm điều đó.
22. Đố ai hiểu được chữ đời
sang giàu nghèo khổ chết rồi như nhau Chết rồi đưa xuống hố sấu lấp song là hết
có đâu khác gì Vậy nên chớ có so bì đừng nên xảo quyệt chỉ vì háo danh Đừng nên
kèn cựa đua tranh đừng dìm người khác để dành phần hơn Đói mà đức độ sạch thơm
còn hơn giàu có tối om trong đầu Phục hồi lại thị lực 100% mà không cần
phẫu thuật! Bí quyết thật đơn giản Một thìa trước khi đi ngủ - giảm 7 kg
mỗi tuần! Phục hồi lại thị lực 100% mà không cần phẫu thuật! Bí
quyết thật đơn giản Phải luôn suy nghĩ trước sau chớ nên hám lợi quên câu
nghĩa tình Ở đời ai cũng như mình giàu sang chớ có coi khinh nghèo hèn Người
nghèo chớ có hờn ghen thấy ai giàu có chớ nên giận hờn
23. Có một câu chuyện như thế này: – Ốc sên con hỏi ốc sên mẹ: Tại
sao từ khi sinh ra, chúng ta đã phải mang trên người một cái vỏ vừa cứng vừa nặng?
– Ốc sên mẹ: Vì chúng ta không có bộ xương đỡ lấy toàn thân nên chúng ta chỉ có
thể bò đi, nhưng bò rất chậm. Vì thế phải có thêm vỏ để bảo vệ. – Ốc sên con:
Cô sâu róm không có xương nên cũng không bò nhanh được. Thế vì sao cô ấy không
có cái vỏ vừa nặng, vừa cứng đi mẹ? – Ốc sên mẹ: Vì cô sâu róm có thể biến
thành bướm, không trung có thể bảo vệ được cô ấy. – Ốc sên con: Nhưng các em
giun cũng không có xương, bò cũng không nhanh, cũng không biến thành bướm, vậy
tại sao không phải mang lớp vỏ vừa cứng vừa nặng? – Ốc sên mẹ: Vì các em giun
biết đào đất, đất sẽ bảo vệ các em ấy. – Ốc sên con khóc òa: Chúng ta thật đáng
thương, ông trời không bảo vệ chúng ta, đất cũng không bảo vệ chúng ta. – Ốc
sên mẹ vỗ về: Chúng ta có vỏ đó rồi con! Chúng ta không dựa vào trời, cũng
không dựa vào đất, chúng ta dựa vào chính bản thân mình.
24. Người quân tử “biết thân biết phận”, “an phận thủ thường” và
chuẩn bị tốt tất cả, chờ đợi thời cơ mà Thiên mệnh an bài. Người tiểu nhân luôn
làm những việc mạo hiểm để đạt được những thứ không nên được. Đối với việc lớn
mà muốn thành thì không thể hồ đồ.
25. Đừng cố làm người thành công mà hãy gắng trở thành người có
giá trị. 26. Còn gặp nhau thì cứ vui đi, biết đâu ngày mai trở về cát bụi nào
còn cơ hội dành cho nhau.
27. Nếu có ai đó nói xấu ta cứ mặc kệ. Sống sao cho người ta thấy mình
không giống vậy là được rồi.
28. Cuộc sống vô thường thôi, ngày mai chưa chắc ta còn trên cõi
đời. Vì thế hãy đối xử với nhau thật tốt mình
nhé.
29. Cuộc đời là bao, hãy mến thương nhau với bằng tất cả con tim, để rồi một mai khi ta lìa xa nhân thế, không lo lắng u buồn chẳng nuối tiếc muộn phiền chuyện thế sự nơi trần ai.
30. Một ngày không xuất hiện nụ cười thì ngày đó thật lãng phí
vô cùng.
31. Người khác đối xử với mình
thế nào là nghiệp của họ, ta đối xử với
họ thế nào là nghiệp của mình . Cho nên không sợ người nói xấu, chỉ sợ mình làm
xấu.
32. Cuộc đời có nhân có quả. Ta gieo thứ gì ta sẽ gặt được thứ ấy.
33. Chưa bao giờ là muộn để bắt đầu lại. Quá khứ đã ở lại đằng
sau, tương lai còn chưa tới, hạnh phúc ngay lúc này là điều ta có thể lựa chọn.
34. Thành công của mình ngày hôm nay được xây dựng trên những nỗi vất
vả của mẹ cha. Vậy nên những ai còn mẹ, còn cha hãy đối xử tốt với mẹ cha ngay
khi còn có thể.
35. Nếu muốn ai đó lắng nghe những điều ta nói, trước hết ta hãy lắng nghe họ nói trước đã.
36. Ranh giới của ứng xử đẹp và ứng xử tồi cách nhau không xa, ấy
vậy mà nhiều người lại không biết mà vô tư hành xử không đúng mực. Đứng lại và
quan sát thái độ đối phương, dành cho mình một chút thời gian đứng vào vị trí
đó rồi cảm nhận xem là vui hay buồn.
37. Mình ăn mình vui người ta cũng vui ấy là lộc. Mình ăn mình
vui người ta khóc ấy là nghiệp.
38. Hành vi phản ánh lên tâm mỗi người. Hãy để tâm hồn thật đẹp
dẫn theo hành động đẹp.
39. Khi thật sự hiểu được tính cách bản thân thì mới mong người khác chấp nhận.
40. Một người tính tình nóng nảy dù tâm địa có tốt đến đâu cũng
bị xa lánh, lý cần thẳng nhưng khí cần hòa. Đó là cách tốt nhất giữ gìn mối
quan hệ.
41. Trước khi phán xét một người nên nhìn lại mình xem đã hoàn hảo
hay chưa rồi hãy nói đến người khác.
42. Một nụ cười bằng mười than thuốc bổ, trong lúc đối xử với
người hãy giữ tâm trạng luôn vui vẻ, nhã nhặn thì người sẽ nhớ đến mình nhiều
hơn.
43. Muốn người khác giúp mình trước hết phải giúp người ta trước,
muốn người khác cười với mình hãy cười với người trước, muốn người đối xử từ tốn
với mình thì hãy đối xử tốt với người trước. Đừng lầm tưởng mình là cái rốn của
vũ trụ rồi muốn làm gì thì làm, không ổn đâu.
44. Tuy không cùng họ nhưng đều là dân tộc Việt Nam, từ xa xưa
ông bà ta luôn dạy rằng: Lá lành đùm lá rách.
45. Lá lành đùm lá rách, lá rách đùm lá nát, lá nát đùm lá tả
tơi. Chúng ta có nhận ra quy luật gì không? Nếu tâm đã muốn thì không cần lý do
hay đổ thừa hoàn cảnh.
46. Khi chúng ta mệt mỏi, ta sẽ bị những lời nói khiếm nhã kích
động. Hãy luôn lý trí bước ra ngoài xã hội, vì con người vốn dĩ nhỏ nhen đúng
không?
47. Khi hòa thuận thì anh anh em em, đụng đến lợi ích cá nhân
thì gào sồ lên mà cắn. Hãy làm một chính nhân quân tử, kẻ tiểu nhân ắt tính
toán hẹp hòi.
48. Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy. Ta lại được ngày nữa để yêu
thương.
49. Hãy đối xử tốt với mọi người như thể không có ngày mai. Lỡ
đâu ngày kia trở về với cát bụi sẽ luyến tiếc vô cùng.
50. Nếu có một ai cứ liên tục làm mình tổn thương, đừng vội đau khổ mà hãy đón nhận điều đó. Những đau đớn giúp ta trưởng thành nhiều hơn, còn đối phương chỉ là tờ giấy nhám tạo hóa ban tặng giúp ta sáng bóng hơn. Cuối cùng thì tờ giấy nhám hết giá trị cũng phải bỏ đi.
51. Mỗi người gặp được nhau là có duyên số, thời gian bên nhau ít
có nghĩa là không nợ. Khi đã bên ta thì nên quý trọng, đó là chủ nợ, là người
ta phải sống suốt đời.
52. Hành động thảo mai luôn làm cho người lớn tuổi hài lòng. Đừng
mang lý lẽ ngông cuồng ra dạy đời họ, cũng bởi vì mình đâu biết khi còn trẻ họ có thể ngông hơn ta kìa.
53. Này chàng trai trẻ, nhiệm vụ của anh khi tồn tại trên đời là
báo hiếu mẹ cha chứ không phải gân cổ lên mà cãi lại.
54. Lòng người như nguồn nước mát, càng nhạt càng trong trẻo.
55. Nếu ai đó nói xấu sau lưng ta , đừng quan tâm vì vị trí đó vẫn
mãi sau lưng ta mà thôi.
56. Khi thành công ta hay quên đi những khó nhọc lúc trước để rồi
cao ngạo mà té thật đau.
57. Nước sông càng sâu càng yên ắng, cũng như lòng người càng
sâu lắng càng thông minh.
58. Người ta không vội mở miệng chắc gì đã thua, đó là người ta
đang suy xét lời nói thôi. Vậy thì tại sao ta cứ đứng mãi độc thoại một mình cho ai nghe.
59. Buổi chiều khiến cho tâm hồn người sâu lắng, hãy như ánh
hoàng hôn đó nhẹ nhàng khiến ai cũng say mê.
60. Nếu đã là một cô gái xấu thì hãy thật thông minh, nếu là một chàng trai nghèo thì hãy thật tài năng. Có như vậy mới tồn tại trong cuộc sống này, và nên nhớ nụ cười lúc nào cũng sẵn sàng trên môi.
Khi đã xem qua những câu nói hay về cách đối nhân xử thế thì Các Con Cháu Ta đã tâm đắc nhất cho mình câu nào rồi? Lúc trước chưa biết đến thì ứng xử xuề xòa, nhưng khi đã biết rồi thì nên thay đổi bắt đầu từ hôm nay nhé. Chắc chắn con cháu ta sẽ thấy cuộc sống này vô cùng tươi đẹp!
Uy tín là tiền đề và điều kiện đảm bảo chắc chắn cho sự thành
công trong cuộc sống cin người. Ta cho rằng: điều quyết định thành công trong
việc quản trị tạo dựng hình ảnh bản thân thành công đời mình không phải bởi sức mạnh của tài
chính mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh
của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc. Nhờ có uy tín
mà người ta bằng những yêu cầu, bằng những gợi ý, bằng những lời thuyết phục, bằng
những quyết định quản lý của mình, luôn luôn có khả năng ám thị từng cá nhân và
tập thể. Điều đó có nghĩa là họ thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tự giác,
nhờ đó mà người ta thực hiện có kết quả
những mục tiêu của cuộc đời đã đề ra.
1.
Uy tín của người quan trọng như thế nào?
- Người có uy tín sẽ giúp tăng cường tinh thần và hiệu quả làm
việc của người bị ảnh hưởng; tăng cường nhịp điệu hoạt động tích cực của tập thể
của doanh nghiệp do người có uy tin thực sự đứng đầu.
- Nhờ có uy tín mà người ta mới tạo ra sự tin phục của tập thể và xã hội đối
với lời nói và việc làm của mình, nhờ đó mà:
+ Giáo dục được tập thể, giáo dục được từng thành viên của tập
thể, góp phần cực kỳ to lớn trong việc ngăn chặn các nhóm và các cá nhân lệch
chuẩn trong tập thể, ngăn chặn được xung đột trong tập thể, tạo ra bầu không
khí tâm lý lành mạnh trong tập thể.
+ Giúp cho người ta tập hợp, động viên được các lực lượng trong
xã hội tham gia thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
- Uy tín là động lực bên trong giúp cho tinh thần người ta luôn
sảng khoái, bình tỉnh, tự tin, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm bởi họ
biết rằng xã hội phần đông coi mọi quyết định của người có uy tín là vì Số Đông
trong đó có quyền lợi cá nhân của mình. Ngược lại, người không có uy tín hoặc
uy tín thấp luôn luôn gặp phải sự chống đối, tâm trạng luôn luôn u ám, nặng nề.
Uy
tín là gì?
Uy tín là khả năng tác động của người đó đến người khác, là sự ảnh
hưởng đến người khác, cảm hoá người khác, làm cho người khác tin tưởng, phục
tùng và tuân theo mình một cách tự giác.
Uy tín của người ta, theo khái niệm đã trình bày trên thì đó là
sự thừa nhận của gia đình ,xã hội về nhân cách của người ta; sự đánh giá của nhóm
người,tập thể người về sự phù hợp giữa những phẩm chất và năng lực của người cụ
thể nào đó đáp ứng được những yêu cầu mà
được mọi người tin tưởng, mến phục và phục tùng một cách tự giác.
Uy tín bao gồm hai mặt: Uy và tín. Theo từ điển Hán Việt thì: Uy
tín là có uy quyền mà được người ta tín nhiệm.
- Uy quyền: là quyền lực của người ta được tóa ra ừ uy tín cá
nhân; nó là vốn liếng ban đầu mà “Ông Trời” ban tặng
- Tín nhiệm: là ảnh hưởng đến mọi người xung quanh; được mọi người
tin tưởng, tôn trọng và tuân phục. Đây là cái vốn mà người ta tự tạo ra cho
mình trong hoạt động của cuộc sống. Rõ ràng có uy mà không có tín thì không thể
thành công cao được, sớm muộn thì người đó cũng sẽ bị đào thải. Bởi thế, trong
việc xây dựng cuộc đời, ta phải chú ý rèn dũa thích hợp cho mình.
Nói chung, uy tín của người ta là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố uy quyền và sự tín nhiệm, thiếu một trong hai yếu tố đó sẽ không có uy tín.
2.
Phân loại và biểu hiện uy tín thật – giả của con người
Thông thường người ta chia uy tín ra thành 2 loại: uy tín đích
thực và uy tín giả danh. Uy tín đích thực thì chỉ có một, còn uy tín giả tạo
(giả danh) thì có rất nhiều loại, trong phạm
vi khuôn khổ của mình Ta viết nội dung này
chỉ bàn tới bảy loại uy tín giả danh mà trong thực tiễn đời thường thấy:
2.1.
Thế nào là uy tín đích thực?
Uy tín đích thực là sự kết hợp một cách đặc biệt giữa những phẩm
chất tư tưởng, chính trị, tâm lý đạo đức của con người, uy tín đích thực hình
thành và phát triển thông qua hoạt động giao lưu của chủ thể và khách thể trong
cuộc sống nhằm tích cực hoá quá trình
đó.
Uy
tín đích thực được biểu hiện qua cơ sở sau đây:
- Là gười luôn luôn đứng vững trên cquan của mình. Trong hoạt động,
trong cuộc sống được cộng đồng tín nhiệm
, kính phục, tin tưởng phục tùng tự nguyện .
- Những thông tin có liên quan đến cuộc sống ,cộng đồng đều được bình tĩnh xử lý, chính xác kịp thời chuẩn mực.
- Những quyết định xử lý đưa ra được mọi người thực hiện tự giác, nghiêm túc dù bất cứ dưới
hình thức nào .
- Dù họ vắng mặt ở nơi họ sống hay làm việc nhưng công việc vẫn tiến hành bình thường và mọi
người vẫn mong đợi sự có mặt họ.
- Dư luận cộng đồng luôn
đánh giá tốt về họ.
- “Kẻ thù”, những người đối lập, những đối thủ có tầm cỡ tỏ ra
kính nể, run sợ thậm chí khâm phục
- Họ luôn luôn có tâm trạng nhiệt tình, thoái mái trong công việc,
có hiệu quả hoạt động rõ rệt. Hiệu quả này không chỉ ở mặt kinh tế - xã hội mà
còn thể hiện trong sự phát triển chung .
- Những việc riêng của Họ được mọi người quan tâm với thái độ
thiện chí và đúng mức.
- Khi Họ bị một sự cố gì đó trong cuộc sống , mọi người luyến tiếc,
ngưỡng mộ, ca ngợi. Hình ảnh của họ còn lưu lại trong cộng đồng.
2.2.
Thế nào là uy giả tạo (giả danh)?
Như phần trên đã nói uy tín đích thực thì chỉ có một, còn uy tín
giả tạo (giả danh) thì có rất nhiều loại, sau đây là bảy loại uy tín giả danh
mang tính chất điển hình nhất:
- Uy tín giả tạo kiểu công thần
Loại người này quen sống và làm việc với những thành tích trong
quá khứ, tự coi mình là lý tưởng, bất khả xâm phạm. Thường chủ quan, phiến diện,
ít chịu khó học tập nghiên cứu để nâng cao trình độ, đem kinh nghiệm và hiểu biết
cũ áp dụng trong điều kiện mới. Hay bảo thủ, trì trệ, xem thường mọi người, khó
tiếp nhận cái mới. Hậu quả thường dẫn đến là quan liêu, tham quyền cố vị.
- Uy tín kiểu dân chủ giả hiệu
Đây là kiểu người : bề ngoài tỏ ra dân chủ song thực chất là mị
dân. Hắn gây uy tín bằng cách tỏ vẻ hoà nhập với mọi người, mọi việc hắn đều
đưa ra bàn bạc, xin ý kiến song thực chất vẫn quyết theo ý mình. Kiểu tạo dựng
uy tín này sẽ mất đi ý nghĩa của nguyên tắc dân chủ, mất đi tính sáng tạo mọi
người .
- Uy tín giả danh kiểu dạy khôn
Loại uy tín này thường có ở người “lãnh đạo” luôn muốn tỏ ra
mình là một người thầy, người am hiểu nhất. Trong quan hệ với mọi người hắn
luôn nhồi nhét, ra vẻ dạy khôn mọi người. Đây là kiểu uy tín giả danh theo kiểu
thông thái “dởm”, tự tô vẻ đề cao mình.
- Uy tín giả danh do mượn ô dù .
Loại uy tín này ở những tên luôn luôn mượn lợi “cấp trên” để trấn
áp hoặc tạo ra mọi người tưởng hắn là người gần gũi, được “cấp trên” tin tưởng.
Trong bất kỳ trường hợp nào hắn cũng khoe đã được gặp gỡ “cấp trên” hay được “cấp
trên” tiết lộ cho biết một bí mật quan trọng nào đó. Thông thường hắn là những tên
theo sát “cấp trên” để được “cấp trên” cất nhắc, bổ nhiệm, lấy uy thế của “cấp
trên” và quan hệ “cấp trên” đối với mình để xây dựng uy tín.
- Uy tín giả danh dựa trên sự trấn áp bằng quyền lực
Đây là trường hợp mà một
số tên “lãnh đạo” dùng cách chứng tỏ cho cấp dưới thấy rõ uy thế quyền hạn của
mình và giữ cho cấp dưới luôn ở tình trạng căng thẳng vì lo sợ thi hành kỷ luật.
Loại uy tín này rất tai hại
vì nó không chỉ làm giảm hiệu quả lao động mà còn làm cho bầu không khí tâm lý
trong cuộc sống căng thẳng. Đố kỵ thiếu tin tưởng lẫn nhau. Mặt khác nó cũng
làm mất đi tính độc lập sáng tạo của mọi người, tạo điều kiện cho một số kẻ xu
nịnh xuất hiện.
- Uy tín giả danh dựa trên khoảng cách
Loại uy tín này biểu hiện ở chỗ “tên lãnh đạo” luôn tạo ra một sự
cách biệt rõ ràng trong quan hệ với mọi người; đứng từ xa để chỉ đạo tránh tiếp
xúc với cấp dưới, muốn tỏ ra khó gần gũi và có chút ít gì bí ẩn. “Loại này” sợ
gần mọi người sẽ lộ tẩy những nhược điểm, non kém của hắn. “Loại lãnh đạo” này
hắn tự tách mình ra khỏi cộng đồng; không đi sâu sát thực tiễn nên dễ có quyết
định sai lầm.
- Uy tín kiểu gia trưởng
“Loại lãnh đạo” theo kiểu gia đình chủ nghĩa, ban phát cho thuộc cấp như cha mẹ, xây dựng ê-kip theo kiểu bè cánh, thái độ cửa quyền, khen thưởng hoặc thù lao theo kiểu ban phát, bất chấp chính sách. Gây ra hiện tượng bè phái, cục bộ địa phương, phục tùng cá nhân mù quáng, ninh bợ “cấp trên”. Là “loại lãnh đạo” chỉ cho mình là giỏi giang thông minh nhất, bằng vẻ mặt, tư thế, cách làm ra vẻ quan trọng để đề cao mình, hạ thấp thuộc cấp,cấp dưới. “loại lãnh đạo” này thường dẫn đến phong cách chỉ huy độc đoán, hắn luôn tìm cách đẩy người mà hắn không ưa kể cả những người có tài ra khỏi cộng đồng. Hắn muốn thuộc cấp,cấp dưới phục tùng một cách tuyệt đối. Đây là “loại lãnh đạo” rất không tiếp nhận sự phê bình.
3. Con đường cơ bản hình thành uy tín (đích thực) của con người
Việc hình thành uy tín của con người tức là hình thành nhân cách
phù hợp của người định hướng tới, cũng hoàn toàn tuân theo quy luật chung của sự
hình thành nhân cách.
-
Tự phấn đấu rèn luyện
Đây là con đường cơ bản nhất để tự nâng cao uy tín của mình. Tự
phấn đấu rèn luyện có thể được thực hiện bằng các biện pháp sau đây:
+ Duy trì hứng thú khát vọng và ý chí để phục vụ ức vọng, phục vụ
con người và xã hội. Không được lấy uy tín làm mục đích mà phải coi đó phương
tiện, là điều kiện để thực hiện mục đích làm người.
+ Thường xuyên kiểm tra, tự phê bình.
-
Giữ vững và nâng cao uy tín qua các mối quan hệ
Người ta không chỉ sống cho mình vì mình của mình mà còn tham gia các mối quan hệ trong
xã hội , trong cộng đồng . Uy tín gắn liền với những giá trị của họ. Những giá
trị này được đánh giá thông qua người khác. Như vậy, thông qua mối quan hệ đây
cũng là con đường để nâng cao uy tín con người. Các biện pháp thực hiện con đường
này bao gồm:
+ Quan hệ với mọi người khiêm tốn và có nguyên tắc.
+ Chân thành và gần gũi với mọi người.
+ Quan hệ đúng mực với cộng đồng.
- Thực hiện công khai và minh bạch
Dân chủ công khai Minh bạch thành tâm trong tất cả các mối quan hệ ,có ý kiến độc lập
trong quyết định của cá nhân và dám chịu trách nhiệm, không né tránh và đổ
trách nhiệm cho người khác đó là phẩm chất cần có .
Tóm
lại:
Trong quá trình xây dựng và nâng cao uy tín của mình, người ta cần
quan tâm một số vấn đề sau đây:
Là người nên coi việc tạo dựng uy tín cho mình chỉ là phương tiện
cần thiết để đạt mục đích của cuộc đời mà thôi.
Lấy chuẩn mực trong phong cách , hành xử trong cuộc sống làm định hướng cho quá trình rèn luyện, phấn đấu
làm người.
Lưu
ý : Khi phân tích uy tín của cá nhân nào đó , cần chú ý tới các
nhân tố tâm lý - xã hội khác có liên
quan, như: tâm thế của người cần xem xét, dư luận cộng đồng, bầu không khí đạo
đức ở cộng đồng; các quá trình thích nghi giao tiếp, cảm hoá, thuyết phục và bắt
chước lẫn nhau trong từng cộng đồng khác nhau.
Ngoài những yếu tố trên, người ta còn phải chú ý đến kỹ năng, nghệ thuật giao tiếp của bản thân vì đó là phương tiện rất quan trọng để người ta thiết lập, điều khiển các quan hệ của mình và thực hiện những tác động đến cộng đồng
Làm sao để tạo dựng uy tín?
Dù ở vị thế nào, chúng ta cũng cần có uy tín. Uy tín là một
trong những yếu tố quyết định thành công trên đường đời. Có uy tín, chúng ta sẽ
tạo dựng được niềm tin đối với mọi người. Từ đó, họ sẽ tự giác nghe theo và thực
hiện những gì chúng ta yêu cầu. Có uy tín, chúng ta có thể lôi cuốn được người
khác, chinh phục được họ yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và… trung thành
với chúng ta, sẵn sàng bỏ qua những khiếm khiết nhỏ của chúng ta.
Uy tín giữ vai trò quan trọng như thế, tại sao chúng ta không
tìm hiểu và tìm biện pháp tạo dựng uy tín. Biến uy tín thành phương tiện để đi
đến thành công?
Theo các nhà xã hội học thì uy tín là phức hợp của quyền uy và
tín nhiệm.
Uy tín do bản tính nhân
cách sinh ra. Quyền là những điều do địa vị hay chức vụ đem đến.
Theo các nhà tâm lý học có hai loại uy tín: uy tín chức vụ và uy
tín cá nhân.
- Uy tín cá nhân là tổng hoà các đặc điểm phẩm chất tâm lý- xã hội
của bản thân người được xã hội thừa nhận, phù hợp với những yêu cầu khách quan
của hoạt động. Uy tín cá nhân được tạo ra những phẩm chất riêng của con người,
thông qua những hành vi ứng xử trong quan hệ với mọi người.
- Uy tín chức vụ là uy tín có được do ưu thế chức vụ tạo nên. Nó
là hiện tượng xã hội khách quan mang tính quyền lực nhà nước hay xã hội. Nó là
cái đã được định sẵn.
Qua những khái niệm nêu trên, chúng ta nhận thấy dù là loại uy
tín nào cũng phát sinh từ phẩm chất, năng lực, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực
đạo đức xã hội quy định. Vì vậy, muốn có uy tín, cần trao dồi, rèn luyện các mặt
nêu trên.
1.
Tu dưỡng phẩm chất, đạo đức:
Muốn trở thành người có uy tín cũng vừa khó mà cũng vừa dễ. Khó
vì phải thường xuyên, liên tục uốn mình theo những khôn mẫu định sẵn sao cho
phù hợp với chuẩn mực đạo đức.
Tất nhiên, mỗi cá nhân trong chúng ta thấy khổ sở, bị bó buộc.
Ví dụ như nào là ăn có nhai , nói có nghĩ. Nào là giấy rách phải giữ lấy lề.
Nào là nghèo cho sạch , rách cho thơm… Người có uy tín là người không lùi bước
trước khó khăn, phải lạc quan, yêu đời, phải quan tâm đến đời sống vật chất lẫn
tinh thần của mọi người nhất là những người thân cận và cộng sự . Những điều
nêu trên sẽ trở nên dễ thực hiện khi trở thành thói quen, lúc đó chính mỗi
chúng ta còn tự phê phán mình nếu lỡ có hành
vi không đúng và tự giác sửa chữa.
2.
Nâng cao trình độ học vấn, kiến thức phổ thông
Bằng cách tự học qua sách báo, nghe đài, xem đài trên Intenet và có thể tham gia lớp tại chức để
nâng cao trình độ. Trình độ cao sẽ giúp mỗi cá nhân chúng ta giải quyết nhanh, chính xác những vấn đề trong
cuộc sống. Ngoài ra còn có thể quyết định đúng đắn, đem lại lợi ích cho nhiều
người.
3.
Mở rộng mối quan hệ, giao tiếp
Thêm một người bạn sẽ bớt đi một kẻ thù. Có nhiều bạn bè là đã
có một gia tài lớn.
Họ sẽ làm cho đời sống của mỗi cá nhân chúng ta thêm phong phú
và có ý nghĩa. Và, uy tín của mỗi cá nhân chúng ta cũng tăng lên từ đấy.
4.
Rèn khả năng tổ chức
Nếu ai đó trong con cháu của ta là một nhà quản lý thì yếu tố này rất quan trọng.
Nó thể hiện năng lực của mỗi cá nhân chúng ta và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự
phát triển của tổ chúc , đến đời sống của
những người cấp dưới mỗi cá nhân chúng ta. Vì vậy, cần rèn luyện khả năng tổ chức
Khả năng tổ chức là sự tổng hợp những đặc tính phát triển cao của
trí tuệ, ý chí, bảo đảm cho người lãnh đạo nhận thức sâu sắc hoạt động quản lý,
cũng như cải tiến hoạt động quản lý. Người có khả năng tổ chức là người biết lập
kế hoạch dự đoán chính xác tâm lý người qua bề ngoài, qua hành vi để có kết luận
chính xác mà phân công hợp lý.
Người quản lý có trí tuệ phát triển thường nhận thức đầy đủ hiện
thực, nhận thức chính xác trạng thái công việc đồng thời có óc tưởng tượng những
viễn cảnh phát triển của tập thể một cách rõ ràng, chính xác. Trên cơ sở quan
sát những tình huống cụ thể mà nghĩ ra cách giải quyết có hiệu quả. Biết kết hợp
tư duy thực tế và những đặc điểm tính cách mình.
5.
Khả năng diễn thuyết và hoạt động hiệu quả
Tất nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng diễn thuyết trừ khi
công việc bắt buộc.
Trước khi nói trước đám đông, phải chuẩn bị diễn văn một cách
chu đáo. Tránh dài dòng lan man. Viết ngắn gọn nhưng đầy đủ, nội dung trọng tâm
và khi phát biểu thì phải lưu ý cách phát âm: phải chuẩn và rõ. Nói hay mà làm
dở thì vẫn mất uy tín. Vì vậy phải tích cực lao động và đạt hiệu quả cao.
Để đạt được mục đích, mỗi cá nhân chúng ta hãy dùng uy tín làm phương tiện. Chúc các con cháu ta thành công.
sự cần thiết Tạo dựng uy tín cá nhân
Mỗi cá nhân chúng ta có biết rằng danh dự mất đi có thể lấy lại
được, tiền tài mất đi có thể lấy lại được nhưng một khi uy tín mất đi mỗi cá
nhân chúng ta sẽ rất khó để lấy lại như ban đầu! Lúc nào người khác cũng sẽ
nghi ngờ chúng ta: liệu anh ta, cô ta có đáng tin cậy không? Thế nên cách tốt
nhất đó là đừng bao giờ đánh mất uy tín cá nhân!
Người xưa thường nói : một lần mất tín vạn lần mất tin, mỗi cá
nhân chúng ta có biết vì sao không? Nếu
như không giữ chữ tín với những người đã từng tin mình thì lần sau họ sẽ chẳng thể nào tín nhiệm mỗi
cá nhân chúng ta được nữa! Khi làm việc
cũng vậy, nếu mỗi cá nhân chúng ta bất
tín với họ thì sẽ không còn lần hợp tác thứ hai! Thế nên trong cuộc sống điều
quan trọng đó là phải tạo dựng và giữ gìn được uy tín cá nhân nếu không chúng
ta sẽ chẳng bao giờ có được những người ủng hộ mình!
Thường thì ngay từ khi còn trẻ chúng ta phải học được cách giữ
chữ tín cho mình, hừa làm việc gì đó thì phải làm bằng được! Nếu không thể hoàn
thành thì cũng cần trình bày lí do, nguyên nhân vì sao lại không hoàn thành được
việc đó! Tuy không mất uy tín nhưng lần sau họ cũng khó mà tin được chúng ta lắm! Thế nên nếu nhận lời ai đó làm việc gì
thì mỗi cá nhân chúng ta phải xem xét cẩn
thận xem mình có thể thực hiện được hay không?
Có nhiều người cứ nhận lời mà không làm việc thậm chí nhận được
tài chính từ người khác cũng không hoàn thành trọn vẹn việc cần làm. Từ đó gây
nên sự nghi ngờ mất tin tưởng từ người khác! Chắc con cháu của ta cũng không muốn
như vậy phải không?
Nếu mượn bạn bè của mình tiền bạc hay đơn giản chỉ là quyển sách
và hứu hẹn thời gian trả thì nên trả đúng thời điểm đã hẹn! việc này sẽ giúp mỗi
cá nhân chúng ta cầm được tấm vé tín nhiệm
của người đó! Có như vậy lần sau họ mới dám cho mỗi cá nhân chúng ta mượn tiếp chứ! Nhiều người chỉ mượn được của
ai đó một lần và lần sau họ tìm mọi cách để từ chối cho dù người đó có khẩn thiết
thế nào đi nữa!
Khi đưa ra lời hứa với một ai đó hãy suy nghĩ thật kỹ xem mình
có thể biến nó thành hiện thực được không? Đừng hứa để rồi quên ngay sau khi hứa,
như vậy không chỉ niềm tin dành cho mình không còn mà uy tín của mỗi cá nhân chúng ta với những người khác cũng chẳng tồn tại được
lâu. - Người suy nghĩ chín chắn không dễ dàng nhận lời, còn khi nhận lời họ sẽ
thực hiện lời hứa!
Mỗi cá nhân chúng ta cần học cách suy nghĩ trước khi nhận lời:
Trước khi quyết định đưa ra lời hứa tự mỗi cá nhân chúng ta nên tự hỏi - “Mình có sẵn lòng và đủ năng lực
để gánh vác việc này không?” – Nếu không, chẳng thà mình đừng hứa còn hơn làm
người khác thất vọng vì mình không thể
làm xong việc mà mỗi cá nhân chúng ta nhận
lời. Trong cuộc sống có nhiều cách để chúng ta chinh phục một ai đó vậy nên đừng
lợi dụng lời hứa để tạo niềm tin cho người khác. Những gì được xây dựng trên nền
tảng dối trá cuối cùng cũng tan vỡ mà thôi.
Để có thể từ chối mà không mất đi tình thân hữu, mỗi cá nhân
chúng ta có thể lựa chọn cách hành động
dưới đây:
Nói rõ với họ là Ta không
có đầy đủ những gì tốt nhất mà họ yêu cầu và giới thiệu lợi ích hoặc chọn lựa
người khác phù hợp hơn. Lắng nghe đối phương, đặt ra câu hỏi, dẫn dắt đối
phương vận dụng lý luận và khả năng tự mình biết để tìm đáp án. Mỗi ngày đề ra
mục tiêu quan trọng mà mỗi cá nhân chúng ta phải thực hiện, như vậy, khi người khác đề ra
yêu cầu với mình , Ta có thể trả lời, mục tiêu của mình quan trọng cần làm hơn.
Nếu mỗi cá nhân chúng ta muốn cự tuyệt
nhưng cảm thấy khó nói, mỗi cá nhân chúng ta hãy tỏ ra do dự (không nói được hay không) để
họ nhận thức rằng có thể Ta không đáp ứng
yêu cầu của họ… Đối với những tình huống vượt ra ngoài dự kiến, thì phải hứa để
ngăn chặn nhiều rắc rối xảy ra (mỗi cá nhân chúng ta sẽ phải sống với lòng tin bị sút giảm bởi biết
mình không thể thực hiện), và rồi sẽ tìm cách khác để khôi phục lòng tin vậy.
Tóm lại, chúng ta thường mang cảm giác có lỗi khi từ chối người
khác và nghĩ rằng, đưa ra lời hứa có thể tạo thêm được lòng tin. Tuy nhiên, mỗi
cá nhân chúng ta cần nhận biết rõ nhận lời
sẽ hữu ích hơn hay từ chối vì lòng tự trọng, vì không thể thất hứa. Bởi không
có gì dễ làm tổn hại lòng tin bằng việc hứa rồi lại không giữ lời. Vì thế, khi
người khác yêu cầu một việc mà mỗi cá nhân chúng ta không muốn đảm nhận, mỗi cá nhân chúng ta hãy rèn luyện mình để can đảm nói “không”, vì mỗi
cá nhân chúng ta không muốn mình giả dối,
và như thế, sẽ có lợi cho chính mình và cả người khác.
Uy tín là điều vô cùng quan trọng với cá nhân mỗi người thế nên mỗi
cá nhân chúng ta đừng bao giờ đánh mất
nó! Nếu không mỗi cá nhân chúng ta sẽ rất
lâu sau mới lấy lại được sự tin tưởng và tạo dựng được uy tín của bản thân!
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong mối quan hệ với các quyền nhân thân khác
Quy định quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong mối
quan hệ với các quyền nhân thân khác.
I.
Cơ sở pháp lý:
– Hiến pháp năm 2013;
– Bộ luật dân sự năm 2005;
– Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong số những
quyền nhân thân cơ bản của con người. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín được ghi nhận không chỉ trong pháp luật Việt Nam mà còn được pháp luật thế
giới thừa nhận.
1.
Khái quát Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong số những
quyền nhân thân cơ bản của con người. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín được ghi nhận trong tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 tại điều
12
“Không ai phải chịu can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống
riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy
tín cá nhân…”
Và quyền nhân thân này cũng được quy định trong công ước về các
quyền dân sự và chính trị năm 1966:
“Không ai bị can thiệp một cách độc đoán hoặc bất hợp pháp đến đời
sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xúc phạm bất hợp pháp đến danh
dự và uy tín”
Để đảm bảo quyền này được thực hiện trên thực tế, pháp luật Việt
Nam đã sớm có quy định về quyền này. Hiến pháp năm 1980 đã quy định:
“Công dân có quyền tự được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”(Điều 70).
Đến Hiến pháp năm 1992 lại tiếp tục ghi nhận quyền được bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân tại
Điều 71:
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
Sau đó, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức,
nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc
phạm danh dự, nhân phẩm.”
Như vậy quyền được bảo về danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền hiến
định và đã được quy định tại Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên có thể
thấy rằng mặc dù ghi nhận về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của
cá nhân và quyền được bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức nhưng hệ thống các văn
bản pháp luật Việt Nam lại chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về danh dự, nhân phẩm
và uy tín.
Mặc dù vậy, theo quan niệm thông thường của xã hội có thể hiểu
các thuật ngữ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:
Danh dự: Là một phạm trù mang tính chất xã hội nhằm cụ thể hóa
và phân biệt giữa chủ thể này và chủ thể khác của các quan hệ pháp luật dân sự,
là sự đánh giá xã hội đối với một người, một tổ chức cụ thể. Danh dự là yếu tố
luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và là một trong những yếu tố để khẳng định
vị trí, vai trò và uy tín của chủ thể đó trong xã hội.
Đối với tổ chức, danh dự là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm
của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó.
Nhân phẩm: Là phẩm chất, là giá trị của con người, là một yếu tố
nhân thân gắn liền với một con người nhất định và được pháp luật bảo vệ.
Uy tín: Uy tín là giá trị về mặt đạo đức, tài năng được công nhận
ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm
phục, tôn kính và tự nguyện nghe theo.
Uy tín, của một tổ chức là những giá trị tốt đẹp của tổ chức đó
đạt được trong hoạt động thực tiễn và được mọi người công nhận.Uy tín không phải
làm một giá trị tự thân – tự nhiên mà có, nó được tạo ra qua một thời gian nhất
định bằng khả năng, kinh nghiệm, đạo đức … của người đó.
Bên cạnh việc ghi nhận quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, pháp luật còn có những quy định cụ thể để nhằm đảm bảo quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín. Theo đó, khi danh dự nhân phẩm uy tín của một cá nhân, danh dự uy tín của một pháp nhân bị xâm phạm, pháp luật sẽ buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại cho cá nhân hay tổ chức đã bị xâm phạm. Theo đó thiệt hại trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (được quy định tại Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2005 và được chi tiết hóa tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng). trong một số trường hợp cụ thể, người đã có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
2. Mối quan hệ giữa quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín và các quyền nhân thân khác.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thuộc nhóm quyền
nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội. Đây là quyền nhân
thân cơ bản của con người. Giữa quyền này với các quyền nhân thân khác có mối
quan hệ khá mật thiết thể hiện ở chỗ nếu các quyền nhân thân bị xâm phạm sẽ trực
tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Việc thực hiện đúng nội dung các quyền nhân thân khác cũng đồng thời thực hiện
quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Để làm rõ hơn mối quan hệ giữa quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền nhân thân khác, nhóm sẽ
phân tích sự ảnh hưởng giữa một số quyền nhân thân cụ thể với quyền được bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:
Trong mối quan hệ với Quyền bí mật đời tư: có thể thấy quyền bí
mật đời tư và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có mối liên hệ mật
thiết với nhau. Khi quyền bí mật đời tư bị xâm phạm, kéo theo đó là quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng bị xâm phạm theo.
Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông
tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan
đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những
thông tin đó được bảo đảm bằng những biện pháp được pháp luật thừa nhận. Phần
nhiều trường hợp các cá nhân cho rằng bản thân đã bị xâm phạm quyền bí mật đời
tư đều là trường hợp những thông tin liên quan trực tiếp đến cá nhân là những
thông tin mà cá nhân không mong muốn bị nhiều người bàn tán hay công khai trên
diện rộng cho nhiều người biết bởi thông tin đó thường mang tính chất tiêu cực
và ảnh hưởng xấu đến đời sống của cá nhân bị xâm phạm và sự ảnh hưởng này có thể
trực tiếp tác động tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị xâm phạm. Khi
đó,hành vi xâm phạm bí mật đời tư cũng đã kéo theo hành vi xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người khác. Nhìn mối quan hệ này dưới góc độ tương hỗ lẫn
nhau. Bảo vệ được bí mật đời tư là được coi là tấm lá chắn nhằm chống lại sự
xâm phạm đến cuộc sống riêng tư, trong đó có sự chống lại việc xâm hại đến danh
dự, uy tín, nhân phẩm. Ngược lại, để đạt được mục đích bảo vệ được danh dự, uy
tín, nhân phẩm thì trong những trường hợp nhất định là không được xâm hại đến đời
sống riêng tư của một cá nhân cụ thể.
Trong mối quan hệ với quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các
thành viên trong gia đình: Bộ luật dân sự 2005 quy định các thành viên trong
gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc giúp đỡ nhau phù hợp với truyền thống
đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Con, cháu chưa thành niên được hưởng sự
chăm sóc, nuôi dưỡng của ông bà,cha mẹ; con,cháu có bổn phận kính trọng, chăm
sóc, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Cách xử sự đó đã trở thành đạo lý, lẽ sống của
người Việt Nam bao đời nay. Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy không ít gia
đình do có những mâu thuẫn với nhau đã dẫn đến tình trạng cha mẹ có những hành
vi hành hạ, xúc phạm con cái hoặc con cháu có thái độ và lời nói xúc phạm đến
ông bà, cha mẹ. Hành vi này không những xâm phạm đến quyền được hưởng sự chăm
sóc giữa các thành viên trong gia đình mà còn xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của
các thành viên khác trong gia đình.
Trong mối quan hệ với Quyền bình đẳng của vợ, chồng: Vốn trải qua một thời kỳ phong kiến tương đối dài trong lịch sử, nên từ xưa trong cuộc sống hôn nhân, xã hội Việt Nam vẫn có quan niệm người phụ nữ khi đã kết hôn thì phải “Xuất giá tòng phu”, người vợ phải phục tùng chồng tuyệt đối, và khi bị chồng ngược đãi người vợ thường không được bảo vệ bởi coi đó là lẽ tự nhiên ở đời. Nhưng trong xã hội hiện đại ngày nay, mặc dù hai bên đã xác lập quan hệ vợ chồng nhưng vẫn phải có nghĩa vụ tôn trọng nhau, yêu thương lẫn nhau và bình đẳng với nhau, việc xác lập quan hệ vợ chồng không có nghĩa là một bên hoàn toàn có quyền áp đặt đối với bên kia cũng như chà đạp hay xúc phạm đến bên kia. Một khi sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng đã bị phá vỡ thì kéo theo đó là sự tôn trọng nhau cũng không còn, danh dự nhân phẩm của bên yếu thế hơn có thể bị xâm phạm bất cứ lúc nào, cuộc sống gia đình khi đó luôn ngột ngạt không khác gì “địa ngục”. Chính vì vậy mà bình đẳng trong trong quan hệ vợ chồng, tôn trọng danh dự nhân phẩm uy tín của nhau mới là nền tảng vững chắc cho cuộc sống gia đình hạnh phúc được đảm bảo.
Trong mối quan hệ với Quyền của cá nhân đối với hình ảnh: Điều 31 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định
“ cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh
phải được người đó đồng ý….Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà
xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.”
Thông thường hình ảnh của cá nhân được công khai theo ý chí của
người có hình ảnh. Hình ảnh cá nhân là một yếu tố gắn liền với danh dự, nhân phẩm,
uy tín, nó là một trong những yếu tố để nhận diện xác định danh dự, nhân phẩm,
uy tín. Vì vậy, quyền đối với hình ảnh của cá nhân có liên hệ mật thiết với quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Sự liên hệ đó thể hiện ở chỗ hìn ảnh của
cá nhân có thể làm tăng hoặc có thể làm giảm sút, ảnh hưởng xấu đến danh dự,
nhân phẩm, uy tín.
Nếu như hình ảnh của một cá nhân mỗi khi xuất hiện trước công
chúng thông qua phương tiện thông tin mà phản ánh chân thực những thành công
trong cuộc sống, sự nghiệp… thì cá nhân đó ngày càng tạo được tiếng tăm tước mọi
người. Điều này sẽ làm tăng giá trị danh dự, nhân phẩm, uy tín của chín bản
thân người đó.
Thực tế hiện nay việc sử dụng hình ảnh cá nhân như đem hình của
một người phát tán trên mạng sau khi đã có sự cắt xén hình ảnh hoặc đưa ảnh kèm
theo nội dung không lành mạnh nhằm bôi xấu danh dự của một người hay phát tán
hình ảnh “nhạy cảm” cá nhân… có thể thấy cách thức sử dụng hình ảnh của cá nhân
để xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người dễ dàng thực hiện khi
có sự trợ giúp của phương tiện thông tin hiện đại. Do vậy, việc bảo vệ quyền của
cá nhân đối với hình ảnh sẽ góp phần hạn chế hành vi xâm phạm tới danh dự, nhân
phẩm, uy tín của chủ thể. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung thêm quy
định mới so với Bộ luật dân sự 1995 tại khoản 3 Điều 31:
“ Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm tới
danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.”
Mối quan hệ thể hiện ở hai góc độ, một là, thông qua việc sử dụng
hình ảnh của cá nhân để xâm phạm đến
danh dự, uy tín, nhân phẩm (ví dụ: đăng hình ảnh phản cảm của cá nhân, đăng
hình ảnh chuyện quan hệ riêng tư của cá nhân anh A hoặc chị B…làm hạ thấp, bôi
nhọ danh dự, uy tín, nhân phẩm của những người này); hai là, trực tiếp xâm phạm
đến hình ảnh của cá nhân mà dẫn đến việc xâm phảm danh dự, uy tín, nhân phẩm
(Ví dụ: giao bán những bức ảnh khoả thân nghệ thuật của cá nhân chị D mà đã có
cam kết ko được giao bán trước khi chụp. Việc giao bán này làm phát tán hình ảnh
khoả thân của chi D, từ đó làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, công
việc của chị D; hoặc công ty truyền thông có ký hợp đồng được toàn quyền sử dụng
hình ảnh của một ca sỹ trong quá trình chụp hình, quay video trong một tác phẩm
âm nhạc; sau đó lại bán những hình ảnh này mà ko có sự đồng ý của cô ca sỹ, làm
ảnh hưởng đến danh dự, uy tín trong nghề của cô ca sỹ này…).
Trong mối liên hệ giữa quyền đối quyền nhân thân đối với họ và
tên: Quyền đối với họ và tên được quy định tại Điều 26, 27 của Bộ luật dân sự
2005. Theo đó, quyền bảo vệ đối với họ và tên được cá nhân tự mình xác lập và
thực hiện; trong những trường hợp nhất định thì quyền đối với họ tên được bảo vệ
thông qua chủ thể khác, ví dụ: bố mẹ đi khai sinh cho con, bố mẹ yêu cầu đính
chính tên cho con khi có nhầm lẫn, bố mẹ có quyền đặt tên cho con, có quyền
thay đổi tên cho con. Trong khi đó, việc bảo vệ quyền đối với danh dự, uy tín,
nhân phẩm thông thường do cá nhân tự bảo vệ. (Trong một số trường hợp có thể bố
mẹ, người đại diện bảo về: Ví dụ đứa trẻ 9 tuổi bị vu oan là ăn cắp vặt đồ của
nhà hàng xóm thì cần được bố mẹ bảo vệ danh dự nếu đứa trẻ không tự bảo vệ được).
Mối liên hệ ở đây chính là việc xâm phạm đến quyền bảo vệ danh dự,
uy tín nhân phẩm thường thông qua việc xâm phạm đến quyền nhân thân đối với họ
và tên. Trong nhiều trường hợp làm ảnh hưởng đến họ và tên sẽ dẫn đến xúc phạm
danh dự, uy tín, nhân phẩm. Ví dụ: Ông A vì sự bất hoà của hai gia đình nên cứ
mang tên tục của bố ông B ra mắng chửi thậm tệ, làm xúc phạm và làm nhục đến
danh dự của ông B là hàng xóm. Nhiều trường hợp khác thì thông qua việc sử dụng
họ tên của một người để làm điều ko tốt, gây dư luận xấu trong xã hội từ đó làm
ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của ho. Ví dụ: dùng tên một người để gửi thư nặc
danh mang nội dung xấu trong cơ quan; dùng tên một người để viết bài báo sai sự
thật hoặc có nội dung không tốt mà được đăng và làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín, danh tiếng của người đó.
Như vậy, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thuộc nhóm quyền liên quan đến giá trị của con người trong xã hội nói riêng và trong tổng thể các quyền nhân thân nói chung. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho các quyền nhân thân khác và cùng với các quyền nhân thân khác bảo về toàn diện các mặt của đời sống con người.
làm gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín khi bị người khác xâm phạm ?
Mức phạt hành chính đối với hành vi bôi nhọ, xúc phạm uy tín,
danh dự của người khác là gì ? Khi nào hành vi xúc phạm danh dự người khác bị
khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự ? và một số vướng mắc liên quan sẽ được
luật sư tư vấn cụ thể:
1.
Phải làm gì để bảo vệ danh dự khi bị người khác xâm phạm ?
Kính thưa luật sư, Tôi có một người bạn là viên chức nhà nước,
hiện đang làm việc là một nhân viên chức gương mẫu, bạn tôi đang là đối tượng kết
nạp Đảng, thời gian này có một thủ trưởng trực tiếp của anh tung tin rằng anh
nghiện ma túy. Do vậy có việc kết nạp Đảng sẽ không có nữa và khiến cho tư tưởng
của mình tôi không ổn định, chán nản. Cảm
thấy danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xúc phạm nặng nề đến mức xin nghỉ việc.
Vậy tôi mạo muội hỏi luật sư việc như vậy được xử trí thế nào?
theo điều luật nào? nếu sự việc gây hậu quả nghiêm trọng như: Anh ấy xin nghỉ
việc thì sẽ ra sao, người gây ra việc này có bị coi là phạm tội không? và bị xử
trị theo luật nào?
Kính mong luật sư giải đáp giúp.Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trả
lời: Đối với hành vi này, có thể xem xét tiến hành xử phạt theo các mức
sau đây:
Xử lý vi phạm hành chính:
Nếu hành vi của người đó không đủ để cấu thành tội phạm thì
theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì người đó sẽ bị xử
phạt hành chính. Khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng
đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của người khác;"
Trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào pháp luật. Thì anh bạn đó có quyền được bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Khi đó, người nói xấu anh ấy có trách
nhiệm phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật:
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù
đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao
gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt
hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
+ Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm
dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản
tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi có hành vi vi
phạm nghĩa vụ dân sự và đã gây ra thiệt hại. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm
dân sự khi người đó có lỗi, do vậy việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm nghĩa vụ phải dựa trên các cơ sở sau:
a) Có hành vi trái pháp luật:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có hành vi
trái pháp luật và chỉ áp dụng với người có hành vi đó. Về nguyên tắc một người
có nghĩa vụ mà không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó
thì được coi là vi phạm pháp luật về nghĩa vụ vì nghĩa vụ đó là do pháp luật
xác lập hoặc do các bên thỏa thuận, cam kết và đã được pháp luật thừa nhận và bảo
vệ.
Tuy nhiên trong một số trường hợp không thực hiện nghĩa vụ không
bị coi là trái pháp luật và người không thực hiện nghĩa vụ không phải bồi thường
thiệt hại, cụ thể như:
+ Nghĩa vụ dân sự không thực hiện được hoàn toàn do lỗi của người
có quyền;
+ Nghĩa vụ dân sự không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng
(là sự kiện khách quan làm cho người có nghĩa vụ không biết trước và không thể
tránh được, không thể khắc phục được khó khăn do sự kiện đó gây ra mặc dù đã áp
dụng mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép).
b) Có thiệt hại sảy ra trong thực tế.
Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ dân sự bao gồm:
những tài sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút
giá trị về tài sản, những chi phí mà người bị vi phạm phải bỏ ra để ngăn chặn,
hạn chế và khắc phục những hậu quả do người vi phạm nghĩa vụ gây ra, những tổn
thất do thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.
Những thiệt hại nói trên được chia làm 2 loại:
+ Thiệt hại trực tiếp như:
- Chi phí thực tế và hợp lý: là những khoản hoặc những lợi ích vật
chất khác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục
những tình trạng xấu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia gây ra;
- Tài sản bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại.
+ Thiệt hại gián tiếp: là những thiệt hại mà phải dựa trên sự
tính toán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại, thiệt hại này còn được gọi
là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
Truy cứu trách nhiệm hình sự:
Theo quy định trên Bộ luật hình sự, một hành vi sẽ bị coi là phạm
tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:
- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các
thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.
- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có
hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những
thông tin sai sự thực.
- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan
có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành
vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội
bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một
năm đến bảy năm tù.
Như vậy, theo như những gì ta đưa ra, có thể thấy danh dự và nhân phẩm của
anh bạn đó đã bị xúc phạm nghiêm trọng. Vậy ta đó có quyền làm đơn yêu cầu gửi cơ quan điều
tra (công an địa phương) và gửi Viện KSND huyện (thành phố) nơi đang sinh sống
để yêu cầu được giải quyết.
Trong trường hợp như thế người bị vu không nên làm đơn tố giác
tội phạm và đề nghị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với
người đã có hành vi vu khống.
Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư Minh Khuê hoặc gọi điện trao đổi qua tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 để được hỗ trợ.
2. Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?
Tôi quen biết đối tượng tên Trần Tuấn, Sau một thời gian quen biết
nhau, đối tượng này có ý thích tôi, tôi đã từ chối và nói thẳng. Nhưng bản thân
đối tượng này không chấp nhận. Sau một thời gian yên lặng không có hành động
gì. Vào đầu tháng 3/2016, từ khi tôi đang làm việc cho Lisa King đối tượng này
đã có hành động, xúc phạm, đe dọa bản thân tôi, làm tôi đi đâu cũng sợ hãi và
lo lắng.
Sau tan giở làm về lúc 12h30 tôi đang đi chậm để đợi người nhà
lên đón về, nhân cơ hội đối tượng này đã chặn xe của tôi, đã có tranh cãi và xô
xát, đối tượng này đã xé rách chiếc áo dài của tôi đang mặc trên người, sau đó
cách vài ngày đối tượng này không biết lấy ảnh của ai treo ảnh chỗ cổng nhà và
nhiều nơi nữa nhằm để hạ nhục, làm mất danh dự của tôi.
Vụ việc như vậy thì xin luật sư tư vấn giùm cho tôi, những hành
động như vậy thì bị khép vào tội danh gì, mức hình phạt như thế nào. Nhờ luật
sư cho tôi biết phương thức và thủ tục làm đơn như thế nào ạ?
Cảm ơn!
Trả lời:Theo quy định Bộ luật Dân sự 2015
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và
được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng
xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Như vậy khi nhận thấy danh dự nhân phẩm bị xâm phạm thì cá nhân
có quyền khởi kiện dân sự có kèm nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình đồng thời yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường. Và tùy
theo mức độ hành vi thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị
định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an
ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa
cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình :
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng
đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của người khác;”
Mặt khác, Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội làm nhục
người khác:
Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác ở đây có
thể được hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người
đó. Mức độ nghiêm trọng cụ thể của hành vi phụ thuộc vào thái độ, nhận thức, mục
đích của người phạm tội (mong muốn làm nhục người khác) cường độ và thời gian
kéo dài của hành vi xúc phạm; môi trường diễn ra hành vi xúc phạm, sự tác động
cụ thể đối với người bị hại (bị ảnh hưởng về tâm lý).
Với căn cứ pháp lý nêu trên và thông tin chị cung cấp thì anh Tuấn
có thể phạm tội làm nhục người khácnếu chị có đủ căn cứ cho rằng anh Tuấn đã
xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của chị. Chị có quyền khởi kiện. Hồ sơ
khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện
- Tài liệu chứng minh nội dung khởi kiện là có cơ sở
- CMND, hộ khẩu
Hồ sơ khởi kiện được nộp ra tòa án nhân dân quận, huyện nơi anh
Tuấn cư trú. Ngoài ra chị cũng có thể làm đơn tố cáo hành vi của anh Tuấn gửi
ra công an khu vực.
Xem thêm: Bị người yêu cũ nhắn tin và công khai xúc phạm trên mạng xã hôi thì giải quyết thế nào ?
3. Xúc phạm danh dự người khác có thể bị phạt tù ?
Chào luật sư, luật sư cho tôi hỏi: tôi có người quen có hành vi xúc
phạm người khác ở chợ và có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy cho tôi
hỏi, nếu không bị truy cứu TNHS thì sẽ bị phạt hành chính ở mức độ là bao nhiêu
không ạ?
Trả lời:Mọi người đều có quyền được tôn trọng, bảo vệ danh dự,
nhân phẩm của mình. Những hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người khác sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, tại
Điều 155 quy định về Tội làm nhục người khác như sau:
" 1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của
người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm...."
Các yếu tố cấu thành tội phạm của tội làm nhục người khác như
sau:
- Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này được thể hiện qua
các hành vi xác phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác
bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Băng lời nói: dùng lời lẽ sỉ nhục, chửi bới, có từ ngữ thô tục,...nhằm
hạ thấp danh dự, nhân cách của người khác làm cho họ cảm thấy xấu hổ, nhục nhã
trước những người khác.
+ Bằng hành vi, việc làm: có những hành vi rõ ràng, trực tiếp với
người bị hại trước nhiều người hoặc sử dụng hình ảnh, clip của người khác để hạ
thấp danh dự, nhân phẩm của họ...Các hành vi này thường diễn ra trực tiếp, công
khai với nhiều người.
- Khách thể: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân được nhà nước ghi nhận.
- Chủ thể: Bất kì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ
đủ 16 tuổi trở lên và có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố
ý. Có mong muốn thực hiện hành vi nhằm nhiều mục đích, động cơ khác nhau có thể
là tư thù cá nhân,...
Hình phạt cho cho tội phạm này:
Tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi mà người thực hiện tội
phạm quy định tại điều này có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù với mức
cao nhất là 02 năm; ngoài ra hình phạt bổ sung cho người phạm tội trong trường
hợp này là có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định trong một thời gian nhất định từ 01 đến 05 năm.
Đối với trường hợp chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ Luật hình sự thì người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 1
Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, cụ thể:
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng
đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của người khác;....
Căn cứ quy định trên, trường hợp người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà mức độ hành vi chưa đến mức nghiêm trọng và chưa gây ra hậu quả đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính. Hình thức xử phạt gồm hai hình thức: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Phạt cảnh cáo áp dụng đối với hành vi ít nghiêm trọng, có gây ảnh hưởng nhưng không lớn đến danh dự, nhân phẩm của người khác không gây hậu quả nghiêm trọng cho người bị xúc phạm. Phạt tiền là hình thức xử phạt nghiêm khắc hơn, đánh vào kinh tế của người có hành vi vi phạm, theo đó mức phạt tiền là từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.
4. Cách xác định tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm ?
Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi mong được giải đáp: A 22 tuổi,
M 21 tuổi, hai người yêu nhau được 2 năm. Trong thời gian yêu nhau, A và M nhiều
lần có hành vi quan hệ tình dục, A cũng nhiều lần dùng điện thoại chụp ảnh,
quay video làm kỷ niệm, M biết nhưng không phản đối. Khi chia tay nhau, M yêu cầu
A xoá bỏ toàn bộ ảnh, phim và những gì liên quan đến kỷ niệm của hai người.
Khoảng 1 tháng sau ngày chia tay, A hẹn gặp M để nói chuyện. Khi
gặp M, A đòi M cho quan hệ tình dục, M không đồng ý liền bị A doạ đưa ảnh khoả
thân của M lên mạng internet, M lo lắng và đành chấp nhận. Sau đó A đe doạ và
yêu cầu M phải gửi vào tài khoản cho hắn 40 triệu đồng “coi như mua đứt số
phim, ảnh”. M sợ hãi đành chấp nhận làm theo yêu cầu của A. Được 2 tháng sau A
lại gọi điện và nói còn giữ khá nhiều phim ảnh nhậy cảm của hai người và yêu cầu
M gặp và cho hắn quan hệ tình dục. M không đồng ý, nhiều lần A đến nhà, đến
công ty tìm gặp nhưng M tránh mặt. Một lần A chặn đường yêu cầu M vào nhà nghỉ
với hắn, M không đồng ý liền bị A đánh đập, giật điện thoại, túi xách của M và
bỏ đi. Điện thoại, túi xách của M (bên trong có tiền, dây chuyền) tổng trị giá
7 triệu đồng. M tố cáo hành vi phạm tội của A trước cơ quan công an và A đã bị
bắt.
Câu hỏi:
1. Xác định tội danh cho hành vi phạm tội của A ?
2. Xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A ?
3. Giả sử, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn phát
hiện: sau khi chia tay M, A có quan hệ yêu đương với X (mới 15 tuổi), có hành
vi quan hệ tình dục, quay phim, chụp ảnh sau đó chia tay và A đã dùng phim ảnh
khống chế buộc X nhiều lần quan hệ tình dục với mình thì TNHS của A thế nào ?
4. Giả sử, trong lần gặp cuối cùng, A khống chế đưa M vào nhà
nghỉ, tại đây A đánh đập sau đó thực hiện hành vi giao cấu với M. M sợ hãi
không dám chống cự, trước khi bỏ đi A còn lấy điện thoại, túi xách trong có tiền,
tài sản trị giá 7 triệu đồng thì TNHS của A thế nào?
Trân trọng!
Trả lời:Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi
xác định tội danh cho từng hành vi phạm tội của A như sau:
Thứ nhất, sau khi A và M đã chia tay khoảng 1 tháng, khi
gặp M, A đòi M cho quan hệ tình dục, M không đồng ý liền bị A doạ đưa ảnh khoả
thân của M lên mạng internet, M lo lắng và đành chấp nhận. Thủ đoạn đe dọa
của A với M được thực hiện dựa trên những ảnh nhạy cảm của M, M bị
đặt trong một tình trạng khó có thể làm khác được khi A đe dọa tung
những ảnh này lên mạng Internet tức tình trạng quẫn bách, buộc phải
chấp nhận yêu cầu của A và miễn cưỡng giao cấu. Theo quy định tại
Điều 143 Bộ Luật Hình sự 2015
Điều 143. Tội cưỡng dâm
1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc
người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng
thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ hai, A đe doạ và yêu cầu M phải gửi vào tài khoản cho hắn
40 triệu đồng “coi như mua đứt số phim, ảnh”. M sợ hãi đành chấp nhận làm theo
yêu cầu của A. Căn cứ theo tính chất hành vi của A, đây là hành vi dịch
chuyển trái phép tài sản của người khác không theo ý chí của họ
tức chiếm đoạt tài sản. Hành vi này của A thực hiện được dựa trên
thủ đoạn đe dọa M bằng số phim ảnh nhạy cảm của M mà A đang nắm
giữ, thủ đoạn này của A đã uy hiếp đến tinh thân của M, có khả năng
làm cho M sợ hãi và chấp nhận yêu cầu đưa tiền của A. Theo quy định
tại Điều 168 BLHS:
Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc
có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự
được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Thứ ba, được 2 tháng sau khi gặp mặt M, A lại gọi điện và nói
còn giữ khá nhiều phim ảnh nhạy cảm của hai người và yêu cầu M gặp và cho hắn
quan hệ tình dục. M không đồng ý, nhiều lần A đến nhà, đến công ty tìm gặp
nhưng M tránh mặt. Một lần A chặn đường yêu cầu M vào nhà nghỉ với hắn, M không
đồng ý liền bị A đánh đập, giật điện thoại, túi xách của M và bỏ đi. Điện thoại,
túi xách của M (bên trong có tiền, dây chuyền) tổng trị giá 7 triệu đồng. Ở
chuỗi các hành vi này của A, trước tiên vì M không đồng ý giao cấu
cho nên M đã đánh đập M một cách cố ý, sau đó A đã chiếm đoạt một
số tài sản M mang theo bên mình.
Đối với hành vi đánh đập M của A, A có thể phạm tội
cố ý gây thương tích nếu giám định thương tật cho thấy tỉ lệ thương
tật của M phù hợp với quy định tại BLHS:
"1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của
người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới
2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:.."
Đối với hành vi của A là giật điện thoại, túi xách
của M có tổng giá trị tài sản là 7 triệu đồng. Hành vi khách quan
của A được xác định là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào M nhằm
đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của M cho dù M vẫn đủ để nhận thức
được việc mình bị lấy đi tài sản. Đây là hành vi khách quan của tội
cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015.
Xem thêm: Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?
5. Thủ tục khởi kiện khi bị bôi nhọ danh dự nhân phẩm ?
Chào luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi sống bình thường. Nhưng gần
đây có một người nghi cho tôi là đánh họ vì ghen tuông, tôi muốn hỏi luật sư
tôi muốn kiện người này bôi nhọ danh dự của tôi thì phải cần làm những thủ tục
gì ?
Xin cảm ơn!
Luật sư tư vấn: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hành
vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người đó, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể
bị xử lý dưới các hình thức sau đây:
- Xử phạt vi phạm hành chính:
Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày
12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an
ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa
cháy, phòng, chống bạo lực gia đình quy định:
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối
với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của người khác;
- Hoặc bị Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều
155 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017:
"Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm....."
Ngoài ra, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mình còn phải có trách nhiệm bồi thường cho mình:
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc
lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp
nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được xác định
theo Ðiều 611 Bộ luật Dân sự: Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị
xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực
tế bị mất hoặc bị giảm sút. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người
khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù
đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất
về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa
không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Như vậy, để đảm bảo quyền lợi của mình, ta sẽ phải làm đơn khởi kiện gửi lên cơ quan có
thẩm quyền để được giải quyết, kèm theo đơn khởi kiện là những căn cứ chứng
minh ta bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
DANH NGÔN HAY VỀ DANH DỰ
- Tôi luôn thấy bí ẩn không hiểu tại sao con người lại có thể tìm
vinh dự dựa trên sự nhục nhã của đồng loại.
- Sự khác biệt giữa người có đạo đức và người có danh dự là người
sau hối tiếc hành động nhục nhã, ngay cả khi nó thành công và anh ta không bị bắt
quả tang.
- Bổn phận, Danh dự, Đất nước. Ba từ thiêng liêng ấy cung kính
nêu lên điều anh phải trở thành, điều anh có thể trở thành và điều anh sẽ trở
thành.
- Một người có danh dự nếu anh ta giữ mình kiên trì theo đuổi lý
tưởng về đạo đức cho dù nó bất tiện, không đem lại lợi lộc hoặc thậm chí là
nguy hiểm.
- Ai cũng coi tính mạng là quý giá; nhưng người đáng quý coi
danh dự quý giá hơn tính mạng nhiều.
- Điều bi thảm nhất trên thế giới là khi bậc thiên tài lại không
phải là người có danh dự.
- Chết mà danh lưu truyền cho hậu thế thì ta nên chết. Sống mà
chuốc lấy ô danh thì thà chết còn hơn.
- Ta sẽ không bao giờ làm
được gì trên thế gian này mà không có lòng can đảm. Đó là phẩm chất tốt nhất của
trí tuệ sau danh dự.
- Có ba loại người; yêu tri thức, yêu danh dự, và yêu lợi lộc.
- Mọi điều lớn lao đều đơn giản, và nhiều điều có thể được thể
hiện chỉ bằng một danh từ: tự do, công lý, danh dự, bổn phận, khoan dung, hy vọng.
- Đừng đầu hàng, đừng đầu hàng, đừng bao giờ, đừng bao giờ -
trong bất cứ việc gì, quan trọng hay nhỏ bé, lớn lao hay tủn mủn - đừng đầu
hàng trừ khi vì bị thuyết phục bởi lẽ phải và danh dự.
- Tôi thà thất bại trong danh dự còn hơn là thắng nhờ gian lận.
- Tiền bạc như đất cỏ,
Mặt mũi đáng nghìn vàng.
- Danh dự quá sự thật, nguời quân tử lấy làm xấu hổ.
-Đừng bao giờ nhận xét tiêu cực, hay tung lời đồn đại về bất cứ ai. Nó hạ thấp thanh danh của họ, và của mình .
-Danh dự là gì? Nói trắng ra, danh dự chính là cách nhìn của người khác về mình. Ta có danh dự hay không, không phải vấn đề bản thân mình có trong sạch hay không, mà là vấn đề người khác có thừa nhận ta hay không? Vì vậy từ xưa đến nay, rất nhiều người dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch và bảo vệ danh dự của bản thân. Cách làm này tuy tiêu cực nhưng cũng hữu hiệu nhất. Bởi vì trong hiện thực cuộc sống, con người không dễ thông cảm cho người sống, mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ. Vì vậy, dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch, tuy phải bỏ cả mạng sống nhưng phần lớn có thể đạt được mục đích. Chỉ là, khi mỗi sinh mệnh sống tìm cách bảo vệ danh dự, càng nghiệm chứng một cách sâu sắc sự tàn khốc của xã hội.
- Năng lực thiếu đi danh dự chỉ là vô dụng.
- Phong độ đàn ông không phải là thứ ta sinh ra đã có, mà là thứ ta thu được. Và ta thu được nó nhờ chiến thắng những trận chiến
nhỏ với danh dự.
DANH NGÔN HAY VỀ CHỮ TÍN
- Giành được lòng tin rất khó mà hủy diệt thì dễ lắm, quan trọng không phải là dối gạt chuyện lớn hay nhỏ mà chính việc dối gạt đã là vấn đề.
- Những người chậm chạp khi đưa ra lời hứa là những người trung
thành với việc thực hiện nó nhất.
- Đừng bao giờ hứa nhiều hơn ta có thể thực hiện.
- Người ta hỏi tôi tại sao lại khó tin người đến vậy, và tôi hỏi
họ tại sao lại khó giữ lời hứa đến vậy.
- Ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài tôn kính người hơn
tuổi, cẩn thận giữ điều tín, gần gũi thân cận với người nhân đức, được như vậy
mà còn dư sức thì học tập tri thức nữa.
- Lấy sự yên vui để đối đãi người giả cả, lấy chữ tín để đối đãi
bạn bè, lấy sự yêu mến để đối đãi con trẻ.
- Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà làm
không được.
- Tôi mỗi ngày xét mình ba điều. Làm việc cho người khác thành
tâm chưa? Kết giao bạn bè đã giữ chữ tín chưa ? Kiến thức thầy truyền dạy, đã
luyện tập chưa?
- Thà cho người phụ bạc ta, nhất thiết không thể là ta phụ người.
- Trên đời, có hai kẻ thường bội tín: một là kẻ có uy thế tuyệt
đối, hai là kẻ cùng quẫn.
- Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà làm
không được.
- Hãy trung tín với những lời hứa, những hợp đồng với người khác
và với bản thân mình. Chúng ta phải là hạng người không bao giờ làm cho người
khác thất vọng vì ta. Trung tín không phải là đức tín dễ dàng đâu. Có cả ngàn
cái quyến rũ xen vào ngăn cản ta giữ lời hứa.
Ca dao tục ngữ về danh dự, lòng tự trọng
Danh dự là điều rất quý mà mỗi con người đều rất cần, mỗi cá
nhân chúng ta mất đi danh dự thì người
ta sẽ nhìn mỗi cá nhân chúng ta bằng còn
mắt khác. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện tại thì con người ngày càng sống thực
dụng thì vấn đề danh dự ngày càng bị bỏ quên. Vời nhiều người thì sống ở đời
Danh dự là điều quan trọng, họ làm việc gì cũng nghĩ tới danh dự và tự trọng của
bản thân chứ không bất chấp tất cả vì những
lợi ích trước mắt hoặc đánh mất đi lòng tự trọng của mình.
Mỗi người đều có một phẩm chất, một tính cách khác nhau, không
ai là giống nhau, không ai có những điểm giống nhau hoàn toàn. Mỗi người có một
phẩm chất, một tinh thần riêng như: tự trọng, trung thực, kiên cường, kiên
trung, tự cao, tự đại, khiêm tốn, thật thàm dũng cảm,… một trong những phẩm chất
mà mỗi người ai cũng có đó là danh dự.
- Danh
dự là điều mà bất kỳ ai cũng phải giữ cho mình, có danh dự tự trọng thì tư cách
con người mới được xây dựng 1 cách hoàn thiện hơn
Trong xã hội và cuộc sống ngày nay thì danh dự luôn được coi trọng
và được mọi người nể phục. danh dự được con người đánh giá dựa trên tinh thần
và đạo đức của con người trong cuộc sống cũng như trong xã hội. người có danh dự
luôn được mọi người trong cuộc sống và xã hôi kính trọng. để nói lên đức tính
danh dự của con người thì có nhiều bài thơ, bài văn nói về phẩm chất này. Nhưng
có một cách nói về phẩm chất này một cách chân thật nhất là ca dao tục ngữ. Ngọc
Minh ta cùng với con cháu mình đi tìm hiểu
về những câu ca dao tục ngữ nói về danh dự.
Tục
ngữ về danh dự:
Câu 1: Cọp chết để da,
người ta chết để tiếng.
Cọp là một con vật rất hung dữ, nói đến ai cũng sợ và khiếp hoảng.
Nhưng khi con cọp có hung dữ và hùng hổ đến đâu thì khi chết cũng để lại da mà
thôi. Còn đối với con người khi người ta chết sẽ để lại tiếng, khi sống tốt thì
để tiếng tốt, khi sống xấu thì sẽ để tiếng xấu. Chính vì thế danh dự con người
rất quan trọng đối với mỗi con người chúng ta hiện nay.
Câu 2: Danh dự quý hơn tiền
bạc.
Câu tục ngữ nêu cao phẩm chất danh dự của mỗi con người. câu tục
ngữ so sánh danh dự còn cao quý hơn tiên bạc. Chúng ta ai cũng biết khi sống
thì ai cũng cần tiền, tiền để trang trải cuộc sống, nhưng tiền không thể quý
hơn danh dự, danh dự của mỗi con người.
Câu 3: Được tiếng còn hơn
được miếng.
Câu tục ngữ nêu cao sự quan trọng của danh dự. khi con người sống
trong cuộc sống thì tiếng dể lại còn đáng quý hơn miếng ăn. Tiếng là danh dự,
là miệng đời, là những suy nghĩ và tình cảm của con người dành cho con người.
miếng là thức ăn, là tiền bạc là những vật chất. câu tục ngữ nêu cao giá trị của
tiếng hơn so với miếng, có nghĩa là danh dự quan trọng hơn tiền bạc.
Câu 4: Người chết nết
còn.
Câu tục ngữ trên nói lên rằng khi con người chết đi thì cái nết,
tính cách và phẩm chất của con người luôn còn. Nết của con người là phẩm chất tốt
đẹp, nhưng khi sống tốt thì chết người ta biết đến tốt, để lại tiếng tốt còn xấu
thì ngược lại.
Câu 5: Chết vinh còn hơn
sống nhục
Ý nghĩa câu ca dao đã là con người phải sống cho đáng sống, coi
trọng danh dự và lòng tự trọng không chịu khuất phục bởi những cái xấu những cạm
bẫy sẵn sàng chịu thiệt thòi những vẫn giữ được lương tâm của mình
Tổng hợp một số câu tục ngữ về danh dự:
Đói miếng hơn tiếng đời.
Ăn một miếng tiếng một đời.
Áo rách cốt cách người
thương.
Giữ quần áo lúc mới may,
giữ thanh danh lúc còn trẻ.
Ăn có mời, làm có khiến.
Giấy rách phải giữ lấy lề.
Đói cho sạch, rách cho
thơm.
Kính già yêu trẻ.
Tốt danh hơn lành áo.
Sống chớ khom lưng, uốn gối,
dập đầu.
Yêu trẻ, trẻ đến nhà;
kính già, già để tuổi cho.
Người đừng khinh rẻ người.
Quân tử nhất ngôn.
Vô công bất hưởng lợi.
Bụt không thèm ăn mày ma.
Chết đứng hơn sống quỳ.
Ca
dao về danh dự:
Câu 1: Nói lời phải giữ lấy
lời
Đừng
như con bướm đậu rồi lại bay.
Câu ca dao nói về phẩm chất của con người là giữu lời hứa, lời hứa
là danh dự là phẩm chất tốt đẹp của con người. câu ca dao nói rằng khi lời nói
đã nói ra rồi thì phải giữ lời, đừng nuốt lời như con bướm đậu rồi lại bay.
Câu 2: Trong đầm gì đẹp bằng
sen
Lá
xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhụy
vàng bông trắng lá xanh
Gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài ca dao nói về loài hoa sen, một loài hoa đẹp và tinh khiết.
Loài hoa sen tượng trưng cho nét đẹp của con người, vẻ đẹp danh dự của con người,
dù cho thế nào thì nó vẫn không lay chuyển ý chí cũng như tinh thần của mình
trong cuộc sống giống như một người giữ danh dự, chữ tín.
Tổng
hợp một số câu ca dao về danh dự:
“Rượu
ngon bất luận be sành
Áo
rách khéo vá, hơn lành vụng may.”
“Thuyền
dời bến nào bến có dời
Khăng
khăng quân tử một lời nhất ngôn.”
“Biết
thì thưa thớt
Không
biết thì dựa cột mà nghe.”
“Cười
người chớ vội cười lâu
Cười
người hôm trước hôm sau người cười.”
Trên đây là Ca dao, tục ngữ, câu nói về danh dự ta xem là rất hay,
hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà con cháu ta cần. xin chân thành cảm ơn.
Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín, uy tín, lời hứa
Giữ chữ tín là một trong những điều rất quan trọng để tạo thương
hiệu trong làm ăn cuộc sống và cả trong học tập. Quan trọng hơn khi mỗi cá nhân
chúng ta giữ chữ tín thì mình sẽ được mọi người tin tưởng nhiều hơn trong
nhiều trường hợp khác nhau. Khi úy tín của mỗi cá nhân chúng ta được nâng cao thì làm việc gì cũng dễ dàng và
thỏa mái hơn rất nhiều.
Con người sống trong cuộc
sống này luôn cần có một lối sống tốt, một vẻ đẹp tâm hồn thì mới đươc mọi người
yêu thương và quý mến. nếu bất cứ ai sống tốt thì sẽ được mọi người yêu thương
và quý trọng, với những ai sống xấu xa, ganh đua thì sẽ không được mọi người
coi trọng và yêu thương. Đối với con người thì giữ chứ tín cũng là một đức tính
tốt, nếu có được đức tính này thì mới được mọi người coi trọng, yêu thương và
quý trọng.
Việc giữ chứ tín là một điều quan trọng trong cuộc sống hiện nay
nhất là trong thời buổi xã hội cạnh tranh gay gắt, tuy nhiên trong thực tế việc
giữ chữ tín không hề dễ vì nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau
Nói đến giữ chứ tín thì rất ít người có thể làm được, nếu chúng
ta xác định làm được thì hãy hứa, hãy nói, còn nếu không thực hiện được thì
thôi đừng hứa để rồi không thực hiện được. những người mà giữ được chữ tín sẽ
được mọi người tin tưởng, thương yêu và đôi khi giao cho những trọng trách lớn
trong công việc cũng như trog cuộc sống. Chúng ta Ngọc Minh cùng đi tìm hiểu những
câu ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.
Câu 1: Treo đầu dê, bán
thịt chó.
Đây là một câu nói dành cho những người buôn bán không chân
chính, khi người ta quảng cáo một đường mà bán hàng một nẻo. việc làm như thế sẽ
khiến mọi người coi thường, đến một lần rồi sẽ không đến nữa. trong buôn bán chữ
tín rất là quan trọng, chính vì thế hãy buôn bán chân chính để có được khách
hàng.
Câu 2: Một lần bất tín, vạn lần bất tin
Câu tục ngữ nói về lòng tin của mọi người đối với nhau trong
quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ công việc. khi chúng ta giữu chữ tín thì
sẽ được mọi người coi trọng và tin yêu, tin tưởng giao cho công việc. những khi
chúng ta một lần thất hứa thì vạn lần chúng ta vẫn cho là thất hứa, chỉ một lần
thất hứa thôi đã khiến cho hậu quả lớn đến như thế.
Câu 3: Chữ tín còn quý
hơn vàng.
Câu tục ngữ nói lên tầm quan trọng và sức mạnh của chữ tín. Chữ
tín được so sánh với vàng, vàng là một kim loại rất quý giá, khó có thể có được.
câu tục ngữ so sánh chữ tín còn quý hơn vàng, thì mỗi cá nhân chúng ta thấy quan
trọng và ý nghĩa của chữ tín trong cuộc sống chúng ta rất lớn.
Câu 4: Lời nói như đinh
đóng cột
Đây là câu tục ngữ nói về những người giữu chữ tín, lời nói họ
khi nói ra giống như đinh đã đóng cột, khi đã đóng vào cột rồi là khó có thể lấy
ra. Qua câu tục ngữ chúng ta thấy được giá trị to lớn của chữ tín.
Tổng
hợp những câu tục ngữ về giữ chữ tín:
Hứa hươu, hứa vượn
Rao mật gấu, bán mật heo
Rao ngọc, bán đá
Quân tử nhất ngôn, tứ mã
nan truy.
Mua danh ba vạn, bán danh
ba đồng.
Nhất ngôn cửu đỉnh
Nhất ngôn ký xuất, tứ mã
nan truy.
Giấy rách còn giữ lấy lề
Ca
dao về giữ chữ tín:
Câu 1: Nói lời phải giữ lấy
lời
Đừng
như con bướm đậu rồi lại bay
Câu ca dao mượn hình ảnh con bướm để nói lên vấn đề giữ chữ tín
của con người. con bướm là một con vật biết bay, và chúng hay bay không đứng
yên một chỗ được lâu. Dùng hình ảnh con bướm đứng bay thất thường để nói đến
người chữ tín, nói rằng phải giữ chữ tín chứ đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
Câu 2: Nói chín thì phải
làm mười
Nói
mười làm chín, kẻ cười người chê.
Giữ chữ tín là một hàng động, một đức tính rất quan trọng của mỗi
con người trong cuộc sống. giữ chữ tín là giữ lòng tin yêu của mọi người trong
cuộc sống cũng như trong công việc. câu ca dao nhắc đến việc nói phải làm, chứ
đừng nói nhiều mà almf ít sẽ khiến mọi người cười chê.
Tổng
hợp những câu ca dao về giữ chữ tín:
“Hay gì lừa đảo kiếm lời
Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.”
“Người sao một hẹn thì nên
Người sao chín hẹn thì quên cả mười”
“Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ
Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”
“Hay gì lừa đảo kiếm lời
Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.”
Trên đây là Ca dao, tục ngữ, câu nói về giữ chữ tín hay nhất.
Cũng qua những câu ca dao tục ngữ trên mỗi cá nhân chúng ta có thể thấy sự quan trọng của việc giữ chữ tín
lời hứa của mình quan trọng thế nào. Từ đó luôn đặt ra cho mình những thói quen
về việc giữ lời hứa giữ chữ tín để hoàn thiện bản thân và tiến tới sự phát triển
trưởng thành và thành công hơn trong cuộc sống và công việc.
Danh Dự
Danh dự của một con người
Danh dự của anh
Của tôi
Của chị
Của em
Và của tất cả những ai đã
đang từng sống trên đời
Đều đáng quý như tròng mắt,
con ngươi
Danh dự là tài sản riêng
Do chính mình tạo ra
Cũng do chính mình đánh mất
Không thể mua bằng chức
quyền
Tùy vào nhân cách
Tùy lương tâm đen tối hay
trong sạch
Danh dự sẽ biến mất
Hoặc trường tồn
Một khi anh là kẻ cướp
Kẻ giết người
Kẻ chạy chức
Kẻ dâm ô
Kẻ trắng đen đảo ngược
Kẻ tà gian
Kẻ hùa theo tội ác
Kẻ đớn hèn, bạc nhược
Kẻ buôn dân bán nước
……
Thì Danh dự đâu còn!
Danh dự sẽ không ai bôi bẩn
được
Khi anh sống đàng hoàng, mực
thước
Trung thực, hiền lành
Biết yêu thương, chăm sóc
Mỗi mầm xanh
Một lời cảm ơn
Là con người cần có một tấm
lòng
Để trải rộng trao cuộc đời
trước mặt
Để ý chí luôn lớn hơn vật
chất
Để chúng ta sống chân thật
bên nhau
Nếu chẳng may ai hoạn nạn
nơi đâu
Đừng nghĩ rằng tiền sẽ mua
được hết
Đừng mặc cả bán cuộc đời,
cái chết
Hãy nhớ: đồng tiền bạc trắng
hơn vôi
Vật chất nào đổi được tấm
lòng người
Giữa đời thường bon chen
và gấp vội
Cầm bát cháo, khắc lời ông
cha nói
Bước lên bờ lưu luyến bến
đò xưa
Được ai giúp xin đừng quên
gửi thưa
Một lời đáp là ngàn vàng
cao giá
Cùng ánh mắt sẽ thay cho tất
cả
Trước một tấm lòng ta hãy nhớ: Cảm ơn!
Xây dựng thương hiệu cá nhân thời kỳ Cách mạng Công nghiệp 4.0
Tại sao các doanh nhân nên đầu tư xây dựng thương hiệu cá nhân?
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mọi mặt đời sống,
kinh tế - xã hội. Theo đó, thói quen và thị hiếu người tiêu dùng cũng dần thay
đổi, với nhiều xu thế khác nhau, điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải thay đổi
cách tiếp cận thị thường, xây dựng chiến lược thương hiệu đi liền với xây dựng
thương hiệu cá nhân.
Khái niệm thương hiệu cá
nhân
Muốn hiểu thương hiệu cá nhân (TNCN) là gì, trước tiên cần đề cập
tới khái niệm phổ biến hơn, đó là “thương hiệu”? Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ,
thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình
vẽ hay tổng thể các yếu tố trên, nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của
một (hay một nhóm) sản phẩm, hay dịch vụ của một (một nhóm) người bán và phân
biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh.
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới cũng cho rằng, thương hiệu là một
dấu hiệu (hữu hình và vô hình), đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hoặc
một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hoặc một tổ
chức. Đối với doanh nghiệp (DN), thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng
về sản phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của DN gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm
khẳng định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu hiện nay là một tài sản vô hình
quan trọng đối với các DN lớn, giá trị thương hiệu của DN chiếm một phần đáng kể
trong tổng giá trị của DN.
Phổ quát về thương hiệu có thể thấy rằng, THCN là tổng hợp tất cả
những ấn tượng, niềm tin và tri giác của một cá nhân, hay còn gọi là nhân hiệu
- Thương hiệu của một con người, một cá nhân. Đối với mỗi DN, nếu chủ DN có
THCN mạnh thì cơ hội thúc đẩy tăng trưởng doanh số bán hàng, mở rộng thị phần
và giữ chân được khách hàng sẽ lớn hơn so với các DN khác.
Trong xã hội hiện đại, THCN rất quan trọng, bởi một câu nói của người nổi tiếng (có nhân hiệu mạnh) đã có thể làm khuynh đảo tăng/giảm giá cổ phiếu chứng khoán của một tập đoàn lớn. Thậm chí, đã có DN startup được định giá cả tỷ USD, vì sở hữu một cá nhân có thương hiệu. Điển hình như trường hợp cầu thủ bóng đá Cristian Ronaldo chuyển nhượng sang câu lạc bộ Juventus, đã giúp giá cổ phiếu của câu lạc bộ này tăng lên 30% và lượng người hâm mộ theo đó cũng tăng lên đáng kể, vì riêng cầu thủ Ronaldo đã có khoảng 100 triệu người theo dõi trên Instagram. Tương tự, trường hợp nữ tỷ phú tư nhân Kylie Jenner - người có hơn 100 triệu lượt theo dõi trên Instagram, đã mở một hãng mỹ phẩm mang tên cô và có doanh số bán hàng từ chính Instagram của cô lên tới hàng trăm triệu USD/năm.
Định vị thương hiệu cá nhân
Định vị THCN là bước quan trọng đầu tiên trong quá trình xây dựng
thương hiệu. Mỗi cá nhân không thể xây dựng và duy trì thương hiệu một cách nhất
thời, càng không phải chỉ cần một tố chất bình thường khi có, khi không. Tóm lại,
THCN là một "thứ vàng được thử trong lửa" – chỉ khi được tôi rèn mới
trở nên nổi bật. Theo P. Kotler, khi định vị thương hiệu, cá nhân sẽ xác định
những tố chất có thể khiến mình nổi bật để luôn là lựa chọn đầu tiên khi người
khác nghĩ đến lĩnh vực đó. Như vậy, có thể hiểu rằng, con người nói chung, hoặc
một cá nhân cụ thể là một loại hàng hóa đặc biệt, cho nên khi xác định và định
vị thương hiệu, các cá nhân cần phải trả lời các câu hỏi sau: Ta muốn trở thành
ai? Là người như thế nào? Cảm xúc của người khác nghĩ về mình ra sao? Ta sẽ
khai thác thương hiệu cá nhân của mình vào mục đích gì…? Để trả lời các câu hỏi
trên, mỗi cá nhân cần xác định mình có tài năng gì, hoặc thích công việc gì,
lĩnh vực gì cụ thể và cá nhân đó muốn làm gì trong ngắn hạn và dài hạn… Sau này
sẽ khai thác nhân hiệu này vào mục đích kinh doanh hay bán hàng cho đối tượng
khách hàng nào? Sản phẩm gì? Mức giá bao nhiêu? Cách thức khai thác cụ thể? Trả
lời được tất cả những câu hỏi trên, mỗi cá nhân sẽ định vị được thương hiệu cho
mình, hoặc cho người khác.
Định vị đúng THCN giống như tìm được một chiếc la bàn chỉ đường
dẫn lối để có thể đi nhanh và dễ dàng hơn trong quá trình xây dựng thương hiệu.
Phân tích Swot về xây dựng
thương hiệu cá nhân
Trong quá trình xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh, phân
tích SWOT đóng vai trò căn bản và hiệu quả, yếu tố quyết định tới sự thành công
của mỗi DN. Mô hình phân tích SWOT là công cụ được sử dụng phổ biến nhằm phân
tích và làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, cũng như nhận diện các nguy
cơ trong một dự án, hoặc tổ chức kinh doanh. Thông qua phân tích SWOT, DN sẽ thấy
rõ hơn mục tiêu của mình, cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh
hưởng tích cực, tiêu cực tới mục tiêu mà DN đề ra.
Phân tích SWOT giúp mang lại cái nhìn sâu sắc về một tổ chức, dự
án, hay một hoàn cảnh, do đó phương pháp này đặc biệt hữu ích trong việc ra quyết
định, hoạch định chiến lược và thiết lập kế hoạch.
SWOT thường được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột
và chia làm 4 phần. Mỗi phần tương ứng với những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và
nguy cơ. Từ hình mô hình phân tích SWOT có thể thấy rằng:
Điểm mạnh:
Chính là lợi thế của riêng của cá nhân, dự án, sản phẩm… đang
theo đuổi. Đây là những đặc điểm nổi trội, độc đáo mà cá nhân đang nắm giữ khi
so sánh với đối thủ cạnh tranh. Một vài lĩnh vực giúp cá nhân có thể tìm ra điểm
mạnh của mình, bao gồm: Nguồn lực, tài sản, con người; kinh nghiệm, kiến thức,
dữ liệu; tài chính; marketing; cải tiến; giá cả, chất lượng sản phẩm; chứng nhận,
công nhận; quy trình, hệ thống kỹ thuật; kế thừa, văn hóa, quản trị…
Điểm yếu: Nói một cách dễ hiểu nhất, điểm yếu chính là những việc
cá nhân làm chưa tốt hoặc không thể làm, không biết làm. Nghĩa là, những vấn đề
đang tồn tại bên trong con người đang cản trở cá nhân trên con đường đạt được mục
tiêu. Khi nhìn thẳng vào sự thật, nhận ra những giới hạn của mình, cá nhân sẽ
trả lời được câu hỏi đâu là điểm yếu? để từ đó tìm ra giải pháp vượt qua.
Cơ hội:
Trong quá trình xây dựng thương hiệu, có rất nhiều yếu tố bên
ngoài tác động giúp cá nhân định vị hiệu quả THCN, đó là: Sự phát triển, nở rộ
của thị trường; đối thủ đang tỏ ra chậm chạp, yếu kém; xu hướng công nghệ thay
đổi; xu hướng toàn cầu; hợp đồng, đối tác, chủ đầu tư; mùa, thời tiết; chính
sách, luật…
Nguy cơ: Yếu tố gây khó khăn lớn nhất đối với mỗi cá nhân trên con đường đi đến thành công chính là nguy cơ. Nhằm hạn chế những nguy cơ gặp phải trong tương lai, các cá nhân cần nhận diện sớm các nguy cơ. Sau khi tìm ra nguy cơ, cần đề ra các phương án giải quyết; nhanh chóng vạch ra và triển khai những cách khả thi để giảm bớt độ nghiêm trọng, hoặc né tránh (nếu được) những nguy cơ…
Định
hướng xây dựng thương hiệu cá nhân thành công
Để có thể định hình
thương hiệu thành công, mỗi cá nhân cần trải qua 8 bước cụ thể sau:
Bước 1, xác định mục tiêu:
Cá nhân cần xác định rõ và chi tiết các mục tiêu xây dựng THCN,
có thể lượng hóa bằng các con số theo một kế hoạch cụ thể. Quan trọng hơn, hàng
ngày, mỗi cá nhân cần chăm chỉ, cần mẫn và sáng tạo trong thực hiện các kế hoạch
và luôn học hỏi, đổi mới.
Bước 2, xác định giá trị
riêng của mình:
Mỗi cá nhân cần xây dựng giá trị riêng của mình để thu hút người
xem, thu hút bạn bè, khách hàng tiềm năng. Cụ thể là mỗi cá nhân cần trả lời được
các câu hỏi như: Muốn trở thành ai? Là người như thế nào? Muốn phục vụ đối tượng
khách hàng nào? Làm sao để cuốn hút người đọc, người xem? Giá trị mong muốn đạt
được là gì?
Bước 3, xác định điểm mạnh
của mình:
Trong quá trình xây dựng thương hiệu, mỗi cá nhân cần phải xác định
các điểm mạnh, điểm yếu và sự khác biệt nhất của mình; Xác định các yếu tố để tạo
nên cá tính, quan điểm sống, quan điểm làm việc; Phát triển các nội dung bài viết,
hình ảnh, video liên quan trực tiếp đến kỹ năng làm việc như: Bán hàng, quảng
cáo, quản trị, công nghệ… để dần hình thành giá trị thương hiệu.
Bước 4, xác định bản sắc
cá tính:
Mỗi con người là một sự khác biệt, không ai giống ai. Như vậy,
muốn phát triển được thương hiệu bản thân, mỗi cá nhân cần có bản ngã hay bản sắc
(cá tính, cái tôi) của mình để theo đuổi phong cách, cũng như hình ảnh mang
tính thống nhất cao. Sáng tạo, độc đáo, bản sắc là những điều mà các cá nhân cần
quan tâm trong bước này để có thể xây dựng THCN thành công.
Bước 5, xác định phong
cách:
Phong cách sống hay lối sống của mỗi cá nhân được xác định bởi bản
sắc cá tính, trí tuệ, thói quen, trình độ học vấn và cách thể hiện trên mạng xã
hội. Phong cách thể hiện hình ảnh cá nhân cần có tính nhất quán và sáng tạo,
nhưng quan trọng hơn cả, phải là phong cách thật của chính cá nhân.
Bước 6, cam kết hình ảnh:
Việc xây dựng THCN cần có những cam kết mạnh mẽ từ chính mỗi cá
nhân. Nghĩa là, mỗi cá nhân cần đưa ra các hình ảnh mang tính cam kết, tin cậy
và rõ ràng cho khách hàng mục tiêu. Có thể hiểu đó là một lời hứa, một thông điệp
truyền thông xuyên suốt từ đầu tới cuối dành cho THCN.
Bước 7, xác định các yếu tố
hỗ trợ cho thương hiệu:
Thương hiệu cần được thiết kế bởi các video, hình ảnh, bài viết,
ngôn từ, câu chuyện, font chữ, nội dung và tần suất đăng bài, các công cụ phân
phối thông tin… Vì vậy, cần sử dụng các công cụ thuộc hệ sinh thái THCN, tập
trung vào chiến lược nội dung số để xây dựng thương hiệu, bằng cách thúc đẩy
các yếu tố hỗ trợ thương hiệu, sản xuất các nội dung có chất lượng, đánh vào cảm
xúc, niềm tin… của người xem.
Bước 8, hãy kể câu chuyện
về nhân hiệu:
Cụ thể như kể chuyện đời, chuyện người, chuyện khách hàng, chuyện
sản phẩm, chuyện dịch vụ, trải nghiệm người dùng, trải nghiệm cuộc sống… theo
phong cách riêng của cá nhân. Với 2,6 tỷ người dùng trên Facebook toàn cầu và
hơn 65 triệu người dùng tại Việt Nam (tại thời điểm tháng 4/2019) đã lý giải
cho sự hấp dẫn và quan trọng của bước này trong quá trình định hình THCN.
Với 8 bước trên, mỗi cá nhân đã có thể xây dựng cho mình thương
hiệu riêng, tuy nhiên để duy trì và phát triển THCN trong bối cảnh Cách mạng
công nghiệp 4.0, các cá nhân cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Thông điệp và thông tin khi xây dựng thương hiệu cần phải rõ
ràng và nhất quán. Cá nhân cần thường xuyên cập nhật thông tin có liên quan
trên mạng xã hội để tạo dựng hình ảnh. Hợp tác với những người nổi tiếng, hoặc
ekip làm truyền thông THCN để thúc đẩy hoạt động này chuyên nghiệp và nhanh
hơn…
- Trong quá trình xây dựng thương hiệu, các cá nhân nên tập trung vào một số chiến lược như: Viết sách và phát hành sách hoặc tạp chí, để thể hiện trình độ và uy tín của bản thân. Thường xuyên bày tỏ quan điểm của mình ủng hộ hoặc phản đối có chính kiến và lập luận với người nổi tiếng, hoặc những vụ việc có liên quan đến bản thân cá nhân. Viết bài và nghiên cứu sâu để trở thành chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực theo đuổi. Tạo ảnh hưởng hoặc tham gia vào các tổ chức hội nhóm có tầm ảnh hưởng, ví dụ như bảo vệ trẻ em, phụ nữ, từ thiện, thiện nguyện. Đặc biệt, mỗi cá nhân phải luôn là chính mình và tuân thủ quy định pháp luật.
1. Xây dựng thương hiệu cá
nhân là gì?
Đầu tiên trước khi tìm hiểu về xây dựng thương hiệu cá nhân,
mình cần phải biết thương hiệu cá nhân là gì. Vậy thương hiệu cá nhân là gì?
Thương hiệu cá nhân bản chất chính là “tổng hợp tất cả những ấn tượng, niềm tin
và tri giác mà con người ta có về một cá nhân nào đó”.
Nói cách khác thương hiệu cá nhân là tất cả những gì mọi người
nhìn nhận được ở mình về ngoại hình, tính cách, nghề nghiệp và các giá trị mà
mình đóng góp được cho xã hội. Cách mình ăn mặc, đi đứng, giao tiếp… sẽ dần
hình thành nên thương hiệu cá nhân trong suy nghĩ của người khác.
Xây dựng thương hiệu cá nhân cũng giống với xây dựng thương hiệu
cho doanh nghiệp, nó là cách mà mình khẳng định mình về những giá trị cốt lõi
bên trong lẫn bên ngoài, được xây dựng bởi năng lực và tính cách đặc biệt của bản
thân để người xung quanh có thể chấp nhận và nhận ra mình.
Để xây dựng thương hiệu cá nhân thành công, mình cần phải nắm rõ
điểm mạnh, giá trị cá tính riêng của bản thân và điều gì mà mình muốn mọi người
công nhận về mình.
2. Tại sao cần phải xây dựng
thương hiệu cá nhân?
Ngày nay, thương hiệu cá nhân đã và đang trở thành một yếu tố
thiết yếu để đạt tới một sự thành công chuyên nghiệp. Chính vì thế xây dựng
thương hiệu có những lợi ích sau đây:
Thương hiệu cá nhân sẽ giúp mình hiểu bản thân tốt hơn, giúp
tăng sự tự tin và tính khẳng định giá trị của bản thân, cũng như mình có một
công cụ hữu ích để kiểm soát bản thân mình.
Một khi mình đã tạo dựng được thương hiệu cho riêng mình thì đó
chính giúp phân biệt mình với đồng nghiệp và các đối thủ cạnh tranh. Mang lại lợi
ích cho mình như có công việc tốt hơn, tăng mối quan hệ, ổn định trong kinh
doanh và phát triển.
Khi mình đã có một thương hiệu nổi tiếng, đương nhiên mình sẽ có
nhiều cơ hội hơn trong lĩnh vực hoạt động của mình. Ví dụ như Ca sĩ nổi tiếng,
sẽ có nhiều show mời, làm quảng cáo truyền thông cho các nhãn hàng,… kiếm được
rất nhiều lợi nhuận từ thương hiệu cá nhân.
3. Quy trình xây dựng
thương hiệu cá nhân
Khi nào cần xây dựng thương hiệu cá nhân, đó là khi mình đang
tìm kiếm một công việc hoặc cố gắng thiết lập bản thân như những người đứng đầu
trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Việc có một thương hiệu cá nhân sẽ mang lại
một cuộc sống chuyên nghiệp cho mình. Muốn có được điều này, cần phải xây dựng
thương hiệu cá nhân như thế nào? Dưới đây là các quy trình xây dựng thương hiệu
cá nhân.
3.1. Xác định giá trị cá
nhân
Đây là bước đầu để xây dựng sự nhận biết cơ bản của cá nhân như
tính cách, hình ảnh mà mình khoác lên người, giúp mình khác biệt như thế nào với
những người xung quanh. Cần quyết định xem thương hiệu cá nhân là cái gì mình
muốn thể hiện.
Hãy đánh giá bản thân và cách mà mọi người xung quanh nhìn nhận
mình từ đó sẽ biết được rằng điểm mạnh giá trị của mình ở đâu, khi đó việc hoạch
định kế hoạch và lợi ích mình mong muốn dễ dàng hơn.
3.2. Định vị bản thân.
Sau khi xác định được giá trị của mình nằm ở đâu, mình muốn người
khác biết mình rõ về điều gì nhất, mình muốn chia sẻ điểm mạnh của mình như thế
nào cần phải định vị bản thân và chỉ khi mình hiểu rõ được vị trí giá trị của bản
thân ở đâu, mình sẽ tạo dựng cho mình một thương hiệu cá nhân vững chắc
Ví dụ như nếu mình giỏi về nấu ăn, mình có thể xây dựng cho mình
một hình ảnh của một người đầu bếp chuyên nghiệp, đánh giá về ẩm thực.
3.3. Xây dựng chiến lược
hình ảnh, ngôn từ của bản thân
Việc cần làm là đề ra chiến lược xây dựng thương hiệu dài hạn
cho chính mục tiêu mình đề ra:
Mục tiêu phát triển thương hiệu bản thân mà mình mong muốn là
như thế nào?
Kế hoạch phát triển bản thân ra sao trong mắt mọi người?
Ngôn từ và hình ảnh bản thân được xây dưng ra sao khi mình mong
muốn người khác nhìn nhận?
Hình thức mà mình lựa chọn để truyền tải thương hiệu cá nhân của
mình là gì?
Trả lời hết các câu hỏi trên, sau đó mình sẽ bắt tay vào xây dựng
chiến lược hình ảnh và ngôn từ của mình.
xây dựng chiến lược hình ảnh
Xây dựng chiến lược hình ảnh tới cộng đồng, mọi người xung quanh
3.4. Phát triển mạng lưới
cộng đồng
Ngày nay với sự phát triển của công nghệ 4.0, con người có thể
thể hiện mình thông qua các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter,
Instagram,… Việc đăng tải những bài tự giới thiệu hoặc xây dựng những nội dung
content Facebook chuyên môn của bản thân và đăng tải hình ảnh thu hút người xem
có thể thu hút nhiều cộng đồng để ý tới và mở rộng được mối quan hệ cộng đồng.
Hoặc mình có thể thiết kế website riêng cho mình, từ đó website
của mình trở thành nguồn thông tin chính cho những nội dung do mình tạo ra, rồi
sau đó, mình có thể sẽ bắt đầu kiếm được tiền từ lượng người hâm mộ lớn và có
được thương hiệu cá nhân riêng của mình.
Trên đây là các bước quy trình để xây dựng thương hiệu cá nhân
hiệu quả, để tạo dựng một thương hiệu cho cá nhân và làm cho nó trở nên chuyên
nghiệp hơn ta hãy tham khảo thêm những quy luật của xây dựng thương hiệu cá
nhân.
4. 8 quy luật của xây dựng
thương hiệu cá nhân cần biết
Các quy luật trong xây dựng thương hiệu cá nhân mà mình nên biết:
Quy
tắc tạo dựng thương hiệu cá nhân cần biết
Quy luật 1. Quy luật của
chi tiết hóa (Specialization)
Tập trung thật chính xác và chi tiết vào điểm mạnh chính, hoặc
tài năng nổi bật nhất, hoặc thành tựu quan trọng nhất. Như năng lực, hành vi, lời
nói,…
Một thương hiệu lớn phải tập trung thật chính xác và chi tiết
vào hoặc một điểm mạnh nhất, hoặc một tài năng nổi bật nhất, hoặc một thành tựu
quan trọng nhất. Ta có thể chi tiết hóa theo một trong những cách như sau: năng
lực, hành vi, phong cách sống, tầm nhìn
Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật
của kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng,
Nhà nước ta gần 35 năm qua. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được
xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
của nước ta. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
cũng ngày càng rõ và đầy đủ hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện
đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế
thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với
trình độ phát triển đất nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân trong nước
và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh
tế, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Các quyền sở hữu,
quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do lưu thông được pháp luật bảo vệ.
Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường,
hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Cơ chế vận hành nền kinh tế là
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Thị trường, với sự tác động của các
quy luật khách quan của kinh tế thị trường, là yếu tố chủ yếu quyết định giá cả
hàng hóa, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản
xuất và lưu thông hàng hóa; tạo động lực phát triển và điều tiết hoạt động của
doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém. Nhà nước quản lý kinh tế bằng luật
pháp, chính sách, các tiêu chuẩn, định mức, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
sử dụng lực lượng kinh tế của mình (gồm các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước và
các doanh nghiệp nhà nước) để tạo khung khổ pháp luật, môi trường công khai,
minh bạch, thuận lợi cho các chủ thể kinh tế, các thị trường hoạt động, cho sản
xuất và lưu thông; khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường; đồng thời,
thúc đẩy và định hướng phát triển kinh tế, gắn kết phát triển kinh tế với phát
triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường. Phân phối được thực hiện theo kết quả
lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lợi khác vào hoạt
động kinh tế và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Định hướng
xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường được bảo đảm bởi vai trò quản lý của
nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ
thống luật pháp, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi
trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh
tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở
quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước, hướng
tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nhận thức, quan điểm của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa được thể chế hóa thành luật pháp, chính sách, các chiến lược,
chương trình, kế hoạch của nhà nước, được thực hiện đạt kết quả, thành tựu to lớn.
Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đã có đầy
đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế theo thông
lệ quốc tế, đồng thời các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục
được củng cố, tăng cường; kinh tế đất nước đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một
thời gian dài, cơ cấu và trình độ công nghệ thay đổi tích cực theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém
phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, đời sống
nhân dân được cải thiện, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao.
Tuy vậy, từ nhiều năm trước và đến ngày nay, vẫn có một số người,
cả ở trong nước và ngoài nước, vì nhiều lý do, nhiều động cơ khác nhau, vẫn cho
rằng không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; kinh tế thị trường, các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã
hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng xã hội
chủ nghĩa vào kinh tế thị trường là sự gán ghép chủ quan duy ý chí, không có cơ
sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ, không có
cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì kinh tế đất nước còn phát triển
nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn. Do đó, mặc dù Việt Nam có nhiều nỗ lực
tuyên truyền, vận động, nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là
kinh tế thị trường để được hưởng các quy chế ưu đãi trong quan hệ kinh tế với
các nước.
Họ còn cho rằng: một mặt, Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh
tế thị trường, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu;
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh
theo pháp luật, nhưng mặt khác lại xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế thì như vậy
là có phân biệt đối xử, không thể bình đẳng, do đó, không thể có kinh tế thị
trường thật sự, kinh tế thị trường theo thông lệ quốc tế. Hơn nữa, Nhà nước ta
lại xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được
khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động
cả trong nước và ngoài nước thì nền kinh tế thị trường sẽ phát triển theo con
đường tư bản chủ nghĩa, như các nước tư bản khác, chứ không phải phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là chủ
quan, duy ý chí hay là tự lừa dối chính mình, lừa dối người khác mà thôi…
Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán
bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống
nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân
dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; ảnh hưởng tới việc
thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, cần phải được đấu
tranh, phản bác.
Sai lầm của những người cho rằng không thể có nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thứ nhất, là do họ đã đồng nhất kinh tế thị
trường với kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại kinh
tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Song, thực chất các quan
hệ kinh tế thị trường và các quan hệ tư bản là hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc
và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị,
giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, cung cầu, quy luật giá trị
của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường.
Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản nắm
lấy, sử dụng để phát triển thành kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Giá trị
và tư bản là những phạm trù khác nhau, cũng như quy luật giá trị và quy luật
giá trị thặng dư là những quy luật khác nhau.
Thứ hai, sai lầm của những người này là dường như cho rằng kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa từ khi ra đời đến nay là không thay đổi, “nhất
thành, bất biến”. Họ không thấy rằng trải qua thời gian, kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chưa có sự can
thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến
nhiều hiệu quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi
phải có bàn tay quản lý của nhà nước để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do
điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện
đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường,
vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết thị
trường là cơ sở, nền tảng, điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết
của thị trường (Công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp,
chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).
Hơn nữa, kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước
trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau,
tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.
Có mô hình kinh tế thị trường tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước
vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh
doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường
lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế (như Mỹ trước thời Tổng thống D.Trump). Có
mô hình kinh tế thị trường xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế
để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia vào phát triển và hưởng thành quả
phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như
Đức). Có mô hình kinh tế thị trường phúc lợi xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp
vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo
đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt những người cần được trợ giúp: trẻ em, người
già, người thất nghiệp… (như các nước Bắc Âu). Có mô hình kinh tế thị trường
nhà nước phát triển ở nước mà nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho
các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các
nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế (như Nhật Bản, Hàn Quốc)…
Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa
tư bản đã lấy kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển
của mình. Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản
phát triên, dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến
bộ, là những mầm mống của chủ nghĩa xã hội trong lòng chủ nghĩa tư bản (là những
sự phủ định đối với tư bản tư nhân, dù vẫn chưa phá bỏ được chế độ tư bản). Do
tính chất của thời đại, ngày nay, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cũng có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước này, sử dụng cả kinh tế thị trường và
cả kinh tế tư bản chủ nghĩa để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa
xã hội.
- Về sai lầm của luận điểm cho rằng các quy luật của kinh tế thị
trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập, loại trừ nhau.
Là một nền kinh tế thị trường thì phải vận hành theo các quy luật
của kinh tế thị trường. Đó là các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy
luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, trong đó trung tâm là quy luật giá trị.
Đặc trưng của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Các doanh nghiệp (dùng doanh
nghiệp để chỉ chung cho tất cả các chủ thể kinh tế) luôn phải cạnh tranh với
nhau để chiếm được các nguồn lực sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, lao động,
khoa học công nghệ…), các dự án đầu tư, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh
tranh là sức ép, động lực thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, cải tiến
quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh hợp lý; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ;
đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng
cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh; qua đó, thúc đẩy kinh tế
phát triển, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Quy luật cạnh tranh là mạnh
được, yếu thua. Đây là mặt tích cực của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực: khai thác tối đa sức lực người
lao động (kéo dài giờ làm, tăng cường độ lao động), giảm chi phí cho lao động
(giảm lương, giảm bảo hộ lao động); khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm
môi trường; sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, như: làm hàng giả,
kém chất lượng, ăn cắp công nghệ, buôn lậu, trốn thuế, phá hoại đối thủ… Trong
nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới, nhất
là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh
tranh; bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nhưng, đồng thời, ngăn
ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh
tranh không lành mạnh.
Lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường (cả hàng hóa là
yếu tố đầu vào của sản xuất và hàng hóa là sản phẩm do sản xuất tạo ra) được điều
tiết bởi quy luật cung - cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống;
khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của
giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại
chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu;
để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa, cung lớn hơn cầu,
tăng cường, mở rộng sản xuất các hàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là
sự điều tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động, linh hoạt, nhanh nhạy của
cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu. Nhưng, trong nền
kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều chạy
theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ, lại không xác định được tổng cầu
của xã hội (từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung
gian), nên thường xuyên sản xuất thừa, dẫn đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ,
phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung - cầu,
của cơ chế tự điều tiết của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có quản lý
của nhà nước, nhà nước có khả năng thấy rõ hơn từng người sản xuất kinh doanh về
tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của nhà nước là để khắc phục khiếm
khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ do
điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.
Quy luật giá trị là quy luật cơ bản, trung tâm của kinh tế thị
trường. Giá trị hàng hóa là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa.
Chi phí để sản xuất hàng hóa, xét đến cùng, là chi phí lao động, bao gồm lao động
của người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa (lao động sống) và lao động chi phí để
sản xuất ra các tư liệu sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa này (lao
động quá khứ). Về lượng giá trị, không phải mọi hao phí lao động cá biệt của những
người sản xuất hàng hóa đều được xã hội thừa nhận để trở thành giá trị, chỉ những
hao phí lao động ở mức trung bình xã hội, được hình thành do cạnh tranh, được
xem là hao phí lao động xã hội cần thiết, mới là lượng giá trị. Giá trị biểu hiện
ra bên ngoài thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị
là hình thái của cải trong nền kinh tế thị trường, là mục tiêu, là yếu tố chi
phối mọi hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.
Trong kinh tế thị trường, đối với người sản xuất, việc sản xuất
hàng hóa nào chỉ là phương tiện để làm giàu, để thu được nhiều giá trị nhất.
Trong sản xuất, họ năng động, sáng tạo, cải tiến, đổi mới… là để nâng cao năng
suất lao động, giảm chi phí sản xuất, để chi phí sản xuất của họ thấp hơn mức
hao phí lao động xã hội cần thiết, qua đó thu được nhiều giá trị hơn. Đối với
người lưu thông hàng hóa cũng vậy, mua và bán hàng hóa gì đối với họ không quan
trọng, vấn đề cũng là để thu được nhiều giá trị nhất, để làm giàu. Họ năng động,
sáng tạo, nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường, đưa hàng hóa từ nơi thừa đến
nơi thiếu, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, từ nơi giá thấp đến
nơi giá cao; cải tiến quản lý để giảm chi phí lưu thông… cũng để thực hiện mục đích
này. Đây là cách thức vận hành của quy luật giá trị, cách thức vận hành đó gắn
bó chặt chẽ với quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu; có thể nói các quy luật
cạnh tranh, quy luật cung cầu là những hình thức biểu hiện, cách thức vận hành
của quy luật giá trị. Tác động của quy luật giá trị bao gồm những tác động của
quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu (tất nhiên, quy luật giá trị còn có nội
dung rộng hơn hai quy luật này), cả những tác động tích cực, như: thúc đẩy năng
động, sáng tạo, không ngừng cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ… thúc đẩy kinh
tế phát triển; điều tiết sản xuất, lưu thông một cách nhanh nhạy… và cả những hậu
quả tiêu cực, như: khủng hoảng chu kỳ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô
nhiễm môi trường… Trong các nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước,
sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là để tạo khung khổ pháp luật và điều
kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận hành, đồng thời hạn chế, khắc phục những
hậu quả tiêu cực này.
Trong nền kinh tế thị trường, còn có quy luật lưu thông tiền tệ,
một quy luật phái sinh của quy luật giá trị. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa
hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông, về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông
hàng hóa, bảo đảm cho lưu thông hàng hóa thuận lợi, trôi chảy. Theo quy luật
này, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa là do tổng giá trị hàng hóa
cần lưu thông và tốc độ luân chuyển (hay tốc độ vòng quay) của tiền quyết định.
Trong thời kỳ sử dụng tiền vàng, tiền có đủ giá trị, thì khi số lượng tiền vượt
quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền vàng sẽ tự động được rút khỏi lưu
thông. Khi tiền giấy thay cho tiền vàng, nếu số lượng tiền vượt quá yêu cầu của
lưu thông hàng hóa, tiền sẽ mất giá, gây ra hiện tượng lạm phát. Giữ vững giá
trị đồng tiền là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước ở các nước có kinh tế thị trường
trên thế giới.
Tóm lại, trong tất cả các nền kinh tế thị trường hiện đại trên
thế giới, đều có hoạt động của các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường và
có vai trò quản lý của nhà nước; nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng hoạt động của
các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời, vừa hạn chế, khắc phục những tác động
tiêu cực, tự phát do các quy luật kinh tế thị trường gây ra, giữ môi trường ổn
định cho kinh tế phát triển và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã
hội, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Song,
không có phê phán nào về vai trò của nhà nước, cho rằng điều này đối lập với hoạt
động của các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Ở nước ta, sau gần 35 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, về cơ bản, đã có đầy đủ các yếu tố của nền
kinh tế thị trường hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế: có đa dạng các hình thức
sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa,
doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, hệ thống thị trường phát triển ngày càng đồng
bộ…; quản lý kinh tế của nhà nước đã đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước,
không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giữ giá trị
của đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế khắc phục khuyết tật của cơ chế
thị trường… Trong điều kiện đó, các quy luật của kinh tế thị trường đã vận hành
đồng bộ: các doanh nghiệp đã phải nỗ lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển;
giá cả hàng hóa đã cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông đã phải
chú ý đến những tín hiệu giá cả, cung - cầu trên thị trường; thị trường đã đóng
vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của
doanh nghiệp, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất… Các yếu tố bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường gắn liền với vai trò quản
lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để giữ vững
các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… Nội
dung và phương thức quản lý của nhà nước ta như vậy không mâu thuẫn, cản trở hoạt
động của các quy luật của kinh tế thị trường mà tạo điều kiện phát huy mặt tích
cực, hạn chế mặt tiêu cực của các quy luật này, để nền kinh tế phát triển
nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”.
- Về những luận điểm sai lầm liên quan đến vai trò của kinh tế
nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Sai lầm của những người cho rằng nếu kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo thì không có bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và
không thể có nền kinh tế thị trường, thứ nhất, là do bị ám ảnh bởi kinh tế nhà
nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây và
thứ hai, là do hiểu sai về vai trò chủ đạo, cho rằng chủ đạo là phải được ưu
đãi, ưu ái của nhà nước, phải chiếm tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành
phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế trước đổi mới, chỉ có kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể, không có kinh tế tư nhân (kinh tế tư nhân không được phép tồn
tại); kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế, do nhà nước
trực tiếp quản lý bằng kế hoạch hóa tập trung, thì không thể có kinh tế thị trường.
Ngày nay, kinh tế nhà nước hoàn toàn khác. Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực
kinh tế của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là một công
cụ của nhà nước, để cùng với các công cụ khác như luật pháp, chính sách, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế.
Các nguồn lực kinh tế của nhà nước được huy động, phân bổ, sử dụng theo yêu cầu
phải phù hợp, phục vụ việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển đất nước; nhưng khi thực hiện phải theo cơ chế thị trường, thông qua đấu
thầu cạnh tranh, có sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế,
để việc phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả cao. Doanh nghiệp nhà nước được nhà
nước đầu tư, phát triển ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng về kinh tế,
xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước (nhất là khi các thành phần kinh tế
khác không được, không muốn hay không đủ sức đầu tư), làm lực lượng tiên phong,
nòng cốt cho sự phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn đó. Các doanh nghiệp nhà nước
tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác. Khi đã có các thành phần kinh tế khác đầu tư
vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn này và không nhất thiết phải có doanh nghiệp
nhà nước, thì nhà nước có thể thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển vốn
nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng khác để thực hiện
chiến lược, mục tiêu mới của nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước với ý nghĩa là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết, thúc đẩy, định hướng
phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Với vai trò đó, vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế, với sự
phát triển của kinh tế thị trường.
Trước đổi mới, kinh tế tập thể, dưới hình thức là các hợp tác xã
sở hữu tập thể về đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu, quản lý theo kế hoạch,
phân phối theo lao động và nằm trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu, bao cấp chung của đất nước thì đối lập với kinh tế thị trường. Trong những
năm đổi mới, các hợp tác xã cũng đã được đổi mới cả về tổ chức và phương thức
hoạt động, khác rất nhiều so với các hợp tác xã trước đây. Hợp tác xã hiện nay
(hợp tác xã kiểu mới) là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ sản xuất kinh doanh
tự nguyện thành lập để làm dịch vụ cho các hộ thành viên, hỗ trợ cho các thành
viên, những người sản xuất nhỏ, yếu thế khi tham gia thị trường, giúp họ nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tùy theo năng lực của hợp tác xã và nhu cầu của
các hộ thành viên, hợp tác xã có thể cung ứng các vật tư, nguyên liệu, các yếu
tố đầu vào cho sản xuất của các hộ (với giá rẻ hơn, chất lượng bảo đảm hơn khi
từng hộ riêng lẻ mua); đảm nhận các dịch vụ sản xuất như làm đất, chăm sóc, thu
hoạch cho các hộ thành viên (tiết kiệm cho các hộ phải mua máy móc thiết bị
nhưng sử dụng không hết công suất); bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho
các hộ thành viên (có lợi hơn cho hộ so với khi từng hộ bảo quản, chế biến,
tiêu thụ); hỗ trợ các hộ thành viên vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân
hàng… Các hợp tác xã phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà cả
trong các lĩnh vực tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, vận tải…. Các hợp tác xã
từng bước tích lũy vốn, quỹ, tài sản, mở rộng quy mô hoạt động; liên kết với
nhau thành hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã theo ngành nghề, theo địa bàn hoạt động…
tạo thành mạng lưới rộng khắp để hỗ trợ những người sản xuất nhỏ, đưa những người
sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Kinh tế tập thể với vai trò hỗ trợ cho những người sản xuất nhỏ
hoạt động, phát triển trong nền kinh tế thị trường và cùng với kinh tế nhà nước,
với vai trò là công cụ để nhà nước thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế đất
nước, đi tiên phong để thu hút các thành phần kinh tế khác đầu tư vào những
ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng của đất nướcthì hai thành phần kinh tế này
được xác định là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là đúng đắn, không cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế khác,
cản trở sự phát triển của kinh tế thị trường.
Về sai lầm của luận điểm cho rằng kinh tế tư nhân với vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh thì nền kinh tế không thể phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà sẽ trở thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Quả thật là nếu để kinh tế tư nhân phát triển một cách tự phát thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhưng nền kinh tế thị trường nước ta có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kinh tế tư nhân không phát triển tự phát, mà phải tuân thủ luật pháp, chính sách của nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của nhà nước. Mặt khác, khi nhà nước khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động ở cả trong nước và ngoài nước thì luật pháp, chính sách của nhà nước cũng định hướng các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phát triển thành các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước ta sẽ đưa kinh tế tư nhân vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, một nấc thang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để kinh tế tư nhân đóng góp vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khả năng lãnh đạo xuất phát từ những tài năng tuyệt vời của
mình, vị trí hiện tại của mình và sự công nhận của nhóm công chúng đối với
mình.
Ta phải có quyền lực hoặc sự tín nhiệm của nhóm người quan hệ của
riêng mình, có ảnh hưởng không nhỏ đến nhóm người ấy. Khả năng lãnh đạo xuất
phát từ những tài năng tuyệt vời của mình, vị trí hiện tại của mình và sự công
nhận của nhóm người quan hệ đối với mình.
Tư duy lãnh đạo có thể được hiểu là quá trình phản ánh hiện thực
khách quan về lãnh đạo dựa trên hoạt động của bộ não để nhận thức được bản chất
và quy luật về quá trình lãnh đạo, cách thức lãnh đạo và mục tiêu lãnh đạo; đồng
thời, định hướng cho hành động lãnh đạo trên thực tiễn.
Tư duy lãnh đạo
Tư duy được hiểu là một quá trình hoạt động thuộc quá trình nhận
thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những
hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý, nhờ đó, con người hiểu
biết thế giới, bản thân và định hướng hành động tương ứng.
Đó là một quá trình hoạt động đặc biệt của con người, thông qua
phản ánh hiện thực khách quan, dựa trên hoạt động của bộ não con người nhận thức
bản chất, quy luật vận động của hiện thực khách quan để định hướng cho hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Kết quả của quá trình tư duy,
không chỉ dừng lại ở phản ánh thực tại một cách đơn lẻ, rời rạc mà còn có tính
khái quát – nhận diện được các thuộc tính, các mối liên hệ có tính cơ bản, phổ
biến, có tính quy luật.
Tư duy, với tư cách là một loại hoạt động của hệ thần kinh trung
ương đã trở thành công cụ hàng đầu của loài người để hiểu biết, chinh phục và
làm chủ thế giới tự nhiên, quản trị và dẫn dắt các quá trình xã hội theo định
hướng nhất định, tạo ra các chuyển biến xã hội để phát triển.
Tư duy, có nhiều cấp độ khác nhau mà phản ánh và ghi nhớ chỉ là
cấp độ đơn giản; bổ sung, phân biệt, đối chiếu và tìm ra mối quan hệ của những
dữ kiện thực tế là một cấp độ cao hơn, giúp con người nhận thức được thực tế một
cách bản chất. Tuy nhiên, với nhiều cấp độ thực hành như vậy, tư duy vẫn là một
hành động thường trực của con người. Và, để đạt đến các trình độ tư duy khác
nhau, đòi hỏi con người cần nỗ lực một cách có chủ đích, có hệ thống.
Tư duy lãnh đạo (TDLĐ) có thể được hiểu là quá trình phản ánh hiện
thực khách quan về lãnh đạo dựa trên hoạt động của bộ não để nhận thức được bản
chất và quy luật về quá trình lãnh đạo, cách thức lãnh đạo và mục tiêu lãnh đạo;
đồng thời, định hướng cho hành động lãnh đạo trên thực tiễn.
Thuật ngữ TDLĐ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Từ giác độ chủ
thể của hoạt động TDLĐ – có thể hiểu là của cá nhân và các nhóm giữ các vị trí
chính thức trong tổ chức hay hệ thống. Nghĩa này được sử dụng phổ biến cả trong
lý luận và thực tiễn. Từ giác độ trình độ của hoạt động, đó là tư duy (ở) tầm
lãnh đạo (khác với tư duy của đối tượng lãnh đạo; nhấn mạnh tầm tư duy của nhóm
dẫn dắt, chủ động gây ảnh hưởng để đạt đến hiệu quả, làm chuyển biến cách suy
nghĩ, hành động của những người khác vì những mục tiêu chung nhất định).
Do đó, tư duy ở trình độ tầm lãnh đạo được xem như một phẩm chất
vượt trội về năng lực nhận thức, tiếp cận. Quan trọng hơn và đã có bằng chứng
thực tiễn cho thấy, yếu tố này không nhất thiết chỉ có ở người có chức vụ chính
thức trong hệ thống. Từ giác độ mục tiêu, TDLĐ còn được hiểu như một yêu cầu,
điều kiện đầu vào để lãnh đạo – để thực hiện một loại chức năng xã hội đặc biệt,
nhất là lãnh đạo công.
Cấu trúc của tư duy lãnh đạo
TDLĐ xét từ giác độ đối tượng (tư duy về cái gì) bao gồm các cấu
phần cơ bản sau:
Thứ nhất, tư duy về bối cảnh lãnh đạo. Bối cảnh lãnh đạo bao gồm
nhiều thành tố, nhiều bên liên quan với nhiều xu hướng và động thái liên quan,
phụ thuộc vào nhau một cách phức tạp. Chính vì vậy, không phải đến cách mạng
4.0, bối cảnh lãnh đạo mới trở nên phức tạp, mà tính khó đoán định, khó lường
trước đang ngày càng cao hơn.
Không thể phủ nhận vai trò của trực giác, linh cảm trong lãnh đạo,
trong việc đưa ra các quyết định có tính quyết đoán, nhưng suy cho cùng, trực
giác, linh cảm cũng là một sản phẩm đặc biệt của quá trình tư duy và trải nghiệm
lâu dài, có phân tích, đối chiếu và gọi được tên vấn đề một cách hệ thống. Sơ đồ
hóa bối cảnh là công cụ tư duy phức tạp hàng đầu của quá trình lãnh đạo, vì mọi
giải pháp lãnh đạo đều bắt đầu từ hệ tri thức về bối cảnh này. Không làm được
hoặc không làm đúng khâu này thì quá trình lãnh đạo có thể rơi vào bệnh chủ
quan (do đó, cần tư duy chiến lược), duy ý chí hay bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
(do đó, cần kết hợp tư duy thực tiễn với tư duy lý luận).
Thứ hai, tư duy về các vấn đề lãnh đạo. TDLĐ của người lãnh đạo
và để lãnh đạo, trước nhất liên quan đến năng lực phân biệt và đặt ưu tiên cho
các vấn đề lãnh đạo đúng tầm – những vấn đề ảnh hưởng đến đại cục, lâu dài và tổng
thể – thay vì tư duy và giải quyết các vấn đề vụn vặt vốn là hệ lụy, hệ quả của
những vấn đề khác.
Thứ ba, tư duy về người lãnh đạo. Tư duy về vị trí, vai trò của
hoạt động lãnh đạo và người lãnh đạo, các yêu cầu hay trông đợi đối với quá
trình lãnh đạo; các nỗ lực lý giải và hiện thực hóa một mối quan hệ phù hợp giữa
cá nhân và tập thể trong quá trình lãnh đạo.
Thứ tư, tư duy về mục đích và kết quả lãnh đạo. Cách định vị bản
thân là nền tảng để tư duy về mục đích lãnh đạo, nhất là lãnh đạo xã hội. Với
lãnh đạo công, đây chính là tư duy về phát triển. Hiểu biết về bản chất hoạt động
lãnh đạo và về sứ mệnh của lãnh đạo là một điều kiện then chốt để các nỗ lực
lãnh đạo không chỉ xoay quanh lợi ích cục bộ của nhóm thân hữu, mà vì lợi ích
công cộng, lợi ích tập thể, trong đó sự sống còn, thịnh vượng của cộng đồng là
điều kiện cho sự thỏa mãn các lợi ích cá nhân một cách chính đáng và bền vững.
Cũng tương tự, kết quả lớn nhất và bền vững nhất của lãnh đạo
chính là năng lực lãnh đạo ở đối tượng lãnh đạo. Do đó, một trong những điều kiện
cho tính nhất quán về tầm nhìn lãnh đạo chính là việc bồi dưỡng được đội ngũ
lãnh đạo kế cận.
Thứ năm, tư duy về quá trình lãnh đạo. Trước nhất, TDLĐ quan niệm
lãnh đạo như một quá trình, với những yếu tố đầu vào, đầu ra, bối cảnh, môi trường
và các diễn tiến. Quá trình đó đi theo (tạo ra) những xu hướng nhất định, đồng
thời chấp nhận những yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ nhất định. Chính vì lãnh đạo
trên thực tế là một quá trình nên tư duy về quá trình lãnh đạo còn bị ảnh hưởng
và cần tính đến vai trò của khoa học, lý luận đối với thực tiễn lãnh đạo.
Thứ sáu, tư duy về đối tượng lãnh đạo. TDLĐ được biểu hiện thành
ngôn từ khoa học, chính sách hay hành động thực tiễn. Cho đến nay, khoa học vẫn
không ngừng tìm kiếm cách phản ánh đúng đắn nhất và đúng bản chất nhất về đối
tượng lãnh đạo. Hiểu bản chất hoạt động lãnh đạo và có TDLĐ là khi cá nhân
không chỉ tập trung vào mục tiêu, mối quan tâm hay năng lực của bản thân mà còn
của đối tượng lãnh đạo và các bên liên quan khác, cả khu vực công và khu vực
tư, khu vực phi chính phủ và cộng đồng,… Nhận thức đúng chiều cạnh này sẽ cung
cấp cơ sở cho việc lý giải và tác động đến động lực, động thái của các bên liên
quan, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đến đo lường và tự đo lường hiệu quả lãnh
đạo.
Đặc điểm của tư duy lãnh đạo
TDLĐ có một số đặc điểm cơ
bản như sau:
(1) Tính quá trình. Là một quá trình không ngừng tìm kiếm thông
tin, nhận thức và nhận thức lại về các yếu tố của quá trình lãnh đạo, mục đích
và kết quả của lãnh đạo;
(2) Tính bối cảnh và sáng tạo. Tư duy nói chung và TDLĐ nói
riêng không phải là một sản phẩm đông cứng mà có sự điều chỉnh, đổi mới (cả
phương pháp lẫn kết quả của tư duy) dưới sự tác động của các yếu tố bên trong
cũng như yếu tố bối cảnh; theo nghĩa đó, trong khuôn khổ lãnh đạo chính trị,
TDLĐ còn có tính chính trị;
(3) Tính (định) hướng tương lai. Dù hành trình tư duy bao gồm cả
các phản ánh, hồi ức về quá khứ hay xem xét về hiện tại, tư duy của con người
nói chung đều định hướng điều khiển hành vi trong tương lai, hướng tới tìm kiếm
phương thức hành vi, phản ứng cho các tình huống sẽ tới, cho tương lai. Điều
này không chỉ đúng với TDLĐ, mà còn là cần thiết trong TDLĐ vì lãnh đạo, về bản
chất là tìm đường – dẫn đường và tạo đường;
(4) Hình thức biểu hiện của tư duy lãnh đạo. Nó không chỉ là các
phát ngôn và hành động lãnh đạo với tư cách cá nhân, mà được thể chế hóa trên
cơ sở mức độ thẩm quyền, trách nhiệm của từng vị trí lãnh đạo tương ứng. Cũng
chính vì điều đó, các văn bản, trong một khuôn khổ chính thức của lãnh đạo (hội
họp, họp báo, cung cấp thông tin với tư cách chính thức) không đủ để người lãnh
đạo bộc lộ hết hoặc để các bên liên quan tiếp cận đầy đủ về TDLĐ.
(5) TDLĐ không nhất thiết chỉ có ở người có chức vụ. Đây là chỗ
để phân biệt chủ thể và trình độ tư duy, là chỗ phân biệt thủ trưởng và thủ
lĩnh trong các quá trình xã hội;
(6) Tính cá nhân. Thông qua lăng kính cá nhân, con người khái
quát thành những giả định, các ý niệm,
các khái niệm giúp gọi tên vấn đề, nhận diện bản chất của vấn đề sự vật, sự việc
hay các quá trình nhất định. Tư duy xuất hiện khi con người đứng trước những lựa
chọn; hoặc tư duy hay không tư duy để hành động theo bản năng; hoặc để tự
nhiên, xã hội dẫn lối, đưa đường; hoặc tư duy theo lối cũ để có cơ sở viện dẫn
rõ ràng và có cái cớ để biện hộ hay tư duy theo cách mới; thử nghĩ theo cách
khác để tìm kiếm cơ hội khác nhưng cũng đồng thời sẵn sàng phải đối mặt với rủi
ro, sự từ chối, phủ nhận của người khác, thậm chí là của số đông.
Cách tư duy của mỗi cá nhân được cấu thành từ bẩm sinh (với năng lực tư duy của hệ thần
kinh), từ môi trường sống và từ các trải nghiệm thực tiễn với quá trình tương
tác xã hội và các tình huống sống, thậm chí tình huống sống – còn. Có thể nhận
thấy, tuy 6 chiều cạnh phổ biến trên tạo nên cấu trúc cơ bản của đối tượng quá
trình tư duy và bản thân TDLĐ, nhưng câu trả lời không nhất thiết có những điểm
chung mà tùy thuộc vào lựa chọn của cá nhân người tư duy. Quá trình nhận diện,
xử lý và tính toán các quan điểm hay giải pháp cho từng cấu phần trên bị ảnh hưởng
bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến nhiều bên, trong đó, không loại trừ các yếu
tố ngẫu nhiên.
Vai trò của tư duy lãnh đạo
TDLĐ đóng một số vai trò quan trọng đối với quá trình và kết quả
lãnh đạo như sau:
Một là, đầu vào của quá trình lãnh đạo. TDLĐ cần tri thức như một
loại tài nguyên, một loại nguồn lực cho suy nghĩ. Đến lượt nó, TDLĐ tiếp tục
sáng tạo ra tri thức để lãnh đạo. Để đầu vào này tốt đòi hỏi người lãnh đạo có
một hệ thần kinh, có năng lực tư duy. Tuy nhiên, giống như những người khác,
đôi khi người lãnh đạo rơi vào tình trạng “tê liệt” suy nghĩ, do các vấn đề về
thể chất, sức khỏe, do bị bao trùm bởi sự sợ hãi, sự mất kiểm soát về tình thế,
bối cảnh, hay thậm chí do họ quyết định phó mặc (cho tự nhiên vận động, hoặc
cho một người/nhóm người khác).
Chính vì vậy, để rèn luyện TDLĐ một cách chủ động, đòi hỏi phải
có những tình huống có vấn đề, những nhiệm vụ, yêu cầu hay một sự trông đợi có
tính thách thức. Nếu số đông, tập thể, hay xã hội quá độ lượng, chấp nhận mọi
chất lượng lãnh đạo; nếu cá nhân tự “ru ngủ” hay tự thỏa mãn và biện hộ, thì
TDLĐ sẽ dẫn dắt một thực tiễn lãnh đạo không định hướng phát triển.
Hai là, định hướng, dẫn dắt hành động lãnh đạo. TDLĐ là quá
trình nhận thức về thế giới, về quá trình lãnh đạo, kết nối các biến số của môi
trường với nhu cầu và ý định của bản thân để từ đó có một hình dung và cách quyết
định hành động nhất định. Nói cách khác, trên cơ sở TDLĐ, quá trình lãnh đạo với
các mục tiêu, hoạt động,… được thiết kế và triển khai cụ thể trên thực tiễn.
Hơn thế nữa, TDLĐ dẫn dắt hành động nên nhìn vào hành động của
lãnh đạo có thể đoán biết tư duy và lối tư duy của lãnh đạo. Tập thể và mỗi cá
nhân nhìn vào thực tiễn lối tư duy, xây dựng và hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh
đạo để đánh giá hiệu quả lãnh đạo và để tự điều chỉnh cách nghĩ, cách hành động
của bản thân hay nhóm.
Lãnh đạo cần làm gương về tư duy và hành động thông qua lời ăn,
tiếng nói, các phát ngôn chính thức lẫn không chính thức, thông qua cách thức
ra quyết định, cách thức dùng người, cách ghi nhận công trạng của cá nhân và
nhóm; đặc biệt, ở cách phân chia thử thách và lợi ích trong thực thi.
Ba là, thước đo đối với trách nhiệm và năng lực lãnh đạo. TDLĐ
là tấm gương trung thực, rõ nét phản ảnh cách thức đội ngũ lãnh đạo nhận thức về
trách nhiệm và sứ mệnh, vị trí và quyền của mình trong các quá trình, quan hệ
xã hội. Nó giúp đánh giá người/đội ngũ lãnh đạo có đúng tầm để thực hiện cương
vị được trao hay không, có khả năng tích hợp được tư duy và hành động của người
khác để suy nghĩ một cách đại diện (nhưng không bỏ qua số đông) hay có bản lĩnh
(độc lập) hay không?
TDLĐ không bất biến và cũng không tạo ra các kết quả bất biến.
Quá trình tư duy liên tục dẫn đến những nhận thức khác nhau và sự thay đổi nhận
thức về thực tiễn lãnh đạo. Bản thân sự khác biệt đó là chỉ số đánh giá mức độ
cam kết, năng động, trách nhiệm và khả năng học hỏi của lãnh đạo trong tính đa
dạng và thay đổi của bối cảnh, môi trường và đối tượng lãnh đạo. TDLĐ, do vậy
là sự phản ảnh rõ nét nhất về mức độ cải thiện trong cách lãnh đạo.
Bốn là, cơ hội tự nhận thức của đội ngũ lãnh đạo. TDLĐ không chỉ
để lãnh đạo người khác, dẫn dắt các quá trình xã hội mà còn là giúp người lãnh
đạo hiểu bản thân hơn, định vị được bản thân trong tập thể, trong tiến trình và
kết quả lãnh đạo. Nhưng trên hết, trong cuộc sống nhân sinh, để định vị bản
thân, người lãnh đạo cần trả lời 3 câu hỏi: (1) “Mình là ai?”. Câu trả lời thay
đổi khi người lãnh đạo hiểu rằng, bối cảnh
khác nhau quy định các vai trò và vị trí khác nhau. (2) “Mình muốn gì?”.
Mục đích hay điều mong muốn với tư cách cá nhân có thể tự làm được sẽ rất khác
mục đích với tư cách lãnh đạo – bởi nó phải hiện thực hóa được tham vọng, kỳ vọng
thông qua người khác. “Mình có thể làm gì?”. Câu trả lời thứ ba này quyết định
cách trở lại và trả lời hai câu hỏi trước đó. Nó ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và
hành động dấn thân, không ngừng tìm cách khác hay phải buông bỏ để tìm kiếm cơ
hội, thời cơ khác, trong một bối cảnh khác (do mình tạo ra hoặc do ngẫu nhiên).
Trong khu vực công, có 3 nguồn lý tưởng của đổi mới là: các phản
ứng có định hướng chính trị trước khủng hoảng; những biến động trong tổ chức do
các nhân vật lãnh đạo mới xuất hiện và khởi xướng; và từ dưới lên – do những
nhân viên làm ở vị trí “mặt tiền” – giao diện tiếp xúc trực tiếp của bên trong
và bên ngoài tổ chức hay các nhà quản lý cấp trung gian.
Tuy nhiên, trên thực tế thì quá trình đổi mới còn có thể được dẫn
dắt bởi những mưu cầu cá nhân của những người không nhất thiết nằm trong 3 nhóm
trên. Hiểu biết về những điều này sẽ hỗ trợ cho người/đội ngũ lãnh đạo tư duy lại
về năng lực, nguồn lực mình có để quyết định “Mình muốn gì?” và “Mình là ai?”
hoặc Mình sẽ là ai?”.
Không ngừng tư duy và đổi mới tư duy về bản thân trong mối quan
hệ với bối cảnh, mục tiêu lãnh đạo là một công cụ, một cơ hội để đội ngũ và cá
nhân mỗi lãnh đạo định vị và định vị lại bản thân trong mỗi bối cảnh, hoàn cảnh
lãnh đạo cụ thể
Quy luật 3. Quy luật của
cá tính riêng (Pqersonality)
Nó là cách để tháo bỏ những áp lực mà Qui luật của lãnh đạo đã
nêu: Ta thì luôn luôn tốt, nhưng mình không phải là người hoàn hảo.
Một thương hiệu lớn phải được xây dựng trên nền tảng những cá
tính và những thói xấu của cá nhân, nó phải bao gồm cả 2 thứ nêu trên. Nó là
cách để tháo bỏ những áp lực mà Qui luật của lãnh đạo đã nêu: mình thì luôn
luôn tốt, nhưng mình không phải là người hoàn hảo.
Cá tính là gì? Làm sao để xây dựng cá tính riêng cho bản thân?
Cá tính là từ để chỉ những con người có tính cách khác với số
đông. Hãy cùng chúng tôi phân tích kỹ càng về khái niệm cá tính là gì này nhé!
Bán độ là gì? Và những trận đấu bán độ gây rúng động dư luận
Thực tập là gì? Một vài khái niệm về thực tập mà mình nên biết!
Cá tính là gì?
Cá tính là từ ghép được tạo nên bởi 2 từ đơn “cá” và “tính”.
“Cá” ở đây chính là cá biệt, khác biệt, không giống với số đông. Còn “tính” là
tính cách của một người. Tựu chung lại, cá tính chính là từ dùng để chỉ những
người có tính cách khác biệt với số đông. Họ luôn có những nét riêng không hề
trộn lẫn với bất kỳ ai khác.
Cá tính là gì? Làm sao để xây dựng cá tính riêng cho bản thân? -
Ảnh 1
Cá tính là những người có tính cách đặc biệt
Những người được coi là có cá tính không bao giờ ngần ngại thể
hiện bản thân và làm những điều mình thích. Họ bạo dạn, có lập trường vững vàng
và không ngại tranh luận với người khác để bày tỏ quan điểm cá nhân. Họ sống
đúng với bản ngã, luôn thoải mái và tự do trong tư tưởng đồng thời không bao giờ
ép buộc bản thân làm những điều họ không muốn.
Sự cá tính của mỗi cá nhân không chỉ nằm ở mặt tính cách mà còn
có thể thể hiện rõ nét qua phong thái và vẻ bề ngoài của họ. Những người có cá
tính thường có “gu” ăn mặc, đầu tóc, trang điểm rất riêng. Có thể nói họ sáng tạo
hơn và bạo dạn hơn người bình thường ở việc thể hiện bản thân qua vẻ bề ngoài.
Điều gì làm nên nét cá
tính trong mình?
Ta đã hiểu định nghĩa cá tính là gì, vậy mình có biết những điều
gì sẽ làm nên nét cá tính riêng của mỗi người không? Cùng tìm hiểu nhé!
Thẳng thắn
Sự thẳng thắn góp phần làm nên cá tính của một người. Hầu hết
chúng ta đều ngại bày tỏ ý kiến của bản thân với người khác nhưng người có cá
tính lại không sợ điều đó. Họ dám thẳng thắn góp ý với người khác khi cảm thấy
quan điểm của họ không phù hợp.
Cá tính là gì? Làm sao để xây dựng cá tính riêng cho bản thân? -
Ảnh 2
Cá tính là luôn sống đúng với chính mình
Trung thực
Có thể mình không tin nhưng trung thực cũng là một yếu tố giúp
mình xây dựng cá tính riêng. Giữa một xã hội lắm lọc lừa, gian dối này vẫn có
những người luôn trung thực, tôn trọng sự thật, không ưa nói lời sáo rỗng, chỉ
thích nói lời thật. Họ chính là những con người có cá tính và đáng được tôn trọng!
Vui vẻ và thông minh
Những người trầm mặc, ít nói thường không được coi là có cá tính
bởi những người có cá tính có biểu hiện hoàn toàn trái ngược. Họ thường là những
người vui vẻ, tự tin và thông minh. Họ vừa biết cách thể hiện bản thân vừa biết
cách khiến người khác vui vẻ đồng thời luôn linh hoạt, nhạy bén.
Làm thế nào để xây dựng cá tính riêng cho bản thân?
Sau khi tìm hiểu cá tính là gì và biết được những điều làm nên
cá tính riêng thì có khi nào mình lại chạnh lòng vì thấy mình quá nhạt nhòa
không? Đừng vội buồn bã hay nản lòng nhé, sau đây chúng tôi sẽ chỉ cho mình
cách xây dựng cá tính riêng cho bản thân!
Tìm ra giá trị cốt lõi của
bản thân
Muốn trở thành một người có cá tính, trước tiên mình phải tìm được
điểm nổi bật của bản thân trước đã. Ví dụ như mình ghét nói dối, không ưa chuyện
thị phi, không thích nói xấu sau lưng người khác… Điều ấy chứng tỏ mình là người
chân thật và luôn sống đúng với tôn chỉ của chính mình. Đó chính là giá trị cốt
lõi bên trong con người mình.
Cá tính là gì? Làm sao để xây dựng cá tính riêng cho bản thân?
Cá tính cũng cần được xây dựng một cách đều đặn, hàng ngày
Rèn luyện và trau dồi những
giá trị ấy mỗi ngày
Sau khi đã tìm được giá trị cốt lõi của bản thân thì việc tiếp
theo mình cần làm chính là thể hiện nó ra bên ngoài và sử dụng nó để tạo nên những
ảnh hưởng tích cực đến mọi người xung quanh. Cứ kiên trì làm thế thì mọi người
sẽ dần dần nhận ra mình có nét cá tính rất riêng và mọi người yêu quý mình vì
điều đó.
Tin tưởng chính mình
Dù mình muốn làm gì đi chăng nữa thì điều quan trọng nhất là mình phải tin tưởng bản thân, phải đặt niềm tin vào bất cứ điều gì mình đang làm. Chỉ có kiên trì tin vào lựa chọn của chính mình thì mình mới có thể bước đi trên một con đường riêng nơi chưa có ai dám đặt chân tới.
Một thương hiệu cá nhân hiệu quả luôn cần phải được khẳng định
là khác biệt đối với đối thủ cạnh tranh của mình.
Một thương hiệu cá nhân hiệu quả luôn cần phải được khẳng định
là khác biệt đối với đối thủ cạnh tranh của mình. Nhiều nhà tiếp thị đã xây dựng
những thương hiệu ở khoảng giữa (middle-of-the-road) vì không muốn làm mất lòng
ai, cũng như muốn thu hút được đông đảo công chúng yêu thích. Thế nhưng cách
làm đó làm cho thương hiệu thất bại bởi trong một thị trường với nhiều thương
hiệu, thì thương hiệu như vậy sẽ không được nhận ra.
Những khác biệt hóa giúp tạo dựng nên một thương hiệu mạnh, đều
mang tầm chiến lược hoặc xuất phát từ nền tảng của chiến lược cạnh tranh đúng.
Gần 15 năm về trước, khi đó tôi đã có một quá trình làm việc
liên tục và khá lâu trong lĩnh vực Marketing cho các tập đoàn đa quốc gia, thì
khái niệm khác biệt hóa đã được nằm lòng vì sách vở, các giáo sư hàng đầu về
Marketing như Philip Kotler và cả khách hàng luôn nhắc tới. Sau này khi nghiên
cứu về chiến lược công ty và chiến lược cạnh tranh thì khái niệm chiến lược
khác biệt hóa lại được cha đẻ của chiến lược cạnh tranh hiện đại - ông Michael
Porter đề cập đến. Đã có rất nhiều thương hiệu chọn “khác biệt hóa” để định vị
chiến lược công ty và xây dựng thương hiệu, cũng có một số khác thì lại coi đây
như là một hoạt động cải tiến quy trình hoặc tìm kiếm giá trị mới độc đáo cho sản
phẩm, hướng tới nhu cầu của khách hàng. Vậy, khác biệt hóa được hiểu theo cách
nào? Là hoạt động Chiến lược của công ty hay là hoạt động Marketing?
Bài viết này sẽ chia sẻ những kinh nghiệm thành công và thất bại
của một số tình huống thương hiệu khi làm “khác biệt hóa” mà tôi đã quan sát được
từ phân tích thị trường.
AEON khác biệt hóa bằng: Dịch
vụ toilet đến xe đẩy cho bé
Khi mà các siêu thị, đại siêu thị hay ngay cả trung tâm thương mại
lớn được xếp hạng sang ở thành phố còn chưa kịp nhận thức hoặc dành sự quan tâm
đặc biệt đến việc giải quyết “nỗi buồn… đi vệ sinh” cho khách hàng, thì AEON
Mall - tập đoàn của Nhật Bản đã chú trọng đặt nhu cầu này lên hàng đầu. Họ đã
đưa văn hóa của người Nhật nói chung vào trong chuỗi các giá trị và hoạt động
chiến lược khác biệt hóa của mình.
Khu toilet “thư giãn” của AEON không chỉ có phòng cho Nam, Nữ
thông thường mà còn dành những phòng riêng như để bà mẹ cho con bú và thay tã;
người khuyết tật; người hút thuốc lá và cả một không gian với bài trí sang trọng
phục vụ cánh chị em trang điểm. Người Nhật vốn nổi tiếng với sự kỹ càng, điều
này được thể hiện trong từng chi tiết, chẳng hạn như bên cạnh lavabo luôn có bảng
nhắc nhở “Quý khách có quên gì không?” với hình vẽ của các vật dụng mà mọi người
thường mang theo bên mình nhưng sẽ rất dễ bị quên khi cởi bỏ ra để rửa tay.
Đối với dịch vụ chăm sóc trẻ em đi kèm, đa dạng các sự lựa chọn
như xe đẩy được thiết kế cho bé ngồi kèm giỏ để hàng hóa hoặc xe nôi đẩy kiêm
ghế ngồi, giúp các bà mẹ có thể rảnh tay mua sắm cũng như tiện lợi hơn khi vào
nhà hàng ăn uống.
Dành ra không gian thư giãn, giải quyết các nhu cầu rất cơ bản của
cá nhân và được tính toán đặt ở nhiều nơi công cộng một cách miễn phí, AEON đã
giúp khách hàng có thể trải nghiệm mua sắm và giải trí thoải mái. Điều này
chính là một trong những yếu tố làm gia tăng giá trị giỏ hàng trên lượt mua và
tạo ra doanh số cho các gian hàng. Sự khác biệt, mang đậm chất văn hóa phục vụ
của người Nhật Bản, với AEON được mang tầm chiến lược cạnh tranh: “Thấu hiểu từng
nhu cầu nhỏ nhất của khách hàng khi hướng tới một cuộc sống thông minh tiện
ích”.
Chin-su khác biệt hóa bằng:
“Sạch”
Tưởng chừng từ bao đời nay chúng ta vẫn sử dụng nước mắm sẽ
không có gì phải lo lắng về bẩn và sạch, liệu nước mắm thì có gì để khác biệt
đáng kể? Vậy mà từ cái sự “sạch” này lại giúp tạo ra một công ty sản xuất hàng
tiêu dùng MASAN, chủ thương hiệu Chin-su, thống lĩnh thị trường nước chấm. Chỉ
riêng nước tương đã chiếm trên 70 thị phần trong nước. Cùng bị cáo buộc có chất
gây ung thư trong sản phẩm như nhiều nhà sản xuất khác vào năm 2005 nhưng tháng
9 năm 2007 MASAN Food đã cho ra đời nước tương Tam Thái Tử với tuyên bố trao
thưởng 1 tỉ đồng cho ai tìm thấy chất 3-MCPD trong sản phẩm này. Tiếp sau đó là
sự thành công của nước “chấm” Chin-su với sự khác biệt “sạch” khi sử dụng
phương pháp Marketing nghiên cứu hành vi người tiêu dùng để cho thấy: các loại
nước mắm khác trên thị trường có nguy cơ nhiễm khuẩn và cặn?
Trong bối cảnh ở Việt Nam, nỗi lo về an toàn thực phẩm gây ảnh
hưởng tới sức khỏe và khả năng kiểm soát của cơ quan chức năng còn hạn chế thì
người tiêu dùng phải tự bảo vệ lấy mình nên yếu tố “sạch” lại là một sự khác biệt
có giá trị. Nếu gắn sự khác biệt này cho sản phẩm bán ở các nước có sự nghiêm
ngặt trong việc kiểm soát chất lượng như châu Âu hay châu Á là Nhật Bản thì việc
tuyên bố nước chấm “sạch”, thịt lợn “sạch”, rau “sạch” chắc chắn họ không quan
tâm vì đối với tiêu chuẩn của họ thì sạch là một yếu tố đương nhiên. Khi đó sự
khác biệt này sẽ chẳng có mấy giá trị.
TH True Milk khác biệt hóa
bằng: “Thật sự thiên nhiên”
Chen chân vào thị trường sữa vốn những thương hiệu rất mạnh đủ cả
nội lẫn ngoại như Vinamilk, Mộc Châu, Hanoi Milk, Ba Vì, Cô Gái Hà Lan,... đã
có thị phần và khách hàng truyền thống vững chắc, TH True Milk chọn cách tuyên
bố điểm khác biệt: Thật sự thiên nhiên. Đây là một cách làm thú vị với những sản
phẩm tưởng chừng rất khó tìm ra điểm khác biệt, vì sữa nào chẳng vắt từ con bò
cái, lẽ dĩ nhiên phải luôn sạch vì đây là loại thực phẩm rất dễ bị nhiễm khuẩn.
Thông điệp “Tinh túy thiên nhiên được giữ vẹn nguyên trong từng
giọt sữa tươi sạch”, được chứng minh bằng quy trình chăn nuôi theo trang trại
và sản xuất khép kín với phương pháp công nghiệp, cỏ được ủ chua, bò được uống
nguồn nước tinh khiết, tắm mát, nghe nhạc, tận hưởng môi trường trong lành vệ
sinh của những cánh đồng cỏ tại Nghệ An. Để người tiêu dùng tin tưởng mình là
“Sữa sạch” và “Thật sự thiên nhiên” như thế nào. TH tuyên bố trước và dường như
cho thấy không giống như một số công ty khác, vẫn do hộ người dân chăn nuôi, cỏ
và nước không đảm bảo vệ sinh. Cách làm Marketing này không rõ có phải là lí do
khiến người mua tăng thêm hay không nhưng đã làm cho các đối thủ khác phải “nhảy”
lên tranh luận cũng như phản đối vì sự ngầm dụ “Chẳng nhẽ các hãng sữa khác là
không sạch?”.
UBER khác biệt hóa bằng: Phương thức kết nối hành khách tới taxi
Khi mới vào Việt Nam, mô hình kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển
taxi này đã gặp những phản ứng dữ dội từ các công ty cung cấp dịch vụ taxi truyền
thống khác. Đã có nhiều đề nghị cấm Uber tham gia vào lĩnh vực vận chuyển vì
thương hiệu này không sở hữu bất kỳ phương tiện xe cộ hay tài xế nào. Thực chất,
Uber là loại hình kinh doanh mới dựa trên sự phát triển của công nghệ: Sử dụng
công nghệ 3G để kết nối giữa hành khách và tài xế để có được phương thức di
chuyển hiện đại. Hành khách sử dụng điện thoại có kết nối để tìm xe gần nhất,
chọn và đặt chỗ. Tính đến 16 tháng 12 năm 2014, dịch vụ Uber đã có mặt tại 53
Quốc gia và hơn 200 thành phố trên toàn thế giới, công ty được định giá hơn 40
tỉ USD.
Sự khác biệt mà Uber tạo ra cho người đi taxi là thỏa mãn nhu cầu
di chuyển với chất lượng của dịch vụ có một số điểm tốt hơn các hãng taxi truyền
thống mà lại trả mức phí thấp hơn. Uber sử dụng phương tiện như xe cá nhân (xe
không đeo biển taxi), minh bạch về cước phí theo quãng đường đã xác định, lái
xe thân thiện và lịch sự. Uber quản lý cả thái độ phục vụ thông qua chức năng
đánh giá. Mô hình này mặc dù mang lại giá trị trải nghiệm mới cho khách hàng
nhưng hiện vẫn đang là chủ đề của các cuộc biểu tình được diễn ra từ các tài xế,
hãng taxi và chính phủ vì họ cho rằng Uber là một hoạt động taxi bất hợp pháp
thiếu sự công bằng và thỏa hiệp về an toàn cho hành khách. Hiện nay Uber vẫn bị
cấm ở nhiều nước như Tây Ban Nha, Pháp, Đức vì nhiều lí do xuất phát được tố là
do lái xe không chuyên nghiệp và khó kiểm soát hành vi.
Đã có rất nhiều thương hiệu chọn “khác biệt hóa” để định vị chiến
lược công ty và xây dựng thương hiệu, cũng có một số khác thì lại coi đây như
là một hoạt động cải tiến quy trình hoặc tìm kiếm giá trị mới độc đáo cho sản
phẩm, hướng tới nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của tôi thì xét ở bản chất kinh tế, rõ
ràng Uber mang lại sự tối ưu trong việc sử dụng các nguồn lực là xe và tài xế,
giảm sự dịch chuyển lãng phí trên đường gây tắc nghẽn và khí thải. Đây là những
hấp dẫn mà người sử dụng taxi và các chính phủ khó bỏ qua. Vấn đề chỉ là thời
gian để hoàn thiện theo các điều kiện của Luật pháp cho loại hình kinh doanh mới
mẻ này mà thôi. Còn sự ảnh hưởng của môi trường cạnh tranh cùng ngành là điều tự
nhiên mà các công ty đều phải chấp nhận và điều chỉnh trong quá trình hoạch định
chiến lược.
Cholimex khác biệt hóa bằng: Đầu chổng xuống… đáy chổng lên
Chắc hẳn ai dùng tương ớt đều có cảm giác khó chịu khi tới cuối
lọ, rất khó đổ ra vì chúng dính chặt vào bề mặt của lọ. Vậy nhưng nhà sản xuất
Cholimex đã làm khác đi bằng cách quay miệng lọ xuống phía dưới. Điều này không
mới ở nước ngoài nhưng có bao nhiêu thương hiệu sản xuất tương ớt tại Việt Nam
quan tâm đến nhu cầu nhỏ như vậy trong nhiều năm qua? Cũng tương tự những lon sữa
đặc, khi nhà sản xuất sáng tạo ra loại có nắp giật để giúp khách hàng không cần
dùng đến các dụng cụ mở hộp lon. Điểm khác biệt này làm tăng thêm sự yêu thích
của khách hàng và chắc chắn sẽ được ưu tiên lựa chọn khi được bày trên quầy kệ,
vì tính tiện dụng và rõ ràng giúp tiết kiệm được đến tận giọt thơm ngon cuối
cùng. Nhưng điểm khác biệt này cũng rất dễ dàng bị các đối thủ khác bắt chước
và không mang lại lợi thế cạnh tranh cho thương hiệu.
Điều bảo đảm mang lại
thành công khi “khác biệt hóa”
Có muôn hình các cách để khác biệt hóa cho sản phẩm và dịch vụ. Cũng nhiều nẻo đường mà những sự khác biệt sẽ dẫn Doanh nghiệp đi tới thành công nhưng có lẫn cả những thất bại khó lường trước. Những khác biệt trên có nền tảng là lợi thế từ nguồn lực riêng về đất đai và tài chính (TH True Milk), tổ hợp của hoạt động R&D, phân phối và truyền thông (Chin-su Food), công nghệ (Uber) hoặc từ văn hóa (AEON), là những thứ mà không dễ gì bắt chước, mua về hay học hỏi được ngay trong thời gian ngắn. Một sự khác biệt hóa thành công là phải đảm bảo các đối thủ cạnh tranh không thể bắt chước hoặc rất lâu mới có thể đi theo, sau khi Doanh nghiệp đã định vị được trên thị trường. Điều đó có thể thực hiện được không? Câu trả lời là có thể, nếu như chúng được xác định và tổ chức thực hiện ở cấp độ là Chiến lược riêng của một công ty, và tôi xin chia sẻ về kỹ thuật thực hiện chúng ở những bài viết chuyên sâu khác.
Quy luật 5. Quy luật của sự dễ nhận dạng (visibility)
Người ta cho rằng bởi vì họ phải liên tục thấy một người, và hiển
nhiên người ấy sẽ trở nên nổi bật hơn và đáng tin tưởng hơn so với những người
khác.
Để thành công, một thương hiệu cá nhân phải được gợi nhắc lặp đi
lặp lại liên tục, cho đến khi nó tự động ghi dấu một cách có ý thức vào trong đầu
của nhóm công chúng mục tiêu (target audience). Sự dễ nhận dạng tạo ra khả năng
thừa nhận về chất lượng. Người ta cho rằng bởi vì họ phải liên tục thấy một người,
và hiển nhiên người ấy sẽ trở nên nổi bật hơn và đáng tin tưởng hơn so với những
người khác.
Quy định về nhận dạng trong luật tố tụng hình sự trước đây
Nhận dạng thường được tiến hành trong trường hợp cần nhận dạng
người, nhận dạng tử thi, nhận dạng đồ vật, súc vật, tài liệu, địa điểm. Có thể
tiến hành nhận dạng trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhận dạng trực tiếp là cho người
nhận dạng tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nhận dạng. Nhận dạng gián tiếp là nhận
dạng thông qua ảnh, băng ghi âm, qua băng video. Việc nhận dạng phải được tiến
hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật đã quy định. Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988 trước đây và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hiện nay quy định khi cần
thiết Điều tra viên có thể mời người hoặc đưa vật, ảnh cho người làm chứng, người
bị hại hoặc bị can nhận dạng. Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dừng về
những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.
Số người, vật hoặc ảnh đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và
về bề ngoài phải tương tự giống nhau. Đối với việc nhận dạng tử thi thì không
áp dụng nguyên tắc này. Trong trường hợp đặc biệt có thể cho xác nhận người qua
tiếng nói.
Nếu người làm chứng hay người bị hại là người nhận dạng thì trước
khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ
chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc giải thích đó phải
được ghi vào biên bản.
Trong khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu
hỏi có tính chất gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật
hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải
thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận người, vật
hay ảnh đó. Việc tiến hành nhận dạng phải có mặt người chứng kiến.
Biên bản nhận dạng phải được lập theo quy định của pháp luật và
cần ghi rõ nhân thân của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận
dạng; nhưng đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai báo,
trình bày của người nhận dạng.
Quy định về nhận dạng theo luật tố tụng dân sự hiện nay
Nhận dạng là hoạt động điều tra bằng cách đưa người, vật hoặc ảnh
cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can xác nhận người, vật hoặc ảnh đó (Điều
190, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
Để việc nhận dạng đạt kết quả, điều tra viên phải lấy lời khai của
người nhận dạng trước khi tiến hành nhận dạng để làm rõ những tình tiết, vết
tích và đặc điểm mà nhờ đó, người nhận dạng có thể nhận dạng được cũng như làm
rõ hoàn cảnh, điều kiện mà họ đã biết về những đặc điểm, vết tích ấy.
Để đảm bảo kết quả nhận dạng được khách quan, điều tra viên phải
chọn đối tượng tương tự cùng đưa ra nhận dạng với đối tượng nhận dạng chính.
Khi nhận dạng, số người, vật hoặc ảnh đưa ra ít nhất là ba và bề ngoài tương tự
giống nhau. Riêng việc nhận dạng tử thi thì không áp dụng quy định này. Khi tiến
hành nhận dạng phải có mặt người làm chứng, bị hại hoặc bị can, có mặt người chứng
kiến, người chứng kiến phải là người không có liên quan đến vụ án. Điều tra
viên phải thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp biết và viện kiểm sát phải cử kiểm
sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Nếu kiểm sát viên vắng mặt phải ghi rõ vào
biên bản nhận dạng.
Nếu người nhận dạng là người làm chứng hoặc bị hại thì điều tra
viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai
báo hoặc khai báo gian dối. Việc giải thích này phải được ghi vào biên bản; đối
với những người là đối tượng nhận dạng, điều tra viên yêu cầu họ phải giữ thái
độ tự nhiên, nghiêm túc và không được có cử chỉ hoặc lời nói nào tác động đến
tâm lí của người nhận dạng.
Trong quá trình nhận dạng, điều tra viên phải tạo điều kiện cho
người nhận dạng có thời gian quan sát, suy nghĩ và không được đặt những câu hỏi
có tính chất gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác định một người, một vật hay
một ảnh trong số được đưa ra thì điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã
căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận người, vật hay ảnh đó. Điều
tra viên so sánh với lời khai trước nếu thấy có mâu thuẫn thì yêu cầu họ giải
thích.
Trong trường hợp có nhiều người nhận dạng phải bố trí từng người nhận dạng riêng, không được để cho họ tiếp xúc với nhau trong khi nhận dạng. Sau khi nhận dạng, điều tra viên phải lập biên bản nhận dạng như quy định đối với biên bản hỏi cung bị can nhưng cần ghi rõ nhân thân của người nhận dạng và những người được đưa ra để nhận dạng, những đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng, các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng
Tính cách cá nhân phản ánh được bản chất thương hiệu trong công
chúng.
Quy luật mâu thuẫn
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là
quy luật mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
và biện chứng duy vật lịch sử khẳng định rằng: mọi sự vật và hiện tượng trong tự
nhiên đều tồn tại và mâu thuẫn bên trong. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi
sự vật của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Mâu thuẫn tồn tại
từ khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi một sự vật có rất
nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập. Mâu thuẫn
này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành…
Ngay từ thời cổ đại đã có những pháng đoán thiên tài về sự tác động
qua lại của các mặt đối lập và xem xét sự tác động đó là cơ sở vận động của thế
giới. Nhiều đại biểu triết học cổ đại Phương Đông đã xem vận động do sự hình
thành những đối lập và các đối lập ấy luôn luôn vận động. Nhà triết học Hy Lạp
cổ đại Hêracơlit- người được Lênin coi là ông tổ của phép biện chứng cho rằng
trong sự vận động biện chứng vĩnh viễn của mình, các sự vật đều có xu hướng
chuyển sang các mặt đối lập… Tư tưởng biện chứng về những đối lập đạt được đỉnh
cao nhất trong sự phát triển của phép biện chứng của các nhà triết học cổ điển
Đức, tiêu biểu là I. Cantơ và G. V. Hêghen.
Các antinômi của Cantơ xuất hiện trên cơ sở vượt quá trình độ nhận
thức có tính chất kinh nghiệm khi Cantơ xem các mặt đối lập la những đối lập về
chất. Song không giải quyết được vấn đề Các antinômi, Cantơ đã đi tới từ bỏ việc
thừa nhận các mâu thuẫn khách quan. Ông xem sự tồn tại của mâu thuẫn là bằng chứng
nói lên tính bất lực của con người trong việc nhận thức thế giới.
Khi nghiên cứu phép biện chứng trong sự vận động và phát triển của
“ý niệm tuyệt đối “, Hêghen đã kịch liệt phê phán quan điểm siêu hình về sự đồng
nhất (quan điểm này cho rằng đã đồng nhất thì loại trừ mọi sự khác biệt về mâu
thuẫn). Theo ông, đó là sự đồng nhất trừu tượng trống rỗng, không bao hàm một
nhân tố chân lí nào. Ông quan niệm bất kì sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác
biệt và mâu thuẫn. Ông là người sớm nhận ra vai trò của mâu thuẫn trong quá
trình vận động và phát triển:”Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động
và của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân
nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động. Tất cả mọi
vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó. Song do bị chi phối bởi quan
niệm duy tâm và lợi ích giai cấp Hêghen đã đẩy việc giải quyết mâu thuẫn không
thể điều hoà được trong “xã hội công dân” vào lĩnh vực tư tưởng thuần tuý.
Kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu tư tưởng về
mâu thuẫn, bằng việc tổng kết từ thực tế lịch sử loài người, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác đã cho rằng chúng ta phải tìm xung lực vận động và sự phát triển
của sự vật trong chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự vật.
Quan điểm lý luận đó được thể hiện trong quy luật thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập – Quy luật mâu thuẫn – đây là hạt nhân của phép biện chứng.
(1.) Các khái niệm cơ bản
của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Mặt đối lập
(1. 1.) Mặt đối lập là gì?
Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính, những tính quy định
có khuynh hướng trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong
hiện thực.
Ví dụ về mặt đối lập: Trong một nguyên tử có điện tích âm
>< điện tích dương; trong cơ thể sống có quá trình đồng hóa >< dị
hóa; trong xã hội có giai cấp: g/c thống trị >< g/c bị trị; tư tưởng con
người: đổi mới >< bảo thủ. Các mặt đối lập này phải có liên hệ với nhau,
nếu tách rời nhau thì chúng không còn là mặt đối lập (xét trong một chỉnh thể).
(1. 2.) Sự thống nhất giữa
các mặt đối lập là gì?
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là tính quy định ràng buộc lẫn
nhau, nương tựa vào nhau làm tiền đề tồn tại cho nhau giữa các mặt đối lập. Dó
đó nếu không có mặt đối lập này thì cũng sẽ không có mặt đối lập kia và ngược lại.
Sự thống nhất này còn nói lên sự đồng nhất giữa chúng: có nghĩa là giữa chúng
có điểm giống nhau, nên khi biến đổi thì chúng có thể hóa vào nhau.
1. 3. Sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập là gì?
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tương tác qua lại theo
xu hướng phủ định, bài trừ nhau của các mặt đối lập.
1. 4. Mâu thuẫn là gì?
Mâu thuẫn là sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Như vậy mỗi một mâu thuẫn cũng phải bao gồm hai mặt đối lập, hai mặt này vừa thống
nhất với nhau đồng thời hai mặt đó đấu tranh qua lại với nhau.
2. Phân tích quy luật thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
2. 1. Mâu thuẫn là hiện tượng
khách quan và phổ biến:
Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đêu là một thể thống nhất
được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược
chiều nhau, đối nhau…
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm “mặt đối lập” là phạm
trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những khuynh hướng phát triển ngược
chiều nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội, tư duy. Chính những
mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn
biện chứng. Do đó cần phải phân biệt rằng không phải bất kì hai mặt đối lập nào
cũng tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách
quan, không phải chỉ tồn tại trong đó hai mặt đối lập mà trong cùng một thời điểm
ở mỗi sự vật có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, có những mặt đối lập là tồn
tại thống nhất trong cùng một sự vật nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều
nhau, bài trừ phủ định và chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hóa này tạo thành nguồn
gốc động lực, đồng thời quy định các bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật
thì hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn
mang tính khách quan vì là cái vốn có trong các sự vật, hiện tượng và tồn tại
trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy nên có tính phổ biến.
Chính vì vậy mâu thuẫn rất đa dạng và phức tạp. Mâu thuẫn trong mỗi sự vật hiện
tương và trong các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau và trong bản thân mỗi sự vật
hiện tượng lại bao hàm nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn
lại có đặc điểm, vai trò tác động lẫn nhau đối với sự vận động và phát triển của
sự vật. Vì vậy cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một
cách cụ thể.
2. 2. Mâu thuẫn là một chỉnh
thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau:
2. 2. 1. Sự thống nhất của
các mặt đối lập:
Hai mặt đối lập trong sự vật tồn tại trong sư thống nhất của
chúng. “Sự thống nhất” của các mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải
chúng đứng bên cạnh nhau mà là “nương tựa” vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân bằng
như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này lấy mặt
đối lập làm tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngược lại. Nếu thiếu một
trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại
của sự vật. Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể
thiêú được cho sư tồn tại của bất kì sự vật hiện tượng nào. Sự thống nhất này
do những đặc điểm riêng có của bản thấn sự vật tạo nên.
Ví dụ: Quan hệ lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất trong
phương thức sản xuất: khi lự lượng sản xuất phát triển thì cùng với nó quan hệ
sản xuất cũng phát triển, hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự
phất triển của phương thức sản xuất. Nhưng quan hệ của lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
– Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ
các mặt phù hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với lượng sản xuất.
– Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng
thái biến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệ
sản xuất với lực lượng sản xuất.
– Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý
nghĩa nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất được coi là thỏa
đáng phải có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản xuất,
sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản
xuất.
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau,
“đồng nhất” với nhau. Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao
hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó. Do đó sự “đồng nhất” của các mặt đối lập
mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó, mặt đối lập này có thể
chuyển hoá sang mặt đối lập kia-khi xét về một vài đặc trưng nào đó.
Ví dụ: Sự phát triển kinh tế trong chủ nghĩa tư bản phục vụ lợi
ích giai cấp tư sản nhưng lại tạo tiền đề cho sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng
chủ nghĩa xã hội.
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động
ngang nhau của chúng. Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một
giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.
Tuy nhiên khái niệm thống nhất này cũng chỉ là tương đối. Bản
thân nội dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: thống nhất
của cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.
2. 2. 2. Sự đấu tranh của
các mặt đối lập:
Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn luôn tác
động qua lại với nhau, “đấu tranh” với nhau. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là
sự tác động qua laị theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.
Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh
thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo
thành động lực phát triển của bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ
và phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều
dạng khác nhau.
Ví dụ về sự đấu tranh của các mặt đối lập: Lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu, kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết
liệt. Chỉ có thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng nhiều hình thức kể cả bạo
lực mới có thể giải quyết được mâu thuẫn một cách căn bản.
Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn
nhau giữa các mặt đó. Sự thủ tiêu chỉ là một trong những hình thức đấu tranh cảu
các mặt đối lập. Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập tuỳ
thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa
chúng, phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, phụ thuộc vào điều
kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại
giữa hai mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm
thời của vật. Sự đấu tranh của mối quan hệ gắn bó với tính tuỵêt đối của sự vận
động và phát triển. Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là
tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Lênin viết:”Mặc dù thống
nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa nó chính là nó nhờ có sự thống
nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại
trong thế giới khách quan. Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tính tương đối
tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường
xuyên và liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng
thái sự vật ổn định cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất của các mặt đối lập
là có điều kiện thoáng qua, tạm thời tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập
bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
Mâu thuẫn biện chứng có quan hệ như thế nào với nguồn gốc của sự
vận động và sự phát triển?
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia ra làm nhiều giai đoạn.
Thông thường, khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ sự xung khắc
gay gắt. Tất nhiên không phải xung khắc bất kì sự khác nhau nào cũng được gọi
là mâu thuẫn. Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ
hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của
sự phát triển, thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn.
Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó
biến thành đối lập. Nếu hội đủ các mặt cần thiết hai mặt đối lập sẽ chuyển hoá
lẫn nhau. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới hơn xuất hiện với trình độ cao
hơn… Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không
ngừng từ thấp lên cao, chính vì vậy Mác viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận
động biện chứng chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt đối lập, sự đấu tranh
giữa hai mặt đối lập ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới”.
Nhấn mạnh hơn nữa tư tưởng ấy Lênin khẳng định” Sự phát triển là một cuộc đấu
tranh giữa các mặt đối lập”.
2. 2. 3. Sự chuyển hoá của
các mặt đối lập:
Không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữ chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một
trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài
trừ và phủ định lẫn nhau. Chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn
được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, đó chính là quá trình diễn
biến rất phức tạp với nhiều hình thức phong phú khác nhau.
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập
chỉ là sự hoán vị đổi chỗ một cách giản đơn máy móc. Thông thường mâu thuẫn chuyển
hoá theo hai phương thức:
+ Phương thức thứ 1: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong
kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới cao hơn về trình độ.
+ Phương thức thứ 2: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ về sự chuyển hoá của các mặt đối lập: Nền kinh tế Việt Nam
chuyển từ kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản
lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tóm lại: Từ lý luận về mâu
thuẫn cho ta thấy trong thế giới hiện thực bất kì sự vật hiện tượng nào cũng chứa
đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng phát triển
ngược chiều nhau. Sự đâú tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập trong những điều
kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến của
thế giới. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành, sự
vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này lại
đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy
mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và
biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi sự
phát triển.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
– Phải có thái độ khách quan trong việc nhận thức mâu thuẫn của
sự vật: đó là thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn, phát hiện kịp thời mâu
thuẫn, xuất phát từ bản thân sự vật để tìm ra mâu thuẫn của nó, phải xem xét
phân tích một cách chi tiết cụ thể. . .
– Phải nắm vững phương pháp giải quyết mẫu thuẫn đó là thông qua
đấu tranh giữa các mặt đối lập chứ không được phép dung hòa các mặt đối lập,
tuy nhiên phải vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh.
– Phải biết vận dung linh hoạt các hình thức giải quyết mâu thuẫn
thông qua hình thức chuyển hóa mặt đối lập. Đó có thể là một trong hai mặt đối
lập chuyển hóa (đồng hóa) vào mặt còn lại (chuyển hóa giai cấp tư sản thành
giai cấp vô sản), hoặc mặt này thủ tiêu mặt kia, hoặc cả hai mặt cùng chuyển
hóa sang những hình mới của mình (VD: giải quyết mâu thuẫn giữa nông thôn và
thành thị: cải tạo nông thôn thành nông thôn mới, làm ranh giới, sự khác biệt
giảm dần)
4. Vận dụng quy luật thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống thực tiễn hiện nay
Dưới đây là một số bài viết về vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống thực tiễn hiện nay.
(1. )Khái quát chung về
kinh tế thị trường (KTTT):
Trong mô hình cũ của CNXH, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu dựa
trên mệnh lệnh, kế hoạch của Nhà nước và một hệ thống bao cấp từ sản xuất đến
tiêu dùng. Cơ chế kinh tế này, tuy có ưu điểm là tránh được phân cực xã hội,
nhưng lại bộc lộ nhiều nhược diểm cơ bản. Chẳng những quy luật kinh tế khách
quan được coi thường, mà tính tự chủ, năng động, sáng tạo của người lao động
cũng không được phát huy một cách đầy đủ. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành hơn
10 năm qua ở nước ta gắn liền với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trương, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN.
Trứơc hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng
hoá, thị trường, cơ chế thị trường.
* Kinh tế hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tễ mà trong đó hình
thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường.
* Thị trường: trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ đều được mua bán trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu
cơ của toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển
cùng với sự ra đời và triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
– Thị trường gắn liền với địa điểm nhất định, trong đó diễn ra
những quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá.
– Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu
thông trên thị trường ngày càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng,
khái niệm thị trường được hiểu đầy đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá
thông qua tiền tệ làm vật môi giới.
– Ngày nay các nhà kinh tế học thống nhất với nhau khái niệm về
thị trường như sau: Thị trường là một quá trình mà trong đó người bán và người
mua tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng.
* Cơ chế thị trường: là cơ chế tự chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới
sự tác động khách quan của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó được
giải quyết những vấn đề cơ bản của nền kinh tế.
Từ đó ta có khái niệm: “Nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ
bản của nó do thị trường quyết định, vận động theo cơ chế thị trường gọi là “nền
kinh tế thị trường””.
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống ”
có hai ý kiến khác nhau:
Một là, xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế lấy
thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối các
nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích vật chất, cung cầu, thị trường mua bán giữa hai
bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế. Nó là một phương tổ chức vận
hành kinh tế – xã hội. Tự nó không mang tính kinh tế – xã hội, không tốt mà
cũng không xấu. Tốt hay xấu là do người sử dụng nó. Theo quan điểm này, kinh tế
thị trường là vật “trung tính”, là “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cũng được.
Hai là, xem kinh tế thị trường là một loại quan hệ kinh tế – xã
hội, nó in đậm dấu của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị trường
là một phạm trù kinh tế hoạt động, có chủ thể của quá trình hoạt động đó, có sự
tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động. Trong xã hội có giai cấp, chủ thể
hoạt động trong kinh tế thị trường không phải chỉ là cái riêng lẻ đó còn là những
tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của các chủ thể hành động
đó có thể có lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp này, có hại cho tầng lớp
hay giai cấp khác cho nên kinh tế thị trường có mặt tích cực, có mặt tiêu cực
nhất định không thể nhấn mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền kinh tế thị
trường vận động theo cơ chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của
“bàn tay vô hình” theo cách nói của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học tư sản
cổ điển Anh ở thế kỷ XIII mà trái lại chúng đều vận động theo cơ chế thị trường
có sự điều tiết của nhà nứơc ở những mức độ phạm vi khác nhau. Và ở nước ta
kinh tế thị trường mà Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển
trong thời kì quá độ lên CNXH, là “nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước”.
* Đặc điểm của nền kinh tế
thị trường:
Có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển đến
giai đoạn cao. Kinh tế thị trường là một loại hình mà trong đó, các mối quan hệ
kinh tế giữa con người với con người đuợc biểu hiện thông qua thị trường, tức
là thông qua việc mua-bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ. Trong kinh tế thị trường,
các qua hệ hàng hoá -tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, có ý
nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Do nảy sinh và hoạt động
một cách khách quan trong những diều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị trường
phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển sức
sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị
trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù quáng, sự
cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ…
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của
nó là người sản xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi chứ không
phải để tự tiêu dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước.
KTTT là nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành
phần kinh tế, về hình thức phân phối.
KTTT được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động
nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
KTTT là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng đưa nền
kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển
trong cả những điều kiện vốn, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.
KTTT luôn vận động, phát triển tái sinh, do đó để nâng cao hiệu
lực quản lý của nhà nước, các chính sách kinh tế vĩ mô phải thường xuyên được bổ
xung hoàn thiện.
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý bằng
pháp luật.
(2.) Kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
(2. 1. )Sự cần thiết khách
quan phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau.
Mỗi một mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều
kiện lịch sử cụ thể. Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và
đời sống của nhân loại đã và đang trãi qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai thời
đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung-tự
cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh tế
thị trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế–xã hội đầu tiên của nhân loại.
Đó là phương thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng những tặng vật
của tự nhiên và sau đó đựơc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự
nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con
người. Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuàn hoàn khép kín giữa con người và tự
nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt động kinh tế
gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung-tự cấp. Nó đã tồn
tại và thống trị trong các xã hội Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến và tuy không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong XHTB cho
đến ngày nay. Kinh tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung-tự cấp gắn liền với
quan niệm truyền thống về kinh tế XHCN tuy đã có tác dụng trong điều kiện chiến
tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta, song khi chuyển
sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó đã tạo ra nhiều khuyết tật,
nền kinh tế không có động lực, không có sức đua tranh, không phát huy được tính
chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất- kinh doanh, sản
xuất không gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn át khách quan và triệt
tiêu mọi động lực-sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, đã làm cho nền
kinh tế suy thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của CNXH không thực
hiện được.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời
từ chế độ Cộng sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự
phân công lao động xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung-tự cấp sang kinh
tế hàng hoá là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời
đại văn minh của nhân loại. Trong lịch sử của mình, vì thế của kinh tế hàng hoá
cũng dần được đổi thay từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế – xã hội không phổ biến,
không hợp thời trong xã hội Chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và
nhân dân tự do, đến chỗ được thừa nhận trong xã hội Phong kiến, và đến CNTB thì
kinh tế hàng hoá giản đơn không những được thừa nhận mà còn được phát triển đến
giai đoạn cao hơn đó là kinh tế thị trường.
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã
trãi qua ba giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ
kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn
phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là
sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do, Nhà nước không can thiệp
vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại.
Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở
rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ
bản như :phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh tự
do thương mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu…
đó là cơ chế hỗn hợp “có sự điều tiết vĩ mô” của nhà nước để khắc phục những
khuyết tật của nó.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát
sẽ “hàng ngày hàng giờ đẻ ra CNTB” và sự phát triển của kinh tế thị trường
trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình thành và phát triển của CNTB, nhưng
tuyệt nhiên kinh tế thị trường không phải là chế độ kinh tế – xã hội. kinh tế
thị trường là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế. Đây là một kiểu tổ chức
kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển
lực lượng sản xuất. Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá
trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân
công lao động xã hội, phát triển khoa học – công nghệ mới và ứng dụng chúng vào
thực tiễn sản xuất kinh doanh. Sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với
quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học – kỹ thuật, của lực
lượng sản xuất.
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản trong nền kinh tế nước ta sản
xuất nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-tự
cấp đang còn chiếm ưu thế. Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của
văn minh nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là một nước
nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số
một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường đi tới. Muốn vậy phải chuyển
toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển là phát triển nền
kinh tế thị trường cùng với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã
hội, nhân văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về
lượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm cả sự thay đổi về chất (những biến đổi
về mặt xã hội). Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C. Mác là một thành
tựu khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của nhân
loại, và sự phát triển của xã hội loài ngừơi sẽ tiến tới Chủ nghĩa Cộng sản mà
giai đoạn thấp của nó là CNXH. CNXH không đối lập với phát triển, với kinh tế
thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến
bộ xã hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết của các quan hệ xã hội,
là một sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết liệt của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ
Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động đem lại cuộc sống hạnh phúc và giàu
sang cho nhân dân lao động. Vì vậy, sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại
và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh, hạnh phú của nhân
dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của toàn xã hội-toàn dân tộc, là sự
phát triển mang tính XHCN, là sự phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
(2. 2.) Một số đặc điểm
chung của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung –
hành chính, quan liêu – bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là
nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong
hiện nay và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ
VII thông qua vào năm 1991 đã nêu lên những đặc trưng bản chất của nền kinh tế
thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta xây
dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại. Mặc dù nền
kinh tế nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi
nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, thì thế giới
đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại. Bởi vậy, chúng ta không
thể và không nhất thiết phải trãi qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và
giai đoạn kinh tế thị trường tự do mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trường
hiện đại. Mặt khác, thế giới vẫn nằm trong thời quá độ từ CNTB lên CNXH, cho
nên sự phát triển kinh tế – xã hội nước ta phải theo định hướng XHCN là cần thiết
khách quan và cũng là nội dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” vừa là mục tiêu vừa là nội
dung, nhiệm vụ của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều
thành phần với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một
số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đế sự phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước. Nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường phải là một nền kinh tế
đa thành phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng
ta sẽ xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi
“Bàn tay hữu hình” của nhà nước trong việc điều tiết, quản lí nền kinh tế đó. Đồng
thời, chính nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường.
Việc xây dựng kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất
bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN.
Tính định hướng XHCN của nền kinh tế ở nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở cho chế độ xã hội
mới-chế độ XHCN.
Thứ ba, nhà nước quản lý nền định hướng XHCN ở nước ta là nhà nước
pháp quyền XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vỡ dân. Thành tố quan trọng
mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước tham gia
vào các quá trình kinh tế. Nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vỡ dân”,
nhà nước công nông, nhà nước của đại đa số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh
đạo của ĐCS Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm
giữ vững định hướng XHCN trong việc phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại ở
nước ta.
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua
cơ chế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước. Mọi hoạt động
sản xuất- kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thụng qua thị trường. Điều
đó có nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta vận động theo
những quy luật nội tại của nền kinh tế thị trường nói chung, thị trường có vai
trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh tế. Việc quản lý Nhà
nước nhằm hạn chế, khắc phục những “thất bại của thị trường”, thực hiện các mục
tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức
quan trọng. Sự quản lý của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định,
đạt hiệu quả, đặc biệt là bảo đảm sự công bằng và tiến bộ xã hội. không có ai
ngoài nhà nước lại có thể giảm bớt sự chênh lệch giữa giàu- nghèo, giữa thành
thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nước.
Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế sao cho
tương hợp với thị trường.
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế
thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là
nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Quá trình phát triển
của kinh tế thị trường đi liền với xã hội húa nền sản xuất xã hội. Tiến trình
xã hội húa trờn cơ sở phát triển của kinh tế thị trường là không có biên giới
quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng của kinh
tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng
quốc tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa và toàn cầu hóa đang ngày
càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng
khoa học – công nghệ hiện nay. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt
hậu xa hơn và vượt qua thách thức là yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát
triển trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện đại, Việt Nam không thể đóng
cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung- tự cấp mà phải mở của, hội
nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia.
Thứ sáu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm
công bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường
ở nước ta. Phát triển trong công bằng được hiểu là những chính sách phát triển
phải bảo đảm sự công bằng xã hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân dân đều có thể
tham gia vào quá trình phát triển va được hưởng những thành quả tương xứng với
sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm bớt chênh lệch giàu – nghèo giữa
các tầng lớp dân cư giữa các vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta phát triển
kinh tế thị trường nhưng chủ trương bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện sự thống
nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, trong tất cả các giai đoạn của
sự phát triển kinh tế ở nước ta. Mức độ bảo đảm công bằng xã hội phụ thuộc rất
lớn vào sự phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia.
Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta phải là “Quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại
trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ỏi, có văn hóa, có kỉ cương, xóa bỏ áp
bức bất công tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc”.
Từ những đặc trưng và sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế
thị trường ở nước ta chúng ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn:
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa
toàn diện, khép kín sang một nền kinh tế thị trường mới, theo định hướng XHCN.
Công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội được mở đầu từ Đại hội VI của ĐCS Việt Nam (
1986)
– Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định “Công cuộc đổi mới đó
đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xã hội”.
– Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định “Nước ta đó ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt cũng chưa được củng cố vững chắc”.
Nền kinh tế Việt Nam đó ra khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế
ngày càng cao: tốc độ tăng GDP bình quân thời kỳ 1986- 1990 là 3, 6%; 1991-1995
là 8, 2%; 1996-2000 là 7%.
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67, 4% năm 1990 xuống 12, 7% năm
1995, 0, 1% năm 1999 và 0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rừ
rệt, văn hóa không ngừng tiến bộ. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đó trở
thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
* Quốc phũng và an ninh được đảm bảo, ổn định chính trị được giữ
vững, các mối quan hệ kinh tế được mở rộng với nhiều nước trên thế giới, bộ mặt
đất nước đó có những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực.
Đại hội IX khẳng định :”Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng
XHCN, đó là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng
quát của nước ta trong thời kỡ quá độ lên CNXH.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội IX Đảng ta một lần nữa
khẳng định: “Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới
đó chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh được thông qua tại đại hội VII của Đảng
đồng thời giúp đảng ta nhận thức ngày càng rừ hơn về con đường đi lên CNXH ở nước
ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định : Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vỡ thắng
lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH định hướng
cho mọi hoạt động của Đảng ta hiện nay và trong những thập kỉ tới. Đảng và nhân
dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Tuy vậy đi đôi với thành tựu là rất nhiều khó khăn đũi hỏi phải
có phương hướng giải quyết đúng đắn, đặc biệt, lao động và việc làm đang là vấn
đề gay gắt nổi cộm nhất hiện nay với tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 74% và tỉ
lệ thiếu việc làm ở nông thôn là 30% tỉ lệ lao động được đào tạo về chuyên môn
kĩ thuật cũng thấp trong tổng số lao động :theo kết quả điều tra dân số và nhà ở
ngày 1/4/1999, công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ chiếm 30, 3%; lao động có trình
độ trung học chuyên nghiệp chiếm 36, 8%; trình độ Cao đẳng và Đại học chiếm 31,
6%; trên Đại học chiếm 1, 3%. [Kinh tế và phát triển số 42, tháng12/2000,
tr19]. Từ năm 2001, khi Việt Nam áp dụng chuẩn hóa đói nghèo mới thì tỷ lệ đói
nghèo sẽ cũng khỏ hơn, khoảng 17% so với 11% chuẩn cũ. Hiện tại, mức tiêu dùng
của dân cư thấp, tích lũy nội bộ của nền kinh
tế mới đạt khoảng 25-27%GDP, cũng tích lũy rũng chỉ đạt dưới 20%
GDP. Trong khi đó kết cấu hạ tầng cũng yếu kém, sản lượng điện bình quân đầu
người mới chỉ đạt trên 340kwh, mật độ đường giao thông tính trên 1000 dân cũng
thấp xa so với các nước xung quanh. [Thời báo kinh tế Việt Nam, số 151,
18/12/2000]
Nguyên nhân phát sinh ra những khó khăn trên là trong nội bộ nền
kinh tế của nước ta vẫn cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn phát sinh trong quá trình
xây dựng kinh tế thị trường.
(3.) Những mâu thuẫn phát
sinh trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.
(3. 1.) Mâu thuẫn giữa
phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng CNXH trước hết phải
có con người XHCN. Yếu tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
cách mạng, bởi vỡ con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải
vật chất và văn hóa. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lựu của sự nghiệp xây dựng
xã hội mới, là mục tiều của CNXH. Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu đi lên CNXH,
chúng ta phải bắt đầu từ con người, lấy con người làm điểm xuất phát. Một trong
những điều kiện đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng con người trong giai
đoạn hiện nay là đời sống sinh hoạt vật chất. Nhưng nhu cầu về vật chất và tinh
thần phong phú của con người chỉ có thể được thỏa món trong một nền kinh tế vững
vàng, ổn định, phát triển cao, có tốc độ tăng trưởng nhanh. Việc tiến hành sự
nghiệp trồng người hôm nay gắn bó một cách chặt chẽ với quá trình mở rộng, hoàn
thiện kinh tế thị trường kết hợp với mở cửa giao lưu quốc tế. Đại hội Đảng lần
thứ IX đó khẳng định : “Giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển
giáo dục- đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa-
hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cở
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
KTTT là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế
giữa con người với con người được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông
qua việc mua- bán, trao đổi hàng hóa- tiền tệ. Trong kinh tế thị trường, các
quan hệ hàng hóa- tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trờn nhiều lĩnh vực, có
ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng. Do nảy sinh và hoạt động
một cách khách quan trong những điều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị trường
phản ánh trình đọ văn minh, và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển
sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lờn. Tuy nhiên, kinh tế
thị trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù quáng,
sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ, ô
nhiễm môi trường…
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng đối với
nước ta hiện nay, không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố
kinh tế thị trường. Việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ cế thị trường có sự
quản lý cả Nhà nước theo định hướng XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều
kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng phát triển con người cho
thế kỷ XXI.
Trong những năm vừa qua, kinh tế thị trường ở nước ta đó được
nhân dân hưởng ứng rộng rói và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi
dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm cho nền kinh tế sôi động hơn, các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển hơn, bộ mặt thị trường được thay đổi. Đây
là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy, nó thể hiện sự phát triển và vận
động đúng đắn các quy luật xã hội. quá trình biện chứng đi lên CNXN từ khách
quan đáng trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.
Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến:
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay không chỉ tạo ra điều kiện vật chất để
xây dựng, phát huy nguồn lực con người, mà cũng tạo ra môi trường xã hội thích
hợp cho con người phát triển hài hòa, toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.
kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều đó buộc con
người phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có tác phong nhanh nhẹn, có đầu óc
quan sát, phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả, từ đó nâng cao năng
lực hoạt động thực tiễn của con người, góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì
trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu từ ngàn đời
ở con ngời Viêt Nam. kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp để con
người mở rộng các mối quan hệ, giao lưu buôn bán, từ đó hình thành các chuẩn mực
văn hóa, đạo đức mới theo tiêu chí thị trường như chữ tín trong chất lượng, chữ
tín trong giao dịch ….
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế
thị trường là những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người, có những
lúc, những nơi, kinh tế thị trường không những không làm cho con người ta năng
động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược lại, cũng làm tha húa bản chất con người, biến
con người thành nô lệ sùng bài đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng
sức mạnh và lợi ích cá nhân, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm, văn hóa, đạo đức,
luân lý… Bờn cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường cũng có nhiều
khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Việc quá đề cao lợi ích cá nhân,
bất chấp lợi ích tập thể và lợi ích xã hội là một nguy cơ lớn. Lợi nhuận kích
thích sản xuất, nhưng mặt khác, lợi nhuận cũng tự phát đẩy con người tới những
hành vi phá hoại môi trưũng sống và làm tha húa đạo đức, nhân phẩm. Sự cạnh
tranh trên thương trường làm cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn nhưng
nhiều khi cũng làm mất đi lũng nhân ỏi, vị tha, biến con người thành những cỗ mỏy
chỉ biết tính toỏn một cách sũng phẳng, lạnh lựng, thiếu nhân tính. Quan hệ
hàng húa – tiền tệ làm sống động thị trường nhưng cũng làm xói mũn nhân cách và
hạ thấp phẩm giỏ của con người. Ngoài ra đi kèm với kinh tế thị trường là hàng
loạt tệ nạn xã hội để đưa đến những rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt
nhân, tế bào của xã hội. Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buụn lậu, hối lộ,
tham nhũng… là những căn bệnh trầm kha không dễ khắc phục trong kinh tế thị trường.
Thật không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu dùng
không cẩn thận rất dễ bị đứt tay.
Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường và mục
tiêu xây dựng con người XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước
ta hiện nay. Đây chính là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế
thị trường và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu
tranh. kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng, phát huy nguồn
lực con người, vừa tạo ra những độc tố đầu độc, hủy hoại con người.
Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không đơn
giản. Đối với nước ta, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng
con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN. Đảng ta xác định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với
CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan,
cần htiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đó được xây dựng ”. Như vậy,
Đảng ta vạch ra sự thống nhất giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con
người mới XHCN : ”Việc áp dụng cơ chế thị trường đũi hỏi phải nâng cao năng lực
quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn
vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt vấn đề này không phát huy được tác động
tích cực, to lơn cũng như ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục những tiêu cực, khiếm
khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào
phục vu công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động
văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục tâm lý sựng bỏi đồng tiền, bất chấp đạo lý,
coi thưũng các giỏ trị nhân văn. Phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần, đạo
đức, thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc. Đây chính là công cụ,
phưong tiện quan trọng để tác động, góp phần giải quyết mâu thuẫn đó nêu”. Và Đại
hội Đảng IX cũng xác định : ”Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết cán bộ lãnh đạo
và quản lý ở các cấp vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về
lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với
nhân dân”.
Túm lại, kinh tế thị trường là mục tiều xây dựng CNXH là một mâu
thuẫn biện chứng xã hội trong thực tiễn nước ta hiện nay. Mâu thuẫn đó được giải
quyết bằng cách tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý
của Nhà nước và phát huy tối đa các giá trị tinh thần dân tộc.
(3. 2. )Mâu thuẫn giữa
phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN.
Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy mới của
Đảng ta thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng VI là : ”chính sách, cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần”. Từ đó, Đảng ta từng bước xác định chủ trương xây dựng ở nước
ta một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Trải qua thực tiễn đổi mới,
chính sách, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN đó đưa lại hiệu quả, góp phần
lớn vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Năm 1996, khi tổng
kết 10 năm đổi mới, chúng ta đó thống nhất đánh giá, đó là quyết sách chiến lược
đúng đắn của Đảng. Nhờ đó đó tạo nờn những thành tựu to lớn, đưa nước ta vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào
dự thảo văn kiện Đại hội IX, có ý kiến băn khoăn về việc Đảng ta tiếp tục xác định
chủ trương xây dựng ” nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nhất là cụm từ
”định hướng XHCN” có người cho rằng :” cả về lý thuyết và thực tiễn, kinh tế thị
trường – điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế – không thể đi đôi với định hướng
XHCN được” và ”Giữa hai cái phải chọn lấy một, không thể ”Bắt cá hai tay”” và
theo họ, nếu chọn định hướng thì “đấy là thất bại, là ngừ cụt”. í kiến đó lập
luận rằng đó là nền kinh tế thị trường thì đương nhiên nó vận động theo định hướng
TBCN, nước ta đang cần phát triển, cần vận dụng cơ chế thị trường để thu hút mọi
nguồn lực cho phát triển kinh tế, thì hà tất phải nêu “định hướng XHCN”. Việc
nêu cụm từ ”định hướng XHCN” có thể dẫn đến hai điều bất lợi: một là, kinh tế
thị trường là sản phẩm của CNTB nên không thể gắn cho nó cái định hướng XHCN;
hai là, nêu định hướng XHCN vào đây dễ gây ra nghi ngại cho các nhà đầu tư, nhất
là các nhà đầu tư tư nhân trong nước và các nhà đầu tư từ các nước TBCN.
Như đó biết, vào cuối thời kỳ cụng xã nguyên thủy, đầu thời kỳ
xã hội nụ lệ, loài người đó có một bước nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của
cải vật chất. Trong sản xuất đó bắt đầu có sản phẩm thặng dư, tức là phần sản
phẩm vượt quá phần sản phẩm tất yếu do người sản xuất tạo ra, mặc dù lúc đầu sự
”dư thừa” đó chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cùng với lao động tư hữu được xác lập,
người lao động đó có thể làm chủ những sản phẩm ”dư thừa” đó, mang trao đổi với
nhau để nhận lại những sản phẩm mà mình thiếu do kết quả của phân cụng chuyên mụn
húa đưa lại. Thị trường sơ khai xuất hiện từ đó.
Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mói đến
giai đoạn cuối xã hội phong kiến đầu xã hội TBCN thì kinh tế thị trường mới được
xác lập, và phải đến cuối giai đoạn của CNTB tự do kinh doanh cạnh tranh thì kinh
tế thị trường mới được xác lập hoàn toàn.
KTTT trước hết là kinh tế hàng hóa với đặc trưng phổ biến của nó
là những người sản xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán (để trao đổi), chứ
không phải để tự tiêu dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước. Ngày
nay, khi kinh tế thị trường hiện đại đó phát triển một cách phổ biến thì đặc
trưng căn bản đó không những không mất đi mà cũng được bổ sung, làm phong phú
thêm bởi các hình thức và nội dung của quan hệ trao đổi và vai trò can thiệp của
Nhà nước vào quá trình đó.
Như vậy, kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại
là một công trình sỏng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi,
đó là trình độ văn minh mà nhân loại đó đạt được. Do đó, mọi quan niệm cho rằng
kinh tế thị trường là phát minh riêng của CNTB là không có căn cứ : việc đồng
nhất kinh tế thị trường với CNTB để rồi né tránh, hoặc sử dụng nó như một công
cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng cơ chế thị trường có nghĩa là mặc nhiên chấp
nhận con đường TBCN… đều có thể dẫn đến những sai lầm đáng tiếc. Sự ra đời của
kinh tế thị trường TBCN chỉ đẩy lùi kinh tế thị trường lên một giai đoạn phát
triển mới về chất cả về quy mô, tính chất và mức độ bao quát của nó. Là sự phát
triển tiếp tục xu hướng khách quan nền kinh tế của CNXH nói chung, của thời kỳ
quá độ lên CNXH nói riêng, là một sự phát triển mang tính phủ định biện chứng đối
với kinh tế thị trường TBCN. Từ đấy ra đời một nền kinh tế thị trường mới về chất.
KTTT bao giờ cũng tồn tại dưới một thể chế chính trị, một chế độ
chính trị. Nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường, CNTB đó đạt được những
thành tựu về kinh tế – xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất
lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả
về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con người nhạy cảm, tinh tế, với khả
năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển.
Ngay trong văn kiện Đại hội VIII, Đảng ta đó khẳng định : “Sản
xuất hàng hóa là thành tựu, văn minh của nhân loại”, chúng ta không chỉ kiên định
“Không bỏ qua kinh tế hàng hóa” như văn kiện Đại hội VI đó nêu, mà cũng khẳng định
kinh tế thị trường cũng tồn tại khách quan cho đến khi CNXH được xây dựng.
Trong dự thảo văn kiện Đại hội IX lại tiếp tục khẳng định :”Đảng và Nhà nước ta
chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thi trường, có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN”.
Mặt khác, vấn đề định hướng phát triển cho nền kinh tế thị trường
cũng là vấn đề đáng được quan tâm. Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng
kinh tế thường xuyên xuất hiện sau chức năng hành chính công, lúc đầu chỉ “mờ
nhạt”, đơn thuần là thu thuế của các tầng dân cư có hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nhưng, do tính tự phát của kinh tế thị trường đó gây ra hậu quả ngày
càng nặng nề mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nước phải can thiệp sâu hơn về kinh
tế. Từ đó, chức năng kinh tế của Nhà nước cũng dần được xác định. Học thuyết của
J. M. Kên (Nhà kinh tế học Anh, 1884. 1946) là một điển hình về sự kờu gọi phải
có “Bàn tay hữu hình” của Nhà nước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự
phát, tiêu cực của cơ chế thị trường… Do đó, việc can thiệp vào quá trình kinh
tế đó được coi là đương nhiên, mang tính quy luật của kinh tế thị trường, và việc
định hướng phát triển cho nền kinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất
giai cấp của đảng cầm quyền.
Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai
cấp cầm quyền, nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường là nhằm bảo vệ lợi ích
của giai cấp, Đảng cầm quyền. Nhà nước TBCN can thiệp vào kinh tế thị trường
ngay từ buổi bình minh của nú là để đẩy nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy của
tư bản, nhằm hình thành và phát triển CNTB; ngay cả sau này, khi nhà nước TBCN
ban hành các đạo luật chống độc quền cũng không phải vỡ lợi ích của giai cấp cần
lao mà vẫn vỡ lợi ích toàn cục của chế độ TBCN nói chung và của các tập đoàn
tài chính nói riêng.
Vì vậy, việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế, định hướng
XHCN cho nền kinh tế thị trường là điều đương nhiên, phù hợp với tính quy luật
đó hình thành trong thực tiễn. Ngay trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII, Đảng
ta đó khẳng định :”Đổi mới và tăng cường quản lý Nhà nước về kinh tế – xã hội”.
Coi đó như là một chính sách lớn để đảm bảo cho định hướng XHCN được thực hiện.
Việc xác định “định hướng XHCN” cho nền kinh tế thị trường mà
chúng ta đang xây dựng liệu có gây ra sự nghi ngại cho các nhà đầu tư hay
không? Chúng ta biết rằng, mục đính đầu tư của các nhà Tư bản trong hay ngoài
nước trước hết là phải thu được lợi nhuận, tỷ xuất lợi nhuận càng cao thì khả
năng thu hút đầu tư càng lớn, đó là bản chất của vấn đề. Do đó, việc có hay
không sự nghi ngại của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư có xuất xứ từ các
nước TBCN, phụ thuộc trước hết vào vấn đề lợi thế so sánh giữa thị trường Việt
Nam với thị trường quốc tế; sau đó là những vấn đề thuộc môi trường kinh doanh
như :cơ sở hạ tầng, hệ số an toàn về vốn, pháp luật, chính sánh, sự hấp dẫn của
thị trường, những ưu đói có tính cạnh tranh cao trong thu hỳt đối tác đầu tư so
với các nước trong khu vực… chứ không phải là có hay không cụm từ “định hướng
XHCN” trong văn kiện của Đại hội Đảng.
Trong bước chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề “định hướng
XHCN” được xem xét một cách cơ bản, toàn diện từ kinh tế đến chính trị, xã hội.
Xột riêng gúc độ kinh tế, “định hướng XHCN” chỉ được xem từ bản thân phương thức
sản xuất, từ hình thỏi kinh tế – xã hội, không thể xem xét “định hướng XHCN”
trong phạm vi kinh tế. Xét riêng phạm vi kinh tế, có hai nhân tố khách quan trực
tiếp góp phần bảo đảm tính “định hướng XHCN”. Trước hết là định hướng về chế độ
kinh tế, vai trò quản lý của Nhà nước XHCN và sau đó là vai trò chủ đạo của
kinh tế Nhà nước.
Về chế độ kinh tế, trải qua một số năm đổi mới, nền kinh tế nước
ta đó mang bản chất mới, chứa đựng những động lực phát triển bên trong từ những
khả năng vốn có của chế độ sở hữu đa dạng. Nhờ chuyển sang kinh tế thị trường,
kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, bước đầu niềm tin vào
CNXH của người dân được củng cố. Trong lũng dân, CNXH không chỉ là những triết
tự lý thuyết trừu tượng mà gắn liền với những vấn đề cụ thể của đời thường tiến
về phía trước phù hợp với cách nghĩ, cách làm của hàng triệu quần chúng. Vì vậy,
càng đổi mới kinh tế càng gần với CNXH hơn.
Chế độ kinh tế mới mang tinh thần dân chủ, giải phóng sức sản xuất,
thật sự tôn trọng cá nhân, phát triển cá nhân trong quan hệ hợp tác, là cơ sở của
nền dân chủ mang bản chất XHCN, trong đó quyền công dân về kinh tế, trước hết
là quyền tự do sản xuất, buôn bán công khai, hîp pháp, lao động tích lũy phát
triển sản xuất- kinh doanh, biết làm giàu cho mình và cho xã hội được bảo đảm.
Cũng từ đó lợi ích thiết thân của mỗi người được thực hiện tạo điều kiện để thực
hiện chiến lược kinh tế – xã hội của đất nước. Chúng ta không thể thực hiện được
ý tưởng “định hướng XHCN” nếu không coi trọng đúng mức kinh tế hàng hóa, kinh tế
thị trường gắn kiền với kinh tế nhiều thành phần và xu hướng xã hội hóa, không
biệt lập mà đoàn kết, trong đó có xu hướng chỉ đạo.
“Định hướng XHCN” cũng thể hiện ở quan hệ phân phối: phân phối cụng
bằng sẽ tạo động lực cho sự phát triển. Trong kinh tế thị trường, chúng ta chủ
trương phân phối theo lao động, theo vốn trên cơ sở khuyến khích mọi người tự
do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, đồng thời thực hiện chính sách cụng
bằng xã hội. Chế độ XHCN là chế độ của con người, do con người, vỡ con người do
đó chúng ta chủ trương chống bóc lột, bất công, chăm lo sự nghiệp y tế, giáo dục,
đấu tranh cho nền đạo đức mới, một lối sống lành mạnh.
Khả năng định hướng trước hết phụ thuộc vào yếu tố chính trị- sự
lãnh đạo của Đảng, sự cân nhắc chọn lựa từ những yếu tố dân tộc, thời đại. Một
Đảng có đủ bản lĩnh mới vỡ CNXH, vỡ hạnh phỳc của nhân dân, có trớ tuệ, có khả
năng hình thành một hệ thống tri thức khoa học và cụng nghệ chính trị thích hợp,
có sức hỳt đối với các lực lượng kinh tế khác, có năng lực tổ chức thực tiễn.
Thực tiễn lãnh đạo cách mạng cũng như công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam chứng
tỏ không có một Đảng nào ngoài ĐCS Việt Nam làm được điều đó. Chính công cuộc đổi
mới đó củng cố thờm niềm tin của nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng, về con
đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đó lựa chọn.
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền, nhân tố định hướng cũng tựy
thuộc vào năng lực quản lý, điều hành nhà nước. Nhà nước điều hành nền kinh tế
trên cơ sở pháp luật và bằng pháp luật bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể
kinh tế, hạn chế những khuyết tật vốn có của thị trường, chống lại những động lực
vật chất trái chiều của nó. Khả năng định hướng cũng tựy thuộc vào khả năng kiểm
soát của Nhà nước, trên cơ sở xác định rừ các chủ thể tham gia thị trường, tạo
môi trường cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, đồng thời chống được tệ tham
nhũng quan liêu, làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Khả năng định hướng cũng tựy
thuộc vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ lao động kiểu
mới, trung thành với lý tưởng XHCN, có kiến thức để xây dựng CNXH. Cùng với việc
thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế ở nước ta cho đến khi
CNXH được xây dựng thành công như đó nêu trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng,
lần này trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta khẳng định : mọi tổ chức kinh doanh
theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích
phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Như vậy, việc xác định chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, xây dựng “nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN” hoàn toàn không phải là kiểu “Bắt cá hai tay hay là một
sự lựa chọn theo hệ tư tưởng… do Đảng áp đặt lên toàn xã hội”. Trái lại, đó là
một chủ trương đúng đắn, là sự nhất quán giữa cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta với
tính chất của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi
toàn thế giới. Do đó, việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
không những không làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư cho xây dựng, phát triển
đất nước mà cũng là động lực tinh thần và vật chất to lớn để thực hiện chính
sách đại đoàn kết toàn dân, phát huy nội lực – sức mạnh dân tộc, gắn với nguồn
lực bên ngoài – sức mạnh thời đại để dân tộc ta vững bước tiến vào thế kỷ mới.
(3. 3.) Mâu thuẫn giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Lợi ích là sự tồn tại hiện thực trong quan hệ giữa người với người
trong đời sống xã hội. Nú không phải là sản phẩm thuần tỳy của ý thức, mà là sản
phẩm của ý thức phản ánh những điều kiện khách quan – cỏi quyết định ý thức và
hành động của con người. Do đó, không thể tách lợi ích ra khỏi con người và đời
sống xã hội của con người.
xã hội là một hệ thống lớn được tạo nên từ những cá nhân cụ thể.
Nói cách khác, do lợi ích và thông qua việc thực hiện lợi ích mà các cá nhân mới
tập hợp, liên kết lại với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và do đó tạo
thành xã hội. Để có được sự tăng trưởng kinh tế, bất kỳ một chính sách kinh tế
nào cũng đều phải quan âm đến lợi ích cá nhân. Bất cứ ai bỏ vốn ra kinh doanh
hay học tập rèn luyện để có trình độ chuyên môn và nghề nghiệp cao mà chẳng nhằm
mục đích thu lợi cho cá nhân và thỏa món nhu cầu của cá nhân mình.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, mỗi con người cụ thể có những
nhu cầu riêng, không ai giống ai, có thể phù hợp hay không phù hợp, phát triển
không theo hướng tích cực mà theo hướng tiêu cực, hướng chủ nghĩa cá nhân. Từ
đó xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xá hội. Việc giải quyết
hài hòa mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có vai trò và ý nghĩa to
lớn. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh sai lầm khi thấy
sự thống nhất mà không thấy sự khác biệt giữa các mặt lợi ích hoặc chỉ thấy sự
khác biệt mà không thấy sự thống nhất giữa chúng. Sự phát triển xã hội và lịch
sử núi chung chỉ có thể diễn ra bình thường, lành mạnh, đi đúng quy luật, khi mỗi
cá nhân nhận thức tự giác về mối quan hệ cá nhận- xã hội xột trờn phương diện lợi
ích. Mác và Ăng-ghen đó chỉ rừ :”Chừng nào con người ở trong xã hội hình thành
một cách tự nhiên, do đó chừng nào cũng có sự chia cắt giữa lợi ích riêng và lợi
ích chung, chừng nào cũng có sự phân chia hoạt động cũng được tiến hành không
phải một cách tự nguyện mà một cách tự nhiên thì chừng đó hành động của bản
thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối lập với con người, và nô dịch
cho con người, chứ không phải bị con người thống trị. Vì vậy, sự thống nhất biện
chứng của các loại lợi ích trong quan hệ cá nhân – xã hội là cơ sở, động lực
thúc đẩy cá nhân hành động”.
Trong các loại lợi ích, lợi ích riêng của cá nhân có vai trò to
lớn, vỡ nú đáng ứng nhu cầu hưởng thụ chính đáng của con người. Lợi ích cá nhân
mang tính chất trực tiếp, cụ thể cũng lợi ích chung của tập thể, xã hội mang
tính giỏn tiếp. Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, mỗi cá nhân bao giờ cũng
hành động vỡ lợi ích của bản thân mình. Chính Vì vậy lợi ích cá nhân đóng vai
trò là cơ sở, động lực trực tiếp kích thích tính tích cực của con người. cũng lợi
tập thể và xã hội thể hiện vai trò, động lực của mình thụng qua lợi ích của mỗi
cá nhân. Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội chỉ có thể được thực hiện
đúng đắn khi quan hệ lợi ích cá nhân và xã hội được giải quyết một cách hài
hòa. Đó là quá trình mà lợi ích của cá nhân này không xõm phạm đến lợi ích của
cá nhân khác và của toàn xã hội.
Hồ Chớ Minh nêu rừ :”… Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích tập
thể, là bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì
lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa món” và “đặt lợi ích của
Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá nhân mình”. Đây chính là
quan điểm cơ bản xác định vị trí và mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích
chung.
Trong các xã hội có giai cấp búc lột thống trị thì bất cứ giai cấp
thống trị nào cũng mưu toan vĩnh viễn hóa đặc quyền lợi ích của chúng cho nên
cái gọi là “lợi ích chung, lợi ích xã hội” thực chất là lợi ích của giai cấp thống
trị. Tuyệt đại đa số nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, buộc phải phục vụ cho
cái gọi là ”lợi ích chung” đó. Dĩ nhiên, lợi ích cá nhân trong tình hình đó bị
hạn chế, bị chà đạp, thậm chí bị tước đoạt. Bởi vậy, không thể có cơ sở dung
hũa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Trong chế độ XHCN, chế độ
nhân dân lao động làm chủ, mỗi cá nhân là một thành viên của tập thể, giữ một vị
trí nhất định, và do đó cũng đóng gáp một phân công lao vào thành tựu chung của
toàn xã hội. Vì vậy, dưới chế đô XHCN ”lợi ích chung của tập thể được đảm bảo
thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện được thỏa món”. Khi mà CNXH chưa
được xây dựng một cách hoàn chỉnh thì giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích chung nhiều khi vẫn cũng nhiều mâu
thuẫn, thậm chớ xung đột. Ngoài lợi ích của dân tộc, của tổ quốc thì Đảng ta
không có lợi ích nào khác. Chính Vì vậy, mỗi cán bộ Đảng viên phải nhận thức rừ
đươc rằng ”lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng, lợi ích của
mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời phải
phục tùng lợi ích lâu dài. Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết vỡ lợi
ích cả Đảng tức là lợi ích của dân tộc của tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định một cách dứt khoát :”nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi
ích riêng của cá nhân thì phải kiên quyết hi sinh lợi ích của cá nhân cho lợi
ích của Đảng…”.
Trên thực tế ở nước ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên
chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mình, chỉ chăm lo vun vén cho mình vỡ lợi ích
riêng mà sẵn sàng giày xộo lờn lợi ích chung của toàn thể xã hội. Nhiều trường
hợp do bị chủ nghĩa cá nhân chi phối đó mượn danh nghĩa tập thể để làm ăn bất
chính, làm giàu cho riêng bản thân và gia đình mình, làm tổn hại đến lợi ích
chung của tâp thể, xã hội nhiều chục tỉ đồng… Hiện tượng xem nhẹ, coi thương lợi
ích chung của tập thể, xã hội, đề cao lợi ích cá nhân tới mức tuyệt đối hóa nó
là khá phổ biến. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nếu không giải
quyết tốt sẽ xảy ra bất cụng xã hội. Nếu gợi ích cá nhân bị vi phõm thì xã hội
sẽ mất đi một động lực của sự phát triển, ngược lại, nếu chỉ có cá nhân có lợi
cũng lợi ích xã hội bị vi phạm thì nạn nhân của sự bất cụng lại là cộng đồng xã
hội. Cả hai lợi ích này lại thống nhất trong lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.
Nếu vỡ lý do nào đó mà chúng bị tổn hại thì quốc gia dân tộc cũng bị ảnh hưởng
trực tiếp mà sẽ thể hiện rừ nhất của nú là khủng hoảng về lợi ích, về nhận thức
của mỗi cá nhân và cộng đồng, sẽ ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền kinh tế ở
nước ta. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong tính thống nhất của nú là lợi ích quốc gia tất yếu sẽ dẫn đến sự đẩu
tranh chuyển hóa giữa chúng. Phương thức của sự chuyển hóa mà chúng ta sẽ tác động
vào chính là phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Để giải quýờt mâu thuẫn giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội, về cơ bản phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội, đồng thời phải chống lại những biểu hiện tiêu cực của
chủ nghĩa cá nhân. Trong việc đấu tranh chông chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần
phân biệt rừ lợi ích cá nhân chính đáng với chủ nghĩa cá nhân. Lợi ích cá nhân
chính đáng là cái tích cực, là một động lực của sự phát triển xã hội, vỡ nú
không những không đi ngược lại lợi ích chung mà nó cũng là tiền đề để thực hiện
lợi ích chung. cũng chủ nghĩa cá nhân là cỏi tiều cực vỡ nú là khuynh hướng, lối
sống của những người đặt lợi ích cá nhân, gia đình lờn trờn cả lợi ích tập thể,
lợi ích xã hội. Nhận thức đúng về lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là trách
nhiệm đạo đức của mỗi con người trong xã hội hiện nay.
(3. 4.) Mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX).
“Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
được hình thành trong quá trình sản xuất”
“Quan hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người và người
trong quá trình sản xuất và tỏi sản xuất xã hội”. Nú được thể hiện ở ba mặt cơ
bản sau:
– Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
– Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất.
– Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên là một thể thống nhất hữu cơ tạo thành quan hệ sản
xuất, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với
các mặt quan hệ khác.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất là
một vấn đề hết sức phức tạp được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể hiện
trong quán triệt lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lờnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
CNXH. lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành
quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người – quy luật về sự phù hợp quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất . Quy luật này vạch
rừ sự phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất , cũng như sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực
lượng sản xuất trong quá trình sản xuất và phát triển xã hội. Theo đó lực lượng
sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất cũng quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội của nú, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Trong quá trình
sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn tìm
cách cải tiến, hoàn thiện cụng cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động
mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển công cụ lao động thì kinh
nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của
con người cũng tiến bộ. lực lượng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất,
cách mạng nhất. cũng quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, có khuynh hướng
lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất .
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất
cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất . Sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh
mẽ. Nhưng lực lượng sản xuất luôn phát triển cũng quan hệ sản xuất có xu hướng
tương đối ổn định. Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới thì
quan hệ sản xuất không cũng phự hợp với nú nữa, trở thành chướng ngại, kìm hóm
sự phát triển của lực lượng sản xuất , sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt
của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc xóa
bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phự hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất , mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển. quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định, làm tiền đề cho lực lượng sản
xuất phát triển khi nó phù hợp được với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất . Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu, bước đi và tạo ra quy mô thích hợp cho
lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao
động, phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người – nhân tố quan trọng và
quyết định trong lực lượng sản xuất .
Ở nước ta, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, khi thành phần kinh
tế XHCN chưa chiếm vị trí độc tôn, khi các thành phần kinh tế khác có nhiều khả
năng góp phần làm cho sản xuất phát triển, thì một số yếu tố trong quan hệ sản
xuất vượt lên lực lượng sản xuất và hướng vào việc tạo ra cơ sở vật chất- kỹ
thuật ban đầu. Ở đây, phải kể đến yếu tố chủ quan của việc Đảng lãnh đạo, Nhà
nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất
và tinh thần yờu nước vốn có của họ. Tuy nhiên, không thể cho rằng những yếu tố
tiên tiến của quan hệ sản xuất mói là tiền đề thúc đẩy sự phù hợp giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian
ngắn. Tại Đại hội VI, Đảng ta đó hoàn toàn đúng khi nhận định :”. . . lực lượng
sản xuất bị kìm hóm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả
khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá so với
trình độ của lực lượng sản xuất “.
Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất ở nước ta là một vấn đề
cần được quan tâm. Sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn tới mâu thuẫn
với chế độ sở hữu tư nhân TBCN, mà mục tiêu của kinh tế thị trường ở Việt Nam
là phải dựa trên chế đô sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, tức là sự làm chủ của
người lao động đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Sở hữu xã hội
cũng tức là sở hữu Nhà nước, muốn vậy kinh tế Nhà nước phải phát triển mạnh để
thâu tóm nền kinh tế. Nhưng nếu xét trên quan điểm toàn diện, thì kinh tế Nhà
nước hiện nay phát triển chưa đạt yêu cầu mà nguyên nhân chính là do ý thức
thái độ của một số người làm việc trong hệ thống kinh tế Nhà nước cũng chưa
đúng đắn, các thủ tục hành chính liên quan đến kinh tế cũng phức tạp, bệnh quan
liều bao cấp vẫn cũn.
Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm ở
nước ta cũng nhiều bất cập. Tổ chức quản lý sản xuất là điều kiện thiết yếu cho
sự phát triển của sản xuất. Một nền sản xuất muốn phát triển không chỉ dựa trên
những cơ cấu tổ chức quản lý lỗi thời, chồng chộo. Ở nước ta hiện nay, qua quá
trình đổi mới đó xây dựng được một hệ thống chính sách mà bao quát ở tầm vĩ mô
thì nú đó giải quyết được những vấn đề chính của kinh tế thị trường: định hướng
XHCN, phát triẻn thành phần kinh tế Nhà nước, tiến tới sở hữu toàn dân, bảo đảm
sự công bằng xã hội. . . Nhưng đi vào cụ thể thì cũng nhiều việc cần phải xem xột
thờm. Đó là sự chồng chéo về chức năng giữa các cơ quan quản lý, có quá nhiều
cơ quan cùng quản lý về một lĩnh vực nhưng chẳng có cơ quan nào chịu trách nhiệm
hính cả; sự độc quyền quản lý Nhà nước về một số ngành, lĩnh vức như điện,
than. . . làm cho các cơ quan quản lý tương ứng đó sinh kiêu căng, ỷ lại, không
có ý thức tự vươn lên, ngày càng xa rời quần chúng. Một số chủ trương cũng mâu
thuẫn nhau như khuyến khích sản xuất trong nước với việc nhập khẩu tràn lan các
mặt hàng làm sản xuất trong nước lao đao. . .
Phân phối ở nước ta với mục tiêu tới là mọi người đều có đầy đủ
các nhu cầu cần thiết. Nhưng hiện nay, vẫn cũng một số vựng nghèo, cơ sở vật chất
rất thiếu thốn trong khi đó ở đo thị thì sản phẩm quá dư thừa tạo nên sự mất
cân bằng trong quan hệ phân phối, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân.
Như vậy, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường hiện
nay ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất
lạc hậu kìm hóm nú diễn ra gay gắt – quyết liệt và cần được giải quyết. Muốn giải
quyết mâu thuẫn này, ta phải nhận biết được nguyên nhân và kết quả của sự đấu
tranh giữa hai mặt đối lập đó mà tìm ra phương thức thích hợp để tác động vào sự
đấu tranh và chuyển hóa giữa chúng. Từ đó ta có một số biện pháp để giải quyết
mâu thuẫn trên :
Cần phải nắm vững định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế
nhiều thành phần. Vỡ, thứ nhất, mỗi thành kinh tế có bản chất, hoạt động khác
nhau và không tránh khỏi mâu thuẫn. Thứ hai, nền kinh tế nhiều thành phần tự nó
không đi theo định hướng XHCN mà có xu hướng tự phát TBCN. Thứ ba, việc xử lý vấn
đề cơ cấu phát triển, cơ cấu thành phần kinh tế có liên quan đến sự tồn tại và
phát triển của chế độ XHCN ở nước ta.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vỡ việc xây dựng nền
kinh tế thị trường không thể tách rời việc xây dựng đông bộ và vận hành có hiêu
quả cơ chế quản lý kinh tế – cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN. Xây dựng và củng có cơ chế phân phối trong nền kinh tế thị trường.
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta
là mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập thống nhất trong phương thức sản xuất XHCN,
việc giải quyết mâu thuẫn này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, dẫn đến việc chuyển
hóa giữa chúng tạo nên phương thức sản xuất mới: phương thức sản xuất Cộng sản
chủ nghĩa.
KẾT LUẬN
1. Kết luận
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến, nó tồn tại
trong tất cả các sự vật, hiện tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại và phát triển của
sự vật vât hiện tượng. Nhưng ở các sự vật, hiện tượng khác nhau ở mỗi giai đoạn
phát triển khác nhau của mỗi sự vật hiện tượng ở mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu
thành môt sự vật sẽ có những mâu thuẫn khác nhau. Sự thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển dẫn đến
sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn. Do đó, trong hoạt động
thực tiễn phát triển từng mặt đôc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức
được bản chất, khuynh hướng vận động phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó
tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượg có khả năng giải quyết mâu thuẫn và
tổ chức thực hiện để giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy trong đời sống xã hội, mọi
hành vi đấu tranh cần đươc coi là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
Việc xuất hiện những mâu thuẫn trong kinh tế phải được coi là một
thực thế khách quan. Bởi vỡ việc giải quyết những mâu thuẫn ấy chính là động lực
để chúng ta có thể phát huy được hết thế mạnh của mình, duy trì sự thống nhất
và ổn định, nhằm mục tiêu chung là phát triển kinh tế, mang lại cuộc sống ấm no
hạnh phúc và một xã hội cụng bằng, dân chủ, văn minh.
Trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hưóng XHCN ở nước ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn. Song bên cạnh đó nó
đang nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn giữa các kiểu kinh tế thị trường như là một đặc
trưng của CNTB với việc thực hiện kinh tế thị trường ở nước ta, mâu thuẫn giữa
sự yếu kém của quan hệ sản xuất so với trình độ phát triển cả lực lượng sản xuất
, giữa việc phát triển kinh tế thị trường với định hướng XHCN, mâu thuẫn giữa
kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN …
Sự thành công trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta phụ thuộc
vào việc giải quyết các mâu thuẫn trên. Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu những
mâu thuẫn đó và tìm ra phương hướng giải quyết chúng. Nghiên cứu mâu thuẫn là
phải thấy được mâu thuẫn nào là cơ bản, mâu thuẫn nào là không cơ bản, rồi cuối
cùng tìm ra hướng giải quyết, từ đó các mâu thuẫn không cơ bản sẽ được giải quyết.
2. Giải pháp cho nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Muốn giải quyết tốt các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay, trước hết ta phải nắm được cơ sở lý luận của vấn đề, đây là
những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, nhứng vấn đề có
tình tất yếu, quy luật cần được vận dụng và giải quyết những vướng mắc trong thực
tiễn cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết :”thống nhất lý luận và thực tiễn là
mụt nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lờnin. Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thi hành thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn
là lý luận suụng…” Lý luận mà ta quan tõm ở đây chính là lý luận mâu thuẫn biện
chứng của chủ nghĩa Mác- Lờnin.
Nhà nước ta là nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân
và vỡ nhân dân. Chúng ta tiến tới một xã hội có cơ sở toàn dân, sở hữu Nhà nước.
Muốn được vậy thì Nhà nước phải có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tức là
Nhà nước phải nắm việc ”cầm lái” con thuyền kinh tế. Để nền kinh tế nước ta vận
hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN cần
giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
– Thứ nhất, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước
về kinh tế. Nhà nước có chức năng cơ bản là tổ chức và xây dựng kinh tế Vì vậy
có chức năng quản lý. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày
càng đặc biệt quan trọng. Một nền kinh tế thị trường mà không có sự can thiệp của
Nhà nước thì khác nào vỗ tay bằng một bàn tay.
Ở nước ta, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế cần tập trung
vào những nội dung sau:
+ Tạo điều kiện, môi trường
cho các quy luật kinh tế hoạt động như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh.
Đồng thời phát triển thị trường đồng bộ như thị trường tư liệu sản
xuất, tư liệu tiêu dùng, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường
dịch vụ… Trên cơ sở đó thị trường mới có thể tham gia phân phối nguồn lực và
khai thác tài nguyên có hiệu quả.
+ Tập trung vào việc xây dựng,
hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tạo môi trường bình đẳng cho sự hoạt
động của các thành phần kinh tế.
Những năm gần đây Nhà nước ta có bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hệ
thông luật pháp, chính sách tương đối phù hîp với điều kiện trong nước và thông
lệ quốc tế nhằm hoàn thiện cơ chế thị trường. Tuy nhiên, vẫn cũng nhiều kẽ hở,
thiếu đồng bộ, hoặc sai
lệch làm cho các hình thức kinh tế bị mộo mú, các thành phần
kinh tế gặp khú khăn như chính sách thuế, chính sách cạnh tranh, cơ chế độc quyền
ở một số ngành, lĩnh vực. Có một số chính sách làm thiệt hại cho đối tượng này
nhưng lại tạo kẽ hở cho đối tượng khác luồn lách, thoát ra khỏi sự kiểm soát của
Nhà nước.
Vì vậy việc sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa hệ thống luật pháp,
chính sách, tạo ra khung pháp lý rừ ràng, ổn định làm ”sân chơi ” cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Sửa đổi hệ thống chính sách theo hướng giảm bao cấp,
ôm đồm, đa dạng hóa các hình thức sở hữu tạo điều kiện cho sự cạnh tranh lành mạnh
trong nền kinh tế.
+ Tập trung phát triển hệ
thống giáo dục- Đào tạo, phát triển tiềm lực khoa học – công nghệ và xây dựng kết
cấu hạ tầng.
Đây là những vấn đề rất quan trọng tạo cơ sở cho sự hoàn thiện
cơ chế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị sản xuất kinh doanh
đều thực hiện mục tiêu lợi nhuận, họ tìm kiếm những ngành hàng, lĩnh vực đầu tư
thuận lợi, vốn it, thu hồi nhanh. Các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học –
công nghệ, kết cấu hạ tầng đầu tư vốn lớn, lâu dài, thu hồi chậm nên không hấp
dẫn các ngành đầu tư. Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện chức năng này. Đồng thời
trên cơ sở đó Nhà nước nắm một bộ phận nguồn lực, những lĩnh vực then chốt để
chi phối, điều tiết các hoạt động kinh tế, xã hội bảo đảm cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
+ Thực hiện có hiệu quả
các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường.
KTTT có xu hướng phân hóa giai cấp, chênh lệch về thu nhập, đời
sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị với nông thôn. Tăng trưởng kinh tế
không gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên, tàn
phá môi trường. Do vậy chỉ có Nhà nước mới thực hiện được các chính sách xã hội,
chính sách phõp luật bảo vệ môi trường.
Ở nước ta tiếp tục thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo,
chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, chính sách đầu tư vốn, các
chương trình 327, 135, chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, trợ cấp
gia đình có cụng với nước, người già neo đơn.
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế không
phải bằng sự can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị doanh
nghiệp mà chỉ thực hiện chức năng định hướng, tạo môi trương thuận lợi thông
qua hệ thống luất pháp, chính sách tạo dựng những điều kiện vật chất, kỹ thuật
cho việc phân bố lực lượng sản xuất và khai thác tài nguyên có hiệu quả.
– Thứ hai, phát triển hoàn thiện hệ thống tài chính, tiền tệ, tạo
điều kiện cho sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường phát triển.
Hệ thống và chính sách tài chính nước ta phải tạo điều kiện huy
động các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển làm tăng tích lũy cả khu vực
nhà nước và khu vực dân cư.
Chính sách tài chính phải mở ra các luồng bơm, hút vốn, điều hũa
vốn đầu tư phù hợp trong từng thời kỳ. Chính sách tài chính tích cực phảí có
tác dụng hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, điều tiết sản xuất kinh doanh, điều
tiết và phân phối thu nhập góp phần thực hiện cụng bằng xã hội, đông thời kích
thích sản xuất phát triển.
Chính sách tiền tệ thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần kiềm chế và
đẩy lùi lạm phát. Sự tăng trưởng kinh tế sẽ không có ỹ nghĩa, dẫn đến bùng nổ lạm
phát và trong nền kinh tế lạm phát ở mức cao thì khú có thể tăng trưởng bền vững
do đó sẽ không có cơ sỏ kinh tế vững chắc để hoàn thành các chính sách xã hội.
– Thứ ba, tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị- xã hội. Kinh
nghiệm của nhiều nước cho thây, kinh tế chỉ phát triển mọt khi giữ được sự ổn định
về chính trị- xã hội và sự ổn định mới bảo đảm cho chiến lược và kế hoạch phát
triển kinh tế không bị gián đoạn, mới tập trung được nhân tài, vật lực cho sự
phát triển kinh tế, mới tạo được sự yên tâm cho các nhà đầu tư trong và ngoài
nước và đảm bảo cho các chính sách xã hội về cụng bằng, dân chủ và văng minh được
thực hiện một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, ổn định không có nghĩa là giữ nguyên, trái lại trên
cơ sở những kết quả đạt được và yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế phải từng
bước đổi mới hệ thống chính trị và giải quyết các vấn đề xã hội. Đối với nước
ta, vấn đề cấp bách nhất là vừa phỉa xây dựng được Nhà nước pháp quyền đủ mạnh
nhưng đồng thời vừa phải thực hành dân chủ. Nhà nước phải vừa thực sự là của
dân, do dân và vỡ dân, lại vừa thể hiện được sự thống nhất về quyền lực.
– Thứ tư, phải kiên trì thực hiện đường lối phát triển kinh tế
nhiều thành phần, đa dạng hóa hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Trong những
năm vừa qua chúng ta chưa chú ý đúng mức đến kinh tế ngoài quốc doanh nên khu vực
kinh tế này phát triển chậm. Tỷ trọng của kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP có
xu hướng giảm là vấn đề khong phù hợp với đường lối phát triển kinh tế đó đề
ra. Giải pháp khắc phục tình trạng này không chỉ là đề ra chủ trương đường lối
mà cũng phải tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ kinh tế ngoài quốc doanh phát huy tiềm
năng to lớn của mình. Phải kiên quyết chống những biểu hiện tiều cực trong hoạt
động của kinh tế ngoài quốc doanh như: buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, làm hàng
giả… nhưng đồng thời cũng phải khuyến khích những người, những doanh nghiệp làm
giàu chính đáng và hợp pháp. Trong những lĩnh vực chỉ có kinh tế quốc doanh, cần
phải thành lập một số cơ sở để tạo ra sự cạnh tranh, thúc đẩy phát triển, khắc
phục tình trạng độc quyền vỡ độc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền và trì trệ. Cần phải
mở rộng hình thức hỗn hợp sở hữu giữa các thành phần kinh tế trong nước với
nhau cũng như giữa trong nước với nước ngoài nhằm tạo ra ngày càng nhiều doanh
nghiệp kiểu “Tư bản Nhà nước”.
– Thứ năm, phải kiên quyết giữ nghiêm kỷ cương phép nước và chống
tệ nạn tham nhũng. Trong nền kinh tế thị trường, động lực cá nhân được giải tỏa.
Ở nước ta những năm vừa qua, thị trường đó xuất hiện ở mọi nơi, nhưng tất cả đều
chưa hoàn chỉnh nên động lực cá nhân biến dạng, méo mó. Tình trạng vi phạm kỷ
cương phép nước có xu hướng gia tăng, tham những có nguy cơ phát triển. Để khắc
phục tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước và tham những hiện nay, Nhà nước cần
sớm vạch ra một cái khung pháp lý, trong cái khung đó các doanh nghiệp, cũng
như mọi công dân được tự do hoạt động, phát huy tiềm năng, sáng kiến của mình,
nhưng tuyệt đối không được vượt ra khỏi cái khung pháp lý đó. Mọi vi phạm cần
phải ngăn cản và trừng phạt nghiêm minh.
KTTT tuy có mặt trái không thể tránh khỏi của nó, nhưng về cơ bản
và lâu dài, nó là một trong những điều kiện để thực hiện công bằng và bình đẳng
xã hội. Bằng các biện pháp nêu trờn, chúng ta hi vọng có thể xây dựng tốt nền
kinh tế nhiều thành phần, đưa nó đi đúng hướng mà Đảng và Nhà nước ta đó lựa chọn
và xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, mọi người dân được sống trong hoà
bình, độc lập, tự chủ và một xã hội cụng bằng, dân chủ và văn minh.
Quy luật 7. Quy luật của sự
bền bỉ (persistence)
Hãy kiên nhẫn chăm sóc và quan tâm chăm chút cho thương hiệu cá
nhân của mình.
Có bao giờ trên đường đời tấp nập, vô tình mình gặp phải những
người vô cùng tài năng trong một lĩnh vực nào đó khiến mình phải trầm trồ ngưỡng
mộ. Người thì thông thạo nhiều ngoại ngữ, người thì đàn piano xuất sắc, người lại
nhảy đẹp thần sầu,…
Không hiếm những người sở hữu combo “con nhà người ta” khiến ai
ai cũng phải ganh tị khi vừa đẹp trai xinh gái, vừa học giỏi, vừa tài năng nổi
trội, tính cách lại vừa tốt mà gia thế lại vừa giàu.
Khi so sánh với họ, chúng ta thường buồn rầu khi thấy bản thân
mình kém cỏi, bất tài vô dụng. Một số người bi quan lại đổ lỗi cho tài năng để
bao biện cho những việc không suôn sẻ trong cuộc sống theo kiểu “Mình không may
mắn có tài được như họ” hay “Anh ấy có tài năng thiên phú nên làm việc gì cũng
thuận lợi”.
Hiểu về quy luật bền bỉ, mình sẽ tái định nghĩa lại hai chữ “tài
năng” này để tìm ra một hướng đi tươi sáng để phát triển những tiềm năng sẵn có
bên trong mình.
Thế nào là có tài năng?
Để gọi một người là “tài năng”, có hai yếu tố để chúng ta nhận định:
Sự thành thạo trong một hoạt động cụ thể: học ngoại ngữ, chơi nhạc
cụ, chơi cờ, chơi thể thao, diễn xuất,…
Thành quả đạt được từ hoạt động đó: giải thưởng, thành tích, sự
nổi tiếng.
Cá nhân nào chỉ có yếu tố số 1 sẽ được công nhận là “tài năng”,
còn hội tụ đủ cả hai yếu tố trên sẽ được số đông gọi bằng những mỹ từ như là
“thần đồng” hay “thiên tài”.
Ví như kiện tướng cờ vua Lê Quang Liêm là kỳ thủ số một Việt Nam
theo bảng xếp hạng hiện tại của FIDE (tổ chức quốc tế liên kết các liên đoàn cờ
vua quốc gia toàn thế giới). Anh là nhà vô địch thế giới nội dung cờ chớp năm
2013, đương kim vô địch châu Á, 2 lần vô địch Giải cờ vua Aeroflot mở rộng, 3 lần
vô địch Giải cờ vua quốc tế HDBank.
Hay nữ vận động viên bơi lội Nguyễn Thị Ánh Viên thuộc đội tuyển
bơi lội quốc gia Việt Nam, người đã đạt nhiều thành tích xuất sắc trong các giải
đấu bơi lội quốc tế và đem về cho thể thao Việt Nam nhiều vinh quang. Lần gần
nhất tại Seagame 30 Phillipines, Ánh Viên đã tiếp tục đem về 6 huy chương vàng
và 2 huy chương bạc, trở thành vận động viên xuất sắc nhất của Seagmes 30.
Cả Lê Quang Liêm và Ánh Viên đều sở hữu cả hai yếu tố kể trên
nên thường được truyền thông gọi là “thần đồng cờ vua”, “siêu đại kiện tướng”
(với Quang Liêm) và “thiên tài bơi lội”, “kình ngư” (với Ánh Viên).
Còn những người chỉ có yếu tố số 1 thì sao?
Ta có thể chơi cờ vua rất đỉnh, chơi nhạc cụ rất hay, bơi lội rất
xuất sắc, diễn xuất lay động lòng người,… Với những kỹ năng này, mình sẽ được
người khác công nhận là “có tài” hay “tài năng” (khi so với những người bình
thường không biết các kỹ năng này).
Tuy nhiên, cùng là sự thành thạo trong một hoạt động cụ thể,
nhưng khi áp lên các công việc lao động chân tay khác thì sự công nhận của người
đời lại hoàn toàn khác. Chẳng hạn, mình có thể từng bắt gặp một cô bán xoài gọt
xoài điêu luyện, chỉ trong vài chục giây có thể gọt xong trái xoài và cắt miếng
nào ra miếng đó thật đẹp mắt. Hay một chú bán dừa có thể chặt dừa đỉnh cao, róc
ra được nguyên phần cơm dừa và nước bên trong mà không bị đổ nước ra ngoài. Hay
một chị bán gà trong chợ, chị có thể nhắm mắt lại cũng chặt được con gà sao cho
đẹp, miếng nào ra miếng đó thẳng đều tăm tắp.
Quy luật 8. Quy luật của
thiện chí (goodwill)
Cá nhân phải biết tạo ra một ý tưởng đẩy thiện chí đối với công
chúng và mục tiêu của mình, cần biết cách củng cố, duy trì tốt thương hiệu cá
nhân.
Tạo dựng được thương hiệu cá nhân có sức ảnh hưởng và để mang lại
lợi ích nhờ thương hiệu cá nhân thì phải có nhiều người biết tới, điều này
không phải một sớm một chiều là có thể dễ dàng thành công, cần phải có một quá
trình dài và liên tục đưa giá trị thương hiệu cá nhân tới cộng đồng.
Hãy kiên trì xây dựng thương hiệu cá nhân, nó sẽ mang tới cho
mình những thành công và mọi điều tốt đẹp không ngờ tới.
Nguyên tắc trung thực, thiện chí
Nguyên tắc trung thực, thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch
dân sự, bởi lẽ một giao dịch dân sự dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay
nhỏ thì khi thực hiện các quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện
chí luôn được đặt lên vị trí hàng đầu. Trung thực, thiện chí là thực hiện hành
vi với ý định tốt một cách ngay thẳng, chính trực, nên cũng có tài liệu ghi nhận
nguyên tắc này dưới tên là “nguyên tắc thẳng thắn và ngay tình”. Cùng một nội
hàm như nhau nhưng hai hệ thống pháp luật thông luật và dân luật lại định nghĩa
dưới hai tên gọi khác nhau là good faith và pacta sunt servanda. Khoản 1 Điều 2
BDL Thụy Sỹ quy định rằng các bên phải trung thực, thiện chí khi thực hiện
nghĩa vụ, và sự trung thực, thiện chí mang tính giả định và do pháp luật quy định,
các bên không được xem là trung thực, thiện chí khi không thực hiện hành vi một
cách mẫn cán, cẩn trọng và không đáp ứng được các điều kiện đặt ra. Khoản 2 Điều
1 BDL Nhật Bản, Điều 19 BDL Philippines, Điều 4 Bộ Quy tắc chung về dân luật của
Trung Quốc và Điều 5 BLDS và Thương mại Thái Lan cũng rất đề cao nguyên tắc
trung thực và định chế nó vào trong BDL.
- Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết
hợp đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng
thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị đòi hỏi
các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau;
không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân
tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự.
Hơn nữa, ý chí tự nguyện của cac bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm
khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện. Chính vì vậy, pháp luật
không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự
nguyện của một trong các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá
một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa,
trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức
tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan khác nhau.
Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý
chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy,
sự thống nhất ý chí của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong
nội dung hợp đồng mà chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định
một hợp đồng đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa. Hay nói cách khác, việc
giao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh
một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham
gia hợp đồng.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được
giao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc
tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
Tóm lại, việc phân loại hợp đồng và xác định các nguyên tắc khi
giao kết hợp đồng có một ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực
tiễn áp dụng chế định hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu nó một cách
chi tiết, khoa học vấn đề này luôn được đặt ra nhằm ngày càng làm hoàn thiện
hơn các quy định pháp luật về hợp đồng, giúp các chủ thể có thể tự bảo đảm được
lợi ích cá nhân cũng như lợi ích cộng đồng khi tham gia giao kết hợp đồng.
xây dựng thương hiệu cá nhân thành công
Mục lục
1. Định vị bản thân
2. Xây dựng ngôn từ và hình ảnh nhất quán
3. Kết nối với những người có tầm ảnh hưởng
4. Nhận được sự tiến cử
5. Sử dụng hình ảnh chuyên nghiệp
6. Xây dựng nội dung có giá trị
7. Tỏa sáng theo cách của riêng mình
8. Tận dụng mạng xã hội
9. Nói chuyện trước đám đông
10. Hãy là chính mình
Thương hiệu cá nhân không chỉ giúp mình gia tăng lợi thế cạnh
tranh trong kinh doanh mà còn giúp thu hút thêm khách hàng đến với doanh nghiệp
của mình. Chính vì vậy xây dựng thương hiệu cá nhân là một vấn đề cực kỳ được
quan tâm hiện nay.
Thương hiệu cá nhân có thể được hiểu là “những gì người ta nói về
mình khi mình không có mặt ở đó”. Danh tiếng, những điều khiến người khác nhận
ra mình được tạo ra từ cách mình tự quảng bá tên tuổi của bản thân. Dưới đây là
10 bước xây dựng thương hiệu cá nhân thành công mà mình không thể bỏ qua.
1. Định vị bản thân
Định vị bản thân là bước quan trọng đầu tiên khi xây dựng thương
hiệu cá nhân
Điều đầu tiên mình cần làm khi muốn xây dựng thương hiệu cá nhân
vững chắc đó là tự định vị bản thân.Ta muốn mọi người đánh giá bản thân là ai,
giỏi về cái gì? Ta muốn xây dựng giá trị cốt lõi của mình là gì? Ta muốn đóng
góp điều gì cho xã hội? Khi trả lời được những câu hỏi này, mình sẽ biết cách tạo
dựng cho bản thân một thương hiệu phù hợp và thu hút nhất.
2. Xây dựng ngôn từ và
hình ảnh nhất quán
Khi đã xác định được thương hiệu bản thân cần xây dựng, mình cần
đưa ra mọi thứ phù hợp với thương hiệu đó, từ hình ảnh cho đến thông điệp.Ta
cũng cần chú ý đến những bài post trên các mạng xã hội bởi nếu không đảm bảo
chuẩn mực về ngôn từ và hình ảnh, mình sẽ dễ dàng “mất điểm” trong mắt người
khác.
3. Kết nối với những người
có tầm ảnh hưởng
Mạng lưới các mối quan hệ là vô cùng quan trọng khi xây dựng
thương hiệu cá nhân. Khi tên của mình xuất hiện chung với một người nổi tiếng
trong ngành, thương hiệu cá nhân của mình sẽ được tạo một sức bật rất lớn để
phát triển.
Hãy thử lên một danh sách những nhân vật có tầm ảnh hưởng trong
ngành và xây dựng mối quan hệ với họ, từ điều nhỏ như bình luận status hoặc bài
viết của họ, cho đến mời họ tham dự một sự kiện, một buổi gặp mặt ấm áp.
4. Nhận được sự tiến cử
Sau khi có mối quan hệ thân thiết với những người có tầm ảnh hưởng,
mình có thể nâng cao thương hiệu cá nhân bằng cách nhận sự tiến cử hoặc lời ca
ngợi từ những người đó. Những lời giới thiệu của khách hàng nổi tiếng hoặc lời
khen từ những nhà quản lý cấp cao sẽ giúp tạo lập thương hiệu cá nhân vững chắc
cho mình.
5. Sử dụng hình ảnh chuyên
nghiệp
Hình ảnh cùng nội dung chuyên nghiệp, có giá trị là chìa khóa
thành công khi xây dựng thương hiệu cá nhân
Để xây dựng thương hiệu cá nhân thành công, những hình ảnh
chuyên nghiệp về chính bản thân là điều không thể thiếu. Nó không chỉ như một lời
khẳng định thương hiệu mà còn tạo được ấn tượng tốt với mọi người. Những hình ảnh
có chất lượng cao và được xử lý chuyên nghiệp sẽ giúp mình nổi bật hơn và tăng
uy tín trong cộng đồng.
6. Xây dựng nội dung có
giá trị
Bên cạnh hình ảnh, những nội dung hữu ích cũng là cách giúp mình
chiếm được niềm tin với mọi người và tạo lập mối quan hệ gắn kết. Những chia sẻ
chuyên môn như video hướng dẫn mình tự làm hoặc báo cáo phân tích dữ liệu mình
thu thập sẽ có khả năng thúc đẩy danh tiếng tuyệt vời. Đây không chỉ là cách
mình thể hiện khả năng của mình mà còn giúp mình trau dồi bản thân và trở thành
một người lãnh đạo.
7. Tỏa sáng theo cách của
riêng mình
Dấu ấn cá nhân sẽ là yếu tố quan trọng giúp mọi người nhớ đến
mình, chính vì vậy đừng ngần ngại khi tỏ ra khác biệt. Khi email đến đối tác
hay trò chuyện cùng khách hàng, mình nên lồng vào đó một vài chi tiết thể hiện
bản sắc cá nhân. Điều này sẽ giúp mình thoát khỏi hình tượng nhàm chán và xây dựng
một thương hiệu cá nhân đầy ấn tượng.
8. Tận dụng mạng xã hội
Mạng xã hội là công cụ không thể thiếu khi tạo lập thương hiệu
cá nhân
Mạng xã hội là một công cụ có sức mạnh và sức ảnh hưởng đáng
kinh ngạc khi xây dựng thương hiệu cá nhân. Facebook, Twitter, Instagram,
Youtube, LinkedIn,…là những nơi mà khách hàng tiềm năng của mình đang hiện diện.
Chính vì vậy, sự xuất hiện của mình trên các mạng xã hội với những nội dung chất
lượng sẽ giúp mọi người nhìn thấy được giá trị của mình nhiều hơn.
9. Nói chuyện trước đám
đông
Đây là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy danh tiếng của mình cũng
như tăng sức bật cho thương hiệu cá nhân của mình. Để luyện tập cho kỹ năng khá
khó này, mình có thể bắt đầu bằng việc tập thuyết trình trước với các đồng nghiệp
hoặc bạn bè. Nhờ đó mình có thể tự tin hơn khi chia sẻ trong các buổi hội thảo
hay chia sẻ. Một bài nói về chủ để mà mình am hiểu không chỉ giúp mình tự tin
và thu hút hơn mà còn thể hiện khả năng chuyên môn của mình một cách hiệu quả.
10. Hãy là chính mình
Ta sẽ thu hút hơn khi là chính mình!
Đây là điều quan trọng nhất khi mình xây dựng thương hiệu cá
nhân.Ta là chính mình mà không phải là một ai khác. Chính khả năng cùng sự
duyên dáng của mình mới là điều thu hút những người xung quanh. Do đó, hãy là
chính mình trong bất cứ hoàn cảnh nào bởi nó sẽ giúp mình đạt được những hiệu
quả không ngờ đến khi tạo lập thương hiệu cá nhân.







































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét