Thứ Tư, 27 tháng 1, 2021

TÔN TRỌNG PHÁP

 TÔN TRỌNG PHÁP

Pháp : có nghĩa là "NẮM GIỮ, TUÂN THỦ,VẬN HÀNH", đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Cách dùng chữ thuật ngữ này rất đa dạng, và vì vậy, nó mang rất nhiều nghĩa:

-  Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử;

-  Điều phải làm, nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ;

-  Trật tự xã hội, quy củ trong xã hội;

-  Điều lành, việc thiện, đức hạnh;

-  Sự thật, thật tại, chân lý

-  Nền tảng của thế gian và các cõi giới;

-  Tín ngưỡng tôn giáo;

-  Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lý, về luật tắc;

-  Giáo lý, sự giải thích;

-  Bản thể, bản tính;

-  Căn bản nhân đạo;

Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa này của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Họ cho rằng, các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính này hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Trong luận lý học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ.

Tổng quát lại, người ta có thể hiểu Pháp là "tất cả những gì có đặc tính của nó - không khiến ta lầm với cái khác - có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó

Pháp vốn được sử dụng trong Ấn Độ giáo, với ý nghĩa là chân lý, thiện pháp. Tương phản với cái thiện là phi pháp. Phật giáo cũng có tư tưởng là thiện pháp nhưng nói rộng hơn thì cái ác, phiền não, khổ, cũng là Pháp. Theo ngài luận sư Giác Âm thì Pháp có 4 nghĩa như: Thuộc tính; giáo pháp; thánh điển và sự vật(bao gồm vật nhìn thấy và không nhìn thấy. Còn đối với Phật giáo nguyên thủy thì pháp bao gồm: Hiện tượng và tâm lý như ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay duyên khởi cũng là pháp. Đối với khái niệm trong pháp luật, pháp số... thì đó lại là những quỹ phạm của con người trong đời sống cộng đồng. Ví dụ: Khi một người nhìn vào một tượng Phật hay một sự vật nào đó, người đó sẽ sinh khởi các hành động, tư tưởng, ý kiến, đưa ra các giáo lý,... Đó là người đó đang an trụ trong pháp, ta xét ở ví dụ này là người đó sẽ bái lạy tượng Phật mỗi ngày đó là thực hành Phật pháp. Tương tự như vậy, ta sẽ có khái niệm tổng quát hơn về pháp, khi một đối tượng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với một đối tượng, họ sẽ sinh khởi các pháp, nếu hai đối tượng đó ngừng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với nhau thì pháp cũng sẽ dừng.


KHÁI QUÁT VỀ VŨ TRỤ, HỆ MẶT TRỜI, TRÁI ĐẤT TRONG HỆ MẶT TRỜI

Vũ Trụ là khoảng không gian vô tận chứa các thiên hà. Mỗi thiên hà là một tập hợp của rất nhiều thiên thể (như các ngôi sao. hành tinh, vệ tinh, sao chổi,...) cùng với khí, bụi và bức xạ điện từ.

Vũ Trụ

- Vũ Trụ là khoảng không gian vô tận chứa các thiên hà.

- Mỗi thiên hà là một tập hợp của rất nhiều thiên thể (như các ngôi sao. hành tinh, vệ tinh, sao chổi,...) cùng với khí, bụi và bức xạ điện từ.

- Thiên hà chứa Mặt Trời và các hành tinh của nó (trong có Trái Đất) được gọi là Dải Ngân Hà.

Hệ Mặt Trời

- Hệ Mặt Trời là một tập hợp các thiên thể nằm trong Dải Ngân Hà.

- Gồm có Mặt Trời ở trung tâm cùng với các thiên thể chuyển động xung quanh và các đám bụi khí.

- Hệ Mặt Trời có tám hành tinh là : Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh..

Trái Đất trong hệ Mặt Trời

- Trái Đất là một hành tinh trong Hệ Mặt Trời.

- Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời là 149.6 triệu km.

=> Khoảng cách đó cùng với sự tự quay làm cho Trái Đất nhận được lượng nhiệt và ánh sáng phù hợp để sự sống có thể phát sinh và phát triển.

- Trái Đất vừa tự quay quanh trục, vừa chuyến động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời.

Nguồn gốc sự sống

Các dạng sống được biết đến sớm nhất trên Trái Đất là các vi sinh vật hóa thạch giả định, được tìm thấy trong các kết tủa thủy nhiệt, có thể tồn tại từ 4,28 tỷ năm trước, tương đối sớm sau khi các đại dương hình thành 4,41 tỷ năm trước và không lâu sau khi hình thành Trái Đất 4,54 tỷ năm trước.


Lịch trình tiến hóa sự sống

Nguồn gốc sự sống cũng thường được gọi là quá trình phát sinh sự sống  là thuật ngữ để chỉ các lí thuyết khác nhau về quá trình hình thành và phát triển sự sống trên Trái Đất Trong các lí thuyết này, phổ biến nhất cho đến nay là những giả thuyết khoa học cho rằng: đây là quá trình tự nhiên mà sự sống phát sinh từ vật chất không sống, từ các chất vô cơ thành các hợp chất hữu cơ đơn giản, rồi tiến hoá thành sinh giới ngày nay. Mặc dù các chi tiết của quá trình này vẫn chưa được biết, giả thuyết khoa học phổ biến là sự chuyển đổi từ các thực thể không sống sang các thực thể sống không phải là một sự kiện đơn lẻ, mà là một quá trình tăng dần độ phức tạp liên quan đến việc tự sao chép phân tử, tự lắp ráp, tự sinh và sự xuất hiện của màng tế bào. Mặc dù sự xuất hiện của nguồn gốc sự sống là không gây tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhưng không có mô hình duy nhất được chấp nhận cho nguồn gốc của sự sống, và bài viết này trình bày một số nguyên tắc và giả thuyết về cách nguồn gốc sự sống có thể xảy ra.

Các nhà nghiên cứu nghiên cứu nguồn gốc sự sống thông qua sự kết hợp của sinh học phân tử, cổ sinh vật học, sinh vật học, hải dương học, sinh lý học, địa hóa học và hóa sinh, và nhằm mục đích xác định các phản ứng hóa học trước khi có sự sống đã tạo ra sự sống như thế nào. Nghiên cứu về nguồn gốc sự sống có thể là địa vật lý, hóa học hoặc sinh học, với các phương pháp gần đây hơn đang cố gắng tổng hợp cả ba môn khoa học trên, khi sự sống nảy sinh trong những điều kiện khác biệt so với những điều kiện trên Trái Đất ngày nay. Sự sống hoạt động thông qua hoạt động hóa học chuyên biệt của carbon và nước và xây dựng phần lớn dựa trên bốn họ hóa chất chính: lipit (thành tế bào mỡ), carbohydrat (đường, cellulose), axit amin (chuyển hóa protein) và axit nucleic (DNA và RNA tự sao chép). Bất kỳ lý thuyết thành công của nguồn gốc sự sống phải giải thích nguồn gốc và tương tác của các lớp phân tử này. Nhiều phương pháp tiếp cận nguồn gốc sự sống điều tra làm thế nào các phân tử trên tự sao chép, hoặc các thành phần của chúng ra đời như thế nào. Các nhà nghiên cứu thường nghĩ rằng cuộc sống hiện tại trên Trái Đất bắt nguồn từ một thế giới RNA, mặc dù cuộc sống dựa trên RNA có thể không phải là sự sống đầu tiên tồn tại.

Thí nghiệm Urey-Miller cổ điển năm 1952 và các nghiên cứu tương tự đã chứng minh rằng hầu hết các axit amin, thành phần hóa học của protein được sử dụng trong tất cả các sinh vật sống, có thể được tổng hợp từ các hợp chất vô cơ trong các điều kiện mô phỏng trạng thái của Trái Đất sơ khai. Các nhà khoa học đã đề xuất các nguồn năng lượng bên ngoài khác nhau có thể đã kích hoạt các phản ứng này, bao gồm sét và bức xạ. Các cách tiếp cận khác (giả thuyết "trước tiên về trao đổi chất" tập trung vào việc tìm hiểu cách xúc tác trong các hệ thống hóa học trên Trái Đất sơ khai có thể đã cung cấp các phân tử tiền chất cần thiết cho quá trình tự sao chép. Các phân tử hữu cơ phức tạp xuất hiện trong Hệ Mặt trời và trong không gian giữa các vì sao, và các phân tử này có thể đã cung cấp nguyên liệu ban đầu cho sự phát triển của sự sống trên Trái Đất.


Khởi đầu

Hóa sinh của sự sống có thể đã bắt đầu ngay sau Vụ Nổ Lớn, 13,8 tỷ năm trước, trong một kỷ nguyên có thể ở được khi tuổi của vũ trụ chỉ còn 10 đến 17 triệu năm. Giả thuyết panspermia cho thấy sự sống siêu nhỏ được bụi vũ trụ, thiên thạch, tiểu hành tinh và các vật thể trong Hệ Mặt trời nhỏ khác đưa đến Trái Đất sơ khai và sự sống có thể tồn tại trong vũ trụ. Giả thuyết panspermia cho rằng sự sống bắt nguồn từ bên ngoài Trái Đất, nhưng không giải thích dứt khoát về nguồn gốc của nó.

Tuy nhiên, Trái Đất vẫn là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến với sự sống, và bằng chứng hóa thạch từ Trái Đất tạo điều kiện hầu hết các nghiên cứu về nguồn gốc sự sống. Tuổi của Trái Đất là khoảng 4,54 tỷ năm; bằng chứng không thể chối cãi sớm nhất về sự sống trên Trái Đất có từ ít nhất 3,5 tỷ năm trước, và có thể sớm nhất là từ kỷ Đại Tiền Thái cổ (từ 3,6 đến 4,0 tỷ năm trước đây), sau khi lớp vỏ địa chất bắt đầu hóa cứng sau Hadean Eon nóng chảy. Vào tháng 5 năm 2017, các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng có thể về sự sống ban đầu trên đất liền ở geyserite 3,48 tỷ năm tuổi và các mỏ khoáng sản liên quan khác (thường được tìm thấy xung quanh suối nước nóng và mạch nước phun) được phát hiện ở Pilbara Craton, Tây Úc. Tuy nhiên, một số khám phá cho thấy sự sống có thể đã xuất hiện trên Trái Đất thậm chí sớm hơn. Tính đến năm 2017, microfossils, hoặc các vi sinh vật hóa thạch, trong các kết tủa thủy nhiệt với tuổi từ 3,77 đến 4,28 tỷ năm tuổi được tìm thấy ở Quebec, trong các hòn đá Canada có thể chứa đựng kỷ lục sống lâu đời nhất trên Trái Đất, cho thấy sự sống bắt đầu ngay sau khi hình thành đại dương 4,4 tỷ năm trước. Theo nhà sinh vật học Stephen Blair Hedges, "Nếu sự sống phát sinh tương đối nhanh trên Trái Đất thì nó có thể phổ biến trong vũ trụ".


SỰ SỐNG LÀ GÌ ?

Từ lâu, khoa học đã nói cách định nghĩa xem sự sống là gì, còn những người bình thường thì quen nghĩ: cái gì không chết là đang sống. Tuy nhiên, với những bước tiến nhảy vọt của khoa học hiện đại, nhất là sinh học, định nghĩa về sự sống trở nên phức tạp hơn và là thách thức lớn đối với các nhà khoa học.

Hiện mới lưu hành hai quan điểm tranh luận: một nghiên cứu về lý thuyết cho rằng vật sống phải có mục tiêu sinh sản, một có tính thực tiễn nhằm xác định các gien quan trọng tạo ra một cơ thể sống.

Từ thuyết sức sống đến các phân tử

Trước hết nhìn lại lịch sử, theo một bài thuyết trình về Thế nào là sự sống? tháng 0l/2000 của Giáo sư Francois Jacob, Giải thương Nobel Y học, thì trong nhiều thế kỷ, người ta đã nghĩ rằng có một lực hoặc một chất mang sức sống phân biệt giữa vật chất sống và vật chất bình thường và người ta cố gắng phát hiện ra nó. Với Descartes, đã phát triển tư tưởng đồng quy về thuyết sức sống (vitahsm) theo đó tất cả các co thể chỉ là những cỗ máy. Hai quan niệm trên rõ ràng tỏ ra không đủ. Đến cuối thế kỷ thứ XIX, ba thuyết sau đây đã mở ra những triển vọng mới:

Thuyết các mầm bệnh của Pasteur đã làm rõ vai trò của các cơ thể vi mô trong các bệnh tật mà con người và động vật mắc phải. Ngoài ra nó cũng chứng minh không hề có chuyện thế hệ tự phát, vi trùng lại đẻ ra từ vi trùng.

Thuyết tế bào do Schleiden phát triển ở các loài thực vật và Doschwann phát triển ở động vật đã xác định tế bào là đơn vị của sinh vật và tìm ra vai trò của tế bào trong việc tái sinh.

Thuyết tiến hoá của Darwin đã chỉ ra thế giới sinh vật là kết quả của lịch sử Trái đất, các chủng loài kế tục lẫn nhau theo cơ chế cua sự lựa chọn tự nhiên.

Đầu thế kỷ XX, có hai ngành khoa học đã quyết định một hướng bổ sung trong việc nhận thức sinh vật. Ngành sinh hoá gắn với sự phân tích các thành tố và các phản ứng của tế bào, làm rõ sự tồn tại trong lòng nó các acid nucleic và các protein. Một số các chất ấy, các enzym, do vậy được xem nhu dấu hiệu rõ rệt của vật sống. Với di truyền học, đã thấy được các gen ở bên trong một tế bào và như thế là một cơ thể. Việc khám phá các gien trỏ thành động lực nghiên cứu về sinh vật.

Giữa thế kỷ XX có sự biến đổi mới: người ta đi đến cho rằng các chất của các cơ thể sống phải được nhất thiết giải thích bằng cấu trúc và sự tương tác của các phân tử hình thành nên cơ thể sống. Ngày nay các nhà khoa học đang ở vào thời kỳ hiểu sâu hơn và khai thác yêu cầu giải mã các phân tử. Nói một cách khác, không còn là vấn đề sự sống được hỏi đến trong phòng thí nghiệm mà là các hệ thống sống, các cấu trúc, các chức năng và lịch sử của chúng ta được phân tích. Và khi sinh học phân tử tập trung khám phá các gen với nhiều thành tựu kỳ diệu thì cố nhiên định nghĩa về sự sống cũng phát triển phức tạp hơn.


Không tái sinh sản được không phải là sinh vật

Đó là quan điểm của nhà sinh học Ba Lan Bernard Korzeniewski, làm việc ở Viện sinh học phân tử, Trường Đại học Jagellon, Cracovie. Theo ông, sự sống được xác định trước hết bởi khả năng tái sinh sản. Như vậy có vẻ như phi lý, vì thế thì người vô sinh không còn được coi là sinh vật, con kiến cũng rứa. Trong một cuộc trả lới phỏng vấn mới đây trên tờ báo Lan Gazeta Wyborcza, ông đã giải thích quan điểm của ông.

Bemard Korzeniewski coi sinh vật là một tổng thể các cơ chế điều chỉnh hoạt động nhằm bảo tồn nó và nhân nó lên. Nới đơn giản hơn, mục tiêu duy nhất của một sinh vật là đạt tới độ tuổi tái sinh sản và tự nhân nó lên. Trong công việc này, nó được các cơ chế điều chỉnh giúp đõ, đó là những tác động trở lại tích cực và tiêu cực. Các tác động trở lại tiêu cực tham gia vào việc bảo tồn một nguyên trạng, ví như bộ ổn nhiệt của tủ làm lạnh, còn các tác động trở lại tích cực góp phần vào việc biến đổi nó. Định nghĩa này theo ý ông hay hơn các định nghĩa khác, vì nó đụng đến bản chất của sự sống, lại giản dị, sáng sủa và phổ biến. Các định nghĩa khác nhấn mạnh đến phương diện cấu trúc của sự sống, đến chất liệu tạo thành các cơ chế và đến nhiệt động lực của các cơ chế ấy. Định nghĩa của Bernard Korzeniewski tập trung vào các cơ chế điều chỉnh là mục đích của của sự sống. Mục đích đó là tái sinh sản sinh vật theo định nghĩa được xem là đối tượng của sự phát triển, nó chính là cái phát triển trong thực tế. Định nghĩa cho phép phân biệt rõ giữa những đối tượng là sinh vật và những đối tượng không phải là sinh vật.

Xét theo quan điểm điều khiển học, con kiến không phải vật sống, con kiến thọ không sinh sản không hoạt động cho tương lai phát triển của nó, thế thì làm sao nó đóng góp vào đàn kiến nói chung. Cả kiến chúa cũng vậy, chỉ toàn bộ đàn kiến mới là đối tượng của sự phát triển, vì kiến chúa không sống đơn độc, nên nó có liên quan đến một mạng lưới dày đặc các tác động trở lại tiêu cục. Còn xét về quan điểm phát triển, con người vô sinh cũng lâm vào bế tắc. Nếu nó không chuyển giao các gen của nó, và chết mà vẫn giữ lại các gen ấy, thì chẳng khác gì nó không tồn tại.

Cần hiểu sinh vật theo ý nghĩa điều khiển học.Các đối tượng phát triển có một số xét được một cách riêng rẽ, một số khác lại phải xét tổng thể. Nhà khoa học nổi tiếng nước Anh Richard Dawkins cho rằng có các gen "ích kỷ", ông nói "chúng ta là những cỗ máy nhằm đảm bảo sự sống còn của các gen". Korzeniewski nghĩ là nói đến tính ích kỷ của các gen không có ý nghĩa gì, khi ta biết rõ đa số các gen phải hợp tác với nhau đề duy trì sụ sống còn. Chúng phải giúp đõ lân nhau bên trong một cá thể điều khiển học, gen không phải là đối tượng phát triển mà là cá thể kia. Sư sống là một thực thể tự sinh sản.

Korzeniewskj nói ông không sẵn lòng vận dụng định nghĩa của ông vào con người. Nếu ta coi con người là một tồn tại sinh học thì không có vấn đề gì. Những con người có đặc điểm riêng là tầm vóc vật lý - sinh học hoà lan với kích cỡ tâm lý - văn hoá, ở một số người cái sau chi phối cái trước. Và bởi vì tất cả các hiện tượng tâm lý - văn hóa ở ngoài giới hạn vận dụng định nghĩa điều khiển học về sự sống, con người sẽ không phải là một phần nằm trong khuôn khố ấy.

Việc con người sống một cách khác với động vật tuỳ thuộc vào kích cỡ tâm lý - văn hoá, cho nên sẽ là vô nghĩa nếu muốn đặt con người vào các phạm trù thuần tuý sinh học.

Korzeniewski không đồng tình với ý kiến nhũng định nghĩa khác nhau về sự sống phản ánh việc vận dụng khoa học khác nhau. Theo ông, mọi định nghĩa về sự sống phải tuân thủ một số chuẩn mực. Trước hết nó phải vạch ra ranh giới rõ ràng giữa cái sống và cái không sống, sau đó những đặc điểm nêu ra chỉ thấy xuất hiện ở các sinh vật, ví dụ không thể nói mọi sinh vật đều sản xuất các chất hữu cơ, vì có những chất hữu cơ tồn tại ở một thế giới vô sinh.

Những sinh vật đơn giản nhất ngày nay thì so với những sinh vật tồn tại ngày xưa hồi mới có sự sống trên Trái đất chúng vẫn đơn giản hơn. Xưa chúng sống trong đại dương còn bây giờ chúng sống bên trong các cơ thề sống, có thể nhờ các cơ thể cho chúng cư trú. Khôn bối cảnh sinh học, các virus và viroid sẽ chết. Tạp chí Nêu Scientist có lưu ý độc giả đến lợi ích của lý thuyết Korzeniewski đối với việc khám phá vũ trụ vì nó có thể giúp vào sự hiểu biết các hành tinh còn bí ấn, tuy nhiên ông cũng khiêm tốn cho rằng trong vũ trụ không phải các hình thái sự sống đều đồng nhất. Chúng ta mới thăm dò sự sống qua những biểu hiện trên Trái đất. Chúng ta khám phá những định luật chính vì hoạt động của các cơ chế đã biết, thấy rằng chúng gần như giống nhau mà gen, protein... Ngày nay có một vấn đề đặt ra: những đặc điểm trên liệu có phổ biến không? Có thể rằng một định nghĩa chỉ dựa vào gen và protein sẽ chật hẹp quá chúng ta còn chưa có định nghĩa nào có thể trải rộng tới các vùng khác của vũ trụ. Ông nói ông đã muốn tìm hiểu bản chất của sự sống vượt ra khỏi cái vỏ Trái đất và chỉ giữ lại cái gì thật phổ biến.


Sự sống nằm trong biểu hiện giản đơn nhất về gen

Khi sự ồn ào xung quanh việc cắt khúc bộ gen đơn bội con người dịu đi, thì một dự án một cơ bản hơn đang hình thành, cũng từ cái phòng thí nghiệm ấy tại Maryland nơi phần lớn bản đồ gen của con người đã được hoàn tất. Trong Viện nghiên cứu bộ gen đơn bội (TIGR), nhà sinh học Mỹ Scott Peterson cùng với êkip của ông tìm cách thực hiện một điều chưa từng tính đến trong tự nhiên: tạo ra trong phòng thí nghiệm một sản phẩm sống cơ bản nhất, với một số lượng tối thiểu các gen cần thiết cho sự sống. Nghĩa là một sinh vật đơn bào có số gen vừa đủ để sống.

Theo Tạp chí Mỹ Discover, để chế tạo ra vi trùng ấy, ông phải liên kết một tập hợp gen lựa chọn và xây dựng một thể nhiễm sắc. Rồi sau đó ông sẽ đặt cái búi ADN vào các tế bào...Với nhiều lần nhân lên con vi trùng hoàn toàn độc đáo này, sự phát triển đi tới một bước ngoặt mới . Scott Peterson đã chọn nghiên cứu vi khuẩn giản đơn nhất trong tự nhiên là Aliycoplasma genitalium trú ẩn ở các trường sinh dục của con người. Ông tìm đáp số cho 2 câu hỏi cơ bản: một tế bào cần chính xác là bao nhiêu gen để sống được? Và là những gen nào? Peterson tuyên bố: "Chúng tôi chế tạo ra một mô hình vật sống, chúng tôi tìm hiểu các đòi hỏi về số gen cần thiết cho cuộc sống các tế bào. Thử và gạn lọc mãi, ông lập được một danh sách chừng 300 gen chủ yếu. Chỉ thiếu một trong chúng, mycoplasma sẽ chết. Cuối cùng mọi khảo nghiệm đưa đến kết luận: cách thức duy nhất để chứng minh có được một tế bào số gen tối thiểu là phải tự chế lấy, nghĩa là tạo ra một cơ thể hoàn toàn chưa từng biết đến Trái đất này. Để có được một vật tối thiểu, phải lắp ráp một nhiễm sắc nhân tạo mà với công nghệ có tên gọi là Gateway Cloning- Technologydòmichaelbrasch phát triển, đã giúp vào việc sao chép từng gen quan trọng và tập hợp chúng lại theo đúng trật tự nhằm tái tạo nguyên vẹn bộ gen đơn bội. Cố nhiên trước đó nhà nghiên cứu phải lụa chọn ra những gien nào thích hợp để liên kết chúng lại.

Năm 1997, một nhóm các nhà khoa học Nhật gọi là E-cell đã thử chế tạo ra một tế bào tối thiểu kỹ thuật số qua máy tính. Mô hình tế bào gồm l27 gen, có khả năng giả vờ sống, nhưng không tái sinh sản được. Muốn có sự sống thật sự, tế bào phải tự phân chia, mà đối với tế bào tối thiểu ít gen thời gian càng lâu, mất hàng tháng mới tự phân chia được và chỉ trong điều kiện chăm sóc của phòng thí nghiệm hiện đại về mặt dinh dưỡng hay đột biến hoá học, mới duy trì được sự sống cho tế bào tối thiếu vượt lên các thư thách. Hiện tại mới là như vậy.

Chắc chắn là dự án của Scott Peterson cùng với các Dự án nghiên cứu khác trong lĩnh vực công nghệ sinh học sẽ giúp cho ta hiểu rõ hơn các gen cùng nhau hoạt động như thế nào. Và có thể tới ngày nào đó sẽ dẫn đến chỗ tạo ra một cơ thể đơn bào nhân tạo, bao gồm các thành tố như ADN, các protein, lipid và chất đường.

Scott Peterson nói: "Tôi tin rằng sẽ có ngày khoa học đạt tới điểm mà chúng ta phải tự hỏi: có nên làm hay không?”. Trong khi ông khẳng định như thế, thì một nhà khoa học nổi tiếng khác là Craig Wnter lại nói: "Trước mắt, cách thức duy nhất để thu được sự sống là xuất phát từ chính bản thân sự sống. Chúng tôi làm việc theo hướng ấy và chúng tôi hãy còn xa mới đạt tới thời điểm quyết định xem liệu có nên tiếp tục tiến xa hơn nữa không?”.


Ba yếu tố cơ bản của sự sống

Trong nỗ lực khám phá nguồn gốc sự sống, trước tiên các nhà nghiên cứu phải định nghĩa được sự sống là gì. Đối với một nhà hóa lý, việc định nghĩa này thật đơn giản, Robert Pascal đến từ IBMM1 tại Montpellier (Pháp) giải thích: “Sự sống là một hệ thống các thuộc tính mang lại trạng thái cân bằng khác xa so với trạng thái cân bằng nhiệt động lực”.

Hơn nữa, một nhà sinh học không thể hiểu được sự sống nếu không có thuyết tiến hóa của Darwin. Các chuyên gia tìm hiểu về nguồn gốc của sự sống ít nhiều đều cho rằng sự sống hình thành từ ba yếu tố cơ bản sau: một là sự trao đổi chất, toàn bộ các phản ứng hóa học cung cấp cho sinh vật các dưỡng chất và năng lượng; hai là vật liệu di truyền, bao gồm sơ đồ các cơ quan của sinh vật và giúp thực hiện quá trình tái sản xuất; cuối cùng là môi trường bên ngoài, giúp phân biệt chính nó với các nhân tố bên ngoài. Nếu không có một trong ba yếu tố này, có thể sẽ không tồn tại sự sống. “Khó khăn nằm ở chỗ xác định yếu tố nào có trước”, Purificación López-García thuộc phòng thí nghiệm ESE2 nghiên cứu về tiến hóa có trụ sở tại Orsay giải thích.

Các nhà nghiên cứu tin rằng, nếu không có sự trao đổi chất, di truyền học có thể đã không xuất hiện. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng di truyền học xuất hiện trước rồi mới có sự trao đổi chất. “Mặc dù nhiều nhà khoa học nghiêng về giả thuyết thứ hai, vì di truyền học có ảnh hưởng rất lớn đến sinh học hiện đại, nhưng theo tôi nghĩ, các yếu tố này cùng tồn tại từ rất sớm”, Lospez-García cho biết. Một nhà nghiên cứu khác đến từ CBM3, Marylène Bertrand cũng chia sẻ quan điểm của mình: “các đại phân tử sinh học có liên quan lớn đến việc hình thành cả ba yếu tố này và có nhiều khả năng cả ba yếu tố tạo nên sự sống đều có sự phát triển cùng nhau”.

 TRÌNH BÀY CÁC DẤU HIỆU ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SỰ SỐNG

Trao đổi chất: toàn bộ các hoạt động hóa học của cơ thể sinh vật.

Sự nội cân bằng: xu hướng các sinh vật tự duy trì môi trường bên trong ổn định: các tế bào hoạt động ở mức cân bằng và ổn định ở một trạng thái nhất định.

Sự tăng trưởng: tăng khối lượng chất sống của mỗi cơ thể sinh vật.

Đơn vị tổ chức: cấu trúc được bao gồm một hoặc nhiều tế bào - đơn vị cơ bản của cuộc sống.

Sự đáp lại: đáp lai các kích thích khác nhau từ môi trường bên ngoài.

Sự sinh sản: gồm sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính

Sự thích nghi: khả năng cơ thể có thể sống bình thường trong một môi trường nhất định.


NHỮNG BÍ ẨN CỦA CUỘC SỐNG MÀ KHOA HỌC CHƯA THỂ LÝ GIẢI

Mặc dù khoa học đã đưa những hiểu biết của chúng ta về thế giới sự sống lên một tầm cao mới, nhưng vẫn có một số điều thách đố tri thức của nhân loại. Dường như càng khám phá về cuộc sống trên hành tinh này, thì các bí ẩn càng trở nên sâu sắc.

Tại sao bò luôn quay mặt về hướng Bắc hoặc Nam trong khi gặm cỏ

Hầu hết mọi người không nghĩ nhiều đến việc chăn thả bò, nhưng khi một nhóm các nhà khoa học quan sát hàng ngàn bức ảnh vệ tinh từ Google Earth về những con bò, họ tình cờ phát hiện ra một chi tiết mà cả ngàn năm qua không ai để ý đến: Những con bò ​​sẽ đứng dọc theo cực từ trường của Trái đất – quay mặt về hướng bắc hoặc nam -  bất cứ khi nào chúng gặm cỏ hoặc nghỉ ngơi. Mô hình này luôn nhất quán như vậy bất kể gió hay các yếu tố khác, và không ai biết chắc lý do.

Tuy một số động vật được biết là có một “la bàn” bên trong, đây là lần đầu tiên hiện tượng này được tìm thấy ở một loài động vật có vú lớn. Một điều kỳ lạ nữa là càng ở gần cực của trái đất, những con bò càng kém chính xác trong việc định hướng. Các nhà khoa học không biết liệu hiện tượng này liên quan đến khả năng điều hướng hay là một nỗ lực tính toán sai lầm nhằm xua đuổi động vật ăn thịt, mặc dù có vẻ như nó có mục đích nào đó vì sự nhất quán được quan sát thấy ở những con bò trên cả 6 châu lục. Hiện tượng này có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, vì những con bò bị nhốt theo hướng đông tây chắc sẽ bị ảnh hưởng theo một cách nào đó, mặc dù không ai có thể nói cụ thể là thế nào.

Tại sao một số động vật có vú lại chuyển về sống dưới nước

Chúng ta biết rằng các động vật biển di chuyển lên cạn và phát triển các chi để bò trên mặt đất. Đó là điều hợp lý, vì đất liền chứa một lượng lớn tài nguyên chưa được khai thác tạo điều kiện lý tưởng cho sự tiến hóa thành công. Nhưng tại sao một số trong những động vật này - như tổ tiên của cá voi và hải cẩu – lại trở lại sống dưới nước.

Có một điều là, sự tiến hóa đối với động vật từ trên cạn xuống sống dưới nước sẽ khó khăn hơn nhiều so với ngược lại, vì việc học cách bơi đối với động vật quen “đi đi bộ” tốn nhiều năng lượng hơn. Điều này đã khiến các nhà khoa học phải đau đầu trong một thời gian dài. Các động vật biển có vú đã phát triển một phương pháp điều hướng bằng đuôi hiệu quả hơn thay vì mái chèo muộn hơn nhiều trong quá trình tiến hóa, điều này khiến người ta tự hỏi: Tại sao lại phải trải qua tất cả những rắc rối đó ngay từ đầu? Đây vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của tiến hóa mà khoa học hiện đại phải đối mặt.

Các alkaloids trong thực vật

Thực vật thường sinh ra những chất với nhiều hiệu ứng lý thú và đôi khi đáng sợ đối với các loài động vật ăn phải chúng. Các alkaloid – tên của chúng - là những chất xuất hiện tự nhiên trong thực vật cũng như động vật, mà một trong những chất phổ biến là morphin. Khoảng 7.000 loại alkaloids khác nhau đã được xác định trong thực vật, và mặc dù có thể nghiên cứu rộng rãi về các chất này, chúng ta vẫn không hoàn toàn chắc chắn tại sao chúng lại có mặt ở đó.

Đây là những chất mạnh gây ra nhiều phản ứng khác nhau khi những động vật khác nhau ăn phải. Trong trường hợp cây thuốc phiện sản sinh ra morphin, một số chuyên gia tin rằng nó rất hữu ích trong việc xua đuổi động vật ăn thịt, mặc dù cách xua đuổi những kẻ săn mồi của morphin, một chất rất hữu hiệu trong giảm đau, chỉ là phỏng đoán. Một số người tin rằng, thay vì lý do bên ngoài, những chất này có thể hữu ích cho việc điều hòa sự trao đổi chất của chính cây trồng.

Tại sao hoa lại có mặt ở khắp mọi nơi?

Thực vật có hoa tạo thành một lớp thực vật gọi là thực vật hạt kín, và như ta có thể nhận thấy, chúng có mặt ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, điều có thể gây ngạc nhiên là điều này không phải lúc nào cũng đúng. Thực vật có hoa đã chiếm ưu thế so với các loài thực vật khác trong một khoảng thời gian nhanh chóng chừng 400 triệu năm trước, và kết quả là chúng chiếm khoảng 90% tổng số tất cả các loài thực vật ngày nay.

Vấn đề này đã khiến Charles Darwin lo lắng đến mức ông gọi nó là “một bí ẩn ghê gớm”. Sự tiến hóa nhanh chóng của hoa ngay sau khi hình thành đã trực tiếp chống lại lý thuyết của Darwin về sự tiến hóa dần dần thông qua chọn lọc tự nhiên. Và không gì có lợi về mặt tiến hóa đối với các thực vật có hoa, vì với chi phí dinh dưỡng để tạo ra hoa, thực vật có thể đầu tư vào tăng trưởng hoặc những thứ khác có thể đưa chúng lên cao hơn trong bậc thang tiến hóa. Bởi vì các loài thực vật không để lại bất kỳ hồ sơ hóa thạch nào khi chúng chết, rất khó để xác định những “kẻ lang thang” này đến từ chỗ không có gì như thế nào đâu và tại sao chúng lại nhanh chóng chiếm ưu thế như vậy.

Tại sao có quá nhiều sự đa dạng sinh học gần xích đạo?

Nếu ta đi từ những vùng lạnh hơn của trái đất về phía xích đạo, ta sẽ thấy cuộc sống trở nên đa dạng hơn. Khoảng 200 năm trước, một nhà thám hiểm người Phổ tên là Alexander von Humboldt đã lần đầu tiên phát hiện ra rằng sự đa dạng sinh học tăng lên khi tiến gần đến đường xích đạo. Cả sự sống tự nhiên lẫn văn hóa của con người đều trở nên đa dạng và sôi động hơn, và các bệnh cũng vậy. Bất cứ khi nào ta nghe về sự bùng phát virus chết người ở Châu Phi hoặc Nam Mỹ, thì đó không chỉ vì chăm sóc sức khỏe kém ở các nước kém phát triển. Các loại virus và vi khuẩn gây ra các bệnh này đơn giản và đa dạng hơn ở các nước miền nam so với các nước miền bắc.

Ta sẽ nghĩ rằng chúng ta biết chắc chắn lý do của điều này, nhưng ngoài một số giả thuyết, khoa học vẫn còn tranh cãi. Có khoảng ba chục giả thuyết để trả lời câu hỏi lớn này, nhưng với số lượng lớn các dạng sự sống mà chúng ta đang nói đến, gần như không thể dung hòa tất cả các giả thuyết thành một kết luận duy nhất.

Bí ẩn về tổ tiên loài người

Dòng dõi của con người hiện đại đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trong những năm qua, và mặc dù những con người đầu tiên xuất hiện từ rất lâu về trước, chúng ta có vẻ như đã có một hình dung rõ ràng về nguồn gốc của con người. Hoặc là chúng ta tưởng như vậy cho đến khi các nhà khoa học phát hiện ra dấu vết của một kiểu người cổ đại hoàn toàn mới trong ADN của một loài hiện đã tuyệt chủng.

Khi nghiên cứu ADN của người Denisova (Denisova hominin), một loài vượn người có quan hệ họ hàng gần gũi với người Neanderthal và được đặt tên theo các hang động nơi họ được tìm thấy lần đầu tiên, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu vết của một loài bí ẩn mà khoa học chưa thể xác định được. Mặc dù có một lớp màn bí ẩn bao phủ quanh thân phận của người Denisova, ít nhất chúng ta cũng biết họ là ai và họ đến từ đâu. Không thể nói điều tương tự với loài bí ẩn đã sống khoảng 30.000 năm trước, một loài để lại dấu ấn riêng biệt trong ADN của người Denisova. Về cơ bản, tất cả những gì chúng ta biết là họ đã mang lại cho người Denisova một bộ răng kỳ lạ không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trong thế giới sinh vật.


Qua trình bày ở trên khái niệm về pháp rất rộng , để phục vụ cho mục đích của mình là trao đổi cùng Các Con Cháu của ta . Ta chỉ giới hạn lại ở các phạm vi cụ thể hơn điều chỉnh các quan hệ nhân sinh như : PHÁP LUẬT , CÁC QUY LUẬT CỦA TỰ NHIỆN , CÁC QUY LUẬT CỦA KINH TẾ , CÁC  QUY LUẬT CỦA TÂM LÝ CON NGƯỜI . đương nhiên chỉ dừng ở mức khái niệm thôi

a/Tự nhiên

Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. "Tự nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ. Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học. Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên, nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên.

Từ nature có nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết, thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự sinh nở".Natura trong tiếng Latin là dịch từ physis trong tiếng Hy Lạp, một từ có nguồn gốc liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại.1 2 Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật chất, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó. Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua.

Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã. Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên. Khi hiểu theo nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người. Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự nhiên". Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ "không tự nhiên" hay "siêu nhiên".

b/Trái Đất :Trái Đất là hành tinh duy nhất hiện đã được biết là có hỗ trợ cho sự sống, và các đặc điểm tự nhiên của nó là đối tượng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Trong hệ Mặt Trời, Trái Đất là hành tinh gần Mặt Trời thứ 3; là hành tinh đất đá lớn nhất và là hành tinh lớn thứ 5 trong 8 hành tinh. Đặc điểm khí hậu nổi bật nhất của nó là hai vùng cực rộng lớn, hai đới ôn hòa tương đối hẹp và một vùng trải rộng từ nhiệt đới xích đạo đến cận nhiệt đới .Giáng thủy biến thiên rộng tùy theo vị trí, từ vài met mỗi năm đến ít hơn một milimet. 71% bề mặt Trái Đất là nước mặn, phần còn lại là các lục địa và đảo, với hầu hết con người định cư ở những vùng đất thuộc Bắc Bán cầu.

Trái Đất tiến hóa qua các quá trình sinh học và địa chất đã để lại các dấu vết của những môi trường nguyên thủy. Bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo chuyển dịch chầm chậm. Phần bên trong hành tinh vẫn còn hoạt động với một lớp dày được gọi là manti và lõi sắt trong cùng tạo ra một từ trường. Lõi sắt này bao gồm một pha rắn ở trong và một pha lỏng ở ngoài. Sự chuyển động đối lưu trong lõi tạo nên những dòng điện tử thông qua những hoạt động xuất điện, và hình thành nên từ trường Trái Đất.

Các đặc tính khí quyển hiện tại đã thay đổi đáng kể so với môi trường sơ khai do sự hiện diện của các dạng sống, chúng tạo nên sự cân bằng sinh thái, giúp ổn định môi trường bề mặt. Mặc cho những biến động khí hậu trên một khu vực rộng dọc theo vĩ độ và các yếu tố địa lý khác, khí hậu trung bình dài hạn toàn cầu là khá ổn định trong thời kỳ gian băng, và những biến đổi về mức độ hoặc nhiệt độ toàn cầu trung bình trong lịch sử đã tạo ra những ảnh hưởng chính yếu đối với cân bằng sinh thái và địa lý hiện thời của Trái Đất.

c/ Địa chất:Địa chất học là ngành khoa học nghiên cứu về vật chất rắn và lỏng cấu tạo nên Trái Đất. Lĩnh vực địa chất bao gồm việc nghiên cứu về thành phần, cấu tạo, thuộc tính vật lý, động lực và lịch sử của các vật liệu trên Trái Đất và các quá trình mà các vật liệu này được hình thành, di chuyển và biến đổi. Địa chất học là một trường học thuật chính, và cũng rất quan trọng trong khai thác mỏ, dầu khí, những kiến thức về các tai biến thiên nhiên và những giải pháp giảm thiểu các tai biến này, các lĩnh vực địa kỹ thuật, và hiểu về cổ khí hậu và cổ môi trường.

d/ Tiến hóa địa chất :Địa chất của một khu vực liên quan đến thời gian các đơn vị đá kết tụ và đệm chèn, và quá trình biến dạng làm thay đổi hình dạng và vị trí tồn tại ban đầu của chúng.

Các đơn vị đá đầu tiên được hình thành bằng cách tích tụ trên bề mặt hoặc xâm nhập vào các đá có trước. Sự tích tụ xảy ra khi trầm tích lắng đọng trên bề mặt Trái Đất và sau đó biến thành đá tạo thành đá trầm tích, hoặc khi vật liệu núi lửa phun lên ở dạng tro núi lửa hoặc dòng dung nham phủ trên bề mặt. Những loại đá macma xâm nhập như batholith (thể nền), laccolith (thể nấm), dike (thể mạch), và sill, làm đẩy các lớp đá bên trên lên và kết tinh khi chúng xâm nhập vào.

Sau khi lớp đá được hình thành hay tích tụ, các đơn vị đá có thể bị biến dạng hoặc biến chất. Sự biến dạng làm cho các lớp nằm ngang co lại, hoặc kéo giãn ra hoặc di chuyển dọc theo nhau giữa hai phần của đứt gãy. Những cơ chế cấu trúc này liên quan đến các ranh giới hội tụ, ranh giới tách giãn và ranh giới chuyển dạng giữa các mảng kiến tạo.

+ Quan điểm lịch sử

Trái Đất ước tính được hình thành cách đây 4,54 tỉ năm từ tinh vân Mặt Trời, cùng với Mặt Trời và các hành tinh khác. Mặt Trăng được hình thành khoảng 20 triệu năm sau đó. Ban đầu Trái Đất ở dạng nóng chảy, lớp ngoài cùng của hành tinh nguội dần rồi tạo thành vỏ rắn. Các khí thoát ra và hoạt động núi lửa tạo nên bầu khí quyển nguyên thủy. Phần lớn hoặc tất cả hơi nước ngưng tụ đến từ băng được sao chổi mang đến, tạo ra các đại dương và những nguồn nước khác. Môi trường hóa học năng lượng cao được cho là đã tạo ra các phân tử tự sao chép khoảng 4 tỉ năm về trước.

Các lục địa được hình thành, rồi sau đó vỡ ra và tái sáp nhập thành bề mặt Trái Đất trải qua hàng trăm triệu năm, đôi khi kết hợp với nhau tạo thành các siêu lục địa. Khoảng 750 triệu năm trước, siêu lục địa đầu tiên có tên Rodinia bắt đầu vỡ ra. Các lục địa sau đó kết hợp lại tạo thành Pannotia, lục địa này sau đó tiếp tục vỡ ra vào khoảng 540 triệu năm trước, sau cùng thì sáp nhập tạo thành Pangaea, rồi lại vỡ ra vào khoảng 180 triệu năm trước.

Có bằng chứng rõ ràng về hoạt động băng hà trong suốt Đại Tân Nguyên sinh (Neoproterozoic), băng đã bao phủ phần lớn hành tinh, trong những sông băng và tảng băng. Giả thiết này được gọi là "Quả cầu tuyết Trái Đất", và nó được đặc biệt quan tâm khi nó có trước sự kiện bùng nổ kỷ Cambri mà theo đó các dạng sống đa bào bắt đầu sinh sôi nảy nở khoảng 530–540 triệu năm trước.

Kể từ vụ bùng nổ kỷ Cambri đã có 5 sự kiện tuyệt chủng lớn. Vụ tuyệt chủng lớn gần đây nhất xảy ra vào khoảng 66 triệu năm trước, khi một thiên thạch có lẽ đã va chạm vào Trái Đất làm tuyệt chủng các loài khủng long phi chim và các loài bò sát lớn khác, ngoại trừ những loài động vật nhỏ như động vật có vú. Và hơn 66 triệu năm qua, lớp thú đã tiến hành đa dạng hóa chủng loài.

Kỷ nguyên hiện tại được xem là một phần của sự kiện tuyệt chủng lớn có tên gọi là tuyệt chủng Holocen, đây là thời kỳ tuyệt chủng nhanh chưa từng thấy. Một số tác giả như E. O. Wilson thuộc Đại học Harvard, dự đoán rằng sự phá hoại sinh quyển của con người có thể là nguyên nhân làm tuyệt chủng phân nửa các loài trên Trái Đất trong vòng 100 năm tới. Phạm vi của sự tuyệt chủng hiện tại vẫn đang được nghiên cứu, vẫn còn tranh cãi và tính toán của các nhà sinh học.

+ Khí quyển, khí hậu, và thời tiết

Khí quyển Trái Đất là yếu tố quan trọng nhằm duy trì hệ sinh thái của hành tinh. Lớp khí mỏng bao bọc Trái Đất được giữ bởi trọng lực của Trái Đất. Không khí khô bao gồm 78% nitơ, 21% oxy, 1% argon và các khí trơ khác, cacbon dioxit...; nhưng không khí cũng chứa một lượng đáng kể hơi nước. Áp suất khí quyển giảm từ từ theo cao độ, và tồn tại trong khoảng khoảng 8 km từ bề mặt Trái Đất: độ cao mà áp suất khí quyển giảm theo hằng số e (hằng số toán học tương đương 2,71...). Tầng ozon của khí quyển Trái Đất có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn tia cực tím đến bề mặt Trái Đất. Vì DNA dễ bị hủy hoại bởi các tia UV, nên tầng này giúp bảo vệ sự sống tại bề mặt. Khí quyển cũng giúp duy trì nhiệt vào ban đêm, và giảm nhiệt độ cực nóng vào ban ngày.

Thời tiết trên mặt đất xuất hiện hầu hết ở phần dưới của khí quyển, và có vai trò là hệ đối lưu trong việc tái phân phối nhiệt. Các dòng hải lưu là nhân tố quan trọng khác trong việc xác định khí hậu, đặc biệt là các dòng tuần hoàn muối nhiệt chính dưới nước có vai trò quan trọng trong việc phân phối năng lượng nhiệt trong các đại dương ở xích đạo đến các vùng cực. Các dòng hải lưu này giúp điều hòa sự chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè ở các vùng ôn đới. Cũng thế, do không có sự tái phân bố năng lượng nhiệt của các dòng hải lưu và khí quyển, nên các vùng nhiệt đới sẽ nóng hơn, và vùng cực lạnh hơn.

Thời tiết có thể có những ảnh hưởng tốt và xấu. Thời tiết cực đoan như vòi rồng, bão nhiệt đới và lốc xoáy, có thể tiêu tốn phần lớn năng lượng trên đường đi của chúng và gây tàn phá. Thảm thực vật trên bề mặt phát triển phụ thuộc vào sự biến động của thời tiết theo mùa, và những thay đổi bất ngờ chỉ trong vài năm có thể ảnh hưởng rất lớn đến thảm thực vật này và cả những động vật sống phụ thuộc vào nó để kiếm ăn.

Khí hậu Trái Đất là thước đo về xu hướng diễn biến trong thời gian dài của khí thời tiết. Nhiều yếu tố khác nhau được cho là ảnh hưởng đến khí hậu như hải lưu, suất phản chiếu bề mặt, khí nhà kính, thay đổi độ chiếu sáng của Mặt Trời, và những thay đổi về quỹ đạo của hành tinh. Dựa trên những dữ liệu lịch sử, Trái Đất từng trải qua những lần biến đổi khí hậu mạnh mẽ trong quá khứ như các thời kỳ băng hà.

Khí hậu của một khu vực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là vĩ độ. Dải vĩ độ của một bề mặt với các đặc điểm khí hậu tương tự tạo thành một vùng khí hậu. Trên Trái Đất người ta chia thành một số vùng khí hậu từ khí hậu nhiệt đới ở xích đạo đến khí hậu vùng cực ở cực bắc và nam. Thời tiết cũng chịu ảnh hưởng theo mùa là kết quả của sự nghiêng của trục Trái Đất so với mặt phẳng quỹ đạo. Vì vậy, tại một thời điểm trong năm trong mùa hè hoặc đông, một phần của hành tinh sẽ hướng thẳng vào các tia bức xạ của Mặt Trời. Sự tiếp xúc này thay đổi luân phiên khi Trái Đất xoay quanh quỹ đạo của nó. Vào bất kỳ thời điểm nào, bất kể mùa, bán cầu bắc và nam đều có các mùa trái ngược nhau.

Thời tiết là một hệ hỗn loạn dễ dàng bị thay đổi theo môi trường, vì vậy việc dự báo thời tiết chính xác hiện còn bị giới hạn chỉ trong vòng vài ngày.[cần dẫn nguồn] Nhìn chung có hai điều đang diễn ra trên toàn cầu: nhiệt độ đang tăng tính theo giá trị trung bình; và khí hậu khu vực đang trải qua những biến đổi rõ rệt.

e/ Nước trên Trái Đất :Nước là một hợp chất hóa học được cấu tạo từ hydro và oxy và là nguồn sống thiết yếu cho tất cả sinh vật. Ở dạng sử dụng thông thường, nước được xem chỉ ở dạng lỏng hoặc trạng thái lỏng, nhưng nước cũng có thể tồn tại ở trạng thái rắn, băng và khí như hơi nước. Nước bao phủ 71% bề mặt Trái Đất. Trên Trái Đất, nước phân bố chủ yếu trong các đại dương và các vực nước lớn khác, chỉ có 1,6% tồn tại trong các tầng chứa nước và 0,001% trong khí quyển ở dạng hơi, mây và hoạt động giáng thủy. Các đại dương chiếm giữ 97% nước mặt, sông băng và chỏm băng ở hai cực chiếm 2,4%, và các dạng nước mặt khác trong sông, hồ và ao chiếm 0,6%. Ngoài ra, còn một lượng nhỏ nước trên Trái Đất tồn tại trong các cơ thể sinh học và những sản phẩm tổng hợp.

f/Các đại dương trên Trái Đất

Bắc Băng Dương

Đại Tây Dương

Ấn Độ Dương

Thái Bình Dương

Nam Đại Dương

Đại dương toàn cầu

Đại dương là vực chứa nước mặn lớn, và là thành phần cơ bản của thủy quyển. Khoảng 71% bề mặt Trái Đất (một vùng trải rộng với diện tích 361 triệu kilomet vuông) được bao phủ bởi đại dương. Các đại dương là các vực nước liên tục, thông thường được chia thành các đại dương chính và các biển nhỏ hơn. Hơn phân nửa khu vực này có độ sâu hơn 3.000 mét. Độ mặn trung bình của đại dương khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%), và gần như toàn bộ nước biển có độ mặn dao động trong khoảng 30 đến 38 ppt. Nhìn chung thì các đại dương được xem là 'tách biệt', nhưng những vùng nước này lại liên kết với nhau tạo nên một đại dương toàn cầu. Khái niệm về đại dương toàn cầu đề cập đến một vực nước liên tục với khả năng trao đổi tương đối tự do giữa các thành phần quan trọng của nó trong hải dương học.

Sự phân chia những đại dương chính được xác định một phần bởi các lục địa, nhiều quần đảo, và các tiêu chí khác: kết quả của sự phân chia (thứ tự giảm dần theo diện tích), gồm: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Băng Dương và Bắc Băng Dương. Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là biển, vịnh, và các tên gọi khác. Cũng có từ hồ muối dùng để chỉ các vực nước nhỏ hơn không được liên kết với các đại dương mà chứa nước mặn, ví dụ như biển Aral và hồ Muối Lớn.

g/Hồ :Hồ là một vực chứa nước trên bề mặt đất nằm ngay trung tâm của một bồn trũng. Trên Trái Đất, vực nước được xem là hồ khi nó nằm trên đất liền, không có phần nào liên quan đến đại dương, nó sâu hơn và rộng hơn ao, và được sông cung cấp nước.Một thiên thể duy nhất ngoài Trái Đất được biết đang ẩn náu các hồ là Titan, vệ tinh lớn nhất của Sao Thổ, có những hồ chứa etan và đa phần có thể còn pha trộn thêm metan. Dù bề mặt Titan bị chia cắt bởi một lượng lớn đáy sông, nhưng không thể biết được các hồ của Titan có được các sông này chu cấp hay không. Các hồ tự nhiên trên Trái Đất thường được tìm thấy ở các vùng núi, đới tách giãn, và các vùng có băng hà gần đây. Các dạng hồ khác được tìm thấy trong các lòng chảo nội lục hoặc dọc theo các đoạn sông trưởng thành. Ở nhiều nơi trên thế giới, có nhiều hồ là do các kiểu thoát nước hỗn tạp tồn tại từ thời kỳ băng hà gần đây nhất. Tất cả các hồ tồn tại một cách tương đối theo thời gian địa chất, vì chúng sẽ bị lấp đầy chầm chậm bởi trầm tích hoặc tràn ra khỏi lưu vực chứa nó.

h/Ao :Ao là một vực nước đứng (không chuyển động), tự nhiên hoặc nhân tạo, thường nhỏ hơn hồ. Nhiều kiểu vực nước nhân tạo kích thước khác nhau cũng được xếp vào ao, như các vườn nước được thiết kế cho nghệ thuật trang trí thẩm mỹ, ao cá cho việc nuôi cá, và ao năng lượng được thiết kế cho việc trữ nhiệt. Ao và hồ được phân biệt với các suối thông qua vận tốc dòng chảy. Trong khi các dòng chảy trong suối dễ dàng quan sát, thì ao và hồ có các vi dòng chảy được điều khiển bởi các dòng nhiệt và những cơn gió thoảng nhẹ. Đây chính là những đặc điểm phân biệt ao với nhiều vùng đất ngập nước khác, như vũng suối và bể thủy triều.

i/Sông :Sông là một nguồn nước tự nhiên, thường là nước ngọt, chảy vào đại dương, hồ, biển hoặc một sông khác. Trong vài trường hợp, sông chảy ngầm dưới đất hoặc bị khô hoàn toàn trước khi đổ vào một vực nước khác. Các sông nhỏ có thể được gọi với nhiều tên gọi khác nhau, như: suối, kênh, rạch, ngòi, lạch; không có nguyên tắc chung để định nghĩa thế nào là con sông. Nhiều tên gọi cho các sông nhỏ cũng tùy theo vị trí địa lý; ví dụ như Burn ở Scotland và Đông Bắc Anh. Đôi khi sông được cho là lớn hơn một con lạch, nhưng không phải lúc nào cũng đúng trong mọi trường hợp, còn tùy vào những ý ngẫm mơ hồ của ngôn ngữ. Sông là một phần của chu trình nước. Nước trong sông thường tụ lại từ hoạt động giáng thủy chảy tràn trên bề mặt, xuất lộ của nước ngầm, suối, và giải phóng từ các dạng chứa nước khác trong tự nhiên như băng tuyết, sông băng.

j/Suối :Suối là một vực nước chảy được xác định trong giới hạn của đáy và bờ suối. Hoa Kỳ định nghĩa suối là vực nước có bề rộng nhỏ hơn 18 met. Suối đóng vai trò quan trọng là mao dẫn của vòng tuần hoàn nước, công cụ của bổ cấp nước ngầm, và là hành lang cho cá và các loài động vật hoang dã di cư. Những cảnh quan sinh học lân cận dòng suối được gọi là vùng ven. Với hiện trạng đang diễn ra về tuyệt chủng Holocen, các dòng suối đóng vai trò quan trọng như một hành lang liên kết các môi sinh bị chia cắt và những vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học. Nghiên cứu về suối và vực nước nhìn chung liên quan đến nhiều nhánh liên ngành của khoa học tự nhiên và kỹ thuật như thủy văn học, địa mạo bồi tích, thủy sinh thái học, ngư sinh thái học, ven sinh thái học, v.v.

k/Hệ sinh thái :Hệ sinh thái được cấu thành bởi các thành phần vô sinh và hữu sinh tương tác với nhau. Cấu trúc và thành phần được xác định bởi nhiều yếu tố môi trường tương quan. Những biến đổi về các yếu tố này sẽ khơi mào những thay đổi động lực đến các hệ sinh thái. Một số thành phần quan trọng hơn là đất, khí quyển, bức xạ mặt trời, nước và các sinh vật sống.

Trung tâm của khái niệm hệ sinh thái là ý tưởng về các sinh vật sống tương tác với các yếu tố khác trong môi trường mà chúng sống. Eugene Odum, một nhà sáng lập của sinh thái học nhận định rằng: "Bất cứ thành tố nào bao gồm tất cả sinh vật (như: "quần xã") của một khu vực cho trước tương tác với môi trường vật lý cũng chính là dòng chảy năng lượng dẫn đến sự xác định rõ ràng cơ cấu dinh dưỡng, đa dạng sinh học và các chu trình vật chất (như: trao đổi vật chất giữa những phần vô sinh và hữu sinh) trong hệ thống của một hệ sinh thái." Bên trong hệ sinh thái, các loài có quan hệ với nhau và phụ thuộc nhau qua chuỗi thức ăn, và trao đổi năng lượng và vật chất giữa chúng với nhau cũng như với môi trường mà chúng sinh sống. Khái niệm hệ sinh thái con người căn cứ vào sự giải tỏa cấu trúc giữa hai mặt đối lập loài người/tự nhiên và tiên đề về sự hòa hợp sinh thái giữa tất cả sinh vật, cũng như với những thành phần vô sinh trong sinh cảnh của chúng ta.

Các đơn vị nhỏ hơn của hệ sinh thái được gọi là vi hệ sinh thái. Ví dụ, vi hệ sinh thái có thể là hòn đá và tất cả sinh vật sống bên dưới nó. Một đại hệ sinh thái có thể liên quan đến toàn bộ vùng sinh thái cùng lưu vực của nó.

Vùng hoang dã được định nghĩa chung là những khu vực không có sự tác động đáng kể bởi các hoạt động của con người. Quỹ WILD đưa ra định nghĩa chi tiết hơn đó là "những khu vực hoang dã tự nhiên không bị xáo động, nguyên vẹn nhất còn lại trên hành tinh của chúng ta – những nơi hoang dã thực sự cuối cùng mà con người không kiểm soát và đã không phát triển với đường giao thông, đường ống dẫn hoặc cơ sở hạ tầng công nghiệp khác". Các vùng hoang dã có thể được tìm thấy trong các khu bảo tồn, điền trang, nông trang, trại chăn nuôi, rừng quốc gia, vườn quốc gia và thậm chí là những vùng đô thị dọc theo sông ngòi, khe sâu và các vùng chưa phát triển khác. Các vùng hoang dã và công viên được bảo vệ được xem là thành phần quan trọng đối với sự sống còn của một số loài nhất định, là nơi nghiên cứu về sinh thái học, bảo tồn, tĩnh tâm và tiêu khiển. Nhiều nhà văn viết về tự nhiên tin rằng các vùng hoang dã là cần thiết cho tinh thần và sự sáng tạo của con người, và các nhà sinh thái học xem các vùng hoang dã là một phần của hệ sinh thái tự nhiên tự duy trì trên Trái Đất (sinh quyển). Chúng cũng có thể bảo tồn những đặc điểm di truyền lịch sử và từ đó cung cấp môi trường sống cho các hệ động và thực vật hoang dã mà khó có thể tạo ra trong phòng thí nghiệm, vườn ươm cây hay vườn bách thú.

Tiến hóa

Sự sống được biết là chỉ tồn tại trên Trái Đất. Nguồn gốc sự sống là một quá trình mà con người vẫn chưa hiểu rõ, nhưng nó được cho rằng đã tồn tại từ cách đây ít nhất 3,5 tỉ năm vào liên đại Hỏa thành hoặc liên đại Thái cổ trên Trái Đất nguyên thủy có môi trường khác rất nhiều so với hiện nay. Các dạng sống này sở hữu các đặc điểm cơ bản về quá trình tự sao chép và đặc điểm di truyền. Khi sự sống xuất hiện, quá trình tiến hóa bằng cách chọn lọc tự nhiên đã tạo ra sự phát triển đa dạng sự sống chưa từng có.

Những loài không thể thích nghi với sự thay đổi của môi trường và sự cạnh tranh của các loài khác thì chúng bị tuyệt chủng. Tuy nhiên, những hóa thạch lưu giữ những bằng chứng về nhiều loài cổ hơn. Bằng chứng hóa thạch và DNA hiện tại cho thấy tất cả các loài tồn tại có thể có tổ tiên phát triển liên tục từ các dạng sống nguyên thủy đầu tiên.

Sự xuất hiện quá trình quang hợp trong những dạng rất cơ bản của thực vật sống trên khắp Trái Đất đã giúp hấp thụ lượng lớn năng lượng mặt trời để tạo nên điều kiện môi trường cho những dạng sống phức tạp hơn. Sự tích tụ oxy trong khí quyển và dẫn đến sự hình thành tầng ozon. Sự kết hợp các tế bào nhỏ hơn thành các tập đoàn lớn đã tạo ra sự phát triển của các tế bào phức tạp hơn được gọi là sinh vật nhân thực. Các tế bào trong các tập đoàn được biệt hóa mạnh hơn, tạo ra các sinh vật đa bào. Cùng với việc tầng ozon hấp thụ các tia cực tím đã giúp cho các sinh vật có thể định cư được trên bề mặt Trái Đất.

Vi sinh vật

Dạng sống đầu tiên phát triển trên Trái Đất là các vi sinh vật, và chúng vẫn giữ nguyên kiểu hình trên hành tinh này qua hàng tỉ năm khi các sinh vật đa bào bắt đầu xuất hiện. Các vi sinh vật là các sinh vật đơn bào thường có kích thước rất nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy. Chúng bao gồm vi khuẩn, nấm, vi khuẩn cổ và sinh vật nguyên sinh.

Các dạng sống này được phát hiện ở khắp nơi trên Trái Đất nơi có nước lỏng, bao gồm cả cấu trúc bên trong Trái Đất. Sự sinh sản của chúng nhanh chóng và nhiều. Sự kết hợp của tốc độ đột biến và vận chuyển ngang gen cao có khả năng giúp chúng thích nghi cao và có thể sống sót trong các môi trường mới bao gồm cả ngoài không gian. Chúng là một phần thiết yếu của hệ sinh thái trên Trái Đất. Tuy nhiên, nhiều vi sinh vật là tác nhân gây hại đối với sức khỏe của nhiều loài khác.


Thực vật và động vật

Ban đầu Aristotle chia tất cả sinh vật sống thành thực vật và động vật. Trong hệ thống phân loại của Linnaeus, các sinh vật được phân thành giới Vegetabilia (sau này là Plantae) và Animalia. Kể từ đó, việc phân chia trở nên rõ ràng rằng Plantae như ban đầu được xác định bao gồm nhiều nhóm không liên quan, và nấm và nhiều nhóm khác của tảo đã được xếp vào các giới mới. Tuy nhiên, chúng vẫn thường được xem là thực vật trong một số ngữ cảnh. Vi khuẩn đôi khi nằm trong hệ thực vật, và một số hệ thống phân loại dùng từ hệ thực vật vi khuẩn (bacterial flora) tách biệt với hệ thực vật (plant flora).

Trong số nhiều cách phân loại thực vật theo các hệ thực vật khu vực, việc phân chia này phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, có thể bao gồm thực vật hóa thạch, đó là những thành phần thực vật còn sót lại của thời kỳ trước. Con người ở nhiều vùng và quốc gia khác nhau rất tự hào về những đặc điểm của hệ thực vật tự nhiên của họ, các hệ này có thể phân bố rộng khắp trên toàn cầu do sự khác biệt về khí hậu và địa hình.

Hệ thực vật khu vực thường được chia thành thực vật bản địa và thực vật nghề vườn và nông nghiệp, kiểu thực vật vườn đề cập đến các loại cây do con người trồng. Trong số các loại "thực vật bản địa" thực chất có thể là du nhập hàng thế kỷ trước do con người di cư từ vùng này sang vùng khác hoặc từ lục địa này sang lục địa khác, và trở thành một phần không thể thiếu của thực vật bản địa hay hệ thực vật tự nhiên của nơi mà chúng được du nhập đến. Đây là một ví dụ cho sự tương tác của con người với tự nhiên có thể xóa nhòa ranh giới về bản chất tự nhiên.

Một nhóm thực vật khác được ghi lại trong lịch sử là cỏ dại. Cách gọi này được các nhà thực vật học dùng để chỉ các loại thực vật "vô ích", cách dùng không chính thức của từ "cỏ dại" để mô tả những thực vật xứng đáng loại khỏi là minh họa khuynh hướng chung của loài người và cộng đồng xã hội về việc mưu cầu sự biến đổi hay tái tạo lại chiều hướng vận động của tự nhiên. Tương tự vậy, các loài động vật thường được xếp thành các nhóm như thuần hóa, động vật nuôi, đông vật hoang dã, loài vây hại, v.v. theo mối quan hệ của chúng đối với con người.

Động vật nằm trong nhóm có nhiều đặc điểm khác biệt với các sinh vật sống khác. Động vật là các sinh vật nhân thực và thường là đa bào (xem Myxozoa), tách biệt với vi khuẩn, vi khuẩn cổ và hầu hết sinh vật đơn bào. Chúng là các sinh vật dị dưỡng, thường tiêu hóa thức ăn trong các khoang bên trong cơ thể, khác biệt với thực vật và tảo. Chúng cũng được phân biệt với thực vật, tảo và nấm do không có thành tế bào.

Với số ít trường hợp ngoại lệ, phần lớn trong đó là bọt biển (Ngành Bọt biển), động vật có cơ thể chuyên biệt thành những mô biệt hóa.[cần dẫn nguồn] Chúng gồm có cơ bắp, dùng để co rút và điều khiển vận động, và một hệ thần kinh, dùng để gửi và chuyển tiếp tín hiệu. Chúng cũng có một khoang tiêu hóa đặc trưng bên trong. Tế bào nhân thực là nền tảng của tất cả các loài động vật, được bao quanh bởi một chất nền ngoại bào giàu đặc tính, xây dựng từ collagen và những glycoprotein đàn hồi. Cấu trúc này có thể bị vôi hóa trở thành những dạng cấu trúc khác như vỏ, xương và gai, một bộ khung nền để các tế bào có thể di chuyển và tái tổ chức trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển và trưởng thành, cũng như hỗ trợ cho những hệ giải phẫu phức tạp cần thiết cho tính di động.

Mặc dù con người hiện chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng thể sinh khối trên Trái Đất nhưng tác động của con người vào thiên nhiên lại quá lớn. Do sự mở rộng ảnh hưởng của con người, các ranh giới giữa những gì của con người liên quan đến tự nhiên và các "môi trường nhân tạo" là không rõ ràng trừ những trường hợp đặc biệt. Ngay cả ở những trường hợp đặc biệt, số lượng các môi trường tự nhiên mà chưa chịu sự ảnh hưởng của con người một cách rõ rệt hiện cũng đang giảm dần với tốc độ nhanh chóng.

Sự phát triển công nghệ của loài người đã cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên tốt hơn và giúp giảm bớt rủi ro từ thiên tai. Tuy nhiên, trong quá trình này, số phận của nền văn minh loài người vẫn gắn liền với những biến đổi của môi trường. Hiện tồn tại một vòng hồi tiếp rất phức tạp giữa việc sử dụng công nghệ tiến bộ và những biến đổi của môi trường, và cũng chỉ được hiểu biết một cách chậm chạp. Những mối đe dọa do chính con người thực hiện đối với môi trường tự nhiên trên Trái Đất như gia tăng dân số, phá rừng, tai biến như tràn dầu, và con người cũng góp phần gây ra sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật và thực vật. Con người sử dụng tự nhiên vào những hoạt động giải trí và kinh tế, việc tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động công nghiệp vẫn là thành phần chính của nền kinh tế thế giới. Các hoạt động như săn bắn, đánh cá phục vụ cho tiêu dùng và giải trí thì có sự khác biệt giữa các nhóm người. Hoạt động nông nghiệp đã bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ 9 TCN. Thay đổi từ sản xuất lương thực sang năng lượng đã tác động đến sự thịnh vượng của nền kinh tế thế giới

Mặc dù vào thời kỳ đầu, con người thu lượm những nguyên liệu từ thực vật hoang dại để làm thực phẩm và sử dụng những đặc tính dược học của thực vật để chữa bệnh,còn hầu hết con người hiện đại sử dụng thực vật thông qua các hoạt động nông nghiệp. Sự phát quang một khu vực đất rộng lớn cho trồng trọt đã làm giảm đáng kể diện tích rừng hiện hữu và các vùng đất ngập nước, làm mất môi trường sống của nhiều loài động thực vật cũng như làm gia tăng xói mòn.

Vẻ đẹp của tự nhiên đã và đang là chủ đề của nhiều tác phẩm nghệ thuật cũng như được ghi lại trong nhiều quyển sách chất đầy thư viện và các nhà sách. Thiên nhiên đã được miêu tả và được ca ngợi nhiều trong nghệ thuật, nhiếp ảnh, thơ và các loại hình văn học nghệ thuật khác thể hiện thế mạnh của nó mà nhiều người đã liên kết hai yếu tố tự nhiên và vẻ đẹp với nhau. Những lý do tại sao các mối liên hệ này tồn tại, và cái gì đã liên kết chúng được nghiên cứu bởi một nhánh triết học được gọi là sự thẩm mỹ. Ngoài những đặc điểm cơ bản mà nhiều triết gia đồng ý về việc giải thích những gì được coi là đẹp, thì những ý kiến khác về cái đẹp hầu như bất tận.Tự nhiên và hoang dã là các chủ đề quan trọng trong nhiều kỷ nguyên của lịch sử thế giới. Nghệ thuật phong cảnh truyền thống sơ khai bắt đầu ở Trung Quốc trong suốt triều đại nhà Đường (618–907). Biểu diễn thiên nhiên qua nghệ thuật là một trong những chủ đề của tranh Trung Quốc và có những ảnh hưởng nhất định đối với nghệ thuật châu Á.

Mặc dù các kỳ quan thiên nhiên được vinh danh trong Thánh Vịnh và Sách Job, việc truyền tải sự hoang dã trong nghệ thuật đã trở nên phổ biến hơn trong thập niên 1800, đặc biệt trong các tác phẩm của phong trào lãng mạn. Các họa sĩ Anh quốc như John Constable và J. M. W. Turner đã chuyển sự chú ý của họ vào việc truyền tải những vẻ đẹp của thế giới tự nhiên đi vào những bức họa. Trước đó, hội họa chủ yếu tập trung vào những hình ảnh tôn giáo hoặc con người. Thơ của William Wordsworth đã miêu tả sự kỳ diệu của thế giới tự nhiên, mà trước đây được xem như là "vùng nguy hiểm". Càng ngày sự coi trọng giá trị của thiên nhiên đã trở thành một khía cạnh của văn hóa phương Tây. Phong trào nghệ thuật này cũng trùng hợp với phong trào siêu việt luận trong thế giới phương Tây. Ý tưởng cổ điển chung của nghệ thuật về cái đẹp liên quan đến sự bắt chước thiên nhiên. Cũng trong lĩnh vực về vẻ đẹp của thiên nhiên là sự hoàn hảo được ngụ ý thông qua những dạng toán học hoàn hảo và tổng quát hơn bởi những cách sắp xếp của tự nhiên theo các khuôn mẫu nhất định. Như David Rothenburg viết, "Cái đẹp là gốc rễ của khoa học và mục đích của nghệ thuật, khả năng cao nhất mà nhân loại có thể hy vọng thấy được nó".


Vật chất và năng lượng

Một số lĩnh vực khoa học xem tự nhiên là vật chất chuyển động tuân theo những quy luật nhất định của tự nhiên mà khoa học đang tìm hiểu. Vì lý do đó, nền tảng cơ bản nhất của khoa học được hiểu một cách chung là "vật lý học" – tên gọi mà vẫn có thể nhận ra nó ám chỉ nghiên cứu về tự nhiên.

Vật chất thường được định nghĩa là chất cấu thành nên vật thể vật lý. Nó cấu tạo nên vũ trụ quan sát được. Các thành phần này của vũ trụ hiện được tin là chỉ chiếm 4,9% tổng khối lượng. Phần còn lại 26,8% là vật chất lạnh tối và 68,3% là năng lượng tối. Số liệu chính xác của các thành phần này vẫn chưa được biết rõ và hiện đang được các nhà vật lý nghiên cứu.

Trạng thái của vật chất và năng lượng thông qua việc quan sát được vũ trụ cho thấy chúng tuân theo các định luật vật lý rõ ràng. Các định luật này được áp dụng để thành lập các mô hình vũ trụ đã giải thích thành công cấu trúc và sự tiến hóa của vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát được. Các biểu thức toán học của các định luật vật lý sử dụng một bộ 12 hằng số vật lý có vẻ như là tĩnh đối với vũ trụ quan sát được. Giá trị của các hằng số này đã được đo đạc cẩn thận nhưng nguyên do để có được các con số này vẫn là điều bí ẩn.


Bên ngoài Trái Đất

Không gian ngoài thiên thể chỉ vùng không gian tương đối rỗng của vũ trụ bên ngoài khí quyển của các thiên thể. Không có ranh giới rõ ràng giữa khí quyển Trái Đất và không gian ngoài thiên thể, vì áp suất khí quyển giảm từ từ theo độ cao tăng dần. Không gian ngoài thiên thể trong hệ Mặt Trời được gọi là không gian liên hành tinh, nó trải rộng đến không gian liên sao tại nơi được gọi là nhật quyển.

Không gian ngoài thiên thể gồm một số ít các loại vật chất phân tử hữu cơ được phát hiện bởi các sóng quang phổ viba, phông nền bức xạ vũ trụ còn tồn dư sau vụ nổ Big Bang và nguồn gốc của vũ trụ, và các tia vũ trụ chứa các hạt nhân nguyên tử bị ion hóa và nhiều loại hạt hạ nguyên tử khác. Cũng có một số chất khí, plasma và bụi, và các thiên thạch nhỏ. Ngoài ra, các dấu hiệu của sự sống loài người phát vào không gian ngày nay như các loại vật liệu còn lại từ các vật thể có và không người lái từng phóng lên không gian có tiềm năng gây hại cho các tàu vũ trụ. Một số mảnh vỡ này theo định kỳ quay trở lại khí quyển Trái Đất.

Mặc dù Trái Đất hiện là thiên thể duy nhất được biết là có sự sống trong hệ Mặt Trời, các bằng chứng hiện tại cho rằng trong quá khứ xa xôi của Sao Hỏa từng tồn tại các vực nước ở dạng lỏng trên bề mặt của nó. Như vậy, Sao Hỏa cũng có khả năng hỗ trợ sự sống và hiện tại người ta cho rằng vẫn còn nước trên hành tinh này ở dạng băng. Nếu sự sống tồn tại trên Sao Hỏa, nhiều khả năng bên dưới mặt đất của nó nước có thể tồn tại.

Các môi trường của các hành tinh đất đá khác như Sao Thủy và Sao Kim cho thấy khó có khả năng hỗ trợ sự sống. Nhưng con người phỏng đoán rằng Europa, vệ tinh lớn thứ tư của Sao Mộc, có thể có biển nước lỏng bên dưới bề mặt của nó và có tiềm năng hỗ trợ sự sống

Ngày nay, các nhà thiên văn học đã và đang bắt đầu khám phá các hành tinh giống Trái Đất bên ngoài hệ Mặt Trời – các hành tinh nằm trong vùng có thể định cư trong không gian quanh các ngôi sao, mà chúng có thể hỗ trợ cho sự sống.


Thiên nhiên với đời sống con người

Môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, bao gồm các yếu tố sống (động thực vật và con người) và các yếu tố không sống (đất, nước, không khí,…). Tài nguyên là thành phần cấu tạo của môi trường, ví dụ tài nguyên đất, tài nguyên nước…

Mối tương quan giữa thiên nhiên với đời sống con người.

Đời sống của mọi sinh vật nói chung và của con người nói riêng luôn gắn liền với thiên nhiên. Mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên là một điều hiển hiện có thể thấy được ngay trong đời sống thường ngày. Con người được sinh ra từ thiên nhiên, thiên nhiên quyết định cuộc sống của con người và con người quyết định số phận của thiên nhiên.

Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của tài nguyên và môi trường. Vì con người tồn tại được là cần có các tài nguyên của môi trường cung cấp; bên cạnh đó con người trong hoạt động của mình có tác động mạnh mẽ trở lại và làm thay đổi môi trường.

Tác động của thiên nhiên với đời sống con người.

Con người nhận ở môi trường tự nhiên: Thức ăn, nước uống, khí thở, cảnh đẹp để duy trì cuộc sống và giải trí. Con người cũng nhận ở môi trường các loại tài nguyên thiên nhiên: Kim loại, mỏ quặng các loại, than đá, khí đốt, gỗ rừng, gió, sức nước, sợi vải, cây trái … để đưa vào sản xuất chế biến phục vụ đời sống con người và phát triển xã hội.

Con người cho vào môi trường tự nhiên: Rác thải sinh hoạt, rác công nghiệp, y tế, … nếu không xử lý rác thì môi trường sẽ bị ô nhiễm trầm trọng. Khai thác tài nguyên không có kế hoạch thì sẽ bị cạn kiệt, cây rừng, muông thú sẽ bị tuyệt chủng…

Tác động của con người với thiên nhiên.

Thiên nhiên mang đến cho chúng ta bao nhiêu là lợi ích. Thế nhưng con người chúng ta lại không biết tôn trọng, bảo vệ và giữ gìn chúng. Chúng khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách vô tội vạ. Chúng ta làm ô nhiễm tài nguyên nước cũng như không khí bằng các chất thải độc hại từ các nhà máy, xí nghiệp, các phương tiện giao thông thường ngày. Tất cả các khu rừng đều bị chúng ta tàn phá, chúng ta đốt rừng, chặt phá cây cối để tìm kiếm lợi nhuận riêng cho chính bản thân mình mà không nghĩ đến người khác.

Những nguồn lợi từ thiên nhiên mang đến cho cuộc sống chúng ta tưởng chừng như vô tận, nhưng nếu chúng ta không biết bảo tồn và gìn giữ sẽ dẫn đến việc tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm sẽ làm thủng tầng ô zôn, trái đất bị nóng lên cũng như nguy cơ hạn hán, lũ lụt càng nhiều. Chính chúng ta đã góp phần tạo nên những tác động nguy hại đến đời sống của bản thân chúng ta.

Thiên nhiên có vai trò rất quan trọng đối với tất cả con người cũng như tất cả những sinh vật sống trên trái đất. Chính vì thế chúng ta phải biết khai thác, sử dụng hợp lí cũng như bảo tồn, giữ gìn thiên nhiên để thiên nhiên trở thành một trong những tài sản quý giá nhất của con người chúng ta.


Hiện trạng môi trường thiên nhiên.

Thông qua các phương tiện truyền thông đã giúp cho chúng ta có nhiều thông tin về hiện trạng môi trường thiên nhiên ngày càng ô nhiễm, vỏ trái đất đang nóng dần lên, thiên tai nhiều hơn, nhân loại đang phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

Sự thay đổi của môi trường thiên nhiên ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người, dịch bệnh ngày càng nhiều hơn. Đời sống con người đang xa dần với môi trường thiên nhiên do chịu ảnh hưởngcủa hiện trạng đô thị hóa của xã hội.

Giải pháp nào cho cuộc sống con người trước hiện trạng môi trường thiên nhiên?

– Nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người

– Mỗi người chúng ta hãy cùng chung tay bảo vệ môi trường và với các

Hoạt động trong và ngoài nước về bảo vệ môi trường.

– Nhu cầu ngày càng cao trong cuộc sống hiện nay đã dần hướng mọi người đến sử dụng các sản phẩm từ thiên nhiên để bảo vệ sức khỏe cũng như sắc đẹp của mình.

– Việc cải thiện môi trường là một quá trình và cần có thời gian, chính vì vậy mõi người chúng ta cần chọn cho mình một giải pháp chăm sóc sức khỏe cho mình và gia đình với tình trạng môi trường hiện nay.


MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG

Ở NƯỚC TA

 NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có liên quan trực tiếphoặc gián tiếp đến cuộc sống con người. Nó được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, con người luôn tạo ra những tác động tíchcực và tiêu cực. Mối quan hệ giữa con người – môi trường được xem là mối quan hệ biện chứng tự nhiên – xã hội trong sự phát triển bền vững ở nước ta. Đó là phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa môi trường và sự phát triển.

Vấn đề môi trường có vị trí quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con người. Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống và sản xuất của con người. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Với tư cách là một thực thể tự nhiên – xã hội, con người sống trong môi trường tự nhiên và luôn tồn tại trong môi trường xã hội. Mọi sự xáo trộn về môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng sống của con người. Để xử lý mối tương tác đó, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để tìm được “tiếng nói chung” với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay đang xuất hiện những vấn đề phức tạp trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và môi trường. Những cảnh báo khoa học đã giúp chỉ rõ mối liên hệ nhân quả giữa của con người với môi trường sinh thái, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Từ đó bắt đầu hình thành những tư tưởng cơ bản về phát triển bền vững ở nước ta – một sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã hội, tài nguyên môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại hoặc gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng sống của các thế hệ tương lai.

Bài viết tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay. Qua đó, giúp cho mọi người thấy rõ hơn những tác động tích cực và tiêu cực của con người đối với môi trường, cùng với những ảnh hưởng vô cùng to lớn của môi trường đối với cuộc sống con người.

Để phục vụ bài viết này, Ngọc Minh sử dụng phương pháp luận triết học, đồng thời còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic.


NỘI DUNG

+ Mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay

Môi trường tự nhiên là tất cả những gì tạo nên môi trường sống quanh con người.

Đó là tổ hợp của các yếu tố như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, khí hậu, ánh sáng, cảnh quan… Cơm ăn, nước uống, thuốc chữa bệnh, quần áo mặc đều là sản phẩm từ thiên nhiên thông qua quá trình lao động của chính con người.

Con người và môi trường tự nhiên có mối quan hệ rất chặt chẽ. Con người lựa chọn, tạo dựng môi trường sống cho mình từ môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động vào môi trường tự nhiên theo cả hướng tích cực và tiêu cực.

Sự tác động tích cực của con người vào môi trường tự nhiên được thể hiện qua việc tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Đồng thời, con người biết lựa chọn cho mình không gian sống thích hợp nhất, từ chỗ lệ thuộc bị động đến cải tạo chinh phục tự nhiên. Sự tác động của con người tăng theo sự gia tăng quy mô dân số và theo hình thái kinh tế (Từ nền nông nghiệp săn bắt hái lượm đến nền nông nghiệp truyền thống và nền nông nghiệp công  nghiệp hóa). Tuy nhiên, sự tác động tiêu cực của con người vào môi trường tự nhiên khiến cho môi trường tự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm, lúc đó con người sẽ luôn phải sống trong cảnh lo âu về thiên tai, dịch bệnh... Do vậy, môi trường tự nhiên phải được bảo vệ một cách tốt nhất, phải tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, làm cho hệ sinh thái được tái sinh thường xuyên. Đặc biệt, các hoạt động kinh tế của con người phải được coi là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái và phát triển kinh tế phải bảo toàn sự cân bằng của hệ sinh thái. Vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội nước ta hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển bền vững, sự tồn tại và phát triển của các thế hệ con người. Trong một vài năm trở lại đây, chúng ta luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra và do công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người làm ô nhiễm nghiêm trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thử thách lớn lao. Đó cũng chính là những kết quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng tự nhiên và sự lúng túng trong việc tìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững. Có điều là, nếu những hành vi của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên thì tự nhiên sẽ là người bạn tốt, đầy thiện chí, ngược lại những hành vi trái với quy luật tự nhiên thì sức trả thù của tự nhiên sẽ lớn hơn bất cứ lực lượng xã hội nào. Thực tế đã chứng minh, không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm vùng họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra cái chết cho con người do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, bệnh trầm cảm, bệnh mất ngủ và gây nhiều hậu quả khác.

Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát  triển mạnh mẽ, cuộc sống con người có những bước tiến rõ rệt, nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú những của cải vật chất, tinh thần cho con người. Điều này dã phần nào thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người và đưa đến  sự phát triển nhanh nền văn minh nhân loại. Nhưng do sự gia tăng dân số và nhu cầu đòi hỏi không giới hạn của con người đã làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi.

Đặc biệt, những tác hại của chất thải công nghiệp gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Theo số liệu mà Ngọc Minh nghiên cứu, trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cả nước có khoảng 200 khu công nghiệp. Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20% như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công  nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lý nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác.  Ngọc Minh đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các  điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như sông Thị Tính, Thị Vải); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 – 9 lần. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông Đồng Nai phải tiếp nhận khoảng 48.000m3  nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập lụt và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm họa về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp. Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng quyết liệt của người dân, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt đối những hoạt động gây ô nhiễm môi trường.


Để tồn tại và phát triển, con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhả ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề mà con người phải gánh chịu. Do đó, để vừa được hưởng cuộc sống có chất lượng cao vừa bảo vệ được môi trường sống là cả một vấn đề rất lớn và phức tạp, không chỉ giới hạn trong việc sử dụng những sản phẩm tiêu thụ mà còn liên quan rất nhiều đến cách cư xử của chính con người với thiên nhiên. Điều đó có thể nhận thấy qua việc chặt phá mở rộng diện tích đất rừng canh tác hoặc lấy đất để ở đang diễn ra một cách tự phát, không tuân theo quy định của pháp luật. Diện tích rừng ngày một giảm dần dẫn đến nạn ô nhiễm môi sinh, nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, hạn hán, lũ lụt ngày một tăng cả về tầng suất và cường độ, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản không phải là chuyện hiếm. Những năm gần đây, chủ trương ngăn đê, đắp đập chủ động nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, làm thủy điện ở một số địa phương nước ta đã gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và ngập lụt cục bộ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe con người và các cơ thể sống khác. Trường hợp ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt ở miền Trung… đã cho thấy rõ điều đó.

Đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm hàng ngày, con người không thể chỉ dựa dẫm vào thiên nhiên và sử dụng các phương pháp canh tác cổ xưa mà phải đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống nhằm nâng cao năng xuất lao động và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay trong các sản phẩm tiêu thụ hàng ngày còn tồn dư quá nhiều hóa chất độc hại gây ra những vụ ngộ độc nghiêm trọng. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp các vụ ngộ độc lên sức khỏe con người, những hóa chất độc hại đó còn để lại những di chứng tiềm ẩn lâu dài, gây ra nhiều chứng bệnh nan y mà con người phải gánh chịu. Theo thống kê của Bộ y tế, hàng năm cả nước ta có gần 200.000 người bị bệnh ung thư mới phát hiện và có 70.000 người chết vì căn bệnh này. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng bệnh ung thư ngày càng gia tăng, theo đánh giá tổng hợp của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường là do môi trường sống ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Một trong những giải pháp lớn cho vấn đề trên là cần áp dụng một cách triệt để hơn các quy định của Nhà nước như Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các Nghị định hướng dẫn thi hành luật mà Nhà nước đã ban hành.

Muốn phát huy ý thức về bảo vệ môi trường của mọi người, mọi nhà, mọi địa phương trong cả nước phải thường xuyên cùng nhau nỗ lực giải quyết và thực hiện nghiêm pháp luật. Luật Bảo vệ Môi trường nước ta ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”. Có như vậy, chúng ta mới có thể hy vọng vào một tương lai với môi trường sống ngày càng trong lành và thân thiện với con người hơn.

+ Mối quan hệ giữa con người và môi trường xã hội trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho con người khác với các sinh vật khác.

Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, lịch sử…xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình. Con người tồn tại trong môi trường xã hội và chịu sự tác động qua lại của cộng đồng và luật pháp. Trong một xã hội văn minh, có luật pháp ổn dịnh con người sẽ có điều kiện phát triển bền vững và năng động hơn.

Trong cộng đồng truyền thống, bên cạnh hệ thống luật pháp của Nhà nước, nhiều làng xã có hương ước riêng do dân làng đặt ra và được thực hiện nghiêm ngặt trong phạm vi luật lệ của làng. Có thể xem môi trường xã hội là điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Với ý nghĩa ở tầm vĩ mô, môi trường xã hội là cả một hệ thống kinh tế - xã hội trong tính tổng thể của nó.

Đó là các lực lượng sản xuất, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội và văn hóa. Với ý nghĩa ở tầm vi mô, môi trường xã hội bao gồm: gia đình, các nhóm, các tập thể học tập, lao động, các tập đoàn…tồn tại xung quanh con người với các quá trình hoạt động giao tiếp của con người.

Môi trường xã hội tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách của con người. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, loài người đã nhận ra giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.

Môi trường xã hội trong bối cảnh hiện nay ở nước ta đang phát triển theo chiều hướng cực kỳ sôi động và cũng hết sức phức tạp. Lĩnh vực đáng quan tâm trước hết là những diễn biến của quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa và hội nhập. Trong đó, giao lưu văn hóa đang trở thành chiếc cầu nối tiềm ẩn những sắc thái văn hóa mới, nhưng cũng đã xuất hiện những mặt trái đáng báo động trong môi trường xã hội. Sự pha trộn các sắc thái văn hóa khác nhau trong một không gian đối tượng hưởng thụ có trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng đều đã làm nảy sinh những  khuynh hướng không có lợi trong quá trình hình thành nhân cách con người. Các giá trị đạo đức truyền thống, lối sống, văn hóa của con người Việt Nam đang đối mặt một cách gay gắt với những tác động tiêu cực của lối sống, văn hóa ngoại lai.

Đó là lối sống thực dụng, thác loạn, tự do cá nhân, tôn thờ đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị thuần phong mỹ tục của dân tộc, chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, tình đồng chí, đồng nghiệp. Lối sống thực dụng, vị kỷ đang dẫn đến thái độ bàng quan, sống thờ ơ, lạnh nhạt với cộng đồng và những người xung quanh. Điều đó làm cho mối liên kết giữa các nhân và cộng đồng, giữa con người với con người trở nên lỏng lẻo, đi ngược lại truyền thống “tương thân, tương ái” của dân tộc. Đây là một trong những thách thức lớn đối môi trường sống của con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Do vậy, vấn đề đặt ra trong hiện tại và tương lai cho các thế hệ Việt Nam là cần đặc biệt quan tâm giữ gìn, nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp, ý thức về cội nguồn và lòng tự hào dân tộc, có khả năng đề kháng chống lại những căn bệnh do sự “ô nhiễm” của môi trường xã hội gây ra.

Bên cạnh sự “xuống cấp” của môi trường văn hóa Việt Nam trong tiến trình giao lưu và hội nhập, đó là sự phá vỡ của môi trường xã hội bởi các loại tệ nạn xã hội về mại dâm, ma túy, cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan…cùng với các loại tội phạm giết người, cướp của, xâm hại tình dục trẻ em… Hậu quả là cấu trúc gia đình, làng xã bị phá vỡ, xã hội rơi vào tâm trạng bất an. Tệ nạn xã hội và tội phạm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đạo đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm rối loạn trật tự xã hội, suy thoái giống nòi, dân tộc. Môi trường xã hội Việt Nam thật sự bất ổn về nhiều mặt qua nhiều sự kiện gần đây như vụ một người phụ nữ nghèo ở Buôn Mê Thuật đi mót hạt cà phê trong một trang trại bị người quản lý của trang trại bỏ mặc cho đàn chó dữ cắn xé đến chết, cho đến vụ án hiệu trưởng một trường trung học phổ thông ở tỉnh Hà Giang, ông Sầm Đức Xương mua dâm hàng loạt nữ sinh đang còn ở tuổi vị thành niên…

Hiện nay, tệ nạn xã hội và tội phạm ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng trên quy mô lớn, có tổ chức tinh vi. Đáng lưu ý là tội phạm ở nhóm người có chức quyền, tội tham nhũng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở khi thực hiện chức năng, chức quyền được giao đã tìm cách lợi dụng, chức năng, chức quyền đó để tự cho phép làm trái pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà nước và bằng cách đó thu lợi bất chính cho bản thân hoặc cho tổ chức mà họ là thành viên. Ngoài ra, còn có nhóm tội phạm do buôn gian bán lận, buôn lậu, trốn thuế, quỵch nợ, biển thủ, làm hàng giả hàng dỏm, nạn thất nghiệp, nghèo đói, lười lao động, thích ăn chơi, đua đòi, bị sa đà, bị lôi kéo… Nếu để các nhóm này tiếp tục tồn tại và phát triển thì đó sẽ là một tai họa, một nguy cơ của sự suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay.

Do đời sống kinh tế nước ta còn khó khăn, cùng với sự tác động của kinh tế thị trường, trong xã hội còn xuất hiện khuynh hướng “thương mại hóa” trên nhiều lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật…nhằm mục đích thu lợi, không bảo đảm chất lượng và không mang lại những giá trị đích thực. Điều này góp phần làm tổn hại nặng nề đến môi trường sư phạm và sức khỏe cộng đồng, làm hoen ố các quan hệ con người, làm tha hóa đạo đức và nhân cách, làm suy giảm và lệch hướng mức độ và khả năng hấp thụ các giá trị tinh thần của con người.


SUY NGẪM

- Con người và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ.

- Con người sống trong môi trường nào thì chịu sự tác động qua lại của môi trường đó.

- Trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, con người lựa chọn tạo dựng môi trường sống của mình từ môi trường tự nhiên, tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình.

- Môi trường tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người.

- Con người tác động vào môi trường tự nhiên theo hướng tích cực và tiêu cực.

- Trong mối quan hệ tương tác, môi trường tự nhiên làm nền tảng cho cuộc sống của con người.

- Nếu con người biết giới hạn để vừa sử dụng vừa bảo vệ môi trường tự nhiên thì mối quan hệ ngày càng bền chặt và tồn tại lâu dài. Ngược lại, môi trường tự nhiên sẽ tiếp tục bị tàn phá nếu con người không có biện pháp cụ thể để bảo vệ nó.

- Trong mối quan hệ với môi trường xã hội, con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường xã hội. Ngược lại, môi trường xã hội là nền tảng căn bản trong sự phát triển nhân cách con người.

- Môi trường xã hội tốt, con người sống sẽ được hòa nhập vào môi trường, được hưởng đầy đủ các giá trị do môi trường xã hội mang lại. Mặt trái của môi trường xã hội đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống, sự tiêm nhiễm văn hóa ngoại lai, các loại tệ nạn xã hội, tội phạm và các biểu hiện lệch lạc khác.

- Để bảo đảm cho sự phát triển bền vững, đòi hỏi phải duy trì mối quan hệ thân thiện giữa con người và môi trường, ngăn chặn những tác động tiêu cực của con người tới môi trường tự nhiên và xã hội.


CÂU NÓI HAY VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

1. Đất nước này là của mình. Hãy trân trọng những kỳ quan, trân trọng nguồn tài nguyên thiên nhiên và trân trọng lịch sử như một di sản quý giá. Đừng để sự ích kỷ và tư lợi của một vài cá nhân làm hại vẻ đẹp, sự giàu có và lãng mạn của nó. – Theodore Roosevelt

2. Ngày qua ngày, thiên nhiên đang vẽ cho chúng ta bức tranh của vẻ đẹp vĩnh cửu. – John Ruskin

3. Trái Đất có thể đáp ứng mọi nhu cầu của con người nhưng không thể đáp ứng được lòng tham của mỗi người. – Mahatma Gandhi

4. Nếu mình sống trong môi trường xấu, lý tưởng phụng sự, tâm ban đầu của mình sẽ bị xói mòn nhanh chóng. Do đó, ta rất cần chọn một môi trường mà mọi người đang cùng chế tác chung năng lượng từ bi, bình an, tình yêu thương. Nếu ta sống trong một cộng đồng như thế thì tư niệm thực an lành, tâm phụng sự lớn của mình được che chở và nuôi dưỡng. Còn nếu mình tự đặt mình vào đám đông hay giận dữ, thèm khát, ganh tị, so sánh thì thế nào tâm ban đầu của mình cũng bị hao mòn. – Thích Nhất Hạnh

5. Hãy nhớ rằng Trái Đất thích cảm nhận đôi chân trần và làn gió luôn thích chơi đùa với mái tóc của mình. – Kahlil Gibran

6. Tôi sẽ thấy lạc quan hơn về tương lai của con người nếu chúng ta ít dành thời gian hơn cho việc chứng tỏ mình có thể đánh lừa tự nhiên, thay vào đó là tận hưởng những gì bà mẹ thiên nhiên ban tặng và ngưỡng mộ sự vĩ đại của Người. – Elwyn Brooks White

7. Ta không thể trải qua một ngày mà không có sự tương tác với thế giới xung quanh. Điều mình làm sẽ tạo ra sự khác biệt và chính mình là người quyết định khác biệt nào mình muốn có. – Jane Goodall

8. Chúng ta bắt đầu thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn môi trường một cách cực kỳ cẩn thận, bởi vì môi trường là mảnh đất nuôi dưỡng tinh thần, nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng cho tâm trí chúng ta. – Napoleon Hill

9. Chúng ta nên biết tôn trọng mọi sinh vật sống và thay thế bạo lực bằng sự bao dung, thấu hiểu và một tình yêu to lớn. – Jane Goodall

10. Chúng ta xử tệ với Trái Đất bởi chúng ta coi nó là một tài sản thuộc về mình. Khi nào chúng ta coi mình thuộc về Trái Đất, chúng ta có thể sẽ bắt đầu cư xử lại với tình yêu và sự kính trọng. Aldo Leopld

11. Chính môi trường sẽ dạy đứa trẻ, nếu mỗi sai lầm nó phạm phải được bộc lộ cho nó thấy, không cần sự can thiệp của phụ huynh hay giáo viên. Những người này nên yên lặng quan sát tất cả những gì xảy ra. – Maria Montessori

12. Mục tiêu đầu tiên của việc chuẩn bị môi trường là trong phạm vi hết sức có thể, cho phép đứa trẻ độc lập với người lớn. – Maria Montessori

13. Thiên nhiên không bao giờ vội vã. Từng chút một, “cô gái” ấy đạt được mục đích của mình. Một bài học từ việc đi thuyền hoặc trồng cây là tính kiên nhẫn của thiên nhiên – kiên nhẫn với sự chậm trễ của gió, mặt trời, thời tiết xấu… – Ralph Waldo Emerson


THƠ VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

Chung tay bảo vệ môi trường

Cây xanh tỏa bóng muôn phương yên bình

Vùng cao miền biển đẹp xinh

Bài ca xây dựng hòa bình màu xanh

 

Khi đô thị hóa tiến nhanh

Chao ôi là rác hôi tanh ngập tràn

Bữa cơm còn phải mắc màn

Đủ mùi xú uế hàng dàn tấn công

Lại thêm tiêu tốn nhân công

Ngày đêm dọn dẹp nhưng không thấy bờ

 

Hỡi ai! Đừng có thờ ơ!

Dẹp ngay rác hại .giấc mơ nhiều người

Non cao dùng bữa cười tươi

Lá làm mâm cỗ điểm mười sống xanh

Ai ai cũng muốn trong lành

Ni lông túi cước giảm nhanh đi nào

Ước mong cuộc sống thanh tao

Phân đúng loại rác bỏ vào điểm gom


Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, v.v... Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với nhau. Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội. Những tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường phải có mục đích, có hoạch định. Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô hình tương tác. Nói cách khác, các chủ thể hành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức độ tự động hóa nhất định nào đó. Tức là họ thực hiện gần như không có ý thức, như thói quen. Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở sân bay, nhà hàng hoặc rạp hát, v.v... dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện lần đó; nhưng lần gặp sau lại không nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ chưa thể coi là có mối quan hệ xã hội. Trái lại, nếu như ở những lần gặp gỡ sau các cá nhân đó lại tiếp tục sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữa họ có thể coi là có mối quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động. Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, có tính lặp lại, v.v... Các tương tác này còn có thể mang những đặc trưng khác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau.

Hình thức quan hệ và tương tác

Các hình thức quan hệ và tương tác trong xã hội học được mô tả như sau: trước tiên và cơ bản nhất là động vật giống như hành vi, tức là chuyển động vật lý khác nhau của cơ thể. Sau đó có những hành động - chuyển động với một ý nghĩa và mục đích. Tiếp theo có những hành vi xã hội, hoặc hoạt động xã hội, có địa chỉ (trực tiếp hoặc gián tiếp) khác với con người, trong đó thu hút một phản ứng từ các đại lý khác. Tương tác xã hội lần lượt hình thành cơ sở của mối quan hệ xã hội, và được minh họa trong bảng dưới đây:


Chủ thể xã hội

Cấp độ vĩ mô

• Nhóm xã hội;

• Tập đoàn;

• Toàn bộ xã hội.

Các nhóm, tập đoàn lớn thường chiếm giữ những vị trí khác nhau trong xã hội. Do đó họ cũng có những quyền lực, cơ hội, thu nhập hoặc lối sống khác nhau. Những vị trí xã hội khác nhau, thu nhập khác nhau, lối sống khác nhau của các nhóm xã hội nhiều khi lại là tiền tố tạo ra các tương tác xã hội giữa các nhóm. Trên cơ sở đó hình thành những quan hệ xã hội giữa chúng. Cùng ở cấp độ vĩ mô, quan hệ xã hội còn được thể hiện dưới dạng quan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong các quan hệ đó có tác động lẫn nhau, và quan hệ kinh tế đóng vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng quyết định đến chính trị, văn hóa và xã hội.

Cấp độ vi mô

• Cá nhân xã hội: các nhà xã hội học phương Tây gần như đồng nhất quan hệ xã hội với quan hệ giữa các cá nhân. Thực tế, quan hệ xã hội của các cá nhân chỉ tạo thành một bộ phận khá quan trọng của toàn bộ quan hệ xã hội. Thực chất, mọi quan hệ giữa các cá nhân được thiết lập nhờ những tương tác xã hội có tính chuẩn mực, ổn định, đều là những quan hệ xã hội. Tuy vậy, những quan hệ này lại khác biệt nhau rất nhiều nếu xét theo nội dung hoặc tính xã hội của từng loại quan hệ. Nói cách khác, có những quan hệ mang nhiều tính xã hội trong khi có những loại quan hệ ít mang tính xã hội hơn.


Quan hệ tình cảm thuần túy

Quan hệ tình cảm thuần túy còn được gọi là quan hệ sơ cấp, được dùng để chỉ đối lập với quan hệ xã hội - quan hệ thứ cấp. Quan hệ tình cảm như quan hệ trong gia đình, họ hàng - thực chất cũng là một loại quan hệ xã hội. Về cơ bản, quan hệ tình cảm cũng có cơ chế hình thành giống như các loại quan hệ xã hội khác, tức là cũng phải dựa trên sự tương tác lâu dài, ổn định của các chủ thể hành động.

Các loại quan hệ xã hội

·  Quan hệ giữa các tập đoàn lớn;

·  Quan hệ giữa các nhóm xã hội nhỏ;

·  Quan hệ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội;

·  Quan hệ giữa các cá nhân.

Xem thêm

·  Tổ chức xã hội

·  Quyền lực xã hội

·  Trật tự xã hội

·  Bất bình đẳng xã hội

·  Phân tầng xã hội

·  Giai cấp xã hội

 


CÂU NÓI HAY VỀ QUAN HỆ XÃ HỘI

32 câu nói ý nghĩa về các mối quan hệ trong xã hội

Tình yêu, tình bạn hay những mối quan hệ ngoài luồng khác luôn gắn với cuộc sống chúng ta. 32 câu nói sau sẽ giúp mình suy ngẫm nhiều hơn về các mối quan hệ của chính bản thân mình.

1. "Điều sung sướng nhất, thách thức nhất và quan trọng nhất trong một mối quan hệ là khi mình được là chính mình."- Carrie Bradshaw

2. "Đừng bước chân vào một mối quan hệ khi mình không được là chính mình." -Oprah Winfrey.

3. "Cách tốt nhất để chữa lành tổn thương là thời gian và những người bạn." - Gwyneth Paltrow

4. "Tôi đã từng trải qua cảnh mình chỉ có thể là bạn của một người, không hơn không kém." - Taylor Swift

5. "Khi một ai đó độc thân, không có nghĩa rằng là họ đang cô độc. Trong khi đó, một số người đang trong một mối quan hệ trọn vẹn thì lại lãng quên "hạnh phúc" là gì." - Drake

6. "Khi được ai đó yêu thương đủ đầy, mình sẽ được tiếp thêm sức mạnh. Khi yêu ai đó sâu đậm, mình sẽ có đủ sự can trường." - Lao Tzu.

7. "Không có một cô gái nào không biết rằng "Họ không cần một người mà không cần họ nữa." -  Marilyn Monroe

8. "Cô ấy chính là bạn của tôi bởi vì chúng tôi biết rằng, những gì chúng tôi có chắc chắn sẽ làm tất cả mọi người phải ghen tị." - Cher Horowitz

9. "Trong một mối quan hệ, tôi biết rằng, tôi nên chia tay người không ủng hộ những quyết định của mình, không cho tôi thêm sức mạnh, không muốn dành những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống cho tôi... Vì vậy, nếu bạn đang hẹn hò với một người không muốn bạn là duy nhất của họ, đừng nên tiếp tục nữa." - Veronica Roth

10. "Tôi không biết bất kì ai thực sự chân thành trong một mối quan hệ. Điều này dường như không hề tồn tại." - Richard Gere

11. "Hãy chấp nhận một tình yêu khi mình nghĩ là mình xứng đáng." - Stephen Chbosky

12. "Không gì là tôi không thể làm cho những người bạn đích thực của mình. Thậm chí tôi còn không có ý niệm san sẻ đi tình yêu thương đối với những người mà tôi yêu mến. Nó vốn dĩ không phải là bản tính của tôi." - Jane Austen

13. "Ba điều tôi muốn trong một mối quan hệ là: đôi mắt không phải đẫm lệ, đôi môi không biết dối lừa và tình yêu thương bất diệt." - Wiz Khalifa

14. "Đừng để ai trong cuộc đời này nói rằng chính mình không biết mình là ai." - Lady Gaga

15. "Một người bạn tốt sẽ biết những câu chuyện của chúng ta. Còn những người bạn thân sẽ cùng ta viết nên những câu chuyện đó." - Vô danh

16. "Hạnh phúc là khi mình có một gia đình đủ đầy, sum vầy, biết yêu thương và san sẻ." - George Burns

17. "Tình bạn là gì? Đó là tâm hồn đồng điệu của 2 con người."- Aristotle

18. "Sau tất cả, người mình muốn kề bên chính là người làm mình mỉm cười." - Mr. Big

19. "Ta không thể chọn gia đình của mình. Đó là món quà mà Thượng đế đã ban cho mình, bởi vì mình là của họ"  - Desmond Tutu


20. "Bạn bè chính là những người luôn biết những gì đang xảy ra với mình và luôn yêu mến mình." - Elbert Hubbard

21. "Họ có thể thiếu thốn tình yêu, tuy nhiên nếu thiếu đi sự đồng điệu và thấu cảm như hai người bạn thì quả là một cuộc hôn nhân không hạnh phúc." - Friedrich Nietzsche

22. "Anh thà chết vào ngày mai còn hơn là sống một trăm năm mà không biết gì về em cả."- Pocahontas

23. "Những gì tôi đang cảm nhận được lúc này, chính là lý do tại sao tôi muốn kết hôn. Dĩ nhiên, cô gái mà tôi muốn cạnh bên đến suốt đời là một "siêu anh hùng". Chúng tôi đã sẵn sàng để được bay cùng nhau." - Kanye West

24. "Đừng bận tâm đến những kẻ không ra gì." - Jennifer Lawrence

25. "Cho dù có yêu đến nhường nào, người phụ nữ cũng không nên mang cay đắng bên mình." - Joyce Brothers

26. "Bạn tâm giao: hai từ giản đơn, một ý nghĩa lớn. Niềm tin chính khi là một ai đó đang nắm giữ chìa khóa bước vào trái tim mình." - Carrie Bradshaw

27. "Kết hôn tương tự như việc bạn có một ai đó mãi mãi trong cuộc đời mình. Nó dường như là vô bến bờ, không giới hạn." - Gloria Steinem

28. "Tôi yêu chính bản thân mình, và tôi muốn ai đó làm điều này cùng tôi." - Eartha Kitt

29. "Nếu bạn không hạnh phúc khi ở cạnh bên ai đó, hãy rời xa họ. Hãy đợi đến lúc bạn tìm thấy một người có thể giúp bạn cảm thấy là chính mình, người đó không bắt bạn phải thay đổi nhưng lại có thể giúp bạn trưởng thành hơn mỗi ngày." - Zoe Saldana

30. "Thời gian chính là việc bạn đã trao đi yêu thương như thế nào." - Zadie Smith

31. "Có lẽ đích đến của cuộc hôn nhân nào cũng sẽ là một tuyệt tác. Hãy tạo ra tuyệt tác mà bạn muốn." - Mindy Kaling

32. "Sự cô đơn của tôi dường như cũng rất tốt. Tôi chỉ đón nhận anh nếu anh ngọt ngào hơn sự cô đơn của tôi." - Warsan Shire


 

20 CÂU NÓI THÔ NHƯNG THẬT VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG CUỘC SỐNG

Muốn có những mối quan hệ tốt đẹp, bền vững, anh em hãy thử ghi nhớ những câu nói thô nhưng thật dưới đây.

Có những điều tuy thô nhưng thật về tình bạn, tình yêu lẫn tình cảm gia đình nên biết:

 

Bạn bè

 

1 Vật chất dễ vay, ân tình khó trả. Bạn bè dễ kiếm, tri kỷ khó tìm.

2 Nếu muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Còn nếu muốn đi xa, hãy đi cùng nhau.

3 Sự lợi hại không nằm ở chỗ bạn quen biết nhiều hay ít, mà ở chỗ khi gặp hoạn nạn, có bao nhiêu người nhận là có quen biết bạn.

4 Nên tránh xa những kẻ lấy bí mật của người khác ra để cải thiện mối quan hệ của riêng mình.

5 Có những người mà ta không biết nói chuyện gì, nhưng cũng có những người mà ta có rất nhiều chuyện để cùng im lặng.

6 Một người bạn tốt là người luôn đâm ta ở ngay trước mặt. (Oscar Wilde)

7 Có những mối quan hệ nếu không đủ dũng khí để buông tay thì nhất định quãng đời sau này sẽ đi vào ngõ cụt.

8 Thành thật có thể không mang lại nhiều bạn bè nhưng nó luôn mang lại những người bạn đúng nghĩa. (John Lennon)

9 Nếu không có ai ghét bạn nghĩa là bạn sống quá nhàm chán. Còn nếu ai cũng ghét bạn thì bạn sống như *ba chấm*.

10 Khi bạn có tiền trong tay, chỉ có bạn quên mất mình là ai. Nhưng khi bạn không có đồng nào, cả thế giới sẽ quên đi bạn là ai. Đó là cuộc sống. (Bill Gates)


 

Gia đình

11 Nhà không cần quá lớn, miễn trong đó có đủ tình yêu thương.

12 Ngôi nhà nhiều tiếng cười cũng thường là ngôi nhà nhiều phiền muộn. (Edward Young)

13 Gia đình là sự nghiệp cuối cùng. Tất cả mọi sự nghiệp khác đều phục vụ cho một mục đích, đó chính là gia đình

14 Người ta có nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về.

15 Một người đàn ông không dành thời gian ở cùng với gia dình mình sẽ không bao giờ có thể là một người đàn ông chân chính (Don Vito Corleone).

 

Tình yêu

16 Khi bình yên người ta thường quên đi những lời thề trong giông bão.

17 Yêu nhau không phải là cả đời không cãi nhau, mà là cãi nhau rồi vẫn có thể bên nhau cả đời.

18 Thật dễ dàng để làm quen với một người xa lạ. Nhưng thật khó để quên đi một người xa lạ đã từng quen.

19 Yêu đơn phương cũng giống như tự... tè vào chân mình. Người ngoài nhìn vào chửi mình ngu nhưng bản thân lại thấy rất ấm áp.

20 Trên đời này không có người vô tâm, chỉ là tâm của họ không hướng về mình mà thôi.


 

DANH NGÔN HAY VỀ QUAN HỆ

Bản chất một người không phụ thuộc vào cuộc nói chuyện gần nhất mà thể hiện trong toàn bộ mối quan hệ.

Ta không thể cứu vãn một mối quan hệ trừ phi cả hai bên đều đầu tư tâm sức như nhau. Để thành công phải có nỗ lực song phương. Chỉ một người cố gắng sẽ không bao giờ đủ.

Ta muốn tin rằng trong đời có mối quan hệ mà sự phản bội không thể chạm tới. Một mối quan hệ không thể bị ảnh hưởng bởi loại tổn thương đó. Và không có đâu.

Cá nhân tôi rất thích dâu và kem, nhưng tôi phát hiện rằng không biết vì lý do kỳ lạ gì, cá lại thích sâu hơn. Vậy nên khi tôi đi câu cá, tôi không nghĩ về điều tôi muốn. Tôi nghĩ về điều chúng muốn. Tôi không treo mồi là dâu và kem. Thay vì thế, tôi treo mồi là sâu hay châu chấu trước lũ cá, và bảo: "Lũ mày có thích chúng không?"Tại sao lại không dùng lẽ thường như thế khi đi 'câu' người?

Các mối quan hệ cần đặt trên sự tin tưởng và nếu mình phải chơi trò thám tử trong mối quan hệ của mình, thì đã đến lúc bước tiếp rồi.

Các mối quan hệ của con người giống như những động từ bất quy tắc trong một số ngôn ngữ mà gần như tất cả động từ đều bất quy tắc.

Các mối quan hệ là dấu xác nhận cho người trưởng thành.

Cái chết cố định vĩnh viễn mối quan hệ giữa người ra đi và người còn sống trên trần thế.

Chất lượng cuộc sống là chất lượng của những mối quan hệ ta có.

Chúng ta quên đi làm thế nào để tự bản thân mình là một con người toàn vẹn. Ta cảm thấy như mình chỉ là một nửa cá thể và ta cần ai đó khác để khiến mình toàn vẹn. Đó là lời nói dối ta nói với bản thân, và thật không may, lời nói dối đó đã hủy hoại quá nhiều người. Ta bước vào mối quan hệ, ta bị tổn thương, và rồi ta tìm đến ai đó khác để giấu đi đau khổ hay lấp đầy khoảng trống trong cuộc sống, nhưng ta lại không nhận ra rằng tìm đến nhầm người sẽ chỉ khiến mọi chuyện càng tồi tệ hơn.

Chúng ta xây quá nhiều tường và chẳng đủ cầu.

Có những người trở nên gắn bó hơn, có những người nhạt nhoà dần khỏi thế giới của mình. Có người trân trọng giữ bên mình, có người chôn sâu trong tim, thỉnh thoảng uống cốc trà chiều, nhớ lại những chuyện đã qua, có thể mỉm cười, vậy là đủ.

Có những người vừa gặp đã trở nên thân quen, có những người biết cả đời cũng không thể nào thân thiết.

Con người giống như đất. Họ có thể nuôi dưỡng ta và khiến ta trưởng thành, hoặc họ cũng có thể ngăn cản sự phát triển của ta, và khiến ta héo tàn.

Cuộc sống là sự vận động, sự vận động liên tục trong các mối quan hệ và tư duy; cố gắng bắt lấy vận động ấy dưới hình thức quá khứ, như ký ức, là sợ hãi cuộc sống.

Đây là bài kiểm tra không thể sai lầm. Hãy tưởng tượng mình ở trong một tình huống chỉ có một mình, duy nhất một mình trên thế gian, và mình được chọn một trong hai thứ: sách hay người. Tôi thường nghe người ta yêu quý sự cô độc của mình, nhưng đó chỉ bởi vì vẫn có con người ở đâu đó trên thế gian, dù là ở nơi xa xôi. Tôi không biết gì về sách khi tôi rời khỏi bụng mẹ, và tôi sẽ chết không phải với sách mà với bàn tay của một người khác trong tay mình. Thực ra tôi đôi lúc vẫn đóng cửa và đắm mình trong sách, nhưng chỉ bởi tôi có thể lại mở cửa và thấy có người nhìn mình.

Dù là mối quan hệ gì thì người đến - nên nhiệt tình tiếp đón, người đi - hãy bình thản tiễn đưa!

Đừng chấp nhận mối quan hệ không cho phép mình là chính bản thân mình.

Dưỡng ấm một trái tim phải mất rất nhiều thời gian, nhưng làm nó lạnh giá chỉ cần trong chớp mắt.

Hóa ra khoảng cách giữa con người cũng tùy lúc mà gần, hay xa.

Khi mình hạnh phúc 100% rằng mình độc thân, chính là lúc mình sẵn sàng bước vào mối quan hệ.

Khoảng 15% thành công tài chính của một người đến từ tri thức kỹ thuật và 85% đến từ kỹ năng trong quan hệ với con người - từ tính cách và khả năng dẫn dắt người khác.

Không có ai nhất định phải đối với ai tốt, người khác giúp mình, chính là phân tình, mình cũng nên hiểu được phải có hồi báo, như vậy giao tình mới có thể lâu dài. Người chỉ biết đòi lấy mà không chịu trả giá, thật sự vừa vô sỉ, vừa đáng ghét.

Không có giao tiếp, không có quan hệ; Không có tôn trọng, không có tình yêu; Không có tin tưởng, không có lý do để tiếp tục!

Mọi mối quan hệ đều giống như những hạt cát trong tay mình vậy. Nếu buông lỏng trên bàn tay để mở, cát vẫn nằm ở đó. Ngay giây phút mình nắm tay lại và siết chặt, cát lọt qua những kẽ ngón tay mình. Ta có thể giữ lại chút cát, nhưng phần lớn sẽ rơi mất. Một mối quan hệ cũng như vậy, nếu buông lỏng với sự trân trọng và cho đối phương tự do, nó vẫn nguyên vẹn. Nhưng nếu giữ quá chặt và quá chiếm hữu, nó sẽ tuột dần khỏi tay mình và rơi mất.

Mối quan hệ giữa người với người đã hỏng, nên sớm nhổ cỏ tận gốc, nếu không sớm muộn chúng cũng sẽ sinh trưởng thành độc thảo, kết thành một mạng lưới, sau đó khiến mình rơi vào trong đó không cách nào thoát ra nổi.

Mối quan hệ trở nên dễ dàng hơn khi mình nhận ra mình không cần phải là người có lỗi để làm người nói lời xin lỗi.


Một mối quan hệ chân thực giống như một con sông; nó càng sâu, nó càng ít tạo tiếng ồn.

Một mối quan hệ giống như một công việc mà mình chẳng bao giờ có thể nghỉ hưu. Khi mình ngừng nỗ lực vì nó, nó ngừng hoạt động.

Một mối quan hệ không có sự tin tưởng giống như chiếc điện thoại di động không hòa mạng, tất cả những gì mình có thể làm là chơi trò chơi.

Một số thử thách lớn nhất trong các mối quan hệ đến từ việc hầu hết mọi người bước vào mối quan hệ vì muốn đạt được điều gì đó: họ cố gắng tìm kiếm người sẽ làm cho họ cảm thấy tốt đẹp. Trên thực tế, cách duy nhất để khiến một mối quan hệ duy trì bền vững là nếu mình nhìn nhận mối quan hệ đó như là nơi để mình cho chứ không phải là nơi để mình lấy.

Nghịch cảnh kéo con người lại với nhau và tạo ra cái đẹp và sự hài hòa trong các mối quan hệ cuộc đời, cũng như giá lạnh mùa đông tạo ra hoa băng trên những ô cửa kính, để rồi tan đi trong hơi ấm.

Ngôn ngữ là một môn nghệ thuật tinh thâm uyên bác, mỗi một câu nói trước khi được thốt ra, phải học cách nghĩ đi nghĩ lại ba lần trong đầu đã, cố gắng hết sức để lựa chọn một phương thức hữu hảo và dễ được người khác chấp nhận nhất để từng bước từng bước tiến hành thảo luận. Do đó, duy trì tốt các mối quan hệ mới là bước đầu tiên thiết thực giúp người ta tiếp cận gần hơn với giấc mơ.

Những động lực cần thiết để làm bất cứ mối quan hệ nào trôi chảy: Cứ tiếp tục trao đi tình yêu thương của mình.

Những mối quan hệ cũng giống như những mảnh thủy tinh. Đôi khi để chúng tan vỡ còn hơn cố gắng làm mình thương tổn bằng cách gắn nó lại.

Những mối quan hệ, giống như ô tô, nên được bảo trì thường xuyên để đảm bảo chúng vẫn chạy được trên đường.

Những người có điểm giống nhau thường có khuynh hướng ưa thích nhau.

Nỗi đau của họ như tấm gương soi vào nhau, thấy rõ đối phương. Thương xót cho nhau nhưng không thể giơ tay ra chạm tới. Không bao giờ kể lể. Cãi nhau, không hiểu nhau, lạnh nhạt, cố chấp. Chỉ có thể duy trì bằng cách như vậy. Chính như vậy. Có một số người, họ yêu quý nhau như vậy. Tình yêu của họ cách trở hai bờ, chỉ có thể nhìn nhau, không thể sát gần.

Ốc sên vác trên mình chiếc vỏ nặng nề, lê từng bước, từng bước về phía trước. Dù gian khổ thế nào nó cũng không muốn từ bỏ, bởi chiếc vỏ ấy đã gắn chặt với cuộc đời nó. Cũng như mỗi người chúng ta đều là một phần cuộc sống của một người nào đó, ở tận sâu trong trái tim, không thể tách rời.

Quân tử bất dĩ sắc thân nhân. Tình sơ nhi mạo thân, tại tiểu nhân tắc xuyên du chi ích dã dư? Tình dục tín, từ dục xảo.

Quân tử không lấy sắc bên ngoài để thân cận với người. Tình sơ giao mà dùng dung mạo thì khác nào kẻ tiểu nhân khoét tường lén trộm cắp của người? Tình phải tin nhau, lời phải khéo léo.

Quy luật tương ứng nghĩa là thế giới bên ngoài của mình là tấm gương phản chiếu thế giới bên trong. Thế giới bên ngoài của mình tương ứng với thế giới bên trong. Thế giới bên ngoài của những mối quan hệ - đặc biệt là quan hệ với con cái và bạn đời - chỉ đơn giản là tương ứng với cách mình cảm nhận về chính mình, về những gì mình đang làm.

Rõ ràng chúng ta tự tạo nên bản thân mình. Để tôi giải thích. Tôi bước vào ngôi nhà này và lập tức tôi trở thành điều tôi phải trở thành, điều tôi nên trở thành: Tôi tự tạo ra bản thân mình. Tôi thể hiện bản thân với mình phù hợp với mối quan hệ mà tôi muốn đạt được với mình. Và, dĩ nhiên, bạn cũng làm như vậy với tôi.

Sự chú ý của con người thường tập trung vào những sự thỏa mãn mà các mối quan hệ được kỳ vọng sẽ mang lại, chính xác là bởi chúng không thực sự làm hài lòng theo cách nào đó. Và nếu chúng thực sự làm hài lòng, cái giá của sự thỏa mãn này thường cho thấy là không thể chấp nhận được.

Sự hờ hững bắt đầu như một vết nhiễm trùng, rồi trở thành căn bệnh.

Sự hoà hợp giữa người và người trong lúc ở chung không hoàn toàn quyết định bởi thời gian dài hay ngắn.


Suy cho cùng, một mối quan hệ đổ vỡ, chưa hẳn hoàn toàn do lỗi của ai dối lừa ai, chỉ đơn giản vì những xao lòng của trái tim không cần thêm bất cứ lời biện hộ nào. Biết là sai, nhưng đã lạc nhịp, làm sao cấm cản cho đừng nhạt phai?

Tại sao người ta lại khăng khăng giữ mối quan hệ không thỏa mãn, không sẵn lòng đi tìm giải pháp hoặc chấm dứt nó và bước tiếp? Bởi vì họ biết thay đổi sẽ dẫn tới điều chưa biết, và hầu hết mọi người tin rằng điều chưa biết ấy sẽ đau đớn hơn điều họ đang trải nghiệm.

Tâm trí con người tồn tại thôi thúc muốn nắm bắt những hình thái cố định qua những giả định không thật, hay tưởng tượng, thứ luôn luôn hỗn loạn, luôn luôn thay đổi, và khó hiểu. Dưới thôi thúc này, đứa trẻ thường sử dụng một kiểu cách để hành động và tìm phương hướng. Chúng ta cũng như vậy khi ta chia trái đất thành kinh tuyến và vĩ tuyến, bởi chỉ như vậy chúng ta mới có những điểm cố định để đưa vào mối quan hệ với nhau.

Thật ra đôi khi giữa người với người ở chung với nhau, chỉ cần bước một bước về phía trước mà đối phương lại không lui về sau, cũng là một bước tiến triển rồi.

Thứ không đáng tin cậy nhất trên thế gian là quan hệ giữa người với người.

Thử thách cho khuôn mẫu hành vi của một người là mối quan hệ của người đó với xã hội, mối quan hệ với công việc, và mối quan hệ với tình dục.

Trên đời này, không có các chòm sao không hợp, chỉ có những con người không hợp nhau thôi.

Trong những mối quan hệ giữa người với người, lòng tốt và lời nói dối đáng giá cả ngàn sự thật.


 

CA DAO TỤC NGỮ VỀ QUAN HỆ XÃ HỘI

Anh em như thể tay chân

Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.

Ai ơi chớ vội cười nhau

Gẫm mình cho kĩ trước sau hãy cười.

Ai ơi chớ vội cười nhau

Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành.

Ai ơi chớ vội cười nhau

Cười người hôm trước, hôm sau người cười.

 

Con ơi nhớ lấy câu này,

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Con quan thì lại làm quan

Con nhà kẻ khó, bắt cua tối ngày.

Cây khô xuống nước cũng khô

Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.

Cô kia đội nón đi đâu

Tôi là phận gái làm dâu mới về

Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê

Tôi chẳng ở được, tôi về nhà tôi.

Cờ bạc là bác thằng bần

Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm.

Cơm cha cơm mẹ đã từng

Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người

Cơm người khổ lắm, mẹ ơi!

Chẳng như cơm mẹ vừa ngồi vừa ăn.

 

Ai ơi đừng bỏ vợ ta,

Bao nhiêu cô vợ bấy nhiêu cục vàng.

Nhưng anh chẳng cần cục vàng

Chỉ cần có một con hàng như em.

 

Đàn ông một trăm lá gan,

Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Đất đâu đất lạ đất lùng,

Đi làm lại có thổ công ngồi bờ?

Thổ công không có người thờ

Cho nên mới phải vẩn vơ ngoài đồng.

Đêm nằm nghĩ lại mà coi,

Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà.

 

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Nhân nghĩa là chúa muôn đời

Bạc tiền là khách qua chơi bấy giờ.

Những người con mắt lá răm

Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Nói người phải ngẫm đến ta

Thử sờ lên gáy xem xa hay gần

Nói người phải ngẫm đến thân

Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.

Non cao ai đắp mà cao

Sông sâu ai bới ai đào mà sâu?

Nực cười châu chấu đá xe

Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.

 

Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều

Người khôn mới nói nửa điều đã khôn

Kim vàng ai nỡ uốn câu

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

Không cha có chú ai ơi

Thay mặt đối lời chú cũng như cha.

 

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Làm người phải đắn phải đo

Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.

Làm người suy chín xét xa

Cho tường góc ngọn, cho ra vắn dài.

Lên non cho biết non cao

Xuống biển cầm sào cho biết cạn sâu.

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

 

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

Muốn no thì phải chăm làm

Một hạt thóc vàng chín giọt mồ hôi.

 

Rủ nhau xuống biển bắt cua

Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.

Rừng có mạch, vách có tai

Kẻ trong chưa tỏ, người ngoài đã hay.

Rượu nhạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm dù hay cũng nhàm.

 

Sông sâu còn có kẻ dò

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Sông sâu nước chảy đá mòn

Của kia ăn hết, nghĩa còn ghi xương.

Sự đời nước mắt soi gương

Càng yêu nhau lắm, càng thương nhớ nhiều.

 

Thế gian còn dại chưa khôn

Sống mặt áo rách, chết chôn áo lành,

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

Trai khôn tìm vợ chợ đông

Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.

Trăng mờ còn tỏ hơn sao

Dẫu rằng núi lỡ còn cao hơn đồi.

 

- Ai ơi gương vỡ khó hàn...

Ai ơi gương vỡ khó hàn,

Chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm.

 

- Bạn bè là nghĩa tương tri...

Bạn bè là nghĩa tương tri,

Sao cho sau trước một bề mới nên.

- Bạn nghèo thuở trước chớ quên...

Bạn nghèo thuở trước chớ quên,

Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình.

 

- Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình...

Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình,

Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi.

Bộ chi? Bộ xấu, bộ tồi,

Đã ăn hối lộ, còn đòi vú non?

 

- Bổn phận ở với láng giềng...

Bổn phận ở với láng giềng,

Là nơi kề cận ấm êm cửa nhà.

Ăn ở sao cho được thuận hòa,

Đừng tranh hơn thiệt, rầy rà chẳng nên.

Đôi bên là kẻ thân quen,

Trong cơn tắt lửa tối đèn có nhau!

 

- Cây cao thì gió càng lay...

Cây cao thì gió càng lay,

Càng cao danh vọng, càng dày gian nan.

Chim quyên xuống đất cũng quyên,

Anh hùng lỡ vận cũng nguyên anh hùng.

 

- Cơm ăn chẳng hết thì treo...

Cơm ăn chẳng hết thì treo,

Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng.

Con ơi nhớ lấy câu này

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

 

Con vua thì lại làm vua,

Con sãi ở chùa thì quét lá đa.

Bao giờ dân nổi can qua,

Con vua thất thế lại ra quét chùa.

 

Con vua thì ở đất vua,

Ra đi một bước phải mua đất làng,

Đò dọc phải sợ đò ngang,

Ngụ cư phải sợ dân làng chánh tri.

 

- Cồng cộc bắt cá dưới ao...

Cồng cộc bắt cá dưới ao,

Cha mẹ mày giàu đám giỗ đầu heo.

Cồng cộc bắt cá dưới sông,

Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.

Dẫu là lọng cả ngựa cao,

Cũng nên bước xuống mà chào bạn xưa.

 

- Đừng nài lương giáo khác dòng...

Đừng nài lương giáo khác dòng,

Vốn đều con cháu Lạc Hồng khi xưa.

 

- Giúp nhau khi đói mới hay...

Giúp nhau khi đói mới hay,

Nói chi bù cặp những ngày ấm no.

 

- Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu...

- Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!

Chăn trâu cho khéo làm giầu cho cha.

- Giàu thì chia bảy chia ba,

Phận em là gái được là bao nhiêu!

 

- Mẹ cha công đức sinh thành...

Mẹ cha công đức sinh thành,

Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

Mười năm rèn luyện sách đèn,

Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

 

- Muốn sang thì bắc cầu Kiều...

Muốn sang thì bắc cầu Kiều,

Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.

 

- Nghèo giữa chợ chẳng ai han hỏi...

Nghèo giữa chợ chẳng ai han hỏi,

Giàu đầu non nhiều kẻ viếng thăm.

 

- Người trên ở chẳng chính ngôi...

Người trên ở chẳng chính ngôi,

Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.

 

- Nhà có láng giềng nhà...

Nhà có láng giềng nhà,

Đồng có láng giềng đồng

 

- Nhiều quan thêm khổ thằng dân...

Nhiều quan thêm khổ thằng dân,

Nhiều giàu thì lại chết trân thằng nghèo.

 

- Phượng hoàng ở chốn cheo leo...

Phượng hoàng ở chốn cheo leo,

Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.

Bao giờ gió thuận mưa hòa,

Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.

 

Quốc kêu réo rắt trên ngàn...

Quốc kêu réo rắt trên ngàn,

Gà rừng táo tác gọi con trên đồi.

Lạnh lùng thay láng giềng ôi,

Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều.

 

- Sáo đói thì sáo ăn đa...

Sáo đói thì sáo ăn đa,

Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn.

 

- Sông sâu còn có kẻ dò...

Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

 

- Trống reo thì mõ cũng reo...

Trống reo thì mõ cũng reo,

Sông khô biển cạn, chiếc thuyền chèo lơ ngơ.

Bạn thương không, nói thiệt ta chờ,

Để chi xuống bút uổng tờ giấy niêm.


MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Công nghệ rất hữu ích. Chúng ta trở nên năng suất hơn, bởi vì chúng ta phát minh ra công nghệ. Do đó, con người càng hứng thú hơn với các công cụ và công nghệ. Chúng giúp cuộc sống được dễ dàng hơn theo một phương cách nào đó. Điện thoại là một công nghệ rất hữu ích. Và ngày nay, người ta dành nhiều thời gian hơn để xem tivi, hay xem một cái gì đó trên điện thoại. Bởi vì điều đó làm cho họ thích thú. Con người thực sự rất sợ sự buồn chán. Con người không thích sự buồn chán. Con người muốn được tiêu khiển. Họ muốn một thứ gì đó để có thể giúp họ giải trí, một thứ gì đó làm họ hứng thú. Công nghệ cũng giúp con người học hỏi được nhiều hơn. Sách cũng là công nghệ. Như vậy, con người học hỏi từ công nghệ, con người sử dụng công nghệ để học hỏi nhiều hơn. Tất cả mọi thiết bị, ngay cả cây thước, cũng là công nghệ. Các Con đo cái này cái kia dài bao nhiêu. Bất cứ thứ gì con người phát minh ra đều là một phần của công nghệ. Điều đó làm nên con người chúng ta. Con người muốn phát minh, muốn tạo ra mọi thứ. Nên người ta liên tục, liên tục phát minh ra các công nghệ mới. Không bao giờ dừng lại. Bản chất của con người là khám phá, phát minh, làm cho mọi thứ tốt hơn. Đó là điều tốt. Nhưng, khi con hỏi về vấn đề này, Ta hiểu rằng con đang suy nghĩ đến việc con người ta đang ngày càng bị phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ và dành quá nhiều thời gian vào đó. Câu hỏi của con là một câu hỏi rất hay.

Ngày nay, rất nhiều nhà xã hội học, tâm lý học, và thậm chí cả bác sĩ nghĩ rằng công nghệ đã trở thành một vấn đề cho cuộc sống. Trẻ con dành quá nhiều thời gian để chơi trò chơi điện tử và xem video, không phải để học những điều có ý nghĩa hơn.

Chúng ta không thể cưỡng lại công nghệ. Chúng ta phải học cách sử dụng công nghệ, đặc biệt là những người như con, sống trong cuộc đời này và làm công việc kinh doanh. Kể cả trong lĩnh vực giáo dục, trong các trường đại học, họ cũng cần phải sử dụng công nghệ để dạy, để gửi thông tin. Không ích lợi chút nào nếu chống cự lại công nghệ.

Một điểm khác con người nói rất quan trọng. Quan hệ con người được dựa vào việc giao tiếp trực tiếp với nhau, mặt đối mặt, người với người, lắng nghe và trao đổi. Điều đó làm cho cuộc sống này phong phú. Công nghệ chủ yếu giúp trao đổi thông tin, nhưng không thể tạo nên sự gần gủi. Chúng ta cần phải hiểu rằng, nếu chúng ta càng trở nên bị lệ thuộc hơn vào công nghệ thì các mối quan hệ của chúng ta càng trở nên hời hợt hơn. Để có thể học hỏi được những điều sâu sắc và ý nghĩa về cuộc sống này, mọi người cần phải tiếp xúc trực tiếp với nhau, giữa người với người, với các vị thầy, với bạn bè, để thực sự trao đổi những gì muốn học hỏi. Chúng ta cũng có thể học hỏi nhiều từ sách vở, từ máy tính. Nhưng có những thứ chúng ta chỉ có thể học từ một người khác. Do đó, điều rất quan trọng là chúng ta cần phải gặp gỡ, nói chuyện, thảo luận. Cha mẹ và con cái. Họ cần phải gặp gỡ trực tiếp. Chỉ gửi tin nhắn không thì không đủ. Chỉ gửi câu hỏi thăm đại loại như: “Bố có khoẻ không?” – “Bố vẫn khoẻ” thì không đủ. Cần phải gặp gỡ nhau trực tiếp, rất quan trọng. Như vậy, chúng ta cần thảo luận làm cách nào để sử dụng, khai thác công nghệ, đồng thời với việc xây dựng các mối quan hệ một cách sâu sắc và có ý nghĩa.

Khi kinh doanh, Ta cần phải cho mọi người biết mặt hàng Ta bán cho khách hàng là cái gì và mức giá mà người ta phải trả cho Ta. Và Ta phải thuyết phục được rằng, nếu họ mua những gì Ta bán, nó có thể cải thiện cuộc sống của họ. Họ trở nên đẹp đẽ hơn, khoẻ mạnh hơn, hạnh phúc hơn, một thứ gì đó tốt hơn. Điều này là tự nhiên. Xuyên suốt lịch sử của cuộc sống, con người phát triển vì họ trao đổi. Tiền tệ được phát minh để trao đổi. Ta giới thiệu món hàng Ta bán, nếu người ta thích món hàng, người ta sẽ mua. Và đó là cách văn hoá được phát triển. Như vậy, việc mua và bán là cần thiết. Nếu không có sự mua, bán này, thế giới sẽ không được phát triển. Khi Ta bán một món hàng, Ta cần phải trình bày món hàng của Ta có. Và ngày nay, với công nghệ, Ta có thể bày hàng qua Internet, qua tivi. Đây là một phương thức nhanh hơn, dễ dàng hơn. Mọi người đều làm như thế. Và chúng ta không thể né tránh việc này. Ta nghĩ ý Các con hỏi là làm sao sử dụng công nghệ mà vẫn duy trì được mối quan hệ tốt với con người. Công nghệ có thể tiếp cận được hàng tỉ người, nhưng không thể giúp chúng ta gặp nhau tận mặt. Như vậy, chỉ có một số người mới có thể thực sự gặp mặt. Khi Ta nói chuyện trên tivi, người ta có thể nghe và xem Ta nói. Họ lấy được một số thông tin từ việc xem. Nhưng nếu Ta muốn hỏi ai một điều gì đó, muốn hiểu một điều gì đó một cách rõ ràng hơn, Ta cần phải gặp mặt con người đó. Chúng ta cần phải suy nghĩ một cách sâu sắc cách để có thể cân bằng hai thứ này.

Ngày nay, Ta thấy giới trẻ dành quá nhiều thời gian vào màn hình, chứ không phải là việc học hỏi những điều ý nghĩa từ người này, người kia. Điều này rất nguy hiểm. Bởi vì, để có thể trở thành một người tốt, Các con cần phải tìm được một người tốt và học hỏi từ họ. Làm cách nào để cuộc sống các con có ý nghĩa, bình an, và tự do? Các Con cần phải gặp một vị thầy tốt và học từ vị thầy đó. Việc học từ sách vở, công nghệ và học hỏi từ vị thầy cần phải đi cùng với nhau. Các Con không thể tách rời các sự học hỏi này. Trước khi có sách, người ta chỉ có thể học hỏi trực tiếp từ vị thầy: đi tìm và gặp vị thầy, đặt các câu hỏi, lắng nghe, và thực hành. Kể từ khi sách được phát minh, Các con người có thể đọc sách và học hỏi từ sách. Nhưng chỉ chừng đó thì chưa trọn vẹn. Vẫn cần phải gặp vị thầy của con, nếu Các con muốn phát triển lên tầng mức cao hơn, sâu sắc hơn trong học tập. Công nghệ cũng giống như sách, sách chính là một dạng công nghệ. Như vậy, chúng ta cần phải học hỏi từ sách vở, học hỏi từ công nghệ, từ Internet. Và chúng ta cũng cần phải học hỏi từ một vị thầy tốt. Hoặc chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau. Mọi người ai cũng có thể học hỏi được một thứ gì đó từ những người xung quanh. Ta cũng có thể học hỏi được một điều gì đó từ các Các con. Khi Ta gặp các con và suy nghĩ về các con, Ta thấy rằng, à con người này không giống với những người khác, bởi vì chúng ta đều khác nhau. Nên khi Ta gặp gỡ, trao đổi và hiểu hơn về Các con, điều đó làm cho cuộc sống của Ta phong phú hơn, tốt hơn. Việc hiểu một người khác là rất quan trọng đối với chúng ta, trong bất cứ một nền văn hoá nào. Các Con đến nước Mỹ, Các con đến Canada, Cáccon gặp gỡ những người dân ở đó. Và Các con thấy họ sống khác với chúng ta. Thế Các Con học được một điều gì đó từ họ. Gặp gỡ trực tiếp người khác là một việc quan trọng của chúng ta. Từ xa xưa, người ta thường tổ chức lễ hội, mời mọi người từ những địa phương khác nhau đến cùng tham dự, giải trí, nói chuyện, trao đổi thảo luận, và kể cả mua bán trao đổi các mặt hàng với nhau. Ở Việt Nam, điều đó cũng xảy ra. Trong thời gian diễn ra lễ hội, có rất nhiều người tới, trong đó có cả những vị thầy thông tuệ. Nên người ta có những chương trình khác nhau cho các đối tượng khác nhau.

Như vậy, gặp gỡ và trao đổi kiến thức và thông tin là việc làm cần thiết. Không nên nghĩ rằng công nghệ là một điều gì đó tệ hại. Các Con không thể cưỡng lại công nghệ. Chúng ta cần phải học cách để sử dụng công nghệ. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu rằng điều quan trọng là cần phải gặp gỡ và trao đổi với nhau. Và kể cả với công nghệ, chúng ta có thể sử dụng công nghệ để truyền tải những thông tin tốt, thông tin đúng cũng như ngược lại.  Cũng giống như sách vở, có cuốn hay, có cuốn dở. Điều đó cũng không là ngoại lệ đối với công nghệ. Nếu Các con đọc cuốn sách tốt, Các con học được những điều hay. Nếu Các con đọc một cuốn sách không tốt, tài liệu không tốt, có thể các on sẽ học được những điều xấu. Các Con cần phải giải thích điều này với mọi người. Một số người không có sự hiểu biết này. Như vậy, cần phải hiểu công nghệ và sử dụng công nghệ.


 

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ QUAN HỆ GỮA NGƯỜI VÀ NGƯỜI

Những câu nói về tình cảm ý nghĩa nhất thể hiện tình cảm gữa người với người . Trong cuộc sống muốn quen biết, thân thiết với nhau thì đòi hỏi phải có tình cảm với nhau. Trong tình yêu cũng vậy, khi hai người muốn yêu nhau và muốn tiến tới với nhau thì điều cần thiết là phải dành tình cảm cho nhau, thì mới tạo nên một mối quan hệ. Nhưng tình cảm là một thứ không thể đong đếm được nên tùy vào từng loại tình cảm, từng mức độ mà tình cảm cũng nên có “khoảng cách”riêng. Những câu nói hay về tình cảm, tình yêu hay những câu nói hay về cảm xúc sẽ là những câu nói ý nghĩa góp phần giúp cuộc sống tươi đẹp hơn.

những câu nói hay về tình cảm

1. Khi còn bé, chơi với bạn bè quá thân mật, nên cũng dễ chỉ vì một việc nhỏ mà cảm thấy đối phương phiền phức.

Khi lớn lên, vì quá gần gũi với người thân, mà cảm thấy đánh mất không gian của riêng mình.

Sau khi kết hôn, việc sống chung với nửa còn lại đã tiêu hao phần lớn thời gian riêng tư. Lúc đầu, muốn biết tất cả về đối phương, họ cũng muốn biết hết thảy về mình, hai bên đều vui vẻ chia sẻ, nhưng qua thời gian dài, lại cảm thấy khó chịu…

Tất cả những mối quan hệ thân thiết, tỉnh cảm đều cần “khoảng cách”

2. Mọi mối quan hệ đều cần có khoảng cách, giữa người với người, không nên quá gần gũi.

3. Quá xa tổn tình, quá gần tổn hữu. Cảm tình dù có tốt, cũng nên có khoảng cách, quan hệ có thân thiết, cũng phải có cho mình sự riêng tư.

4. Trong hôn nhân, cần có khoảng cách, hôn nhân không phải là trói buộc, mà là bổ sung cho nhau.

5. “Tình cảm giữa người với người, có đôi lúc cũng giống như chiếc áo len. Lúc đan thì từng mũi từng sợi, cẩn thận vô cùng. Lúc tháo ra rồi lại chỉ cần kéo nhẹ một cái. Có thể chỉ là một câu đùa vui, cũng có thể chỉ là một lần vô tình gây nên hiểu lầm nhỏ, tất cả tình cảm liền coi như chưa từng tồn tại. Bạn bè không xét nhiều ít, lúc khó khăn vẫn đồng hành mới là đáng quý. Tình cảm, không kể lâu chóng, lúc nhờ giúp liền ưng thuận, giúp đỡ trân trọng nhau mới là đáng trọng.”

6. Tình là một cốc nước, nóng lạnh vừa phải, uống vào sẽ cảm thấy thoải mái nhất, vì thế cần phải thay đổi, để cho tình cảm được lâu dài, bền vững hơn.

7. Không có thành công một ngày, cũng không thể một bước đặt cảm tình đúng vị trí, vì luôn phải từng bước điều chỉnh cho thích hợp.

8. Muốn duy trì các mối quan hệ bền vững, thì không nhất định phải quá gần gũi, mà cần có một khoảng cách, như thế mới có thể lâu dài.

9. Tình cảm giữa người với người, cứ nhạt một chút sẽ tốt, thân thiết quá dễ nảy sinh oán nghiệp.

10.  Mọi sự trên đời đều có hai mặt của nó, quan hệ giữa người với người cũng như vậy. Hôm nay hai người quá tốt với nhau, ngày mai có thể sẽ tuyệt giao không nhìn mặt. Và đôi khi, ân oán nảy sinh lại là vì chúng ta quá thân thiết.

11. Quan hệ giữa người với người thực sự rất thú vị, không có lòng cung kính, rất khó để duy trì lâu dài, giữa vợ và chồng cũng vậy.

12. Tình yêu thương,đó là tình cảm cao quý mà con người sẽ ko thể sống nếu thiếu nó.

Tình yêu thương là mọi thứ tình cảm tốt đẹp mà con người ta dành cho nhau, có tình cảm gia đình, tình cảm bè bạn,… thậm chí là đối với những người ta không hề quen biết. Nó có thể là thứ tình cảm được vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài, nhưng cũng có thế chỉ là một niềm thương cảm chợt trào dâng khi ta gặp một hoàn cảnh nào đó.

13. Cái hạnh phúc mà tình yêu thương đem lại cho cuộc sống là dành cho cả 2 phía. Người cho đi yêu thương được nhận một cảm giác ngọt ngào, êm dịu và bình yên. Và hầu như là họ cũng sẽ nhận lại được tình thương từ người mình vừa trao tặng. Người được nhận yêu thương thì có thể nhận được rất nhiều. Đối với một đưa trẻ thì đó có thể là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, suối nguồn tươi mát ươm mầm cho một trái tim nhạy cảm. Cũng có thể là sức mạnh cảm hóa, bến bờ quay lại đối với một bước chân lầm lỡ.

14. Tình yêu thương là những rung động giữa con người với con người, là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất. Nếu cuộc sống không có yêu thương thì mối liên kết sẽ vô cùng lỏng lẻo, có thể đứt gãy bất kì lúc nào. Và sẽ thật là một thảm họa nếu như thế giới ở trong tình trạng ấy. Rất có thể sẽ là chiến tranh, là chết chóc, bởi một khi yêu thương không tồn tại thì lòng nhân đạo có thể bắt nguồn được từ đâu nữa? Khi ấy hạnh phúc sẽ ko thể tồn tại được nữa!

15. Tình thương không chỉ đơn thuần là một thứ tình cảm mà chúng ta dành cho nhau. Mà nó còn xuất phát từ sự quan tâm yêu thương của ông bà cha mẹ dành cho con cháu và của anh chị dành cho em út của mình.

Ngày nay khi cuộc sống với bộn bề lo toang thì tình thương còn giữ đúng nghĩa của nó. Liệu mỗi ngày di làm về chúng ta còn đủ thời gian góp mặt vào bữa cơm gia đình để chia sẻ buồn vui vừa trải qua sau một ngày làm việc hay lại vùi đầu công việc đến tối khuya và chì cần biết con cái đã được ăn uống và ngày mai chúng tiếp tục đến trường, nghĩa vụ đó chính là tình thương mà ta dành cho chúng .Nếu như vậy liệu chúng có cảm nhận được chăng? Hay chỉ cần học thật giỏi và chẳng cần quan tâm đến ai cũng đủ để báo đáp tình thương đó rồi .Tình thương không phải dừng lại ở những thứ vật chất kia.Mà tình thương đúng nghĩa đôi khi cũng chỉ là những câu hỏi thăm của những người xa lạ và nó cũng chính là những cử chỉ những hành động thân thiện mà chúng ta cháo hỏi nhau mỗi ngày.

16. Giữa người với người, có thể gần, cũng có thể xa; Giữa việc với việc, có thể phức tạp, cũng có thể giản đơn; Giữa tình cảm với nhau, có thể sâu, cũng có thể cạn.

17. Đừng mong cầu người đối xử với mình đặc biệt, cũng chẳng nên hy vọng họ sẽ bớt đi những toan tính.

18. Cuộc sống có người nói ít làm nhiều, cũng sẽ có kẻ chỉ biết hoa chân múa tay. Ta không nên quá bận lòng, chỉ cần quản tốt việc của bản thân: làm những việc cần làm, đi con đường nên đi, giữ gìn sự lương thiện, nuôi dưỡng lòng chân thành; khoan dung với mọi người, nghiêm khắc với bản thân, còn lại thuận theo nhân duyên là được.

19. Đức Phật từng nói: với người không có duyên, dù nói bao nhiêu lời cũng là thừa; còn như đã hữu duyên thì chỉ cần xuất hiện, mình cũng có thể thức tỉnh mọi giác quan của họ…

20. Có một số việc, vừa phân trắng đen đã trở thành quá khứ; Có một số người, giận hờn vài ngày đã trở thành dĩ vãng; Có những nỗi đau, vừa cười lên đã tan thành bọt nước; Có những hoàn cảnh, nhờ chịu chút thương đau mà trở nên kiên cường.

21. Đôi khi hôm nay là việc lớn, ngày mai nhìn lại chẳng có gì đáng kể; năm nay quan trọng, sang năm sẽ trở thành thứ yếu; chuyện vĩ đại đời này, đời sau người ta gọi là truyền thuyết.

22. Chúng ta, nhiều nhất cũng chỉ là câu chuyện của một người. Vì thế trong cuộc sống hay công việc, nếu gặp chuyện không vừa ý, hãy nói với bản thân: “hôm nay sẽ qua đi, ngày mai rồi cũng đến, hãy buông bỏ tất cả để bắt đầu ngày mới!”

23. Trên đời, có một số việc không phải không để tâm, mà để tâm cũng không làm được gì hơn.

24. Cuộc sống không có “nếu như”, chỉ có “hậu quả” và “kết quả” . Đón nhận đời mình như thế nào là do bản thân lựa chọn, người khác không thể quyết định thay.

25. Trưởng thành rồi, mình sẽ biết cách lấy nụ cười đối diện với tất cả.”

26. Quan hệ giữa người và người, có thể tình cờ và đầy hồi hộp như chúng ta đoán lá bài đang úp mặt xuống hoặc một hộp chocolate – chúng ta không biết được mùi vị bên trong nhân sau khi ăn.

27. Quan hệ giữa chúng ta và thế giới, mỏng manh như sợi chỉ, đầy đủ hỉ nộ ái ố, bi ai, hài hước; đầy thất vọng và kỳ vọng, đầy trớ trêu và thường tình.

28. Thế giới thì rộng lớn và đầy tình cờ, tôi vẫn chưa hiểu hết lý do của việc hai người gặp nhau và thấy hứng thú ở nhau. Chắc chắn phải có cái gì thú vị hơn là bề ngoài và sở thích.

29. Thái độ sống của con người mang tính chất quyết định hủy hoại mối quan hệ hay làm nó trở nên sâu sắc hơn. Lúc thân thiết, hai người có thể mặc chung một cái quần nhưng một khi đã mâu thuẫn, có thể có chết cũng không nhìn mặt nhau. Nguyên nhân là bởi hai phía đã từng quá tốt với nhau.

30. Để duy trì được mối quan hệ bền chặt, đầu tiên mỗi người cần phải có một tấm lòng không mưu cầu, không yêu cầu áp đặt đối phương, những việc mình không muốn, không áp đặt cho người khác, thay vào đó, hãy làm, hãy nghĩ cho họ, như thế, quan hệ giữa người với người mới có thể tốt dần lên được.

Những câu nói hay ý nghĩa về tình cảm giữa người với người, những tình cảm, mối quan hệ trong cuộc sống vô cùng ý nghĩa sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về tình cảm của đối phương là thật hay giả, và để trân trọng mối quan hệ, tình cảm đó, chúng ta cần phải làm gì. Con người sống với nhau thì cần đối xử tốt với nhau, đó là một loại tình cảm giữa người với người không thể thiếu trong cuộc sống


THƠ TÌNH NGƯỜI

Những câu thơ hay về cuộc sống tươi đẹp là nguồn cảm hứng, động lực mang đến sự vui vẻ, lạc quan trong cuộc sống. Những câu thơ hay về cuộc sống tươi đẹp, mang giá trị sâu sắc thổi một luồng gió mát vào tâm hồnđang dần khô cằn, xóa tan đi những bế tắc, áp lực, căng thẳng, vươn tới những điều tốt đẹp hằng mơ ước.

 

TA CỨ CƯỜI

Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc

Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh

Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn

Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ

 

Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ

Cho vui lòng bạn hữu với anh em

Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm

Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt

 

Cười khoan dung với những người không thật

Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân

Cười thứ tha cho những kẻ bất phân

Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối

 

Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi

Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau

Cười hả hê cho cuộc sống lao đao

Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng

 

Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận

Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô

Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô

Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.

 

QUÊN LÃNG

Khi vấp ngã đừng lo mình nhé

Hãy đứng lên mình sẽ kiên cường

Nhìn về phía trước yêu thương

Mênh mông rộng lớn con đường mở ra

 

Nếu đã chót sa đà lầm lỗi

Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn

Bỏ qua không tính thiệt hơn

Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi

 

Xin đừng khóc vì sai lầm nữa

Một ngày gần cánh cửa rạng ngời

Kinh nghiệm ta có trong đời

Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần

 

Quên quá khứ làm thân hiện tại

Bao niềm vui sao phải đau buồn

Nước kia đâu có cạn nguồn

Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.

 

SUY NGẪM

Làm người phải sống thẳng ngay

Đừng như con bướm đậu bay vô tình.

Sống sao thật với lòng mình

Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.

 

Đừng đùa bỡn nhé mình ơi

Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền

Nó như sợi chỉ nhân duyên

Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.

 

Dối người người sẽ dối ta

Thế nên hãy sống thật thà thì hơn

Đừng như con cá thờn bơn

Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.

 

GIẢN ĐƠN

Nếu có thể đừng than chi số phận

Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi

Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ

Sao bận lòng cho những phút sân si

 

Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé

Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời

Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi

Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi

 

Nếu có thể thả hồn nương theo gió

Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều

Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ

Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu

 

Nếu có thể giữ cho mình những phút

Khẽ khàng trôi không chút ầm ào

Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ

Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …

 

ĐỜI NGƯỜI  ĐÂU MẤY LẦN VUI

Kiếp con người mỏng manh như là gió

Sống trên đời có được mấy lần vui

Sao phải đau mà không thể mĩm cười

Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ

 

Nếu có thể sao ta không làm thử

Để tâm hồn khắc hai chữ bình an

Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng

Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi

 

Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi

Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn

Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn

Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo

 

Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão

Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi

Được cơm no áo ấm cũng vui rồi

Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở

 

Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ

Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô

Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau

Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.

 

SỐNG

Sống phải biết trân trọng từng giây phút

Bởi hững hờ trong chốc lát mà thôi

Sẽ để ta ân hận cả cuộc đời

Mọi hối tiếc ăn năn thời vô nghĩa

 

Sống phải biết quan tâm và san sẻ

Bỏ ngoài tai lời mai mỉa khinh thường

Mở tấm lòng cho nhận những tình thương

Và đứng lên kiêng cường khi gục ngã

 

Sống phải biết mình cần chi vội vã

Chớ nghĩ suy rồi buồn bã tâm hồn

Chuyện qua rồi hãy cố gắng vùi chôn

Để nụ cười ung dung cùng thực tại

 

Sống phải biết không gì là e ngại

Cứ thật lòng đừng dối gạt lừa ai

Sống hôm nay nào biết được ngày mai

Tuy đời ngắn nhưng nghĩa dài vô tận

 

Sống phải biết còn bao người lận đận

Nên khổ sầu đừng khóc hận oán than

Chớ so bì người khó kẻ giàu sang

Không cần cù nào ai mang ban tặng

 

Sống phải biết để tâm hồn bình lặng

Được ấm no là may mắn hơn người

Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi

Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị.

 

YÊU ĐỜI

Em ơi! Dẫu sống trăm năm

Đến khi chết xuống, anh nằm không yên

Bởi đời đẹp quá đi, em!

Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa

Yêu đời biết mấy cho vừa

Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…

Tiếng gà lại giục bình minh

Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!

 

Giản đơn chiếc áo mặc vào,

Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường

Yêu đời trong máu, trong xương

Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi

Quê anh cà nhút mặn mòi

Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….

 

BÀI THƠ YÊU ĐỜI

Đêm qua mưa thật là to

Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê

Sáng nay trời vội trở về

Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang

Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ

Mẹ em phơi lụa hong tơ

Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời

Nắng hòa mưa thuận khắp nơi

Em mơ em ước mọi người ấm no

 

Những câu thơ ngắn hay về cuộc sống càng đọc càng xúc để để thấu hơn về chuyện đời, chuyện người. Những câu thơ hay về cuộc sống mang giá trị, chứa đựng nhiều thông điệp ý nghĩa về cuộc đời. Gửi con cháu ta, những bài thơ về cuộc sống ngắn gọn để đọc, để cảm nhận và để hiểu hơn về ý nghĩa từ những câu thơ về cuộc sống.

 

YÊU ĐỜI

Em ơi! Dẫu sống trăm năm

Đến khi chết xuống, anh nằm không yên

Bởi đời đẹp quá đi, em!

Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa

Yêu đời biết mấy cho vừa

Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…

Tiếng gà lại giục bình minh

Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!

Giản đơn chiếc áo mặc vào,

Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường

Yêu đời trong máu, trong xương

Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi

Quê anh cà nhút mặn mòi

Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….

 

BÀI THƠ YÊU ĐỜI

Đêm qua mưa thật là to

Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê

Sáng nay trời vội trở về

Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang

Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ

Mẹ em phơi lụa hong tơ

Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời

Nắng hòa mưa thuận khắp nơi

Em mơ em ước mọi người ấm no

 

TUỔI HAI MƯƠI: LÀM GÌ ĐÂY?

Hai mươi năm nay, cơm ta ăn ta không đi cày,

Đường hầm và cầu ta không đắp không xây,

Hai mươi năm nay ta nhắm mắt ta đi theo thầy,

Chữ nghĩa dùi mài, đói kẻ khác, ta mâm đầy!

Khoan! Khoan dô khoan! Khoan dô khoan! Khoan dôôô… Khoan!

Non sông ai đắp, ai giữ gìn mới có ngày nay?

Nay ta hai mươi ta vác cuốc ta xin đi cày

Lam lũ bùn lầy với đất nước với dân này!

Tìm đường sống! Tìm đường sống! Tìm đường sống…!

Trời vừa sáng, tuổi hai mươi, đấ#t vẫn tươi! Máu anh hùng…!

Tìm đường sống…! Tìm đường sống…!

Những bài thơ hay về cuộc sống

 

THÀNH CÔNG

Minh ơi! biết cười luôn, biết yêu nhiều

Được người đời kính trọng

Được con trẻ yêu mến

Được phê bình là ” tạm được”

Chịu đựng được cái đau bị bạn bè phản bội

Biết thưởng thức cái đẹp

Biết tìm ra cái tốt nhất nơi người khác;

Biết cống hiến hết mình

Để lại cho đời một cái gì tốt hơn

Ví như nuôi con cái nên người

Hoặc vun xới một mảnh vườn tốt tươi

Hoặc xã hội được cái thiện;

Đã chơi say mê và cười thoải mái

Và ca hát vang lừng

Biết đã giúp một cuộc đời được dễ thở hơn

Vì mình đã làm đã sống…

Minh ơi, như vậy là đã thành công!

 

DÒNG ĐỜI

Dòng đời lúc nổi lúc chìm

Lúc phiêu dạt, lúc có mình không ta

Lúc đời ngoạn mục thăng hoa

Lúc cay, lúc đắng, lúc xa, lúc gần

Lúc thắng, lúc bại, khổ thân!

Lại có lúc sang đúng chiều chiều sai

Ngày mai lại đúng

Có lúc nằm mơ mong thoát kiếp dại khờ

Lại có lúc không biết sống đến mai

Mà dành củ khoai đến mốt

Khi vinh, khi nhục nên phải biết sống căn cơ

Như âm dương nghịch cảnh đợi chờ

Cho nên muốn trọn kiếp người

Phải tu thân tích đức, phải nuôi chí bền

Khổ công rèn luyện mới nên

Dòng đời hết đục trong liền mênh mông.

Trôi vào bất tận biển Đông

Dòng đời sáng mãi trong ngần vinh quang!

 

THƠ TỰ SỰ

Dù đục dù trong, con sông vẫn chảy

Dù cao dù thấp, cây lá vẫn xanh

Dù người phàm tục hay kẻ tu hành

Vẫn phải sống từ những điều rất nhỏ

Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

Sao ta không tròn ngay tự trong tâm

Đất ấp ôm cho mọi hạt nảy mầm

Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng

Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

Chắc gì ta đã nhận ra ta

Ai trong đời cũng có thể tiến xa

Nếu có khả năng tự mình đứng dậy

Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy

Không chỉ dành cho một riêng ai!

 

LẼ SỐNG

Lẽ sống tình đời sống khắp nơi

Sống đời có ích tệ sống chơi

Ai làm trăm sự cho ta sống

Cớ sao tham sống chỉ hại đời

Lẽ sống tình đời sống khắp nơi

Sống đẹp xem ai quyết xây đời

Tự tránh xa hoa nơi đàng điếm

Trần thế không nên sống ham chơi

Vui sao sống đẹp mãi sáng ngời

Ghi dấu sáng danh nghĩa tình đời

Nhân văn ghi chép thiên niên kỷ

Nghĩa tình cao cả với con người.

 

BÀI HỌC TỪ CUỘC SỐNG

Trong cuộc sống bao buồn vui, cay đắng

Cám ơn đời! Ta học được chữ khôn

Để bỗng thấy mình như thêm lớn

Trong gian nan, vất vả mới sinh tồn

Có thể nhận nhát dao còn ngơ ngác

Máu nhỏ ròng mới thấy biết mình đau

Dạy bài học, rằng ta luôn cảnh giác

Để lần kề, phải trông trước, nhìn sau

Đời nhiều mặt, muôn màu trong cuộc sống

Dạy cho ta học được ít nhiều điều

Được và mất, thấy mất nhiều hơn được

Nên bây giờ chẳng còn được bao nhiêu !

Xin cám ơn cuộc đời ta đang sống

Dạy cho ta học hỏi biết bao điều

Những vực thẳm và dây kia thòng lọng

Luôn chực chờ khi đợi bước chân xiêu

 

Những câu thơ hay về cuộc sống lạc quan với bao cảm xúc vui vẻ trong cuộc sống. Những câu thơ về cuộc sống góp phần xua tan đi những mệt mỏi căng thẳng đang phải đối mặt hằng ngày. Đọc và nghiền ngẫm những bài thơ hay, sâu sắc này, các con sẽ có thêm một nguồn năng lượng mới, đánh bay mọi sóng gió đang cản trở bản thân mình.

 

TA CỨ CƯỜI

Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc

Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh

Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn

Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ

 

Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ

Cho vui lòng bạn hữu với anh em

Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm

Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt

 

Cười khoan dung với những người không thật

Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân

Cười thứ tha cho những kẻ bất phân

Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối

 

Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi

Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau

Cười hả hê cho cuộc sống lao đao

Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng

 

Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận

Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô

Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô

Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.

 

QUÊN LÃNG

Khi vấp ngã đừng lo mình nhé

Hãy đứng lên mình sẽ kiên cường

Nhìn về phía trước yêu thương

Mênh mông rộng lớn con đường mở ra

 

Nếu đã chót sa đà lầm lỗi

Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn

Bỏ qua không tính thiệt hơn

Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi

 

Đừng khóc vì sai lầm nữa

Một ngày gần cánh cửa rạng ngời

Kinh nghiệm ta có trong đời

Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần

 

Quên quá khứ làm thân hiện tại

Bao niềm vui sao phải đau buồn

Nước kia đâu có cạn nguồn

Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.

 

SUY NGẪM

Làm người phải sống thẳng ngay

Đừng như con bướm đậu bay vô tình.

Sống sao thật với lòng mình

Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.

 

Đừng đùa bỡn nhé mình ơi

Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền

Nó như sợi chỉ nhân duyên

Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.

 

Dối người người sẽ dối ta

Thế nên hãy sống thật thà thì hơn

Đừng như con cá thờn bơn

Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.

 

GIẢN ĐƠN

Nếu có thể đừng than chi số phận

Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi

Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ

Sao bận lòng cho những phút sân si

 

Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé

Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời

Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi

Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi

 

Nếu có thể thả hồn nương theo gió

Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều

Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ

Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu

 

Nếu có thể giữ cho mình những phút

Khẽ khàng trôi không chút ầm ào

Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ

Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …

 

Đời người đâu mấy lần vui

Kiếp con người mỏng manh như là gió

Sống trên đời có được mấy lần vui

Sao phải đau mà không thể mĩm cười

Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ

 

Nếu có thể sao ta không làm thử

Để tâm hồn khắc hai chữ bình an

Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng

Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi

 

Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi

Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn

Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn

Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo

 

Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão

Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi

Được cơm no áo ấm cũng vui rồi

Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở

 

Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ

Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô

Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau

Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.

 

Tuyển tập những câu thơ hay về tình yêu và cuộc sống vô cùng ý nghĩa. Đọc những câu thơ hay về tình yêu và cuộc sống làm ta hiểu hơn các dư vị của cuộc đời, các cung bậc cảm xúc trong tình yêu sẽ là động lực để chúng ta nỗ lực hơn, mạnh mẽ hơn và tìm được chỗ trải lòng cho mình.

 

VÌ TA CHÍNH LÀ TA

Ta không phải là người vĩ đại đâu nhé

Chỉ bình thường, mỏng manh như hoa gió

Lúc dạt dào, lúc lững lờ bõ ngõ

Lúc nồng nàn, lúc hờ hững buông lơi

Mỗi ngày cuối tuần cũng rất thích rong chơi

Lượn lờ dạo quanh cùng bạn bè phố thị

Mặc lứa dôi cứ đi về vội vã

Ta không đơn độc, rất hay một mình.

Cũng có những ngày suy nghĩ đâu đâu

Tưởng tượng đến anh rồi chợt buồn, chợt khóc

Anh biết không giữa cuộc đời khó nhọc

Sao tránh khỏi đau buồn, sao tránh nổi hanh hao.

Rồi đêm về trong những giấc chiêm bao

Niềm vui xa vời biết khi nào chạm tới

Em có buồn có suy tư nghĩ ngợi

Thì anh đâu hiểu hết trái tim này.

 

Khờ dại

Em cứ thế luôn làm anh khờ dại

Mong nhớ hoài mê mải với tình si

Nắng cuối chiều nào đâu kịp nghĩ suy

Giấy ái ân thầm thì trong khắc khoải

Dấu yêu ơi vẫn thơ tình hoang hoải

Anh viết hoài sao mãi chẳng tròn câu

Cuối đông rồi hạt nắng bỏ đi đâu

Để mong nhớ lại nhạt mầu mong nhớ

Anh vẫn biết đời này anh mắc nợ

Nợ ân tình nợ cả những lo âu

Nợ em yêu những tháng hẹn hò

Nợ bến vắng đợi con đò xưa cũ

Anh muốn ôm ru em vào giấc ngủ

Để đêm buồn héo hắt rũ chẳng tàn canh

Để thời gian cũng cảm thấy mong manh

Bao con sóng tròng trành bờ biển vắng

Ly cafe chiều sao sao chát đắng

Anh dại khờ… Say đắm… Với tình si !

 

Chia tay hoàng hôn

Níu kéo làm chi chuốc hận sầu

Tình mình đã nhạt có còn đâu.

Ngày vui; Bậu nói yêu nhiều lắm

Tháng hạn; Qua buồn nhớ lại câu…

 

Chỉ thắm se duyên ta đượm mãi

Tơ hồng buộc chặt mối tình sâu.

Ai ngờ nỗi nhịp cung đàn tắt

Để tím hoàng hôn rớt xuống cầu!

 

Mình Chia Tay Rồi Sao

Chia tay thật rồi phải không anh

Em cứ mơ gương vỡ sẽ lại lành

Như mỗi chiều mặt trời đi vắng

Hừng đông về ánh sáng vây quanh

 

Chia tay thật rồi phải không anh

Em ngỡ chỉ hôm nay trăng khuyết

Đêm mai thôi lại tròn vành vạnh

Bầu trời khuya huyền ảo lung linh

 

Chia tay thật rồi phải không anh

Em tưởng lúc này trời đi vắng

Mưa buồn nên tuôn dòng lệ ướt

Lát nữa thôi lại bật nắng vàng

 

Chia tay thật rồi phải không anh

Em lại nghĩ gió hôm nay ngưng thổi

Nên sóng không trào dâng dữ dội

Mai gió về sóng biển sẽ xôn xao

 

Bao ước mơ chất chồng cao mãi

Dẫu biết anh đi chẳng trở về

Đôi hàng mi đêm đêm đẫm lệ

Phương trời nào anh có biết không ?

 

CHIA XA

Đêm nay mượn rượu để say

Quên bao kỉ niệm chia tay người tình

Vùi chôn đi một bóng hình

Bao năm đeo đẵng làm mình khổ đau

 

Tim yêu dù phải nát nhàu

Người ơi gạt lệ quên sầu ra đi

Bùi ngùi giây phút biệt ly

Bởi không duyên nợ thôi thì chia xa

 

TÌNH BUỒN

Ừ thì hai tiếng chia tay

Từ nay lỗi mộng chia hai lối về

Cung trăng đó ta nguyện thề

Mà nay kỷ niệm tràn về cõi thu

 

Thâu đêm khói cảnh sương mù

Tình là ảo ảnh phù du phím đàn

Tình sầu tình bước lang thang

Ve sầu ve khóc dỡ dang tình buồn

 

Thôi đành cắt đứt dây chuông

Thôi không vương vấn tình muôn kiếp sầu

Những bài thơ hay về cuộc sống vô thường

 

Đời là vô thường, cuộc sống thì quá ngắn ngủi để chúng ta chán ghét nhau, tị nạnh nhau. Hãy sống cuộc sống hạnh phúc ý nghĩa. Cùng đọc những bài thơ hay về cuộc sống vô thường để hiểu hơn về quy luật của giá trị cuộc sống. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm. Sống vui vẻ, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa là trách nhiệm và quyền lợi của chúng ta trong thế giới vô thường này, đúng không?

 

VÔ THƯỜNG

 

Cõi hồng trần ngàn lần rơi lệ

Kiếp luân hồi mặc kệ chúng sinh

Bao hương linh thác khóc đòi về

Hồn não nề nhớ nhà da diết.

 

Dẫu đã biết Vô thường là thế

Chẳng có ai không thể ra đi

Vẫn sầu bi trăm ngàn ai oán

Tiếc trần gian một thuở đam mê.

 

Ai rồi cũng sẽ về thiên cổ

Dù giàu sang hay khổ một đời

Nước mắt rơi khi hồn lìa xác

Chỉ còn là cát bụi hư vô.

 

Dù chết oan hay mồ vô chủ

Sẽ luân hồi khi ngủ đã say

Sông Vong Xuyên chờ ngày trên bến

Cầu Nại Hà dẫn đến đầu thai.

 

Hỏi trần gian có ai sống mãi

Ai chắc mình không trải tử sinh

Bao vong linh xa lìa cõi thế

Có trở về thân xác nguyên trinh ?

 

Ai rồi cũng tử, sinh phải nhận

Dẫu sang giàu hay phận vất vơ

Trăm đường tơ trở về một cõi

Vô Thường rồi…thoát khỏi… Sầu bi.

 

ĐỜI VỐN VÔ THƯỜNG

 

Muốn hay không thì cuộc đời vẫn vậy

Cứ xuôi dần theo dòng chảy thời gian

Người cơ hàn hay là kẻ giàu sang

Khi chết đi vẫn hai bàn tay trắng

 

Được ấm no đã là điều may mắn

Hãy giữ gìn đời bình lặng sóng yên

Có những điều để tạo hoá tự nhiên

Đừng gượng ép kẻo muộn phiền vây lấy

 

Đáng hay không vì xa hoa bóng bẩy

Rồi tự mình xô đẩy dưới vực sâu

Nếu như tâm chẳng muốn vướng ưu sầu

Thì chớ nên cưỡng cầu trong mê muội

 

Biết ăn năn và nhận ra lầm lỗi

Nhớ dặn lòng phải sửa đổi bản thân

Dẫu vật chất thì ai sống cũng cần

Nhưng đừng để chữ tình thân rạn nức

 

Chuyện tử sanh mãi luôn là định luật

Đời vô thường sự thật chẳng thể thay

Là con người thì ai cũng như ai

Đến cuối cùng cũng phải về cát bụi.

 

 

THẾ GIAN VÔ THƯỜNG

 

Cuộc đời như áng mây trôi

Ngàn năm nhân thế đắng môi lệ sầu

Đời người sống được bao lâu

Trăm năm rũ bóng huyệt sâu đợi chờ

 

Đời người như giấc ngủ mơ

Biệt ly không hẹn không chờ đợi ai

Sắc kia thắm đẹp cũng phai

Có ai giữ mãi tiền tài bền lâu

 

Đời người đi mãi về đâu

Vô thường chi phối âu sầu thế gian

Cuộc đời có hợp có tan

Hỏi đâu vĩnh cửu mộng vàng trăm năm

 

Quay về sống với chân tâm

Hãy như sen trắng giữa đầm ngát hương

Con người sống để yêu thương

Mĩm cười hạnh phúc đoạn trường bi ai.

 

Những câu thơ hay về cuộc sống thật ý nghĩa phải không nào. Mỗi một bài thơ cuộc sống là tiếng lòng của nhà thơ, của tác giả thể hiện cảm xúc, nỗi lòng về cuộc sống. Cùng trải lòng mình, chia sẻ những cảm xúc khi đọc những bài thơ hay về cuộc sống tươi đẹp. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, hãy sống sao cho thật xứng đáng, thật hạnh phúc để có cuộc sống trọn vẹn hơn nhé.

PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC

Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật thì tương đương với một quốc gia, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia do vậy nhà nước mang vai trò xã hội, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Nhà nước xuất hiện khi có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xuất hiện những giai cấp đối kháng nhau do vậy mà nó cần một tổ chức chính trị đứng ra để điều hòa những mâu thuẫn ấy và để quản lí xã hội.

Bản chất

Nhà nước mang bản chất giai cấp. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình.

Đặc trưng cơ bản

Nhà nước có năm đặc trưng cơ bản sau đây:

Nhà nước có quyền lực chính trị công cộng đặc biệt; có bộ máy cưỡng chế, quản lý những công việc chung của xã hội.

Nhà nước có quyền quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính.

Nhà nước có chủ quyền quốc gia.

Nhà nước có quyền xây dựng, sáng tạo pháp luật và có quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật.

Nhà nước có quyền ban hành các sắc thuế và thu thuế.

Vai trò

Ban hành pháp luật và văn bản dưới luật;

Ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết, điều phối các chính sách kinh tế - xã hội;

Đầu tư, cung cấp sản phẩm, dịch vụ xã hội cơ bản (cấp phép, kiểm dịch, kiểm định, giám sát, kiểm tra, v.v...);

Giải quyết các vấn đề xã hội (người già, trẻ em, người tàn tật, v.v...);

Bảo vệ môi trường, giao thông, phòng chống thiên tai, bão lụt, v.v...

Bộ máy Nhà nước

Bộ máy nhà nước được tổ chức thành các cơ quan nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng Nhà nước. Có thể phân loại thành ba hệ thống cơ quan Nhà nước, đó là hệ thống các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.

Hệ thống các cơ quan lập pháp là các cơ quan quyền lực Nhà nước, bao gồm Quốc hội (hoặc Nghị viện) và các hội đồng địa phương.

Hệ thống các cơ quan hành pháp là các cơ quan hành chính Nhà nước, bao gồm Chính phủ (hay Nội các), các Bộ và cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các chính quyền địa phương.

Hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan xét xử (các hệ thống tòa án) và các cơ quan kiểm sát (ở các nước Xã hội chủ nghĩa).

Các cơ quan Nhà nước khác với các tổ chức xã hội khác là có quyền lực Nhà nước, có nhiệm vụ, chức năng Nhà nước và thẩm quyền theo quy định của pháp luật (nghĩa là chỉ được làm những việc luật cho phép), có hình thức hoạt động theo quy định của pháp luật.

TÌM HIỂU THÊM

+ Những Khái Niệm Chung Về Nhà Nước

- Khái niệm và đặc trưng của nhà nước

- Chức năng nhà nước

- Hình thức và bộ máy nhà nước

-Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Những Khái Niệm Chung Về Pháp Luật

-Khái niệm, thuộc tính, hình thức pháp luật

-Quy định pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật

-Quan hệ pháp luật

-Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí

+ Pháp Luật Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự

-Pháp luật dân sự (Những quy định chung của pháp luật dân sự)

-Pháp luật dân sự (Những chế định cụ thể của pháp luật dân sự)

-Pháp luật tố tụng dân sự (Những quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự)

-Pháp luật tố tụng dân sự (Các thủ tục tố tụng)

+ Pháp Luật Lao Động

-Những vấn đề chung về pháp luật lao động

-Những vấn đề cơ bản được điều chỉnh bởi pháp luật lao động

+ Pháp Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự

- Khái niệm chung về luật hình sự

- Một số tội phạm trong bộ luật hình sự

- Luật tố tụng hình sự

+  Pháp Luật Hành Chính Và Tố Tụng Hành Chính

-  Luật hành chính Việt Nam

-  Luật tố tụng hành chính Việt Nam

+  Pháp Luật Kinh Doanh

-  Pháp luật doanh nghiệp

-  Pháp luật thương mại

-  Pháp luật cạnh tranh

-  Pháp luật ngân sách nhà nước

-  Pháp luật thuế

-  Pháp luật ngân hàng

+  Pháp Luật Đất Đai Và Môi Trường

-  Luật đất đai

-  Luật môi trường

Đại Cương Về Pháp Luật Quốc Tế

-  Công pháp quốc tế

-  Tư pháp quốc tế

-  Luật thương mại quốc tế

CHÚ Ý VỀ PHÁP LUẬT

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà nước bóc lột). Pháp luật có các đặc điểm cơ bản:

1) Là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung;

2) Thể hiện ý chí của nhà nước;

3) Do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện;

4) Được thể hiện dưới những hình thức nhất định: pháp luật tập quán, pháp luậy án lệ, văn bân quy phạm pháp luật;

5) Nhà nước có thể dùng biện pháp cưỡng chế để đảm bảo chọ pháp luật được thực hiện.

DANH NGÔN HAY VỀ LUẬT PHÁP

Bảo vệ cho sự vô tội quan trọng hơn trừng phạt tội lỗi, bởi tội lỗi và tội ác thường xảy ra trên thế giới này nhiều tới mức không thể trừng phạt hết chúng. Nhưng nếu sự vô tội bị đưa ra trước vành móng ngựa và kết án, có thể bị xử tử, thì người dân sẽ nói, "việc tôi làm điều tốt hay điều xấu không quan trọng, bởi sự vô tội chẳng đem lại chút bảo vệ nào," và nếu ý nghĩ đó hình thành trong tâm trí nhân dân thì đó sẽ là kết thúc của mọi sự an ninh.

Chỉ dân chủ là chưa đủ, số đông không thể biến điều sai thành đúng. Để thực sự tự do, đất nước cũng phải yêu tự do sâu sắc và có sự tôn trọng tuân thủ luật pháp.

Chính quyền được lập nên để bảo vệ con người khỏi tội phạm, và Hiến pháp được viết để bảo vệ con người khỏi chính quyền.

Chúng ta bị luật pháp trói buộc, để chúng ta có thể tự do.

Con người trở nên tự do khi anh ta nhận ra mình bị luật lệ ràng buộc.

Công lý mà tình yêu mang lại là sự đầu hàng, công lý mà luật pháp mang lại là sự trừng phạt.

Hiến pháp phải được viết trong những trái tim, chứ không phải chỉ trên giấy.

Khi luật pháp trở nên bạo ngược, đạo đức bị buông thả, và ngược lại.

Luật lệ hà khắc thường là bất công lớn.

Luật lệ không công bằng tự nó đã là một dạng bạo lực.

Luật pháp giống như mạng nhện, có thể bắt được ruồi nhỏ, nhưng lại để ong bắp cày phá vỡ chui qua.

Luật pháp là mạng nhện mà ruồi lớn thì bay qua còn ruồi con thì mắc kẹt.

Luật pháp nghiêm khắc nhất đôi khi là sự bất công trầm trọng nhất.

Luật pháp quá nhẹ nhàng ít khi được tuân theo; quá hà khắc, hiếm khi được thi hành.

Luật pháp và trật tự là một lợi ích xã hội. Tội ác và nỗi sợ hãi mà mối đe dọa tội ác gây ra có thể làm tê liệt cả cộng đồng, làm những người già cô đơn và dễ tổn thương không dám rời nhà, dọa sợ những người trẻ tuổi và nâng kẻ ức hiếp vênh váo hau háu khống chế đường phố lên khiến người ta kính sợ. Tôi ngờ rằng sẽ có nhiều sự ủng hộ và ít sự chỉ trích hơn là những nhà chính trị ngày nay tưởng tượng hướng đến sự chuyển dịch nguồn lực mạnh mẽ từ an sinh xã hội sang luật pháp và trật tự - chừng nào những lời khoa trương về việc cứng rắn với tội phạm được thực tế theo kịp.

Luật pháp và trật tự tồn tại với mục đích thiết lập công lý và khi chúng thất bại trong mục đích này, chúng trở thành những con đập được cấu trúc nguy hiểm ngăn chặn dòng chảy của tiến bộ xã hội.

Luật pháp, với sự bình đẳng uy nghiêm, cấm cả người giàu lẫn người nghèo ngủ dưới cầu, ăn xin trên phố và trộm bánh mỳ.

Một thói xấu ám ảnh của nền dân chủ là lấy dư luận thay thế cho luật pháp. Đây là hình thức thường gặp mà quần chúng thể hiện sự bạo ngược của mình.

Nền cộng hòa càng mục ruỗng, nó càng có nhiều luật lệ.

Người tốt không cần luật pháp để bảo mình phải hành động có trách nhiệm, còn người xấu tìm đường lách luật.

Nhà nước ổn định duy nhất là nhà nước mà ở đó tất cả con người đều bình đẳng trước pháp luật.

Nhà tù được dựng lên bằng đá của Luật pháp. Nhà chứa được dựng lên bằng gạch của tôn giáo.

Ở mặt tốt nhất, con người cao thượng nhất trong tất cả các loài động vật; tách khỏi luật lệ và công lý, anh ta trở thành tồi tệ nhất.

Quan tòa bị kết án khi tội nhân được xóa tội.

Quan tòa trừng phạt kẻ vi phạm pháp luật giống như ngôi nhà đang cháy gây thương tổn cho người bên trong. Một người có thể bị thiêu chết trong nhà khi đang đi cướp, hay khi đang cứu mình. Cũng tương tự, từ góc nhìn của đạo đức, công việc của quan tòa là thiện hay ác phụ thuộc vào việc những luật lệ mà anh ta thực thi là thiện hay ác.

Quyết định của tòa án không bao giờ nên được in ra; về lâu về dài, chúng tạo nên một thế lực đối lập với luật pháp.

Tôi thật mong ước chúng ta đang sống ở một thời đại mà ta không cần đến luật pháp để bảo vệ mình khỏi nạn phân biệt đối xử.

Tôi xin nêu lên rằng người phá vỡ điều luật mà lương tâm anh ta cho rằng không chính đáng, và sẵn sàng chấp nhận bị phạt tù để khơi dậy lương tâm của cộng đồng về điều bất công ấy, trên thực tế đang thể hiện sự tôn trọng cao nhất đối với luật pháp.

Tự do chính đáng là hành động theo ý chí của ta và không bị cản trở trong giới hạn bao quanh ta được hình thành từ quyền tương đương của người khác. Tôi không bổ sung "trong giới hạn của luật pháp", bởi luật pháp thường không là gì hơn ngoài ý chí của bạo chúa, và luôn luôn là như vậy khi nó vi phạm quyền của cá nhân.

LỢI ÍCH CỦA PHÁP LUẬT

Một số người cho rằng, pháp luật là sự ép buộc làm hạn chế quyền tự do của mình, tuy nhiên đây là cách hiểu sai lầm vì pháp luật sinh ra nhằm giúp cuộc sống tốt đẹp hơn. Sau đây là những lợi ích của pháp luật:

1/ Điều chỉnh hành vi của con người theo một khuôn khổ phù hợp với thực tiễn

Như chúng ta đã biết, chỉ có pháp luật mới mang tính bắt buộc thực hiện, như vậy pháp luật phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh hành vi của mọi người theo một khuôn khổ nhất định phù hợp với đạo đức.

Pháp luật mang tính bắt buộc để tạo nên sự tự do, nghĩa là bắt buộc mọi người phải tôn trọng quyền tự do của người khác nếu ai ngăn cản thì phải gánh lấy chế tài từ pháp luật.

Ví dụ: Nếu không có pháp luật thì không ai có thể trừng trị những kẻ trộm cắp, giết người, … nên lợi ích và quyền tự do của công dân bị xâm phạm.

2/ Bảo vệ người yếu thế

Trong xã hội nào cũng tồn tại những người có trình độ hiểu biết khác nhau nên người hiểu biết kém dễ bị người hiểu biết cao lừa dối hoặc cưỡng ép gây hại. Bởi vậy, pháp luật là công cụ góp phần ngăn chặn sự việc này.

Ví dụ: Trong hợp đồng pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, tuy nhiên cũng chặn việc thỏa thuận nhằm gây hại cho bên kia (như là cho vay nặng lãi, trái với thuần phong mỹ tục…).

3/ Thiết lập nên sự công bằng

Sự bất công luôn hiện diện ở bất kỳ đâu (vì nhiều lý do khác nhau), chính vì vậy pháp luật ra đời nhằm thiết lập nên sự công bằng.

Ví dụ: Pháp luật luôn có những chính sách ưu tiên cho người nghèo, dân tộc thiểu số, những người không được may mắn trong cuộc sống … để từ đó họ có điều kiện ngang bằng với những người có điều kiện khác.

Khái niệm

Khái niệm là một đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao gồm một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù lôgic, hoặc một sự suy diễn) phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của các đối tượng sự vật, quá trình, hiện tượng trong tâm lý học và mối liên hệ cơ bản nhất các đối tượng trong hiện thực khách quan.

Việc tạo ra một khái niệm là một chức năng cơ bản của sự cảm nhận và suy nghĩ. Các khái niệm cho phép ta hệ thống hóa hiểu biết của ta về thế giới.

Hai dạng khái niệm cơ bản:

Khái niệm cổ điển : Với các giới hạn rõ rệt, dựa vào các định nghĩa chính xác, có mang các điều kiện cần và đủ, để đối tượng cho trước có thể được coi như là một đại diện xứng đáng trong một thể loại cho trước;

Khái niệm tự nhiên : Thay vì dựa vào các định nghĩa và các điều kiện cần và đủ, thì lại dựa vào sự đồng dạng so với những đối tượng tiêu bản đã được lưu lại trong trí nhớ.

Định nghĩa

Định nghĩa là sự xác định bằng ngôn ngữ nhất định những đặc trưng cơ bản tạo thành nội dung của khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá trình, với mục đích phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Định nghĩa có vai trò quan trọng trong khoa học và là bộ phận căn bản trong mọi lý thuyết khoa học.

Các nguyên tắc của định nghĩa:

Nguyên tắc tương xứng, nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa và ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau

Không nói vòng quanh

Không nói theo cách phủ định

Phải rõ ràng, nghĩa là định nghĩa không chứa những thuộc tính có thể suy ra từ thuộc tính khác

Ví dụ: Hình vuông là hình có 4 góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau.

Để định nghĩa một khái niệm nào đó, người ta thường ghép nó với một khái niệm lớn hơn (chủng), rồi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của khái niệm cần định nghĩa (đặc điểm về loại). Ví dụ, định nghĩa về carbon: "carbon" là nguyên tố hóa học (chủng) có trọng lượng nguyên tử bằng 12 đơn vị carbon (đặc điểm về loại)". Đối với những khái niệm lớn và bao trùm, chẳng hạn như khái niệm vật chất, ý thức, người ta sử dụng cách định nghĩa ngoại lệ.

Trong toán học, khi đưa ra 1 định nghĩa, người ta thường liệt kê các điều kiện cần và đủ để xác định khái niệm đó. Một khái niệm trong toán học do đó có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, điển hình là số e.

Thông thường có 4 cách định nghĩa trong toán học:

-         Phương pháp cấu trúc chỉ rõ cách xây dựng khái niệm đó

-         Phương pháp quy khái niệm đang xét về những khái niệm đã biết

-         Phương pháp tiên đề, định nghĩa một khái niệm thông qua các tiên đề: ví dụ định nghĩa về song song

-         Phương pháp quy nạp dựa trên 2 yếu tố:

Những đối tượng xuất phát hoặc cơ bản của hệ thống

Những quy tắc hay thao tác cho phép dùng những đối tượng hiện có để tạo thành đối tượng mới của hệ thống

Định nghĩa mờ

Định nghĩa mờ trong lô gíc mờ còn được gọi là định nghĩa thao tác, là phương pháp định nghĩa một sự vật thông qua một tập hợp nhận định gần đúng về sự vật đó nhờ một loạt thao tác có thể tạo ra bằng thực nghiệm hoặc quan trắc mà kết quả khách quan của nó có thể trực tiếp nhận biết được thông qua sự quan sát có tính chất kinh nghiệm hay bằng đo lường. Ví dụ định nghĩa về lửa như sau: "Lửa là một cái gì đó nóng". "Lửa là cái phát sáng". "Lửa là sức mạnh của thần thánh"...

So sánh khái niệm và định nghĩa

Sự khác nhau cơ bản nhất giữa khái niệm và định nghĩa ở chỗ:

Định nghĩa là lời giải thích làm cho rõ nghĩa của từ hoặc của khái niệm.

Còn khái niệm cũng có thể xem như lời giải thích (như ở định nghĩa) nhưng lời giải thích này được phần đông nhân loại hoặc tổ chức có chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể mà khái niệm đó nhắc tới công nhận, thừa nhận.

Phạm trù

Phạm trù là một trong những phương tiện nhận thức thế giới dùng trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội. Khái niệm phạm trù được xuất hiện trong quá trình hình thành triết học. Trong vô vàn những sự vật, hiện tượng, quá trình hỗn loạn của thế giới xung quanh. Con người cần tách riêng một tập hợp nào đó ra, tập trung sự chú ý, xác định những đặc điểm tiêu biểu của quy luật phát triển hiện vật, hiện tượng, xem xét quan hệ xung quanh thế giới quan. Như vậy phạm trù không đơn giản như là sự phân loại. Phân loại có được chỉ sau khi xác định được lý thuyết phạm trù.

Phạm trù của một nội dung nào đó bao gồm khái niệm tương đồng về nó. Khái niệm được xác định bởi định nghĩa chung nhất với những đặc điểm chung nhất. Nội dung xác định bởi toàn bộ những đặc điểm có thể có, quy luật phát triển của các đặc điểm, quan hệ đối với các điều khác trong ngoài thế giới. Định nghĩa nội dung của điều được xem xét tạo nên ranh giới nhất định của phạm trù tương ứng.

Phạm trù là thành phần kết cấu nên lý thuyết.

Một số khái niệm khác về phạm trù

Đó là khái niệm chung nhất có giới hạn, có khả năng hàm chứa nhiều nhất.

Trong phép biện chứng logic đó là khái niệm phản ánh giai đoạn tuần tự sự hình thành điều cụ thể nguyên vẹn nào đó.

Trong thuyết siêu hình đó là cách gọi của các dạng tồn tại khác nhau.

Một trong các lĩnh vực trừu tượng nhất của toán học hiện đại là lý thuyết phạm trù sử dụng thuật ngữ "phạm trù" như là thuật ngữ cơ sở xuất phát từ Immanuel Kant.

Các kiểu phạm trù trong triết học

-Các phạm trù của Aristotle[2]

-Các phạm trù của Immanuel Kant

-Các phạm trù của Georg Hegel

Ứng dụng trong nghiên cứu

Phạm trù là khái niệm hàm chứa chung nhất, khó xác định trong khuôn khổ một lý thuyết nói riêng hay ngành khoa học nào đó nói chung. Phạm trù được xem là thành phần kết cấu của sơ đồ phạm trù xác định quy trình tư duy. Mỗi phạm trù nhờ khả năng giải mã cũng là yếu tố lưu giữ trạng thái quy trình. Phạm trù được dùng trong việc hệ thống hóa kiến thức qua quá trình nhận thức, trong đó chúng đóng vai trò ấn định tên cho đề mục. Cùng với những định nghĩa trên phạm trù còn được công nhận trong sự hình thành siêu ngôn ngữ mà thành phần của nó là các định nghĩa "lớp kiến thức". Phạm trù là đơn vị đặc biệt bảo đảm quá trình chuyển dịch kiến thức (knowledge transfer) trong nghiên cứu liên ngành. Phạm trù ghi giữ các lớp kiến thức, các giai đoạn và các yếu tố của quá trình nhận thức, vì thế nó thuộc về hệ thống quản lý kiến thức. Phạm trù cho phép liên hệ bất cứ kiến thức nào với triết học và ngược lại, liên hệ triết học đến bất kỳ lĩnh vực kiến thức nào. Tuy có sự chú ý đáng kể đối với phạm trù nhưng ứng dụng chúng vào quá trình nhận biết thế giới vẫn diễn ra ở mức cảm tính.

So sánh : Khái niệm & phạm trù

Khái niệm và phạm trù là hai mặt của phương thức định nghĩa về bản thân ta-thế giới. Tức là, về thực chất, chúng là một: khái niệm là một phạm trù giác tính với nội hàm đủ thông số - xác định rõ ràng được các “yếu tố đáng kể” - để có thể tri giác và diễn đạt được bằng các hình ảnh trực giác đã biết, đồng thời dễ dàng có thể tìm kiếm đối tượng ở ngay xung quanh; phạm trù là một khái niệm có ngoại diên được mở rộng tối đa - tức là nội hàm tối thiểu đủ có thể phân biệt với các phạm trù khác, và vì vậy để diễn đạt phạm trù này phải thông qua mối quan hệ với các phạm trù khác dễ hình dung hơn.

Ranh giới giữa khái niệm và phạm trù rất mong manh. Thực chất cả hai là một, chúng chỉ khác nhau ở một điểm rất nhỏ và tương đối trừu tượng, đó là: phạm trù là một loại khái niệm mà có nội hàm tối thiểu, tức là có ngoại diên tối đa. Khi nói “tối thiểu” tức là cần phải đặt phạm trù trong mối quan hệ với một lớp các khái niệm có chung những yếu tố nội hàm nhất định. Chẳng hạn, khái niệm hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác... có phạm trù chung trong toán là: hình học. Còn khi đặt cái được gọi là phạm trù ở trên trong mối quan hệ với những khái niệm không có chung nội hàm thì nó cũng chỉ là một khái niệm.

Nếu đối tượng của mỗi khoa học cụ thể là một đối tượng cụ thể được mô tả bởi các khái niệm và hệ thống các lý thuyết về sự vận động của đối tượng đó (mối liên hệ các các khái niệm) thì đối tượng của triết học là cả thế giới như một chỉnh thể được mô tả bởi các phạm trù và hệ thống các học thuyết về sự tồn tại và sự vận động tự thân - mối quan hệ giữa các phạm trù. Nếu không vạch ra được các khái niệm cũng như khái quát được những mối quan hệ cơ bản của các khái niệm làm cơ sở lý thuyết thì các khoa học cụ thể sẽ không thể hình thành; tương tự như vậy, nếu không nêu lên được các phạm trù và khái quát được mối quan hệ cơ bản của các phạm trù thì triết học cũng không còn đất tồn tại. Khi những cây xanh của khoa học cụ thể và triết học không được nảy sinh thì sẽ tạo ra một khoảng đất trống mênh mông cho các loài cỏ huyền thoại, thần thoại và triết thuyết tôn giáo nảy sinh. Và ngay cả khi cây xanh mọc um tùm thì cỏ vẫn cứ mọc. Tất nhiên là Tạo Hóa không phân biệt giữa cỏ dại và cây xanh, đó là lý lẽ của con người.

Bất cập của loại ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm) là khả năng diễn đạt dài dòng. Trong khi chưa diễn đạt xong ý này thì ý khác đã ập tới. Và khi nhiều ý cùng muốn diễn đạt một lúc thì khiến cho ngôn ngữ trở nên bế tắc. Vậy nên trong giao tiếp giữa ta và thế giới, điều quan trọng là cần nắm bắt và thông suốt được tâm ý. Cần có khả năng tư duy trên ngôn ngữ "vô hạn" (phạm trù) thay vì ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm). Tạo Hóa vốn không phân biệt; sự phân biệt vốn chỉ là lý lẽ của con người. Mọi ranh giới phân biệt đều rất mong manh, tương đối. Ngôn ngữ là vỏ bọc tư duy. Khả năng sử dụng ngôn ngữ tùy thuộc vào năng lực phân biệt trong tư duy của người đó. Vì lẽ đó, cần truyền đạt và nắm được cái mạch ý tưởng thống nhất của người nói (mối liên hệ giữa các phạm trù tư tưởng), chứ đừng quá câu nệ về sự xung đột (mâu thuẫn) trong giới hạn nhất định của việc sử dụng ngôn từ (khái niệm). “Ý tại ngôn ngoại” cũng bao hàm cái ý nghĩa như vậy. Nếu khái niệm diễn đạt hiện tượng thì phạm trù diễn đạt bản chất. Hiện tượng và bản chất có sự thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn; cũng như vậy, ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các khái niệm) và nội dung truyền tải trong ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các phạm trù tư tưởng) cũng có tính thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn. Đó chính là sự bất cập của tư duy ngôn ngữ cũng như việc lấy các hiện tượng minh họa, dẫn tới những loại ngụy biện trong việc sử dụng ngôn ngữ và những hiện tượng minh họa phiến diện. Để lĩnh hội được những ý tưởng được diễn đạt bằng ngôn từ thì cần coi trọng cái đầu hơn đặt nặng trái tim; nhưng để lĩnh hội được những điều vốn được diễn đạt ở bên ngoài lời thì cần coi trọng trái tim hơn cái đầu.

Để nghiên cứu thế giới vi mô cần hợp nhất những "khái niệm đối lập" mang tính phân biệt của thế giới vĩ mô thành các phạm trù độc lập (không còn tính phân biệt thô thiển) – dạng phân biệt tinh tế hơn.

Làm rõ hơn về phạm trù

– Trong cuộc sống, chúng ta thường xuyên gọi tên những khái niệm nhất định như “người”, “thú”, “vàng”, “chì”… Những khái niệm đó là hình thức của tư duy, phản ánh những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của một nhóm nhóm, một lớp những sự vật, hiện tượng nhất định.

Tùy thuộc vào số lượng sự vật, hiện tượng được khái niệm phản ánh, “gom vào” mà ta có khái niệm rộng, hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất trong một lĩnh vực cụ thể chính là phạm trù trong lĩnh vực ấy.

“Khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định được gọi là phạm trù”.

– Mỗi bộ môn khoa học (toán, lý, hóa, văn, sử, tâm lý học…) đều có phạm trù riêng của mình. Như các phạm trù năng lượng, khối lượng… trong vật ly; biến dị, di truyền… tring sinh học; hàng hóa, giá trị… trong kinh tế học.

Còn phạm trù triết học là phạm trù rộng nhất, lớn nhất, chung nhất…, hơn tất cả các ngành khoa học có thể kể tên như toán học, hóa học, văn học, sử học, kinh tế học…

Một số phạm trù triết học quen thuộc:

– Vật chất.:

Định nghĩa vật chất của Lênin được diễn đạt như sau:

“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học.

- Vật chất là thực tại khách quan.

- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.

- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.

+ Định nghĩa vật chất của Lênin có nhiều ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận to lớn:

- Bác bỏ những quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về vật chất.

- Phủ nhận thuyết không thể biết về vật chất.

- Khắc phục những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất.

- Định hướng các khoa học cụ thể trong việc tìm kiến các dạng hoặc hình thức mới của vật thể.

- Cho phép xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội.

+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học.

“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…).

“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn.

Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó.

- Vật chất là thực tại khách quan.

Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.

Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.

- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.

Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức). Như thế, vật chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất. Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là tính thứ hai.

Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất.

Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có con người. Đây  ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức.

Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ thuộc vào vật chất. Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Để hiểu thêm về ý thức, ta  đọc bài viết: Nguồn gốc, bản chất của ý thức.

- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.

Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được.

Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện.

Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người.

– Ý thức.

Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và xã hội. Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản chất của phạm trù này.

+ Nguồn gốc của ý thức

*Nguồn gốc tự nhiên

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên óc người.

= Bộ óc người

Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.

Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này.

Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức không diễn ra bình thường hoặc rối loạn.

Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài.

- Sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người

Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.

Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó. Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh.

Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động.

Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.

Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.

Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù “ý thức”. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người.

*Nguồn gốc xã hội

Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Đó là lao động, tức là thực tiễn xã hội và ngôn ngữ.

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các cơ quan xã hội. Theo Ph. Ăng-ghen, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não người, biến tâm lý động vật thành ý thức con người.

- Lao động

Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.

Con người có khả năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn. Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.

Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động thực tiễn, nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này.

Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.

Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức của con người.

- Ngôn ngữ

Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.

Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được.

Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.

Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Bộ não con người và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

+ Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Như vậy, bản chất của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:

- Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh.

Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh (tức ý thức). Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan. Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.

Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính.

- Ý thức là sự phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.

Tuy thuộc phạm vi chủ quan, nhưng ý thức không phải là bản sao thụ động, giản đơn, máy móc của sự vật. Tức là, không phải cứ sự vật tác động như thế nào thì ý thức sẽ chép lại, chụp lại y nguyên như thế.

Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.

Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật  một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.

Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh.

- Ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3 mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.

Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.

Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan. Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở trên.

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.

Chỉ khi con người xuất hiện, tiến hành hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới khách quan theo mục đích của mình, ý thức mới xuất hiện. Như thế, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.

Ý thức bị chi phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi các quy luật xã hội. Ở những thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng một thời đại, ý thức về cùng một sự vật, hiện tượng có thể khác nhau ở các chủ thể khác nhau.

+ Ý nghĩa rút ra từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức

Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan. Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó.

Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật chất.

Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.

Phát huy tính tự giác, chủ động của con người

Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng. 

Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động. Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa.

– Sự phát triển.

Sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với mối liên hệ phổ biến giữa chúng. Do vậy, nguyên lý về sự phát triển cũng gắn liền, quan hệ hữu cơ với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Hiểu một cách chung nhất, “nguyên lý” là những tư tưởng ban đầu, xuất phát, có vai trò định hướng, chỉ đạo việc triển khai những lý thuyết tiếp theo.

Khái niệm về sự phát triển

Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Ta cần phân biệt khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển“:

Vận động là mọi biến đổi nói chung. Khái niệm này có ngoại diên lớn hơn khái niệm phát triển.

Phát triển là sự vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy luật. Phát triển gắn liền với sự ra đời của cái mới này.

 

Nhờ có sự phát triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cũng như chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như thế, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động.

Quan điểm biện chứng thừa nhận tính phức tạp, tính không trực tuyến của quá trình phát triển. Sự phát triển có thể diễn ra theo con đường quanh co, phức tạp, trong đó không loại trừ bước thụt lùi tương đối.

* Tính chất của sự phát triển

- Tính khách quan của sự phát triển

Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực luôn vận động, phát triển một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người. Đây là sự thật hiển nhiên, dù ý thức của con người có nhận thức được hay không, có mong muốn hay không.

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngày trong chính bản thân của sự vật, hiện tượng. Đó là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thuộc mỗi sự vật, hiện tượng.

Phát triển là quá trình tự thân (tự nó, tự mình) của mọi sự vật, hiện tượng.

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan của sự phát triển đã phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển.

Quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực lượng siêu nhiên, phi vật chất (thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người. Tức là đều nằm ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.

Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im”, không phát triển. Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về mặt lượng (số lượng, kích thước…) mà không có sự biến đổi về chất.

- Tính phổ biến của sự phát triển

Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiện thực ấy.

Trong hiện thực, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, luôn luôn duy trì một trạng thái cố định trong suốt quãng đời tồn tại của nó.

- Tính kế thừa của sự phát triển

Sự phát triển tạo ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ phận, đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu cực, lạc hậu, không tích hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác trên cơ sở kế thừa như vậy.

Đó là quá trình phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc.

- Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển

Sự phát triển có muôn hình, muôn vẻ, biểu hiện ra bên ngoài theo vô vàn loại hình khác nhau.

Sự phong phú của các dạng vật chất và phương thức tồn tại của chúng quy định sự phong phú của phát triển. Môi trường, không gian, thời gian và những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau tác động vào các sự vật, hiện tượng cũng làm cho sự phát triển của chúng khác nhau.

Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao hơn…

Sự phát triển trong xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội ngày càng lớn của con người.

Đối với tư duy, sự phát triển là năng lực nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện, đúng đắn hơn.

* Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng, chúng ta rút ra quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điển này đòi hỏi:

- Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó trong sự vận động và phát triển.

Ta cần phải nắm được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang hiện hữu trước mắt, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai, khả năng chuyển hóa của nó. Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đó.

Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định  kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.

- Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong thực tiễn.

Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.

Quan điểm phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với mỗi bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.

- Phải chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng.

Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi sự vật, hiện tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.

Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Vì trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát hiện, cổ vũ cái mới phù hợp, tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ đạo.

Ta cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển.

Phải tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn.

Tuyệt đối tránh bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động.

-Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay đổi về chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật, hiện tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất.

 

– Sáu cặp phạm trù cơ bản:

+ Cái riêng và cái chung.

+ Nguyên nhân và kết quả.

+ Tất nhiên và ngẫu nhiên.

+ Nội dung và hình thức.

+ Bản chất và hiện tượng.

+ Khả năng và hiện thực.

 

 

 

CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.

a)  Vai trò và trách nhiệm của cá nhân đổi với xã hội

Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.

Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có mối liên hệ với nhau, nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội. Chỉ những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động của con người trên mọi lĩnh vực mới gọi là quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội là khách quan hình thành từ tác động của cá nhân và tập thể trong xã hội. Những tác động này không phải ngẫu nhiên mà có mục đích, có xu hướng ổn định. Cá nhân thực hiện các vai trò do xã hội quy định với tư cách là thành viên của xã hội.

Quan hệ xã hội làm thay đổi bản chất con người. Quan hệ xã hội chung là quan hệ về quốc gia, dân tộc, giai cấp, địa phương, lãnh đạo, chính quyền, pháp luật, phong tục tập quán,...

Quan hệ xã hội riêng là quan hệ cá nhân trong gia đình, bạn bè, họ hàng, người thân, cơ quan, tập thể...Quan hệ xã hội chính thức là quan hệ hành chính do xã hội quy định như quan hệ cấp dưới, cấp trên, người dân, chính quyên. Quan hệ xã hội không chính thức là quan hệ tâm lý của cá nhân như tình cảm, nhóm bạn bè, xã giao..

Biết xây dựng và kết hợp các quan hệ xã hội đúng đắn sẽ có hành vi ứng xử tốt đẹp. Cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp, do đó cá nhân cần chú ý các ứng xử lịch sự, văn hoá, lành mạnh, đúng mực.

Các chủ thể trong quan hệ xã hội có ý thức, thói quen. Từ quan hệ giữa các cá nhân có thể tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau. Cá nhân tham gia xã hội để có quyền lợi của mình, phục vụ cho lợi ích của mình, Trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế đóng vai trò quyết định các quan hệ khác.

Mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và là con người, cá nhân có nhu cầu về vật chất, tình cảm, ngoài ra còn có nhu cầu xã hội như học tập, lao động, dân chủ, văn hoá... Bởi vậy cá nhân phải tự rèn luyện cả thể lực và trí lực để trở thành một con người toàn diện.

Cá nhân dù có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng khó tránh khỏi những điều chưa tốt, nếu không thường xuyên sống hướng thiện thì có thể phần bản năng sinh vật sẽ lấn át phần xã hội, sẽ không còn tính người, sẽ xảy ra sự tranh giành lẫn nhau, cái ác sẽ lấn át cái thiện.

Một trong những quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền tự do. Xã hội càng phát triển, con người càng được có điều kiện hưởng tự do. Tuy nhiên, tự do cá nhân không được phép xâm phạm đến tự do cá nhân của người khác, không được gây ảnh hường đến xã hội. Tự do cá nhân không thể tách rời các chuẩn mực đạo đức xã hội. Cá nhân không thể sống cô lập, cách ly khỏi đời sống xã hội.

Xã hội tiến bộ, phát triển bền vững dựa trên nền tảng giá trị đạo đức vững chác của mọi cá nhân. Mọi người sống có đạo đức, có tài năng, là thành viên xứng đáng, góp phần xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Lòng hướng thiện của mỗi cá nhân có tác động tích cực giúp cá nhân xích lại gần nhau, dễ dàng cởi mở và sống chân thành với nhau hơn. Chủ động tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với người khác, với xã hội càng hài hoà, tốt đẹp, phát triển bền vững.

b) Xây dựng quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và xã hội

Quan hệ xã hội của cá nhân là bộ phận của toàn bộ quan hệ xã hội gồm có quan hệ giữa các tập đoàn lớn, giữa các nhóm xã hội, các quan hệ cá nhân. Mỗi cá nhân có điều thiện, điều tốt nhưng không tránh khỏi có cái xấu trong lòng. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp cần làm cho cái tốt nhiều hơn, cái xấu bớt dần đi.

Muốn xây dựng xã hội mới thì phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là con người có trí tuệ, có tài năng, có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có tình thương yêu nhân dân, yêu con người. Nếu cá nhân biết đem lợi ích riêng của mình phục tùng lợi ích chung thì cả xã hội và cá nhân đều được bảo đảm.

Sự phát triển của xã hội phải bắt nguồn từ sự phát triển của mỗi cá nhân. Hiện nay, Đảng ta cụ thể hoá quan hệ cá nhân, tập thể và xã hội với quan điểm:

-   Gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo, kết hợp hài hoà các lợi ích, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa...

- Coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi chính sách đều coi trọng cá nhân nhưng phải xuất phát từ nhu cầu của tập thể, của xã hội. "Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài"

- Thông qua các chính sách kinh tế để khuyến khích lợi ích. Kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội. Luật pháp hoá, thể chế hoá các quyền của cá nhân, các mối quan hệ theo các chuẩn mực tiến bộ, giữ bản sắc văn hoá dân tộc.

-  Gắn lợi ích với trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, xây dựng quan hệ hợp tác, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực to lớn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

CÁ NHÂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ NHÂN TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

Quan niệm mác xít về cá nhân dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, xem xét con người như là sản phẩm của môi trường xã hội và thừa nhận vai trò tích cực của con người trong nhận thức và cải tạo môi trường đó. C. Mác đã khẳng định: "Bản thân xã hội sản sinh ra con người với tính cách là con người như thế nào, thì con người cũng sản sinh ra xã hội như thế ấy"

Từ quan niệm trên chúng ta thấy rằng, cá nhân trước hết là cá thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, -là chủ thể của hoạt động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội quy định.

Cá nhân là cá thể người, song không phải mọi cá thể người nào cũng đều là cá nhân. Để thể hiện đúng tư cách là cá nhân, con người phải trải qua một quá trình phát triển nhất định để có một nhân cách đầy đủ, mang tính chỉnh thể. Ở đây, phạm trù cá nhân đặc trưng cho con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa những đặc điểm riêng biệt của con người với bản chất chung của cộng đồng .

Trong sự phát triển của xã hội nói chung, sự phát triển của cá nhân là thước đo, là đặc trưng cho sự phát triển xã hội đó. Không có và không bao giờ có cá nhân chung chung, trừu tượng, mà chỉ có cá nhân với tất cả dáng vẻ riêng biệt và sự thống nhất mang tính lịch sử- cụ thể.

Lịch sử sinh thành loài người hàng chục vạn năm cũng là lịch sử mà điện mạo cá nhân luôn luôn vận động và phát triển.

Thuở sơ khai, con người là những thực thể hoang dã, chưa đủ sức mạnh để tách ra khỏi giới tự nhiên, sống chung với muôn loài và thế giới thần linh; số phận con người bị chi phối bởi những sức mạnh huyền bí của tạo hoá. Con người duy trì sự sống trong giới tự nhiên bao la bằng sức mạnh cơ bắp, bằng năng lực bẩm sinh của cái tự nhiên và bằng sự may rợ của số phận.

Trong giai đoạn cao của thời đại mông muội, việc dùng lửa và chế tạo ra cung tên đã làm cho sức mạnh con người chuyển biến một cách đáng kể. "Cung tên đối với thời đại mông muội cũng giống như thanh kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh: một vũ khí có tính chất quyết định”

Khi lịch sử bước sang giai đoạn văn minh, diện mạo con người thay đổi một cách cơ bản. Từ chỗ là một bộ phận của giới tự nhiên, con người tách dần ra khỏi giới tự nhiên; từ chỗ là nô lệ của giới tự nhiên, con người từng bước thống trị giới tự nhiên.

Tuy nhiên, suốt đêm trường Trung cổ, con người bị dồn ép trong ý thức hệ phong kiến và tôn giáo. Bản chất vươn lên khẳng định mình là những cá nhân đã làm nẩy sinh tư tưởng Phục hưng ca ngợi con người, đòi tự do cho cá nhân, đòi quyền tư hữu, đề cao chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giải phóng con người.

Nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, ước mơ tự do cho cá nhân, giải phóng con người đã không thể thực hiện được. Sự tha hoá con người xuất hiện với tính cách là hậu quả trực tiếp của sở hữu tư nhân, của độ người bóc lột người, mà nét đặc trưng là biến sản phẩm hoạt động của con người, những năng lực, những đặc tính của con người thành những cái gì xa lạ với con người, chi phối con người.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã từng bước khắc phục sự tha hoá con người, để con người thật sự trở thành những cá thể với tư cách là những chủ thể làm chủ đời sống với những năng lực sáng tạo, phát triển xã hội. Mặc dù đã tạo được một bước tiến to lớn trong sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của con người, nhưng xét trên nhiều mặt thì mục tiêu phát triển những cá nhân đích thực – làm chủ bản thân, làm chủ xã hội – thì những nội dung mà chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thời gian qua đã làm vẫn còn phải bổ sung thêm nhiều điểm mới.

Từ cái nhìn toàn diện, phải thấy rằng “con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử; cao hơn nữa, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; và điều còn quan trọng hơn, con người phải là những chủ thể văn hoá”(3). Chỉ có thể đứng trên quan điểm đó mới thấy hết xu thế và khả năng phát triển của con người với tư cách là cá nhân trong thời đại ngày nay – đó là thời đại mà mọi sự thay đổi đạt đến tốc độ kỳ diệu, là thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, là thời đại hoà nhập và hợp tác vì sự tăng trường kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm mục đích cao quý là phục vụ con người.

Trong xu thế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế, giải phóng mọi tiềm năng sản xuất, lấy hiệu quả kinh tế và phát triển văn hoá làm thước đo cho sự phát triển xã hội; phát triển kinh tế gắn liền với việc phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc, tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Với đặc điểm ấy, con người với tư cách là cá nhân trong xã hội Việt Nam hiện nay sẽ là con người phát triển hài hoà trong mối quan hệ cá nhân – xã hội.

Đã có một thời kỳ dài, chúng ta xây dựng con người tập thể theo những khuôn mẫu chung chung, trừu tượng, ít được phát triển mặt cá tính riêng tư, thiếu bản sắc độc đáo. Con người khuôn mẫu, cố nhiên không thể có sức sáng tạo, hoặc bản lĩnh sáng tạo vốn có của nó bị hạn chế. Bởi vậy, về mục tiêu, chúng ta đề cao con người, nhưng về phương pháp, có khi vô tình, chúng ta lại hạ thấp con người, làm mất đi sự năng động và sự phong phú của các cá nhân.

Tinh thần đổi mới và những điều kiện của sự nghiệp đổi mới đất nước đang mở ra những triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của các cá nhân.

Trước hết, đó là mục tiêu vươn tới với những động lực bên trong của nó. Con người, xét về bản chất xã hội là mang tính cộng đồng, nhưng động lực bên trong thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của cá nhân là những lợi ích thiết thực đối với từng cá nhân. Tinh thần đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì hạnh phúc con người mà toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện là điều kiện để kết hợp lợi ích chung với lợi ích riêng, để sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng mang mục đích và ý nghĩa tự thân.

Thời đại ngày nay là thời đại của văn minh trí tuệ: Trí tuệ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hiện đại. Hàm lượng trí tuệ trong các sản phẩm do con người làm ra ngày càng cao. Trong xu thế đó, giáo dục để nâng cao dân trí là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra vấn đề đào tạo những cá nhân lao động ngày càng có chất lượng cao. Hiện nay, cả nước ta có 96 trường đại học và cao đẳng, 436 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Cán bộ có trình độ cao đang ngày càng phát triển: Tiến sỹ 420 người, Phó tiến sỹ 10.500 người, Thạc sỹ gần 400 người, hàng trăm nghìn cán bộ có trình độ trung học, đại học. Con số này mỗi năm một tăng lên đáng kể. Điều đó cho thấy, con người Việt Nam đang vận động theo hướng phát triển trí tuệ. Đó là những cá nhân có học vấn, ham tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Con người ngày càng hành động theo quy luật, có định hướng và hiệu quả ngày càng cao. Yêu cầu và điều kiện của công cuộc đổi mới hình thành một đội ngũ trí thức - công nhân với sự hài hoà hai yếu tố tri thức và kỹ năng trong lao động, tạo thành một đội ngũ những người công nhân lành nghề, có tay nghề cao, thực hành giỏi. Ở đây, sự phát triển của cá nhân đang hướng tới chỗ coi trọng các yếu tố thực hành có hiệu quả, không phải là những cá nhân chỉ biết thuần tuý lý thuyết.

Muốn phát triển thì phải tự khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng. Con người Việt Nam đang hướng tới những giá trị mang tính toàn cầu nhưng đồng thời cung là con người mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc. Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển cá nhân đang đòi hỏi một trong những nét đặc trưng của con người - yếu tố nhân ái, nhân văn trong quan hệ với cộng đồng. Phát triển cá nhân không có nghĩa là đề cao chủ nghĩa cá nhân, mà thực chất là phát huy những giá trị chuẩn mực về văn hoá của cộng đồng và phát huy tối đa những phẩm chất, tư chất trong bản thân mỗi cá nhân. Nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường nhiều khi làm cho người ta chỉ chú ý đến giá trị kinh tế mà quên mất các giá trị tinh thần có ý nghĩa trường tồn của con người.

Những cá nhân có lòng nhân ái vốn đã trở thành nét truyền thống "lá lành đùm lá rách" của đạo lý dân tộc, đó là những con người luôn coi trọng các giá trị văn hoá, tinh thần mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Một cá nhân đích thực trong cộng đồng hiệm nay phải là một cá nhân kết hợp hài hoà trong mình các yếu tố dân tộc - nhân loại, truyền thống - hiện đại. Mặt khác, con người là sự thống nhất giữa cải chung và cái đặc thù, giữa những chuẩn mực có tính đặc trưng của cộng đồng xã hội với tính cách cá nhân. Môi trường hoà nhập quốc tế, điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay là điều kiện tốt để cho mỗi cá nhân có thể phát huy đầy đủ cá tính và bản sắc riêng, thể hiện bản lĩnh thích nghi và hoà nhập với cộng đồng, tự chủ và sáng tạo. Trong sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện xã hội, nhất là trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, mỗi cá nhân phải luôn tự khẳng định mình, biết chấp nhận mọi thay đổi và thích nghi với hoàn cảnh, năng động, có bản lĩnh và cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển. Bởi vậy, phát triển cá nhân cũng có nghĩa là phát huy các yếu tố mang bản sắc riêng có của mỗi con người, đề cao bản lĩnh tự chủ và sáng tạo trong con người.

Nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi một cách khách quan năng lực hoạt động kinh tế trong mỗi cá nhân. Cá nhân hiện đại không chỉ là con người chính trị, mà còn phải phát triển khía cạnh con người kinh tế, nghĩa là biết tư duy kinh tế, biết làm giàu chính đáng. Xét một cách bản chất, điều đó có nghĩa là con người biết hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Tư duy kinh tế là sự đòi hỏi nghiêm khắc của cả hai mặt: bản lĩnh sáng tạo và tri thức khoa học. Năng lực hoạt động thực tiễn được thể hiện ở hiệu quả kinh tế và là một trong những phẩm chất quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân hiện nay.

Muốn đáp ứng được sự phát triển của những phẩm chất cá nhân theo tinh thần đó, con người phải học tập, phải rèn luyện không ngừng. Có thể nói, học tập là nét nổi bật trong hiện tại và tương lai của cuộc sống con người. Điều này, cũng có nghĩa là khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người với tư cách cá nhân. Chỉ có không ngừng học tập, mỗi cá nhân mới có thể theo kịp tri thức, học vấn và những tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại để sẵn sàng thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống hiện đại. Bởi vậy, trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay, quan điểm của V. I. Lê nin "Học, học nữa, học mãi" có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết.

Phát triển cá nhân là xu thế tất yếu của cuộc sống. Sự phát triển cá nhân, tự nó đã bao hàm ngay trong bản thân nó quan hệ cá nhân - cộng đồng, là sự thể hiện đặc trưng bản chất xã hội và bản sắc, tư chất riêng trong mỗi con người. Những điều kiện của thời đại và của xã hội Việt Nam hiện nay đang tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển cá nhân, hướng tới sự hài hoà về nhân cách con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai.


CÁCH TỰ TÔN TRỌNG BẢN THÂN, BẢN THÂN  PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

Biết cách tôn trọng bản thân luôn là nhân tố hàng đầu trong việc xây dựng nhân cách của 1 con người, ngoài ra đó cũng là điểm khiến phụ nữ bị cuốn hút. Đối với phụ nữ, việc đàn ông biết tự tôn trọng mình đồng nghĩa với sức mạnh tinh thần mà người đó phát ra.

Trên thực tế,  phụ nữ luôn tìm kiếm mẫu đàn ông có thể đối phó với mọi hoàn cảnh, và có thể che chở cho họ tại mọi thời điểm. Vậy tự tôn trọng bản thân là gì? Và nó có can dự gì đến cuộc sống của đàn ông chúng ta?

Tự tôn trọng bản thân không phải thứ xuất phát từ bên ngoài. Nó không phải là danh tiếng, sức mạnh, quyền lực, tiền bạc, xe hơi, nhà cửa, v.v… Nó là thứ tồn tại từ bên trong con người mỗi chúng ta. Nó hiện diện như 1 trò chơi, trong trò chơi này, ta phải là kẻ miễn nhiễm với mọi cám dỗ luôn vẫy tay chào đón hàng ngày.

Sự miễn nhiễm này sẽ rất khó khăn nếu mình không gia tăng sức mạnh của việc tự tôn trọng bản thân. Dưới đây là 6 phương pháp giúp mình cải thiện sự tôn trọng của mình đối với chính bản thân mình.

Muốn tôn trọng bản thân hãy sống có ý thức

Hãy tưởng tượng ta  đang đi lại trong 1 căn phòng không ánh sáng, chắc hẳn bên cạnh việc dò dẫm thì cơ thể mình sẽ chạm phải rất nhiều đồ đạc xung quanh. Trong khi đó, nếu bật đèn lên, việc đi lại sẽ trở nên đơn giản đến chừng nào, và cũng chẳng có việc ta  va chạm vào đồ vật trong phòng nữa. Thế nên, sống có ý thức cũng như việc đi lại trong căn phòng sáng đèn vậy. Ta chắc chắn sẽ muốn sống trong ánh sáng thay cho bóng đêm, đúng chứ?

Biết chấp nhận

Đừng từ chối những kết quả chưa hoàn hảo, cũng đừng từ chối công sức mà mình bỏ ra. Hãy thừa nhận tất cả và thành thật với bản thân. Bên cạnh đó phải hiểu bản thân nữa. Làm sao ta  có thể sống ở 1 nơi mà không biết mình ở đâu?

Có trách nhiệm với bản thân

Trước khi than phiền hay trách móc ai đó, hãy nhìn vào bản thân mình trước đã. Nhìn nhận trách nhiệm của mình giống như việc ta  dám đối diện với sự thật, và chấp nhận sự thật dù nó có khốc liệt đến thế nào đi nữa.

Quyết đoán để tôn trọng bản thân

Hãy xếp tất cả mọi thứ thành 1 đường thẳng và chọn ra thứ nào đúng, và bỏ qua những thứ sai. Hãy sẵn sàng nói không cho dù mình có thể gặp rắc rối, hoặc thậm chí là bị tẩy chay đi nữa.

Sống có mục đích

Đặt ra những mục tiêu cho bản thân, đừng bao giờ là 1 kẻ thụ động trong cuộc đời. Hãy tạo ra những mục tiêu 1 năm, 3 năm, 5 năm, tiếp đến chia nhỏ chúng thành nhiều phần như 6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, cho đến ngày, giờ, v.v… Đừng chỉ sống với mục đích, ta cần phải tạo ra những kế hoạch nữa, và đừng chỉ tạo ra không, hãy thực hiện nó, và không chỉ thực hiện nó, hãy đo đạc và so sánh những kết quả đạt được. Từ đó cuộc sống của mình sẽ có nhiều mục đích hơn.

Trung thực

Nếu đã nói làm gì đó, dù có ra sao, ta cũng cần phải thực hiện nó, và đừng để bất cứ vấn đề ngoại cảnh nào tác động. Trung thực được ví như con thuyền, sẵn sàng vượt đại dương cho dù có bất cứ bão táp nào muốn nhấn chìm. Sau cùng con thuyền trung thực vẫn tìm được đến bến đỗ của nó mà thôi.

Một anh chàng mới lớn gần đây cảm ơn tôi. Tôi hỏi cảm ơn vì điều gì? Cậu ta nói cảm ơn vì đã giúp cậu ta có hiểu biết để trải qua 7 cuộc tình trong suốt 4 năm qua. Cảm ơn vì đã giúp cậu ta tìm ra đam mê trở thành 1 PT chuyên nghiệp thời gian sắp tới. Sự thật thì cậu ta mua sách Giải mã bí ẩn phái đẹp của tôi từ năm lớp 9. Cậu ta giấu bố mẹ và giấu luôn cả tôi. Bởi biết thừa rằng sách chỉ dành cho 18+ và không đời nào tôi bán những kiến thức đó cho những người nhỏ tuổi hơn. Còn mình, ta đã từng làm gì đó tương tự vậy chưa?

 

 

6 MỐI QUAN HỆ QUYẾT ĐỊNH CUỘC SỐNG CỦA MÌNH

Dù mình có khác biệt đến đâu thì các mối quan hệ xung quanh cuộc sống của mình cũng phát triển theo cùng một kịch bản.

Để hiểu rõ hơn, những phân tích sau sẽ thảo luận về sáu mối quan hệ phổ biến nhất mà mình phải đối mặt. Hãy đặt mình vào đó, hiểu rõ vấn đề của mình và tìm ra điều ta  đang cần.

Hãy quan tâm nhiều hơn nếu mình đang có một mối quan hệ "cùng phát triển'

 

1. Mối quan hệ "cùng phát triển"

Tức là khi hai người phụ thuộc vào nhau và giúp đỡ nhau cùng phát triển - cảm xúc và tâm lý. Sự phát triển cảm xúc là một phần quan trọng trong cuộc sống, chúng ta không thể tiến lên phía trước nếu không có sự trưởng thành cảm xúc. Người đồng hành trong kiểu quan hệ này sẽ làm mình mạnh mẽ hơn và truyền động lực để mình vượt qua được những giới hạn bản thân. Nếu mình đang ở trong mối quan hệ này, ta thực sự rất may mắn đấy và lời khuyên cho mình là hãy "quan tâm" nhiều hơn đến mối quan hệ này để có thể duy trì nó.

 

2. Mối quan hệ "im lặng dễ chịu"

Khi mình cảm thấy gắn kết và dễ chịu với đối phương và hai người có thể ngồi im lặng cùng nhau mà không hề lo nghĩ gì về thế giới ngoài kia. Xây dựng được một mối quan hệ kiểu này thường rất khó khăn và yêu cầu nhiều thời gian, nỗ lực từ hai phía. Hãy tưởng tượng nếu mình và người ấy đang ngồi cạnh nhau trong một buổi tối -chỉ ngồi, không nói năng gì. Ta cảm thấy thế nào? Nếu mình thấy điều đó bình thường thì có lẽ ta  đã có được một mối quan hệ cực kỳ bền vững.

 

3. Quan hệ "lợi ích"

Những mối quan hệ kiểu này hoặc tốt hoặc xấu. Những người này thường cần phải đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó cho riêng họ, như là nghề nghiệp hay cuộc sống xã hội. Trong trường hợp xấu nhất, chỉ một trong hai người biết rằng họ không thực sự đi cùng với người kia mãi mãi nhưng họ cần ở bên cạnh để lấy được một lợi ích nào đó. Mối quan hệ này sẽ kết thúc nhanh chóng khi một trong hai người đã đạt được tham vọng của mình.

 

4. Mối quan hệ "trải nghiệm"

Đây là một kiểu ích kỷ căn bản trong tự nhiên. Nó xảy ra khi một người quyết định thực hiện mục tiêu của mình là để ai đó thành một thứ gì đó. Ví dụ, người ấy muốn ta  trở thành một người khác, khác hoàn toàn so với những gì mình muốn. Và họ sẽ kết nối với mình để họ đạt được điều này. Họ muốn kiểm tra xem trải nghiệm của họ có thành công không và liệu rằng họ có thể thay đổi mình trở thành một người lý tưởng theo trí tưởng tượng của họ. Có khoảng 98% những mối quan hệ này sẽ thất bại theo một cách tiêu cực và khá khủng khiếp.

 

5. Quan hệ "lôi kéo"

Có lẽ đây là một trong những kiểu quan hệ tệ nhất. “Lôi kéo” là khi một người đáng lẽ đã phải kết thúc mối quan hệ từ lâu nhưng thực tế thì họ vẫn bị lôi kéo về với người kia. Nó thường xảy ra sau một cuộc chia tay tồi tệ và lại gặp nhau vài tháng sau đó. Nỗi buồn và sự đau đớn của cuộc chia tay là quá lớn khiến họ không thể kiểm soát được, tuy nhiên mỗi người lại cố gắng thổi cuộc sống mới vào mối tình đang chìm dần. Họ hiểu rằng họ không hợp với người kia, họ hiểu rằng họ có nhiều xung đột hơn tình yêu, họ hiểu rằng họ sẽ khổ sở hơn mỗi ngày nhưng họ vẫn cứ cố níu giữ. Sự níu kéo này có thể vì lý do xã hội và điều này còn làm họ đau khổ hơn.

 

Cuối cùng mọi thứ cũng sẽ kết thúc nhưng quá trình này kéo dài rất lâu và chỉ sau rất nhiều nỗ lực vô ích để hàn gắn mối quan hệ. Nếu mình đang dính phải mối quan hệ như vậy, lựa chọn tốt nhất là hãy kết thúc nó thật gọn ghẽ.

 

6. Quan hệ "cạnh tranh"

Mối quan hệ kiểu này sẽ không bao giờ đem lại điều gì tốt đẹp. Khi hai người đang yêu, họ sẽ cố gắng hết mình để giúp đỡ nhau cùng phát triển. Trong một mối quan hệ "cạnh tranh", cả hai người đều cạnh tranh và thậm chí có xu hướng chống đối lại người kia. Ví dụ, một người đàn ông và vợ anh ta có thể cố gắng để đánh bại nhau trong sự nghiệp, trong những khía cạnh mà họ cảm nhận rằng đối phương không chỉ là đối thủ mà thậm chí còn là kẻ thù. Nếu mình đang ở trong mối quan hệ kiểu này, hãy tự giải thoát mình ngay lập tức.

 

NHỮNG QUI LUẬT TỰ NHIÊN TRONG CUỘC SỐNG

1.Luật cân bằng:

Đây là quy luật quan trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật khác của cuộc sống. Quy luật này được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc trong cuộc đời một con người là những số dương, nếu coi đau khổ là những số âm. Thì tổng của tất cả hạnh phúc và đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng không.

2.Luật tuần hoàn:

Diễn giải nôm na, luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc đời của một con người là môt chuỗi tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó lại đến một giai đoạn đau khổ mới và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo quy luật này không ai là hạnh phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.

3.Nguyên lý cho và nhận:

Những thứ ta nhận được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.

4.Luật trả giá và đền đáp:

Dần dà trong cuộc đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ cho từng lỗi lầm và từng hành động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một cách xứng đáng cho mọi cố gắng và mọi việc làm tốt đẹp của mình.

5.Luật thử thách:

Những khó khăn, nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những thử thách giúp những kẻ biết vượt qua trở nên mạnh hơn.

6.Luật bù trừ:

Ở trên đời này, hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật đánh đổi.

7.Luật cộng sinh:

Một mối quan hệ giữa hai cá thể (loài vật, cây, con người hay một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu dài nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có lợi cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối quan hệ đó sẽ không tồn tại được lâu dài. Đó là luật cộng sinh.

 

8.Luật hấp dẫn:

Người xưa diễn giải luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, hay "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã". Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau. Một khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn là khi một ý nghĩ được nung nấu, nó sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để biến ý nghĩ đó thành hiện thực.

9.Luật vạn vật đồng nhất:

Luật vạn vật đồng nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào đúng với trời đất, với vạn vật thì những quy luật đó cũng đúng với con người, với cuôc đời hay các mối quan hệ của con người.

10.Luật cường độ giảm dần theo thời gian:

Luật cường độ giảm dần theo thời gian phát biểu như sau: Một hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì ngày hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức nào thì ngày hôm sau đau khổ đó cũng được cảm thấy dịu bớt đi.

11.Luật tự kỷ ám thị:

Nếu một ý nghĩ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là công cụ mạnh của quảng cáo và ta cũng có thể tận dụng quy luật này để có được những suy nghĩ tích cực và để rèn cho mình những đức tính mà mình chưa có.

12.Luật về sức mạnh của thói quen:

Những suy nghĩ hay hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở thành thói quen và thói quen sẽ trở thành một phần trong tính cách. Đây là công cụ mạnh để rèn luyện những tính cách mình muốn có.

13.Luật thích nghi:

Con người là động vật lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng chịu được. Con người được ban cho khả năng thích nghi với nhiều điều kiện hoàn cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và môi trường xung quanh.

14.Luật về sự tương tác

Khi vật A tác động vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một lực tác động ngược lại đúng bằng lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan hệ giữa con người với con người, khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự đau đớn đúng bằng vậy. Và ngươc lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản thân ta sẽ nhận được một hạnh phúc đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.

 

VẬN MỆNH CON NGƯỜI BỊ CHI PHỐI BỞI 9 QUY LUẬT NÀY, MUỐN CẢI BIẾN PHẢI BIẾT

Rất nhiều sự việc trên đời xảy ra tưởng chừng như ngẫu nhiên, nhưng nó lại tuân theo một số quy luật, đạo lí nhất định. Nếu như có thể nắm vững những định quy luật này thì có thể cải biến vận mệnh.

1. Luật nhân quả

Trên đời này không có một sự tình nào là ngẫu nhiên xảy ra. Mỗi một việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó. Đây được xem là quy luật căn bản nhất của vũ trụ. Vận mệnh của con người cũng là tuân theo quy luật này.

Từ xưa đến nay, các trường phái công nhận quy luật này không chỉ có Phật giáo mà còn có Cơ đốc giáo… Triết học gia Hi Lạp cổ đại Socrates và nhà khoa học vĩ đại Newton cũng công nhận đây là quy luật căn bản nhất của vũ trụ.

Suy nghĩ, lời nói và hành vi của con người đều được coi là “nhân” và sẽ sản sinh ra “quả” tương ứng. Nếu “nhân” tốt thì “quả” cũng tốt, nếu “nhân” xấu thì “quả” cũng xấu. Con người chỉ cần có suy nghĩ thì sẽ lập tức không ngừng gieo trồng ra một loại “nhân”. Cho nên, “thiện nhân” hay “ác nhân” là do bản thân mỗi người quyết định.

Bởi vậy, một người nếu muốn cải mệnh thì trước hết phải chú ý đến suy nghĩ của mình. Bởi vì, tâm niệm một khi khởi lên thì sẽ dẫn phát ra lời nói và hành vi tương ứng. Từ hành vi và lời nói ấy sẽ dẫn đến kết quả tương ứng.

2. Luật năng lượng biến đổi không ngừng

Vạn vật trong vũ trụ đều mang một trường năng lượng tương ứng và đặc trưng. Mọi thứ đều di chuyển và thay đổi cũng như việc biến đổi của năng lượng vậy. Không có gì là đứng yên và ngưng nghỉ cả. Luật này cho phép cuộc sống trở nên bất tận và kéo dài vô tận. Không có gì mất đi, chỉ đơn giản là biến đổi.

Từ một năng lượng thấp và tiêu cực vẫn có thể chuyển hóa thành năng lượng tích cực và tinh khiết. Mọi năng lượng đều có thể biến đổi theo một chiều hướng khác, có thể là hoàn toàn khác biệt và hoàn toàn mới.

Không có gì là mất đi trong vũ trụ cả, chỉ là biến đổi và chuyển sang một dạng năng lượng khác mà thôi. Cũng như khi mình còn trong thân xác, ta là một dạng năng lượng đặc rắn chẳng hạn, còn khi mình “chết đi”, rời bỏ cơ thể thì mình vẫn “sống”, chỉ đơn thuần là  mình biến đổi thành một dạng năng lượng khác mịn hơn, nhẹ hơn, linh hoạt hơn… mà thôi. Tất cả đều là năng lượng. Vạn vật đều là năng lượng tùy thuộc vào tính chất, hình dạng, kết cấu đặc trưng của năng lượng đó mà thôi.

Ta  có thể áp dụng luật này để chuyển đổi trường năng lượng của mình theo hướng mà mình muốn, tích cực hay tiêu cực là phụ thuộc vào sự lựa chọn của mình.

3. Luật vô thường

Các thuộc tính của thời tiết mưa, gió, nắng tạo hiện tượng mát, lạnh, nóng hình thành các mùa trong năm. Thời tiết vận hành tạo ra sự vô thường làm con người sinh - lão - bệnh - tử nhưng nếu không có cái vô thường đó thì sẽ không có thế hệ con người hạnh phúc, an lạc trong tương lai cũng giống như không có mùa đông lạnh lẽo sẽ chẳng có mùa xuân ấm áp với muôn hoa đua nở. Tất cả những tai ách, chướng duyên hay cụ thể là chết chóc, li biệt… là sầu não dẫu có xảy ra là đang hứa hẹn một cái mới hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong tương lai.

Vì vậy, chúng ta phải có suy nghĩ lạc quan trước mọi đổi thay dù là tiêu cực của cuộc sống để luôn có giây phút bình an, tự tại. Những khó khăn giúp chúng ta tích lũy được kinh nghiệm, những trở ngại rèn luyện cho ta bản lĩnh vững vàng, tạo đà để ta có đời sống tinh thần vững chãi và giải quyết mọi công việc một cách dứt điểm, nhẹ nhàng, sáng suốt hơn.

4. Luật hấp dẫn

Tâm niệm (tư tưởng, suy nghĩ) của con người và hiện thực là luôn hấp dẫn lẫn nhau. Ví như, một người luôn tràn đầy ý niệm rằng đường đời là nhiều cạm bẫy, bước ra cửa sợ ngã, đi xe sợ tai nạn giao thông, kết giao bạn bè sợ bị lừa gạt, thì người này sẽ có nguy cơ rất cao là gặp phải những sự cố phiền phức ấy trong cuộc sống hiện thực. Họ chỉ hơi lơ đễnh, không cẩn thận thì liền rước họa vào thân. Trái lại, một người luôn có suy nghĩ vui tươi, vô tư chính trực, nghĩa khí khi kết giao bạn bè thì họ sẽ dễ dàng có được những người bạn cũng có tính cách như vậy hơn so với những người không có suy nghĩ này.

Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì con người đều là dùng con mắt “lựa chọn” để nhìn thế giới. Người ta chỉ nhìn đến, chú ý đến những con người, sự vật mà mình tin tưởng, đối với những sự vật mà bản thân không tin tưởng, người ta sẽ có thiên hướng không chú ý đến, thậm chí là “nhìn thấy mà làm như không nhìn thấy”. Cho nên, những điều xảy ra trong hiện thực của một người là do tâm niệm của người ấy hấp dẫn mà đến. Những điều này con người cũng không khó để phát hiện ra. Tâm niệm của một người là tiêu cực, xấu xa thì hoàn cảnh thực tế mà người ấy gặp phải cũng sẽ tương tự. Ngược lại, tâm niệm của một người là lương thiện, là tích cực thì hoàn cảnh thực tế của người ấy cũng sẽ như vậy.

Một người nếu có thể kiểm soát được tâm niệm (suy nghĩ) của mình, khiến nó luôn lương thiện, tích cực thì cái năng lượng mà tâm niệm ấy phát ra sẽ có thể hấp dẫn được người, sự việc, sự vật có cùng đặc tính đến. Cho nên, kiểm soát được tâm niệm (tư tưởng, ý nghĩ) của bản thân sẽ có thể cải thiện được vận mệnh của mình.

5. Luật gia tăng

Đây này là một luật tuyệt vời để mình áp dụng vào cuộc sống của mình. Tính chất của nó là  mình cho đi, dù chỉ là một ít, nhưng đó lại là một lời khẳng định với vũ trụ rằng mình “có”, và sự giàu có của mình là dồi dào. Và từ đó, chính lời khẳng định đó sẽ tạo ra thực tại của mình vì vũ trụ cũng như một cây đèn thần hay một cỗ máy copy vậy.  Dù chỉ có một ít tiền, dù là một khoản nhỏ thôi nhưng cũng hãy biết ơn vì điều đó, cảm ơn vì những thứ ta  đang có và rồi sự dồi dào của mình sẽ được gia tăng. Cầu nguyện mỗi ngày với những câu khẳng định biết ơn để gia tăng và cải thiện các khía cạnh trong đời sống của mình như là hạnh phúc, tiền bạc, thành công, sức khỏe… hay bất cứ điều gì mình muốn có trong tương lai.

Tuy nhiên, lời khẳng định không thể làm việc một mình được, mà nó phải được kèm theo với một tư tưởng và niềm tin mạnh mẽ. Tư tưởng mang một sức mạnh vô hình, và hãy cứ tập trung vào điều mình muốn và sáng tạo ra trải nghiệm mà mình khao khát. Cứ tin như thể là nó chắn chắc sẽ xảy ra và rồi ta  sẽ thấy Luật Gia Tăng làm việc rất hiệu quả.

Thường thì hầu hết chúng ta khi vui, khi hạnh phúc thì ít khi biết ơn, nhưng khi không vui hay buồn khổ thì chúng ta lại hay oán trách. Bây giờ, hãy thôi than phiền về nợ nần, những điều không vừa ý xảy ra trong cuộc sống của mình (nếu mình không muốn hấp dẫn thêm nợ nần và nhiều điều tiêu cực đến với mình), mà thay vào đó hãy biết ơn với những gì khiến mình vui và hạnh phúc ở hiện tại và cảm ơn cả những gì mình ao ước trong tương lai và tin tưởng những điều tốt đẹp sẽ đến với mình.

6. Luật tin tưởng

Một người nếu thực sự tin tưởng thâm sâu rằng một việc nào đó chắc chắn sẽ xảy ra thì không quản việc ấy là thiện hay ác, tốt hay xấu đều sẽ xảy ra đối với người ấy. Trí óc của mình sẽ tìm kiếm những thông tin, hoàn cảnh, nguồn lực để phù hợp với niềm tin của mình. Luật niềm tin rất mạnh mẽ, nếu mình tin rằng mình nghèo khó thì cả cuộc đời ta  chắc chắn sẽ nghèo khó, khi đó ta  chỉ tìm kiếm những sự kiện, suy nghĩ để phù hợp với sự nghèo khó đó vị dụ như: tôi không có tiền, tôi không thành công… Nếu mình tin tưởng mình giàu có và thành công thì cho dù trong bất kì hoản cảnh có khó khăn đến thế nào ta  vẫn vượt qua để phù hợp với niềm tin giàu có và thành công đó.

Chúng ta cũng hành động dựa trên niềm tin dù đa số con người tự giới hạn niềm tin của mình. Điều may mắn là không ai sinh ra đã có niềm tin. Niềm tin của mình về bản thân, tiềm năng, thế giới, tôn giáo, chính trị, con người, mọi thứ… đều do ta  đã học hỏi một cách cẩn thận và tỉ mỉ, được hướng dẫn và lặp đi lặp lại nhiều lần. Vậy sẽ vô cùng sai lầm khi chúng ta bị giới hạn niềm tin của chính mình hoặc do bị ai đó tác động đến chúng ta làm giới hạn niềm tin từ bản thân chúng ta. Đôi khi họ nói: ta  không làm được đâu, điều đó khó lắm chưa ai từng làm, ta nghĩ mình là ai? Ta không đủ thông minh, ta không đủ sáng tạo… đó đều là những lời nói làm giới hạn niềm tin của chúng ta. Điều tồi tệ nhất xảy ra khi chúng ta bị giới hạn bởi những niềm tin, những niềm tin giới hạn sẽ giữ chúng ta lại trong cả một đời mà không phát huy được hết khả năng, tiềm năng trong mỗi người. Ta cần phá vỡ giới hạn niềm tin của mình bằng cách luôn nghĩ khả năng của mình, của mỗi người là không có giới hạn.

7. Luật buông lỏng

Con người, chỉ khi ở trong tình huống buông lỏng tâm thái thì mới có thể đạt được thành quả tốt nhất. Một người có tâm thái nôn nóng, luống cuống, nóng nảy… đều sẽ đem đến kết quả không tốt.

Vậy tâm thái nào là tốt nhất? Đó chính là càng thanh khiết, không có niệm càng tốt. Một người nếu có thể đặt mục tiêu muốn đạt được những điều lí tưởng trong nhân cách, cảnh giới, các mối quan hệ và cuộc sống trong suy nghĩ, rồi buông lỏng tâm thái, tinh tấn cố gắng, làm những điều nên làm, không nghĩ đến kết quả thì những điều ấy sẽ nhanh đến. Trái lại, nếu người ấy càng nôn nóng nhìn thấy kết quả đạt được bao nhiêu thì sẽ càng không thể đạt được kết quả lí tưởng bấy nhiêu, thậm chí còn nhận được kết quả ngược lại.

Ví dụ: Vào một đêm nóng bức đột nhiên mất điện, mọi người nằm trên giường đổ mồ hôi đầm đìa, trằn trọc không thể ngủ được, trong đầu luôn nghĩ lúc nào mới có điện, kết quả lại thấy điện như thể là “cố tình” không đến. Hơn nữa, khi con người càng bực bội thì thân thể lại càng bức bối hơn. Nhưng nếu người ấy quên đi, nằm yên tĩnh thì sẽ cảm thấy mát hơn và dường như “điện” cũng sẽ đến nhanh hơn.

Tại sao lại như vậy? Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, cũng không phải là mê tín. Đó là quy luật “buông lỏng”. Cái gọi là “vô niệm, vô nghĩ” ấy kì thực cũng không phải là nhất nhất rằng trong đầu não không có ý nghĩ gì hết, mà là dù có ý nghĩ nhưng cũng không để tâm, cũng có nghĩa là “không lưu luyến vào đó mà sinh ra tâm này”. Khi đạt được điều ấy rồi thì vận mệnh, hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng sẽ được cải biến.

8. Luật âm dương

Vạn vật đều mang các yếu tố và nguyên tắc âm dương (-) (+) và năng lượng nam tính và nữ tính bên trong nó. Cũng như mọi thứ trên Trái Đất từ khoáng chất cho đến cây cối, động vật cho tới con người luôn cần có đủ và cân bằng hai nguồn năng lượng âm - dương để tăng trưởng và tiến hóa.

Cũng như linh hồn phân chia ra thành các cặp nam nữ vậy. Trong trường hợp linh hồn sinh đôi, đó chính là linh hồn của mình tách ra làm hai linh hồn mang hai nguồn năng lượng khác nhau, nữ tính (trội) và nam tính (trội), để đi trải nghiệm hai khía cạnh khác nhau và có sự gắn kết đặc biệt. Đến thời điểm thích hợp đặc biệt, khi cần tiến hóa cao hơn nữa thì linh hồn sẽ hợp nhất và trở nên toàn vẹn.

Người mang giới tính nam thường có năng lượng nam tính trội hơn nhiều so với năng lương nữ tính, và người mang giới tính nữ thì ngược lại (tương đối). Khi linh hồn tiến hóa lên cao thì linh hồn đó sẽ cân bằng được hai nguồn năng lượng này.

Ngay cả bản thân chúng ta, bất kể là nam hay nữ thì vẫn mang trong mình cả năng lượng nam và nữ tính, chỉ là cái nào trội hơn mà thôi, hoặc có nhiều người cân bằng cả hai nguồn năng lượng. Mỗi nguồn năng lượng đều mang tính đặc trưng đối với nhân loại, chẳng hạn như: Năng lượng nam tính giúp chúng ta mạnh mẽ và vững chắc, can đảm và kiên cường, lí trí và khôn ngoan… Còn năng lượng nữ tính thì giúp chúng ta dịu dàng và tinh tế, sâu sắc và yêu thương, khéo léo và tỉ mỉ…

9. Luật thói quen

Những gì ta  làm lặp đi lặp lại liên tục sẽ tạo thành thói quen. Ta có thể tạo ra bất kì thói quen cảm xúc nào mình muốn như về tự tin, lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc. Ta tạo lập thói quen tinh thần tích cực bằng cách tư duy, suy nghĩ, nói ra lặp đi lặp lại hàng ngày đến thuộc lòng. Điều quan trong của quy luật thói quen là giúp mình trở thành con người mà mình nghĩ đến nhiều nhất hàng ngày. Ta trở thành người như mình thường nghĩ trong hầu hết thời gian hàng ngày.

Emerson nói : “Con người thường làm những gì mà họ nghĩ cả ngày”. Vậy mình thường nghĩ gì cả ngày? Ta hãy chọn những mục tiêu, suy nghĩ tích cực và thường xuyên nghĩ đến cả ngày khi đó ta  sẽ trở thành những gì mình suy nghĩ. Khi thay đổi thói quen suy nghĩ, ta thay đổi cuộc đời.

Nếu nắm được cách những quy luật này vận hành và có tâm thức cải biến, chắc chắn cuộc đời mình sẽ sang một trang mới nhiều bất ngờ.

 

QUY LUẬT KINH TẾ

Khái niệm

Các qui luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

Tính chất Qui luật kinh tế

Qui luật kinh tế có những tính chất sau:

- Cũng như các qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.

Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình.

- Qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người.

Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất.

- Khác với các qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.

Do đó, có thể chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc thù và các qui luật kinh tế chung.

Các qui luật kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại trong một số phương thức sản xuất.

Ý nghĩa

Nghiên cứu qui luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.

Chính sách kinh tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào hoạt động kinh tế.  Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người.

KHUYẾN  NGHỊ TÌM HIỂU THÊM

Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với?

 Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là?

 Quy luật kinh tế là quy luật:

 Chức năng của Kinh tế chính trị bao gồm?

 Phân loại tái sản xuất theo quy mô bao gồm?

 Tái sản xuất mở rộng bao gồm hai hình thức là?

 Các khâu của quá trình tái sản xuất bao gồm?

 Nội dung cơ bản của tái sản xuất xã hội bao gồm?

 Tái sản xuất của cải vật chất được xem xét trên cả hai mặt?

 Tái sản xuất sức lao động bao gồm hai mặt?

 Tăng trưởng kinh tế là:

 Các nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bao gồm?

 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế?

 Chỉ  số phát triển con người ( HDI) bao gồm các tiêu chí?

 Tiến bộ xã hội được thể hiện ở các mặt cơ bản?

 Tiến bộ xã hội xét về thực chất là?

 Sản xuất  hàng hóa là?

 Sản xuất hàng hóa và sản xuất tự cấp, tự túc là?

 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa?

 Phân công lao động xã hội là?

 Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa là?

 Giá trị sử dụng của hàng hóa là?

 Giá trị hàng hóa là?

 Giá trị trao đổi là?

 Mục đích của nhà sản xuất là?

 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là?

 Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là?

 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh?

 Lượng giá trị của hàng hóa được đo lường bằng?

 Thời gian lao động xã hội cần thiết là?

 Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể do thời gian lao động cá biệt của nhà sản xuất?

 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?

 Lao động giản đơn và lao động phức tạp là?

 Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động là?

 Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động có điểm giống nhau là?

 Tăng năng suất lao động sẽ làm cho?

 Tăng cường độ lao động không làm thay đổi?

 Cấu thành lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (W).

 Tiền tệ ra đời là do?

 Sự phát triển của các hình thái giá trị bao gồm?

 Bản chất tiền tệ là?

 Các chức năng của tiền tệ là?

 Công thức của lưu thông hàng hóa khi tiền làm môi giới trong trao đổi là?

 Quy luật giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở nào ?

 Quy luật giá trị vận động thông qua ?

 Ngoài giá trị, giá cả thị trường còn phụ thuộc vào ?

 Tác dụng của quy luật giá trị là gì?

 Cạnh tranh kinh tế là gì?

 Giữa cung và cầu tồn tại mối quan hệ biện chứng, sự tác động giữa chúng hình thành nên gì ?

 Điều kiện để tiền biến thành tư bản là gì ?

 Công thức chung của tư bản là gì ?

 Điều kiện để sức lao động biến thành hàng hóa là:

 Giá trị sức lao động được đo lường gián tiếp bằng:

 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, khi sử dụng sẽ tạo ra:

 Giá trị thặng dư là:

 Ngày lao động của công nhân gồm những phần nào?

 Tư bản khả biến (v) là gì ?

 Tỷ suất giá trị thặng dư (m’) là gì ?

 Khối lượng giá trị thặng dư (M) được tính bằng công thức nào ?

 Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư siêu ngạch còn được gọi là?

 Sản xuất giá trị thặng dư là gì?

 Bản chất của tiền công trong CNTB là gì?

 Hai hình thức tiền công cơ bản là gì/

 Nguồn gốc chủ yếu của tích lũy tư bản là gì ?

 Động cơ chủ yếu của tích lũy tư bản là gì?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của tích lũy tư bản là gì ?

 Nguồn gốc của tích tụ tư bản là gì ?

 Nguồn gốc của tập trung tư bản là gì ?

 Cấu tạo hữu cơ của tư bản là gì ?

 Tuần hoàn của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của những hình thái tuần hoàn nào?

 Chu chuyển của tư bản là: gì ?

 Thời gian chu chuyển của tư bản bằng...?

 Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà...?

 Hao mòn tư bản cố định có các loại nào hình nào?

 Tư bản lưu động là bộ phận tư bản mà...?

 Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, K. Marx chia nền kinh tế ra làm hai khu vực là ?

 Điều kiên thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn là ?

 Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng ?

 Chu kỳ khủng hoảng kinh tế trong CNTB bao gồm ?

 Chi phí sản xuất TBCN (k) là gì?

 Chi phí sản xuất TBCN: ?

 Bản chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là gì?

 Lượng lợi nhuận có thể là?

 Lượng tỷ suất lợi nhuận là?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bao gồm?

 Cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ như thế nào ?

 Cạnh tranh giữa các ngành là?

 Cạnh tranh giữa các ngành?

 Lợi nhuận bình quân là?

 Khi hình thành lợi nhuận bình quân sẽ dẫn đến?

 Giá cả sản xuất bằng ?

 Tư bản thương nghiệp trong CNTB là?

 Thực chất lợi nhuận thương nghiệp là?

 Chi phí lưu thông gồm hai loại chính là?

 Tư bản cho vay là?

 Nguồn gốc của lợi tức là?

 Tỷ suất lợi tức là?

  Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tỷ suất lợi tức là?

 Công ty cổ phần là?

 Thị trường chứng khoán là?

 Địa tô tư bản là?

 Các hình thức cơ bản của địa tô tư bản chủ nghĩa là?

  Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền bao gồm?

 Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn CNTB độc quyền là?

 Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước?

 

CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY

Ta xét hai ví dụ suy luận:

“Mọi người đều phải chết.

Socrate là người.

Vậy, Socrate phải chết." 

và:

“Vợ tôi là đàn bà.

Em là đàn bà.

Vậy, em là vợ tôi” 

Rõ ràng suy luận thứ nhất đúng, còn suy luận thứ hai thì sai. Nhưng căn cứ vào cơ sở nào mà ta xác định được như vậy? Tất nhiên là có thể căn cứ trực tiếp vào thực tiễn. Tuy nhiên thực hiện việc đó gặp phải rất nhiều khó khăn, vì ở đây sau khi kiểm tra thấy kết luận đúng ta cũng không thể nói rằng chắc chắn suy luận đúng. Một phương pháp khác thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều là sử dụng các quy luật của tư duy, tức là các quy luật mà môn logic nghiên cứu, để làm cơ sở cho việc xét đoán. Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì hợp lý, đúng; suy luận nào không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai.

 

Như đã biết, quy luật của tư duy là những mối liên hệ bên trong, bản chất, lặp đi lặp lại trong các quá trình tư duy. Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính chất bản năng.

 

Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Các quy luật này được gọi là cơ bản vì: thứ nhất, chúng phản ánh những tính chất cơ bản nhất của các quá trình tư duy; thứ hai, vì bất cứ quá trình tư duy nào cũng phải tuân theo chúng; thứ ba, vì các quy luật khác có thể rút ra được từ chúng, nhưng không thể rút ra chúng từ các quy luật khác. Các quy luật cơ bản đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.

 

I. QUY LUẬT ĐỒNG NHẤT

Phát biểu: A là A. Một tư tưởng, khi đã định hình, phải luôn là chính nó trong một quá trình tư duy.

Quy luật này phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều này có nghĩa là, trong quá trình hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả thuyết, …) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì không được thay đổi nữa. Nếu nó vẫn tiếp tục thay đổi thì logic hình thức sẽ coi nó là tư tưởng khác. Tính ổn định như vậy là điều kiện cần cho mọi quá trình tư duy. Mặc dù tư tưởng - cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác -, luôn luôn vận động và biến đổi, nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt biến đổi đó của tư tưởng thì không thể nào tư duy được. Một ý kiến được nói ra phải có nội dung không đổi ít nhất là trong cùng một quá trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng minh quan điểm, … nghĩa là một quá trình tư duy, thì người ta mới có thể căn cứ vào nó để xét đoán đúng sai, hợp lý hay bất hợp lý, …

 

Nội dung của quy luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn thông qua những yêu cầu sau:

 

1. Một từ chỉ được dùng trong suy luận với một nghĩa duy nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ nói chung lúc thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác trong cùng một quá trình suy luận. Cũng vậy, trong cùng một quá trình suy luận một khái niệm, một tư tưởng, … không được thay đổi nội dung của mình. Nếu một tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả những lần xuất hiện đó nó phải có cùng một nội dung, phải có giá trị chân lý như nhau. Điều này có nghĩa là ở các quá trình tư duy khác nhau ta có thể dùng từ với nhiều nghĩa khác nhau, tư tưởng có thể có những giá trị chân lý khác nhau, nhưng trong cùng một quá trình suy luận thì từ ngữ bao giờ cũng được dùng với một nghĩa duy nhất, tư tưởng phải có cùng một nội dung duy nhất, phải có cùng một giá trị chân lý duy nhất. Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ không nhất quán, lẫn lộn và người khác sẽ không hiểu.

 

2. Những từ ngữ khác nhau nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận. Vi phạm yêu cầu này, ta không rút ra được thông tin cần thiết. Ví dụ: người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, và hỏi quê quán của nhà thơ Nguyễn Du. Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều thì ta không trả lời được cho câu hỏi này. Ta cũng không thể suy luận được.

 

Đây là những yêu cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu này bắt buộc phải tuân theo để tư tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp rất nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một cách vô tình hay cố ý. Ví dụ, các trò chơi chữ là những vi phạm cố ý:

 

Bà già đi chợ Cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng ?

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.

Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.

Yêu cầu của quy luật này rất đơn giản. Tuy nhiên, để tuân thủ yêu cầu này không phải là dễ. Đồng nhất những cái gì và không đồng nhất những cái gì là dựa vào sự hiểu biết, dựa vào trình độ văn hóa của chủ thể tư duy, và dựa vào bối cảnh tư duy. Bởi vì, xét cho cùng, quy luật này đòi hỏi phải đồng nhất những thứ không đồng nhất. Chính điều này giải thích tại sao khi nghe một câu chuyện vui thì nhiều người bật cười nhưng một số người khác thì không. Người ta cười vì đã đồng nhất được những cái mà người kể muốn đồng nhất, còn nếu không làm được điều đó thì người ta không cười. Như trong ví dụ sau đây:

Lớp đang học về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, Cu Tèo ngủ gật. Thấy vậy, thầy giáo hỏi: “Tèo, ai đã lấy cắp nỏ của An Dương Vương ?”. Giật mình, Cu Tèo vội đáp: “Thưa thầy con không lấy, con không lấy, ta nào lấy con không biết…”.

Thầy giáo chán nản, đem câu chuyện kểlại cho hiệu trưởng nghe. Hiệu trưởng nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Thôi được, chuyện đâu còn có đó, trẻ con ấy mà. Thầy xem thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra mua một cái khác thay thế. Rõ khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”.

Câu chuyện được đem kể lại ở sở giáo dục và đào tạo. Những người có mặt bò lăn ra cười, chỉ một người không cười, đó là kế toán trưởng. Mọi người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta nói: “Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách chức tay hiệu trưởng đó. Tiền đâu ra mà cái gì cũng mua, cái gì cũng chi như vậy?…”

Quy luật đồng nhất là quy luật của tư duy hình thức, không nên nhầm lẫn rằng đây là quy luật của hiện thực khách quan bên ngoài tư duy. Quy luật đồng nhất, vì vậy, không dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một sự vật vừa chính là nó vừa không phải là nó. Tư duy hình thức phản ánh hiện thực khách quan một cách lý tưởng[1], phản ánh hiện thực khách quan trong sự đứng im tương đối của nó, bỏ qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các sự vật và hiện tượng trong sự tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác. Một sự vật của hiện thực khách quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau, tạo nên những đối tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong hiện thực khách quan A và B có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể phản ánh tính chất chung đó ở hai sự vật đã nêu và tạo thành hai đối tượng khác nhau trong tư duy. Hai đối tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì vậy mà mặc dù trong hiện thực khách quan không hề có hai sự vật hoàn toàn giống nhau, nhưng ta vẫn có thể đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như vậy là bởi ta chỉ đồng nhất chúng trong một mối quan hệ nhất định mà thôi. Ví dụ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai người khác nhau, tuy nhiên, khi tư duy phản ánh các ông từ góc độ là nhà thơ thì tạo thành hai đối tượng đồng nhất với nhau trong tư duy.

Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thông qua quy luật đồng nhất của tư duy ta có thể nói về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Cần lưu ý rằng ở đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng với tư tưởng ta mới có thể đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Điều này làm cho phạm vi ứng dụng của quy luật này được mở rộng hơn nhiều.

Ta xét vài ví dụ:

Ví dụ 1. Trước Tòa bà Minh nói “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư ký phiên tòa ghi “Tôi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con”. Sai lầm này của thư ký phiên tòa đã làm cho việc thi hành án sau này gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ 2. Có diễn giả nói: “Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một mắt thì mắt kia sẽ tinh hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn, ....”. Nghe vậy, có thính giả kêu lên: “Rất đúng, tôi cũng thấy rằng nếu một người cụt chân thì y như rằng chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho cả thính phòng cười ồ lên. Anh ta đã không nhận thấy rằng khi diễn giả nói “…mắt kia sẽ tinh hơn”, “…tai kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt và tai bình thường, còn anh ta thì so sánh “chân kia” với chân cụt.

Quy luật đồng nhất là quy luật vô cùng quan trọng của logic hình thức. Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và không đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất không đúng.

 

II.  QUY LUẬT KHÔNG MÂU THUẪN

Phát biểu: Hai phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau không thể nào cùng đúng. Trong hai phán đoán, nhận định như vậy có ít nhất là một phán đoán, nhận định sai.

Quy luật này phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình tư duy nên trong tư duy nhất định phải tránh nó. Tư duy của chúng ta không được chứa mâu thuẫn vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan, mà trong hiện thực khách quan thì ở mỗi thời điểm không thể có trường hợp một đối tượng vừa có, lại vừa không có một tính chất nhất định nào đó. Ví dụ, tại một thời điểm, một bông hồng cụ thể không thể nào vừa có màu đỏ, vừa không có màu đỏ. Cần lưu ý rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu thuẫn hình thức, chứ không phải là mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức không thể có được vì, như đã biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư cách là sự phản ánh các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự đứng im của nó, nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.

Nội dung của quy luật không mâu thuẫn được diễn giải cụ thể hơn qua các yêu cầu sau đây:

 

1. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn trực tiếp. Cụ thể là không được cùng một lúc vừa khẳng định vừa phủ định một điều gì đó. Ví dụ, không thể vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ có được bản hiến pháp của mình, lại vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ không thể thông qua được một bản hiến pháp như thế.

Trong thực tế đôi khi ta gặp những câu nói có vẻ như chứa mâu thuẫn trực tiếp nhưng vẫn thấy chấp nhận được. Ví dụ, câu “Giải vô địch bóng đá quốc gia V-leage vừa qua vừa đạt, vừa chưa đạt” nhìn bề ngoài như chứa mâu thuẫn trực tiếp, nhưng lại vẫn chấp nhận được. Vậy phải chăng ở đây ta đã bỏ qua yêu cầu của quy luật không mâu thuẫn? Thật ra thì trong trường hợp này yêu cầu của luật không mâu thuẫn vẫn được tôn trọng, vì từ “đạt” trong câu nói trên được hiểu theo nhiều cách khác nhau, và vì vậy ở đây không có mâu thuẫn. Nếu tiếp tục làm rõ ý kiến của mình thì người đưa ra câu nói đó sẽ giải thích đã đạt ở mặt nào và không đạt ở mặt nào (đó là các mặt khác nhau). Nghĩa là anh ta sẽ cho biết hiểu theo nghĩa nào thì chuyến tập huấn được coi là đạt và hiểu theo cách nào thì không đạt.

2. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn gián tiếp. Cụ thể là không được khẳng định (hay phủ định) một vấn đề nào đó rồi lại phủ định (hay khẳng định) các hệ quả của nó. Ví dụ, nếu khẳng định rằng lý thuyết tương đối hẹp của Einstein là đúng thì không thểphủnhận công thức E = mc2 thể hiện mối liên hệ giữa năng lượng và khối lượng của ông.

Nếu như mâu thuẫn trực tiếp dễ được nhận thấy, và vì vậy dễ tránh, thì mâu thuẫn gián tiếp khó nhận thấy hơn, và vì vậy khó tránh hơn nhiều.

Ví dụ 3. Lời nói của Đức Phật với quỷ Mala: “(…) Ta không cần danh vọng, Mala, mi hãy thuyết những điều đó với những kẻ hám danh vọng. (…) Thành đạt, danh tiếng, danh dựvà vinh quang chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của người kia. (…) Ta trải cơ mạn xa để chiến đấu với người đây. Ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng.”[3] Trong lời nói này ta thấy câu cuối cùng “ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng” mâu thuẫn với những câu ở phía trên.

Khi rèn luyện tư duy nhiều ta sẽ nâng cao được khả năng phát hiện mâu thuẫn trong các suy luận của chính mình và của người khác, phát hiện thấy những cái không ổn trong các suy luận đó. Khi phát hiện rằng suy luận “có điều gì đó không ổn”, nghĩa là phát hiện ra khả năng chứa mâu thuẫn gián tiếp của nó, ta có thể tiến hành đặt liên tiếp các câu hỏi để người đưa ra suy luận trả lời và bằng cách đó chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp.

Ví dụ 4. Khi thấy lời khai của người bị tình nghi phạm tội có chứa điều gì đó không ổn, cán bộ điều tra sẽ đặt ra cho người đó hàng loạt câu hỏi cho đến khi người đó không trả lời được nữa, vì thấy mình đã gặp mâu thuẫn rõ ràng, trực tiếp.

Ví dụ 5. Trong câu chuyện tiếu lâm về con rắn vuông, khi nghe chồng kể về một con rắn khổng lồ, chị vợ đã liên tục tỏ ý nghi ngờ về chiều dài của nó. Điều này làm cho anh chồng liên tục rút ngắn chiều dài của con rắn, và cuối cùng là có được con rắn vuông. Như vậy, mâu thuẫn chưa lộ rõ hẳn giữa sự tồn tại của con rắn khổng lồ trong câu chuyện của người chồng với thực tế đến lúc này đã trở thành mâu thuẫn rõ ràng giữa sự tồn tại của con rắn vuông với thực tế.

Câu “nói dối hay cùng” chính là nói về những trường hợp như thế này.

Nắm vững nội dung và áp dụng thành thạo quy luật không mâu thuẫn giúp ta trình bày tư tưởng nhất quán và dễ dàng phát hiện các biểu hiện ngụy biện trong suy luận.

III. QUY LUẬT TRIỆT TAM

Phát biểu: Một phán đoán, nhận định hoặc đúng hoặc sai chứ không thể có một giá trị thứ ba nào khác.

Đây là quy luật đặc trưng của logic hai giá trị - logic thông thường mà ta vẫn sử dụng.

Với một phán đoán, nhận định nhất định, quy luật triệt tam không cho biết nó đúng hay sai, nhưng cho biết rằng nó chỉ có thể hoặc đúng, hoặc sai chứ không thể có giá trị nào khác. Ví dụ, ta chưa biết câu nói “Có người ngoài Trái đất đến thăm Trái đất” đúng hay sai, nhưng quy luật triệt tam khẳng định rằng hoặc nó đúng, hoặc nó sai!

Quy luật triệt tam không cho phép người ta tránh né vấn đề khi trả lời câu hỏi. Nó không cho phép trả lời lấp lửng, nước đôi, mà đòi hỏi câu trả lời dứt khoát.

Ví dụ, khi một thanh niên đi kiếm việc làm được hỏi có biết ngoại ngữ hay không thì anh ta chỉ có thể trả lời “có” hoặc “không”, tất cả các câu trả lời khác đều không có giá trị.

Trong thực tiễn, người ta ứng dụng quy luật triệt tam để chứng minh bằng phản chứng.

Đôi khi ta gặp những câu nói rất sâu sắc mà biểu hiện trực tiếp là quy luật triệt tam. Ví dụ, cuối bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, sau khi kể chuyện nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, tác giả La Quán Trung đã viết, đại ý: Lịch sử các nước cứ như vậy, hết hợp thì tan, hết tan rồi lại hợp. Hay, cuối bộ sách Hồng lâu mộng, sau khi kể vợ Bảo Ngọc sinh con trai và gia đình họ Giả bắt đầu hưng thịnh trở lại, tác giả Tào Tuyết Cần viết, đại ý: Ở đời cứ như vậy, hết thịnh rồi thì suy, hết suy rồi lại thịnh.

Một số tác giả cho rằng quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất. Đây là một sự nhầm lẫn. Ta có thể bác bỏ điều đó hết sức dễ dàng. Thật vậy, nếu quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất thì ở bất cứ chỗ nào mà quy luật đồng nhất đúng thì quy luật triệt tam cũng phải đúng. Nhưng rõ ràng là trong các hệ logic ba giá trị quy luật đồng nhất vẫn đúng, trong khi đó thì quy luật triệt tam không đúng. Trong những suy luận nhằm rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất mà thỉnh thoảng ta gặp trong các tài liệu logic đã chứa sẵn vòng tròn logic. Thật vậy, những suy luận kiểu này được thực hiện trong khuôn khổ của logic hai giá trị và sử dụng các tính chất của logic đó. Tuy nhiên sở dĩ logic hai giá trị là logic hai giá trị là vì nó tuân thủ quy luật triệt tam. Như vậy có nghĩa là những tính chất của logic hai giá trị được sử dụng để rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất phụ thuộc vào chính quy luật triệt tam!

 

IV. QUY LUẬT LÝ DO ĐẦY ĐỦ

Phát biểu: Một tư tưởng chỉ có giá trị khi nó có đầy đủ các cơ sở.

Khác với ba quy luật trên, - những quy luật được Aristote tìm ra từ thời cổ đại -, quy luật này được Leibnitz phát hiện ở thế kỷ thứ XVIII.

Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi các tư tưởng phải được đưa ra trên những cơ sở nhất định. Tư duy của chúng ta cấu thành từ một chuỗi các tư tưởng như vậy. Những tư tưởng đi trước làm cơ sở cho những tư tưởng đi sau. Chỉ trong trường hợp đó thì tư duy mới được coi là chặt chẽ, có logic. Ngược lại, tư tưởng sẽ lủng củng. Người nghe sẽ thấy người nói nhảy từ vấn đề này qua vấn đề khác một cách tùy tiện. Trong thực tế, đòi hỏi làm một việc gì đó hoặc trình bày một vấn đề nào đó theo một trình tự nhất định chính là đòi hỏi thỏa mãn quy luật này.

 

Quy luật lý do đầy đủ dựa trên một quy luật rất cơ bản của tự nhiên là quy luật nhân - quả: Mọi sự vật và hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Trong cùng một điều kiện, cùng một nguyên nhân sẽ đưa đến cùng một kết quả. Nếu như tư tưởng phản ánh hiện tượng thì cơ sở của nó là cái phản ánh nguyên nhân của hiện tượng đó. Trong tự nhiên, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Nhưng trong tư duy ta lại có thể biết hiện tượng trước rồi mới đi tìm nguyên nhân sau, nên thứ tự ở đây không giống trong tự nhiên.

Nguyên nhân mà chúng ta nói đến ở đây là nguyên nhân hiện thực, chứ không phải là nguyên nhân siêu nhiên, thần thánh, ma quỷ.

Ví dụ 6. Một người lái taxi nào đó luôn có thu nhập cao hơn so với nhiều người khác, mặc dầu anh ta làm việc trong cùng một điều kiện như họ. Khi đó, người ta hay nói rằng số anh ta may mắn. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì ta sẽ không cải thiện được tình hình của mình. Ngược lại, nếu hiểu rằng hiện tượng này cũng phải có nguyên nhân của nó, và nguyên nhân đó là nguyên nhân vật chất, nghĩa là nguyên nhân có thể hiểu và ứng dụng được, thì ta sẽ tìm hiểu, phân tích những yếu tố đưa lại thành công cho người kia, rồi tìm cách để áp dụng, và nhờ đó có thể nâng cao thu nhập của mình.

Tuân thủ nghiêm các quy luật cơ bản trình bày trên đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ và trình bày tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Ứng dụng các quy luật này chúng ta cũng dễ dàng phát hiện các sai lầm trong suy luận của người khác và của chính mình để phản bác, để vạch trần sự ngụy biện, hoặc để tránh sai lầm.

 

ĐỊNH LUẬT CUỘC SỐNG

Luật Bù Trừ: Hễ được cái này thì sẽ mất cái khác, không nên chỉ nhìn mặt ngoài mà cho rằng người khác may mắn, sung sướng hơn mình.

Luật Cân Bằng: Nếu coi hạnh phúc là số dương, đau khổ là số âm, thì tổng số của hạnh phúc và đau khổ là bằng không. Hãy tin có Luật Cân bằng.

Luật Cộng Sinh: Mối quan hệ giữa hai bên chỉ tồn tại lâu dài khi cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một bên hưởng lợi, còn một bên mãi hy sinh thì mối quan hệ đó sẽ không bền.

Luật Trả và Đền: Dù sớm hay muộn, mỗi người sẽ phải trả giá cho từng hành động sai trái, cũng như sẽ được đền bù cho các việc làm tốt đẹp của mình.

Luật Cường độ giảm dần theo thời gian: Một niềm vui dù lớn đến đâu cũng sẽ qua đi. Một đau khổ dù tới mức nào rồi cũng sẽ phai phôi. Đừng tự phụ vì thành công hôm nay, mà cũng đừng tự ti khi đang thất bại.

Luật Hấp Dẫn: Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau để đoàn kết nâng đỡ nhaucùng làm đẹp cuộc đời.

Luật Tha Thứ: Nếu mình rộng lượng,bao dung với người khác,mình sẽ được thông cảm, tha thứ khi chính mình làm lỗi.

Luật Bù Trừ: Hễ được cái này thì sẽ mất cái khác. Không nên chỉ nhìn mặt ngoài mà cho rằng người khác may mắn,sung sướng hơn mình.

Luật Sống Vui: Nếu muốn sống vui, hãy tích cực và làm những gì mình cần ngày hôm nay. Đừng đợi khi có cái này, xong cái kia.

 

45  ĐỊNH LUẬT RẤT ĐÚNG CHO CUỘC SỐNG

1. Định Luật Trái Táo

Nếu có một số táo, có quả tốt có quả hỏng, thì mình nên ăn quả tốt trước, vứt quả hỏng đi. Nếu mình ăn quả hỏng trước, thì quả tốt cũng sẽ hỏng, ta sẽ chẳng bao giờ ăn được quả còn tốt, cuộc sống cũng như vậy.

2. Định Luật Nói Chuyện

Có hai cách nói chuyện đáng ghét nhất, một là không bao giờ dừng lại để nghĩ, hai là không bao giờ nghĩ đến việc dừng lại.

3. Định Luật Chiếc Bánh

Vào lúc trên trời rơi xuống một chiếc bánh, cẩn thận trên mặt đất cũng đang có một cái bẫy chờ đợi mình .

4. Định Luật Sai Lầm

Ai cũng đều có lúc sai sót, nhưng chỉ khi nào lặp lại sai sót cũ thì đó mới là sai lầm.

5. Định Luật Của Sự Ngu Dốt

Sự ngu dốt phần lớn đều được sinh ra khi tay chân hoặc mồm miệng hành động nhanh hơn cả não bộ.

6. Định Luật Im Lặng

Trong khi tranh luận, quan điểm khó đánh đổ nhất chính là im lặng. Quan điểm khó chấp nhận nhất cũng là im lặng.

7. Định Luật Tiết Kiệm Thời Gian

Nếu mình muốn tiết kiệm thời gian ngay từ khi mới bắt đầu, thì kết quả sẽ là  mình mất nhiều thời gian hơn gấp vài lần.

8. Định Luật Hạnh Phúc

Nếu mình không cần phải luôn nghĩ xem liệu bản thân có hạnh phúc hay không, thì tức là  mình đang hạnh phúc.

9. Định Luật Giá Trị

Khi mình đã sở hữu một món đồ gì đó, ta sẽ phát hiện ra rằng thứ đó không hề có giá trị như mình từng nghĩ.

10. Định Luật Động Lực

Động lực thường bắt nguồn từ hai nguyên nhân: hi vọng hoặc tuyệt vọng.

11. Định Luật Của Lời Hứa

Hứa rồi chưa chắc có thể đảm bảo sẽ nhất định làm được, nhưng nếu mình không hứa, thì dù mình làm được cũng chẳng có giá trị gì.

12. Định Luật Địa Vị

Có người đứng dưới chân núi, có người lại đứng trên đỉnh núi, tuy vị trí khác nhau, nhưng trong mắt cả hai, người kia đều nhỏ bé như nhau.

13. Định Luật Vui Vẻ

Gặp chuyện gì chỉ cần ta  nghĩ đến mặt tốt của nó thì mình sẽ vui vẻ, cũng như khi mình bị ngã xuống rãnh nước, ta có thể tưởng tượng rằng sẽ có con cá chui vào túi áo mình .

14. Định Luật Sỉ Nhục

Khi bị sỉ nhục, biện pháp là bỏ qua, nếu không thể bỏ qua, hãy coi thường nó, nếu đến việc coi thường nó mà mình cũng không thể làm được thì mình chỉ còn cách là chịu bị sỉ nhục mà thôi.

15. Định Luật Hỗn Loạn

Khi mình gặp phiền phức, mà vẫn còn muốn thận trọng từng bước, thì phiền phức sẽ trở thành hỗn loạn.

16. Định Luật Kết Cục

Có một kết cục “rất đáng e sợ” sẽ đến, còn tốt hơn là không có bất cứ kết thúc nào.

17. Định Luật Trang điểm

Thời gian dành để trang điểm càng lâu thì tức là khiếm khuyết mà mình muốn che đi càng nhiều.

18. Định Luật Hiểu Nhầm

Bị một người hiểu nhầm, phiền phức không lớn lắm, bị nhiều người hiểu nhầm, có lẽ sẽ rất phiền phức. Chính mình không hiểu mình, thì không còn cơ hội cho người khác hiểu mình.

19. Định Luật Thất Bại

Thất bại không có nghĩa là lãng phí thời gian và cuộc đời, mà thường có nghĩa là  mình có thể sở hữu thời gian và cuộc đời một cách tốt hơn nhưng mình đã không làm.

20. Định Luật Thăng Tiến

Người làm quan, mỗi khi thăng một cấp, không cẩn thận thì tình người lại giảm đi một bậc.

21. Định Luật Tăng Giá Trị

Hàng xuất khẩu tiêu thụ trong nước thì sẽ tăng giá, dư luận cũng giống như vậy.

22. Định Luật Trò Chơi

Dù mình chơi bowling dở tới mức nào, mỗi lần chơi đều có thể có một hai lần đánh trúng tất, làm mình vừa lòng, vui vẻ tới mức lần sau lại chơi tiếp.

23. Định Luật Dự Phòng

Học cách sử dụng tay trái làm một vài việc, vì tay phải không phải lúc nào cũng hữu dụng.

24. Định Luật Du Lịch

Không có cảnh nào đẹp hơn cảnh trong kí ức, nên tốt nhất không nên đến nơi nào đó 2 lần.

25. Định Luật Nguy Nan

Thường thì vấn đề càng phức tạp, thời hạn càng ngắn.

26. Định Luật Tài Chính

Các tấm séc luôn đến muộn, còn các hóa đơn luôn đến sớm.

27. Định luật Cuộc Đời

Những thứ ta  sống chết đòi có được nó, có thể đều không phải những thứ cần thiết nhất.

28. Định Luật Hội Nghị

Tất cả mọi quyết sách quan trọng đều được đưa ra trong 5 phút cuối cùng trước khi hội nghị kết thúc hoặc trước bữa trưa.

29. Định Luật Tiền Bạc

Tiền không phải tất cả, nhưng tất cả đều cần tiền.

30. Định Luật Hợp Tác

Việc gì mà một người phải bỏ ra một tiếng để làm, thì nhiều khi hai người sẽ phải bỏ ra hai tiếng.

31. Định Luật Kết Hợp

Cho dù mình là ai, làm gì, thì người giúp mình hi vọng và người chống đối lại ta  đều luôn luôn có mặt sát bên mình .

32. Định Luật Đường Tắt

Mọi người đều đang đi đường tắt, thực ra đó là con đường khó nhất.

33. Định Luật Bản Lĩnh

Đừng bao giờ để tính tình của mình lớn hơn bản lĩnh hiện tại của mình.

34. Định Luật Buồn Chán

Người vui vẻ trước nỗi buồn của mình, là kẻ địch. Người vui vẻ trước niềm vui của mình, là  bạn bè. Người buồn trước nỗi buồn của mình, là người bạn nên đặt trong lòng.

35. Định Luật Sai Lầm

Người khác đều không đúng, thì đó chính là cái sai của bản thân.

36. Định Luật Hiệu Quả

Rơi nước mắt trên vết thương và xát muối vào vết thương, hiệu quả là như nhau.

37. Định Luật Đố Kỵ

Điều mà con người đố kỵ không phải là chuyện lên như diều gặp gió của người xa lạ, mà là chuyện lên như diều gặp gió của người bên cạnh mình.

38. Định Luật Vuông Tròn

Con người không thể quá vuông, cũng không thể quá tròn, một cái sẽ khiến người ta bị thương, một cái sẽ khiến người ta xa cách mình, bởi vậy mà con người phải là hình bầu dục.

39. Định Luật Nước Miếng

Khi mình nổi tiếng đến độ khiến người ta chảy nước miếng, thì đồng thời, "nước miếng" dành mình cũng tăng lên vòn vọt.

40. Định Luật Lợi Dụng

Không sợ bị người ta lợi dụng, chỉ sợ mình vô dụng.

41. Định Luật Gió Mưa

Tình yêu, có thể chịu đựng nổi gió mưa, song không chịu đựng được sự bình lặng.

Tình bạn, có thể chịu được sự bình lặng, song không chịu đựng nổi gió mưa.

42. Định Luật Hành Tỏi

Quá coi bản thân là cọng hành, sẽ luôn giỏi trong việc: Giả tỏi.

43. Định Luật Đánh Giá

Không cần thiết phải tò mò xem người ta đánh giá mình thế nào, hãy nghĩ xem mình đánh giá thế nào về người ta.

44. Định Luật Thành Tựu

Nếu mình không có thành tựu, ta sẽ vì sự bình thường của mình mà không có bạn bè. Nếu mình có thành tựu, ta sẽ bởi sự xuất sắc của mình mà mất đi bạn bè.

45. Định Luật Trưởng Thành

Trưởng thành chính là quá trình điều chỉnh tiếng khóc của mình về chế độ im lặng.

 

NÊN BIẾT ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC

1. Luật nhân quả

Luật nhân quả là quy luật mà thiết nghĩ ai cũng nên hiểu rõ về nó vì quy luật này quyết định tiến trình luân hồi và giải thoát của chúng ta. Những gì mà chúng ta tạo ra trong vũ trụ này, chúng sẽ mãi mãi gắn liền với cuộc đời của chúng ta vì chúng ta là những sinh mệnh nằm bên trong vũ trụ đó. Điều chúng ta làm hôm nay sẽ quyết định tương lai cuộc đời của mình. Thiện hay ác, tốt hay xấu đều do tự bản thân mỗi người lựa chọn. Điều đó làm nên chính mình trong tương lai.

2. Luật hấp dẫn

Chìa khóa để có được nội tâm bình ổn chính là không bị lệ thuộc bởi những gì đang diễn ra xung quanh, hướng vào bên trong bản thân mình để luôn đạt được trạng thái yên bình trong tâm. Muốn trở thành một người tích cực và thiện lương, hãy giao lưu với những người tích cực và những con người thiện lương để cuộc sống luôn tràn ngập những điều tốt đẹp. Giống như các cụ có câu ‘Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng’.

3. Luật chấp nhận

Trong cuộc sống, chúng ta không thể thay đổi hoàn cảnh cho đến khi ta học cách chấp nhận chúng. Tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời ta là có lý do, đó là do nhân duyên, duyên nghiệp của ts từ nhiều kiếp trước, dù ta có tin hay không. Và nếu như ta vẫn đang xem ai đó như một kẻ thù, thì điều đó có nghĩa là ta không chấp nhận quy luật tạo hoá ở một mức độ cao hơn và đặc tính của vũ trụ (vốn luôn có đối lập giữa thiện ác – tốt xấu). Chấp nhận hoàn toàn tự nguyện là tốt nhất cho sự tồn tại của  ta. Khi ta học cách chấp nhận, và thay đổi chính bản thân để thích hợp với hoàn cảnh, thì hoàn cảnh cũng sẽ tự nhiên biến chuyển theo. Hãy hiểu rằng, có những thứ trong cuộc sống này, ta không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận chúng, và dù ta có mạnh mẽ và thông minh đến đâu, thì cũng sẽ không thể luôn bắt mọi thứ phải theo cách mà ta muốn.

4. Luật phát triển

Mỗi người trong chúng ta khi đến với thế giới này đều mang theo một sứ mệnh riêng, góp phần giúp cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn và tìm về những bản tính tốt đẹp bên trong chính bản thân mình. Không cần thiết tập trung vào những người mà  ta gặp nhưng chưa biết rõ về họ, hoặc ám ảnh về nơi mà  ta đang sống và công nghệ mà ta đang sử dụng. Cuộc sống và thời gian này là tất cả những gì quý giá nhất ta có.

5. Luật trách nhiệm

Cuộc sống tựa như một tấm gương mà khi soi vào đó, ta sẽ nhìn thấy bản thân mình được rõ hơn. Hãy luôn tu sửa chính mình để tốt hơn ngày hôm qua. Mỗi người có một cuộc sống hoàn toàn khác nhau, dựa trên cách sống và tâm thái của họ trong những vấn đề của cuộc sống mà cuộc đời của họ trở nên khác nhau. Vì vậy, đừng nên chỉ nhìn vào người khác, hãy luôn nhìn vào chính mình để sống hạnh phúc và ý nghĩa với sứ mệnh riêng của ta.

6. Luật kết nối

Bất kể việc gì mà ta thực hiện mà ta cho là vô nghĩa, nhưng  ta vẫn phải làm bởi vì mọi thứ trong thế giới này đều có liên hệ tương hỗ. Bước đầu tiên hay bước cuối cùng đều quan trọng như nhau vì chúng đều đi đến đích hoàn thành một điều gì đó có ý nghĩa trong đường đời của một con người.

7. Luật tập trung

Ta không thể suy nghĩ hai vấn đề trong cùng một lúc. Nếu như ta đang tìm kiếm điều gì đó quan trọng, thì đầu óc của ta cũng không còn đủ chỗ cho sự giận dữ và tham lam. Vì vậy, hãy để tâm trí thanh tỉnh và bình an, loại bỏ những điều tiêu cực và những tâm không tốt của bản thân để chưa đựng trong tâm những điều tốt đẹp nhất.

8. Luật “ở đây và ngay bây giờ”

Sự vọng tưởng về tương lai có thể khiến  ta hoàn toàn mất tập trung vào những điều đang diễn ra ở hiện tại. Những hình mẫu hành vi cũ, cũng như những tư duy theo lối cũ, có thể ngăn trở con đường đưa ta tiến đến những điều mới mẻ hơn.

10. Luật cơ hội

Lịch sử sẽ lặp lại chính nó cho đến khi ta rút ra được những bài học kinh nghiệm từ sau đó. Con người ta không thể hành động theo “cách cũ” mà mong tưởng một “kết quả mới” được.

11. Luật kiên trì và tưởng thưởng

Kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại tương ứng. Đó chính là điều tất yếu. Niềm vui thực sự đến từ lao động chân chính, bền bỉ để rồi sau đó đạt được mục tiêu của mình. Người ta sẽ không đạt được điều gì thực sự nếu không nỗ lực và đặt tâm trí vào điều đó.

12. Luật ý nghĩa và cảm hứng

Chỉ khi ta trở nên xứng đáng với điều gì đó, thì  ta có nó. Càng bỏ công sức bao nhiêu,  ta sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Và người nào càng cho đi nhiều sẽ nhận lại nhiều bấy nhiêu.

xxxxxxxxxxx

Bên cạnh Luật Vũ Trụ tối cao, Minh ơi còn có các giới luật được cai quản bởi Cái Tôi Cao Hơn liên quan đến tính cách của con người mà mày có thể áp dụng vào cuộc sống để nâng cao rung động và tâm thức của mình như:

Từ bi,bác ái, nhân đức, rộng lượng, khoan dung, tốt bụng, tha thứ, chân thật, trách nhiệm, tận tâm, can đảm, trung thực, khát vọng, niềm vui, niềm tin, động viên khen ngợi, kiên cường, kiên nhẫn, yêu thương bản thân, tình yêu vô điều kiện, biết ơn, không can thiệp (vi phạm tự do ý chí của người khác)…

---------------,----------------

HÃY TRÁNH XA NHỮNG KẺ

-Kẻ Đặt điều

-Kẻ Gió chiều nào xoay chiều đó

-Kẻ Bằng mặt không bằng lòng

-Kẻ Thích xu nịnh

-Kẻ Gây chuyện thị phi

-Kẻ Đổ trách nhiệm cho người khác

+Đối với những kẻ tiểu nhân, tuyệt đối không được sơ suất, không được mềm lòng nhường nhịn, thái độ cần phải kiên quyết. Bậc quân tử tấm lòng rộng rãi, kẻ tiểu nhân thường hẹp hòi, u uất. Mỗi người đều sẽ gặp phải kẻ tiểu nhân. Khi ở chung với kẻ tiểu nhân, chỉ cần thiếu thận trọng một chút ta sẽ phải chịu thiệt lớn, vậy nên học cách phân biệt kẻ tiểu nhân vô cùng quan trọng.

-Một điều nhịn chín điều lành

Nếu chẳng may có xích mích với tiểu nhân, hãy nhẫn nhịn. Ta đừng cố gắng tranh cãi, vì rất khó để thắng được họ. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân lại sẽ vì lí do đó mà ghi hận, rồi tìm cách để hãm hại ta. Người xưa có câu: Nhịn một khắc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nếu như thiệt hại không lớn, lại chẳng thể đấu trí được, ta hãy cho qua và xem như đó là bài học để trưởng thành.

-Tốt thôi đừng tốt quá

Có một sự thật là người lương thiện trong cuộc đời này thường nhu nhược, họ không phân biệt được nên tốt với ai, vì vậy họ thường thua thiệt. Ví dụ trong công việc, họ luôn nhường người khác lập công trước, có đôi khi là ôm khó khăn vào mình vì sợ người khác nghĩ mình lười biếng. Vì vậy, muốn tốt cũng được nhưng đừng tốt quá, đừng khiến mình bị thiệt thòi bởi cuối cùng chẳng ai ở lại giúp đỡ  ta đâu. Với kẻ tiểu nhân, ta đối đãi theo cách dành cho kẻ tiểu nhân, miễn sao trong lòng không hối hận là được.

-Yếu đuối khiến ta bị hèn yếu trước kẻ tiểu nhân

Điều khác biệt lớn nhất giữa kẻ tiểu nhân và kẻ ác đó là kẻ ác có tâm địa hiểm độc nhưng kẻ tiểu nhân thì khác, họ sẽ trở nên thật thà và ít nguy hiểm hơn nếu gặp người mạnh hơn mình. Họ cho dù có ác nhưng là công khai, không giấu diếm không chơi trò mưu hèn kế bẩn, còn kẻ tiểu nhân luôn dùng cách đâm sau lưng để hại người khác. Chính vì vậy ta phải luôn kiên cường, đừng bao giờ mềm lòng bởi những lời ngon ngọt của kẻ tiểu nhân.

------------------------------------------

NGƯỜI LÀM NÊN ĐẠI SỰ THƯỜNG CÓ 7 ĐẶC ĐIỂM NÀY: CÔNG VIỆC SỐ 1 NHƯNG GIA ĐÌNH VẪN QUAN TRỌNG NHẤT

1 Nhẫn nhịn chịu được cô độc

Vì cuộc sống, công việc, sự nghiệp, rất nhiều lúc  ta không thể được gần người thân và bạn bè. Khi người khác nghỉ ngơi hay đoàn tụ, còn mình thui thủi một mình làm việc.  ta có chịu được nỗi cô đơn này không?

Đời người muốn đạt được thành công thì phải nhẫn chịu được cô độc, nhất là thuở ban đầu sáng nghiệp. Rất nhiều lúc để đạt được mục tiêu thì trong lúc người khác nghỉ ngơi, ta phải một mình lặng lẽ hy sinh. Quá trình này rất cô độc, nhưng nếu có thể vượt qua thì  ta sẽ đạt được thành công lớn hơn so với người khác.

2 Chịu được trách nhiệm

Trong gia đình  ta có các vai là con, là cha , là chồng, . Ở doanh nghiệp ta có các vai là nhân viên, người quản lý, lãnh đạo hoặc sếp. Ở xã hội ta có cái vai là công dân, … Tóm lại mỗi người đều có những vai diễn khác nhau trong các trường hợp khác nhau.

Trách nhiệm có 3 loại: Trách nhiệm gia đình, trách nhiệm doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm là một từ cửa miệng của  ta trong cuộc sống. Từ điển giải thích: "Trách nhiệm" nghĩa là bổn phận phải thực hiện mà chưa thực hiện hoặc làm chưa tốt, vì vậy phải gánh chịu lỗi lầm.

3 Chấp nhận mạo hiểm

Những người thành công dám chấp nhận các thử thách mà số đông sợ hãi như vay món tiền lớn để đầu tư, đầu tư vào một thương vụ mạo hiểm hay mua một mảnh đất lớn để phát triển sản phẩm còn chưa tồn tại...

4 Tập trung cao độ vào mục tiêu

Người giàu biết chính xác những gì họ muốn và có một kế hoạch cụ thể để đạt được điều đó. Họ đặt toàn bộ niềm tin vào công việc. Họ đặt ra những tiêu chuẩn cao cho bản thân, đồng thời cũng mong đợi mọi người xung quanh tuân thủ tiêu chuẩn đó. Họ sẽ không ngần ngại bộc lộ sự thất vọng hay cảm giác không vừa ý bởi các hành vi không đúng trong cuộc trò chuyện.

5 Biết quyết tâm

Bằng cách tự thúc đẩy bản thân mình, ta sẽ luôn có động lực để thực hiện mọi việc mà ta mong muốn. Luôn nhắc đi nhắc lại những quyết tâm của mình là một thói quen tốt mà ta nên tạo ra cho mình. Hãy viết những quyết tâm ấy vào những mẩu giấy và đọc lại chúng một lần nữa. Sau đó ta chỉ nên chọn những quyết tâm nào mà ta tin tưởng một cách sâu sắc rằng mình sẽ thực hiện được.

Và hãy thực hiện chúng ngay lập tức. Học tập theo những thành công trước đó. Không ngừng hoàn thiện mình. Những ai dám nghĩ dám làm mới có thể giành được chiến thắng. Hãy biết cách tránh đi những nỗi đau và tìm kiếm sự hạnh phúc. Đầu tư cho hôm nay chính là đầu tư cho ngày mai. Ta cũng cần phải có thái độ biết ơn cần thiết. Ta có thể làm được tất cả những gì mà ta quyết tâm muốn khẳng định.

6 Thừa nhận những nỗi sợ hãi và yếu điểm của bản thân

Trên đời này không có ai là hoàn hảo và cũng không có ai là thật sự không có những nỗi sợ của riêng mình. Ta hoàn toàn có thể là một người nghiêm khắc với bản thân. Hãy biết tiếp thu một số vấn đề nào đó. Khi ta thẳng thắn thừa nhận với mình những yếu điểm của chính ta cũng có nghĩa là ta đã đối mặt hay sửa chữa được ít nhất phân nửa những khuyết điểm đó. Hãy đối mặt với nỗi sợ hãi và bằng cách này ta đã tự tạo cho mình một tính cách tốt. Ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hiểm nguy khi ta muốn nếm trải đủ mọi hương vị của cuộc sống này. Đừng e dè khi phải nói câu “Tôi xin lỗi. Tôi đã sai.”

7 Phấn đấu trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình

Giá trị số 1 trong cuộc sống của những người giàu là sự đảm bảo về tài chính. Những người có khả năng làm giàu hiểu rằng, nếu họ có thể hi sinh những thú vui, sự hài lòng nhất thời để xây dựng nền tảng tài chính vững chắc thì đến cuối cùng, họ sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn, tự do tài chính hơn. Người giàu bắt tiền làm việc cho họ và từ chối sống một cuộc sống bình thường, đơn giản.

----------------------------,,------------

HÃY CƯ XỬ NHƯ MỘT QUÝ ÔNG

 

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG NHỮNG MỐI QUAN HỆ TỐT

Trong xã hội, chúng ta phải xây dựng các mối quan hệ tốt vì rất nhiều lí do, đặc biệt là ở nơi làm việc. Xã hội cũng giống như một mạng lưới các mối quan hệ, nó đòi hỏi tất cả mọi người phối hợp làm việc với nhau để tạo ra kết quả tốt nhất. Những gì làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn chính là các mối quan hệ tích cực, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau

Tất cả mọi người cùng hướng về một mục tiêu chung, điều này đòi hỏi phải có mối quan hệ tốt dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau.

Nếu như ta  hiểu rõ mọi người muốn gì và tại sao họ lại muốn như vậy thì thường ta  sẽ tìm ra được cách để hai bên đều tiến triển cùng nhau. Cách tốt nhất để hiểu đó là lắng nghe và quan sát mà không cần đưa ra những phán xét vội vã.

Như thế nào là một mối quan hệ tốt đẹp ?

Trong một mối quan hệ tốt đẹp, các bên biết lắng nghe để hiểu rõ quan điểm và cảm xúc của nhau. Cách đơn giản nhất để biết điều gì là quan trọng với một người hay nhóm người là hỏi và sau đó lắng nghe câu trả lời của họ. Nếu mình hiểu rõ người khác ta  sẽ biết cách làm gì để mọi người có thể thân thiện và làm việc với nhau hiệu quả hơn. Không chỉ có vậy các bên còn thẳng thắn bày tỏ quan điểm và cảm xúc của mình. Con người rất phức tạp và phản ứng trước những sự việc hoàn toàn khác nhau do đó họ vẫn có thể ngạc nhiên về người kia ngay cả khi đã từng chung sống với nhau rất lâu.

Chúng ta cần nói những gì chúng ta cần và bày tỏ cảm xúc của mình hơn là chờ đợi người khác nhận ra chúng ta muốn gì rồi sau đó đợi họ mang đến cho chúng ta. Để cho mối quan hệ trở nên tốt đẹp chúng ta nên tôn trọng bản thân cũng như người khác. Lòng tôn trọng là cốt lõi của mọi mối quan hệ tốt, nó được thể hiện bằng cách lắng nghe và tìm hiểu xem người khác đánh giá sự việc như nào. Việc phán xét dựa trên thành kiến là cách hoàn toàn đối lập với lòng kính trọng. Ta có thể thể hiện sự tôn trọng người khác bằng cách thừa nhận rằng họ đã làm những gì tốt nhất có thể. Tôn trọng là nền tảng cho một mối quan hệ vững chắc do đó ta  nên tôn trọng bản thân mình cũng như những người khác. Nếu như ta  cảm thấy hài lòng với bản thân thì việc nhìn thấy những điểm tốt của người khác và tôn trọng họ sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Một điều quan trọng khác để thiết lập mối quan hệ tốt đó là đương đầu trực tiếp với những điểm khác nhau giữa mọi người bởi vì chúng rất thú vị. Trong cuộc đối thoại mà mọi người đều lắng nghe nhau thì mình sẽ phát hiện ra một sự thật mới giúp hoà nhập hai ý tưởng tranh cãi. Hãy cùng tìm ra giải pháp khiến cả hai bên đều cảm thấy mình chiến thắng. Nếu như cả hai phía đều cảm thấy đã thu được gì đó từ việc giải quyết những khác biệt, họ sẽ sẵn sàng hơn để tiếp tục hợp tác trong tương lai. Điều này sẽ xây dựng một mối quan hệ thoải mái và hài lòng.

Sau đây là một số lời khuyên có thể giúp mình xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp :

1. Ít nhất phải có một bên quyết định rằng mối quan hệ là quan trọng.

Nếu như ta  quyết định rằng mối quan hệ với một ai đó là quan trọng, ta sẽ đầu tư thời gian và sức lực để hiểu rõ những yêu cầu của họ cũng như cách giải quyết những khó khăn cản trở. Ngay cả khi mình cố gắng nhưng thất bại, ta biết rằng mình đã cố gắng hết sức và thấy thoải mái về điều đó.

2. Học cách lắng nghe một cách thật sự và đừng phán xét.

Lắng nghe một cách thật sự và không phán xét sẽ giúp mình hiểu rõ người khác. Việc phán xét chỉ làm tăng khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau.

3. Gặp gỡ mọi người một cách thân mật khiến họ cảm thấy thoải mái trong việc nêu ra những vấn đề quan trọng với họ.

Hầu hết mọi người cảm thấy thoải mái hơn trong những khung cảnh thân mật. Nếu mình có ý định gặp ai với mục đích cụ thể là để phát triển mối quan hệ với họ, hãy nghĩ đến việc tổ chức cuộc gặp gỡ trong khung cảnh mà họ thấy thoải mái bởi vì khi thấy thoải mái, họ có thể nói nhiều hơn về những gì là quan trọng với mình.

4. Phát triển một văn hoá trong đó mọi người có thể bày tỏ cảm xúc của mình.

Các mối quan hệ được hình thành dựa trên việc chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc. Thật khó để hai người có một cuộc hội thoại hữu ích khi một người trong họ không nhận thấy rằng người kia tức giận vì những gì họ đã nói hoặc làm. Văn hoá công ty khuyến khích mọi người gần nhau có thể tạo ra niềm say mê để đạt được những điều tuyệt vời cùng nhau.

Một số khó khăn có thể gặp phải trong việc xây dựng mối quan hệ tốt:

+ Thiếu tin tưởng và khuôn sáo : Chúng ta thường nhận được những thông tin sai lệch về những người trong nhóm khác. Giữa các thành viên trong nhóm thường có nhiều khác biệt với nhau hơn là giữa các nhóm, nếu như chúng ta nghĩ rằng "tất cả mọi người đều như nhau" thì chúng ta đã sai lầm. Điều này sẽ huỷ hoại mối quan hệ vì mỗi cá nhân là duy nhất và họ muốn cảm thấy có những giá trị riêng.Khi sự khuôn sáo trở thành bệnh dịch, sự áp bức giữa nhóm này và nhóm khác trở nên phổ biến thì sẽ khiến những cảm giác tiêu cực bóp méo thái độ của họ.

+ Đổ lỗi cho người khác khi mối quan hệ không tốt đẹp:điều này thật vô ích, nó sẽ tạo ra khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau. Nếu như không hài lòng về một mối quan hệ ta  nên nghĩ mình cần làm gì để cải thiện nó.Đồng thời việc thay đổi thái độ của bản thân dễ hơn nhiều so với việc thuyết phục người khác thay đổi.

+ Tập trung vào nhiệm vụ mà không quan tâm tới cảm xúc và nhu cầu của người khác Mọi người đều có cảm xúc và họ mang những cảm xúc này vào công việc. Nếu như ta  bất chấp cảm xúc của người khác để hoàn thành nhiệm vụ thì những người giỏi nhất của mình sẽ lần lượt rời bỏ mình .Con người không phải là những cố máy, nếu mình tôn trọng và hiểu họ, lắng nghe cảm xúc của họ, họ sẽ muốn cống hiến và làm việc tốt hơn.

+ Mục tiêu, vai trò, sự mong đợi lẫn nhau không rõ ràng Nếu như chúng ta không biết mình cần gì ở người khác thì hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi và mối quan hệ sẽ chịu hậu quả từ điều nay

 

Các con các Cháu của ta       

 Cuộc sống luôn diễn ra quanh ta, nhưng có lẽ các con đang gặp khó khăn trong việc chọn cách sống đúng nghĩa. Sống như thế nào là lựa chọn của các con, và việc đưa ra lựa chọn phù hợp với bản thân là cách tốt nhất để tìm ra điều ý nghĩa và niềm hạnh phúc. Để sống đúng nghĩa, trước tiên các con cần hiểu bản thân, bao gồm những giá trị cốt lõi, điểm mạnh và đam mê của mình. Từ đó, các con sẽ quyết định hành động sao cho phù hợp với các giá trị đó. Cuối cùng, hãy gắn kết với người khác và thể hiện sự quan tâm của các con dành cho họ.Ta rất biết mỗi người có các nguồn lực khác nhau ;nên ta đưa ra nhiều giải pháp để các con cháu ta lựa chọn theo từng phương pháp hay đan xen là tùy nguồn lực của mỗi con .

 

Phương pháp 1

Hiểu bản thân

1.Xác định giá trị cốt lõi để mình có thể sống đúng với những điều đó.

Trước tiên, các con thử nghĩ xem điều gì quan trọng đối với mình trong cuộc sống và cách hành xử nào mà các con ngưỡng mộ ở người khác. Tiếp theo, hãy cố gắng nhớ lại những ngày tốt đẹp nhất trong đời và việc các con đã làm trong những ngày đó. Đây là những thông tin giúp các con tìm ra các giá trị cốt lõi của mình - những điều mà các con quan tâm nhất.

Ví dụ, các con đề cao việc giúp đỡ người khác, cởi mở trong suy nghĩ và chia sẻ những gì mình có.

2.Tìm ra mục đích sống bằng cách xác định điều gì đem đến động lực cho mình.

Hãy nghĩ xem điều gì trong cuộc sống khiến các con phải hành động, chẳng hạn như những việc khiến mình háo hức. Tiếp theo, các con thử hình dung bản thân trong 5, 10, 15 và 20 năm nữa và liệt kê những gì mà mình mong muốn đạt được. Bên cạnh đó, hãy thử hỏi bản thân điều gì khiến các con sẵn lòng hy sinh và làm cách nào để mình có thể tận dụng những kỹ năng tốt nhất của mình trong việc cống hiến cho cuộc đời. Đây là cách giúp các con tìm ra mục đích sống của mình.

Không sao cả nếu các con có nhiều hơn một mục đích sống.

Mục đích sống của các con có thể thay đổi khi mình trưởng thành hơn và hiểu hơn về bản thân.

Ví dụ, mục đích sống của các con có thể là truyền cảm hứng cho người khác thông qua âm nhạc hoặc giúp đỡ người khác bằng việc trở thành điều dưỡng.

3.Xác định để khai thác điểm mạnh và năng khiếu cá nhân.

Các con giỏi nhất trong lĩnh vực nào và điều gì đến với mình một cách dễ dàng? Hãy liệt kê những kỹ năng và khả năng được cho là điểm mạnh của mình . Từ đó, các con sẽ chọn ra điểm mạnh và năng khiếu quan trọng nhất với mình để tiếp tục mài giũa và phát huy.

Ví dụ, các con có thể giỏi viết lách, đá bóng và chăm sóc em nhỏ. Như vậy, các con thử cân nhắc việc đến lớp bồi dưỡng viết lách để ngày càng giỏi hơn hoặc tham gia câu lạc bộ bóng đá. Tương tự như vậy, việc trông trẻ có thể là cách giúp mình có thêm thu nhập.

4.Theo đuổi đam mê và sở thích để tạo niềm vui cho bản thân.

Trước tiên, các con cần liệt kê những gì thu hút sự chú ý của mình, bao gồm hoạt động và sự vật. Tiếp theo, hãy tìm cách đem những điều thú vị này vào cuộc sống của mình. Các con nên cố gắng dành nhiều thời gian cho đam mê hoặc sở thích, tốt hơn hết là mỗi ngày.

Ví dụ, mối quan tâm của các con có thể là âm nhạc, trang sức và nghệ thuật xăm. Như vậy, các con có thể học một loại nhạc cụ hoặc bắt đầu sưu tập đĩa hát, học làm trang sức và thiết kế hình xăm.

Đừng lo lắng về những gì người khác nói. Đây là cuộc sống của các con, nên cứ theo đuổi đam mê của chính mình.

5.Xác định xem mình là người dậy sớm hay là “cú đêm” để có thể làm việc năng suất hơn.

Các con cảm thấy tỉnh táo và tràn đầy năng lượng vào buổi sáng hay khi màn đêm buông xuống? Hãy làm những việc quan trọng nhất vào thời điểm mà mình tỉnh táo nhất. Bên cạnh đó, các con nên điều chỉnh kế hoạch sớm hơn hoặc muộn hơn nếu việc này khả thi.

Ví dụ, các con sẽ học hoặc làm những việc quan trọng nhất vào buổi sáng sớm nếu là người thường dậy sớm. Ngược lại, “cú đêm” thường thích làm những việc đó trước khi đi ngủ.

6.Xác định xem mình là người hướng ngoại, hướng nội hay vừa hướng ngoại vừa hướng nội để chọn ra cách xã giao phù hợp.

Người hướng ngoại được tiếp thêm năng lượng khi ở cạnh những người khác, còn người hướng nội sẽ cần được ở một mình để lấy lại năng lượng. Người vừa hướng ngoại vừa hướng nội sẽ ở khoảng giữa, nghĩa là họ có thể thoải mái khi ở cùng người khác hoặc ở một mình. Việc biết mình thuộc nhóm nào sẽ giúp các con xác định tình huống xã giao nào phù hợp nhất với mình. Cách đơn giản nhất để biết điều này là thực hiện một bài kiểm tra trực tuyến.

Thông thường, người hướng ngoại tập trung vào những việc ở bên ngoài, còn người hướng nội tập trung vào bên trong.

Ví dụ, người hướng nội thích ở nhà vào tối thứ bảy, còn người hướng ngoại thích ra ngoài. Cả hai lựa chọn này đều là những cách tuyệt vời để giúp các con cảm thấy vui vẻ.

Phương pháp 2

Chọn hành động phù hợp với giá trị của mình

1.Sống theo tín ngưỡng tâm linh của mình (nếu có).

Có thể các con đang tôn thờ một tôn giáo nào đó hoặc một số tín ngưỡng tâm linh cá nhân. Các con sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn và gắn kết hơn với thế giới khi đem những niềm tin đó vào cuộc sống hằng ngày. Hãy đưa ra lựa chọn phù hợp với niềm tin và dành thời gian kết nối với đấng tối cao của mình .

Thiền hoặc cầu nguyện mỗi ngày.

Tham gia cộng đồng những người có cùng tín ngưỡng nếu có thể. Đây là cách giúp các con hình thành niềm tin sâu sắc hơn.

Nếu các con bắt gặp bản thân đưa ra những lựa chọn không phù hợp với niềm tin của mình, hãy dừng lại để suy ngẫm xem tại sao mình làm như vậy và cố gắng thay đổi.

2.Điều chỉnh thói quen hằng ngày sao cho phù hợp với giá trị của mình.

Những lựa chọn nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày có thể tạo ra ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các con. Hãy đảm bảo rằng những việc mình làm sẽ củng cố cho các giá trị và mục đích sống của các con. Sau đây là một số thay đổi mà mình có thể thực hiện:

Sử dụng sản phẩm tái chế nếu các con đề cao việc bảo vệ môi trường.

Chọn sản phẩm hữu cơ nếu các con nghĩ thuốc trừ sâu không tốt.

Chọn sản phẩm tự nhiên nếu các con nghĩ rằng các hóa chất có hại cho con người.

Ăn chay để bảo vệ động vật hoặc môi trường.

Đi bộ hoặc đạp xe để giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch.

Quyên góp tiền hoặc thức ăn cho người cần giúp đỡ.

Nhường đường khi tham gia giao thông để lan tỏa thiện chí.

Trả ơn bằng cách cho đi, chẳng hạn như thỉnh thoảng mua cà phê sáng cho ai đó.

3.Đặt ra các mục tiêu cá nhân để giúp mình tiến gần hơn đến mục đích sống của đời mình.

Việc tìm ra mục đích sống vẫn dễ hơn là sống đúng với điều đó. Cách tốt nhất để không lạc lối là đặt ra các mục tiêu giúp các con có cuộc sống đúng theo ý muốn. Hãy nghĩ về những điều quan trọng nhất với mình và chia chúng thành những phần nhỏ. Bước tiếp theo là tạo ra mốc thời gian cho việc hoàn thành từng phần đó để giúp các con đạt được các mục tiêu của mình.[9]

Ví dụ, các con có thể đặt mục tiêu trở thành điều dưỡng. Các bước nhỏ mà mình cần làm sẽ là học giỏi khoa học và toán, tham gia hoạt động tình nguyện tại viện dưỡng lão hoặc bệnh viện, hoàn thành bậc cử nhân và thạc sĩ của ngành điều dưỡng và công tác tại bệnh viện.

Một ví dụ khác, mục tiêu của các con có thể là trưng bày tác phẩm của mình ở nơi công cộng. Như vậy, các con cần tham gia các lớp nghệ thuật để cải thiện kỹ năng, tạo ra các tác phẩm của mình, tham gia các buổi triển lãm nghệ thuật tại địa phương và hỏi xem các quán cà phê gần nhà có thể treo tác phẩm của mình hay không.

4.Chọn con đường học vấn và sự nghiệp hướng đến mục đích sống của mình.

Các con muốn làm điều gì trong đời và con đường sự nghiệp nào liên quan đến mục đích sống của mình? Từ đó, hãy chọn chương trình học và công việc tiếp thêm năng lượng cho các con. Theo đuổi con đường này trong suốt quá trình phát triển của mình.

Có thể những người khác sẽ áp đặt suy nghĩ của họ lên lựa chọn của các con, đặc biệt là người thân trong gia đình. Hãy cố gắng phớt lờ những gì họ nói và làm những gì tốt nhất cho mình. Các con chỉ có một đời để sống, nên cứ làm những gì mà mình yêu thích.

Lời khuyên: Không có điều gì đảm bảo rằng con đường an toàn trong cuộc sống sẽ đưa các con đến thành công. Người khác thường hay nói rằng một công việc hoặc trình độ nào đó sẽ giúp mình thành công, nhưng điều đó chưa hẳn đã đúng. Hãy đưa ra lựa chọn dựa trên những gì mà các con mong muốn trong đời thay vì nghe theo lời hứa hẹn về “thành công”.

5.Tận hưởng những gì mà mình yêu thích ở mức vừa phải để có một cuộc sống cân bằng.

Hãy ăn món các con thích, theo đuổi sở thích của mình và vui đùa cùng bạn bè. Tuy nhiên, các con cũng cần cân bằng những niềm vui này bằng cách chăm sóc bản thân và nỗ lực hoàn thành mục tiêu. Sự chừng mực sẽ giúp mình có cuộc sống viên mãn, thế nên đừng quá sức trong công việc hoặc dành quá nhiều thời gian cho các thú vui.

Ví dụ, hãy tạo lập thói quen giúp các con có thời gian hoàn thành công việc, dọn dẹp, giữ gìn vệ sinh cá nhân, theo đuổi sở thích và dành thời gian cho những người mà mình quan tâm.

6.Cho phép bản thân tiếp tục học hỏi và phát triển khi mình đã hiểu biết hơn.

Khi có thêm nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, các con sẽ nhìn nhận mọi thứ khác hẳn so với khi còn nhỏ. Hãy trân trọng sự hiểu biết và kiến thức mà mình tích lũy được theo năm tháng. Bên cạnh đó, các con cũng cần tiếp nhận thông tin mới và học hỏi từ những người mà mình có cơ hội gặp gỡ. Cởi mở với sự phát triển và thay đổi của bản thân vì đây là cách giúp mình hiểu hơn về cuộc sống.

Lắng nghe câu chuyện của những người mà các con gặp. Cố gắng tìm ra bài học từ trải nghiệm của họ, đặc biệt khi họ có lối sống hoàn toàn khác với mình.

Đọc sách báo hoặc xem phim tài liệu để học hỏi thêm về thế giới xung quanh.

Nếu có thể, các con nên đi du lịch để biết thêm cách sống của người dân ở nơi khác.

Phương pháp 3

Gắn kết và quan tâm đến người khác

1.Kết bạn bằng cách tham gia các lớp học, công việc tình nguyện hoặc câu lạc bộ.

Cách tốt nhất để gặp nhiều người và có các mối quan hệ mới là ra ngoài. Nếu các con thoải mái với việc gặp gỡ người mới, hãy trò chuyện với người mà mình gặp khi mua sắm hoặc khi đi chơi. Nếu không, các con có thể đăng ký tham gia lớp học yêu thích hoặc tham gia câu lạc bộ liên quan đến sở thích của mình. Tham gia hoạt động tình nguyện cũng là một lựa chọn hữu ích.[13]

Tìm các câu lạc bộ trong khu vực của các con trên các nhóm Facebook hoặc Meetup.com. Nếu các con vẫn còn đi học, hãy tìm câu lạc bộ hoạt động sau giờ học.

Nhà văn hóa có thể sẽ đăng thông tin về các câu lạc bộ địa phương.

2.Giao tiếp với bạn thân và người thân thường xuyên.

 Mỗi ngày, các con nên gửi tin nhắn cho người mà mình yêu quý. Ngoài ra, hãy gọi điện thoại hoặc đến thăm họ khi có thể. Đây là cách giúp cho các mối quan hệ ngày càng bền chặt và lành mạnh.

Ví dụ, gửi tin nhắn chào buổi sáng đến người yêu, hỏi thăm cha mẹ và gửi những nội dung hài hước cho bạn bè.

Hẹn đi cà phê với một người bạn hoặc mời họ đến nhà xem Netflix.

Thường xuyên ăn tối cùng gia đình hoặc trò chuyện qua Skype với người thân khi các con sống xa nhà.

3.Dành toàn bộ sự chú ý cho người đang ở cùng mình.

Các con nên bỏ thói quen kiểm tra điện thoại hoặc gửi tin nhắn khi đang ở bên bạn bè, người thân hoặc người yêu. Hãy tập trung vào khoảng thời gian ở bên ai đó và lắng nghe những gì họ nói. Đây là cách gìn giữ sự khắng khít của các mối quan hệ và giúp các con gắn kết hơn với người khác.

Khi đi chơi với bạn bè, các con cũng nên dành thời gian riêng cho việc trò chuyện. Ví dụ, khi đi xem phim, mình có thể dành 15 phút để trò chuyện trước khi thưởng thức bộ phim.

Nếu người kia tập trung vào điện thoại, hãy cho họ biết rằng mình muốn họ chú ý vào buổi gặp gỡ. Các con có thể nói: “Tớ rất vui vì chúng ta có thể hẹn gặp tối nay. Nhưng sẽ tuyệt hơn nếu cậu có thể không dán mắt vào điện thoại trong khi ăn tối.”

4.Chọn những người bạn giúp mình cảm thấy tốt hơn về bản thân.

Thay vì chọn những người bạn trông có vẻ thú vị, các con nên chọn những người quan tâm đến mình, sẵn sàng hỗ trợ và cho các con lời khuyên. Đó là những người mình sẽ làm cho cuộc sống của các con tuyệt vời hơn! Hãy dành thời gian cho những người mà mình thích ở cạnh.

Đối xử với bạn bè theo cách mà các con muốn được đối đãi. Hãy có mặt khi họ cần và không ngừng động viên.

Đừng lo lắng về việc chủ động cắt đứt liên lạc với những người tiêu cực. Các con chỉ cần tập trung chào đón sự tích cực và những người tiêu cực sẽ tự nhiên biến mất khỏi cuộc sống của mình.

5.Cho đi nhiều như cách mà mình nhận từ các mối quan hệ.

Các mối quan hệ tốt đẹp thường bao gồm cho và nhận, nên các con không thể chỉ nhận mà thôi. Hãy cố gắng đáp lại sự tử tế của bạn bè, người thân hoặc người yêu. Việc tạo ra sự cân bằng sẽ giúp các con nuôi dưỡng mối quan hệ bền chặt.

Ví dụ, nếu bạn bè giúp các con điều gì đó, hãy đáp lại theo cách tương tự hoặc bằng một cử chỉ tốt đẹp khác, như mua cho họ một cốc cà phê.

Tương tự như vậy, khi người yêu luôn làm cho các con những gì mà mình muốn, hãy chủ động nói rằng các con sẽ làm việc mà họ thích trong lần tiếp theo.

Lời khuyên: Nếu các con đang trong mối quan hệ với một người chỉ biết nhận, đừng vội thất vọng về họ và hãy nghĩ rằng họ không biết bản thân đang làm việc đó. Bước tiếp theo là trao đổi với họ về vấn đề này. Các con có thể nói: “Em cảm thấy gần đây mình đang cho mối quan hệ này nhiều hơn những gì có thể nhận lại. Anh thấy chuyện giữa hai chúng ta đang như thế nào?”

6.Nhìn nhận mặt tốt của người khác.

Cách nhìn của các con về cuộc sống sẽ thay đổi theo hướng tích cực khi mình  nghĩ rằng ai cũng tốt đẹp. Bên cạnh đó, các con cũng sẽ dễ dàng nhận ra điểm tốt của bản thân, giúp cho tâm trạng của mình tốt hơn. Vì vậy, hãy cố gắng suy nghĩ tích cực về người khác. Sau đây là một số gợi ý dành cho các con:

Đừng vội nghĩ xấu cho ai khi sự việc chưa rõ ràng.

Nhìn nhận điều tốt đẹp trong mỗi hành động.

Nhìn vào ưu điểm của người khác thay vì khuyết điểm.

Tập trung vào những nét tính cách tốt thay vì chưa tốt.

Nhớ rằng không phải ai cũng đi trên hành trình giống các con.

7.Mở lòng đón nhận tình yêu khi mình sẵn sàng.

Trước khi tìm tình yêu, các con cần phải hiểu chính mình. Tiếp theo là suy nghĩ về điều mà mình mong muốn nhất ở người yêu. Khi gặp ai đó khiến mình “cảm nắng”, các con nên thử tìm hiểu họ để biết hai người có phù hợp với nhau không. Hãy để mối quan hệ phát triển thành tình yêu khi các con dần thân thiết hơn với họ.

Các con sẽ yêu nhiều lần trong đời. Đây là một hành trình đau đớn, nhưng sẽ giúp các con tìm ra một nửa hoàn hảo của mình.

Đừng cưỡng cầu trong tình yêu. Những mối quan hệ tốt đẹp nhất đều cần thời gian để phát triển thành sự gắn kết chân thành.

Lời khuyên

Can đảm bước ra thế giới và tôn trọng người khác.

Làm theo lẽ phải.

Chăm sóc bản thân về mặt thể chất lẫn tinh thần.

Kiên nhẫn với bản thân.

CON ĐƯỜNG TA ĐI

Dẫu cho đời có bể dâu

Trong ta vẫn cạn nỗi sầu thế gian

Dẫu cho muôn sự ngổn ngang

Trong ta vẫn có con đường để đi

Dẫu cho cuộc sống đầy vơi

Trong ta đã có luân hồi phái sinh

Dẫu cho đời có vô tình

Thì ta vẫn giữ tâm kinh pháp truyền.

Dẫu sinh diệt, vẫn thảnh thơi

Vì ta đã có pháp thời hôm nay

Dẫu cho đời có thế nào

Trong ta vẫn có nẻo vào chân như.

Dẫu cho đời cả sương mù

Tâm ta vẫn sáng giữa phù trần mê

Dẫu cho đời vỡ bờ đê

Trong ta vẫn có đường về chân nguyên.

Đường xưa rũ sạch bụi phiền

Đường nay rũ sạch đôi miền có – không

Trắng thơm ta có tấm lòng

Thương ai phiêu dạt giữa dòng thế gian

Thương ai bỏ mất tu tường

Bỏ quên tri thức trong đường tiến thân.

Các con các cháu rất yêu của ta

Tự đề cũng như bài thơ ta viết trên ta đề cập nhiều đếm : Pháp ; Tôn trọng pháp ; và khuyên áp dụng Pháp , kích thích pháp, không chống lại pháp . Thế Pháp là gì? Theo định ước của ta ,Pháp là : “Con Đường Đời Ta Đi”

Thế con đường đó : “Con Đường Đời Ta Đi” gồm những gì ? rộng hay hep? dài hay ngắn ?...

Hàm Fx:“Con Đường Đời Ta Đi” = Các hệ thống (Khái+Định +Quy)

Muốn đi trên con đường này để về đích :Thành Người Thành Đạt Hạnh Phúc , nhanh hay chậm , đến hay không đến được đích còn tùy thuộc vào :Niềm Tin,Nỗ lực, Ghi Nhớ-Chất lương thực hiện-Tần xuất thực hiện , của mỗi các nhân

“Con Đường Đời Ta Đi” dài hay ngắn là do mỗi cá nhân: Hiểu- áp dụng  tất cả các thành tố cấu tạo thành con đường .Muốn hiểu phải Tu Học ; Muốn áp dụng phải làm việc ,Muốn sống hạnh phúc phải tuân theo ,không được cưỡng lại.

“Con Đường Đời Ta Đi” rộng hay hẹp là do mỗi con người tôn trọng và thực thi nó thế nào , cảm nhận ra làm sao ….

“Con Đường Đời Ta Đi” bao gồm tất cả các yếu tố nội và ngoại hàm  : Khái niệm + Định nghĩa + Định lý + Định luật + Quy luật + Quy định của pháp luật , của cả tự nhiên .của cả xã hội , của cả con người .

Choáng rồi phải không ? từ từ , các thành tố cấu tạo nên con đường này chỉ bao gồm (xếp theo trật tự ABC) : BẢN NĂNG  , BẢN THÂN  , CÁI ÁC  , CÁI CHẾT , CẢM XÚC ,CÁN DỖ , CHỊU TRÁCH NHIỆM VIỆC MÌNH LÀM , CÔNG ƠN CHA MẸ ,ĐAM MÊ , DANH TÍN  , ĐAU THƯƠNG ,GIA ĐÌNH , HÃM HẠI NGƯỜI KHÁC , HẬN THÙ , HẠNH PHÚC , HIỆN TẠI , KHÓ KHĂN ,KINH NGHIỆM ,LAO ĐỘNG , LẼ PHẢI , LỜI HỨA , LÒNG KIÊN TRÌ , LÒNG TỐT ,  NGÀY MAI ,  NHÂN CÁCH , NHẬN THỨC , NIỀM TIN ,  PHẢN BỘI LÒNG TIN , PHÁP ,  SỐNG THẬT , SỰ BAO DUNG , SỰ GIÚP ĐỠ CỦA NGƯỜI KHÁC , SỰ ÍCH KỶ , SỰ KHÁC BIỆT ,  SỨC KHỎE , THÂN , THÀNH ĐẠT , TIỀN BẠC  , TÌNH YÊU , TRI THỨC .

Để đi vào vấn đề cụ thể như tựa đề ta đặt Tôn Trọng Và Áp Dụng Pháp; Chúng ta cùng nhau làm rõ các vấn đề như là : khái niệm; định nghĩa , phạm trù , định lý định luật, quy luật ….

 

Khái niệm

Khái niệm là một đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao gồm một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù lôgic, hoặc một sự suy diễn) phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của các đối tượng sự vật, quá trình, hiện tượng trong tâm lý học và mối liên hệ cơ bản nhất các đối tượng trong hiện thực khách quan.

Việc tạo ra một khái niệm là một chức năng cơ bản của sự cảm nhận và suy nghĩ. Các khái niệm cho phép ta hệ thống hóa hiểu biết của ta về thế giới.

Hai dạng khái niệm cơ bản:

Khái niệm cổ điển : Với các giới hạn rõ rệt, dựa vào các định nghĩa chính xác, có mang các điều kiện cần và đủ, để đối tượng cho trước có thể được coi như là một đại diện xứng đáng trong một thể loại cho trước;

Khái niệm tự nhiên : Thay vì dựa vào các định nghĩa và các điều kiện cần và đủ, thì lại dựa vào sự đồng dạng so với những đối tượng tiêu bản đã được lưu lại trong trí nhớ.

Định nghĩa

Định nghĩa là sự xác định bằng ngôn ngữ nhất định những đặc trưng cơ bản tạo thành nội dung của khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá trình, với mục đích phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Định nghĩa có vai trò quan trọng trong khoa học và là bộ phận căn bản trong mọi lý thuyết khoa học.

Các nguyên tắc của định nghĩa:

Nguyên tắc tương xứng, nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa và ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau

Không nói vòng quanh

Không nói theo cách phủ định

Phải rõ ràng, nghĩa là định nghĩa không chứa những thuộc tính có thể suy ra từ thuộc tính khác

Ví dụ: Hình vuông là hình có 4 góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau.

Để định nghĩa một khái niệm nào đó, người ta thường ghép nó với một khái niệm lớn hơn (chủng), rồi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của khái niệm cần định nghĩa (đặc điểm về loại). Ví dụ, định nghĩa về carbon: "carbon" là nguyên tố hóa học (chủng) có trọng lượng nguyên tử bằng 12 đơn vị carbon (đặc điểm về loại)". Đối với những khái niệm lớn và bao trùm, chẳng hạn như khái niệm vật chất, ý thức, người ta sử dụng cách định nghĩa ngoại lệ.

Trong toán học, khi đưa ra 1 định nghĩa, người ta thường liệt kê các điều kiện cần và đủ để xác định khái niệm đó. Một khái niệm trong toán học do đó có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, điển hình là số e.

Thông thường có 4 cách định nghĩa trong toán học:

-         Phương pháp cấu trúc chỉ rõ cách xây dựng khái niệm đó

-         Phương pháp quy khái niệm đang xét về những khái niệm đã biết

-         Phương pháp tiên đề, định nghĩa một khái niệm thông qua các tiên đề: ví dụ định nghĩa về song song

-         Phương pháp quy nạp dựa trên 2 yếu tố:

Những đối tượng xuất phát hoặc cơ bản của hệ thống

Những quy tắc hay thao tác cho phép dùng những đối tượng hiện có để tạo thành đối tượng mới của hệ thống

Định nghĩa mờ

Định nghĩa mờ trong lô gíc mờ còn được gọi là định nghĩa thao tác, là phương pháp định nghĩa một sự vật thông qua một tập hợp nhận định gần đúng về sự vật đó nhờ một loạt thao tác có thể tạo ra bằng thực nghiệm hoặc quan trắc mà kết quả khách quan của nó có thể trực tiếp nhận biết được thông qua sự quan sát có tính chất kinh nghiệm hay bằng đo lường. Ví dụ định nghĩa về lửa như sau: "Lửa là một cái gì đó nóng". "Lửa là cái phát sáng". "Lửa là sức mạnh của thần thánh"...

So sánh khái niệm và định nghĩa

Sự khác nhau cơ bản nhất giữa khái niệm và định nghĩa ở chỗ:

Định nghĩa là lời giải thích làm cho rõ nghĩa của từ hoặc của khái niệm.

Còn khái niệm cũng có thể xem như lời giải thích (như ở định nghĩa) nhưng lời giải thích này được phần đông nhân loại hoặc tổ chức có chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể mà khái niệm đó nhắc tới công nhận, thừa nhận.

Phạm trù

Phạm trù là một trong những phương tiện nhận thức thế giới dùng trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội. Khái niệm phạm trù được xuất hiện trong quá trình hình thành triết học. Trong vô vàn những sự vật, hiện tượng, quá trình hỗn loạn của thế giới xung quanh. Con người cần tách riêng một tập hợp nào đó ra, tập trung sự chú ý, xác định những đặc điểm tiêu biểu của quy luật phát triển hiện vật, hiện tượng, xem xét quan hệ xung quanh thế giới quan. Như vậy phạm trù không đơn giản như là sự phân loại. Phân loại có được chỉ sau khi xác định được lý thuyết phạm trù.

Phạm trù của một nội dung nào đó bao gồm khái niệm tương đồng về nó. Khái niệm được xác định bởi định nghĩa chung nhất với những đặc điểm chung nhất. Nội dung xác định bởi toàn bộ những đặc điểm có thể có, quy luật phát triển của các đặc điểm, quan hệ đối với các điều khác trong ngoài thế giới. Định nghĩa nội dung của điều được xem xét tạo nên ranh giới nhất định của phạm trù tương ứng.

Phạm trù là thành phần kết cấu nên lý thuyết.

Một số khái niệm khác về phạm trù

Đó là khái niệm chung nhất có giới hạn, có khả năng hàm chứa nhiều nhất.

Trong phép biện chứng logic đó là khái niệm phản ánh giai đoạn tuần tự sự hình thành điều cụ thể nguyên vẹn nào đó.

Trong thuyết siêu hình đó là cách gọi của các dạng tồn tại khác nhau.

Một trong các lĩnh vực trừu tượng nhất của toán học hiện đại là lý thuyết phạm trù sử dụng thuật ngữ "phạm trù" như là thuật ngữ cơ sở xuất phát từ Immanuel Kant.

Các kiểu phạm trù trong triết học

-Các phạm trù của Aristotle

-Các phạm trù của Immanuel Kant

-Các phạm trù của Georg Hegel

Ứng dụng trong nghiên cứu và ứng dụng.

Phạm trù là khái niệm hàm chứa chung nhất, khó xác định trong khuôn khổ một lý thuyết nói riêng hay ngành khoa học nào đó nói chung. Phạm trù được xem là thành phần kết cấu của sơ đồ phạm trù xác định quy trình tư duy. Mỗi phạm trù nhờ khả năng giải mã cũng là yếu tố lưu giữ trạng thái quy trình. Phạm trù được dùng trong việc hệ thống hóa kiến thức qua quá trình nhận thức, trong đó chúng đóng vai trò ấn định tên cho đề mục. Cùng với những định nghĩa trên phạm trù còn được công nhận trong sự hình thành siêu ngôn ngữ mà thành phần của nó là các định nghĩa "lớp kiến thức". Phạm trù là đơn vị đặc biệt bảo đảm quá trình chuyển dịch kiến thức (knowledge transfer) trong nghiên cứu liên ngành. Phạm trù ghi giữ các lớp kiến thức, các giai đoạn và các yếu tố của quá trình nhận thức, vì thế nó thuộc về hệ thống quản lý kiến thức. Phạm trù cho phép liên hệ bất cứ kiến thức nào với triết học và ngược lại, liên hệ triết học đến bất kỳ lĩnh vực kiến thức nào. Tuy có sự chú ý đáng kể đối với phạm trù nhưng ứng dụng chúng vào quá trình nhận biết thế giới vẫn diễn ra ở mức cảm tính.

So sánh : Khái niệm & phạm trù

Khái niệm và phạm trù là hai mặt của phương thức định nghĩa về bản thân ta-thế giới. Tức là, về thực chất, chúng là một: khái niệm là một phạm trù giác tính với nội hàm đủ thông số - xác định rõ ràng được các “yếu tố đáng kể” - để có thể tri giác và diễn đạt được bằng các hình ảnh trực giác đã biết, đồng thời dễ dàng có thể tìm kiếm đối tượng ở ngay xung quanh; phạm trù là một khái niệm có ngoại diên được mở rộng tối đa - tức là nội hàm tối thiểu đủ có thể phân biệt với các phạm trù khác, và vì vậy để diễn đạt phạm trù này phải thông qua mối quan hệ với các phạm trù khác dễ hình dung hơn.

Ranh giới giữa khái niệm và phạm trù rất mong manh. Thực chất cả hai là một, chúng chỉ khác nhau ở một điểm rất nhỏ và tương đối trừu tượng, đó là: phạm trù là một loại khái niệm mà có nội hàm tối thiểu, tức là có ngoại diên tối đa. Khi nói “tối thiểu” tức là cần phải đặt phạm trù trong mối quan hệ với một lớp các khái niệm có chung những yếu tố nội hàm nhất định. Chẳng hạn, khái niệm hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác... có phạm trù chung trong toán là: hình học. Còn khi đặt cái được gọi là phạm trù ở trên trong mối quan hệ với những khái niệm không có chung nội hàm thì nó cũng chỉ là một khái niệm.

Nếu đối tượng của mỗi khoa học cụ thể là một đối tượng cụ thể được mô tả bởi các khái niệm và hệ thống các lý thuyết về sự vận động của đối tượng đó (mối liên hệ các các khái niệm) thì đối tượng của triết học là cả thế giới như một chỉnh thể được mô tả bởi các phạm trù và hệ thống các học thuyết về sự tồn tại và sự vận động tự thân - mối quan hệ giữa các phạm trù. Nếu không vạch ra được các khái niệm cũng như khái quát được những mối quan hệ cơ bản của các khái niệm làm cơ sở lý thuyết thì các khoa học cụ thể sẽ không thể hình thành; tương tự như vậy, nếu không nêu lên được các phạm trù và khái quát được mối quan hệ cơ bản của các phạm trù thì triết học cũng không còn đất tồn tại. Khi những cây xanh của khoa học cụ thể và triết học không được nảy sinh thì sẽ tạo ra một khoảng đất trống mênh mông cho các loài cỏ huyền thoại, thần thoại và triết thuyết tôn giáo nảy sinh. Và ngay cả khi cây xanh mọc um tùm thì cỏ vẫn cứ mọc. Tất nhiên là Tạo Hóa không phân biệt giữa cỏ dại và cây xanh, đó là lý lẽ của con người.

Bất cập của loại ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm) là khả năng diễn đạt dài dòng. Trong khi chưa diễn đạt xong ý này thì ý khác đã ập tới. Và khi nhiều ý cùng muốn diễn đạt một lúc thì khiến cho ngôn ngữ trở nên bế tắc. Vậy nên trong giao tiếp giữa ta và thế giới, điều quan trọng là cần nắm bắt và thông suốt được tâm ý. Cần có khả năng tư duy trên ngôn ngữ "vô hạn" (phạm trù) thay vì ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm). Tạo Hóa vốn không phân biệt; sự phân biệt vốn chỉ là lý lẽ của con người. Mọi ranh giới phân biệt đều rất mong manh, tương đối. Ngôn ngữ là vỏ bọc tư duy. Khả năng sử dụng ngôn ngữ tùy thuộc vào năng lực phân biệt trong tư duy của người đó. Vì lẽ đó, cần truyền đạt và nắm được cái mạch ý tưởng thống nhất của người nói (mối liên hệ giữa các phạm trù tư tưởng), chứ đừng quá câu nệ về sự xung đột (mâu thuẫn) trong giới hạn nhất định của việc sử dụng ngôn từ (khái niệm). “Ý tại ngôn ngoại” cũng bao hàm cái ý nghĩa như vậy. Nếu khái niệm diễn đạt hiện tượng thì phạm trù diễn đạt bản chất. Hiện tượng và bản chất có sự thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn; cũng như vậy, ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các khái niệm) và nội dung truyền tải trong ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các phạm trù tư tưởng) cũng có tính thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn. Đó chính là sự bất cập của tư duy ngôn ngữ cũng như việc lấy các hiện tượng minh họa, dẫn tới những loại ngụy biện trong việc sử dụng ngôn ngữ và những hiện tượng minh họa phiến diện. Để lĩnh hội được những ý tưởng được diễn đạt bằng ngôn từ thì cần coi trọng cái đầu hơn đặt nặng trái tim; nhưng để lĩnh hội được những điều vốn được diễn đạt ở bên ngoài lời thì cần coi trọng trái tim hơn cái đầu.

Để nghiên cứu thế giới vi mô cần hợp nhất những "khái niệm đối lập" mang tính phân biệt của thế giới vĩ mô thành các phạm trù độc lập (không còn tính phân biệt thô thiển) – dạng phân biệt tinh tế hơn.

Khái niệm định lý :

Một tính chất được khẳng định là đúng bằng suy luận được gọi là định lí. Định lí thường phát biểu dưới dạng: ” Nếu A thì B” với A là giả thiết, là điều kiện cho biết, B là kết luận, là điều được suy ra. 2. Chứng minh định lí

Chứng minh định lý :

Là dùng suy luận để khẳng định kết luận (được suy ra từ giả thiết) là đúng

Kết cấu :

Một định lý thường bắt đầu bằng việc giới thiệu các điều kiện (input - nhiều khi các điều kiện được giới thiệu trước khi đi vào định lý); tiếp đến là một kết luận (output), đúng trong trường hợp của các điều kiện đã nêu. Phần chứng minh, mặc dù là cần thiết để khẳng định đề xuất là định lý, thường không nằm trong phát biểu của định lý. Một đề xuất có vẻ đúng nhưng chưa được chứng minh gọi là phỏng đoán. Các phỏng đoán giữ vai trò quan trọng còn được gọi là định đề.

Các đề xuất toán học đúng đắn cần phải có ý nghĩa hay độ tổng quát nhất định để được gọi là định luật. Nếu độ quan trọng, hay độ tổng quát thấp, chúng có thể được gọi là bổ đề, tức là các đề xuất nằm trong phần chứng minh cho một định lý tổng quát hơn, hay hệ quả, tức là các kết luận dễ dàng suy ra từ định lý quan trọng hơn. Tuy nhiên việc phân loại theo độ quan trọng này khá tùy tiện.

Các định lý thường là một phần của một hệ thống lôgíc gọi là hệ tiên đề; trong đó, các định lý được suy luận từ các tiên đề hay từ các định lý đã được chứng minh khác.

Định luật

Các định luật là các phát biểu mô tả hoặc dự đoán một loạt các hiện tượng tự nhiên. Mỗi định luật khoa học là một tuyên bố dựa trên những quan sát thử nghiệm lặp đi lặp lại mô tả một số khía cạnh của vũ trụ. Thuật ngữ này có cách sử dụng đa dạng trong nhiều trường hợp (lý thuyết gần đúng, chính xác, rộng hoặc hẹp) trên tất cả \lĩnh vực khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học, địa chất, thiên văn học,...). Các định luật khoa học tóm tắt và giải thích một tập hợp lớn các sự kiện được xác định bằng thí nghiệm và được kiểm tra dựa trên khả năng dự đoán kết quả của các thí nghiệm trong tương lai. Chúng được phát triển từ thực tế hoặc thông qua toán học và được hỗ trợ mạnh mẽ bởi bằng chứng thực nghiệm. Người ta thường hiểu rằng chúng phản ánh các mối quan hệ nhân quả cơ bản với thực tế, và được phát hiện chứ không phải được phát minh.

Định luật phản ánh kiến ​​thức khoa học rằng các thí nghiệm đã nhiều lần xác minh (và không bao giờ làm sai lệch). Độ chính xác của chúng không thay đổi khi các lý thuyết mới được thực hiện, mà là phạm vi áp dụng, vì phương trình (nếu có) đại diện cho luật không thay đổi. Cũng như các kiến ​​thức khoa học khác, chúng không có sự chắc chắn tuyệt đối (như các định lý hoặc định danh toán học làm) và luôn luôn có thể luật bị đảo ngược bởi các quan sát trong tương lai. Một luật thường có thể được xây dựng dưới dạng một hoặc một số câu hoặc phương trình, để nó có thể được sử dụng để dự đoán kết quả của một thí nghiệm, do hoàn cảnh của các quá trình diễn ra.

Định luật khác với giả thuyết và định đề, được đề xuất trong quá trình khoa học trước và trong khi xác thực bằng thí nghiệm và quan sát. Các giả thuyết và định đề không phải là luật vì chúng chưa được xác minh ở cùng mức độ và có thể không đủ chung chung, mặc dù chúng có thể dẫn đến việc xây dựng luật. Một luật là một tuyên bố chính thức và vững chắc hơn, được chắt lọc từ thí nghiệm lặp đi lặp lại. Luật pháp có phạm vi hẹp hơn so với các lý thuyết khoa học, có thể chứa một hoặc một số luật. Khoa học phân biệt một định luật hoặc lý thuyết với thực tế. Gọi một định luật là một thực tế là mơ hồ, nói quá hoặc một sự không tương xứng. Mặc dù bản chất của một quy luật khoa học là một câu hỏi trong triết học và mặc dù các quy luật khoa học mô tả bản chất về mặt toán học, các định luật khoa học là những kết luận thực tế đạt được bằng phương pháp khoa học; chúng được dự định không mang nặng các cam kết về bản thể học cũng như các tuyên bố về sự tuyệt đối hợp lý.

Theo sự thống nhất của luận án khoa học, tất cả định luật khoa học đều tuân theo căn bản từ vật lý. Các luật xảy ra trong các ngành khoa học khác cuối cùng cũng tuân theo các quy luật vật lý. Thông thường, từ các quan điểm cơ bản về mặt toán học, các hằng số phổ biến xuất hiện từ một định luật khoa học.

Luật là gì

Luật là một loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc. hội (Nghị viện) ban hành, có hiệu lực pháp lí cao nhất, chỉ dưới Hiến pháp. Ví dụ: Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ... Tất cả các văn bản pháp luật khác do các cơ quan nhà nước khác ban hành đều là văn bản dưới luật.

Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước, các bộ luật và các đạo luật.

Trong một số ngữ cảnh nhất định, luật có thể hiểu là pháp luật nói chung. Ví dụ: khoa học luật, đại học luật, sinh viên luật, tiến sĩ luật, nghề luật, luật sư, luật gia.

Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi. có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định.

Ví dụ: ngành luật dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng, chế định thừa kế, chế định quyền tác giả... Ngành luật hình sự có các chế định như các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân...

Luật pháp

Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án, trong đó, quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.

Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án,

Lịch sử

Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án.....Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều có hai "nhánh" là thực thi luật pháp theo con đường hành chính và thực thi theo con đường hình sự. Hành chính và hình sự là hai cấp độ khác nhau và không thể đồng thời áp dụng lên một hành vi vi phạm. (Cụ thể xin vui lòng xem thêm quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành để biết quy định nào sẽ cấu thành tội phạm hình sự và hành vi nào sẽ bị xử phạt hành chính).

Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm.....

Trong xã hội dân dự, mặc dù Tòa án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi. Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Tòa án chưa trở thành một thói quen và văn hóa pháp luật.

Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý.

Bản chất

Bản chất của luật pháp phản ánh bản chất của Nhà nước đặt ra nó. Nhà nước kiểu nào thì pháp luật kiểu đó. Chính vì vậy, luật pháp có tính chất giai cấp. Luật pháp còn có tính xã hội vì nó chứa đựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ. Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước. Bản chất này cho phép luật pháp gần gũi với dân chúng, được dân chúng ủng hộ, do đó mà có hiệu quả điều chỉnh lên các quan hệ xã hội. Luật pháp có tính thời đại, nghĩa là phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng hội nhập với luật pháp quốc tế.

Thuộc tính của luật pháp

Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn các quy phạm xã hội khác.

Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ. Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật.

Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.

Các hệ thống pháp luật trên thế giới.

Hình trên bia mộ vua Hammurabi mô tả thần Shamash đang tiết lộ bộ luật cho vua. Hiện vật bảo tàng Louvre.

Nói chung có 4 hệ thống pháp luật đang được thực thi ngày nay trên thế giới.

Dân luật/Luật châu Âu lục địa

Hệ thống luật châu Âu lục địa hay dân luật là sự pháp điển hóa đặt thành một hệ thống bao hàm toàn diện các quy tắc được áp dụng và làm sáng tỏ bởi các quan tòa. Đây là hệ thống luật được thực thi lớn nhất trên thế giới, với khoảng 60% dân số thế giới sống tại các quốc gia được điều hành bởi hệ thống luật này.

Sự khác biệt quan trọng nhất của hệ thống luật này với thông luật hay luật Anh-Mỹ, là thông thường thì chỉ có các quy định trong các đạo luật mới được coi là có giá trị ràng buộc pháp lý mà không phải là các tiền lệ, ngoại trừ các trường hợp tương tự đã được phán quyết tại tòa án tối cao. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử đối với các trường hợp tương tự thì các tòa án thông thường theo các phán quyết trước đây của mình. Ngoài ra, tại một số hệ thống luật pháp theo hệ thống luật châu Âu lục địa (chẳng hạn tại Đức), các văn bản của các học giả pháp lý cũng có ảnh hưởng đáng kể tại tòa.

Trong phần lớn các chế định pháp lý thì lĩnh vực hạt nhân của luật tư được pháp điển hóa trong dạng luật dân sự, nhưng trong một số trường hợp, chẳng hạn tại Scotland thì chúng không được pháp điển hóa. Hệ thống luật châu Âu lục địa có nguồn gốc từ Luật La Mã, đã được các học giả và các tòa án kế tục và sử dụng từ cuối thời kỳ Trung cổ trở đi. Phần lớn các hệ thống pháp lý ngày nay có nguồn gốc từ xu hướng pháp điển hóa trong thế kỷ 19. Luật dân sự của nhiều quốc gia, cụ thể là tại các thuộc địa cũ của Pháp và Tây Ban Nha có các vết tích từ bộ luật Napoleon trong nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, điều này không đúng đối với phần lớn các quốc gia trong khu vực Trung và Đông Âu, Scandinavia và Đông Á. Đáng chú ý là Bộ Luật Dân sự của Đức BGB đã được phát triển từ luật La Mã với sự tham chiếu tới các tập quán pháp lý của Đức và có ảnh hưởng quyết định tới sự đi theo dân luật tại các quốc gia khác.

Tầm quan trọng của luật Napoléon cũng không nên cường điệu hóa quá mức do nó chỉ bao hàm một số lĩnh vực cơ bản của luật tư, trong khi còn có các bộ luật khác điều chỉnh các lĩnh vực như luật doanh nghiệp, luật hành chính, luật thuế và hiến pháp v.v.

Thông luật/luật Anh-Mỹ

Thông luật hay luật Anh-Mỹ là một hệ thống pháp luật với hình thức pháp lý đặc thù là tiền lệ pháp. Đó là pháp luật dựa trên các phán quyết tạo ra tiền lệ (stare decisis) từ các vụ án trước đó. Hệ thống thông luật hiện nay được áp dụng tại Ireland, Anh, Australia, New Zealand, Nam Phi, Canada (ngoại trừ Québec) và Hoa Kỳ (bang Louisiana sử dụng cả thông luật và dân luật Napoleon). Ngoài ra, một số quốc gia khác cũng áp dụng hệ thống thông luật trong một hệ thống hỗn hợp, chẳng hạn như Pakistan, Ấn Độ và Nigeria chủ yếu áp dụng hệ thống thông luật, nhưng kết hợp cả luật tôn giáo và tập quán pháp.

Tập quán pháp

Tập quán pháp là những tập quán có ích sẵn có đối với một nhà nước mới được thành lập và được nhà nước này thừa nhận làm pháp luật. Lưu ý là luật tập quán cũng có thể thích hợp trong các phán quyết tại các hệ thống pháp lý khác trong những lĩnh vực hay vụ việc mà các quy định pháp lý điều chỉnh lại không (hoặc chưa) tồn tại. Ví dụ, tại Áo, các học giả luật tư thông thường cho rằng luật tập quán vẫn còn tồn tại, trong khi các học giả luật công lại không công nhận điều này. Trong bất kỳ trường hợp nào, rất khó để tìm các ví dụ thích hợp trong thực tế.

Luật tôn giáo

Bài chính: Luật tôn giáo.

Nhiều quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật của mình trên cơ sở các nguyên lý tôn giáo. Hệ thống có ảnh hưởng lớn nhất trong dạng này là Sharia, hay luật Hồi giáo.

Luật Do Thái (Halakha), được tuân thủ bởi những người Do Thái Chính thống và Bảo thủ (trong các dạng khác nhau đáng kể) đề cập cả các quan hệ có tính chất tôn giáo cũng như dân luật. Tuy nhiên, không giống như Sharia, hiện nay không có quốc gia nào có luật pháp tuân theo Halakha một cách đầy đủ.

Ở mức độ nhỏ hơn thì hiện nay vẫn còn các khu vực trên thế giới áp dụng luật giáo hội, nó được tuân thủ bởi những người theo Công giáo và Anh giáo, và hệ thống pháp lý tương tự được sử dụng bởi Chính thống giáo Đông phương. Tuy nhiên, luật giáo hội Kitô giáo ngày nay gần như chỉ để phân xử các quan hệ tôn giáo chứ không giống như Sharia, trong đó nó liên quan tới cả dân luật (chẳng hạn các quyền về tài sản, hợp đồng, công ty, hiệp hội và đền bù tổn thất) cũng như luật hành chính.

Các bộ phận của luật

Trong nghĩa rộng, các bộ phận của luật pháp có thể phân chia trên cơ sở bên nào là bên có tố quyền. Một điều rất phổ biến là các lĩnh vực thực tế của áp dụng luật pháp có thể bao trùm nhiều bộ phận của luật pháp.

Luật tư (luật dân sự)

Lĩnh vực của luật tư (luật dân sự) là hệ thống pháp lý liên quan đến các bộ luật điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân hay pháp nhân (không nhà nước).

Luật tư có thể coi như là luật dân sự mở rộng, nó không chỉ là hệ thống dân luật thịnh hành ở nhiều quốc gia mà còn bao gồm cả những gì có trong đời sống pháp luật của một cá nhân mà không có sự chi phối mạnh mẽ của Nhà nước như hôn nhân gia đình, thừa kế, thương mại (nói chung là các lĩnh vực mà các bên liên quan thiết lập theo thỏa thuận là chính).

Luật tư quốc tế là sự mở rộng của luật tư để hướng dẫn cách xử sự, giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân hay pháp nhân thuộc các hệ thống tư pháp khác nhau (xuyên quốc gia). Nó bao gồm cả các hợp đồng thương mại như vận đơn (để vận chuyển) và các quyền cá nhân v.v đến thừa kế tài sản. Các thành phần quan trọng của luật tư quốc tế vẫn chưa được pháp điển hóa trong các điều khoản của các điều ước quốc tế (chẳng hạn lex situs - địa điểm thích hợp của quyền sở hữu tài sản) nhưng nói chung được công nhận tại các quốc gia và vì thế vẫn duy trì ở dạng luật tập quán.

Ví dụ: Khi ông A là người Việt Nam đi du lịch sang Hoa Kỳ, tại đây, chẳng may ông bị tai nạn giao thông, đưa vào bệnh viện, trước khi qua đời ông di chúc miệng lại cho con trai của ông đang ở Việt Nam tài sản là 100.000 USD mà ông đang gửi ở một ngân hàng tại Thụy Sĩ. Như vậy luật pháp của nước nào sẽ được dùng để xử lý di chúc này, đó là một trong rất nhiều lĩnh vực mà Luật tư quốc tế điều chỉnh.

Khi mà các quy định của luật tư quốc tế khác với các luật tư quốc gia thì ở đó tồn tại mâu thuẫn luật.

Luật công

Trong nghĩa chung nhất thì lĩnh vực của luật công là các sắc luật trong hệ thống luật pháp đang đề cập tới nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức nhà nước ở các cấp độ khác nhau, cũng như điều chỉnh các tranh chấp giữa tổ chức nhà nước với các cá nhân, pháp nhân khác (phi-nhà nước) trong phạm vi quốc gia đó. Các tổ chức nhà nước sử dụng tố quyền để khởi kiện các cá nhân vì các vi phạm hình sự cũng như các cá nhân/pháp nhân vì các vi phạm luật pháp khác. Luật công có thể chia thành 3 tiểu thể loại: hiến pháp, luật hành chính và luật hình sự.

Tương tự, các cá nhân/pháp nhân cũng có thể khởi kiện các cơ quan, tổ chức nhà nước (công quyền) vì các tổn thất mà các tổ chức nhà nước đã gây ra cho họ. Nó bao gồm các nền tảng trên cơ sở các quy định, sắc luật được đưa ra vượt quá khả năng của họ hay dẫn đến các vi phạm các quyền cá nhân. Hai điểm đang đề cập này thông thường được bảo vệ bởi hiến pháp của quốc gia đó.

Luật tố tụng

Luật tố tụng là lĩnh vực của luật pháp điều chỉnh quy trình tiến hành vụ việc pháp lý. Nó bao gồm các quy trình như ai có thể có quyền đệ đơn tới tòa, đệ đơn ra tòa như thế nào, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh tụng. Luật tố tụng thường được coi như là luật "bổ trợ" do nó là các bộ luật liên quan đến việc các bộ luật khác được áp dụng như thế nào. Thông thường, nó bao gồm các quy định tố tụng dân sự và hình sự, nhưng nó có thể bao gồm cả luật điều chỉnh bằng cứ, trong đó xác định cách thức như thế nào được phép sử dụng để xác nhận chứng cứ, cũng như luật liên quan đến các phương thức khắc phục hậu quả.

 

Luật hình sự

Khái niệm luật hình sự nói về những luật có chung tính chất là đề ra những hình phạt riêng biệt và nặng nề hơn bình thường nếu phạm vào. Tùy theo loại tội và thẩm quyền, sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị phạt vạ. Những tội cổ xưa như sát nhân (giết người), phản quốc.v.v. luật hình sự nơi nào cũng có. Nhưng cũng có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà nước khác thì không. Ngay cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về ranh giới giữa dân sự và hình sự. Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố bởi chính quyền, không giống như luật dân sự thường được tiến hành khởi tố bởi người dân hay các pháp nhân khác.

Luật quốc tế

Luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia, các thực thể quốc tế chưa đầy đủ,lãnh thổ hoặc vùng lãnh thổ. Hay giữa các công dân của các quốc gia khác nhau cũng như giữa các tổ chức quốc tế. Hai nguồn cơ bản của luật quốc tế là các luật tập quán và các điều ước quốc tế.

Triết học luật pháp

Triết học luật pháp thường được coi như là lý thuyết pháp lý. Lý thuyết pháp lý quy phạm thực chất là triết học chính trị, và đặt vấn đề là: "luật nên là gì?", trong khi đó lý thuyết pháp lý phân tích đặt câu hỏi là "luật là gì?". Câu trả lời theo chủ nghĩa công lợi của John Austin là luật là "những mệnh lệnh, được bảo đảm bằng sự đe dọa trừng phạt, từ một ông vua, cho những người có thói quen phục tùng". Mặt khác, những luật gia theo trường phái tự nhiên, như là Jean-Jacques Rousseau, chỉ ra là luật thực chất phản ánh đạo đức và những luật tự nhiên không thể thay đổi. Quan niệm "luật tự nhiên" xuất hiện trong triết học Hy Lạp cổ đại và gắn liền với khái niệm về công lý, và tái xuất trong dòng chảy văn hóa Phương Tây

Quy luật : Quan hệ không đổi, được biểu thị dưới dạng công thức khái quát, giữa nhiều hiện tượng hoặc nhóm hiện tượng.

Quy luật xã hội.

Quy luật xã hội là quy luật hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình. Vậy ta có thể nhận diện những đặc điểm của loại quy luật này theo những tính chất nào?

Hoạt động của con người chỉ có thể diễn ra trong các mối quan hệ xã hội, trong sự tác động giữa con người với nhau và giữa con người với tự nhiên.

I. Định nghĩa

Quy luật xã hội là những mối liên hệ khách quan, tất yếu và phổ biến giữa các hiện tượng và các quá trình xã hội.

Loại quy luật này trước tiên phải mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của quy luật nói chung, đồng thời nó cũng có những quy luật riêng có của mình.

II. Đặc điểm chung

Cũng giống như quy luật tự nhiên, quy luật xã hội có tính khách quan, tính tất yếu và tính phổ biến.

1. Tính khách quan

Tuy quy luật xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của bất kỳ của một cá nhân hay một lực lượng xã hội nào.

Bởi vì bằng hoạt động thực tiễn, con người tạo ra xã hội, làm nên lịch sử. Song, những hoạt động của con người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, trong những mối quan hệ nhất định giữa người với người và giữa người với giới tự nhiên. Mà những điều kiện và những mối quan hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình.

Quy luật xã hội thường được biểu hiện ra như là những xu hướng, mang tính xu hướng. Những mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người và người tạo ra những hoạt động khác nhau trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó tạo thành xu hướng vận động của lịch sử, trong đó, lực hoạt động của khối đông chiếm ưu thế.

Điều đó có nghĩa là, mặc dù hoạt động của con người biểu thị cho rất nhiều ý muốn, mục đích của nhiều con người khác nhau, những ý muốn và mục đích đó luôn chồng chéo nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng quy luật xã hội chỉ phản ánh những ý muốn, những mục đích của khối đông người, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của lịch sử. Xu hướng này là khách quan, không thế lực nào có thể điều khiển được.

2. Tính tất yếu và tính phổ biến

Những mối quan hệ của con người trong xã hội được hình thành một cách tất yếu và phổ biến nhằm để thảo mãn nhu cầu sống của con người, nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội. Do đó, quy luật xã hội mang tính tất yếu và phổ biến.

Quan hệ của con người trong xã hội có nhiều cấp độ khác nhau:

– Loại quan hệ xã hội tồn tại phổ biến cho mọi hình thái kinh tế – xã hội, như:

+ Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất;

+ Quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội;

+ Quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng…

Những quy luật phản ánh các mối quan hệ này hoạt động ở mọi hình thái xã hội, chẳng hạn như quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội…

– Loại quan hệ xã hội chỉ tồn tại trong một số hình thái xã hội: Như quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình…

– Loại quan hệ xã hội chỉ riêng có ở một hình thức xã hội nhất định như: Quan hệ giữa chủ nô và nô lệ, quan hệ giữa địa chủ và nông dân (nông nô), quan hệ giữa tư sản và vô sản…

– Loại quan hệ xã hội dành riêng cho từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa…: Như quan hệ giữa các đảng phái chính trị, quan hệ buôn bán thương mại, quan hệ đạo đức, tôn giáo, pháp luật…

Tùy thuộc vào mức độ quan trọng và phổ biến của các mối quan hệ xã hội mà các quy luật thể hiện chúng cũng có mức độ tất yếu và phổ biến khác nhau.

III. Đặc điểm riêng của quy luật xã hội

Bên cạnh những đặc điểm của quy luật nói chung đã trình bày ở trên, quy luật xã hội còn những đặc điểm riêng như sau:

1. Tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định.

– Khi những điều kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội bị xóa bỏ thì quy luật cũng không còn tồn tại.

Ví dụ: Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực của lịch sử, là quy luật của các xã hội có sự đối kháng giai cấp. Quy luật đấu tranh giai cấp đó sẽ chấm dứt hoạt động khi xã hội chấm dứt hoàn toàn sự phân chia thành những giai cấp đối kháng.

– Hình thức biểu hiện sự tác động của các quy luật xã hội thường bị biến dạng nhiều do hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, từng thời đại, từng nước khác nhau và còn tùy thuộc vào trạng thái phát triển của các quan hệ xã hội. Các quy luật này thể hiện một cách rõ rệt khi các quan hệ xã hội vốn có của nó đạt đến trình độ chín muồi nhất định. 

Chẳng hạn như: Quy luật giá trị thặng dư – quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, được C. Mác phát hiện ra khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao, nó phản ánh một cách sâu sắc và đầy đủ nhất mối quan hệ cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.

– Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người.

Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động. Do vậy, lợi ích trở thành một yếu tố quan trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và trong sự nhận thức của con người về nó.

Điều đó không làm mất đi tính khách quan vốn có của quy luật xã hội. Bởi vì tuy hoạt động của con người bao giờ cũng nhằm theo đuổi những lợi ích và mục đích khác nhau, nhưng kết quả tác động của quy luật xã hội lại không phụ thuộc vào ý muốn của từng cá nhân mà hướng đến ưu trội của khối đông người đó.

Ví thế, lợi ích nói đến ở đây không thể nào là lợi ích cá nhân, mà phải là lợi ích của cộng đồng, của giải cấp…

2. Để nhận thức được quy luật xã hội cần phải có phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa rất cao.

– Bởi vì, sự biểu hiện và tác động của quy luật xã hội thường diễn ra trong một thời gian rất lâu, có khi là suốt quá trình lịch sử. Do đó, ta không thể dùng thực nghiệm để kiểm tra như những quy luật của tự nhiên, cũng không thể dùng lối suy diễn lô-gíc một cách đơn thuần.

Như C. Mác đã viết: “Khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hóa học được. Sức trừu tượng hóa phải thay thế cho cả hai cái đó”.

– Để nhận thức những quy luật xã hội cần phải nghiên cứu những nguyên nhân thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội. Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động của con người là một chuỗi nhân quả xã hội:

Hoàn cảnh bên ngoài (bao gồm những điều kiện khách quan, quan trọng nhất là điều kiện kinh tế) – Nhu cầu – Lợi ích – Mục đích (động cơ tư tưởng) – Hoạt động thực nghiệm mục đích.

Trong chuỗi nhân quả trên, nhu cầu và lợi ích giữ vai trò rất quan trọng. Đó là khâu đầu tiên phản ánh và chuyển hóa những yêu cầu khách quan bên ngoài thành hành động tư tưởng bên trong thúc đẩy con người hoạt động.

Vì vậy, nhu cầu và lợi ích là nguồn gốc, là động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động và do đó, cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội.

– Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động của con người.

Vì con người không chỉ tồn tại trong môi trường xã hội, mà còn tồn tại trong môi trường tự nhiên. Hoạt động của con người không chỉ tuân theo quy luật xã hội mà còn phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên.

– Nhận thức và vận dụng được quy luật, con người sẽ có tự do.

Quy luật xã hội mang tính tất yếu khách quan. Dù con người có nhận thức được hay không, có tự giác vận dụng hay không, thì quy luật xã hội vẫn luôn tác động ngoài ý chí của con người.

Khi con người chưa nhận thức và chưa vận dụng được quy luật thì chúng tác động như một lực lượng tự phát và biến con người thành nô lệ của tính tất yếu.

Khi con người nhận thức được quy luật khách quan và những điều kiện hoạt động của chúng để vận dụng vào hoạt động có mục đích, thì con người làm chủ được tính tất yếu, nghĩa là con người đạt đến tự do.

Như vậy, tự do không có nghĩa là hành động tùy tiện, bất chấp quy luật. Trái lại, tự đó là nhận thức được quy luật và làm theo quy luật.

– Tự do là sản phẩm của sự phát triển lịch sử. Ở giai đoạn sơ khai của lịch sử, con người là nô lệ của tính mù quáng ngự trị trong giới tự nhiên.

Khi xuất hiện chế độ tư hữu, hình thành xã hội có giai cấp, thì đồng thời với sự lệ thuộc vào giới tự nhiên, con người chịu thêm sự ràng buộc của các quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ sản xuất.

Quá trình phát triển của xã hội cũng là quá trình con người từng bước vươn tới tự do. Đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà xã hội xã hội chủ nghĩa là giai đoạn đầu, con người được giải phóng khỏi mọi áp bức bóc lột, con người mới thật sự làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân, trở thành con người thực sự tự do.

Quy luật tình cảm

Phân tích các quy luật của đời sống tình cảm? Từ đó nêu ra ứng dụng của các quy luật đó vào đời sống

Học Tập Suốt Đời

Đời sống tình cảm vô cùng phong phú và đa dạng.

Khái niệm tình cảm: Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ.

Có 6 quy luật tình cảm: quy luật thích ứng, quy luật lây lan, quy luật di chuyển, quy luật tương phản, quy luật pha trộn và quy luật về sự hình thành tình cảm.

1.Quy luật thích ứng: Một xúc cảm, tình cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách không thay đổi thì cuối cùng sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống. Đó là hiện tượng “chai sạn” tình cảm.

Biểu hiện: “Gần thường xa thương”

Dao năng mài thì sắc, người năng chào thì quen.

“ Sự xa cách đối với tình yêu giống như gió với lửa,gió sẽ dập tắt những tia lửa nhỏ,nhưng lai đốt cháy,bùng nổ những tia lửa lớn”

(Ngạn ngữ Nga)

Ví dụ: Một người thân của chúng ta đột ngột qua đời,làm cho ta và gia đình đau khổ,vất vả,nhớ nhung … nhưng năm tháng và thời gian cũng lui dần vào dĩ vãng,ta cũng phải nguôi dần …để sống.

Ứng dụng: Tránh thích ứng và tập thích ứng

Biết trân trọng những gì mình đang có .

Trong đời sống hằng ngày qui luật này được ứng dụng như phương pháp “lấy độc trị độc” học sinh.

Ví dụ: Hoa là một học sinh nhút nhát,luôn rụt rè trước mọi người.Mỗi lần bị giáo viên gọi dậy trả lời câu hỏi,Hoa đều tỏ ra lúng túng và đỏ mặt.Nhưng một thời gian sau,việc Hoa luôn phải đứng dậy trả lời lặp đi lặp lại nhiều lần và nhờ sự khuyến khích động viên của bạn bè thầy cô thì Hoa đã tự tin trả lời những câu hỏi trước lớp.

2. Quy luật lây lan: Xúc cảm, tình cảm của người này có thể truyền, lây sang người khác

Biểu hiện: Vui lây,buồn lây,đồng cảm

Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ

Niềm vui nhân đôi, nỗi buồn sẻ nửa

Ví dụ: An vừa nhận được giấy báo nhập học.An vô cùng sung sướng,vui mừng.An thông báo cho bố mẹ và bạn bè của mình.Sự vui vẻ của An đã tạo nên không khí thoải mái,vui mừng cho mọi người xung quanh.

Ứng dụng: Các hoạt động tập thể của con người.Đây là cơ sở tạo ra các phong trào,hoạt động mang tính tập thể.

Ví dụ: Ba lớp : Kinh tế-Tài chính-Đô thị cùng chung một lớp.Lúc đầu mỗi thành viên của 3 lớp luôn tự đặt cho mình một khoảng cách.Nhưng khi 3 lớp trưởng đều là những người biết quan tâm,giúp đỡ,hòa đồng với tất cả các thành viên không phân biệt lớp nào đã tạo cho lớp không khí vui vẻ đoàn kết.

3. Quy luật tương phản: Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm,sự xuất hiện hoặc suy yếu của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm của một hiện tượng khác diễn ra đồng thời.

Biểu hiện: Càng yêu nước càng căm thù giặc

“Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”

Mai sau anh gặp người đẹp

Đẹp hơn người cũ anh thời quên tôi.

Ví dụ: Khi chấm bài,sau một loạt bài kém,gặp một bài khá,giáo viên thấy hài lòng .Bình thường bài khá này chỉ đạt điểm 7 nhưng trong hoàn cảnh này giáo viên sẽ cho điểm 9.

Ứng dụng: Trong dạy học,giáo dục tư tưởng,tình cảm người ta sử dụng quy luật này như một biện pháp “ôn nghèo nhớ khổ,ôn cố tri ân” và nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện chính diện.

Cần có cái nhìn khách quan hơn

Trong nghệ thuật,quy luật này là cơ sở để xây dựng các tình tiết gây cấn,đẩy cao mâu thuẫn.

Ví dụ: Càng yêu mến nhân vật Bạch Tuyết hiền lành thì càng căm ghét mụ hoàng hậu độc ác .

4. Quy luật di chuyển: Là hiện tượng tình cảm, cảm xúc có thể di chuyển từ người này sang người khác.

Biểu hiện: “Giận cá chém thớt”

“Yêu nhau yêu cả đường đi

Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”

Ví dụ: Hương đang tập trung làm một bài tập rất khó,áp lực tâm lí đang đè lên người cô.Lúc này cô cần sự yên tĩnh nhưng Hạnh vô tình đã hỏi cô liên tục một câu hỏi.Hương cảm thấy khó chịu và cáu gắt với Hạnh cho dù Hạnh không thực sự có lỗi.

Ứng dụng: Kiềm chế cảm xúc và tránh hiện tượng vơ đũa cả nắm.

Tránh thiên vị trong đánh giá “yêu tốt ghét xấu”

Ví dụ: Giáo viên phải luôn là một người khách quan,công bằng khi chấm bài.

5. Quy luật pha trộn: Trong đời sống tình cảm của con người,nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau,có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau,chúng pha trộn vào nhau.

Biểu hiện: “Giận mà thương,thương mà giận”

“Cái gì càng khó khăn gian khổ mới đạt được thì khi đạt được ta càng tự hào”

Ví dụ: Thanh yêu Lợi,cô luôn muốn Lợi ở bên cạnh cô,quan tâm chăm sóc cô.Nhưng khi cô thấy Lợi có một cử chỉ thân mật hay một hành động quan tâm tới một người con gái khác thì Thanh tỏ ra khó chịu ghen tuông.

Ứng dụng: Đời sống tình cảm đầy mâu thuẫn, phức tạp vì vậy cần phải biết quy luật này để thông cảm, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình.

Giáo viên phải nghiêm khắc trên tinh thần thương yêu học sinh.

Ví dụ: Giáo viên phải luôn là một người khách quan công bằng.Khi chấm bài,không vì sự yêu mến học trò này mà cho điểm cao và không có cảm tình với học trò kia nên cho điểm thấp.Phải nhìn vào kết quả học sinh đó làm được để đánh giá.

6. Quy luật về sự hình thành tình cảm: Xúc cảm là cơ sở của tình cảm,tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại,chúng được động hình hóa,tổng hợp hóa và khái quát hóa mà thành

Tổng hợp hóa :là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rồi nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể.

Động hình hóa: là khả năng làm sống lại một phản xạ hoặc một chuỗi phản xạ đã được hình thành từ trước

Khái quát hóa :là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ , quan hệ chung nhất định.

Biểu hiện: Năng mưa thì giếng năng đầy.

Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương .

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

Mưa dầm thấm đất .

Đẹp trai không bằng chai mặt .

Ví dụ: Tình cảm của con cái đối với bố mẹ là cảm xúc thường xuyên xuất hiện do liên tục được bố mẹ yêu thương,thỏa mãn nhu cầu, dần dần được tổng hợp hóa, động hình hóa và khái quát hóa mà thành.

Ứng dụng: Muốn hình thành tình cảm cho học sinh phải đi từ xúc cảm đồng loại.

Ví dụ: Xây dựng tình yêu Tổ quốc phải xuất phát từ tình yêu gia đình,mái nhà,làng xóm.

Kết luận: Nếu không có các quy luật đời sống tình cảm thì sẽ khó hình thành nên tình cảm hoặc gây ra hiện tượng “ đói tình cảm” làm cho toàn bộ hoạt động sống của con người không thể phát triển bình thường.

Đời sống tình cảm rất phong phú,đa dạng và phức tạp chính vì vậy chúng ta phải nắm bắt được tình cảm của bản thân.

Tham gia nhiều hoạt động để nắm bắt được đời sống tình cảm của mọi người.

Tạo môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện về mặt tình cảm.

TƯ DUY

Con người khác con vật ở chỗ biết Tư duy. Nên hãy dùng Tư duy trong cuộc sống hàng ngày. Có Tư duy để đưa ra lựa chọn đúng đắn, ta sẽ ít gặp những vấp váp và sai lầm trên đường đời nhiều chông gai.

1. Các giai đoạn của tư duy

a,Nhận thức vấn đề

b,Xuất hiện các liên tưởng

c,Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết

d,Kiểm tra giả thuyết

e1, Chính xác hóa - Khẳng định - Giải quyết vấn đề

e2, > Phủ định - Hành động tư duy mới

2. Các thao tác tư duy

a. Phân tích-Tổng hợp

– Phân tích: Là hoạt động trí tuệ phân chia đối tượng thành những bộ phận, những thuộc tính, các quan hệ khác nhau theo một hướng nhất định.

– Tổng hợp: Là quá trình kết hợp những thuộc tính, quan hệ…mà ta đã tách ra do quá trình phân tích thành một chỉnh thể thống nhất.

Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, phân tích được tiến hành trên cơ sở tổng hợp và tổng hợp được thực hiện trên kết quả của phân tích.

b. So sánh:

Là sự xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật hiện tượng. Thao tác này cũng có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy. Nhờ có sự so sánh các sự vật hiện tượng với nhau mà ta có thể lĩnh hội các tài liệu học tập với tất cả tính đa dạng độc đáo và phức tạp của chúng.

c. Trừu tượng hóa và khái quát hóa

– Trừu tượng hóa: Là quá trình gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính, quan hệ không cần thiết chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.

– Khái quát hóa: Là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau trên cơ sở có một số thuộc tính giống nhau nào đó.

Nhưng ta cũng cần phân biệt những thuộc tính chung gồm có hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung là những thuộc tính bản chất. Vì vậy, nếu khái quát hóa chỉ dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau thì dễ dẫn đến sai lầm. Ví dụ: Một số học sinh đã sai lầm khi xếp cá voi vào loài cá…

Trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau. Muốn khái quát hóa đối tượng thì ta phải trừu tượng hóa những dấu hiệu không bản chất. Khái quát hóa chính là sự tổng hợp ở mức độ cao.

d. Cụ thể hóa:

Là sự vận dụng những khái niệm, định luật, quy tắc đã được khái quát hóa vào hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.

Trong quá trình tư duy các thao tác tư duy có quan hệ mật thiết với nhau, chúng thống nhất với nhau theo một hướng nhất định để giải quyết các nhiệm vụ của tư duy. Việc thực hiện các thao tác tư duy có thể không tuân theo một thứ tự nhất định và cũng không nhất thiết phải sử dụng tất cả các thao tác trong một quá trình tư duy.

SAI LỆCH HÀNH VI NHÂN CÁCH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH

- Đại đa số hành vi của cá nhân trong cộng đồng có hành vi tương tự nhau, được lặp đi lặp lại giống nhau trong những tình huống cụ thể xác định, thì hành vi đó là hành vi phù hợp. Những hành vi nào khác lạ thì được coi là lệch chuẩn

- Chuẩn mực xã hội đó là những quy tắc, những yêu cầu xã hội đối với cá nhân, các quy tắc, các yêu cầu này có thể ghi thành văn bản, đạo luật, điều luật, điều lệ, văn bản pháp quy, hoặc là những yêu cầu có tính ước lệ trong một cộng đồng nào đó mà mọi người thừa nhận

- Các loại chuẩn mực: Pháp luật, Đạo đức, Phong tục truyền thống, Thẩm mỹ, Chính trị

- Khắc phục sai lệch của người khác:

+ Cung cấp những hiểu biết về chuẩn mực/ Tuyên truyền giáo dục để ngăn chặn

+ Phân tích, giải thích, thuyết phục để họ hiểu đúng và chấp nhận/ Người có bệnh lý cần cho họ tiếp xúc nhiều hoặc nhờ chuyên gia y tế.

+ Hình thành thái độ tích cực ủng hộ các hành vi phù hợp, lên án hành vi không phù hợp/ Tăng cường việc hướng dẫn hành vi nhất là đối với thành viên mới, thế hệ trẻ/ Cộng đồng cần có sự điều chỉnh những chuẩn mực không phù hợp hoặc chưa rõ ràng

+ Biện pháp trừng phạt bằng hành chính, luật pháp

- Khắc phục sai lệch của chính mình:

+ Cá nhân phải tự ý thức hành vi của bản thân

+ Trau dồi đạo đức cá nhân

+ Lắng nghe đóng góp của bạn bè, người thân, cộng đồng

+ Nhờ người khác giúp đỡ để tăng cường điều chỉnh hành vi

+ Chấp nhận hình phạt, từ đó thay đổi.

Trong Tâm lý học, người ta xem tình cảm là mặt tập trung nhất, đậm nét nhất của nhân cách con người. Tình cảm có quan hệ và chi phối toàn bộ các thuộc tính tâm lý của nhân cách (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin), là điều kiện và động lực để hình thành năng lực của con người.

Xúc cảm là trạng thái tâm lý xảy ra ngay lập tức tại thời điểm diễn ra sự kiện, từ những xúc cảm này sẽ hình thành nên tình cảm.

CÁC QUY LUẬT CỦA XÚC CẢM/TÌNH CẢM

* Quy luật thích ứng

Tình cảm lặp đi lặp lại nhiều lần tạo nên sự thích ứng

* Quy luật “tương phản”

Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc sự suy yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm của một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp với nó.

* Quy luật “pha trộn”

Trong đời sống tình cảm của con người cụ thể, nhiều khi 2 tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc, nhưng không loại trừ nhau chúng “pha trộn” vào nhau.

*Quy luật “di chuyển”

Xúc cảm, tình cảm của con người có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác

* Quy luật “lây lan”

Xúc cảm tình cảm có thể truyền lây từ người này sang người khác.

* Quy luật về sự hình thành tình cảm

Xúc cảm là cơ sở của tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa và khái quát hóa những xúc cảm cùng loại.

Tình cảm được hình thành từ xúc cảm, nhưng khi hình thành thì tình cảm lại thể hiện quan xúc cảm và chi phối xúc cảm.

NHÂN CÁCH

Nhân cách là một tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.

Hai thành phần cốt yếu để tạo nên nhân cách của một con người là ĐỨC và TÀI

Đức - hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội

Tài - những khả năng của cá nhân

- Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy, ta có thể vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Thông qua giáo dục thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau lĩnh hội, tiếp thu nền văn hóa xã hội- lịch sử. Phát huy tối đa các mặt mạnh, các yếu tố chi phối sự phát triển nhân cách. Có thể uốn nắn sai lệch. Muốn có một nhân cách tốt, phải được thụ hưởng một sự giáo dục tốt.

- Hoạt động là nhân tố tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Thông qua hoạt động mà nhân cách được hình thành và bộc lộ. Sự hình thành nhân cách phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kỳ nhất định. Do đó bản thân phải tích cực hoạt động để phát triển nhân cách cá nhân.

- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người, là nhu cầu cơ bản xuất hiện sớm nhất ở con người. Nhờ GT con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực. Mặt khác đóng góp tài lực vào kho tàng nhân loại. Qua GT con người nhận thức người khác và nhận thức bản thân mình. Là điều kiện cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy phải biết "chọn bạn mà chơi".

- Tập thể là điều kiện, môi trường để hình thành và phát triển nhân cách, nên muốn trở thành con người như thế nào thì phải tìm đến môi trường tập thể (trường, lớp, nhóm bạn) như vậy.

- Cá nhân cần tự ý thức để tự hoàn thiện nhân cách.

TƯỞNG TƯỢNG

Trong những trường hợp không đủ dữ liệu để tư duy có thể giải quyết vấn đề, người ta mượn đến tưởng tượng. Tưởng tượng cần thiết cho hoạt động của con người vì nó cho phép hình dung được kết quả sẽ đạt được, vượt thoát được mọi rào cản trong cuộc sống.

Hình ảnh của tưởng tượng được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau, dưới đây là những cách cơ bản nhất:

1.Thay đổi kích thước, số lượng (của sự vật hay của các thành phần của sự vật) VD: Người khổng lồ, Phật trăm mắt ngàn tay...

2. Nhấn mạnh (chi tiết, thành phần, thuộc tính): Bigfoot, Sọ Dừa

3. Chắp ghép (kết dính) giữ nguyên và ghép lại với nhau VD: con rồng, nàng tiên cá

4. Liên hợp: tạo ra hình ảnh mới bằng việc liên hợp các bộ phận của nhiều sự vật khác nhau trong một tương quan mới hợp lý. VD: thủy phi cơ

5. Điển hình hóa: tổng hợp những đặc điểm chung tạo thành một hình ảnh biểu tượng mới. VD; bà mẹ VN anh hùng, Sở Khanh...

6. Loại suy: tạo ra công cụ lao động theo sự tương tự của thao tác lao động từ đôi tay con người. VD: cái móc, cái cào...

Quy luật lịch sử.

Hegel – nhà triết học duy tâm danh tiếng người Đức từng ám chỉ xã hội phong kiến vương quốc Phổ hồi thế kỷ 18 bằng mệnh đề nổi tiếng:

“Hợp lý là tồn tại, tồn tại là hợp lý”.

Ông chán ghét sự mục nát của thời cuộc nhưng không thể bắn vào đó bằng súng đại bác.

Tất cả những gì hậu thế, kể cả K.Marx biết và tiếp thu Hegel đều qua hệ thống tư tưởng được coi là “rối rắm”, “tư biện” “lộn ngược đầu xuống đất” của ông.

Người Việt tuy chưa có triết học theo nghĩa Phương Tây (philosophia) nhưng vẫn tổng kết thực tiễn thành triết lý vô cùng thâm sâu.

Cũng công kích chế độ phong kiến, song (người Việt) còn thẳng thắn hơn nhiều, điển hình như câu ca dao “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”.

Dù muốn hay không vẫn phải thừa nhận rằng, chế độ phong kiến Việt Nam chỉ mới tan rã cách đây đúng 72 năm sau ngày hoàng đế Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng và tuyên bố:

“Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Lời nói của cựu hoàng Bảo Đại chính là lời trăn trối cuối cùng cho cái mà Hegel từng ám chỉ chế độ phong kiến Châu Âu.

Rằng nó không còn hợp lý nên không có cơ sở để tồn tại.

Hơn 7 thập kỷ xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tất cả chúng ta đều tưởng rằng, câu ca dao ngày nào về chuyện “con vua”, “con sãi” đã hết vai trò lịch sử.

Hạnh phúc của dân tộc là gì?

Nhưng đó là nhận xét có phần vội vàng.

Tuy nhiên, với những người học Mác, Lênin… điều đó không khó giải thích.

Quan hệ sản xuất “tàn dư” – vẫn dai dẳng tồn tại cho đến ngày nay, nó như một quy luật lịch sử mặc dù chúng ta đang xây dựng quan hệ sản xuất kiểu mới – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Một trong những “tàn dư” của tư tưởng cũ lạc hậu để lại là tình trạng “cả nhà làm quan”, “cả họ làm quan” là “COCC”, các loại “ệ” là các thuật ngữ tưởng chỉ dùng trong khoa học vũ trụ như “thần tốc’, “siêu tốc”, “bệ phóng”… kết quả của các loại “đúng quy trình” – nói như đại thi hào Nguyễn Du: “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”.

Mười năm trở lại đây là khoảng thời gian chứng kiến nhiều “quý tử” ngồi “tót” một cách khó hiểu.

Điều đó không biết có mang lại diễm phúc gì cho dân tộc hay không hay chỉ làm nở rộ một rừng dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước?

Từ Vũ Quang Hải ở Sabeco, Vũ Minh Hoàng ở Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, cho đến Lê Phước Hoài Bảo ở Quảng Nam, hotgirl Quỳnh Anh ở Thanh Hóa, Phan Kim Yến ở An Giang… cho đến những pha “thủng lưới” khó tin như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng… khiến người dân đặt câu hỏi: Đúng quy trình hay đúng “con vua” thua “con sãi”?

Vì sao những sai phạm bổ nhiệm trên không rơi vào trường hợp nào chẳng “dây cà dây muống”.

Hay nói cách khác chỉ có những con người vươn lên bằng thực tài mới không dính vào thứ quy trình đang bị nghi ngờ là bảo bối của sai phạm!

Đó là quy luật lịch sử, không hợp lý nên chẳng thể tồn tại.

Khách quan hơn, nhìn rộng ra, không phải lúc nào, khi nào cũng phải “dây mơ rễ má” mới có đường tiến thân.

Cái gì Dân muốn thì Trời cũng phải thuận theo

Lịch sử phong kiến cũng vậy, nhiều kỳ tài xuất chúng là “con sãi” như Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi, Cao Bá Quát, Lê Quát, Chu Văn An hay gần hơn là Nguyễn Văn Vĩnh… và vô vàn những nhân tài đất Việt thời nay không “con ông cháu cha”.

Quy luật lịch sử rất công bằng, vì sao ngày nay người ta thường hay nhắc đến những danh nhân lịch sử “chân đất” kể trên hơn là những “cậu ấm cô chiêu” chốn hoàng cung được nối ngôi vua cha, vua chú ngồi trên đỉnh quyền lực?

Quyền lực, ghế trên “ngồi tót”… tất cả chẳng là gì sau lớp bụi lịch sử được phủi sạch.

Bản thân “con ông cháu cha” không tội lỗi gì cả, nếu “con ông cháu cha” lại làm lãnh đạo và cống hiến tốt cho xã hội đó thực sự là “phúc của dân tộc” như một đại biểu quốc hội đã nói.

Nhưng làm ở đây là làm cho “con sãi” tâm phục khẩu phục, làm cho dân được nhờ, làm rạng danh tên tuổi cha anh chứ không phải làm điều xằng bậy để dân tình ngao ngán.

Nên chăng, những “cậu ấm”, “cô chiêu” “con vua” thời @ phải biết chạnh lòng trước những tấm gương “con dân” đỗ đạt vang danh quốc tế.

Sao không lấy đó làm gương mà cứ núp mình trong vỏ ốc quyền lực của cha anh chờ túm tóc, giật đầu bỏ vào “bệ phóng” để vinh thân.

Há chăng như vậy mới gọi là “phúc của dân tộc”.

Lâu nay, sau mỗi kỳ thi Olympic quốc tế hay đại học, trên các trang báo lại tràn ngập tin, bài về các tấm gương “con nhà nghèo học giỏi” như:

Bố mẹ sửa khóa con giành huy chương vàng quốc tế; bố mẹ ăn xin nuôi con thi đỗ thủ khoa đại học; sống 10 năm trong ống cống nuôi con thủ khoa đại học;

Bố mẹ phụ hồ con trai đạt 2 huy chương vàng Olympic; bố lái xe, mẹ bán thịt bò, con đoạt Huy chương vàng Vật lý quốc tế; học trò nghèo quê lúa giành Huy chương vàng Olympic Toán Quốc tế…

Thừa thãi đúng quy trình, hiếm hoi nhận trách nhiệm

Đến đây, có thể rõ thế nào là họa, phúc của dân tộc.

Phúc của dân tộc là “con vua” biết sống đời của “con dân”, họa của muôn dân là “con vua” làm băng hoại uy tín, danh dự, sự nghiệp của cha ông mình.

Bằng việc lôi ra ánh sáng một loạt “ông trẻ” ngồi tót sỗ sàng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang xúc tác đúng chỗ cho quy luật lịch sử tiếp tục diễn tiến đúng nội hàm của nó.

Đó là thanh lọc những thứ không hợp lý và bồi bổ cho những cái hợp lý trên con đường nó đi qua. Đó là quy luật tồn tại vĩnh cửu của vũ trụ.

Có một thí nghiệm trên chuột, thoạt đầu người ta cho chúng sống trong môi trường lý tưởng, dư dả thức ăn nước uống.

Thời kỳ đầu chúng phát triển sinh, sôi nảy nở rất nhanh. Nhưng qua vài thế hệ, bọn chuột bắt đầu loạn hành vi, sinh bệnh tật, quay ra cắn giết nhau cuối cùng chỉ còn vài con.

Người ta thả một vài con chuột đồng hoang dã vào, những con chuột quen sống sung túc lần lượt chết vì thiếu khả năng cạnh tranh sinh tồn.

Chúng ta không mong muốn cứ mãi mãi thủ khoa, huy chương quốc tế là “con nhà nghèo học giỏi”, là “phu hồ”, “bán rau muống”… mà phải đến lúc bố mẹ của những thủ khoa, huy chương vàng thay vì “sửa khóa”, “bán hàng rong” là một nhà khoa học giỏi, một chuyên gia có tài, một lãnh đạo uy tín.

Chỉ dăm bảy trường hợp “sỗ sàng” sai quy trình đã làm nghiêng ngả xã hội.

Điều đó cho thấy dân chúng ngày nay đã biết thế nào là một nhà nước pháp quyền, thượng tôn luật pháp.

Những người có quyền hành nên xem đó là bài học kinh nghiệm xương máu, nếu không muốn người dân quay lưng bất biết.

Chuyện “con sãi”, “con vua” không phải chỉ xã hội phong kiến mới có, nó thuộc về bản chất của loài người như cái ô xòe ra đương nhiên che cái cán.

Nhưng đó tuyệt nhiên cũng không phải vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước kiểu mới.

Dưới lăng kính của lịch sử, công tội phân minh.

 

Quy luật kinh tế

Các qui luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

Tính chất Qui luật kinh tế

Qui luật kinh tế có những tính chất sau:

- Cũng như các qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.

Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình.

- Qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người.

Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất.

- Khác với các qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.

Do đó, có thể chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc thù và các qui luật kinh tế chung.

Các qui luật kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại trong một số phương thức sản xuất.

Ý nghĩa

Nghiên cứu qui luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.

Chính sách kinh tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào hoạt động kinh tế.  Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người.

Không hiểu biết, vận dụng sai hoặc coi thường qui luật kinh tế sẽ không tránh khỏi bệnh chủ quan, duy ý chí, chính sách kinh tế sẽ không đi vào cuộc sống, thậm chí còn gây hậu quả khó lường

 

Các quy luật của kinh tế thị trường

a) Quy luật lưu thông tiền tệ

Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định .

Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức :

M=P.Q/V

Trong đó :

M :là lượng tiền cần thíêt cho lưu thông

P :là mức giá cả

Q :là khối lừợng hàng hóa đem ra lưu thông

V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ

Tức :

M= Tổng giá cả hàng hóa đem ra lưu thông / số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ

Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số lượng cần thiết cho lưu thông được xác định như sau :

b. Quy luật giá trị

– Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị :

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó ,tức trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết .

Trong sản xuất quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết ,có như vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá .Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng gía trị .

Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị.

-Tác động của quy luật giá trị

Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:

(+)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa :

Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất ,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa bán chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng hóa khác nhau cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu sản xúât và sức lao động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.

Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ vốn.Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.

Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.

Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định .

(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao động hạ giá thành sản phẩm.

Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên thị trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động cá biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ đựơc nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất ,cải tiến tổ chức quản lí ,thực hiền tiết kịêm …nhằm tăng năng xuất lao động ,hạ chi phí sản xuất.

Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn.Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng xuất lao động xã hội không ngừng tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.

(+)Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu ,nghèo.

Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức lao động hao phí xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi ,giàu lên có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất ,mở rộng sản xuất kinh doanh,thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.

Ngược lại những người sản xuất hàng hóa nào có mức lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ ,nghèo đi ,thậm chí có thể phá sản,trở thành lao động làm thuê.

Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất TBCN ,cơ sở ra đời của CNTB. Như vậy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực .Do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển ,nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của nó ,đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.

 

C.Cạnh tranh và quan hệ cung cầu

– Cạnh tranh :

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.

Cạnh tranh có thể diễn ra giữa những người sản xuất và người tiêu dùng Trong cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau .

Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển.Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động nhạy bén ,thường xuyên cải tiến kĩ thuật ,áp dụng tiến bộ khoa học,công nghệ nâng cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành mạnh.Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ bảo thủ ,kém phát triển.

Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến lợi ích của tập thể ,xã hội cộng đồng như làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền tung tin phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau nghèo hoặc tổn hại đối với môi trường sinh thái …

– Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa

(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng không phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi xuất thị hiếu của người tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc biệt quan trọng .

(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng hóa .Như vậy cung do sản xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng nhất với sản xuất .Ví dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có khả năng đưa tới thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ thuộc chủ yếu vào số lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí sản xuất ,giá cả hàng hóa trong đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng .

Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu .Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của cung về hàng hóa: hỉ có những hàng hóa nào có cầu thì mới được sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều ,nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngựơc lại .Đến lượt mình cung tác động đến cầu ,kích thích cầu :những hàng hóa được sản xuất cung ứng phù hợp với nhu cầu ,thị hiếu sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa thích hơn ,bán chạy hơn ,làm cho cầu về chúng tăng lên .Vì vậy người sản xuất hàng hóa phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu ,thị hiếu ,sở thích của người tiêu dùng ,dự đoán sự thay đổi của cầu ,phát hiện các nhu cầu mới ..,để cải tiến chất lượng ,hình thức mẫu mã cho phù hợp ;đồng thời phải quảng cáo để kích thích cầu ..

Cung- cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả:

Khi cung = cầu , thì giá cả = giá trị

Khi cung > cầu , thì giá cả < giá trị

Khi cung < cầu , thì giá cả > giá trị

Đồng thời giá cả cũng có tác động đến cung và cầu .Nhìn chung trong cơ chế thị trường khi không có sự nhất trí giữa cung và cầu ,thì giá cả có tác động đìêu tíêt đưa cung và cầu trở về xu hướng cân bằng nhau .Ví dụ :khi cung >cầu ,giá cả sẽ giảm xuống ,khi giá cả gỉam thì cầu sẽ tăng lên ngược lại cung sẽ giảm dần và như vậy cung và cầu lại trở về xu thế cân bằng .Đó cũng chính là cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hóa .

Như vậy chúng ta thấy rằng :cạnh tranh,cung-cầu ,giá cả .gía trị là những yếu tố luôn đi liền với nhau và cùng tác động đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Cần tham khảo thêm:

quy luật kinh tế thị trường

quy luật lưu thông tiền tệ

kinh tế hàng hóa tiêu cực

quy luật kinh tê thi trường

phân tich quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hóa

qui luật kttt?

quy luật khách quan của kinh tế thị trường

 

Nhìn lại :

Nhân dịp đầu năm dương lịch, Chúng ta ngồi lại để tổng hợp kiến thức cơ bản về các quy luật của nền kinh tế thị trường theo góc nhìn của mình để mình biết rõ mà tuân theo. Có thể khẳng định rằng thời buổi này bất cứ một hoạt động nào đều liên quan đến tính kinh tế và đều phải tuân theo quy luật thị trường đầy đủ. Sẽ thật không vui nếu một ngày nào đó chúng ta chịu thiệt chỉ vì biết rằng mình đã không tuân thủ theo các quy luật của nền KT-TT

 <-> Quy luật giá trị :

Mỗi một sp / dv đều có giá trị và phải được định giá cụ thể thông qua giá cả. Hoạt động mua bán trao đổi sẽ dựa trên tính chất win-win. Việc định giá sp / dv sẽ do thị trường định đoạt (sự hữu ích / khan hiếm / gia tăng / phái sinh …) chứ không phải do người bán hoặc người mua định giá. Tuy nhiên ở vào từng thời điểm cụ thể người mua hoặc người bán có thể tác động đến giá trị của sp / dv dựa trên tính minh bạch hoặc gian lận từ mục đích của họ. Trong hoạt động KT-TT ổn định, để tăng giá trị của sp / dv, công việc của người bán là phải giảm giá thành tạo ra sp / dv đó.

VD : Giá trị của một đám đất được thị trường định giá theo sự hữu ích : vị trí địa lý đắc địa, sự khan hiếm : nằm trong diện quy hoạch số lượng sp có hạn, sự gian tăng : giá trị có thể tăng trong tương lai, sự phái sinh : lợi ích kỳ vọng trong tương lai,…Trong trường hợp này người bán có thể tác động đến giá trị sp bằng cách vẽ ra các viễn cảnh không thật, làm giá…

<-> Quy luật cung cầu :

Cung và cầu là hai hoạt động tương tác qua lại lẫn nhau và không hoạt động độc lập trong nền KT-TT. Cung đến từ hoạt động sản xuất, khai thác tạo ra sp, tổng cung là tổng số lượng sp / dv. Cầu đến từ nhu cầu sử dụng sp / dv và khả năng chi trả của KH cho sp / dv đó. Điểm gặp nhau giữa cung và cầu gọi là giá cả bình quân, ở đó người mua chấp nhận trả tiền trên cơ sở win – win. Các DN tham gia vào hoạt động sx kd là tham gia vào dòng cung sp / dv vì vậy cần xác định rõ xu hướng tăng giảm của tổng cầu cho sp / dv trước khi đi ra các chiến lược cạnh tranh.

VD : Trong trường hợp miếng đất ở trên, nếu thời điểm ban đầu tổng cung cao, người mua có thể mua được sp với giá tốt, tuy nhiên đến thời điểm cao điểm, khi tổng cầu lớn hơn tổng cung, điểm cân bằng giá trị thông qua giá cả sẽ bị thị trường đẩy lên cao do đó người mua có thể phải thanh toán mức giá cao hơn, đến thời điểm tổng cầu giảm đến mức nhỏ hơn tổng cung, có thể mức giá sẽ xuống thấp hơn nhiều so với mức giá người mua mua vào ban đầu.

<-> Quy luật cạnh tranh :

Trong nền KT-TT nhiều người mua và nhiều người bán, sự cạnh tranh là tất yếu. Các chủ thể tham gia ở vai trò cung cần xác định rõ lợi thế của sp / dv và đưa ra các chiến lược cạnh tranh phù hợp về giá, khuyến mại, khuyến mãi, dịch vụ khách hàng,…Việc nhiều người bán cạnh tranh sẽ dẫn đến giá cả sp / dv sẽ giảm xuống và có lợi cho người mua và ngược lại, khi nhiều người mua cạnh tranh để có được sp / dv, người bán có thể tăng giá cả trao đổi sp / dv đó.

VD : Cùng thời điểm tết khi mà rất nhiều các DN bán lẻ cùng muốn đẩy hàng nhanh và sự cạnh tranh cao xuất hiện, dẫn đến việc giá có thể giảm và có lợi cho người mua…

<-> Quy luật lưu thông tiền tệ :

Dòng tiên lưu thông trong thị trường đại diện cho sức mua, tổng số lượng sp / dv đại diện cho sức bán. Sức mua của thị trường sẽ bị chi phối bởi sự biến đổi của sức khoẻ đồng tiền, các công cụ lưu trữ, vận chuyển tiền tệ (vàng, đô la,…),  tỉ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, các chỉ số tăng trưởng kinh tế khác, các biến động kinh tế, chính trị trong nước và toàn cầu, …

<-> Quy luật giá trị thặng dư :

Bất cứ hoạt động trao đổi nào người bán cũng đều phải nhận lại giá trị thặng dư so với giá trị sp / dv để bù đắp các chi phí ban đầu, tái sản xuất và sinh lời theo quy tắc : T – H – H’ – T’

 

Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.

Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế

Điều kiện đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định).

Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế... thay đổi. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ.

Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo.

Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi.

Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế.

Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó.

Từ những tiền đề trên chúng ta cùng xem xét lại bản thân mình, gia đ2nh mình,dòng họ mình , quê hương đất nước minh

Bắt đầu từ đất nước :

1. Phát triển nền kinh tế thị trường là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta gần 35 năm qua. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng rõ và đầy đủ hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát triển đất nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực tế : hệ tống chính trị nhà nước ta chưa phát triển kịp vì nhiều lý do , trong đó con người tạo lập ra môi trường , chỉ huy , trọng tài đều khiếm khuyết , vì lợi ích và danh vọng cá nhân “công bộc” lãnh đạo hầu hết các cấp đều vun vén cho mình ,gia đình,dòng họ mình , mà quên đi lợi ích quốc gia dân tộc .

Còn về phần mình : Chúng ta phải thừa nhận là mình yếu kém ; nếu không nói là toàn diện kể cả về “TâmTrí Lực” thói lười (học tập,lao động,tu rèn) thể hiện rất rõ , bênh cạnh đó là thói ỷ lại , ngộ sao cũng được , cẩu thả ,ích kỷ toàn diện .Vì vậy tất cả các cá nhân , gia đình dòng họ ta đều yếu kém về kinh tế so với yêu cầu bình diện chung .

2. Tuy vậy, từ nhiều năm trước và đến ngày nay, vẫn có một số người, cả ở trong nước và ngoài nước, vì nhiều lý do, nhiều động cơ khác nhau, vẫn cho rằng không có nền kinh tế thị trường; không quan tâm,xem xét,học hành, nghiên cứu các quy luật của kinh tế thị trường

Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác.

3. Sai lầm của những người cho rằng không thể có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thứ nhất, là do họ đã đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Song, thực chất các quan hệ kinh tế thị trường và các quan hệ tư bản là hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, cung cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản nắm lấy, sử dụng để phát triển thành kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Giá trị và tư bản là những phạm trù khác nhau, cũng như quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư là những quy luật khác nhau.

Thứ hai, sai lầm của những người này là dường như cho rằng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa từ khi ra đời đến nay là không thay đổi, “nhất thành, bất biến”. Họ không thấy rằng trải qua thời gian, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hiệu quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết thị trường là cơ sở, nền tảng, điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (Công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Hơn nữa, kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước. Có mô hình kinh tế thị trường tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế (như Mỹ trước thời Tổng thống D.Trump). Có mô hình kinh tế thị trường xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia vào phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như Đức). Có mô hình kinh tế thị trường phúc lợi xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt những người cần được trợ giúp: trẻ em, người già, người thất nghiệp… (như các nước Bắc Âu). Có mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở nước mà nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như Nhật Bản, Hàn Quốc)…

Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triên, dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của chủ nghĩa xã hội trong lòng chủ nghĩa tư bản (là những sự phủ định đối với tư bản tư nhân, dù vẫn chưa phá bỏ được chế độ tư bản). Do tính chất của thời đại, ngày nay, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cũng có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước này, sử dụng cả kinh tế thị trường và cả kinh tế tư bản chủ nghĩa để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.

- Về sai lầm của luận điểm cho rằng các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập, loại trừ nhau.

Là một nền kinh tế thị trường thì phải vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đó là các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, trong đó trung tâm là quy luật giá trị. Đặc trưng của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Các doanh nghiệp (dùng doanh nghiệp để chỉ chung cho tất cả các chủ thể kinh tế) luôn phải cạnh tranh với nhau để chiếm được các nguồn lực sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, lao động, khoa học công nghệ…), các dự án đầu tư, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh tranh là sức ép, động lực thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, cải tiến quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh hợp lý; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh; qua đó, thúc đẩy kinh tế phát triển, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Quy luật cạnh tranh là mạnh được, yếu thua. Đây là mặt tích cực của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực: khai thác tối đa sức lực người lao động (kéo dài giờ làm, tăng cường độ lao động), giảm chi phí cho lao động (giảm lương, giảm bảo hộ lao động); khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường; sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, như: làm hàng giả, kém chất lượng, ăn cắp công nghệ, buôn lậu, trốn thuế, phá hoại đối thủ… Trong nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nhưng, đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.

Lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường (cả hàng hóa là yếu tố đầu vào của sản xuất và hàng hóa là sản phẩm do sản xuất tạo ra) được điều tiết bởi quy luật cung - cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa, cung lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất các hàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động, linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu. Nhưng, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ, lại không xác định được tổng cầu của xã hội (từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung gian), nên thường xuyên sản xuất thừa, dẫn đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung - cầu, của cơ chế tự điều tiết của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước, nhà nước có khả năng thấy rõ hơn từng người sản xuất kinh doanh về tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của nhà nước là để khắc phục khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.

Quy luật giá trị là quy luật cơ bản, trung tâm của kinh tế thị trường. Giá trị hàng hóa là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa. Chi phí để sản xuất hàng hóa, xét đến cùng, là chi phí lao động, bao gồm lao động của người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa (lao động sống) và lao động chi phí để sản xuất ra các tư liệu sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa này (lao động quá khứ). Về lượng giá trị, không phải mọi hao phí lao động cá biệt của những người sản xuất hàng hóa đều được xã hội thừa nhận để trở thành giá trị, chỉ những hao phí lao động ở mức trung bình xã hội, được hình thành do cạnh tranh, được xem là hao phí lao động xã hội cần thiết, mới là lượng giá trị. Giá trị biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị là hình thái của cải trong nền kinh tế thị trường, là mục tiêu, là yếu tố chi phối mọi hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.

Trong kinh tế thị trường, đối với người sản xuất, việc sản xuất hàng hóa nào chỉ là phương tiện để làm giàu, để thu được nhiều giá trị nhất. Trong sản xuất, họ năng động, sáng tạo, cải tiến, đổi mới… là để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, để chi phí sản xuất của họ thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, qua đó thu được nhiều giá trị hơn. Đối với người lưu thông hàng hóa cũng vậy, mua và bán hàng hóa gì đối với họ không quan trọng, vấn đề cũng là để thu được nhiều giá trị nhất, để làm giàu. Họ năng động, sáng tạo, nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường, đưa hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao; cải tiến quản lý để giảm chi phí lưu thông… cũng để thực hiện mục đích này. Đây là cách thức vận hành của quy luật giá trị, cách thức vận hành đó gắn bó chặt chẽ với quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu; có thể nói các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu là những hình thức biểu hiện, cách thức vận hành của quy luật giá trị. Tác động của quy luật giá trị bao gồm những tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu (tất nhiên, quy luật giá trị còn có nội dung rộng hơn hai quy luật này), cả những tác động tích cực, như: thúc đẩy năng động, sáng tạo, không ngừng cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ… thúc đẩy kinh tế phát triển; điều tiết sản xuất, lưu thông một cách nhanh nhạy… và cả những hậu quả tiêu cực, như: khủng hoảng chu kỳ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Trong các nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là để tạo khung khổ pháp luật và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận hành, đồng thời hạn chế, khắc phục những hậu quả tiêu cực này.

Trong nền kinh tế thị trường, còn có quy luật lưu thông tiền tệ, một quy luật phái sinh của quy luật giá trị. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông, về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa, bảo đảm cho lưu thông hàng hóa thuận lợi, trôi chảy. Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa là do tổng giá trị hàng hóa cần lưu thông và tốc độ luân chuyển (hay tốc độ vòng quay) của tiền quyết định. Trong thời kỳ sử dụng tiền vàng, tiền có đủ giá trị, thì khi số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền vàng sẽ tự động được rút khỏi lưu thông. Khi tiền giấy thay cho tiền vàng, nếu số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền sẽ mất giá, gây ra hiện tượng lạm phát. Giữ vững giá trị đồng tiền là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước ở các nước có kinh tế thị trường trên thế giới.

Tóm lại, trong tất cả các nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới, đều có hoạt động của các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường và có vai trò quản lý của nhà nước; nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời, vừa hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, tự phát do các quy luật kinh tế thị trường gây ra, giữ môi trường ổn định cho kinh tế phát triển và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Song, không có phê phán nào về vai trò của nhà nước, cho rằng điều này đối lập với hoạt động của các quy luật của nền kinh tế thị trường.

Ở nước ta, sau gần 35 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, về cơ bản, đã có đầy đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế: có đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, hệ thống thị trường phát triển ngày càng đồng bộ…; quản lý kinh tế của nhà nước đã đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giữ giá trị của đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường… Trong điều kiện đó, các quy luật của kinh tế thị trường đã vận hành đồng bộ: các doanh nghiệp đã phải nỗ lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa đã cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông đã phải chú ý đến những tín hiệu giá cả, cung - cầu trên thị trường; thị trường đã đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất… Các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… Nội dung và phương thức quản lý của nhà nước ta như vậy không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật của kinh tế thị trường mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các quy luật này, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

- Về những luận điểm sai lầm liên quan đến vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sai lầm của những người cho rằng nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì không có bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và không thể có nền kinh tế thị trường, thứ nhất, là do bị ám ảnh bởi kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây và thứ hai, là do hiểu sai về vai trò chủ đạo, cho rằng chủ đạo là phải được ưu đãi, ưu ái của nhà nước, phải chiếm tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế trước đổi mới, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, không có kinh tế tư nhân (kinh tế tư nhân không được phép tồn tại); kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế, do nhà nước trực tiếp quản lý bằng kế hoạch hóa tập trung, thì không thể có kinh tế thị trường. Ngày nay, kinh tế nhà nước hoàn toàn khác. Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực kinh tế của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là một công cụ của nhà nước, để cùng với các công cụ khác như luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Các nguồn lực kinh tế của nhà nước được huy động, phân bổ, sử dụng theo yêu cầu phải phù hợp, phục vụ việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước; nhưng khi thực hiện phải theo cơ chế thị trường, thông qua đấu thầu cạnh tranh, có sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, để việc phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả cao. Doanh nghiệp nhà nước được nhà nước đầu tư, phát triển ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước (nhất là khi các thành phần kinh tế khác không được, không muốn hay không đủ sức đầu tư), làm lực lượng tiên phong, nòng cốt cho sự phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn đó. Các doanh nghiệp nhà nước tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Khi đã có các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn này và không nhất thiết phải có doanh nghiệp nhà nước, thì nhà nước có thể thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển vốn nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng khác để thực hiện chiến lược, mục tiêu mới của nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với ý nghĩa là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết, thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Với vai trò đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế, với sự phát triển của kinh tế thị trường.

Trước đổi mới, kinh tế tập thể, dưới hình thức là các hợp tác xã sở hữu tập thể về đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu, quản lý theo kế hoạch, phân phối theo lao động và nằm trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp chung của đất nước thì đối lập với kinh tế thị trường. Trong những năm đổi mới, các hợp tác xã cũng đã được đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động, khác rất nhiều so với các hợp tác xã trước đây. Hợp tác xã hiện nay (hợp tác xã kiểu mới) là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ sản xuất kinh doanh tự nguyện thành lập để làm dịch vụ cho các hộ thành viên, hỗ trợ cho các thành viên, những người sản xuất nhỏ, yếu thế khi tham gia thị trường, giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tùy theo năng lực của hợp tác xã và nhu cầu của các hộ thành viên, hợp tác xã có thể cung ứng các vật tư, nguyên liệu, các yếu tố đầu vào cho sản xuất của các hộ (với giá rẻ hơn, chất lượng bảo đảm hơn khi từng hộ riêng lẻ mua); đảm nhận các dịch vụ sản xuất như làm đất, chăm sóc, thu hoạch cho các hộ thành viên (tiết kiệm cho các hộ phải mua máy móc thiết bị nhưng sử dụng không hết công suất); bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành viên (có lợi hơn cho hộ so với khi từng hộ bảo quản, chế biến, tiêu thụ); hỗ trợ các hộ thành viên vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng… Các hợp tác xã phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà cả trong các lĩnh vực tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, vận tải…. Các hợp tác xã từng bước tích lũy vốn, quỹ, tài sản, mở rộng quy mô hoạt động; liên kết với nhau thành hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã theo ngành nghề, theo địa bàn hoạt động… tạo thành mạng lưới rộng khắp để hỗ trợ những người sản xuất nhỏ, đưa những người sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kinh tế tập thể với vai trò hỗ trợ cho những người sản xuất nhỏ hoạt động, phát triển trong nền kinh tế thị trường và cùng với kinh tế nhà nước, với vai trò là công cụ để nhà nước thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế đất nước, đi tiên phong để thu hút các thành phần kinh tế khác đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng của đất nướcthì hai thành phần kinh tế này được xác định là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng đắn, không cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, cản trở sự phát triển của kinh tế thị trường.

Về sai lầm của luận điểm cho rằng kinh tế tư nhân với vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh thì nền kinh tế không thể phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà sẽ trở thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Quả thật là nếu để kinh tế tư nhân phát triển một cách tự phát thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhưng nền kinh tế thị trường nước ta có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kinh tế tư nhân không phát triển tự phát, mà phải tuân thủ luật pháp, chính sách của nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của nhà nước. Mặt khác, khi nhà nước khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động ở cả trong nước và ngoài nước thì luật pháp, chính sách của nhà nước cũng định hướng các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phát triển thành các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước ta sẽ đưa kinh tế tư nhân vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, một nấc thang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để kinh tế tư nhân đóng góp vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Một số kiến nghị

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; cho công tác tư tưởng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, tạo sự thống nhất về chính trị tinh thần trong Đảng và toàn xã hội; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước; tăng thêm động lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, Nhà nước.

Việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cần tập trung vào tiếp tục làm rõ những vấn đề mà thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra hiện nay, chuẩn bị cho việc hình thành lý luận về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Việt Nam. Đồng thời, cần phải nghiên cứu những vấn đề mới của thời đại, của chủ nghĩa tư bản hiện đại, những mâu thuẫn và xu hướng phát triển trên thế giới, làm rõ tính chất quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay.

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tập trung vào những vấn đề còn vướng mắc trong nhận thức, quan điểm, lúng túng trong thực hiện, như: thể chế trong huy động, phân bổ các nguồn lực để các nguồn lực được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; thể chế để thúc đẩy việc sắp xếp lại, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động các hợp tác xã; hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa; xây dựng, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thể chế cho sự ra đời các mô hình kinh doanh mới, phát triển các sản phẩm mới, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thể chế định hướng các doanh nghiệp tư nhân phát triển theo mô hình công ty cổ phần, gắn kết các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, đưa các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; thể chế để tạo thuận lợi cho tích tụ tập trung đất đai, phát triển nông nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái… để phát huy mặt tích cực của các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời củng cố, tăng cường các nhân tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.

- Tiếp tục làm rõ nội dung và thực hiện có kết quả nhiệm vụ chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh mới để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Cái thiếu nhất đối với nước ta, cũng như các nước kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nói chung, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở vật chất kỹ thuật, là trình độ phát triển của nền kinh tế (việc hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng hướng tới thực hiện mục tiêu này); bởi xét đến cùng năng suất lao động là yếu tố quyết định sự thắng lợi của một chế độ xã hội. Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; việc thực hiện tuy có đạt một số kết quả, nhưng chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra. Trong bối cảnh mới, nguy cơ chưa giàu đã già, rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với thế giới đối với nước ta là rất lớn. Vượt qua thách thức này, nguy cơ này là yêu cầu cấp bách hàng đầu của nước ta trong những năm tới.

- Tập trung vào đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng luật pháp, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kinh tế; rà soát, khắc phục những chồng chéo, mâu thuẫn, những điểm mơ hồ, bất hợp lý, không khả thi, tình trạng luật pháp mới ban hành, chờ thực hiện đã phải sửa đổi, bổ sung, tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư… Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, xóa bỏ những thủ tục hành chính không hợp lý, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm cá nhân, kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện công vụ, trong tổ chức thực hiện. Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, đẩy nhanh việc sử dụng các công cụ, phương thức quản lý hiện đại ở các cơ quan quản lý kinh tế nhà nước các cấp. Điều này gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhân tố quyết định đối với sự ổn định, phát triển của đất nước, với thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

Vận dụng vào phát triển kinh tế :

Cùng với quá trình đổi mới tư duy lý luận trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, Đảng ta đã có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa trong thời kỳ mới, về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, về phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa,... Do đó, việc xác định những nguyên tắc cơ bản trong vận dụng quy luật kinh tế để phát triển văn hóa, nghệ thuật là một trong những nhiệm vụ cơ bản và cấp thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn vận động của đời sống văn hóa, nghệ thuật ở nước ta hiện nay.

Du khách quốc tế hoà mình trong làn điệu Xoan “Mó cá” độc đáo ở đình làng cổ tỉnh Phú Thọ_Ảnh: Tư liệu

Đặc điểm của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

C. Mác từng viết: “Nhà văn, đương nhiên phải kiếm tiền mới có thể sống và viết, nhưng nhà văn tuyệt nhiên không được sống và viết để kiếm tiền… Nhà văn hoàn toàn không coi tác phẩm của mình là một phương tiện. Tác phẩm là mục đích tự nhân; tác phẩm không phải là phương tiện đối với nhà văn cũng như đối với những người khác, cho nên, nhà văn, khi cần có thể hy sinh sự tồn tại cá nhân của mình cho sự tồn tại của tác phẩm”(1). Như vậy, một mặt, C. Mác thừa nhận sản phẩm văn hóa, nghệ thuật nói chung có thuộc tính hàng hóa, được xã hội trả công thông qua thị trường hoặc được nhà nước đặt hàng (theo V.I. Lê-nin). Mặt khác, C. Mác cũng đặc biệt nhấn mạnh đến thiên chức xã hội của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Văn hóa, nghệ thuật phải thể hiện được vai trò của mình trong việc đấu tranh cho chân lý, lẽ phải, cho cái đẹp, tham gia vào bồi đắp tư tưởng, tình cảm cho xã hội.

Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chúng ta vận dụng vào lãnh đạo, quản lý văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Một mặt, phải khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần để xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp. Mặt khác, phải khai thác văn hóa như một động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa không chỉ có chức năng bồi đắp về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ cho xã hội mà còn là động lực, là nguyên nhân, là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Tiềm năng nguồn lực văn hóa chính là năng lực sáng tạo thẩm mỹ - nghệ thuật của đội ngũ văn nghệ sĩ; các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật; các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể do thế hệ trước để lại. Việc phát huy vai trò của chủ thể sáng tạo là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ chiếm một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong khi khẳng định sản phẩm văn hóa, nghệ thuật là sản phẩm hàng hóa đặc biệt, trước hết cần tôn trọng thuộc tính hàng hóa của sản phẩm này, tạo điều kiện để phát triển thị trường văn hóa một cách lành mạnh, công bằng, dân chủ, tôn trọng sự vận động theo quy luật cung - cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh theo Hiến pháp và pháp luật. Công cụ để quản lý và điều tiết quá trình phát triển văn hóa, nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là luật pháp và các chính sách văn hóa. Hệ thống luật pháp vừa phải bảo đảm quyền tự do sáng tạo, sản xuất và quảng bá các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của công dân theo Hiến pháp và pháp luật, vừa bảo đảm duy trì môi trường bình đẳng, dân chủ, đề cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trước nhân dân, dân tộc và thời đại. Đối với các dòng chảy chủ đạo của nền văn hóa, nghệ thuật cách mạng, Nhà nước cũng như các tổ chức chính trị - xã hội phải là người đặt hàng và tài trợ, bảo đảm các điều kiện về vật chất và tinh thần cho lao động sáng tạo văn hóa, văn nghệ phục vụ cho các mục tiêu chính trị - xã hội chung của đất nước.

Vận dụng quy luật của kinh tế thị trường để phát triển văn hóa, nghệ thuật

Du khách xem biểu diễn múa rối nước khi đến tham quan làng quê Yên Đức (thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh)_Nguồn: baoquangninh.com.vn

Trong thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động sáng tạo, sản xuất, phổ biến, tiếp nhận các sản phẩm văn hóa nghệ thuật ở nước ta đều chịu tác động của quy luật kinh tế thị trường. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ phải đối mặt với thị trường, trả lời các câu hỏi của đời sống, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa ngày càng đa dạng, sinh động của các tầng lớp xã hội khác nhau. Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của nhân dân tác động mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo, sản xuất, quảng bá các sản phẩm này. Đây vừa là thời cơ để đội ngũ văn nghệ sĩ, những doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực này phát huy tài năng, sức sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của công chúng, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức trước sự biến đổi thường xuyên của nhu cầu văn hóa, nghệ thuật của công chúng. Công việc sáng tạo giờ đây không thể ngồi yên trên “tháp ngà” mà phải bám sát vào đời sống thực tiễn, đối diện thường xuyên với thị trường văn hóa. Mặt khác, mọi hoạt động văn hóa, nghệ thuật đều vừa phải chú ý đến hiệu quả tư tưởng, thẩm mỹ, nghệ thuật, vừa phải chú ý cả về hiệu quả kinh tế - xã hội. Những người tham gia vào hoạt động trên lĩnh vực này cũng phải am hiểu quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh để tối ưu hóa hiệu quả sản phẩm của mình. Tính liên kết, sự hợp tác giữa các chủ thể sáng tạo, sản xuất, phổ biến, thụ hưởng các thành tựu sáng tạo ngày càng trở nên cần thiết để tạo nên chuỗi giá trị của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Hàng loạt các khái niệm mới, thuật ngữ mới dần được tiếp nhận và đi vào đời sống văn hóa, nghệ thuật nước nhà, như công nghiệp văn hóa, văn hóa đại chúng, tiêu dùng văn hóa, thị trường văn hóa, thị trường sân khấu, thị trường điện ảnh, thị trường sách, thị trường tranh…

Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta đã phê phán xu hướng thương mại hóa, chạy theo thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm và đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp lớn để xây dựng, phát triển văn hóa, nhấn mạnh đến xây dựng, hoàn thiện pháp luật, các chính sách văn hóa, trong đó có chính sách kinh tế trong văn hóa, chính sách văn hóa trong kinh tế, chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chính sách khuyến khích sáng tạo… Đây là những chủ trương hoàn toàn đúng đắn để giải quyết những vấn đề mới của văn hóa, nghệ thuật thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế thị trường. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta đã tổng kết lại quá trình thực hiện Nghị quyết này và bổ sung, phát triển các quan điểm lý luận mới về văn hóa trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định một trong những mục tiêu cụ thể của sự nghiệp văn hóa là xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Đảng ta đã nêu ra nhiệm vụ quan trọng là phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Trong nhiệm vụ này, Đảng ta đã nêu rõ yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác, phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, “có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa; tạo thuận lợi để các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển”.

Tiết mục biểu diễn nghệ thuật "Làng tôi" vừa giàu tính nghệ thuật, văn hóa, vừa mang lại hiệu quả kinh tế, do Công ty Lune Production sản xuất_Ảnh: luneproduction.com

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016 “Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, khẳng định các ngành công nghiệp văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên sự sáng tạo, khoa học - công nghệ và bản quyền trí tuệ, khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy được lợi thế của Việt Nam, phù hợp với các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường, được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các ngành, các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối, phổ biến và tiêu dùng. Phát triển công nghiệp văn hóa gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Có thể nói, những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Chiến lược này nêu ra về cơ bản đã đáp ứng đúng và trúng nhu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Công nghiệp văn hóa đã được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân hoạt động theo các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường, được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mục tiêu chung của chiến lược là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm: quảng cáo, kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế tiềm năng của Việt Nam.

Tuy nhiên, thời gian tới cần chú trọng hơn nữa đến các giá trị nhân văn, giá trị xã hội của công nghiệp văn hóa nói riêng cũng như các hoạt động văn hóa nói chung, cần nhận thức rõ, công nghiệp văn hóa vừa là một phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vừa là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Sự gắn kết giữa nhân tố văn hóa và nhân tố kinh tế - kỹ thuật ở đây rất chặt chẽ. Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà phải góp phần làm lành mạnh hóa đời sống tinh thần của xã hội, bồi dưỡng lý tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, góp phần xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Nếu không quan tâm đúng mức đến những vấn đề cơ bản và cốt lõi này thì sẽ dẫn đến tình trạng đánh mất “mục đích tự thân” của văn hóa, nghệ thuật mà còn biến văn hóa, nghệ thuật trở thành “phương tiện kiếm tiền” như C. Mác đã cảnh báo, biến sản phẩm văn hóa, nghệ thuật từ một sản phẩm hàng hóa đặc biệt trở thành loại hàng hóa vật chất phục vụ tiêu dùng hằng ngày như các sản phẩm thông dụng khác. Điều này cũng đồng nghĩa với việc hạ thấp thiên chức xã hội của văn hóa, nghệ thuật.

Việc vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường vào trong hoạt động văn hóa, văn nghệ cần phải chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, đối với các chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo, sản xuất, phổ biến và tiêu thụ các sản phẩm văn hóa, văn nghệ.

Cần vận dụng quy luật của sản xuất hàng hóa, như quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh để nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường văn hóa, nghệ thuật. Sự kết hợp giữa các khả năng sáng tạo, khả năng kinh doanh, khả năng áp dụng khoa học - công nghệ trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể tham gia trên thương trường văn hóa, nghệ thuật. Chất lượng của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật không chỉ phụ thuộc vào sự sáng tạo của đội ngũ nghệ sĩ mà còn bao hàm cả khả năng marketing thị trường, khả năng quảng bá, phổ biến và kích thích sự tiêu dùng sản phẩm này của công chúng. Trong quá trình phát triển thị trường văn hóa, vai trò của đội ngũ nghệ sĩ, doanh nhân, doanh nghiệp, các nhà khoa học về văn hóa, nghệ thuật ngày càng quan trọng và gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành chuỗi liên kết để tạo nên hợp lực trong phát triển; trong đó, cần chú ý hơn đến vai trò của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp, của các công ty, các hãng phim, hãng sản phẩm băng hình và trò chơi điện tử, các trung tâm biểu diễn nghệ thuật… Việc phát triển các doanh nghiệp, doanh nhân có thương hiệu mạnh trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật sẽ tạo động lực quan trọng để xây dựng các “trụ cột” văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chính đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp là những người vừa có tiềm năng kinh tế vừa có khả năng kết nối với đội ngũ nghệ sĩ và công chúng, tạo ra các sản phẩm văn hóa, văn nghệ mới để đưa ra thị trường.

Du khách quốc tế tham quan phiên chợ vùng cao trong khuôn khổ Lễ hội Hoa ban, tỉnh Điện Biên_Nguồn: svhttdldienbien.gov.vn

Thứ hai, về công tác quản lý văn hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường.

Trước hết, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển văn hóa. Hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển văn hóa phải hướng tới bảo đảm quyền văn hóa của công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định, đặc biệt là quyền sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ văn hóa, văn nghệ. Nguyên tắc cơ bản của việc quản lý văn hóa, văn nghệ theo cơ chế thị trường là: 1- Nhà nước đặt hàng đối với các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ các mục tiêu chính trị, các sự kiện chính trị trọng yếu; 2- Nhà nước có chính sách khuyến khích sáng tạo, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đối với những lĩnh vực cần ưu tiên phục vụ lợi ích quốc gia, phát triển các trào lưu văn hóa, văn nghệ chủ đạo; trợ giúp những vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội thông qua các chính sách ưu đãi về tài chính, ngân hàng, thuế đất, thuế thu nhập…; 3- Nhà nước tạo hành lang pháp lý bình đẳng để các chủ thể tham gia sáng tạo, sản xuất, phổ biến các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, văn nghệ theo quy luật thị trường, bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân vừa đem lại lợi ích kinh tế cho các chủ thể mà luật pháp cho phép; 4- Nhà nước sử dụng các biện pháp về kinh tế để hạn chế phát triển các hoạt động văn hóa, nghệ thuật không thiết yếu, không khuyến khích.

Như vậy, vấn đề xác định cụ thể từng đối tượng để đưa ra các chính sách và giải pháp điều tiết cụ thể thông qua đòn bẩy kinh tế là hết sức cần thiết để tạo động lực cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời, bảo đảm tính công bằng, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa, nghệ thuật. Đây cũng là cơ sở để góp phần nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân trên lĩnh vực sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa, nghệ thuật ở nước ta hiện nay

Đến sinh viên đại học cũng rất có thể không phân biệt thế nào là định nghĩa, định luật, định lý, tiên đề. Chúng ta cũng để ý thấy rằng dường như trong các chương trình, từ phổ thông đến đại học, ít sách nào đề cập đến mấy khái niệm căn bản đó. Giáo viên dường như cũng quên đi việc đưa ra các khái niệm trên, còn người học được chép từ định nghĩa này đến định luật nọ, từ tiên đề này cho đến việc chứng minh định lý kia. Để rồi khi gặp những vấn đề cần động não, một bài tập nhỏ chẳng hạn, cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu.

Quan trọng nhất trong các thuật ngữ trên chính là định nghĩa. Đôi khi người ta tranh luận dai dẳng với nhau chẳng qua chỉ vì bất đồng về định nghĩa. Không hiếm trường hợp cả hai người tranh luận đều sai trong việc ý thức về định nghĩa đó, để rồi cãi vã vô lý chẳng đi đến đâu.

Chính do không xác định đúng định nghĩa ;Trong đời sống người ta khá vất vả để tìm ra hướng giải quyết cho một “bài tập” đơn giản của cuộc đời chỉ bởi vì không nắm rõ định nghĩa. Câu hỏi muốn hỏi về cái gì, ta phải nằm lòng định nghĩa về cái ấy, sau đó mới lần theo đó mà tìm ra phương cách.

Ví dụ đơn giản thế này, một sinh viên có câu hỏi liên quan đến hiệu suất của động cơ nhiệt, vấn đề đối với anh ta khá rắc rối, nhưng sau khi bất chợt xem lại định nghĩa về hiệu suất động cơ (tỉ lệ giữa công sinh ra do tác nhân với nhiệt hấp thụ từ môi trường) thì mọi chuyện đã trở nên sáng sủa. Những bài tập dễ thường chỉ như thế, nắm chắc công thức và quy về định nghĩa, vậy thôi.

Định nghĩa quan trọng hơn cả còn bởi vì các định luật định lý đều đề cập đến những đối tượng được định nghĩa trước. Tôi lấy ví dụ: định luật bảo toàn moment động lượng. Nhưng để sử dụng được định luật này cần trải qua một số “thủ tục”:

– Thế moment động lượng là gì?

– Là moment của động lượng!

– Thế moment là gì, động lượng là gì?

– Moment của một vector là tích có hướng của vector cánh tay đòn với vector đó, động lượng là một đại lượng đặc trưng cho khả năng tương tác của vật, có giá trị bằng khối lượng  nhân cho vector vận tốc.

– Vậy vector là cái gì?

Câu chuyện trên nhằm minh họa cho vai trò của định nghĩa. Không có định nghĩa không làm gì được. Muốn nói gì đầu tiên cần định nghĩa. Tuy nhiên phải cẩn thận vì đôi khi những người viết sách, những người thầy của chúng ta, cũng mâu thuẫn với nhau. Tôi đã có những lần khi đối mặt với các thầy đã phải nói những câu như: “Thưa thầy theo sách Sivukhin thì nó được định nghĩa như thế này…, còn sách của Irodov lại viết khác…”

Giờ tôi nói tiếp đến định luật và định lý. Sở dĩ tôi bàn một lúc cả hai cái để tiện so sánh. Còn vì sao tôi so sánh, vì chữ luật và chữ lý làm cho hai từ bắt đầu bằng chữ định này trở nên dễ nhầm lẫn. Điều đó thường xuyên xảy ra vì chúng ta thường chỉ biết lấy và sử dụng chúng thôi. Về mặt này, cả định luật lẫn định lý có giá trị gần như nhau. Cấu trúc và cách phát biểu của chúng cũng rất giống nhau. Chuyện nhầm là dễ hiểu.

Điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa hai khái niệm này chính là nguồn gốc của nó. Định luật vốn xuất phát từ thực nghiệm. Nó xác định quy luật của tự nhiên. Ví dụ: dựa theo kết quả quan sát thiên văn, Kepler phát hiện ra rằng các hành tinh chuyển động theo đường elip, người ta gọi đó là định luật Keple thứ nhất. Không một chứng minh duy ý chí nào ở đây cả, cứ theo khách quan mà nói, sự thật thế nào ta rút ra thế ấy, đó chính là định luật. Nói nghe có vẻ dễ dàng, nhưng để đúc kết các sự kiện trở thành định luật cũng không đơn giản. Còn định lý là phát biểu được chứng minh dựa trên những thứ có sẵn. Ví dụ như một khi đã có định nghĩa về động năng, công, lực và một số thứ khác, ta có thể kết luận một cách đàng hoàng rằng: độ biến thiên động năng bằng công của ngoại lực. Đó là một định lý, vì ta chỉ việc làm một vài phép toán biến đổi để đi đến kết luận đó mà không cần đến thực nghiệm. Định lý chính là hệ quả tất yếu nảy sinh. Theo ý nghĩa này thì các khái niệm như “hệ quả” hay “bổ đề” cũng mang nét tượng tự định lý.

Vì xuất phát từ thực nghiệm nên chỉ có khoa học tự nhiên mới có định luật, còn toán học thì không. Trong hai thứ này, ở toán học chỉ có định lý. Không hề tồn tại một định luật toán học nào cả. Ngược lại, trong bộ môn cơ học lý thuyết, chúng ta không thể tìm thấy một định luật vật lý nào. Đây là một phát hiện thú vị, chúng ta cứ thử kiểm tra xem. Sở dĩ có chuyện đó bởi do đây là thứ cơ học chỉ dựa trên một vài tiên đề rồi suy ra toàn bộ phần còn lại, không lấy dẫn chứng từ bất kì thực nghiệm nào. Bởi thế người ta mới gọi là cơ học lý thuyết.

Việc nắm rõ nguồn gốc giúp ta phân định rõ ràng đâu là định lý, đâu là định luật. Sự phân định như thế lại giúp ta tư duy đúng đắn về vật lý. Có một số nhầm lẫn khá phổ biến, như định luật bảo toàn cơ năng chẳng hạn. Tôi xin nhấn mạnh rằng không có định luật nào về bảo toàn cơ năng cả. Bảo toàn cơ năng là hệ quả tất yếu sau phép định nghĩa về lực bảo toàn, hay lực thế. Nói cho đúng thì nó là một định lý. Trên thực tế chỉ có định luật bảo toàn năng lượng mà thôi.

Sau cùng tôi đề cập đến tiên đề, có lẽ không cần phải nói nhiều. Tiên đề là thứ mặc nhiên thừa nhận, dù nó có đơn giản đến mức nào đi nữa, nếu người ta muốn chọn nó làm điểm khởi đầu cho một lý thuyết. Tiên đề cũng giống như định luật hay định lý vậy, chỉ khác ở chỗ, định luật do thực nghiệm, định lý do suy diễn, còn tiên đề do chúng ta đặt lấy, thường là sự khái quát hoá một kinh nghiệm của con người.

Ta biết rằng, các định luật của Kepler về quy luật chuyển động của các hành tinh được phát minh ra trước định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Tuy nhiên, sau khi Newton viết ra công thức tính lực hấp dẫn thì tự nhiên sẽ suy ra được các phương trình chuyển động của các hành tinh, đúng như Kepler đã nói. Nói cách khác, từ lúc bấy giờ trở đi nếu ta coi định luật vạn vật hấp dẫn là quan trọng nhất thì theo đó các định luật Keple tự nhiên biến thành hệ quả hay định lý. Mặc dù vậy, có lẽ vì tôn trọng lịch sử, người ta vẫn coi các kết luận của Keple là định luật.

Một lý thuyết vật lý bao giờ cũng có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định nghĩa, định luật, định lý và tiên đề. Nhưng đôi khi cũng có sự thiếu rõ ràng giữa chúng. Định luật thứ hai của Newton hiện nay được dùng không khác gì một định nghĩa về lực, và cũng không khác gì một tiên đề. Tôi sẽ quay lại vấn đề cụ thể này ở bài viết sau. Ngay chính định luật bảo toàn năng lượng theo tôi không phải là một định luật, mà là một tiên đề không hơn không kém. Tôi cũng xin để dành vấn đề này cho một bài viết khác.

Vật lý cũng như các môn khoa học khác, rất lâu nữa mới tạm gọi là hoàn chỉnh. Nhưng con đường đi đến chân lý bao giờ cũng vậy, bao giờ cũng cần đến tiên đề, định nghĩa, định luật và định lý. Đối với người học, nắm chắc và phân định rạch ròi là cần thiết.

TỔNG HỢP TẤT CẢ CÁC ĐỊNH LÝ TOÁN HỌC:

A. TOÁN SƠ CẤP:

I. HÌNH HỌC PHẲNG:

1. Định lý Talet.

2. Định lý Pitago.

3. Định lý đường phân giác trong tam giác.

4. Định lý về đường trung tuyến.

6. Định lý Apollonius

7. Định lí Menelaus

8. Mở rộng định lí Menelaus theo diện tích.

9. Định lí Menelaus cho tứ giác.

10. Định lí Ceva.

11. Định lí Ceva dạng sin.

12. Định lí Desargues.

13. Định lí Pappus.

14. Một trường hợp đặc biệt của định lí Pappus qua góc nhìn hình xạ ảnh.

15. Đẳng thức Ptolemy.

16. Bất đẳng thức Ptolemy.

17. Định lí Pascal.

18. Định lí Brianchon.

19. Định lí Miquel.

20. Công thức Carnot.

21. Định lí Carnot.

22. Định lí Brokard.

23. Định lí Euler về khoảng cách giữa tâm 2 đường tròn nội, ngoại tiếp của tam giác.

24. Định lí Euler về khoảng cách giữa tâm 2 đường tròn nội, ngoại tiếp của tứ giác (Định lí Fuss).

25. Định lí Casey.

26. Định lí Stewart.

27. Định lí Lyness.

28. Định lí Lyness mở rộng (Bổ đề Sawayama).

29. Định lí Thébault.

30. Công thức Jacobi liên quan đến tâm tỉ cự,định lí Lebnitz.

31. Định lí Newton cho tứ giác ngoại tiếp.

32. Định lí Breichneider.

33. Định lí con nhím.

34. Định lí Gergonne -Euler.

35. Định lí Peletier.

36. Định lí Miobiut.

37. Định lí Viviani.

38. Công thức Lagrange mở rộng.

39. Đường thẳng Simson.

40. Đường thẳng Steiner.

41. Điểm Anti-Steiner (Định lí Collings).

42. Định lí Napoleon.

43. Định lí Morley.

44. Định lí con bướm với đường tròn.

45. Định lí con bướm với cặp đường thẳng.

46. Điểm Blaikie.

47. Định lí chùm đường thẳng đồng quy.

48. Đường tròn Apollonius.

49. Định lí Blanchet.

50. Định lí Blanchet mở rộng.

51. Định lí Jacobi.

52. Định lí Kiepert.

53. Định lí Kariya.

54. Cực trực giao.

55. Khái niệm tam giác hình chiếu ,công thức Euler về diện tích tam giác hình chiếu.

56. Khái niệm hai điểm đẳng giác.

57. Khái niệm tứ giác toàn phần.

58. Đường thẳng Droz-Farny.

59. Đường tròn Droz-Farny.

60. Định lí Van Aubel về tứ giác và các hình vuông dựng trên cạnh.

61. Hệ thức Van Aubel

62. Định lí Pithot.

63. Định lí Johnson.

64. Định lí Eyeball.

65. Bổ đề Haruki.

66. Bài toán Langley.

67. Định lí Paul Yiu về đường tròn bàng tiếp.

68. Định lí Maxwell.

69. Định lí Brahmagupta về tứ giác nội tiếp có hai đường chéo vuông góc.

70. Định lí Schooten.

71. Định lí Bottema.

72. Định lí Pompeiu.

73. Định lí Zaslavsky.

74. Định lí Archimedes.

75. Định lí Urquhart.

76. Định lí Mairon Walters.

77. Định lí Poncelet về bán kính đường

II. HÌNH HỌC KHÔNG GIAN:

1. Định lý 3 đường vuông góc.

III. SỐ HỌC:

1. Định lý Fermat nhỏ.

IV. ĐẠI SỐ:

1. Định lý Bơ du.

2. Định lý Vi-et.

V. GIẢI TÍCH:

VI. LƯỢNG GIÁC:

1. Định lý sin.

2. Định lý cos.

B. TOÁN CAO CẤP:

I. ĐẠI SỐ:

1. Định lý Fermat lớn.

II. TÔ PÔ:

1. Định lý Heine-Borel.

2. Định lý Tychonoff.

3. Định lý metric.

4. Định lý mở rộng Tietze.

5. Định lý phạm trù Baire.

II. LÝ THUYẾT ĐỒ THỊ:

1. Định lý bốn màu (four-color theorem).

2. Định lý đồ thị hoàn hảo mạnh (strong perfect graph theorem).

3. Định lý luồng cực đại lát cắt cực tiểu.

III. PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN:

1. Định lí Picard-Lindelöf về sự tồn tại và tính duy nhất của hàm nghiệm.

5. Tô pô hay tô pô học, còn có một tên nay đã ít dùng là vị tướng học (tiếng Anh: topology), có gốc từ trong tiếng Hy Lạp gồm topos (nghĩa là "nơi chốn") và logos (nghiên cứu), là một ngành toán học nghiên cứu các đặc tính còn được bảo toàn qua các sự biến dạng, sự xoắn, và sự kéo dãn nhưng ngoại trừ việc xé rách và việc dán dính. Do đó, tô pô còn được mệnh danh là "hình học của màng cao su". Các đặc tính đó gọi là các bất biến tô pô. Khi ngành học này lần đầu tiên tìm ra trong những năm đầu của thế kỉ 20 thì nó vẫn được gọi bằng tiếng Latinh là geometria situs (hình học của nơi chốn) và analysis situs (giải tích nơi chốn). Từ khoảng 1925 đến 1975 nó đã trở thành lãnh vực lớn mạnh quan trọng bậc nhất của toán học.

Thuật ngữ tô pô cũng để chỉ một đối tượng toán học riêng biệt trong ngành. Với ý nghĩa này, một tô pô là một họ của các tập mở mà có chứa tập trống và toàn bộ không gian, và nó đóng dưới các phép hội bất kì và phép giao hữu hạn. Và đây là định nghĩa của một không gian tô pô.Người ta có phát biểu rằng một nhà tô pô học là người mà không thể phân biệt được sự khác nhau giữa một cái vòng xuyến và một ca đựng bia có quai. Vì cả hai đều là vật rắn và có đúng 1 lỗ hổng. Đôi khi tô pô còn được gọi là hình học về miếng cao su vì trong tô pô thì không có sự phân biệt giữa một đường hình vuông với một đường tròn. Đường hình tròn có thể được kéo co giãn để biến dạng thành hình vuông. Tuy nhiên, đường tròn thì hoàn toàn phân biệt với đường hình số 8, bởi vì không thể nào kéo dãn hình tròn để tạo thành hình số 8 mà không đục xé nó ra thêm một lỗ. Các không gian nghiên cứu trong tô pô gọi là các không gian tô pô. Chúng thay đổi từ dạng quen thuộc như không gian thực n chiều cho đến các cấu trúc vô cùng kì lạ.

Như vậy có thể nói một cách nôm na rằng tô pô là một ngành nghiên cứu về đặc tính của các cấu trúc đặc có tính siêu co giãn, siêu biến dạng nhưng lại không thể bị cắt rời thành nhiều mảnh, không thể bị đâm thủng hay bị dán dính vào nhau.

Một số định hướng khi nghiên cứu môn toán cũng như các môn khoa học lý thuyết:

 

TỔNG HỢP TẤT CẢ CÁC TẬP HỢP SỐ HIỆN NAY:

1. Số tự nhiên

2. Số nguyên

3. Số hữu tỉ

4. Số vô tỉ

5. Số thực

6. Số phức

7. Số siêu phức

Giải phương trình là một trong những phần trọng tâm nhất của Đại số. Ngày nay người ta đã có thể giải các phương trình từ bậc 1 ->4 bằng nhiều cách khác nhau tuy nhiên phương trình từ bậc 5 trở đi thì người ta chứng minh được rằng không có phương pháp giải chung với mọi bài và rất nhiều phương trình đặc biệt là các phương trình vô tỉ không giải được bằng toán học sơ cấp...

CÁC BẤT ĐẲNG THỨC NỔI TIẾNG:

1. Bất đẳng thức Bunya không vsky

2. Bất đẳng thức Azuma

3. Bất đẳng thức Bernoulli

4. Bất đằng thức Boole

5. Bất đẳng thức Cauchy-Schwarz

6. Bất đẳng thức cộng Chebyshev

7. Bất đẳng thức Chernoff

8. Bất đẳng thức Cramer-Rao

9. Bất đẳng thức Hoeffding

10. Bất đẳng thức Holder

11. Bất đẳng thức Jensen

12. Bất đẳng thức Markhôngv

13. Bất đẳng thức Minkhôngwski

14. Bất đẳng thức Nesbitt

15. Bất đẳng thức Pedoe

16. Bất đẳng thức tam giác

17. Bất đẳng thức trung bình cộng và trung bình nhân

Làm rõ hơn về phạm trù

– Trong cuộc sống, chúng ta thường xuyên gọi tên những khái niệm nhất định như “người”, “thú”, “vàng”, “chì”… Những khái niệm đó là hình thức của tư duy, phản ánh những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của một nhóm nhóm, một lớp những sự vật, hiện tượng nhất định.

Tùy thuộc vào số lượng sự vật, hiện tượng được khái niệm phản ánh, “gom vào” mà ta có khái niệm rộng, hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất trong một lĩnh vực cụ thể chính là phạm trù trong lĩnh vực ấy.

“Khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định được gọi là phạm trù”.

– Mỗi bộ môn khoa học (toán, lý, hóa, văn, sử, tâm lý học…) đều có phạm trù riêng của mình. Như các phạm trù năng lượng, khối lượng… trong vật ly; biến dị, di truyền… tring sinh học; hàng hóa, giá trị… trong kinh tế học.

Còn phạm trù triết học là phạm trù rộng nhất, lớn nhất, chung nhất…, hơn tất cả các ngành khoa học có thể kể tên như toán học, hóa học, văn học, sử học, kinh tế học…

Một số phạm trù triết học quen thuộc:

– Vật chất.:

Định nghĩa vật chất của Lênin được diễn đạt như sau:

“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học.

- Vật chất là thực tại khách quan.

- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.

- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.

+ Định nghĩa vật chất của Lênin có nhiều ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận to lớn:

- Bác bỏ những quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về vật chất.

- Phủ nhận thuyết không thể biết về vật chất.

- Khắc phục những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất.

- Định hướng các khoa học cụ thể trong việc tìm kiến các dạng hoặc hình thức mới của vật thể.

- Cho phép xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội.

+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học.

“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…).

“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn.

Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó.

- Vật chất là thực tại khách quan.

Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.

Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.

- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.

Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức). Như thế, vật chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất. Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là tính thứ hai.

Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất.

Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có con người. Đây  ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức.

Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ thuộc vào vật chất. Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Để hiểu thêm về ý thức, mời các con đọc bài viết: Nguồn gốc, bản chất của ý thức.

- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.

Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được.

Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện.

Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người.

– Ý thức.

Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và xã hội. Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản chất của phạm trù này.

+ Nguồn gốc của ý thức

*Nguồn gốc tự nhiên

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên óc người.

= Bộ óc người

Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.

Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này.

Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức không diễn ra bình thường hoặc rối loạn.

Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài.

- Sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người

Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.

Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó. Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh.

Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động.

Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.

Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.

Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù “ý thức”. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người.

*Nguồn gốc xã hội

Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Đó là lao động, tức là thực tiễn xã hội và ngôn ngữ.

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các cơ quan xã hội. Theo Ph. Ăng-ghen, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não người, biến tâm lý động vật thành ý thức con người.

- Lao động

Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.

Con người có khả năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn. Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.

Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động thực tiễn, nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này.

Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.

Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức của con người.

- Ngôn ngữ

Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.

Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được.

Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.

Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Bộ não con người và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

+ Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Như vậy, bản chất của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:

- Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh.

Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh (tức ý thức). Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan. Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.

Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính.

- Ý thức là sự phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.

Tuy thuộc phạm vi chủ quan, nhưng ý thức không phải là bản sao thụ động, giản đơn, máy móc của sự vật. Tức là, không phải cứ sự vật tác động như thế nào thì ý thức sẽ chép lại, chụp lại y nguyên như thế.

Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.

Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật  một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.

Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh.

- Ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3 mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.

Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.

Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan. Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở trên.

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.

Chỉ khi con người xuất hiện, tiến hành hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới khách quan theo mục đích của mình, ý thức mới xuất hiện. Như thế, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.

Ý thức bị chi phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi các quy luật xã hội. Ở những thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng một thời đại, ý thức về cùng một sự vật, hiện tượng có thể khác nhau ở các chủ thể khác nhau.

+ Ý nghĩa rút ra từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức

Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan. Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó.

Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật chất.

Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.

Phát huy tính tự giác, chủ động của con người

Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng. 

Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động. Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa.

– Sự phát triển.

Sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với mối liên hệ phổ biến giữa chúng. Do vậy, nguyên lý về sự phát triển cũng gắn liền, quan hệ hữu cơ với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Hiểu một cách chung nhất, “nguyên lý” là những tư tưởng ban đầu, xuất phát, có vai trò định hướng, chỉ đạo việc triển khai những lý thuyết tiếp theo.

Khái niệm về sự phát triển

Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Ta cần phân biệt khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển“:

Vận động là mọi biến đổi nói chung. Khái niệm này có ngoại diên lớn hơn khái niệm phát triển.

Phát triển là sự vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy luật. Phát triển gắn liền với sự ra đời của cái mới này.

Nhờ có sự phát triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cũng như chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như thế, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động.

Quan điểm biện chứng thừa nhận tính phức tạp, tính không trực tuyến của quá trình phát triển. Sự phát triển có thể diễn ra theo con đường quanh co, phức tạp, trong đó không loại trừ bước thụt lùi tương đối.

* Tính chất của sự phát triển

- Tính khách quan của sự phát triển

Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực luôn vận động, phát triển một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người. Đây là sự thật hiển nhiên, dù ý thức của con người có nhận thức được hay không, có mong muốn hay không.

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngày trong chính bản thân của sự vật, hiện tượng. Đó là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thuộc mỗi sự vật, hiện tượng.

Phát triển là quá trình tự thân (tự nó, tự mình) của mọi sự vật, hiện tượng.

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan của sự phát triển đã phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển.

Quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực lượng siêu nhiên, phi vật chất (thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người. Tức là đều nằm ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.

Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im”, không phát triển. Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về mặt lượng (số lượng, kích thước…) mà không có sự biến đổi về chất.

- Tính phổ biến của sự phát triển

Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiện thực ấy.

Trong hiện thực, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, luôn luôn duy trì một trạng thái cố định trong suốt quãng đời tồn tại của nó.

- Tính kế thừa của sự phát triển

Sự phát triển tạo ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ phận, đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu cực, lạc hậu, không tích hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác trên cơ sở kế thừa như vậy.

Đó là quá trình phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc.

- Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển

Sự phát triển có muôn hình, muôn vẻ, biểu hiện ra bên ngoài theo vô vàn loại hình khác nhau.

Sự phong phú của các dạng vật chất và phương thức tồn tại của chúng quy định sự phong phú của phát triển. Môi trường, không gian, thời gian và những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau tác động vào các sự vật, hiện tượng cũng làm cho sự phát triển của chúng khác nhau.

Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao hơn…

Sự phát triển trong xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội ngày càng lớn của con người.

Đối với tư duy, sự phát triển là năng lực nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện, đúng đắn hơn.

* Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng, chúng ta rút ra quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điển này đòi hỏi:

- Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó trong sự vận động và phát triển.

Ta cần phải nắm được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang hiện hữu trước mắt, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai, khả năng chuyển hóa của nó. Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đó.

Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định  kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.

- Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong thực tiễn.

Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.

Quan điểm phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với mỗi bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.

- Phải chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng.

Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi sự vật, hiện tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.

Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Vì trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát hiện, cổ vũ cái mới phù hợp, tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ đạo.

Ta cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển.

Phải tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn.

Tuyệt đối tránh bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động.

-Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay đổi về chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật, hiện tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất.

– Sáu cặp phạm trù cơ bản:

Trước khi tìm hiểu về 6 phạm trù triết học, chúng ta cùng điểm qua định nghĩa về phạm trù và phạm trù triết học.

Phạm trù là khái niệm phản ánh những thuộc tính, mối liên hệ cơ bản và chung nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Phạm trù triết học là khái niệm rộng nhất, chung nhất phản ánh các mặt, các mối liên hệ với bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên xã hội và trong tư duy.

Phạm trù triết học có những tính chất sau:

Tính biện chứng: Được thể hiện ở nội dung mà phạm trù phản ánh luôn phát triển, vận động nên phạm trù cũng vận động, thay đổi liên tục, không đứng im. Phạm trù có thể chuyển hóa lẫn nhau.

Tính biện chứng của hiện tượng hay sự vật mà phạm trù phản ánh quy định biện chứng của phạm trù. Điều này cho thấy chúng ta cần sử dụng, vận dụng phạm trù hết sức linh hoạt, mềm dẻo, biện chứng và uyển chuyển.

Tính khách quan: Mặc dù phạm trù chính là kết quả của sự tư duy, tuy nhiên nội dung mà các phạm phù phản ánh lại là khách quan do thiện thực khách quan mà phạm trù phản ánh quy dinh. Có thể giải thích rộng hơn là phạm trù khách quan về cơ sở, về nguồn gốc, về nội dung, còn hình thức thể hiện là phản ánh chủ quan của phạm trù.

* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

Là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:

1) Cái chung và cái riêng

2) Bản chất và hiện tượng

3) Nội dung và hình thức

4) Nguyên nhân và kết quả

5) Khả năng và hiện thực

6) Tất nhiên và ngẫu nhiên

Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản (tính khách quan, tính phổ biến và tínhđa dạng, phong phú) theo không gian và thời gian cụ thể.

Cặp phạm trù cái chung và cái riêng

Cái chung là phạm trù triết học chỉ ra những thuộc tính, những mặt giống nhau và được lặp lại trong cái riêng khác.

Phạm trù cái riêng chỉ ra một hiện tượng, một sự vật, một hệ thống hay một quá trình mà sự vật tạo thành chỉnh thể độc lập với các cái riêng khác.

Cái chung chỉ tồn tại ở trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của mình.

Ví dụ: Mỗi người là một thể thực riêng biệt, bên trong mỗi người đều có điểm chung như có đầu óc để quan sát và điều khiển hành vi của mình. Có trái tim để cảm nhận thế giới xung quanh.

Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân là phạm trù được dùng để chỉ tác động qua lại giữa các bộ phận, các mặt và các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây nên những biến đổi nhất định.

Kết quả là phạm trù chỉ ra những biến đổi đã xuất hiện do phạm trù nguyên nhân tạo ra.

Nguyên nhân sẽ sinh ra kết quả nên nguyên nhân có trước, kết quả có sau và nguyên nhân như thế nào thì sẽ sinh ra kết quả tương tự như thế đó.

Ví dụ: Gieo gió ắt sẽ gặp bảo, làm việc phi pháp sự ác đến ngay, ở hậu gặp hậu ở bạc gặp bạc.

Cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên

Phạm trù tất nhiên sẽ vạch ra đường đi cho mình qua rất nhiều cái ngẫu nhiên, tất nhiên sẽ quy định cái ngẫu nhiên đồng thời ngẫu nhiên sẽ bổ sung cho tất nhiên. Do đó trong thực thế mọi việc đều phải căn cứ vào tất nhiên chứ không căn cứ vào phạm trù ngẫu nhiên, nhưng cũng không được bỏ quá ngẫu nhiên, không được tách rời tất nhiên ra khỏi ngẫu nhiên.

Ví dụ: Để đạt được kết quá nhất trong việc học tập thì cần siêng năng, chăm chỉ là điều tất nhiên, tuy nhiên tới ngày thi thì mắc vấn đề sức khỏe nên làm bài thi kết quả thấp là điều ngẫu nhiên.

Để đạt được kết quả tốt trong học tập thì chăm chỉ, siêng năng học tập là điều tất nhiên, nhưng nhưng đến ngày thi thì bị vấn đề về sức khỏe làm kết quả thi thấp là điều ngẫu nhiên.

Cặp phạm trù nội dung và hình thức

Cặp phạm trù này luôn có mối liên hệ thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau. Không có một hình thức nào không có nội dung, cũng như không một nội dung nào lại không chứa hình thức. Phạm trù nội dung quyết định hình thức, đồng thời hình thức tác động ngược lại với nội dung. Hình thức phù hợp thúc đẩy nội dung phát triển tốt hơn và ngược lại.

Ví dụ: Nội dung trong một cuốn sách như thế nào sẽ quyết định phải làm bìa như thế đó, nếu nội dung buồn mà lại có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu vui nhộn thì sẽ rất phản cảm, người đọc sẽ không bao giờ quyết định đọc cuốn sách đó.

Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng

Bản chất là phạm trù chỉ ra tổng hợp các mặt cũng như các mối liên hệ tương đối ổn định trong sự vật, bản chất quy định sự phát triển và vận động của sự vật đó.

Hiện tượng là phạm trù chỉ ra biểu hiện bên ngoài của bản chất.

Hiện tượng là biểu hiện của một bản chất và bản chất bao giờ cũng thể hiện ra thành những hiện tượng nhất định. Bản chất quyết định tới hiện tượng, bản chất thế nào thì hiện tượng sẽ thế đó.

Ví dụ: Nước có bản chất là lỏng thì sẽ thể hiện ra bằng hiện tượng.

Cặp phạm trù khả năng và hiện thực

Phạm trù khả năng và hiện thực luôn tồn tại thống nhất, luôn chuyên hóa và không tách rời nhau. Khả năng khi ở trong điều kiện nhất định sẽ biến thành hiện thực. Do đó, trong việc nhận thức về thực tiễn cần dựa vào hiện thực. Để khả năng biến thành hiện thực, con người cần phát huy tối đa tính chủ động của mình trong nhận thức và thực tiễn.

Ví dụ: Trước mắt là bút, giấy và thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra được một hộp đựng quà.

Chắc hẳn qua thông tin về 6 cặp phạm trù triết học trên ai quan tâm đọc đã có thể nắm rõ được quan điểm triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa các cặp phạm trù, ý nghĩa phương pháp luận được rút ra khi nghiên cứu các phạm trù này

* Nguyên lý về sự phát triển:

Là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản:

1)    Quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn, là một trong ba quy luật cơ bản của triết học Mác – Lênin. Quy luật này làm sáng tỏ nguồn gốc sự vận động, phát triển của sự vật.

NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP:

Nội dung quy luật này phát biểu rằng:

Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.

PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP:

Định nghĩa về các “mặt đối lập”, “mâu thuẫn biện chứng”, sự “thống nhất” và “đấu tranh” của các mặt đối lập:

– Mặt đối lập:

 Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Ví dụ:

+ Trong mỗi con người, các mặt đối lập là hoạt động ăn và hoạt động bài tiết.

+ Trong một lớp học, các mặt đối lập là hoạt động đoàn kết để cả lớp cùng lớn mạnh và hoạt động cạnh tranh để trở thành sinh viên giỏi nhất lớp.

+ Trong sinh vật, các mặt đối lập là đồng hóa và dị hóa.

Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các sự vật.

– Mâu thuẫn biện chứng:

Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái mà các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.

Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và nguồn gốc phát triển của nhận thức.

Ta cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng với mâu thuẫn lô-gic hình thức. Mâu thuẫn lô-gic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, xuất hiện do sai lầm trong tư duy.

– Sự “thống nhất” của các mặt đối lập:

Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.

Ví dụ: Trong mỗi con người, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết rõ ràng là các mặt đối lập. Nhưng chúng phải nương tựa nhau, không tách rời nhau. Nếu có hoạt động ăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không thể sống được. Như vậy, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết thống nhất với nhau ở khía cạnh này.

Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn  đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa cho nhau.

Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Tuy nhiên, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.

– Sự đấu tranh của các mặt đối lập:

Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.

Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và điều kiện diễn ra cuộc đấu tranh.

Ví dụ: Trong một lớp học, hoạt động đoàn kết và hoạt động cạnh tranh là các mặt đối lập. Có những lúc hoạt động đoàn kết nổi trội hơn, nhưng có những lúc hoạt động cạnh tranh lại nổi trội hơn. Như thế, hoạt động đoàn kết và hoạt động cạnh tranh đang “đấu tranh” với nhau.

* Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.

 – Sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hương tác động khác nhau của các mặt đối lập.

Hai xu hướng này tạo thành một loại mâu thuẫn đặc biệt. Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “sự đấu tranh” của các mặt đối lập.

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật.

Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, ổn định tạm thời của sự vật. Còn sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động, phát triển.

– Đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển.

Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng lớn lên, rộng ra và đi đến trở thành đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt và đã hội đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ sự giải quyết này mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi, thay thế bằng sự vật mới.

Ví dụ: Trong hoàn cảnh sống của bạn Lan đang tồn tại một mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn đi du lịch nhiều. Khi mâu thuẫn này phát triển đến mức bạn Lan không đi du lịch nhiều thì không thể thấy hạnh phúc, nên bạn Lan đã quyết tâm học tiếng Anh để đi kiếm tiền nhiều hơn. Kiếm được tiền nhiều nghĩa là mâu thuẫn đã được giải quyết. Cuộc sống cũ ít hạnh phúc của Lan được thay bằng cuộc sống mới nhiều hạnh phúc hơn.

– Như thế, sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Ta thấy rõ, không có thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng.

Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.

Các nhân viên đều phấn đấu làm giám đốc. Họ cùng cố gắng, cạnh tranh nhau, do đó đều trở nên giói hơn. Như thế, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Ảnh: Ecoblader.com.

* Phân loại mâu thuẫn:

Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng. Tính phong phú, đa dạng đó được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn tại.

*- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, ta có thể phân loại các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

– Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.

Ví dụ:

Mâu thuẫn giữa hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là mâu thuẫn bên trong mỗi con người.

– Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.

Ví dụ:

Phòng A và phòng B đều đang phấn đấu để trở thành đơn vị kinh doanh xuất sắc nhất của công ty X. Ở đây tồn tại mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B. Nếu xét riêng đối với phòng A (hoặc phòng B), mâu thuẫn này là mâu thuẫn bên ngoài.

– Việc phân chia thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính tương đối, tùy theo phạm vi xem xét. Cùng một mâu thuẫn nếu xét trong mối quan hệ này là mâu thuẫn bên trong, nhưng xét trong mối quan hệ khác lại là mâu thuẫn bên ngoài.

Ví dụ:

Ở trên ta đã đưa ra các ví dụ về phòng A, phòng B của công ty X. Nếu xét trong nội bộ phòng A thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâu thuẫn bên ngoài. Nhưng nếu xét trong nội bộ công ty X thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâu thuẫn bên trong.

– Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận đông, phát triển của sự vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài không ngừng tác động qua lại lẫn nhau.

Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài. Việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong.

*- Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

– Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật. Mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Mâu thuẫn này được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất.

Ví dụ:

Trong ví dụ về bạn Lan đã nêu ở trên, mâu thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn đi du lịch nhiều là mâu thuẫn cơ bản vì nó liên quan đến giá trị sống của bạn Lan. Khi mâu thuẫn cơ bản này được giải quyết (tức là kiếm được nhiều tiền để đi du lịch nhiều), cuộc sống mới nhiều hạnh phúc của Lan thay thế cho cuộc sống cũ ít hạnh phúc. Như tế, sự vật đã thay đổi căn bản về chất.

– Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.

Ví dụ:

Mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B trong nội bộ công ty X mà ta nêu ở trên là mâu thuẫn không cơ bản.

*- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, ta có mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.

– Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giải đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó. Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện để sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản, hay là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất định.

Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản.

– Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối. Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.

*- Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

– Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa công nhân với giới chủ, giữa nông dân với địa chủ, giữa thuộc địa với chính quốc.

– Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thông, giữa lao động trí óc với lao động chân tay.

Việc phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa trong việc xác định đúng phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn đối kháng phải bằng mâu thuẫn đối kháng. Giải quyết mâu thuẫn không đối kháng thì phải bằng phương pháp đàm phán, hiệp thương…

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP.

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làm sáng tỏ nguồn gốc của sự vận động, phát triển của các sự vật và có ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

* Để nhận thức đúng bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn, ta phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật.

Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa những mặt đối lập đó.

* Phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn.

Khi phân tích mâu thuẫn, ta phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn. Ta phải xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn. Phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng.

Chỉ có như vậy ta mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn.

* Để thúc đẩy sự vật phát triển, ta phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn.

Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi.

Một mặt, ta phải chống thái độ chủ quan, nón vội. Mặt khác, ta phải cực kỳ thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi.

Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Do đó, ta phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.

Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn thiện hơn.

Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình luận để mọi người anh em có thể giải đáp khi thời gian cho phép nhé!

2/Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển

Quy luật lượng – chất là một trong ba quy luật cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Diễn đạt một cách đầy đủ, đó là quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.

 

NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT:

Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại phát biểu rằng: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng.

PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT:

* Phạm trù “chất” và phạm trù “lượng”:

*- Phạm trù “chất”:

Định nghĩa: Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác.

Ta cần lưu ý mối quan hệ giữa chất và thuộc tính như sau:

– Tổng hợp các thuộc tính của sự vật làm nên chất của sự vật đó. Thuộc tính ở đây có thể hiểu là “tính chất”, như tính dẫn điện, tính co giãn, tính chua, tính ngọt…

– Để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức được những thuộc tính của sự vật đó. Và để nhận thức được thuộc tính nhất định của sự vật, ta cần nhận thức thuộc tính đó trong mối quan hệ giữa các sự vật. Ở mức độ cao hơn, để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức sự vật trong tổng hợp các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với các sự vật khác.

– Nếu nhận thức sự vật A trong 01 mối quan hệ giữa sự vật A với sự vật B, ta hiểu phần nào về chất của A. Nếu nhận thức sự vật A trong 02 mối quan hệ là giữa A với B và giữa A với C, ta hiểu hơn về chất của A. Cứ như vậy, nhận thức càng nhiều mối quan hệ của A với các sự vật B, C, D, E.., Z, ta sẽ hiểu ngày càng đầy đủ về chất của A.

– Ta cũng có thể hiểu mỗi sự vật có vô vàn chất.

Vì mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính lại có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến mỗi thuộc tính ây lại trở thành một chất.

– Chất căn bản và giới hạn tồn tại của sự vật:

+ Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính khác nhau; có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất căn bản của sự vật.

+ Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản. Đó là loại chất mà nếu mất đi, sự vật cũng mất đi. Chất can bản sẽ quy định sự tồn tại, phát triển hay tiêu vong của sự vật.

+ Mỗi sự vật đều có giới hạn tồn tại của mình. Khi xem xét sự vật trong tính xác định về chất của nó, ta thường so sánh sự vật đó với các sự vật khác. Sự so sánh này giúp ta hình thành về giới hạn tồn tại của sự vật.

Vượt qua giới hạn của mình, sự vật không còn là nó mà trở thành một cái gì đó khác. Điều đó có nghĩa chất của sự vật đồng nghĩa với tính có hạn của nó.

*- Phạm trù “lượng”:

Định nghĩa: Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.

Ta cần lưu ý một số điểm sau liên quan phạm trù lượng:

– Lượng có thể được xác định bằng những đơn vị đo lường cụ thể và chính xác. Ví dụ: dài 3 mét, nặng 20 ki-lô-gram.

Đồng thời, có những tính quy định về lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng, khái quát. Ví dụ: anh A yêu chị B rất nhiều, trình độ dân trí cao, ý thức pháp luật thấp…

– Cũng như chất của sự vật, lượng của sự vật cũng mang tính khách quan. Trong sự tồn tại khách quan của mình, sự vật có vô vàn chất. Do đó, sự vật cũng có vô vàn lượng.

– Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời và quy định lẫn nhau. Một chất nhất định của sự vật có lượng tương ứng với nó.

Ví dụ: Một cậu bé 10 tuổi (chất là “cậu bé”) có lượng kiến thức vừa phải. Khi cậu bé trở thành thanh niên (chất là “thanh niên”), anh ta có lượng kiến thức lớn hơn.

Như thế, sự biến đổi tương quan giữa chất và lượng tạo nên tiến trình phát triển của sự vật.

* Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo quy luật lượng – chất:

Để nắm được mối quan hệ này, ta cần nắm được định nghĩa về “độ”, “điểm nút” và “bước nhảy”.

*- “Độ”:

–  Định nghĩa: “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật”.

– Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Khi sự vật vận động và phát triển, chất và lượng của nó cũng vận động, biến đổi, thay đổi. Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn ra độc lập với nhau mà có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay đổi trong giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó. Giới hạn đó chính là “độ”.

– Ví dụ về “độ”:

+ Người sống lâu nhất thế giới từng được biết đến có tuổi thọ 146 tuổi. Nên với dữ kiện này, ta có thể thấy giới hạn từ 0 – 146 năm là “độ” của con người xét về mặt tuổi. Diễn đạt một cách chính xác hơn: Sự thống nhất giữa trạng thái còn sống và số tuổi từ 0 – 146 là “độ tồn tại” của con người. (Thuật ngữ “độ tuổi” mà chúng ta hay dùng cũng ít nhiều liên quan ở đây).

+ Từ 0 đến dưới 100 độ C, nước vẫn ở thể lỏng. Trong khoảng 0 < t < 100 độ C, sự thống nhất giữa trạng thái nước lỏng và nhiệt độ C tương ứng là “độ” tồn tại của nước lỏng. (Ở đây cần phân biệt “độ C” và “độ tồn tại” là hai khái niệm khác nhau). Nếu quá 100 độ C, nước sẽ chuyển thành hơi nước. Nếu ở dưới 0 độ C, nước sẽ ở thể rắn.

*- “Điểm nút”:

– Định nghĩa: “Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút”.

Ví dụ: Ở những ví dụ đã nêu trên, 0 độ C, 100 độ C, 146 tuổi là những điểm nút.

– Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Sự thống nhất giữa lượng mới và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới.

*- “Bước nhảy”:

– Định nghĩa: “Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra”.

Ví dụ: Sự chuyển hóa từ nước lỏng thành hơi nước là một bước nhảy. Có bước nhảy này là do nước lỏng có sự thay đổi về nhiệt độ và đạt đến 100 độ C.

Sự thay đổi về lượng rồi ắt sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại.

– Trong lịch sử triết học, do tuyệt đối hóa tính dần dần, tính tiệm tiến của sự thay đổi về lượng nên các nhà triết học siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại của “bước nhảy”. Triết học Mác – Lênin cho rằng phải có “bước nhảy” thì mới giải thích được sự vận động, phát triển của thực tế.

– Các hình thức của bước nhảy có thể phân loại như sau:

+ Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần:

Sự phân chia này dự trên thời gian và tính chất của sự thay đổi về chất của sự vật.

Những bước nhảy gọi là đột biến khi chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành nó.

Những bước nhảy dần dần xuất hiện khi quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần, lâu dài những nhân tố của chất mới và mất đi dần những nhân tốc của chất cũ.

+ Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ:

Sự phân chia này dựa trên sự xuất hiện của bước nhảy ở số lượng bộ phận cấu thành của sự vật.

 Nếu bước nhảy làm thay đổi về chất của tất cả các mặt, bộ phận, yếu tố cấu thành sự vật…, thì đó là bước nhảy toàn bộ.

Còn bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, bộ phận… cấu thành sự vật.

+ Khi xem xét sự thay đổi về bản chất của xã hội, ta có thể chia sự thay đổi ra thành thay đổi cách mạng và thay đổi có tính chất tiến hóa.

 Cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất của sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó được diễn ra như thế nào.

Tiến hóa là sự thay đổi về lượng cũng với những biến đổi nhất định về chất, nhưng là chất không căn bản của sự vật.

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại giúp chúng ta nhận thức được phương thức vận động và phát triển của sự vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

* Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.

Những nhận thức ban đầu về chất của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và sâu sắc hơn khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó.

Để nhận thức được sự vật, ta phải nhận thức trong mối quan hệ tác động qua lại giữa sự vật đó với những sự vật khác, cũng như giữa các mặt, thuộc tính của sự vật đó. Vì chỉ khi đó, mặt lượng và mặt chất của sự vật mới bộc lộ ra.

* Ta phải tổ chức hoạt động thực tiễn dựa trên sự hiểu biết đúng đắn vị trí, vai trò và ý nghĩa của sự thay đổi về lượng cũng như sự thay đổi về chất trong sự phát triển xã hội.

Ta phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng.

Để xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, ta phải xem xét tiến hóa và cách mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng. Hiểu đúng đắn mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn nghiêm khắc với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa tả khuynh.

* Ta phải kiên trì đổi mới trên từng lĩnh vực để tiến tới đổi mới toàn diện đời sống xã hội.

Nắm được quy luật lượng – chất sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, toàn diện và xác định đúng phương pháp, lộ trình thực hiện công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.

Theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới là một quá trình mang tính cách mạng. Ta cần phải thực hiện đổi mới thành công trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo ra bước nhảy về chất ở đó. Với sự thành công trên nhiều lĩnh vực, ta có cơ sở thực tế để đổi mới thành công toàn diện đất nước Việt Nam. Đó là khi ta tạo được bước nhảy về chất của toàn bộ xã hội nói chung.

Những bước nhảy trong quá trình đổi mới hiện nay chỉ có thể là kết quả của qúa trình thay đổi về lượng thích hợp. Do đó, bất kỳ sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra những tổn thất lớn cho đất nước.

Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn thiện hơn.

Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình luận để anh chị em có thể giải đáp ngay trên blog này khi thời gian cho phép nhé!

3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.

Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của triết học Mác – Lênin. Quy luật này nói lên chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng.

I. NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH:

Quy luật phủ định của phủ định là quy luật nói lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định; do sự kế thừa đó, phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn; do vậy, sự phát triển có tính chất tiến lên không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc.

Sự phát triển có tính chất tiến lên không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc.

PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH:

* Định nghĩa về phủ định biện chứng:

– Trước khi tìm hiểu phủ định biện chứng là gì, ta cần hiểu thế nào là phủ định.

Phủ định là sự thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện tượng khác trong quá trình vận động và phát triển.

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong. Sự vật cũ mất đi được thay bằng sự vật mới.

Sự thay thế đó là phủ định. Phủ định là tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Không có phủ định, sự vật không phát triển được.

Ví dụ:

+ Trong quá trình phát triển của các phương tiện giao thông, xe máy là sự phủ định đối với xe đạp. Xê ô tô là sự phủ định đối với xe máy.

+ Trong sự phát triển của gia đình, con giỏi hơn cha tức là con đã phủ định cha. Ông cha ta thường hay nói “con hơn cha là nhà có phúc” là ý như vậy.

– Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định.

Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất; sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế.

Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật. Sự vật mới ra đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ. Điều đó có nghĩa là sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Đó là phủ định biện chứng.

Ví dụ:

+ Trong ngành sản xuất điện thoại thông minh, iPhone 11 là sự phủ định đối với iPhone X.

+ Khi gieo trồng, cây lúa là sự phủ định biện chứng đối với hạt thóc.

+ Trong chăn nuôi, con gà đạp trứng ra đời là sự phủ định biện chứng đối với quả trứng.

* Đặc điểm của phủ định biện chứng:

Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa.

*- Tính khách quan:

– Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật. Nguyên nhân đó chính là kết quả giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật.

– Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển. Vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Đương nhiên, mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng.

– Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí chủ quan của con người. Con người chỉ có thể tác động mà cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.

*- Tính kế thừa:

– Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái cũ.

– Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, chúng không thể từ hư vô. Cái mới ra đời là sự phát triển tiếp tục của cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực.

– Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định những mặt tốt, tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực.

Có thể nói, sự phát triển chẳng qua chỉ là sự biến đổi trong đó những giai đoạn sau bảo tồn tất cả những mặt tích cực được tạo ra ở giải đoạn trước và bổ sung thêm những mặt mới phù hợp với hiện thực.

Phủ định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, sự vật cũ, mà còn là sự liên kết giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, quá khứ và hiện tại. Phủ định biện chứng là mắt khâu tất yếu của mối liên hệ và sự phát triển.

Ví dụ:

Trong bất kỳ loài sinh vật nào, các thế hệ con cái đều kế thừa những yếu tố tích cực của cha mẹ và bỏ qua những yếu tố lạc hậu.

– Tuy vậy, cũng cần lưu ý là, những nhân tố tích cực của sự vật cũ được giữ lại vẫn phải được cải tạo, phải được biến đổi cho phù hợp với điều kiện mới.

* Phủ định của phủ định: Hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển:

– Sự vật ra đời và tồn tại đã khẳng định chính nó. Trong quá trình vận động của sự vật ấy, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ. Khi đó, sự phủ định biện chứng lần 1 diễn ra: Sự vật ban đầu không còn nữa mà bị thay thế bằng sự vật mới, trong đó những nhân tố tích cực của sự vật ban đầu được giữ lại.

– Tuy nhiên, sau một thời gian, sự vật mới ra đời ở trên lại bị phủ định bằng sự vật mới khác. Đó là sự phủ định lần 2. Cứ thế tiếp tục, tùy vào sự vật sẽ có phủ định lần 3, lần 4…, lần n.

Sau 2 hoặc nhiều lần phủ định, sẽ có một sự vật mới dường như lặp lại (rất giống) với sự vật ban đầu, song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn với sự vật ban đầu đó, mà ở nấc thang cao hơn; nó được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực đối với sự phát triển tiếp tục của nó.

Sau 2 hoặc nhiều lần phủ định dẫn đến sự xuất hiện sự vật mới mà dường như lặp lại sự vật ban đầu thì ta có một chu kỳ phát triển. Ở đây có sự phủ định của phủ định.

Ví dụ:

+ Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp) => Phủ định lần 1 tạo ra gà mái con => Phủ định lần 2 (gà mái con lớn lên) sinh ra nhiều quả trứng.

+ Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng) => Phủ định lần 1 tạo ra cây lúa => Phủ định lần 2, cây lúa sinh ra nhiều hạt thóc.

Ở 2 ví dụ trên ta có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban đầu đến nhiều quả trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mới. Từ một đến nhiều tức là có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. Đó là kết quả phủ định của phủ định.

– Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng là sự thống nhất giữa loại bỏ, kế thừa và phát triển. Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tố tích cực mới.

Như thế, những lần phủ định biện chứng nối tiếp nhau sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng, như việc sẽ ngày càng có nhiều quả trứng hơn, ngày càng có nhiều hạt thóc hơn.

– Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển do mâu thuẫn.

Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập trong bản thân sự vật. Các mặt đối lập ở đây là mặt khẳng định và mặt phủ định.

Phủ định lần 1 sẽ làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình (như quả trứng ban đầu đối lập với gà mái con; gà mái con là vật trung gian). Sau một hoặc nhiều lần phủ định tiếp theo sẽ ra đời một sự vật mới đối lập với cái trung gian (nhiều quả trứng sinh ra đối lập với gà mái con).

Mà đối lập với cái trung gian nghĩa là dường như tương đồng với sự vật ban đầu, dường như quay trở lại thời điểm xuất phát (như việc một quả trứng sinh ra nhiều quả trứng, một hạt thóc sinh ra nhiều hạt thóc).

Như thế ta thấy, đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ định chính là sự phát triển dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn.

– Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo. Cứ thế, các chu kỳ phát triển cứ nối tiếp nhau tạo thành sự phát triển, sự tiến lên vô cùng tận của thế giới, nhưng không phải theo đường thẳng mà theo hình xoáy ốc.

– Sở dĩ nói “theo hình xoáy ốc” vì “hình xoáy ốc” đã biểu đạt được các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại và tính chất tiến lên của sự phát triển.

Mỗi vòng mới của đường “xoáy ốc” thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua, lặp lại vòng trước. Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tân của sự phát triển, tính vô tận của sự tiến lên từ thấp lên cao.


Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

Quy luật phủ định của phủ định làm sáng tỏ chiều hướng vận động, phát triển của các sự vật và có ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

* Cái mới nhất định sẽ xuất hiện từ cái cũ nhưng ta không được phủ sạch cãi cũ.

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta cần lưu ý rằng cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu. Cái mới ra đời từ cái cũ, kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ. Do đó, ta cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.

* Chúng ta phải chủ động phát hiện, bồi dưỡng, thúc đẩy cái mới.

Trong thực tiễn, ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới. Mặc dù cái mới lúc đầu còn yếu ớt, ít ỏi, ta phải ra sức ủng hộ, bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho cái mới chiến thắng cái cũ.

Trong khi đấu tranh với cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, gạn đục khơi trong, giữ lấy những gì còn tích cực, có giá trị từ cái cũ, cải tạo cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới. Chúng ta phải chống thái độ “hư vô chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận, đánh giá quá khứ.

* Phải khắc phục thái độ bảo thủ, loại bỏ những hủ tục trong xã hội.

Trong khi chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại những cái lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử.

Chúng ta phải nhận thức rõ những cái lỗi thời, ví dụ như những hủ tục cũ trong việc cưới xin, tang lễ, hội hè…, quan niệm “có nếp có tẻ” trong việc sinh con… sẽ gây ra nhiều tốn kém và nhiễu nhương.

Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn thiện hơn.

Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình luật trên blog để các anh chị em có thể giải đáp khi thời gian cho phép nhé!

Biện chứng là một phương pháp lý luận, một lý thuyết cho rằng một cái gì đó – cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn:

– Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là các sự vật tồn tại trên trời đất nó sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu.

– Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, nó nhằm phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó, ở một vài khía cạnh nhất định, nó vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai.

– và Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ thứ ba khi một hợp đề thứ hai đạt được.

CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.

a)  Vai trò và trách nhiệm của cá nhân đổi với xã hội

Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.

Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có mối liên hệ với nhau, nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội. Chỉ những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động của con người trên mọi lĩnh vực mới gọi là quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội là khách quan hình thành từ tác động của cá nhân và tập thể trong xã hội. Những tác động này không phải ngẫu nhiên mà có mục đích, có xu hướng ổn định. Cá nhân thực hiện các vai trò do xã hội quy định với tư cách là thành viên của xã hội.

Quan hệ xã hội làm thay đổi bản chất con người. Quan hệ xã hội chung là quan hệ về quốc gia, dân tộc, giai cấp, địa phương, lãnh đạo, chính quyền, pháp luật, phong tục tập quán,...

Quan hệ xã hội riêng là quan hệ cá nhân trong gia đình, bạn bè, họ hàng, người thân, cơ quan, tập thể...Quan hệ xã hội chính thức là quan hệ hành chính do xã hội quy định như quan hệ cấp dưới, cấp trên, người dân, chính quyên. Quan hệ xã hội không chính thức là quan hệ tâm lý của cá nhân như tình cảm, nhóm bạn bè, xã giao..

Biết xây dựng và kết hợp các quan hệ xã hội đúng đắn sẽ có hành vi ứng xử tốt đẹp. Cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp, do đó cá nhân cần chú ý các ứng xử lịch sự, văn hoá, lành mạnh, đúng mực.

Các chủ thể trong quan hệ xã hội có ý thức, thói quen. Từ quan hệ giữa các cá nhân có thể tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau. Cá nhân tham gia xã hội để có quyền lợi của mình, phục vụ cho lợi ích của mình, Trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế đóng vai trò quyết định các quan hệ khác.

Mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và là con người, cá nhân có nhu cầu về vật chất, tình cảm, ngoài ra còn có nhu cầu xã hội như học tập, lao động, dân chủ, văn hoá... Bởi vậy cá nhân phải tự rèn luyện cả thể lực và trí lực để trở thành một con người toàn diện.

Cá nhân dù có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng khó tránh khỏi những điều chưa tốt, nếu không thường xuyên sống hướng thiện thì có thể phần bản năng sinh vật sẽ lấn át phần xã hội, sẽ không còn tính người, sẽ xảy ra sự tranh giành lẫn nhau, cái ác sẽ lấn át cái thiện.

Một trong những quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền tự do. Xã hội càng phát triển, con người càng được có điều kiện hưởng tự do. Tuy nhiên, tự do cá nhân không được phép xâm phạm đến tự do cá nhân của người khác, không được gây ảnh hường đến xã hội. Tự do cá nhân không thể tách rời các chuẩn mực đạo đức xã hội. Cá nhân không thể sống cô lập, cách ly khỏi đời sống xã hội.

Xã hội tiến bộ, phát triển bền vững dựa trên nền tảng giá trị đạo đức vững chác của mọi cá nhân. Mọi người sống có đạo đức, có tài năng, là thành viên xứng đáng, góp phần xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Lòng hướng thiện của mỗi cá nhân có tác động tích cực giúp cá nhân xích lại gần nhau, dễ dàng cởi mở và sống chân thành với nhau hơn. Chủ động tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với người khác, với xã hội càng hài hoà, tốt đẹp, phát triển bền vững.

b) Xây dựng quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và xã hội

Quan hệ xã hội của cá nhân là bộ phận của toàn bộ quan hệ xã hội gồm có quan hệ giữa các tập đoàn lớn, giữa các nhóm xã hội, các quan hệ cá nhân. Mỗi cá nhân có điều thiện, điều tốt nhưng không tránh khỏi có cái xấu trong lòng. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp cần làm cho cái tốt nhiều hơn, cái xấu bớt dần đi.

Muốn xây dựng xã hội mới thì phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là con người có trí tuệ, có tài năng, có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có tình thương yêu nhân dân, yêu con người. Nếu cá nhân biết đem lợi ích riêng của mình phục tùng lợi ích chung thì cả xã hội và cá nhân đều được bảo đảm.

Sự phát triển của xã hội phải bắt nguồn từ sự phát triển của mỗi cá nhân. Hiện nay, Đảng ta cụ thể hoá quan hệ cá nhân, tập thể và xã hội với quan điểm:

-   Gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo, kết hợp hài hoà các lợi ích, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa...

- Coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi chính sách đều coi trọng cá nhân nhưng phải xuất phát từ nhu cầu của tập thể, của xã hội. "Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài"

- Thông qua các chính sách kinh tế để khuyến khích lợi ích. Kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội. Luật pháp hoá, thể chế hoá các quyền của cá nhân, các mối quan hệ theo các chuẩn mực tiến bộ, giữ bản sắc văn hoá dân tộc.

-  Gắn lợi ích với trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, xây dựng quan hệ hợp tác, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực to lớn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.


CÁ NHÂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ NHÂN TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

Quan niệm mác xít về cá nhân dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, xem xét con người như là sản phẩm của môi trường xã hội và thừa nhận vai trò tích cực của con người trong nhận thức và cải tạo môi trường đó. C. Mác đã khẳng định: "Bản thân xã hội sản sinh ra con người với tính cách là con người như thế nào, thì con người cũng sản sinh ra xã hội như thế ấy"

Từ quan niệm trên chúng ta thấy rằng, cá nhân trước hết là cá thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, -là chủ thể của hoạt động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội quy định.

Cá nhân là cá thể người, song không phải mọi cá thể người nào cũng đều là cá nhân. Để thể hiện đúng tư cách là cá nhân, con người phải trải qua một quá trình phát triển nhất định để có một nhân cách đầy đủ, mang tính chỉnh thể. Ở đây, phạm trù cá nhân đặc trưng cho con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa những đặc điểm riêng biệt của con người với bản chất chung của cộng đồng .

Trong sự phát triển của xã hội nói chung, sự phát triển của cá nhân là thước đo, là đặc trưng cho sự phát triển xã hội đó. Không có và không bao giờ có cá nhân chung chung, trừu tượng, mà chỉ có cá nhân với tất cả dáng vẻ riêng biệt và sự thống nhất mang tính lịch sử- cụ thể.

Lịch sử sinh thành loài người hàng chục vạn năm cũng là lịch sử mà điện mạo cá nhân luôn luôn vận động và phát triển.

Thuở sơ khai, con người là những thực thể hoang dã, chưa đủ sức mạnh để tách ra khỏi giới tự nhiên, sống chung với muôn loài và thế giới thần linh; số phận con người bị chi phối bởi những sức mạnh huyền bí của tạo hoá. Con người duy trì sự sống trong giới tự nhiên bao la bằng sức mạnh cơ bắp, bằng năng lực bẩm sinh của cái tự nhiên và bằng sự may rợ của số phận.

Trong giai đoạn cao của thời đại mông muội, việc dùng lửa và chế tạo ra cung tên đã làm cho sức mạnh con người chuyển biến một cách đáng kể. "Cung tên đối với thời đại mông muội cũng giống như thanh kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh: một vũ khí có tính chất quyết định”

Khi lịch sử bước sang giai đoạn văn minh, diện mạo con người thay đổi một cách cơ bản. Từ chỗ là một bộ phận của giới tự nhiên, con người tách dần ra khỏi giới tự nhiên; từ chỗ là nô lệ của giới tự nhiên, con người từng bước thống trị giới tự nhiên.

Tuy nhiên, suốt đêm trường Trung cổ, con người bị dồn ép trong ý thức hệ phong kiến và tôn giáo. Bản chất vươn lên khẳng định mình là những cá nhân đã làm nẩy sinh tư tưởng Phục hưng ca ngợi con người, đòi tự do cho cá nhân, đòi quyền tư hữu, đề cao chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giải phóng con người.

Nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, ước mơ tự do cho cá nhân, giải phóng con người đã không thể thực hiện được. Sự tha hoá con người xuất hiện với tính cách là hậu quả trực tiếp của sở hữu tư nhân, của độ người bóc lột người, mà nét đặc trưng là biến sản phẩm hoạt động của con người, những năng lực, những đặc tính của con người thành những cái gì xa lạ với con người, chi phối con người.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã từng bước khắc phục sự tha hoá con người, để con người thật sự trở thành những cá thể với tư cách là những chủ thể làm chủ đời sống với những năng lực sáng tạo, phát triển xã hội. Mặc dù đã tạo được một bước tiến to lớn trong sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của con người, nhưng xét trên nhiều mặt thì mục tiêu phát triển những cá nhân đích thực – làm chủ bản thân, làm chủ xã hội – thì những nội dung mà chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thời gian qua đã làm vẫn còn phải bổ sung thêm nhiều điểm mới.

Từ cái nhìn toàn diện, phải thấy rằng “con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử; cao hơn nữa, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; và điều còn quan trọng hơn, con người phải là những chủ thể văn hoá” Chỉ có thể đứng trên quan điểm đó mới thấy hết xu thế và khả năng phát triển của con người với tư cách là cá nhân trong thời đại ngày nay – đó là thời đại mà mọi sự thay đổi đạt đến tốc độ kỳ diệu, là thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, là thời đại hoà nhập và hợp tác vì sự tăng trường kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm mục đích cao quý là phục vụ con người.

Trong xu thế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế, giải phóng mọi tiềm năng sản xuất, lấy hiệu quả kinh tế và phát triển văn hoá làm thước đo cho sự phát triển xã hội; phát triển kinh tế gắn liền với việc phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc, tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Với đặc điểm ấy, con người với tư cách là cá nhân trong xã hội Việt Nam hiện nay sẽ là con người phát triển hài hoà trong mối quan hệ cá nhân – xã hội.

Đã có một thời kỳ dài, chúng ta xây dựng con người tập thể theo những khuôn mẫu chung chung, trừu tượng, ít được phát triển mặt cá tính riêng tư, thiếu bản sắc độc đáo. Con người khuôn mẫu, cố nhiên không thể có sức sáng tạo, hoặc bản lĩnh sáng tạo vốn có của nó bị hạn chế. Bởi vậy, về mục tiêu, chúng ta đề cao con người, nhưng về phương pháp, có khi vô tình, chúng ta lại hạ thấp con người, làm mất đi sự năng động và sự phong phú của các cá nhân.

Tinh thần đổi mới và những điều kiện của sự nghiệp đổi mới đất nước đang mở ra những triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của các cá nhân.

Trước hết, đó là mục tiêu vươn tới với những động lực bên trong của nó. Con người, xét về bản chất xã hội là mang tính cộng đồng, nhưng động lực bên trong thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của cá nhân là những lợi ích thiết thực đối với từng cá nhân. Tinh thần đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì hạnh phúc con người mà toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện là điều kiện để kết hợp lợi ích chung với lợi ích riêng, để sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng mang mục đích và ý nghĩa tự thân.

Thời đại ngày nay là thời đại của văn minh trí tuệ: Trí tuệ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hiện đại. Hàm lượng trí tuệ trong các sản phẩm do con người làm ra ngày càng cao. Trong xu thế đó, giáo dục để nâng cao dân trí là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra vấn đề đào tạo những cá nhân lao động ngày càng có chất lượng cao. Hiện nay, cả nước ta có 96 trường đại học và cao đẳng, 436 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Cán bộ có trình độ cao đang ngày càng phát triển: Tiến sỹ 420 người, Phó tiến sỹ 10.500 người, Thạc sỹ gần 400 người, hàng trăm nghìn cán bộ có trình độ trung học, đại học. Con số này mỗi năm một tăng lên đáng kể. Điều đó cho thấy, con người Việt Nam đang vận động theo hướng phát triển trí tuệ. Đó là những cá nhân có học vấn, ham tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Con người ngày càng hành động theo quy luật, có định hướng và hiệu quả ngày càng cao. Yêu cầu và điều kiện của công cuộc đổi mới hình thành một đội ngũ trí thức - công nhân với sự hài hoà hai yếu tố tri thức và kỹ năng trong lao động, tạo thành một đội ngũ những người công nhân lành nghề, có tay nghề cao, thực hành giỏi. Ở đây, sự phát triển của cá nhân đang hướng tới chỗ coi trọng các yếu tố thực hành có hiệu quả, không phải là những cá nhân chỉ biết thuần tuý lý thuyết.

Muốn phát triển thì phải tự khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng. Con người Việt Nam đang hướng tới những giá trị mang tính toàn cầu nhưng đồng thời cung là con người mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc. Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển cá nhân đang đòi hỏi một trong những nét đặc trưng của con người - yếu tố nhân ái, nhân văn trong quan hệ với cộng đồng. Phát triển cá nhân không có nghĩa là đề cao chủ nghĩa cá nhân, mà thực chất là phát huy những giá trị chuẩn mực về văn hoá của cộng đồng và phát huy tối đa những phẩm chất, tư chất trong bản thân mỗi cá nhân. Nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường nhiều khi làm cho người ta chỉ chú ý đến giá trị kinh tế mà quên mất các giá trị tinh thần có ý nghĩa trường tồn của con người.

Những cá nhân có lòng nhân ái vốn đã trở thành nét truyền thống "lá lành đùm lá rách" của đạo lý dân tộc, đó là những con người luôn coi trọng các giá trị văn hoá, tinh thần mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Một cá nhân đích thực trong cộng đồng hiệm nay phải là một cá nhân kết hợp hài hoà trong mình các yếu tố dân tộc - nhân loại, truyền thống - hiện đại. Mặt khác, con người là sự thống nhất giữa cải chung và cái đặc thù, giữa những chuẩn mực có tính đặc trưng của cộng đồng xã hội với tính cách cá nhân. Môi trường hoà nhập quốc tế, điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay là điều kiện tốt để cho mỗi cá nhân có thể phát huy đầy đủ cá tính và bản sắc riêng, thể hiện bản lĩnh thích nghi và hoà nhập với cộng đồng, tự chủ và sáng tạo. Trong sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện xã hội, nhất là trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, mỗi cá nhân phải luôn tự khẳng định mình, biết chấp nhận mọi thay đổi và thích nghi với hoàn cảnh, năng động, có bản lĩnh và cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển. Bởi vậy, phát triển cá nhân cũng có nghĩa là phát huy các yếu tố mang bản sắc riêng có của mỗi con người, đề cao bản lĩnh tự chủ và sáng tạo trong con người.

Nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi một cách khách quan năng lực hoạt động kinh tế trong mỗi cá nhân. Cá nhân hiện đại không chỉ là con người chính trị, mà còn phải phát triển khía cạnh con người kinh tế, nghĩa là biết tư duy kinh tế, biết làm giàu chính đáng. Xét một cách bản chất, điều đó có nghĩa là con người biết hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Tư duy kinh tế là sự đòi hỏi nghiêm khắc của cả hai mặt: bản lĩnh sáng tạo và tri thức khoa học. Năng lực hoạt động thực tiễn được thể hiện ở hiệu quả kinh tế và là một trong những phẩm chất quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân hiện nay.

Muốn đáp ứng được sự phát triển của những phẩm chất cá nhân theo tinh thần đó, con người phải học tập, phải rèn luyện không ngừng. Có thể nói, học tập là nét nổi bật trong hiện tại và tương lai của cuộc sống con người. Điều này, cũng có nghĩa là khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người với tư cách cá nhân. Chỉ có không ngừng học tập, mỗi cá nhân mới có thể theo kịp tri thức, học vấn và những tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại để sẵn sàng thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống hiện đại. Bởi vậy, trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay, quan điểm của V. I. Lê nin "Học, học nữa, học mãi" có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết.

Phát triển cá nhân là xu thế tất yếu của cuộc sống. Sự phát triển cá nhân, tự nó đã bao hàm ngay trong bản thân nó quan hệ cá nhân - cộng đồng, là sự thể hiện đặc trưng bản chất xã hội và bản sắc, tư chất riêng trong mỗi con người. Những điều kiện của thời đại và của xã hội Việt Nam hiện nay đang tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển cá nhân, hướng tới sự hài hoà về nhân cách con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai.


CÁCH TỰ TÔN TRỌNG BẢN THÂN, BẢN THÂN  PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

Biết cách tôn trọng bản thân luôn là nhân tố hàng đầu trong việc xây dựng nhân cách của 1 con người, ngoài ra đó cũng là điểm khiến phụ nữ bị cuốn hút. Đối với phụ nữ, việc đàn ông biết tự tôn trọng mình đồng nghĩa với sức mạnh tinh thần mà người đó phát ra.

Trên thực tế,  phụ nữ luôn tìm kiếm mẫu đàn ông có thể đối phó với mọi hoàn cảnh, và có thể che chở cho họ tại mọi thời điểm. Vậy tự tôn trọng bản thân là gì? Và nó có can dự gì đến cuộc sống của đàn ông chúng ta?

Tự tôn trọng bản thân không phải thứ xuất phát từ bên ngoài. Nó không phải là danh tiếng, sức mạnh, quyền lực, tiền bạc, xe hơi, nhà cửa, v.v… Nó là thứ tồn tại từ bên trong con người mỗi chúng ta. Nó hiện diện như 1 trò chơi, trong trò chơi này, ta phải là kẻ miễn nhiễm với mọi cám dỗ luôn vẫy tay chào đón hàng ngày.

Sự miễn nhiễm này sẽ rất khó khăn nếu mình không gia tăng sức mạnh của việc tự tôn trọng bản thân. Dưới đây là 6 phương pháp giúp minh cải thiện sự tôn trọng của mình đối với chính bản thân mình.

Muốn tôn trọng bản thân hãy sống có ý thức

Hãy tưởng tượng ta đang đi lại trong 1 căn phòng không ánh sáng, chắc hẳn bên cạnh việc dò dẫm thì cơ thể mình sẽ chạm phải rất nhiều đồ đạc xung quanh. Trong khi đó, nếu bật đèn lên, việc đi lại sẽ trở nên đơn giản đến chừng nào, và cũng chẳng có việc ta va chạm vào đồ vật trong phòng nữa. Thế nên, sống có ý thức cũng như việc đi lại trong căn phòng sáng đèn vậy. Ta chắc chắn sẽ muốn sống trong ánh sáng thay cho bóng đêm, đúng chứ?

Biết chấp nhận

Đừng từ chối những kết quả chưa hoàn hảo, cũng đừng từ chối công sức mà minh bỏ ra. Hãy thừa nhận tất cả và thành thật với bản thân. Bên cạnh đó phải hiểu bản thân nữa. Làm sao ta có thể sống ở 1 nơi mà không biết mình ở đâu?

Có trách nhiệm với bản thân

Trước khi than phiền hay trách móc ai đó, hãy nhìn vào bản thân mình trước đã. Nhìn nhận trách nhiệm của mình giống như việc ta dám đối diện với sự thật, và chấp nhận sự thật dù nó có khốc liệt đến thế nào đi nữa.

Quyết đoán để tôn trọng bản thân

Hãy xếp tất cả mọi thứ thành 1 đường thẳng và chọn ra thứ nào đúng, và bỏ qua những thứ sai. Hãy sẵn sàng nói không cho dù mình có thể gặp rắc rối, hoặc thậm chí là bị tẩy chay đi nữa.

Sống có mục đích

Đặt ra những mục tiêu cho bản thân, đừng bao giờ là 1 kẻ thụ động trong cuộc đời. Hãy tạo ra những mục tiêu 1 năm, 3 năm, 5 năm, tiếp đến chia nhỏ chúng thành nhiều phần như 6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, cho đến ngày, giờ, v.v… Đừng chỉ sống với mục đích, ta cần phải tạo ra những kế hoạch nữa, và đừng chỉ tạo ra không, hãy thực hiện nó, và không chỉ thực hiện nó, hãy đo đạc và so sánh những kết quả đạt được. Từ đó cuộc sống của mình sẽ có nhiều mục đích hơn.

Trung thực

Nếu đã nói làm gì đó, dù có ra sao, ta cũng cần phải thực hiện nó, và đừng để bất cứ vấn đề ngoại cảnh nào tác động. Trung thực được ví như con thuyền, sẵn sàng vượt đại dương cho dù có bất cứ bão táp nào muốn nhấn chìm. Sau cùng con thuyền trung thực vẫn tìm được đến bến đỗ của nó mà thôi.

Một anh chàng mới lớn gần đây cảm ơn tôi. Tôi hỏi cảm ơn vì điều gì? Cậu ta nói cảm ơn vì đã giúp cậu ta có hiểu biết để trải qua 7 cuộc tình trong suốt 4 năm qua. Cảm ơn vì đã giúp cậu ta tìm ra đam mê trở thành 1 PT chuyên nghiệp thời gian sắp tới. Sự thật thì cậu ta mua sách Giải mã bí ẩn phái đẹp của tôi từ năm lớp 9. Cậu ta giấu bố mẹ và giấu luôn cả tôi. Bởi biết thừa rằng sách chỉ dành cho 18+ và không đời nào tôi bán những kiến thức đó cho những người nhỏ tuổi hơn. Còn ta, mình đã từng làm gì đó tương tự vậy chưa?


CÁC MỐI QUAN HỆ QUYẾT ĐỊNH CUỘC SỐNG CỦA MÌNH

Dù mình có khác biệt đến đâu thì các mối quan hệ xung quanh cuộc sống của mình cũng phát triển theo cùng một kịch bản.

Để hiểu rõ hơn, những phân tích sau sẽ thảo luận về sáu mối quan hệ phổ biến nhất mà minh phải đối mặt. Hãy đặt mình vào đó, hiểu rõ vấn đề của mình và tìm ra điều ta đang cần.

Hãy quan tâm nhiều hơn nếu mình đang có một mối quan hệ "cùng phát triển'

1. Mối quan hệ "cùng phát triển"

Tức là khi hai người phụ thuộc vào nhau và giúp đỡ nhau cùng phát triển - cảm xúc và tâm lý. Sự phát triển cảm xúc là một phần quan trọng trong cuộc sống, chúng ta không thể tiến lên phía trước nếu không có sự trưởng thành cảm xúc. Người đồng hành trong kiểu quan hệ này sẽ làm ta mạnh mẽ hơn và truyền động lực để mình vượt qua được những giới hạn bản thân. Nếu mình đang ở trong mối quan hệ này, ta thực sự rất may mắn đấy và lời khuyên cho minh là hãy "quan tâm" nhiều hơn đến mối quan hệ này để có thể duy trì nó.

2. Mối quan hệ "im lặng dễ chịu"

Khi mình cảm thấy gắn kết và dễ chịu với đối phương và hai người có thể ngồi im lặng cùng nhau mà không hề lo nghĩ gì về thế giới ngoài kia. Xây dựng được một mối quan hệ kiểu này thường rất khó khăn và yêu cầu nhiều thời gian, nỗ lực từ hai phía. Hãy tưởng tượng nếu mình và người ấy đang ngồi cạnh nhau trong một buổi tối -chỉ ngồi, không nói năng gì. Ta cảm thấy thế nào? Nếu mình thấy điều đó bình thường thì có lẽ ta đã có được một mối quan hệ cực kỳ bền vững.

3. Quan hệ "lợi ích"

Những mối quan hệ kiểu này hoặc tốt hoặc xấu. Những người này thường cần phải đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó cho riêng họ, như là nghề nghiệp hay cuộc sống xã hội. Trong trường hợp xấu nhất, chỉ một trong hai người biết rằng họ không thực sự đi cùng với người kia mãi mãi nhưng họ cần ở bên cạnh để lấy được một lợi ích nào đó. Mối quan hệ này sẽ kết thúc nhanh chóng khi một trong hai người đã đạt được tham vọng của mình.

4. Mối quan hệ "trải nghiệm"

Đây là một kiểu ích kỷ căn bản trong tự nhiên. Nó xảy ra khi một người quyết định thực hiện mục tiêu của mình là để ai đó thành một thứ gì đó. Ví dụ, người ấy muốn ta trở thành một người khác, khác hoàn toàn so với những gì ta muốn. Và họ sẽ kết nối với mình để họ đạt được điều này. Họ muốn kiểm tra xem trải nghiệm của họ có thành công không và liệu rằng họ có thể thay đổi ta trở thành một người lý tưởng theo trí tưởng tượng của họ. Có khoảng 98% những mối quan hệ này sẽ thất bại theo một cách tiêu cực và khá khủng khiếp.

5. Quan hệ "lôi kéo"

Có lẽ đây là một trong những kiểu quan hệ tệ nhất. “Lôi kéo” là khi một người đáng lẽ đã phải kết thúc mối quan hệ từ lâu nhưng thực tế thì họ vẫn bị lôi kéo về với người kia. Nó thường xảy ra sau một cuộc chia tay tồi tệ và lại gặp nhau vài tháng sau đó. Nỗi buồn và sự đau đớn của cuộc chia tay là quá lớn khiến họ không thể kiểm soát được, tuy nhiên mỗi người lại cố gắng thổi cuộc sống mới vào mối tình đang chìm dần. Họ hiểu rằng họ không hợp với người kia, họ hiểu rằng họ có nhiều xung đột hơn tình yêu, họ hiểu rằng họ sẽ khổ sở hơn mỗi ngày nhưng họ vẫn cứ cố níu giữ. Sự níu kéo này có thể vì lý do xã hội và điều này còn làm họ đau khổ hơn.

Cuối cùng mọi thứ cũng sẽ kết thúc nhưng quá trình này kéo dài rất lâu và chỉ sau rất nhiều nỗ lực vô ích để hàn gắn mối quan hệ. Nếu mình đang dính phải mối quan hệ như vậy, lựa chọn tốt nhất là hãy kết thúc nó thật gọn ghẽ.

6. Quan hệ "cạnh tranh"

Mối quan hệ kiểu này sẽ không bao giờ đem lại điều gì tốt đẹp. Khi hai người đang yêu, họ sẽ cố gắng hết mình để giúp đỡ nhau cùng phát triển. Trong một mối quan hệ "cạnh tranh", cả hai người đều cạnh tranh và thậm chí có xu hướng chống đối lại người kia. Ví dụ, một người đàn ông và vợ anh ta có thể cố gắng để đánh bại nhau trong sự nghiệp, trong những khía cạnh mà họ cảm nhận rằng đối phương không chỉ là đối thủ mà thậm chí còn là kẻ thù. Nếu mình đang ở trong mối quan hệ kiểu này, hãy tự giải thoát mình ngay lập tức.


NHỮNG QUI LUẬT TỰ NHIÊN TRONG CUỘC SỐNG

1.Luật cân bằng:

Đây là quy luật quan trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật khác của cuộc sống. Quy luật này được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc trong cuộc đời một con người là những số dương, nếu coi đau khổ là những số âm. Thì tổng của tất cả hạnh phúc và đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng không.

2.Luật tuần hoàn:

Diễn giải nôm na, luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc đời của một con người là môt chuỗi tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó lại đến một giai đoạn đau khổ mới và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo quy luật này không ai là hạnh phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.

3.Nguyên lý cho và nhận:

Những thứ ta nhận được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.

4.Luật trả giá và đền đáp:

Dần dà trong cuộc đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ cho từng lỗi lầm và từng hành động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một cách xứng đáng cho mọi cố gắng và mọi việc làm tốt đẹp của mình.

5.Luật thử thách:

Những khó khăn, nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những thử thách giúp những kẻ biết vượt qua trở nên mạnh hơn.

6.Luật bù trừ:

Ở trên đời này, hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật đánh đổi.

7.Luật cộng sinh:

Một mối quan hệ giữa hai cá thể (loài vật, cây, con người hay một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu dài nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có lợi cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối quan hệ đó sẽ không tồn tại được lâu dài. Đó là luật cộng sinh.

8.Luật hấp dẫn:

Người xưa diễn giải luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, hay "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã". Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau. Một khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn là khi một ý nghĩ được nung nấu, nó sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để biến ý nghĩ đó thành hiện thực.

9.Luật vạn vật đồng nhất:

Luật vạn vật đồng nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào đúng với trời đất, với vạn vật thì những quy luật đó cũng đúng với con người, với cuôc đời hay các mối quan hệ của con người.

10.Luật cường độ giảm dần theo thời gian:

Luật cường độ giảm dần theo thời gian phát biểu như sau: Một hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì ngày hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức nào thì ngày hôm sau đau khổ đó cũng được cảm thấy dịu bớt đi.

11.Luật tự kỷ ám thị:

Nếu một ý nghĩ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là công cụ mạnh của quảng cáo và ta cũng có thể tận dụng quy luật này để có được những suy nghĩ tích cực và để rèn cho mình những đức tính mà mình chưa có.

12.Luật về sức mạnh của thói quen:

Những suy nghĩ hay hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở thành thói quen và thói quen sẽ trở thành một phần trong tính cách. Đây là công cụ mạnh để rèn luyện những tính cách mình muốn có.

13.Luật thích nghi:

Con người là động vật lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng chịu được. Con người được ban cho khả năng thích nghi với nhiều điều kiện hoàn cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và môi trường xung quanh.

14.Luật về sự tương tác

Khi vật A tác động vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một lực tác động ngược lại đúng bằng lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan hệ giữa con người với con người, khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự đau đớn đúng bằng vậy. Và ngươc lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản thân ta sẽ nhận được một hạnh phúc đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.

VẬN MỆNH CON NGƯỜI BỊ CHI PHỐI BỞI 9 QUY LUẬT NÀY, MUỐN CẢI BIẾN PHẢI BIẾT

Rất nhiều sự việc trên đời xảy ra tưởng chừng như ngẫu nhiên, nhưng nó lại tuân theo một số quy luật, đạo lí nhất định. Nếu như có thể nắm vững những định quy luật này thì có thể cải biến vận mệnh.

1. Luật nhân quả

Trên đời này không có một sự tình nào là ngẫu nhiên xảy ra. Mỗi một việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó. Đây được xem là quy luật căn bản nhất của vũ trụ. Vận mệnh của con người cũng là tuân theo quy luật này.

Từ xưa đến nay, các trường phái công nhận quy luật này không chỉ có Phật giáo mà còn có Cơ đốc giáo… Triết học gia Hi Lạp cổ đại Socrates và nhà khoa học vĩ đại Newton cũng công nhận đây là quy luật căn bản nhất của vũ trụ.

Suy nghĩ, lời nói và hành vi của con người đều được coi là “nhân” và sẽ sản sinh ra “quả” tương ứng. Nếu “nhân” tốt thì “quả” cũng tốt, nếu “nhân” xấu thì “quả” cũng xấu. Con người chỉ cần có suy nghĩ thì sẽ lập tức không ngừng gieo trồng ra một loại “nhân”. Cho nên, “thiện nhân” hay “ác nhân” là do bản thân mỗi người quyết định.

Bởi vậy, một người nếu muốn cải mệnh thì trước hết phải chú ý đến suy nghĩ của mình. Bởi vì, tâm niệm một khi khởi lên thì sẽ dẫn phát ra lời nói và hành vi tương ứng. Từ hành vi và lời nói ấy sẽ dẫn đến kết quả tương ứng.

2. Luật năng lượng biến đổi không ngừng

Vạn vật trong vũ trụ đều mang một trường năng lượng tương ứng và đặc trưng. Mọi thứ đều di chuyển và thay đổi cũng như việc biến đổi của năng lượng vậy. Không có gì là đứng yên và ngưng nghỉ cả. Luật này cho phép cuộc sống trở nên bất tận và kéo dài vô tận. Không có gì mất đi, chỉ đơn giản là biến đổi.

Từ một năng lượng thấp và tiêu cực vẫn có thể chuyển hóa thành năng lượng tích cực và tinh khiết. Mọi năng lượng đều có thể biến đổi theo một chiều hướng khác, có thể là hoàn toàn khác biệt và hoàn toàn mới.

Không có gì là mất đi trong vũ trụ cả, chỉ là biến đổi và chuyển sang một dạng năng lượng khác mà thôi. Cũng như khi mình còn trong thân xác, ta là một dạng năng lượng đặc rắn chẳng hạn, còn khi mình “chết đi”, rời bỏ cơ thể thì mình vẫn “sống”, chỉ đơn thuần là mình biến đổi thành một dạng năng lượng khác mịn hơn, nhẹ hơn, linh hoạt hơn… mà thôi. Tất cả đều là năng lượng. Vạn vật đều là năng lượng tùy thuộc vào tính chất, hình dạng, kết cấu đặc trưng của năng lượng đó mà thôi.

Ta có thể áp dụng luật này để chuyển đổi trường năng lượng của mình theo hướng mà minh muốn, tích cực hay tiêu cực là phụ thuộc vào sự lựa chọn của mình.

3. Luật vô thường

Các thuộc tính của thời tiết mưa, gió, nắng tạo hiện tượng mát, lạnh, nóng hình thành các mùa trong năm. Thời tiết vận hành tạo ra sự vô thường làm con người sinh - lão - bệnh - tử nhưng nếu không có cái vô thường đó thì sẽ không có thế hệ con người hạnh phúc, an lạc trong tương lai cũng giống như không có mùa đông lạnh lẽo sẽ chẳng có mùa xuân ấm áp với muôn hoa đua nở. Tất cả những tai ách, chướng duyên hay cụ thể là chết chóc, li biệt… là sầu não dẫu có xảy ra là đang hứa hẹn một cái mới hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong tương lai.

Vì vậy, chúng ta phải có suy nghĩ lạc quan trước mọi đổi thay dù là tiêu cực của cuộc sống để luôn có giây phút bình an, tự tại. Những khó khăn giúp chúng ta tích lũy được kinh nghiệm, những trở ngại rèn luyện cho ta bản lĩnh vững vàng, tạo đà để ta có đời sống tinh thần vững chãi và giải quyết mọi công việc một cách dứt điểm, nhẹ nhàng, sáng suốt hơn.

4. Luật hấp dẫn

Tâm niệm (tư tưởng, suy nghĩ) của con người và hiện thực là luôn hấp dẫn lẫn nhau. Ví như, một người luôn tràn đầy ý niệm rằng đường đời là nhiều cạm bẫy, bước ra cửa sợ ngã, đi xe sợ tai nạn giao thông, kết giao bạn bè sợ bị lừa gạt, thì người này sẽ có nguy cơ rất cao là gặp phải những sự cố phiền phức ấy trong cuộc sống hiện thực. Họ chỉ hơi lơ đễnh, không cẩn thận thì liền rước họa vào thân. Trái lại, một người luôn có suy nghĩ vui tươi, vô tư chính trực, nghĩa khí khi kết giao bạn bè thì họ sẽ dễ dàng có được những người bạn cũng có tính cách như vậy hơn so với những người không có suy nghĩ này.

Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì con người đều là dùng con mắt “lựa chọn” để nhìn thế giới. Người ta chỉ nhìn đến, chú ý đến những con người, sự vật mà mình tin tưởng, đối với những sự vật mà bản thân không tin tưởng, người ta sẽ có thiên hướng không chú ý đến, thậm chí là “nhìn thấy mà làm như không nhìn thấy”. Cho nên, những điều xảy ra trong hiện thực của một người là do tâm niệm của người ấy hấp dẫn mà đến. Những điều này con người cũng không khó để phát hiện ra. Tâm niệm của một người là tiêu cực, xấu xa thì hoàn cảnh thực tế mà người ấy gặp phải cũng sẽ tương tự. Ngược lại, tâm niệm của một người là lương thiện, là tích cực thì hoàn cảnh thực tế của người ấy cũng sẽ như vậy.

Một người nếu có thể kiểm soát được tâm niệm (suy nghĩ) của mình, khiến nó luôn lương thiện, tích cực thì cái năng lượng mà tâm niệm ấy phát ra sẽ có thể hấp dẫn được người, sự việc, sự vật có cùng đặc tính đến. Cho nên, kiểm soát được tâm niệm (tư tưởng, ý nghĩ) của bản thân sẽ có thể cải thiện được vận mệnh của mình.

5. Luật gia tăng

Đây này là một luật tuyệt vời để mình áp dụng vào cuộc sống của mình. Tính chất của nó là mình cho đi, dù chỉ là một ít, nhưng đó lại là một lời khẳng định với vũ trụ rằng mình “có”, và sự giàu có của minh là dồi dào. Và từ đó, chính lời khẳng định đó sẽ tạo ra thực tại của minh vì vũ trụ cũng như một cây đèn thần hay một cỗ máy copy vậy.  Dù chỉ có một ít tiền, dù là một khoản nhỏ thôi nhưng cũng hãy biết ơn vì điều đó, cảm ơn vì những thứ ta đang có và rồi sự dồi dào của minh sẽ được gia tăng. Cầu nguyện mỗi ngày với những câu khẳng định biết ơn để gia tăng và cải thiện các khía cạnh trong đời sống của minh như là hạnh phúc, tiền bạc, thành công, sức khỏe… hay bất cứ điều gì ta muốn có trong tương lai.

Tuy nhiên, lời khẳng định không thể làm việc một mình được, mà nó phải được kèm theo với một tư tưởng và niềm tin mạnh mẽ. Tư tưởng mang một sức mạnh vô hình, và hãy cứ tập trung vào điều ta muốn và sáng tạo ra trải nghiệm mà minh khao khát. Cứ tin như thể là nó chắn chắc sẽ xảy ra và rồi ta sẽ thấy Luật Gia Tăng làm việc rất hiệu quả.  

Thường thì hầu hết chúng ta khi vui, khi hạnh phúc thì ít khi biết ơn, nhưng khi không vui hay buồn khổ thì chúng ta lại hay oán trách. Bây giờ, hãy thôi than phiền về nợ nần, những điều không vừa ý xảy ra trong cuộc sống của minh (nếu mình không muốn hấp dẫn thêm nợ nần và nhiều điều tiêu cực đến với mình), mà thay vào đó hãy biết ơn với những gì khiến mình vui và hạnh phúc ở hiện tại và cảm ơn cả những gì ta ao ước trong tương lai và tin tưởng những điều tốt đẹp sẽ đến với mình.

6. Luật tin tưởng

Một người nếu thực sự tin tưởng thâm sâu rằng một việc nào đó chắc chắn sẽ xảy ra thì không quản việc ấy là thiện hay ác, tốt hay xấu đều sẽ xảy ra đối với người ấy. Trí óc của minh sẽ tìm kiếm những thông tin, hoàn cảnh, nguồn lực để phù hợp với niềm tin của minh. Luật niềm tin rất mạnh mẽ, nếu mình tin rằng mình nghèo khó thì cả cuộc đời ta chắc chắn sẽ nghèo khó, khi đó ta chỉ tìm kiếm những sự kiện, suy nghĩ để phù hợp với sự nghèo khó đó vị dụ như: tôi không có tiền, tôi không thành công… Nếu mình tin tưởng mình giàu có và thành công thì cho dù trong bất kì hoản cảnh có khó khăn đến thế nào ta vẫn vượt qua để phù hợp với niềm tin giàu có và thành công đó.

Chúng ta cũng hành động dựa trên niềm tin dù đa số con người tự giới hạn niềm tin của mình. Điều may mắn là không ai sinh ra đã có niềm tin. Niềm tin của minh về bản thân, tiềm năng, thế giới, tôn giáo, chính trị, con người, mọi thứ… đều do ta đã học hỏi một cách cẩn thận và tỉ mỉ, được hướng dẫn và lặp đi lặp lại nhiều lần. Vậy sẽ vô cùng sai lầm khi chúng ta bị giới hạn niềm tin của chính mình hoặc do bị ai đó tác động đến chúng ta làm giới hạn niềm tin từ bản thân chúng ta. Đôi khi họ nói: ta không làm được đâu, điều đó khó lắm chưa ai từng làm, ta nghĩ mình là ai? Ta không đủ thông minh, ta không đủ sáng tạo… đó đều là những lời nói làm giới hạn niềm tin của chúng ta. Điều tồi tệ nhất xảy ra khi chúng ta bị giới hạn bởi những niềm tin, những niềm tin giới hạn sẽ giữ chúng ta lại trong cả một đời mà không phát huy được hết khả năng, tiềm năng trong mỗi người. Ta cần phá vỡ giới hạn niềm tin của mình bằng cách luôn nghĩ khả năng của minh, của mỗi người là không có giới hạn.

7. Luật buông lỏng

Con người, chỉ khi ở trong tình huống buông lỏng tâm thái thì mới có thể đạt được thành quả tốt nhất. Một người có tâm thái nôn nóng, luống cuống, nóng nảy… đều sẽ đem đến kết quả không tốt.

Vậy tâm thái nào là tốt nhất? Đó chính là càng thanh khiết, không có niệm càng tốt. Một người nếu có thể đặt mục tiêu muốn đạt được những điều lí tưởng trong nhân cách, cảnh giới, các mối quan hệ và cuộc sống trong suy nghĩ, rồi buông lỏng tâm thái, tinh tấn cố gắng, làm những điều nên làm, không nghĩ đến kết quả thì những điều ấy sẽ nhanh đến. Trái lại, nếu người ấy càng nôn nóng nhìn thấy kết quả đạt được bao nhiêu thì sẽ càng không thể đạt được kết quả lí tưởng bấy nhiêu, thậm chí còn nhận được kết quả ngược lại.

Ví dụ: Vào một đêm nóng bức đột nhiên mất điện, mọi người nằm trên giường đổ mồ hôi đầm đìa, trằn trọc không thể ngủ được, trong đầu luôn nghĩ lúc nào mới có điện, kết quả lại thấy điện như thể là “cố tình” không đến. Hơn nữa, khi con người càng bực bội thì thân thể lại càng bức bối hơn. Nhưng nếu người ấy quên đi, nằm yên tĩnh thì sẽ cảm thấy mát hơn và dường như “điện” cũng sẽ đến nhanh hơn.

Tại sao lại như vậy? Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, cũng không phải là mê tín. Đó là quy luật “buông lỏng”. Cái gọi là “vô niệm, vô nghĩ” ấy kì thực cũng không phải là nhất nhất rằng trong đầu não không có ý nghĩ gì hết, mà là dù có ý nghĩ nhưng cũng không để tâm, cũng có nghĩa là “không lưu luyến vào đó mà sinh ra tâm này”. Khi đạt được điều ấy rồi thì vận mệnh, hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng sẽ được cải biến.

8. Luật âm dương

Vạn vật đều mang các yếu tố và nguyên tắc âm dương (-) (+) và năng lượng nam tính và nữ tính bên trong nó. Cũng như mọi thứ trên Trái Đất từ khoáng chất cho đến cây cối, động vật cho tới con người luôn cần có đủ và cân bằng hai nguồn năng lượng âm - dương để tăng trưởng và tiến hóa.

Cũng như linh hồn phân chia ra thành các cặp nam nữ vậy. Trong trường hợp linh hồn sinh đôi, đó chính là linh hồn của minh tách ra làm hai linh hồn mang hai nguồn năng lượng khác nhau, nữ tính (trội) và nam tính (trội), để đi trải nghiệm hai khía cạnh khác nhau và có sự gắn kết đặc biệt. Đến thời điểm thích hợp đặc biệt, khi cần tiến hóa cao hơn nữa thì linh hồn sẽ hợp nhất và trở nên toàn vẹn.

Người mang giới tính nam thường có năng lượng nam tính trội hơn nhiều so với năng lương nữ tính, và người mang giới tính nữ thì ngược lại (tương đối). Khi linh hồn tiến hóa lên cao thì linh hồn đó sẽ cân bằng được hai nguồn năng lượng này.

Ngay cả bản thân chúng ta, bất kể là nam hay nữ thì vẫn mang trong mình cả năng lượng nam và nữ tính, chỉ là cái nào trội hơn mà thôi, hoặc có nhiều người cân bằng cả hai nguồn năng lượng. Mỗi nguồn năng lượng đều mang tính đặc trưng đối với nhân loại, chẳng hạn như: Năng lượng nam tính giúp chúng ta mạnh mẽ và vững chắc, can đảm và kiên cường, lí trí và khôn ngoan… Còn năng lượng nữ tính thì giúp chúng ta dịu dàng và tinh tế, sâu sắc và yêu thương, khéo léo và tỉ mỉ…

9. Luật thói quen

Những gì ta làm lặp đi lặp lại liên tục sẽ tạo thành thói quen. Ta có thể tạo ra bất kì thói quen cảm xúc nào ta muốn như về tự tin, lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc. Ta tạo lập thói quen tinh thần tích cực bằng cách tư duy, suy nghĩ, nói ra lặp đi lặp lại hàng ngày đến thuộc lòng. Điều quan trong của quy luật thói quen là giúp minh trở thành con người mà minh nghĩ đến nhiều nhất hàng ngày. Ta trở thành người như ta thường nghĩ trong hầu hết thời gian hàng ngày.

Emerson nói : “Con người thường làm những gì mà họ nghĩ cả ngày”. Vậy ta thường nghĩ gì cả ngày? Ta hãy chọn những mục tiêu, suy nghĩ tích cực và thường xuyên nghĩ đến cả ngày khi đó ta sẽ trở thành những gì ta suy nghĩ. Khi thay đổi thói quen suy nghĩ, ta thay đổi cuộc đời.

Nếu nắm được cách những quy luật này vận hành và có tâm thức cải biến, chắc chắn cuộc đời ta sẽ sang một trang mới nhiều bất ngờ.

CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY

Ta xét hai ví dụ suy luận:

“Mọi người đều phải chết.

Socrate là người.

Vậy, Socrate phải chết." 

và:

“Vợ tôi là đàn bà.

Em là đàn bà.

Vậy, em là vợ tôi” 

Rõ ràng suy luận thứ nhất đúng, còn suy luận thứ hai thì sai. Nhưng căn cứ vào cơ sở nào mà ta xác định được như vậy? Tất nhiên là có thể căn cứ trực tiếp vào thực tiễn. Tuy nhiên thực hiện việc đó gặp phải rất nhiều khó khăn, vì ở đây sau khi kiểm tra thấy kết luận đúng ta cũng không thể nói rằng chắc chắn suy luận đúng. Một phương pháp khác thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều là sử dụng các quy luật của tư duy, tức là các quy luật mà môn logic nghiên cứu, để làm cơ sở cho việc xét đoán. Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì hợp lý, đúng; suy luận nào không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai.

Như đã biết, quy luật của tư duy là những mối liên hệ bên trong, bản chất, lặp đi lặp lại trong các quá trình tư duy. Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính chất bản năng.

Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Các quy luật này được gọi là cơ bản vì: thứ nhất, chúng phản ánh những tính chất cơ bản nhất của các quá trình tư duy; thứ hai, vì bất cứ quá trình tư duy nào cũng phải tuân theo chúng; thứ ba, vì các quy luật khác có thể rút ra được từ chúng, nhưng không thể rút ra chúng từ các quy luật khác. Các quy luật cơ bản đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.

I. QUY LUẬT ĐỒNG NHẤT

Phát biểu: A là A. Một tư tưởng, khi đã định hình, phải luôn là chính nó trong một quá trình tư duy.

Quy luật này phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều này có nghĩa là, trong quá trình hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả thuyết, …) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì không được thay đổi nữa. Nếu nó vẫn tiếp tục thay đổi thì logic hình thức sẽ coi nó là tư tưởng khác. Tính ổn định như vậy là điều kiện cần cho mọi quá trình tư duy. Mặc dù tư tưởng - cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác -, luôn luôn vận động và biến đổi, nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt biến đổi đó của tư tưởng thì không thể nào tư duy được. Một ý kiến được nói ra phải có nội dung không đổi ít nhất là trong cùng một quá trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng minh quan điểm, … nghĩa là một quá trình tư duy, thì người ta mới có thể căn cứ vào nó để xét đoán đúng sai, hợp lý hay bất hợp lý, …

Nội dung của quy luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn thông qua những yêu cầu sau:

1.Một từ chỉ được dùng trong suy luận

Với một nghĩa duy nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ nói chung lúc thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác trong cùng một quá trình suy luận. Cũng vậy, trong cùng một quá trình suy luận một khái niệm, một tư tưởng, … không được thay đổi nội dung của mình. Nếu một tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả những lần xuất hiện đó nó phải có cùng một nội dung, phải có giá trị chân lý như nhau. Điều này có nghĩa là ở các quá trình tư duy khác nhau ta có thể dùng từ với nhiều nghĩa khác nhau, tư tưởng có thể có những giá trị chân lý khác nhau, nhưng trong cùng một quá trình suy luận thì từ ngữ bao giờ cũng được dùng với một nghĩa duy nhất, tư tưởng phải có cùng một nội dung duy nhất, phải có cùng một giá trị chân lý duy nhất. Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ không nhất quán, lẫn lộn và người khác sẽ không hiểu.

2. Những từ ngữ khác nhau

Nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận. Vi phạm yêu cầu này, ta không rút ra được thông tin cần thiết. Ví dụ: người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, và hỏi quê quán của nhà thơ Nguyễn Du. Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều thì ta không trả lời được cho câu hỏi này. Ta cũng không thể suy luận được.

Đây là những yêu cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu này bắt buộc phải tuân theo để tư tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp rất nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một cách vô tình hay cố ý. Ví dụ, các trò chơi chữ là những vi phạm cố ý:

Bà già đi chợ Cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng ?

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.

Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.

Yêu cầu của quy luật này rất đơn giản. Tuy nhiên, để tuân thủ yêu cầu này không phải là dễ. Đồng nhất những cái gì và không đồng nhất những cái gì là dựa vào sự hiểu biết, dựa vào trình độ văn hóa của chủ thể tư duy, và dựa vào bối cảnh tư duy. Bởi vì, xét cho cùng, quy luật này đòi hỏi phải đồng nhất những thứ không đồng nhất. Chính điều này giải thích tại sao khi nghe một câu chuyện vui thì nhiều người bật cười nhưng một số người khác thì không. Người ta cười vì đã đồng nhất được những cái mà người kể muốn đồng nhất, còn nếu không làm được điều đó thì người ta không cười. Như trong ví dụ sau đây:

Lớp đang học về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, Cu Tèo ngủ gật. Thấy vậy, thầy giáo hỏi: “Tèo, ai đã lấy cắp nỏ của An Dương Vương ?”. Giật mình, Cu Tèo vội đáp: “Thưa thầy con không lấy, con không lấy, mình nào lấy con không biết…”.

Thầy giáo chán nản, đem câu chuyện kể lại cho hiệu trưởng nghe. Hiệu trưởng nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Thôi được, chuyện đâu còn có đó, trẻ con ấy mà. Thầy xem thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra mua một cái khác thay thế. Rõ khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”.

Câu chuyện được đem kể lại ở sở giáo dục và đào tạo. Những người có mặt bò lăn ra cười, chỉ một người không cười, đó là kế toán trưởng. Mọi người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta nói: “Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách chức tay hiệu trưởng đó. Tiền đâu ra mà cái gì cũng mua, cái gì cũng chi như vậy?…”

Quy luật đồng nhất là quy luật của tư duy hình thức, không nên nhầm lẫn rằng đây là quy luật của hiện thực khách quan bên ngoài tư duy. Quy luật đồng nhất, vì vậy, không dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một sự vật vừa chính là nó vừa không phải là nó. Tư duy hình thức phản ánh hiện thực khách quan một cách lý tưởng[1], phản ánh hiện thực khách quan trong sự đứng im tương đối của nó, bỏ qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các sự vật và hiện tượng trong sự tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác. Một sự vật của hiện thực khách quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau, tạo nên những đối tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong hiện thực khách quan A và B có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể phản ánh tính chất chung đó ở hai sự vật đã nêu và tạo thành hai đối tượng khác nhau trong tư duy. Hai đối tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì vậy mà mặc dù trong hiện thực khách quan không hề có hai sự vật hoàn toàn giống nhau, nhưng ta vẫn có thể đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như vậy là bởi ta chỉ đồng nhất chúng trong một mối quan hệ nhất định mà thôi. Ví dụ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai người khác nhau, tuy nhiên, khi tư duy phản ánh các ông từ góc độ là nhà thơ thì tạo thành hai đối tượng đồng nhất với nhau trong tư duy.

Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thông qua quy luật đồng nhất của tư duy ta có thể nói về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Cần lưu ý rằng ở đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng với tư tưởng ta mới có thể đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Điều này làm cho phạm vi ứng dụng của quy luật này được mở rộng hơn nhiều.

Ta xét vài ví dụ:

Ví dụ 1. Trước Tòa bà Minh nói “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư ký phiên tòa ghi “Tôi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con”. Sai lầm này của thư ký phiên tòa đã làm cho việc thi hành án sau này gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ 2. Có diễn giả nói: “Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một mắt thì mắt kia sẽ tinh hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn, ....”. Nghe vậy, có thính giả kêu lên: “Rất đúng, tôi cũng thấy rằng nếu một người cụt chân thì y như rằng chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho cả thính phòng cười ồ lên. Anh ta đã không nhận thấy rằng khi diễn giả nói “…mắt kia sẽ tinh hơn”, “…tai kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt và tai bình thường, còn anh ta thì so sánh “chân kia” với chân cụt.

Quy luật đồng nhất là quy luật vô cùng quan trọng của logic hình thức. Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và không đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất không đúng.

II.  QUY LUẬT KHÔNG MÂU THUẪN

Phát biểu: Hai phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau không thể nào cùng đúng. Trong hai phán đoán, nhận định như vậy có ít nhất là một phán đoán, nhận định sai.

Quy luật này phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình tư duy nên trong tư duy nhất định phải tránh nó. Tư duy của chúng ta không được chứa mâu thuẫn vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan, mà trong hiện thực khách quan thì ở mỗi thời điểm không thể có trường hợp một đối tượng vừa có, lại vừa không có một tính chất nhất định nào đó. Ví dụ, tại một thời điểm, một bông hồng cụ thể không thể nào vừa có màu đỏ, vừa không có màu đỏ. Cần lưu ý rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu thuẫn hình thức, chứ không phải là mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức không thể có được vì, như đã biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư cách là sự phản ánh các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự đứng im của nó, nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.

Nội dung của quy luật không mâu thuẫn được diễn giải cụ thể hơn qua các yêu cầu sau đây:

1. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn trực tiếp.

 Cụ thể là không được cùng một lúc vừa khẳng định vừa phủ định một điều gì đó. Ví dụ, không thể vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ có được bản hiến pháp của mình, lại vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ không thể thông qua được một bản hiến pháp như thế.

Trong thực tế đôi khi ta gặp những câu nói có vẻ như chứa mâu thuẫn trực tiếp nhưng vẫn thấy chấp nhận được. Ví dụ, câu “Giải vô địch bóng đá quốc gia V-leage vừa qua vừa đạt, vừa chưa đạt” nhìn bề ngoài như chứa mâu thuẫn trực tiếp, nhưng lại vẫn chấp nhận được. Vậy phải chăng ở đây ta đã bỏ qua yêu cầu của quy luật không mâu thuẫn? Thật ra thì trong trường hợp này yêu cầu của luật không mâu thuẫn vẫn được tôn trọng, vì từ “đạt” trong câu nói trên được hiểu theo nhiều cách khác nhau, và vì vậy ở đây không có mâu thuẫn. Nếu tiếp tục làm rõ ý kiến của mình thì người đưa ra câu nói đó sẽ giải thích đã đạt ở mặt nào và không đạt ở mặt nào (đó là các mặt khác nhau). Nghĩa là anh ta sẽ cho biết hiểu theo nghĩa nào thì chuyến tập huấn được coi là đạt và hiểu theo cách nào thì không đạt.

2. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn gián tiếp.

Cụ thể là không được khẳng định (hay phủ định) một vấn đề nào đó rồi lại phủ định (hay khẳng định) các hệ quả của nó. Ví dụ, nếu khẳng định rằng lý thuyết tương đối hẹp của Einstein là đúng thì không thểphủnhận công thức E = mc2 thể hiện mối liên hệ giữa năng lượng và khối lượng của ông.

Nếu như mâu thuẫn trực tiếp dễ được nhận thấy, và vì vậy dễ tránh, thì mâu thuẫn gián tiếp khó nhận thấy hơn, và vì vậy khó tránh hơn nhiều.

Ví dụ 3. Lời nói của Đức Phật với quỷ Mala: “(…) Ta không cần danh vọng, Mala, mi hãy thuyết những điều đó với những kẻ hám danh vọng. (…) Thành đạt, danh tiếng, danh dựvà vinh quang chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của người kia. (…) Ta trải cơ mạn xa để chiến đấu với người đây. Ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng.” Trong lời nói này ta thấy câu cuối cùng “ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng” mâu thuẫn với những câu ở phía trên.

Khi rèn luyện tư duy nhiều ta sẽ nâng cao được khả năng phát hiện mâu thuẫn trong các suy luận của chính mình và của người khác, phát hiện thấy những cái không ổn trong các suy luận đó. Khi phát hiện rằng suy luận “có điều gì đó không ổn”, nghĩa là phát hiện ra khả năng chứa mâu thuẫn gián tiếp của nó, ta có thể tiến hành đặt liên tiếp các câu hỏi để người đưa ra suy luận trả lời và bằng cách đó chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp.

Ví dụ 4. Khi thấy lời khai của người bị tình nghi phạm tội có chứa điều gì đó không ổn, cán bộ điều tra sẽ đặt ra cho người đó hàng loạt câu hỏi cho đến khi người đó không trả lời được nữa, vì thấy mình đã gặp mâu thuẫn rõ ràng, trực tiếp.

Ví dụ 5. Trong câu chuyện tiếu lâm về con rắn vuông, khi nghe chồng kể về một con rắn khổng lồ, chị vợ đã liên tục tỏ ý nghi ngờ về chiều dài của nó. Điều này làm cho anh chồng liên tục rút ngắn chiều dài của con rắn, và cuối cùng là có được con rắn vuông. Như vậy, mâu thuẫn chưa lộ rõ hẳn giữa sự tồn tại của con rắn khổng lồ trong câu chuyện của người chồng với thực tế đến lúc này đã trở thành mâu thuẫn rõ ràng giữa sự tồn tại của con rắn vuông với thực tế.

Câu “nói dối hay cùng” chính là nói về những trường hợp như thế này.

Nắm vững nội dung và áp dụng thành thạo quy luật không mâu thuẫn giúp ta trình bày tư tưởng nhất quán và dễ dàng phát hiện các biểu hiện ngụy biện trong suy luận.

III. QUY LUẬT TRIỆT TAM

Phát biểu: Một phán đoán, nhận định hoặc đúng hoặc sai chứ không thể có một giá trị thứ ba nào khác.

Đây là quy luật đặc trưng của logic hai giá trị - logic thông thường mà ta vẫn sử dụng.

Với một phán đoán, nhận định nhất định, quy luật triệt tam không cho biết nó đúng hay sai, nhưng cho biết rằng nó chỉ có thể hoặc đúng, hoặc sai chứ không thể có giá trị nào khác. Ví dụ, ta chưa biết câu nói “Có người ngoài Trái đất đến thăm Trái đất” đúng hay sai, nhưng quy luật triệt tam khẳng định rằng hoặc nó đúng, hoặc nó sai!

Quy luật triệt tam không cho phép người ta tránh né vấn đề khi trả lời câu hỏi. Nó không cho phép trả lời lấp lửng, nước đôi, mà đòi hỏi câu trả lời dứt khoát.

Ví dụ, khi một thanh niên đi kiếm việc làm được hỏi có biết ngoại ngữ hay không thì anh ta chỉ có thể trả lời “có” hoặc “không”, tất cả các câu trả lời khác đều không có giá trị.

Trong thực tiễn, người ta ứng dụng quy luật triệt tam để chứng minh bằng phản chứng.

Đôi khi ta gặp những câu nói rất sâu sắc mà biểu hiện trực tiếp là quy luật triệt tam. Ví dụ, cuối bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, sau khi kể chuyện nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, tác giả La Quán Trung đã viết, đại ý: Lịch sử các nước cứ như vậy, hết hợp thì tan, hết tan rồi lại hợp. Hay, cuối bộ sách Hồng lâu mộng, sau khi kể vợ Bảo Ngọc sinh con trai và gia đình họ Giả bắt đầu hưng thịnh trở lại, tác giả Tào Tuyết Cần viết, đại ý: Ở đời cứ như vậy, hết thịnh rồi thì suy, hết suy rồi lại thịnh.

Một số tác giả cho rằng quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất. Đây là một sự nhầm lẫn. Ta có thể bác bỏ điều đó hết sức dễ dàng. Thật vậy, nếu quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất thì ở bất cứ chỗ nào mà quy luật đồng nhất đúng thì quy luật triệt tam cũng phải đúng. Nhưng rõ ràng là trong các hệ logic ba giá trị quy luật đồng nhất vẫn đúng, trong khi đó thì quy luật triệt tam không đúng. Trong những suy luận nhằm rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất mà thỉnh thoảng ta gặp trong các tài liệu logic đã chứa sẵn vòng tròn logic. Thật vậy, những suy luận kiểu này được thực hiện trong khuôn khổ của logic hai giá trị và sử dụng các tính chất của logic đó. Tuy nhiên sở dĩ logic hai giá trị là logic hai giá trị là vì nó tuân thủ quy luật triệt tam. Như vậy có nghĩa là những tính chất của logic hai giá trị được sử dụng để rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất phụ thuộc vào chính quy luật triệt tam!

IV. QUY LUẬT LÝ DO ĐẦY ĐỦ

Phát biểu: Một tư tưởng chỉ có giá trị khi nó có đầy đủ các cơ sở.

Khác với ba quy luật trên, - những quy luật được Aristote tìm ra từ thời cổ đại -, quy luật này được Leibnitz phát hiện ở thế kỷ thứ XVIII.

Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi các tư tưởng phải được đưa ra trên những cơ sở nhất định. Tư duy của chúng ta cấu thành từ một chuỗi các tư tưởng như vậy. Những tư tưởng đi trước làm cơ sở cho những tư tưởng đi sau. Chỉ trong trường hợp đó thì tư duy mới được coi là chặt chẽ, có logic. Ngược lại, tư tưởng sẽ lủng củng. Người nghe sẽ thấy người nói nhảy từ vấn đề này qua vấn đề khác một cách tùy tiện. Trong thực tế, đòi hỏi làm một việc gì đó hoặc trình bày một vấn đề nào đó theo một trình tự nhất định chính là đòi hỏi thỏa mãn quy luật này.

Quy luật lý do đầy đủ dựa trên một quy luật rất cơ bản của tự nhiên là quy luật nhân - quả: Mọi sự vật và hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Trong cùng một điều kiện, cùng một nguyên nhân sẽ đưa đến cùng một kết quả. Nếu như tư tưởng phản ánh hiện tượng thì cơ sở của nó là cái phản ánh nguyên nhân của hiện tượng đó. Trong tự nhiên, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Nhưng trong tư duy ta lại có thể biết hiện tượng trước rồi mới đi tìm nguyên nhân sau, nên thứ tự ở đây không giống trong tự nhiên.

Nguyên nhân mà chúng ta nói đến ở đây là nguyên nhân hiện thực, chứ không phải là nguyên nhân siêu nhiên, thần thánh, ma quỷ.

Ví dụ 6. Một người lái taxi nào đó luôn có thu nhập cao hơn so với nhiều người khác, mặc dầu anh ta làm việc trong cùng một điều kiện như họ. Khi đó, người ta hay nói rằng số anh ta may mắn. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì ta sẽ không cải thiện được tình hình của mình. Ngược lại, nếu hiểu rằng hiện tượng này cũng phải có nguyên nhân của nó, và nguyên nhân đó là nguyên nhân vật chất, nghĩa là nguyên nhân có thể hiểu và ứng dụng được, thì ta sẽ tìm hiểu, phân tích những yếu tố đưa lại thành công cho người kia, rồi tìm cách để áp dụng, và nhờ đó có thể nâng cao thu nhập của mình.

Tuân thủ nghiêm các quy luật cơ bản trình bày trên đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ và trình bày tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Ứng dụng các quy luật này chúng ta cũng dễ dàng phát hiện các sai lầm trong suy luận của người khác và của chính mình để phản bác, để vạch trần sự ngụy biện, hoặc để tránh sai lầm.

 

Những quy luật tâm lý chúng ta vẫn vô thức làm theo, đúng đến giật mình

Có những hành động chúng ta làm trong vô thức hóa ra là ảnh hưởng của những quy luật tâm lý tự nhiên. Dưới đây là 9 quy luật mà con người vẫn vô thức làm theo và lý giải của các nhà khoa học về hiện tượng ấy.

1. Chúng ta thường hướng bàn chân về phía người mình thích khi trò chuyện cùng nhau

Không chỉ tư thế cơ thể mà hướng bàn chân cũng nói lên nhiều điều khi mình đang giao tiếp với mọi người. Nếu một người hướng thân về phía ta nhưng bàn chân lại hướng về phía khác thì điều đó có nghĩa người này không hứng thú với cuộc trò chuyện

Thạc sĩ Joe Navarro giải thích đây là hành động tự nhiên của cơ thể. Cơ thể ta muốn đảm bảo đôi chân có thể phản ứng ngay lập tức khi cảm thấy có mối đe dọa. Đây là bản năng sinh tồn.

Chúng ta đứng bắt chéo chân khi cảm thấy thoải mái, ví dụ khi đi thang máy một mình, nhưng khi có một nhóm người lạ thì không. Vì trong tư thế đó ta sẽ không thể chạy trốn nhanh.

Bởi vậy khi ai đó thấy chán trò chuyện, chân họ sẽ hướng về phía khác với người nói.

 

2. Chúng ta thường không mua món đồ đắt nhất hay rẻ nhất

Chúng ta muốn tiêu tiền một cách hợp lý, vậy nên chúng ta thường chọn các sản phẩm có giá cả và chất lượng tương ứng.

Do đó chúng ta không thích mua những món đồ đắt nhất hay rẻ nhất. Theo tâm lý người dùng, giá quá cao có thể là cao hơn giá trị thực của sản phẩm, còn quá rẻ thì chất lượng món đồ không tốt.

 

Mặc dù nghe có vẻ hợp lý, nhưng ta cần biết rằng các nhà marketing cũng nhận thức điều này. Đôi khi để bán một sản phẩm mà họ cố tình đặt nó cạnh các sản phẩm đắt hơn và rẻ hơn.

Phần lớn khác hàng sẽ không chần chừ lấy món hàng giá tầm trung.

 

3. Chúng ta giữ cửa cho người khác

Giữ cửa cho người khác là cử chỉ lịch sự chúng ta có thể được học ngay khi còn nhỏ. Nhưng ngoài phép lịch sự thì còn lý do khác khiến chúng ta làm điều này.

Theo nhà khoa học Joseph Santamaria và David Rosenbaum, chúng ta giữ cửa để tiết kiệm năng lượng chung, tức là người đi sau sẽ không cần phí năng lượng để giữa cửa nữa. Ngược lại khi có ai khác giữ cửa cho minh thì mình cũng không cần mất năng lượng làm việc này.

Thực tế nó cũng phản ánh "quy tắc vàng về đạo đức" - đối xử với người khác theo cách mà minh muốn họ sẽ đối xử với mình.

 

4. Đàn ông thường ngại hỏi đường

Theo khảo sát của TrekAce, chỉ có 6% nam giới trả lời họ sẽ hỏi đường người lạ nếu bị lạc. Cũng theo nghiên cứu này thì trung bình một người đàn ông trong 50 năm cuộc đời sẽ phí thời gian đi nhầm đường thêm 1448.41km chỉ vì ngại hỏi đường.

Tiến sĩ y khoa Mark Goulston đã thử lý giải điều này. Theo ông, đàn ông ngại hỏi đường dù biết mình đi nhầm đường bởi họ không muốn tỏ ra yếu đuối, sợ bị tổn hương hay bẽ mặt.

 

5. Trong tập thể, chúng ta thường không ăn miếng cuối cùng

Điề này khá lạ lùng vì nó đi ngược với nhiều nghiên cứu, rằng sản phẩm càng hiếm thì chúng ta càng muốn có được. Cũng bởi vậy trong quảng cáo chúng ta thường nghe đến cụm từ "số lượng có hạn".

Tuy nhiên, tiến sĩ Daniel A. Effron và Dale T. Miller của ĐH Stanford đã nghiên cứu cụ thể và phát hiện trong một công ty, các nhân viên thường không ăn miếng pizza cuối cùng, miếng doughnut cuối cùng, viên kẹo cuối cùng trong gói, vì họ cảm thấy mình không có quyền đó.

 

6. Đàn ông không thích đi vệ sinh cạnh nhau

Khi ở nhà vệ sinh công cộng, phần lớn chúng ta không muốn đi vệ sinh trước ánh mắt liếc nhìn của ai đó. Do vậy khi bước vào nhà vệ sinh đàn ông thường thích chọn bồn vệ sinh cách một khoảng với người khác.

 

7. Chúng ta thích đỗ xe cạnh một chiếc xe khác ở bãi đỗ xe trống

Con người có tính bầy đàn, chúng ta thường theo đám đông và trong trường hợp này cũng vậy, chúng ta thường tự động đỗ xe cạnh một chiếc xe khác dù còn rất nhiều chỗ trống.

Lý giải tính theo đám đông của con người, trợ lý nghiên cứu ở ĐH Yale Rob Henderson phân tích, một trong những lý do là vì ngày nay có quá nhiều sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta không có thời gian để thử nghiệm hết.

Do đó chúng ta sẽ dùng những sản phẩm đã được số đông kiểm chứng.

Đó cũng là lý do trong quảng cáo hay có câu như "sản phẩm đã được 9 trên 10 chuyên gia khuyên dùng". Đó là cách họ muốn chúng ta theo đám đông.

 

8. Chúng ta khoa chân múa tay khi nói chuyện

 

Nếu tay chúng ta không bận gì thì trong lúc nói chuyện, chúng ta thường có các động tác khoa tay. Đây là điều hết sức bình thường.

Giáo sư Andrew Bass từ ĐH Cornell University đã phát hiện ra rằng hành động khoa chân múa tay khi nói chuyện là kết quả của sự tiến hóa.

 

9. Chúng ta thường vặn nhỏ âm lượng khi lái xe ở những nơi không quen thuộc

Tưởng tượng ta đang lái xe đến một cuộc họp quan trọng ở một địa điểm lạ. Ta sẽ phải vặn nhỏ âm lượng đài, nhạc, hoặc tắt hoàn toàn để tập trung lái xe và không bị lạc.

 

Giáo sư Khoa Khoa học tâm thần và bộ não tại ĐH Johns Hopkins, tiến sĩ Steven Yantis đã minh chứng rằng khi tập trung vào việc nghe thì chúng ta sẽ bị giảm tập trung vào các thông tin hình ảnh. DO đó chúng ta thường phải vặn nhỏ âm lượng nhạc, đài để tập trung lái xe, không nhầm đường.

 

NHỮNG SỰ THẬT KHẮC NGHIỆT VỀ CUỘC SỐNG TA PHẢI CHẤP NHẬN

Dù các con thông minh, tốt bụng, xinh đẹp... cỡ nào thì vẫn sẽ có người thấy mình đầy khuyết điểm.

Ngay cả những người thông minh, khôn ngoan tới đâu vẫn có lúc cố chối bỏ những sự thật mà thẳm sâu bên trong họ biết là đúng. Theo Brigh Side, hiểu rõ và công nhận những điều dưới đây sẽ giúp cuộc sống của mình nhẹ nhàng và ý nghĩa hơn:

 

Không có sự bình đẳng trong mọi hoàn cảnh

Có những người sinh ra trong vùng nghèo đói, sớm phải mưu sinh, trong khi nhiều người khác chào đời ở những gia đình giàu có hay được thừa kế cả gia sản của một tập đoàn lớn. Thường ai có xuất phát điểm tốt thì cuộc sống về sau sẽ thoải mái hơn. Tất nhiên vẫn có những ngoại lệ nhưng không nhiều.

 

Chẳng ai muốn yêu một người không biết trân trọng chính mình

Các con có thể sẽ chết già nếu chỉ ngồi một chỗ rồi ước hoàng tử đẹp trai tìm đến cầu hôn. Tuy nhiên, nếu biết yêu và tôn trọng bản thân thì khác. Đừng bắt người khác phải chịu trách nhiệm cho hạnh phúc đời mình, nếu không, tâm trạng của mình sẽ luôn bị phụ thuộc vào ngoại cảnh và ai đó.

 

Thế giới này không nợ mình điều gì

Ngay cả khi các con là người cuốn hút, thông minh, có học thức với những tính cách tuyệt vời thì không có nghĩa là mọi cơ hội luôn mở rộng. Người thành công biết rằng chỉ có hai lựa chọn: than thân trách phận vì nghĩ mình xứng đáng được nhiều hơn nữa hoặc đấu tranh để đạt được vị trí tốt.

 

Ta có nhiều thời gian hơn mình tưởng

Có 168 tiếng mỗi tuần - và đó là số thời gian không ít. Các con hãy thay đổi suy nghĩ "tôi không có thời gian" sang "đó không phải là ưu tiên của tôi". Nếu các con không tập thể thao và hay ăn tạp, sức khỏe không phải là điều mình n ưu tiên. Nếu các con không giúp vợ việc nhà, hôn nhân không phải điều mình coi trọng.

 

Cuộc sống của mình sẽ không bao giờ hoàn hảo

Sẽ không bao giờ có cái gọi là "đúng lúc" để kết hôn, sinh con, thay đổi công việc hay đi du lịch. Các con cố nấn ná chờ "thời điểm đúng" thật ra chỉ vì sợ thay đổi. Hãy mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn, nếu không, các con sẽ sớm thấy tiếc nuối về cuộc sống của mình.

 

Không ai thực sự quá bận, chỉ là họ không quan tâm tới mình

Chồng /vợ  quá bận để trả lời tin nhắn thứ 30 của vợ/chồng? Nhà tuyển dụng không có thời gian để gọi lại cho các con sau buổi phỏng vấn? Mọi thứ thực ra rất đơn giản: Họ không muốn nói chuyện với các con. Càng sớm ngừng lo lắng về những người không quan tâm tới mình, cuộc sống của các con càng trở nên tốt đẹp hơn.

 

Ta không thể hoàn hảo trong mắt mọi người

Dù cho các con tử tế, tốt bụng, hào phóng hay xuất sắc thế nào, vẫn có những người không hài lòng về mình. Dù cho cơ thể các con có khiến người mẫu nội y phải ghen tỵ thì cũng không có nghĩa mình chẳng bị ai phán xét là kém hoàn hảo.

 

Cuộc đời không công bằng

Mọi người không phải lúc nào cũng trân trọng những việc các con làm. Dù mình là người tử tế và đáng yêu thì chẳng có nghĩa các con sẽ không bị phản bội, bỏ rơi. Kẻ xấu không hẳn lúc nào cũng bị trừng phạt. Sự cứu giúp cũng có thể chẳng đến vào những giờ phút đen tối. Dù vậy, điều đó không hẳn là cuộc đời chỉ toàn điều tệ. Có điều, các con đừng đòi hỏi quá nhiều mà thôi.

 

Người có khả năng làm hại mình nhất là chính mình

Thường, con người sẽ không làm hại chính mình vì bản năng sinh tồn nhưng ngày qua ngày chúng ta lại dễ dàng tự hủy hoại bản thân hoặc mạo hiểm cuộc sống khi quên nghĩ tới hậu quả việc mình làm. Các thói quen xấu, những lần vi phạm giao thông, vô tư vào xe cùng người lạ - tất cả đều đặt mạng sống của chúng ta vào nguy hiểm.

 

Những việc tốt có thể khiến cuộc đời mình gặp rắc rối

Có những việc tưởng chừng như tốt nhưng có lẽ các con không nên làm để tránh rắc rối vào người.

Yêu người chưa sẵn sàng cho mối quan hệ: Đối với người chưa thực sự sẵn sàng cho mối quan hệ nghiêm túc, các con đừng nên dại dột chấp nhận và hi sinh vô điều kiện. Các con có thể bên họ nhưng cũng sẽ có thể là một trong nhiều sự lựa chọn của họ.

Giúp đỡ người không muốn nhận sự giúp đỡ: Khi các con muốn khuyên, giúp đỡ người thân của mình thoát khỏi vấn đề hay tình huống xấu nhưng họ từ chối thì nên dừng lại. Vì bất kể các con làm gì, cố gắng bao nhiêu cũng chỉ lãng phí thời gian mà thôi.

Người thường xuyên nhờ tới sự giúp đỡ của bạn bè: Nếu người các con quen ở trong tình huống vô vọng, thì hãy giúp đỡ họ nếu có thể. Tuy nhiên, có một loại người khi gặp bất cứ chuyện gì cũng nhờ vả sự giúp đỡ. Nếu cho họ vay tiền thì có thể không lấy lại được. Các con nên cân nhắc việc giúp đỡ họ, nếu không, hãy cho họ vay một số tiền mà cảm thấy thoải mái khi trong trường hợp xấu nhất nó không quay lại.

Làm vừa lòng người khác: Làm hài lòng người yêu, người các con thân thiết không có gì sai, nhưng đừng nên làm hài lòng tất cả mọi người.

Bởi các con có thể đánh mất chính mình khi làm điều đó. Hãy tránh xa những người đang cố gắng thay đổi hành vi, lối sống hoặc ngoại hình của các con.

Cho đi miễn phí: Ví dụ, các con muốn cho đi bể cá lớn trong nhà mình. Nhưng các con nhận lại là những yêu cầu vô lý như: bể phải có cá, miễn phí vận chuyển... Vậy nên, việc giúp đỡ người khác hay cho đồ là điều tốt nhưng có thể các con sẽ nhận lại những yêu cầu đòi hỏi. Tuy nhiên, nếu người đó thực sự khó khăn và cần món đồ này, các con có thể đáp ứng yêu cầu của họ. 

 

15 triết lí về cuộc đời của thiền sư gây tranh cãi nhất thế giới

Nhiều người trong số những người ảnh hưởng nhất trên thế giới của chúng ta đã phơi bày những sự thật, sự thông thái hoặc các quan điểm gây tranh cãi. Triết lí của họ có thể khiến người khác dè bỉu hoặc ngưỡng mộ. Và Osho là một trong những người đó.

Osho Rajneesh (1931-1990) là một giáo sư thần bí, thầy giáo và thiền sư Ấn Độ. Ông đã có hàng triệu tín đồ trên toàn thế giới, cùng với hàng ngàn người căm ghét triết lí của ông. Tự tin và thẳng thắn, ông đã đưa ra ánh sáng cho các chủ đề thường được xem là điều cấm kị trong xã hội.

Sinh ra năm 1931, Osho lớn lên đặt câu hỏi về các chuẩn mực tôn giáo, văn hoá và xã hội hiện có. Cuối cùng, ở tuổi 21, ông đã có một kinh nghiệm về thế giới quan dẫn ông đến với cái mà ông gọi là sự khai sáng. Osho nổi bật lên như một “người truyền bá” tâm linh không chỉ ở Ấn Độ, mà còn trên phạm vi thế giới. Lời dạy của ông tập trung vào sự cần thiết của thiền định, nhận thức, tình yêu, lòng can đảm, sáng tạo và hài hước, tất cả những gì ông tin là bị đàn áp bởi các hệ thống tín ngưỡng truyền thống, truyền thống tôn giáo và xã hội hóa. Những giáo lý của ông đã ảnh hưởng rất lớn đến phong trào Tây phương Mới.

Osho qua đời vào năm 1990, nhưng công việc của ông vẫn tiếp tục được xuất bản bởi hơn 200 nhà xuất bản trên toàn thế giới và hơn 60 ngôn ngữ. Với điều đó đã nói, dưới đây là 15 trích dẫn đáng kinh ngạc của vị thiền sư gây tranh cãi nhất thế giới ở thế kỉ XX:

1. "Tình yêu không có ranh giới. Tình yêu không thể ghen tị, bởi vì tình yêu không thể sở hữu. Tình yêu là xấu xa bởi chính ý tưởng rằng mình có ai đó bởi vì mình yêu. Ta có ai đó - có nghĩa là mình đã giết ai đó và biến họ thành hàng hóa. Chỉ có điều có thể được sở hữu đó là tình yêu mang lại tự do. Tình yêu là tự do."

2. "Giữ liên tục tình cảm trong tuần trăng mật. Tiếp tục tìm kiếm và tìm kiếm nhau, tìm ra những cách mới để yêu thương nhau, tìm ra những cách mới để ở bên nhau. Và mỗi người là một bí ẩn vô hạn, vô tận, khó hiểu. Không thể nào nói rằng: "Tôi đã biết cô ấy", hoặc: “Tôi đã biết anh ấy.” Thay vì đó, ta có thể nói: "Tôi đã cố gắng hết sức, nhưng bí ẩn vẫn còn là một bí ẩn." Trong thực tế, ta càng biết, bí ẩn càng trở thành một bí ẩn khác. Sau đó, tình yêu là một cuộc phiêu lưu không ngừng nghỉ."

3. Khi mình không cần một người nào cả, khi mình hoàn toàn đủ với bản thân, khi mình có thể cô đơn và hạnh phúc và sung sướng, thì tình yêu là có thể. Nhưng rồi, ta cũng không thể chắc chắn rằng tình yêu của người khác có thật hay không - ta có thể chắc chắn về một điều duy nhất: liệu tình yêu của minh có thật hay không. Làm thế nào ta có thể chắc chắn về người kia? Nhưng sau đó ta không có nhu cầu nghĩ về điều đó nữa. Sự lo lắng liên tục về tình yêu của người khác có thật hay không chỉ đơn giản cho thấy một điều: tình yêu của minh không có thật. Nếu không, tại sao phải lo lắng về nó? Thưởng thức nó trong khi nó kéo dài, được bên nhau trong khi mình có thể được với nhau! Đó là một tiểu thuyết, nhưng ta cần tiểu thuyết."

4. "Hãy bỏ ý tưởng trở thành một người khác, bởi vì mình đã là một kiệt tác. Ta không phải thay đổi bản thân mình để sao chép người khác. Ta chỉ cần đến nó, để biết nó, để nhận ra nó."

5. "Tôi yêu thế giới này bởi vì nó không hoàn hảo. Nó không hoàn hảo, và đó là lý do tại sao nó đang phát triển; nếu nó là hoàn hảo nó đã có thể đã chết. Sự phát triển chỉ có thể xảy ra nếu có sự không hoàn hảo. Tôi muốn mình nhớ lại lần nữa, tôi không hoàn hảo, toàn bộ vũ trụ là không hoàn hảo, và để yêu thương sự không hoàn hảo này, để vui mừng trong sự không hoàn hảo này là toàn bộ thông điệp của tôi."

6. "Nếu mình có thể mang ý thức, nhận thức của minh, trí thông minh của mình để hành động, nếu mình có thể được tự phát, sau đó không cần bất kỳ tôn giáo khác, cuộc sống chính nó sẽ là tôn giáo."

7. "Chân lý không phải là cái gì đó bên ngoài được phát hiện, nó là cái gì đó bên trong được nhận ra."

8. "Không ai nói với mình rằng cần phải biết ơn sự tồn tại trên đời và cuộc sống này thực sự đã là một món quà. Ngược lại, mọi người đều không hài lòng, phàn nàn.”

9. "Nếu mình muốn học bất cứ điều gì, hãy tìm hiểu sự tin tưởng. Nếu mình khốn khổ, hãy tìm hiểu sự tin tưởng. Nếu mình cảm thấy cuộc sống vô nghĩa, không gì có thể giúp được, ta đã học được sự tin tưởng. Niềm tin chỉ có ý nghĩa khi mình tin rằng không có gì là mãi mãi.”

10 . "Hãy lắng nghe bản thể của mình. Nó liên tục cho minh những gợi ý; Nó không hét vào mặt mình, đó là sự thật. Và nếu mình im lặng một chút, ta sẽ bắt đầu cảm thấy theo cách của mình. Hãy là người bạn của chính mình. Đừng bao giờ cố gắng trở thành người khác, và mình sẽ trưởng thành. Sự trưởng thành đang chấp nhận trách nhiệm là mình, bất kể cái giá nào. Chấp nhận tất cả để là chính mình, đó chính là sự trưởng thành."

11. "Khi tình yêu và căm ghét cả hai đều vắng mặt, mọi thứ trở nên rõ ràng và không được che dấu."

12. "Cuộc sống là sự cân bằng giữa phần còn lại và phong trào".

13. "Những kẻ lừa dối người khác. Trí tuệ tự cười."

14. "Tất cả những gì mà thế giới này cần là một sự vị tha của trái tim, của tất cả những sai lầm từ quá khứ. Và tiếng cười và nước mắt có thể làm cả hai.”

15. Dù mình đang làm gì, đừng để quá khứ xáo trộn tâm trí của mình; đừng để suy tính trong tương lai làm phiền mình. Bởi vì quá khứ không còn nữa, và tương lai chưa đến. Sống trong ký ức, sống trong trí tưởng tượng, là sống trong điều không tồn tại. Và khi mình đang sống trong điều không tồn tại, ta đang thiếu những gì tồn tại. Đương nhiên ta sẽ đau khổ, bởi vì mình sẽ nhớ cả cuộc đời của mình. Hãy sống cho thực tại, đó là bí mật đơn giản của hạnh phúc. "

 

QUY LUẬT KINH TẾ

Khái niệm

Các qui luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

Tính chất Qui luật kinh tế

Qui luật kinh tế có những tính chất sau:

- Cũng như các qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.

Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình.

- Qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người.

Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất.

- Khác với các qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.

Do đó, có thể chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc thù và các qui luật kinh tế chung.

Các qui luật kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại trong một số phương thức sản xuất.

Ý nghĩa

Nghiên cứu qui luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.

Chính sách kinh tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào hoạt động kinh tế.  Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người.

KHUYẾN  NGHỊ TÌM HIỂU THÊM

Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với?

 Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là?

 Quy luật kinh tế là quy luật:

 Chức năng của Kinh tế chính trị bao gồm?

 Phân loại tái sản xuất theo quy mô bao gồm?

 Tái sản xuất mở rộng bao gồm hai hình thức là?

 Các khâu của quá trình tái sản xuất bao gồm?

 Nội dung cơ bản của tái sản xuất xã hội bao gồm?

 Tái sản xuất của cải vật chất được xem xét trên cả hai mặt?

 Tái sản xuất sức lao động bao gồm hai mặt?

 Tăng trưởng kinh tế là:

 Các nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bao gồm?

 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế?

 Chỉ  số phát triển con người ( HDI) bao gồm các tiêu chí?

 Tiến bộ xã hội được thể hiện ở các mặt cơ bản?

 Tiến bộ xã hội xét về thực chất là?

 Sản xuất  hàng hóa là?

 Sản xuất hàng hóa và sản xuất tự cấp, tự túc là?

 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa?

 Phân công lao động xã hội là?

 Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa là?

 Giá trị sử dụng của hàng hóa là?

 Giá trị hàng hóa là?

 Giá trị trao đổi là?

 Mục đích của nhà sản xuất là?

 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là?

 Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là?

 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh?

 Lượng giá trị của hàng hóa được đo lường bằng?

 Thời gian lao động xã hội cần thiết là?

 Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể do thời gian lao động cá biệt của nhà sản xuất?

 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?

 Lao động giản đơn và lao động phức tạp là?

 Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động là?

 Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động có điểm giống nhau là?

 Tăng năng suất lao động sẽ làm cho?

 Tăng cường độ lao động không làm thay đổi?

 Cấu thành lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (W).

 Tiền tệ ra đời là do?

 Sự phát triển của các hình thái giá trị bao gồm?

 Bản chất tiền tệ là?

 Các chức năng của tiền tệ là?

 Công thức của lưu thông hàng hóa khi tiền làm môi giới trong trao đổi là?

 Quy luật giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở nào ?

 Quy luật giá trị vận động thông qua ?

 Ngoài giá trị, giá cả thị trường còn phụ thuộc vào ?

 Tác dụng của quy luật giá trị là gì?

 Cạnh tranh kinh tế là gì?

 Giữa cung và cầu tồn tại mối quan hệ biện chứng, sự tác động giữa chúng hình thành nên gì ?

 Điều kiện để tiền biến thành tư bản là gì ?

 Công thức chung của tư bản là gì ?

 Điều kiện để sức lao động biến thành hàng hóa là:

 Giá trị sức lao động được đo lường gián tiếp bằng:

 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, khi sử dụng sẽ tạo ra:

 Giá trị thặng dư là:

 Ngày lao động của công nhân gồm những phần nào?

 Tư bản khả biến (v) là gì ?

 Tỷ suất giá trị thặng dư (m’) là gì ?

 Khối lượng giá trị thặng dư (M) được tính bằng công thức nào ?

 Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư có được do?

 Giá trị thặng dư siêu ngạch còn được gọi là?

 Sản xuất giá trị thặng dư là gì?

 Bản chất của tiền công trong CNTB là gì?

 Hai hình thức tiền công cơ bản là gì/

 Nguồn gốc chủ yếu của tích lũy tư bản là gì ?

 Động cơ chủ yếu của tích lũy tư bản là gì?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của tích lũy tư bản là gì ?

 Nguồn gốc của tích tụ tư bản là gì ?

 Nguồn gốc của tập trung tư bản là gì ?

 Cấu tạo hữu cơ của tư bản là gì ?

 Tuần hoàn của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của những hình thái tuần hoàn nào?

 Chu chuyển của tư bản là gì ?

 Thời gian chu chuyển của tư bản bằng...?

 Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà...?

 Hao mòn tư bản cố định có các loại nào hình nào?

 Tư bản lưu động là bộ phận tư bản mà...?

 Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, K. Marx chia nền kinh tế ra làm hai khu vực là ?

 Điều kiên thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn là ?

 Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng ?

 Chu kỳ khủng hoảng kinh tế trong CNTB bao gồm ?

 Chi phí sản xuất TBCN (k) là gì?

 Chi phí sản xuất TBCN: ?

 Bản chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là gì?

 Lượng lợi nhuận có thể là?

 Lượng tỷ suất lợi nhuận là?

 Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bao gồm?

 Cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ như thế nào ?

 Cạnh tranh giữa các ngành là?

 Cạnh tranh giữa các ngành?

 Lợi nhuận bình quân là?

 Khi hình thành lợi nhuận bình quân sẽ dẫn đến?

 Giá cả sản xuất bằng ?

 Tư bản thương nghiệp trong CNTB là?

 Thực chất lợi nhuận thương nghiệp là?

 Chi phí lưu thông gồm hai loại chính là?

 Tư bản cho vay là?

 Nguồn gốc của lợi tức là?

 Tỷ suất lợi tức là?

  Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tỷ suất lợi tức là?

 Công ty cổ phần là?

 Thị trường chứng khoán là?

 Địa tô tư bản là?

 Các hình thức cơ bản của địa tô tư bản chủ nghĩa là?

  Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền bao gồm?

 Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn CNTB độc quyền là?

 Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước?

 

ĐỊNH LUẬT CUỘC SỐNG

1.Luật bù trừ:

Ở trên đời này, hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật đánh đổi.

2.Luật cân bằng:

Đây là quy luật quan trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật khác của cuộc sống. Quy luật này được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc trong cuộc đời một con người là những số dương, nếu coi đau khổ là những số âm. Thì tổng của tất cả hạnh phúc và đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng không.

3.Luật cộng sinh:

Một mối quan hệ giữa hai cá thể (loài vật, cây, con người hay một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu dài nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có lợi cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối quan hệ đó sẽ không tồn tại được lâu dài. Đó là luật cộng sinh.

4.Luật cường độ giảm dần theo thời gian:

Luật cường độ giảm dần theo thời gian phát biểu như sau: Một hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì ngày hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức nào thì

5.Luật hấp dẫn:

Người xưa diễn giải luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, hay "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã". Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau. Một khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn là khi một ý nghĩ được nung nấu, nó sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để biến ý nghĩ đó thành hiện thực.

6.Luật Sống Vui: Nếu muốn sống vui, hãy tích cực và làm những gì mình cần ngày hôm nay. Đừng đợi khi có cái này, xong cái kia.

7.Luật Tha Thứ:

Nếu mình rộng lượng,bao dung với người khác,mình sẽ được thông cảm, tha thứ khi chính mình làm lỗi.

8.Luật thích nghi:

Con người là động vật lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng chịu được. Con người được ban cho khả năng thích nghi với nhiều điều kiện hoàn cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và môi trường xung quanh.

9.Luật thử thách:

Những khó khăn, nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những thử thách giúp những kẻ biết vượt qua trở nên mạnh hơn.

10.Luật trả giá và đền đáp:

Dần dà trong cuộc đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ cho từng lỗi lầm và từng hành động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một cách xứng đáng cho mọi cố gắng và mọi việc làm tốt đẹp của mình.

11.Luật Trả và Đền:

 Dù sớm hay muộn, mỗi người sẽ phải trả giá cho từng hành động sai trái, cũng như sẽ được đền bù cho các việc làm tốt đẹp của mình.

12.Luật tự kỷ ám thị:

Nếu một ý nghĩ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là công cụ mạnh của quảng cáo và ta cũng có thể tận dụng quy luật này để có được những suy nghĩ tích cực và để rèn cho mình những đức tính mà mình chưa có.

13.Luật tuần hoàn:

Diễn giải nôm na, luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc đời của một con người là môt chuỗi tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó lại đến một giai đoạn đau khổ mới và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo quy luật này không ai là hạnh phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.

14.Luật vạn vật đồng nhất:

Luật vạn vật đồng nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào đúng với trời đất, với vạn vật thì những quy luật đó cũng đúng với con người, với cuôc đời hay các mối quan hệ của con người.

15.Luật về sự tương tác:

Khi vật A tác động vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một lực tác động ngược lại đúng bằng lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan hệ giữa con người với con người, khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự đau đớn đúng bằng vậy. Và ngươc lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản thân ta sẽ nhận được một hạnh phúc đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.

16.Luật về sức mạnh của thói quen:

Những suy nghĩ hay hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở thành thói quen và thói quen sẽ trở thành một phần trong tính cách. Đây là công cụ mạnh để rèn luyện những tính cách mình muốn có.

17.Nguyên lý cho và nhận:

Những thứ ta nhận được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.

 

Các con các cháu rất yêu của ta

Cuộc đời mỗi chúng ta là một bức tranh màu sắc, thi vị với đủ cung bậc cảm xúc trong cuộc sống. Để giúp cuộc sống của các con có thêm những màu sắc đặc biệt hơn, thì những câu cuả Thiền Nhân hay và thú vị đôi khi sẽ là thứ gia vị không thể thiếu. Những câu nói đó chúng ta có thể bắt gặp hoặc lượm nhặt ở đâu đó thường gợi cho chúng ta nhiều chiêm nghiệm. Những câu nói này thường là sự đúc kết từ trải nghiệm thực tiễn của một vài nhân vật nào đó. Việc đọc và học hỏi những điều hay, những phương châm, định luật trong cuộc sống sẽ là điều vô cùng có ích cho chúng ta, giúp cuộc sống của các con được đúc kết, đấy chính là món quà tinh thần không của cải nào có thể trao đổi.

Dưới đây là 45 định luật rất đúng cho cuộc sống, các con nên đọc và suy ngẫm ít nhất một lần trong đời. Càng đọc các con sẽ càng thấy thấm thía cuộc đời hơn. Hãy cùng đọc và tìm ra đâu là câu nói ý nghĩa giúp ích cho bản thân mình nhé!

1. Định Luật Trái Táo

Nếu có một số táo, có quả tốt có quả hỏng, thì Ta nên ăn quả tốt trước, vứt quả hỏng đi. Nếu Ta ăn quả hỏng trước, thì quả tốt cũng sẽ hỏng, các con sẽ chẳng bao giờ ăn được quả còn tốt, cuộc sống cũng như vậy.

2. Định Luật Nói Chuyện

Có hai cách nói chuyện đáng ghét nhất, một là không bao giờ dừng lại để nghĩ, hai là không bao giờ nghĩ đến việc dừng lại.

3. Định Luật Chiếc Bánh

Vào lúc trên trời rơi xuống một chiếc bánh, cẩn thận trên mặt đất cũng đang có một cái bẫy chờ đợi các con.

4. Định Luật Sai Lầm

Ai cũng đều có lúc sai sót, nhưng chỉ khi nào lặp lại sai sót cũ thì đó mới là sai lầm.

5. Định Luật Của Sự Ngu Dốt

Sự ngu dốt phần lớn đều được sinh ra khi tay chân hoặc mồm miệng hành động nhanh hơn cả não bộ.

6. Định Luật Im Lặng

Trong khi tranh luận, quan điểm khó đánh đổ nhất chính là im lặng. Quan điểm khó chấp nhận nhất cũng là im lặng.

7. Định Luật Tiết Kiệm Thời Gian

Nếu các con muốn tiết kiệm thời gian ngay từ khi mới bắt đầu, thì kết quả sẽ là Ta mất nhiều thời gian hơn gấp vài lần.

8. Định Luật Hạnh Phúc

Nếu các con không cần phải luôn nghĩ xem liệu bản thân có hạnh phúc hay không, thì tức là các con đang hạnh phúc.

9. Định Luật Giá Trị

Khi các con đã sở hữu một món đồ gì đó, Ta sẽ phát hiện ra rằng thứ đó không hề có giá trị như Ta từng nghĩ.

10. Định Luật Động Lực

Động lực thường bắt nguồn từ hai nguyên nhân: hi vọng hoặc tuyệt vọng.

11. Định Luật Của Lời Hứa

Hứa rồi chưa chắc có thể đảm bảo sẽ nhất định làm được, nhưng nếu các con không hứa, thì dù các con làm được cũng chẳng có giá trị gì.

12. Định Luật Địa Vị

Có người đứng dưới chân núi, có người lại đứng trên đỉnh núi, tuy vị trí khác nhau, nhưng trong mắt cả hai, người kia đều nhỏ bé như nhau.

13. Định Luật Vui Vẻ

Gặp chuyện gì chỉ cần các con nghĩ đến mặt tốt của nó thì Ta sẽ vui vẻ, cũng như khi các con bị ngã xuống rãnh nước, các con có thể tưởng tượng rằng sẽ có con cá chui vào túi áo mình.

14. Định Luật Sỉ Nhục

Khi bị sỉ nhục, biện pháp là bỏ qua, nếu không thể bỏ qua, hãy coi thường nó, nếu đến việc coi thường nó mà các con cũng không thể làm được thì Ta chỉ còn cách là chịu bị sỉ nhục mà thôi.

15. Định Luật Hỗn Loạn

Khi các con gặp phiền phức, mà vẫn còn muốn thận trọng từng bước, thì phiền phức sẽ trở thành hỗn loạn.

16. Định Luật Kết Cục

Có một kết cục “rất đáng e sợ” sẽ đến, còn tốt hơn là không có bất cứ kết thúc nào.

17. Định Luật Trang điểm

Thời gian dành để trang điểm càng lâu thì tức là khiếm khuyết mà các con muốn che đi càng nhiều.

18. Định Luật Hiểu Nhầm

Bị một người hiểu nhầm, phiền phức không lớn lắm, bị nhiều người hiểu nhầm, có lẽ sẽ rất phiền phức. Chính mình không hiểu mình, thì không còn cơ hội cho người khác hiểu mình.

19. Định Luật Thất Bại

Thất bại không có nghĩa là lãng phí thời gian và cuộc đời, mà thường có nghĩa là các con có thể sở hữu thời gian và cuộc đời một cách tốt hơn nhưng Ta đã không làm.

20. Định Luật Thăng Tiến

Người làm quan, mỗi khi thăng một cấp, không cẩn thận thì tình người lại giảm đi một bậc.

21. Định Luật Tăng Giá Trị

Hàng xuất khẩu tiêu thụ trong nước thì sẽ tăng giá, dư luận cũng giống như vậy.

22. Định Luật Trò Chơi

Dù các con chơi bowling dở tới mức nào, mỗi lần chơi đều có thể có một hai lần đánh trúng tất, làm Ta vừa lòng, vui vẻ tới mức lần sau lại chơi tiếp.

23. Định Luật Dự Phòng

Học cách sử dụng tay trái làm một vài việc, vì tay phải không phải lúc nào cũng hữu dụng.

24. Định Luật Du Lịch

Không có cảnh nào đẹp hơn cảnh trong kí ức, nên tốt nhất không nên đến nơi nào đó 2 lần.

25. Định Luật Nguy Nan

Thường thì vấn đề càng phức tạp, thời hạn càng ngắn.

26. Định Luật Tài Chính

Các tấm séc luôn đến muộn, còn các hóa đơn luôn đến sớm.

27. Định luật Cuộc Đời

Những thứ các con sống chết đòi có được nó, có thể đều không phải những thứ cần thiết nhất.

28. Định Luật Hội Nghị

Tất cả mọi quyết sách quan trọng đều được đưa ra trong 5 phút cuối cùng trước khi hội nghị kết thúc hoặc trước bữa trưa.

29. Định Luật Tiền Bạc

Tiền không phải tất cả, nhưng tất cả đều cần tiền.

30. Định Luật Hợp Tác

Việc gì mà một người phải bỏ ra một tiếng để làm, thì nhiều khi hai người sẽ phải bỏ ra hai tiếng.

31. Định Luật Kết Hợp

Cho dù các con là ai, làm gì, thì người giúp Ta hi vọng và người chống đối lại mình đều luôn luôn có mặt sát bên Ta.

32. Định Luật Đường Tắt

Mọi người đều đang đi đường tắt, thực ra đó là con đường khó nhất.

33. Định Luật Bản Lĩnh

Đừng bao giờ để tính tình của các con lớn hơn bản lĩnh hiện tại của mình.

34. Định Luật Buồn Chán

Người vui vẻ trước nỗi buồn của các con, là kẻ địch. Người vui vẻ trước niềm vui của Ta, là bạn bè. Người buồn trước nỗi buồn của mình, là người bạn nên đặt trong lòng.

35. Định Luật Sai Lầm

Người khác đều không đúng, thì đó chính là cái sai của bản thân.

36. Định Luật Hiệu Quả

Rơi nước mắt trên vết thương và xát muối vào vết thương, hiệu quả là như nhau.

37. Định Luật Đố Kỵ

Điều mà con người đố kỵ không phải là chuyện lên như diều gặp gió của người xa lạ, mà là chuyện lên như diều gặp gió của người bên cạnh mình.

38. Định Luật Vuông Tròn

Con người không thể quá vuông, cũng không thể quá tròn, một cái sẽ khiến người ta bị thương, một cái sẽ khiến người ta xa cách các con, bởi vậy mà con người phải là hình bầu dục.

39. Định Luật Nước Miếng

Khi các con nổi tiếng đến độ khiến người ta chảy nước miếng, thì đồng thời, "nước miếng" dành cho Ta cũng tăng lên vòn vọt.

40. Định Luật Lợi Dụng

Không sợ bị người ta lợi dụng, chỉ sợ mình vô dụng.

41. Định Luật Gió Mưa

Tình yêu, có thể chịu đựng nổi gió mưa, song không chịu đựng được sự bình lặng.

Tình bạn, có thể chịu được sự bình lặng, song không chịu đựng nổi gió mưa.

42. Định Luật Hành Tỏi

Quá coi bản thân là cọng hành, sẽ luôn giỏi trong việc: Giả tỏi.

43. Định Luật Đánh Giá

Không cần thiết phải tò mò xem người ta đánh giá các con thế nào, hãy nghĩ xem mình đánh giá thế nào về người ta.

44. Định Luật Thành Tựu

Nếu các con không có thành tựu, Ta sẽ vì sự bình thường của mình mà không có bạn bè.

45. Định Luật Trưởng Thành

Trưởng thành chính là quá trình điều chỉnh tiếng khóc của các con về chế độ im lặng.

 

NÊN BIẾT ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC

1. Luật nhân quả

Luật nhân quả là quy luật mà thiết nghĩ ai cũng nên hiểu rõ về nó vì quy luật này quyết định tiến trình luân hồi và giải thoát của chúng ta. Những gì mà chúng ta tạo ra trong vũ trụ này, chúng sẽ mãi mãi gắn liền với cuộc đời của chúng ta vì chúng ta là những sinh mệnh nằm bên trong vũ trụ đó. Điều chúng ta làm hôm nay sẽ quyết định tương lai cuộc đời của mình. Thiện hay ác, tốt hay xấu đều do tự bản thân mỗi người lựa chọn. Điều đó làm nên chính mình trong tương lai.

2. Luật hấp dẫn

Chìa khóa để có được nội tâm bình ổn chính là không bị lệ thuộc bởi những gì đang diễn ra xung quanh, hướng vào bên trong bản thân mình để luôn đạt được trạng thái yên bình trong tâm. Muốn trở thành một người tích cực và thiện lương, hãy giao lưu với những người tích cực và những con người thiện lương để cuộc sống luôn tràn ngập những điều tốt đẹp. Giống như các cụ có câu ‘Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng’.

3. Luật chấp nhận

Trong cuộc sống, chúng ta không thể thay đổi hoàn cảnh cho đến khi ta học cách chấp nhận chúng. Tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời ta là có lý do, đó là do nhân duyên, duyên nghiệp của ts từ nhiều kiếp trước, dù ta có tin hay không. Và nếu như ta vẫn đang xem ai đó như một kẻ thù, thì điều đó có nghĩa là ta không chấp nhận quy luật tạo hoá ở một mức độ cao hơn và đặc tính của vũ trụ (vốn luôn có đối lập giữa thiện ác – tốt xấu). Chấp nhận hoàn toàn tự nguyện là tốt nhất cho sự tồn tại của  ta. Khi ta học cách chấp nhận, và thay đổi chính bản thân để thích hợp với hoàn cảnh, thì hoàn cảnh cũng sẽ tự nhiên biến chuyển theo. Hãy hiểu rằng, có những thứ trong cuộc sống này, ta không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận chúng, và dù ta có mạnh mẽ và thông minh đến đâu, thì cũng sẽ không thể luôn bắt mọi thứ phải theo cách mà ta muốn.

4. Luật phát triển

Mỗi người trong chúng ta khi đến với thế giới này đều mang theo một sứ mệnh riêng, góp phần giúp cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn và tìm về những bản tính tốt đẹp bên trong chính bản thân mình. Không cần thiết tập trung vào những người mà  ta gặp nhưng chưa biết rõ về họ, hoặc ám ảnh về nơi mà  ta đang sống và công nghệ mà ta đang sử dụng. Cuộc sống và thời gian này là tất cả những gì quý giá nhất ta có.

5. Luật trách nhiệm

Cuộc sống tựa như một tấm gương mà khi soi vào đó, ta sẽ nhìn thấy bản thân mình được rõ hơn. Hãy luôn tu sửa chính mình để tốt hơn ngày hôm qua. Mỗi người có một cuộc sống hoàn toàn khác nhau, dựa trên cách sống và tâm thái của họ trong những vấn đề của cuộc sống mà cuộc đời của họ trở nên khác nhau. Vì vậy, đừng nên chỉ nhìn vào người khác, hãy luôn nhìn vào chính mình để sống hạnh phúc và ý nghĩa với sứ mệnh riêng của ta.

6. Luật kết nối

Bất kể việc gì mà ta thực hiện mà ta cho là vô nghĩa, nhưng  ta vẫn phải làm bởi vì mọi thứ trong thế giới này đều có liên hệ tương hỗ. Bước đầu tiên hay bước cuối cùng đều quan trọng như nhau vì chúng đều đi đến đích hoàn thành một điều gì đó có ý nghĩa trong đường đời của một con người.

7. Luật tập trung

Ta không thể suy nghĩ hai vấn đề trong cùng một lúc. Nếu như ta đang tìm kiếm điều gì đó quan trọng, thì đầu óc của ta cũng không còn đủ chỗ cho sự giận dữ và tham lam. Vì vậy, hãy để tâm trí thanh tỉnh và bình an, loại bỏ những điều tiêu cực và những tâm không tốt của bản thân để chưa đựng trong tâm những điều tốt đẹp nhất.

8. Luật “ở đây và ngay bây giờ”

Sự vọng tưởng về tương lai có thể khiến  ta hoàn toàn mất tập trung vào những điều đang diễn ra ở hiện tại. Những hình mẫu hành vi cũ, cũng như những tư duy theo lối cũ, có thể ngăn trở con đường đưa ta tiến đến những điều mới mẻ hơn.

10. Luật cơ hội

Lịch sử sẽ lặp lại chính nó cho đến khi ta rút ra được những bài học kinh nghiệm từ sau đó. Con người ta không thể hành động theo “cách cũ” mà mong tưởng một “kết quả mới” được.

11. Luật kiên trì và tưởng thưởng

Kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại tương ứng. Đó chính là điều tất yếu. Niềm vui thực sự đến từ lao động chân chính, bền bỉ để rồi sau đó đạt được mục tiêu của mình. Người ta sẽ không đạt được điều gì thực sự nếu không nỗ lực và đặt tâm trí vào điều đó.

12. Luật ý nghĩa và cảm hứng

Chỉ khi ta trở nên xứng đáng với điều gì đó, thì  ta có nó. Càng bỏ công sức bao nhiêu,  ta sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Và người nào càng cho đi nhiều sẽ nhận lại nhiều bấy nhiêu.

xxxxxxxxxxx

Bên cạnh Luật Vũ Trụ tối cao, các con ơi còn có các giới luật được cai quản bởi Cái Tôi Cao Hơn liên quan đến tính cách của con người mà mày có thể áp dụng vào cuộc sống để nâng cao rung động và tâm thức của mình như:

Từ bi,bác ái, nhân đức, rộng lượng, khoan dung, tốt bụng, tha thứ, chân thật, trách nhiệm, tận tâm, can đảm, trung thực, khát vọng, niềm vui, niềm tin, động viên khen ngợi, kiên cường, kiên nhẫn, yêu thương bản thân, tình yêu vô điều kiện, biết ơn, không can thiệp (vi phạm tự do ý chí của người khác)…

HÃY TRÁNH XA NHỮNG KẺ

-Kẻ Đặt điều

-Kẻ Gió chiều nào xoay chiều đó

-Kẻ Bằng mặt không bằng lòng

-Kẻ Thích xu nịnh

-Kẻ Gây chuyện thị phi

-Kẻ Đổ trách nhiệm cho người khác

+Đối với những kẻ tiểu nhân, tuyệt đối không được sơ suất, không được mềm lòng nhường nhịn, thái độ cần phải kiên quyết. Bậc quân tử tấm lòng rộng rãi, kẻ tiểu nhân thường hẹp hòi, u uất. Mỗi người đều sẽ gặp phải kẻ tiểu nhân. Khi ở chung với kẻ tiểu nhân, chỉ cần thiếu thận trọng một chút ta sẽ phải chịu thiệt lớn, vậy nên học cách phân biệt kẻ tiểu nhân vô cùng quan trọng.

-Một điều nhịn chín điều lành

Nếu chẳng may có xích mích với tiểu nhân, hãy nhẫn nhịn. Ta đừng cố gắng tranh cãi, vì rất khó để thắng được họ. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân lại sẽ vì lí do đó mà ghi hận, rồi tìm cách để hãm hại ta. Người xưa có câu: Nhịn một khắc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nếu như thiệt hại không lớn, lại chẳng thể đấu trí được, ta hãy cho qua và xem như đó là bài học để trưởng thành.

-Tốt thôi đừng tốt quá

Có một sự thật là người lương thiện trong cuộc đời này thường nhu nhược, họ không phân biệt được nên tốt với ai, vì vậy họ thường thua thiệt. Ví dụ trong công việc, họ luôn nhường người khác lập công trước, có đôi khi là ôm khó khăn vào mình vì sợ người khác nghĩ mình lười biếng. Vì vậy, muốn tốt cũng được nhưng đừng tốt quá, đừng khiến mình bị thiệt thòi bởi cuối cùng chẳng ai ở lại giúp đỡ  ta đâu. Với kẻ tiểu nhân, ta đối đãi theo cách dành cho kẻ tiểu nhân, miễn sao trong lòng không hối hận là được.

-Yếu đuối khiến ta bị hèn yếu trước kẻ tiểu nhân

Điều khác biệt lớn nhất giữa kẻ tiểu nhân và kẻ ác đó là kẻ ác có tâm địa hiểm độc nhưng kẻ tiểu nhân thì khác, họ sẽ trở nên thật thà và ít nguy hiểm hơn nếu gặp người mạnh hơn mình. Họ cho dù có ác nhưng là công khai, không giấu diếm không chơi trò mưu hèn kế bẩn, còn kẻ tiểu nhân luôn dùng cách đâm sau lưng để hại người khác. Chính vì vậy ta phải luôn kiên cường, đừng bao giờ mềm lòng bởi những lời ngon ngọt của kẻ tiểu nhân.

NGƯỜI LÀM NÊN ĐẠI SỰ THƯỜNG CÓ 7 ĐẶC ĐIỂM NÀY: CÔNG VIỆC SỐ 1 NHƯNG GIA ĐÌNH VẪN QUAN TRỌNG NHẤT

1 .Nhẫn nhịn chịu được cô độc

Vì cuộc sống, công việc, sự nghiệp, rất nhiều lúc  ta không thể được gần người thân và bạn bè. Khi người khác nghỉ ngơi hay đoàn tụ, còn mình thui thủi một mình làm việc.  ta có chịu được nỗi cô đơn này không?

Đời người muốn đạt được thành công thì phải nhẫn chịu được cô độc, nhất là thuở ban đầu sáng nghiệp. Rất nhiều lúc để đạt được mục tiêu thì trong lúc người khác nghỉ ngơi, ta phải một mình lặng lẽ hy sinh. Quá trình này rất cô độc, nhưng nếu có thể vượt qua thì  ta sẽ đạt được thành công lớn hơn so với người khác.

2. Chịu được trách nhiệm

Trong gia đình  ta có các vai là con, là cha , là chồng, . Ở doanh nghiệp ta có các vai là nhân viên, người quản lý, lãnh đạo hoặc sếp. Ở xã hội ta có cái vai là công dân, … Tóm lại mỗi người đều có những vai diễn khác nhau trong các trường hợp khác nhau.

Trách nhiệm có 3 loại: Trách nhiệm gia đình, trách nhiệm doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm là một từ cửa miệng của  ta trong cuộc sống. Từ điển giải thích: "Trách nhiệm" nghĩa là bổn phận phải thực hiện mà chưa thực hiện hoặc làm chưa tốt, vì vậy phải gánh chịu lỗi lầm.

3. Chấp nhận mạo hiểm

Những người thành công dám chấp nhận các thử thách mà số đông sợ hãi như vay món tiền lớn để đầu tư, đầu tư vào một thương vụ mạo hiểm hay mua một mảnh đất lớn để phát triển sản phẩm còn chưa tồn tại...

4 .Tập trung cao độ vào mục tiêu

Người giàu biết chính xác những gì họ muốn và có một kế hoạch cụ thể để đạt được điều đó. Họ đặt toàn bộ niềm tin vào công việc. Họ đặt ra những tiêu chuẩn cao cho bản thân, đồng thời cũng mong đợi mọi người xung quanh tuân thủ tiêu chuẩn đó. Họ sẽ không ngần ngại bộc lộ sự thất vọng hay cảm giác không vừa ý bởi các hành vi không đúng trong cuộc trò chuyện.

5. Biết quyết tâm

Bằng cách tự thúc đẩy bản thân mình, ta sẽ luôn có động lực để thực hiện mọi việc mà ta mong muốn. Luôn nhắc đi nhắc lại những quyết tâm của mình là một thói quen tốt mà ta nên tạo ra cho mình. Hãy viết những quyết tâm ấy vào những mẩu giấy và đọc lại chúng một lần nữa. Sau đó ta chỉ nên chọn những quyết tâm nào mà ta tin tưởng một cách sâu sắc rằng mình sẽ thực hiện được.

Và hãy thực hiện chúng ngay lập tức. Học tập theo những thành công trước đó. Không ngừng hoàn thiện mình. Những ai dám nghĩ dám làm mới có thể giành được chiến thắng. Hãy biết cách tránh đi những nỗi đau và tìm kiếm sự hạnh phúc. Đầu tư cho hôm nay chính là đầu tư cho ngày mai. Ta cũng cần phải có thái độ biết ơn cần thiết. Ta có thể làm được tất cả những gì mà ta quyết tâm muốn khẳng định.

6 .Thừa nhận những nỗi sợ hãi và yếu điểm của bản thân

Trên đời này không có ai là hoàn hảo và cũng không có ai là thật sự không có những nỗi sợ của riêng mình. Ta hoàn toàn có thể là một người nghiêm khắc với bản thân. Hãy biết tiếp thu một số vấn đề nào đó. Khi ta thẳng thắn thừa nhận với mình những yếu điểm của chính ta cũng có nghĩa là ta đã đối mặt hay sửa chữa được ít nhất phân nửa những khuyết điểm đó. Hãy đối mặt với nỗi sợ hãi và bằng cách này ta đã tự tạo cho mình một tính cách tốt. Ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hiểm nguy khi ta muốn nếm trải đủ mọi hương vị của cuộc sống này. Đừng e dè khi phải nói câu “Tôi xin lỗi. Tôi đã sai.”

7. Phấn đấu trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình

Giá trị số 1 trong cuộc sống của những người giàu là sự đảm bảo về tài chính. Những người có khả năng làm giàu hiểu rằng, nếu họ có thể hi sinh những thú vui, sự hài lòng nhất thời để xây dựng nền tảng tài chính vững chắc thì đến cuối cùng, họ sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn, tự do tài chính hơn. Người giàu bắt tiền làm việc cho họ và từ chối sống một cuộc sống bình thường, đơn giản.

----------------------------,,------------

HÃY CƯ XỬ NHƯ MỘT QUÝ ÔNG

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG NHỮNG MỐI QUAN HỆ TỐT

Trong xã hội, chúng ta phải xây dựng các mối quan hệ tốt vì rất nhiều lí do, đặc biệt là ở nơi làm việc. Xã hội cũng giống như một mạng lưới các mối quan hệ, nó đòi hỏi tất cả mọi người phối hợp làm việc với nhau để tạo ra kết quả tốt nhất. Những gì làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn chính là các mối quan hệ tích cực, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau

Tất cả mọi người cùng hướng về một mục tiêu chung, điều này đòi hỏi phải có mối quan hệ tốt dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau.

Nếu như các con hiểu rõ mọi người muốn gì và tại sao họ lại muốn như vậy thì thường mình sẽ tìm ra được cách để hai bên đều tiến triển cùng nhau. Cách tốt nhất để hiểu đó là lắng nghe và quan sát mà không cần đưa ra những phán xét vội vã.

Như thế nào là một mối quan hệ tốt đẹp ?

Trong một mối quan hệ tốt đẹp, các bên biết lắng nghe để hiểu rõ quan điểm và cảm xúc của nhau. Cách đơn giản nhất để biết điều gì là quan trọng với một người hay nhóm người là hỏi và sau đó lắng nghe câu trả lời của họ. Nếu các con hiểu rõ người khác mình sẽ biết cách làm gì để mọi người có thể thân thiện và làm việc với nhau hiệu quả hơn. Không chỉ có vậy các bên còn thẳng thắn bày tỏ quan điểm và cảm xúc của mình. Con người rất phức tạp và phản ứng trước những sự việc hoàn toàn khác nhau do đó họ vẫn có thể ngạc nhiên về người kia ngay cả khi đã từng chung sống với nhau rất lâu.

Chúng ta cần nói những gì chúng ta cần và bày tỏ cảm xúc của mình hơn là chờ đợi người khác nhận ra chúng ta muốn gì rồi sau đó đợi họ mang đến cho chúng ta. Để cho mối quan hệ trở nên tốt đẹp chúng ta nên tôn trọng bản thân cũng như người khác. Lòng tôn trọng là cốt lõi của mọi mối quan hệ tốt, nó được thể hiện bằng cách lắng nghe và tìm hiểu xem người khác đánh giá sự việc như nào. Việc phán xét dựa trên thành kiến là cách hoàn toàn đối lập với lòng kính trọng. Các con có thể thể hiện sự tôn trọng người khác bằng cách thừa nhận rằng họ đã làm những gì tốt nhất có thể. Tôn trọng là nền tảng cho một mối quan hệ vững chắc do đó mình nên tôn trọng bản thân mình cũng như những người khác. Nếu như các con cảm thấy hài lòng với bản thân thì việc nhìn thấy những điểm tốt của người khác và tôn trọng họ sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Một điều quan trọng khác để thiết lập mối quan hệ tốt đó là đương đầu trực tiếp với những điểm khác nhau giữa mọi người bởi vì chúng rất thú vị. Trong cuộc đối thoại mà mọi người đều lắng nghe nhau thì các con sẽ phát hiện ra một sự thật mới giúp hoà nhập hai ý tưởng tranh cãi. Hãy cùng tìm ra giải pháp khiến cả hai bên đều cảm thấy mình chiến thắng. Nếu như cả hai phía đều cảm thấy đã thu được gì đó từ việc giải quyết những khác biệt, họ sẽ sẵn sàng hơn để tiếp tục hợp tác trong tương lai. Điều này sẽ xây dựng một mối quan hệ thoải mái và hài lòng.

Sau đây là một số lời khuyên có thể giúp các con xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp :

1. Ít nhất phải có một bên quyết định rằng mối quan hệ là quan trọng.

Nếu như các con quyết định rằng mối quan hệ với một ai đó là quan trọng, mình sẽ đầu tư thời gian và sức lực để hiểu rõ những yêu cầu của họ cũng như cách giải quyết những khó khăn cản trở. Ngay cả khi các con cố gắng nhưng thất bại, mình biết rằng mình đã cố gắng hết sức và thấy thoải mái về điều đó.

2. Học cách lắng nghe một cách thật sự và đừng phán xét.

Lắng nghe một cách thật sự và không phán xét sẽ giúp các con hiểu rõ người khác. Việc phán xét chỉ làm tăng khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau.

3. Gặp gỡ mọi người một cách thân mật khiến họ cảm thấy thoải mái trong việc nêu ra những vấn đề quan trọng với họ.

Hầu hết mọi người cảm thấy thoải mái hơn trong những khung cảnh thân mật. Nếu các con có ý định gặp ai với mục đích cụ thể là để phát triển mối quan hệ với họ, hãy nghĩ đến việc tổ chức cuộc gặp gỡ trong khung cảnh mà họ thấy thoải mái bởi vì khi thấy thoải mái, họ có thể nói nhiều hơn về những gì là quan trọng với mình.

4. Phát triển một văn hoá trong đó mọi người có thể bày tỏ cảm xúc của mình.

Các mối quan hệ được hình thành dựa trên việc chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc. Thật khó để hai người có một cuộc hội thoại hữu ích khi một người trong họ không nhận thấy rằng người kia tức giận vì những gì họ đã nói hoặc làm. Văn hoá công ty khuyến khích mọi người gần nhau có thể tạo ra niềm say mê để đạt được những điều tuyệt vời cùng nhau.

Một số khó khăn có thể gặp phải trong việc xây dựng mối quan hệ tốt:

+ Thiếu tin tưởng và khuôn sáo : Chúng ta thường nhận được những thông tin sai lệch về những người trong nhóm khác. Giữa các thành viên trong nhóm thường có nhiều khác biệt với nhau hơn là giữa các nhóm, nếu như chúng ta nghĩ rằng "tất cả mọi người đều như nhau" thì chúng ta đã sai lầm. Điều này sẽ huỷ hoại mối quan hệ vì mỗi cá nhân là duy nhất và họ muốn cảm thấy có những giá trị riêng.Khi sự khuôn sáo trở thành bệnh dịch, sự áp bức giữa nhóm này và nhóm khác trở nên phổ biến thì sẽ khiến những cảm giác tiêu cực bóp méo thái độ của họ.

+ Đổ lỗi cho người khác khi mối quan hệ không tốt đẹp:điều này thật vô ích, nó sẽ tạo ra khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau. Nếu như không hài lòng về một mối quan hệ các con nên nghĩ mình cần làm gì để cải thiện nó.Đồng thời việc thay đổi thái độ của bản thân dễ hơn nhiều so với việc thuyết phục người khác thay đổi.

+ Tập trung vào nhiệm vụ mà không quan tâm tới cảm xúc và nhu cầu của người khác Mọi người đều có cảm xúc và họ mang những cảm xúc này vào công việc. Nếu như các con bất chấp cảm xúc của người khác để hoàn thành nhiệm vụ thì những người giỏi nhất của mình sẽ lần lượt rời bỏ mình.Con người không phải là những cố máy, nếu các con tôn trọng và hiểu họ, lắng nghe cảm xúc của họ, họ sẽ muốn cống hiến và làm việc tốt hơn.

+ Mục tiêu, vai trò, sự mong đợi lẫn nhau không rõ ràng Nếu như chúng ta không biết mình cần gì ở người khác thì hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi và mối quan hệ sẽ chịu hậu quả từ điều nay

 

NHỮNG HÀNH ĐỘNG CỦA NHỮNG NGƯỜI TỰ TIN CÁC CON CẦN HỌC TẬP

Sự tự tin không chỉ giúp các con đứng vững trên đôi chân của mình mà còn lấy được cảm tình của người xung quanh.

Những người tự tin có khả năng kiểm soát tình huống cũng như truyền cảm hứng cho người khác. Không những thế, theo một nghiên cứu gần đây, những người tự tin kiếm được nhiều tiền hơn và thành công cũng nhanh hơn. Một cách tuyệt vời để rèn luyện sự tự tin chính là tập luyện thể dục. Điều này giúp các con có thể tự điều khiển được thể chất và cảm xúc, kiểm soát được hành vi cũng như chịu trách nhiệm về hành động của mình.

Sự tự tin thể hiện qua khả năng nói "không". Nếu không bao giờ nói "không" có nghĩa là người khác đang kiểm soát các con và sự tự tin của các con sẽ không bao giờ phát triển. Đừng ngại từ chối nếu không giúp được. Điều này giúp các con thoát khỏi việc bị lợi dụng lòng tốt.

Có khiếu hài hước cũng là một trong những dấu hiệu của sự tự tin. Những người tự tin thường có thái độ hòa đồng, thân thiện, khi gặp chuyện thường nhìn theo hướng tích cực để giải quyết vấn đề.

Đồng thời, những người có khiếu hài hước thường được đánh giá cao hơn trong một tập thể. Các con nên dừng việc chuyện gì cũng nghiêm túc, xem cách trả lời bằng một trò đùa sẽ khiến người đối diện cảm thấy thoải mái, dễ chịu hơn. Tuy nhiên, trò đùa cũng nên có giới hạn kẻo các con có thể bị "vạn miệng".

Những người tự tin thường làm việc một cách chăm chỉ. Làm việc với hiệu suất công việc cao không có nghĩa là quá sức. Để làm việc hiệu quả và năng suất cao, hãy tránh những yếu tố khiến các con mất tập trung như điện thoại, tiếng ồn... Bên cạnh đó, các con cũng cần có chế độ ăn, ngủ hợp lý để tránh mệt mỏi, thiếu ngủ.

Người tự tin có khả năng đọc cảm xúc khá tốt. Việc nắm bắt được tâm lý đối phương giúp các con xác định được những việc nên tiếp tục hay dừng lại. Những người tự tin thường nhìn ra thái độ, cảm xúc của người trò chuyện với họ. Tuy nhiên, "đọc" cảm xúc cũng không phải là tất cả mà các con cũng nên lắng nghe để hiểu họ nhiều hơn.

 Khả năng thu hút mọi người: Một số người có khả năng thu hút, khiến nhiều người muốn ở xung quanh. Họ thường là người có uy tín, trách nhiệm và có một vai trò nào đó.

Khi giao tiếp hãy chú ý nhìn vào mắt nhau một cách thoải mái và bình tĩnh, cũng đừng quên mở nụ cười vì điều này sẽ mang đến sự gần gũi, thân thiện.

Khả năng kiểm soát phản ứng của cơ thể của người tự tin tương đối tốt. Họ có thể điều khiển được hành vi và cảm xúc của chính bản thân mình. Giúp họ xây dựng được các mối quan hệ và thành công. 

Nỗi đau nào mình muốn trải qua?

Ai cũng muốn có được những điều tốt đẹp. Ai cũng muốn sống một cuộc đời hạnh phúc, dễ dàng tìm được tình yêu, và từ một kẻ chẳng có gì trở thành người thành công đến mức tất cả mọi người đều tự giác dạt sang hai bên nhường đường cho mình.

Tất cả mọi người đều thích như thế – điều đó thật dễ dàng.

Nếu Ngọc Minh hỏi các con, “Con muốn đạt được điều gì trong cuộc sống?” và các con nói những thứ đại loại như, “Con muốn hạnh phúc, có một gia đình tuyệt vời và một công việc mà con đam mê”. Mấy câu này xuất hiện nhan nhản tới mức mà chúng gần như vô nghĩa.

Một câu hỏi thú vị hơn, một câu hỏi mà có lẽ, trước đây, các con chưa bao giờ xem xét, đó là nỗi đau nào mình muốn có trong đời? Mình sẵn sàng đương đầu với điều gì? Bởi đó mới là yếu tố có tính quyết định lớn hơn rất nhiều về cách mà tất cả mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta hướng đến.

Ai cũng muốn có một công việc tuyệt vời và độc lập về tài chính – nhưng không phải ai cũng muốn làm việc 60 giờ mỗi tuần, đi làm hằng ngày bằng vé tháng trên những đoạn đường dài, công việc giấy tờ đến ghê rợn, hệ thống đủ loại “sếp” áp đặt từ trên xuống dưới. Mọi người muốn giàu mà không cần phải mạo hiểm, không phải hy sinh, muốn nhận được thành quả thật nhanh mà không bị trì hoãn, cho dù đó là điều bắt buộc để trở nên giàu có.

Ai cũng muốn có đời sống tình dục mĩ mãn và một mối quan hệ tốt đẹp – nhưng không ai sẵn sàng vượt qua những cuộc trò chuyện khó khăn, những khoảng lặng đáng sợ, cảm xúc bị tổn thương và gặp gỡ nhà trị liệu để hòa giải tình cảm bằng phương pháp tâm kịch (một hệ thống các kỹ thuật được thực hiện nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần, các vấn đề cảm xúc và hành vi của các cá nhân – những người được gọi là “thân chủ”).

Vì thế, họ cam chịu. Họ cam chịu và luôn tự hỏi mình “sẽ thế nào nếu?” trong nhiều năm liền và cho tới khi câu hỏi chuyển từ “sẽ thế nào nếu?” thành “hóa ra là thế sao?”. Rồi đến khi các luật sư vừa bước ra khỏi nhà và hóa đơn yêu cầu chuyển tiền cấp dưỡng sau khi ly dị được gửi đến thì họ lại tự hỏi, “cái này để làm gì đây?”. Nếu không để bù đắp cho những tiêu chuẩn đã bị hạ thấp và các mong đợi không đạt được trong 20 năm trước đó thì là vì cái gì?

Bởi vì hạnh phúc cần đấu tranh

Hiệu ứng phụ của việc kiểm soát tiêu cực chính là những điều tích cực mình sẽ nhận được. Lúc này, mình chỉ có thể tránh những trải nghiệm tiêu cực ấy trong khoảng thời gian đủ dài trước khi chúng xuất hiện trở lại trong cuộc sống của mình.

Trải nghiệm tích cực thường là những điều rất dễ kiểm soát. Nhưng trải nghiệm tiêu cực mà tất cả chúng ta, về bản chất, đều phải đối mặt. Do đó, thứ mà chúng ta muốn có trong đời không được quyết định bởi những cảm xúc tốt đẹp chúng ta khao khát mà là bởi những cảm xúc tồi tệ mà chúng ta sẵn sàng và có khả năng chịu đựng trước khi đến được với những cảm xúc tích cực.

Ai cũng muốn có một vóc dáng thật đẹp. Nhưng mình sẽ không đạt được nó trừ khi mình trân trọng những đau đớn và sự căng thẳng về mặt thể chất đi kèm với việc dành hàng giờ tập luyện trong phòng gym; trừ khi mình thấy vui vẻ khi tính toán và lên kế hoạch cho một giai đoạn ăn kiêng kham khổ.

Ai cũng muốn tự mình khởi nghiệp và trở thành người tự do tài chính. Nhưng mình sẽ chẳng thể nào trở thành một doanh nhân thành công trừ khi mình tìm ra con đường để trân trọng các rủi ro, sự không chắc chắn, các thất bại liên tục và điên cuồng ngồi hàng giờ làm thứ gì đó mà mình chẳng hề biết là nó có thành công hay không nữa.

Thứ quyết định thành công của mình không phải là “mình muốn tận hưởng điều gì?” câu hỏi là “nỗi đau nào mà mình muốn chịu đựng?” Chất lượng cuộc sống không được xác định bởi chất lượng của những trải nghiệm tích cực mà đó là chất lượng của những trải nghiệm tiêu cực. Và mình cảm thấy ổn khi giải quyết những vấn đề này cũng chính là cảm thấy ổn khi đương đầu với cuộc sống.

Rất nhiều lời khuyên tệ hại cho rằng, “mình chỉ cần muốn thứ gì đó là đã đủ rồi”.

Ai cũng muốn một thứ gì đó. Và ai cũng muốn có đủ những gì mình cần. Họ chỉ không nhận ra thứ họ muốn là gì hay đúng hơn là, thứ gì khiến họ nghĩ thế là đã “đủ” rồi.

Bởi vì nếu mun có được lợi ích của thứ gì đó trong cuộc đời, mình cũng phải trả cho những chi phí đi kèm. Nếu muốn có một thân hình “chuẩn mực” như các anh chàng, cô nàng thích “khoe thân” trên bãi biển thì mình phải muốn đổ mồ hôi, đau nhức nhối khắp người, những buổi sáng dậy từ rất sớm và sự dằn vặt của cơn đói. Nếu muốn đủ tiền mua xe hơi nhà tầng, mình cũng phải muốn những đêm làm việc đến khuya, những thương vụ làm ăn liều lĩnh và có thể khiến cho một người hoặc hàng ngàn người phải phát điên.

Nếu nhận thấy bản thân muốn thứ gì đó từ tháng này sang tháng khác, năm này qua năm khác mà vẫn chưa có gì xảy ra và mình không bao giờ tiến thêm được một bước nào gần tới nó thì có lẽ thứ mình thực sự muốn thật hão huyền. Có lẽ thứ người ta muốn không phải là điều mình muốn, mình chỉ là thích như vậy thôi. Có lẽ, mình không thực sự muốn nó một chút nào cả.

Thi thoảng, Ngọc Minh hỏi mọi người, “Bạn chọn chịu đựng điều gì?” Họ nghiêng đầu và nhìn Ngọc Minh như thể mình có mười hai chiếc mũi. Nhưng Ngọc Minh hỏi bởi vì nó nói với mình về bản thân nhiều hơn khao khát và sự ảo tưởng của mình. Bởi vì mình phải chọn thứ gì đó. Mình không thể nào có một cuộc đời mà chẳng hề có đau đớn nào cả. Không thể tất cả đều đơn thuần chỉ là hạnh phúc và sự hài lòng. Và cuối cùng một câu hỏi tuy khó nhưng rất quan trọng. Hài lòng là một vấn đề đơn giản. Và khá nhiều người trong chúng ta đều có chung một câu trả lời.

Câu hỏi thú vị hơn ở đây là sự đau đớn. Nỗi đau nào mà mình muốn chịu đựng?

Câu trả lời thực sự sẽ đưa mình đến một nơi nào đó. Đó là câu hỏi mà có thể thay đổi cả cuộc đời chúng ta. Đó là thứ tạo nên Ngọc Minh và các con. Đó là thứ định nghĩa chúng ta, chia tách chúng ta và cuối cùng đưa chúng ta gần nhau trở lại.

Trong hầu hết những năm tháng ở độ tuổi thanh niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, Ngọc Minh mơ mộng trở thành “Chính khách” – đặc biệt là một ngôi sao ca nhạc. Bất cứ khi nào chơi những bài hát nổi loạn một chút, Ngọc Minh đều nhắm mắt lại và hình dung cảnh mình đứng trên sân khấu trước sự hò hét của đám đông, mọi người hoàn toàn nổi loạn mỗi khi ngón tay của Ngọc Minh di chuyển trên từng dây đàn. Cơn mơ mộng này giữ Ngọc Minh “bận rộn” liên tục trong vài giờ đồng hồ và cứ thế, Ngọc Minh vẫn “mơ” trong suốt thời gian học đại học, thậm chí cả sau khi Ngọc Minh đang bệnh nặng.

Thế nhưng lúc đó, Ngọc Minh cũng chưa bao giờ mảy may nghi ngờ về việc Ngọc Minh đã từng hát,đàn trước hàng nghìn người đang hò hét hay không, ngoại trừ việc xác định cho nó một thời điểm. Ngọc Minh kiên nhẫn chờ đợi trước khi đầu tư một khoảng thời gian và công sức thích đáng vào việc đi đến đó và biến giấc mơ thành hiện thực. Đầu tiên, Ngọc Minh cần hoàn thành việc học ở trường, sau đó, Ngọc Minh cần tiền, Ngọc Minh cần tìm kiếm thời gian và sau đó, không có sau đó nữa.

Mặc dù mơ mộng trở thành “chính khách” hơn nửa cuộc đời nhưng sự thật thì chẳng bao giờ xảy ra cả. Và nó khiến Ngọc Minh mất một thời gian dài và trải qua rất nhiều khó khăn để cuối cùng tìm ra câu hỏi tại sao: Ngọc Minh không thực sự muốn nó.

Ngọc Minh yêu các kết quả – hình ảnh Ngọc Minh đứng trên sân khấu, mọi người tán dương, tài năng của Ngọc Minh được thể hiện, thổ lộ hết cảm xúc trong trái tim vào những bài hát mà Ngọc Minh đàn – nhưng Ngọc Minh không yêu quá trình thực hiện. Và bởi vì điều đó, Ngọc Minh thất bại. Liên tục như vậy! Ngọc Minh còn chẳng cần cố gắng để thất bại. Gần như, Ngọc Minh chẳng cố tí nào cả.

Quá trình luyện tập hàng ngày đầy vất vả, tham gia một nhóm nhạc, tập biểu diễn, khó khăn khi tìm kiếm hợp đồng thuê ban nhạc và kéo mọi người đến thể hiện tài năng và rồi, họ chẳng hề hứng thú. Dây đàn đứt, ampli bị cháy, kéo hơn 18 kg đồ đạc tới nơi biểu diễn mà chẳng hề có phương tiện chuyên chở nào. Đó là ngọn núi của ước mơ và một chuyến leo núi dài hàng dặm để lên được đến đỉnh. Và thứ khiến Ngọc Minh mất một thời gian dài để khám phá ra đó là Ngọc Minh không hề thích leo núi. Ngọc Minh chỉ thích tưởng tượng mình đang ở trên đỉnh núi mà thôi.

Nền văn hóa của chúng ta nói rằng, Ngọc Minh thất bại với chính mình, rằng Ngọc Minh là một kẻ bỏ cuộc hoặc một kẻ thất bại. Các cuốn sách self-help nói rằng, Ngọc Minh hoặc không có đủ dũng cảm, đủ sự quyết tâm hoặc không đủ tự tin vào bản thân. Ngọc Minh là nạn nhân của xã hội, do xã hội “đào tạo” nên và sống vì ảo tưởng. Ngọc Minh được khuyên rằng, hãy nói những câu nói động viên, khẳng định hoặc tham gia vào nhóm những người thông tuệ hoặc chứng minh đi hoặc làm một thứ gì đó đại loại như vậy.

Nhưng sự thật kém thú vị hơn rất nhiều: Ngọc Minh đã nghĩ Ngọc Minh muốn thứ gì đó nhưng hóa ra không phải. Hết chuyện!

Ngọc Minh muốn nhận được những phần thưởng nhưng không muốn đấu tranh. Ngọc Minh muốn kết quả nhưng không phải quá trình. Ngọc Minh muốn yêu mà không có xung đột, chỉ là sự chiến thắng. Và cuộc sống không diễn ra theo cách như vậy.

Chúng ta được định nghĩa bởi những giá trị mà ta sẵn sàng đấu tranh để giành lấy. Những người thích thú với những tuần làm việc dài và niềm tin thăng tiến trong nghề nghiệp là những người sẽ đạt được đến vị trí họ muốn. Những người thích thú với căng thẳng và sự bất an của lối sống đầy chất nghệ sĩ, thèm khát là những người cuối cùng sẽ sống với nó và tạo ra nó.

Đó là một phần vô cùng đơn giản của cuộc sống: Những cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ định nghĩa thành công của chúng ta. Thế nên, hãy lựa chọn cuộc chiến của mình thật khôn ngoan, các con nhé.

 

 NHỮNG ĐIỀU NÊN VÀ KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG

 

NHỮNG CÂU TRUYỆN CUỘC SỐNG CỰC KỲ Ý NGHĨA MÀ MÌNH NÊN ĐỌC

Mỗi câu truyện cuộc sống luôn có những ý nghĩa riêng của nó, từ đó ta sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm cho chính mình để hoàn thiện bản thân.

Những truyện cực ngắn dưới đây sau khi đọc xong, ta sẽ rút ra được những bài học ý nghĩa cho cuộc sống của chính mình. Hãy đọc ngay những truyện cực ngắn dưới đây và xem những truyện ngắn này nhắn nhủ tới mình điều gì nhé!

Nếu hàng ngày, ta dành ra rất nhiều thời gian của mình để lướt Facebook, thì sao lại không dành thời gian quý báu ấy để đọc những mẩu truyện cực ngắn nhưng lại cho mình rất nhiều lời khuyên, ý nghĩa của cuộc sống. Chắc chắn những truyện cực ngắn dưới đây sẽ khiến mình thức tỉnh và nhận ra cuộc sống này còn có vô vàn điều thú vị hơn là thời gian dành để lướt Facebook. Hãy cùng khám phá với chúng tôi.

 

1 .Truyện cực ngắn: AI MỚI LÀ KẺ NGU?

Một ông thầy giáo mới dạy nhận ra rằng trong lớp có một cậu bé luôn luôn bị chửi là ngu. Trong giờ ra chơi ông hỏi nhóm bạn lý do.

- Thì nó là thằng ngu thật mà thầy. Nếu mà đưa cho nó đồng xu to 5 rúp và đồng xu nhỏ 10 rúp, thì nó sẽ chọn đồng 5 rúp, vì nó nghĩ đồng 5 rúp có kích thước to hơn thì là tốt hơn.

 

Đây, thầy nhìn nhé. Một bạn trong nhóm giơ 2 đồng xu và cho cậu kia chọn. Và cậu vẫn chọn đồng 5 rúp như trước.

Thầy giáo ngạc nhiên hỏi:

- Sao em lại chọn 5 rúp mà không chọn 10 rúp?

- Thầy nhìn này, đồng 5 rúp to hơn mà.

Tan trường, thầy đến chỗ cậu bé hỏi lại:

- Chẳng nhẽ em không thể hiểu được đồng 5 rúp chỉ to hơn về mặt kích thước, nhưng đồng 10 rúp thì em có thể mua được nhiều thứ hơn?

- Nếu em lấy 10 rúp thì lần sau bọn nó sẽ không cho em nữa... Cậu bé trả lời.

Bài học rút ra:

Chắc chắn khi đọc đến đây ta sẽ thấy cậu bé kia tỏ ra ngờ nghệch mà không hẳn là vậy. Người ta thường nói: "Ngu mà tỏ ra nguy hiểm thì không có gì phải sợ, đáng sợ là người nguy hiểm mà to ra ngu". Vì vậy, đừng xem thường người đối diện với mình. Bởi người đối diện với mình chưa chắc đã ngu như ta nghĩ... Truyện cực ngắn về đồng xu khiến mình xem xét lại cách nhìn đối với người đối diện...

 

2. Truyện cực ngắn: NGƯỜI TIỀU PHU VÀ HỌC GIẢ

 

Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều phu để thể hiện trí tuệ hơn người. Đầu tiên, tiều phu ra câu đố:

"Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ còn có mười cân?".

Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì.

"Tôi cũng không biết!", tiều phu đưa lại cho học giả năm đồng và nói thêm:

"Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi." Học giả vô cùng sửng sốt.

Bài học rút ra:

Trong cuộc sống, nhiều người hay tỏ vẻ là mình trí tuệ, thông minh hơn người và tỏ vẻ coi thường những người ít học, học thấp hơn họ. Tuy nhiên đôi lúc, sự tự phụ quá tự tin của họ sẽ khiến họ bị lâm vào những tình huống "dở khóc dở cười". Họ không biết một điều rằng "thông minh sẽ hại thông minh", người quá thông minh và tinh tướng nhiều khi sẽ tự hại lấy mình vì quá tự cao. Lẽ vậy ở đời, đừng sợ kẻ thông minh, hãy sợ kẻ ngốc mà tưởng mình thông minh. Và hãy làm một người khiêm tốn đáng được tôn trọng. Truyện cực ngắn về người tiều phu khiến chúng ta phải suy nghĩ về đức tính khiêm tốn.

 

3. Truyện cực ngắn: MIẾNG BÁNH MÌ CHÁY .

“Khi tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn nướng bánh mì cháy khét. Một tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và bà làm bữa tối cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì nướng cháy, không phải cháy xém bình thường mà cháy đen như than. Tôi ngồi nhìn những lát bánh mì và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng và lên tiếng hay không.

Nhưng cha tôi chỉ ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ tôi xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì.

Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà.”

Đêm đó, tôi đến bên chúc cha tôi ngủ ngon và hỏi có phải thực sự ông thích bánh mì cháy. Cha tôi khoác tay qua vai tôi và nói:

“Mẹ con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy.”

Rồi ông nói tiếp: “Con biết đó, cuộc đời đầy rẫy những thứ không hoàn hảo và những con người không toàn vẹn. Cha cũng khá tệ trong rất nhiều việc, chẳng hạn như cha chẳng thể nhớ được sinh nhật hay ngày kỷ niệm như một số người khác.

 

Điều mà cha học được qua nhiều năm tháng, đó là học cách chấp nhận sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa khoá quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền vững con ạ. Cuộc đời rất ngắn ngủ để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu. Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người chưa làm được điều đó.”

Bài học rút ra:

Trong cuộc sống, ta cần phải biết học cách cảm thông đối với điểm yếu, điểm hạn chế của người khác. Cảm thông với cuộc sống, tính cách của mọi người trong gia đình, bạn bè, vợ chồng... sẽ giúp mình có một cuộc sống dung hòa xung quanh. Sự cảm thông -bí quyết nuôi dưỡng hạnh phúc gia đình. Truyện cực ngắn Miếng bánh mì cháy là bài học về sự cảm thông giữa con người với con người.

 

4. Truyện cực ngắn: BỆNH LẢI NHẢI

Chị vợ đang nấu nướng trong nhà bếp, anh chồng cứ đứng bên lải nhải không ngừng:

- Chậm thôi! Cẩn thận! Lửa lớn quá! Mau lên! Lật cá đi! Ôi cho nhiều dầu quá!

Chị vợ nói: Em biết phải nấu nướng thế nào mà!

Anh chồng: Em đương nhiên là biết, bà xã. Anh bình tĩnh nói tiếp: 

- Anh chỉ là muốn em biết, khi anh lái xe, em ở bên lải nhải không ngừng và em sẽ hiểu cảm giác của anh thế nào thôi! 

Bài học rút ra:

Học cách thông cảm cho người khác không khó, chỉ cần ta nghiêm túc đứng ở góc độ và lập trường của đối phương để nhìn nhận vấn đề. Bởi khi mình là họ, ta mới hiểu tất cả những hành động của họ ở mọi góc độ. Đừng vội suy xét và kết luận sự việc khi chưa rõ mọi vấn đề. Thấu hiểu người khác thay vì phàn nàn họ là bài học rút ra từ truyện cực ngắn này.

 

5. Truyện cực ngắn: NHÀ VUA VÀ ĐÔI CHÂN ĐAU

 

Ngày xưa, có ông vua cai trị ở một đất nước phồn vinh nọ. Một ngày kia, vị vua đi ngao du sơn thủy. Khi quay trở lại hoàng cung, vị vua phàn nàn chân mình rất đau, bởi vì đây là lần đầu tiên vua phải trải qua một cuộc hành trình dài như thế và chặng đường ông đi lại rất gồ ghề, đá lởm chởm.

Sau đó, vị vua hạ lệnh

– cho bọc tất cả con đường trong đất nước lại bằng da. Điều này sẽ dẫn đến việc phải cần hàng ngàn bộ da bò và một số lượng khổng lồ tiền bạc.

Bỗng có một hôm, người vợ của tên hầu nhà vua đã dũng cảm hỏi nhà vua:

“Tại sao ngài lại tốn một số lượng tiền không cần thiết như thế? Tại sao ngài không dùng một miếng da nhỏ để bọc lại chân của ngài?”.

Nhà vua ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng đồng ý làm một đôi giày.

Bài học rút ra:

Truyện cực ngắn trên đây sẽ giúp cho mình hiểu: Để có một cuộc sống, một nơi chốn hạnh phúc để sống, tốt hơn là mình nên thay đổi chính mình, suy nghĩ của mình, trái tim mình – chứ không phải bắt thế giới thay đổi bởi “Nếu mình thay đổi, cả thế giới sẽ thay đổi” Hãy thay đổi chính mình, ta sẽ thấy thế giới này đẹp hơn rất nhiều.

 

6. Truyện cực ngắn: BÀI HỌC THÀNH BẠI TỪ HƯƠU CAO CỔ  

Mỗi lần một chú hươu con ra đời đều là một bài học. Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng, như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay dưới đó. Sau vài phút, hươu mẹ làm một việc hết sức kỳ lạ, đó là đá vào người con mình cho đến khi nào nó chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Cho đến khi thực sự đúng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để hươu con phải nỗ lực tự mình đứng dậy trên đôi chân còn non nớt.

Bài học rút ra:

Truyện cực ngắn về chú hươu cao cổ mới sinh và phương pháp dạy con từ thuở nhỏ của hươu mẹ. Điều này nghe có vẻ lạ với chúng ta, nhưng lại thực sự cần thiết cho hươu con bởi chúng phải tự đứng được để có thể tồn tại với bầy đàn, nếu không sẽ bị trơ trọi với cuộc đời và trở thành miếng mồi ngon cho thú dữ.

Con người chúng ta cũng vậy, thật dễ nản chí khi mọi việc đều trở nên tồi tệ. Nhưng cho dù đang phải đối mặt với nhiều gian khổ thì ta vẫn phải giữ vững niềm tin. Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu hàng. Hãy ghi nhớ rằng mỗi khi ta phải đối mặt với nghịch cảnh, trong ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn.

 

7. Hai con hổ số phận khác nhau

Có hai con hổ, một con ở trong chuồng, một con nơi hoang dã.

Hai con hổ đều cho rằng hoàn cảnh của bản thân mình không tốt, đôi bên đều ngưỡng mộ đối phương, thế là chúng quyết định thay đổi thân phận với nhau. Lúc mới bắt đầu, cả hai đều vô cùng vui vẻ, nhưng không lâu sau đó, hai con hổ đều chết cả: Một con vì đói mà chết, một con u sầu mà chết.

Gợi ý nhỏ:

Có những lúc, mọi người nhắm mắt làm ngơ đối với hạnh phúc của chính bản thân mình, để rồi luôn để mắt đến hạnh phúc của những người khác. Thật ra, những gì mà mình đang có chính là những điều mà người khác phải ngưỡng vọng.

Cuộc đời là thế, nhiều chuyện xảy ra theo cách không thể ngờ tới, hy vọng sau khi đọc những câu chuyện này, mọi lúc mọi nơi ai cũng có thể tự nhắc nhở bản thân mình vậy.

 

8. Ông lão vứt bỏ đôi giày

Chuyến xe lửa đang chạy trên đường cao tốc, Gandhi không cẩn thận làm rơi một chiếc dép mới mua ra ngoài cửa sổ, mọi người chung quanh đều cảm thấy tiếc cho ông. Bất ngờ, ông liền ném ngay chiếc giày thứ hai ra ngoài cửa sổ đó. Hành động này của Gandhi khiến mọi người sửng sốt, thế là ông bèn từ tốn giải thích: “Chiếc giày này bất luận đắt đỏ như thế nào, đối với tôi mà nói nó đã không còn có ích gì nữa, nếu như có ai có thể nhặt được đôi giày, nói không chừng họ còn có thể mang vừa nó thì sao!”.

 

Gợi ý nhỏ:

Đối với nỗi thống khổ đã định sẵn là không thể vãn hồi, chi bằng hãy buông bỏ từ sớm.

 

9. Hoa khôi lớp xấu xí

Các sinh viên nữ công khai bỏ phiếu bầu chọn hoa khôi của lớp, Tiểu Mai là người có dung mạo bình thường nhưng cô đa đứng ra nói mọi người rằng: “Nếu như tôi được chọn, qua vài năm sau, các chị em ngồi ở đây có thể tự hào mà nói với chồng của mình rằng, ‘hồi em học đại học, em còn xinh đẹp hơn cả hoa khôi trong lớp cơ đấy!’”.

Kết quả là cô ấy đã được bầu chọn với số phiếu gần như tuyệt đối.

Gợi ý nhỏ:

Thuyết phục người khác ủng hộ mình, không nhất định là phải chứng minh rằng mình xuất sắc hơn người khác như thế nào, mà là cần để cho người ta biết được rằng nhờ có ta mà họ mới trở nên ưu tú hơn và có nhiều thành tựu hơn.

 

10. Nhân duyên vợ chồng

Năm đó, anh đang ngồi đợi bạn trong quán cà phê. Một người con gái bước đến hỏi: “Anh có phải là người mà dì Vương giới thiệu đến để xem mắt hay không?”.

Anh ngẩng đầu lên nhìn cô một cái, bất chợt phát hiện đây chính là mẫu người mình thích, lòng nghĩ thầm sao không “lỡ nhầm rồi đã nhầm cho trót luôn”, thế là vội vàng đáp: “Đúng vậy, mời ngồi”.

Ngày kết hôn, anh liền đem sự thật này nói với vợ, người vợ cười cười một cái, nói: “Em cũng không phải là đến xem mắt, chỉ là mượn cớ để bắt chuyện với anh thôi…”

Gợi ý nhỏ:

Khi cơ duyên đã đến rồi, thì đừng nên do dự mà hãy nắm chặt lấy nó.

 

11. Bệnh nhân ung thư “tưởng rằng” cuộc phẫu thuật đã thành công

Tôi có một người bạn là bác sĩ. Một lần anh làm phẫu thuật cho bệnh nhân ung thư, sau khi mổ ra mới phát hiện chỗ bị viêm cắt bỏ không được, anh đành phải may lại, rồi đi giải thích tình huống với bệnh nhân. Bệnh nhân đó đến từ vùng quê, nghe không hiểu thuật ngữ y khoa, thế nên nghe xong thì vững tin rằng phẫu thuật xong rồi thì bệnh sẽ khỏi.

Bác sĩ không còn cách nào khác, đành phải để ông xuất viện.

Một năm sau tái khám, bệnh quả nhiên đã khỏi hẳn, các tế bào ung thư đã hoàn toàn biến mất.

 

Gợi ý nhỏ:

Tâm thái vui vẻ lạc quan chính là phương thức phẫu thuật tốt nhất vậy.

 

12. Chuột sa hũ gạo

Một con chuột rơi vào trong lu gạo, số gạo trong lu vẫn còn một nửa, sự cố ngoài ý muốn này khiến nó vui mừng không sao tả được.

Sau khi xác định là không có nguy hiểm gì, nó liền bắt đầu cuộc sống ăn rồi lại ngủ, ngủ rồi lại ăn trong cái lu gạo.

Rất mau, lu gạo sắp cạn kiệt, nhưng nó rốt cuộc vẫn không thoát khỏi sự cám dỗ của những hạt gạo, nên tiếp tục ở lại trong lu. Cuối cùng, gạo đã ăn hết, chuột ta mới phát hiện rằng mình không thể nhảy ra ngoài được nữa, lực bất tòng tâm.

Gợi ý nhỏ:

Cuộc đời của chúng ta xem như rất yên bình nhưng thật ra khắp nơi đều đầy rẫy nguy cơ, cần phải giữ cho mình quan niệm sống ổn định, từ đó mà biết cân nhắc đến an nguy.

 

13. Con thỏ câu cá bằng cà rốt

Ngày đầu tiên, chú thỏ con đi câu cá, không thu hoạch được gì cả.

Ngày thứ hai, nó lại đi câu cá, kết quả vẫn không đổi.

Ngày thứ ba, nó vừa đến nơi, một con cá lớn từ trong hồ nhảy lên, lớn tiếng quát: “Nếu như ngươi còn dám dùng cà rốt để làm đồ ăn cho cá, ta sẽ làm thịt ngươi”.

 

Gợi ý nhỏ:

Những gì ta cho đi đều là những gì mình muốn cho, chứ nó không nhất định là những gì mà đối phương muốn; thế nên điều mình cho đi ấy trong con mắt người ta căn bản vốn không có giá trị gì cả. Hãy biết cân nhắc đến người khác để giá trị cuộc sống của mình thêm ý nghĩa.

 

14. Mark Twain và người phụ nữ kiêu ngạo

Trong một bữa tiệc, Mark Twain ngồi đối diện với một người phụ nữ. Theo lẽ lịch sự, ông đã nói với người này: “Cô thật là xinh đẹp!”.

Người phụ nữ đó lại không hề cảm kích, mà còn cao ngạo nói: “Rất tiếc là tôi không có cách nào để nói lời khen tương tự như thế với ông!”.

Mark Twain rất bình thản, nói: “Không sao cả, cô có thể giống như tôi vậy, nói một lời nói dối là được rồi”.

Người phụ nữ nghe xong, xấu hổ quá, phải cúi gầm mặt xuống mà không nói được lời nào.

Gợi ý nhỏ:

Tảng đá mà mình ném ra, người bị nó làm cho vấp té sẽ luôn luôn là chính bản thân mình . Ta nói lời cay nghiệt, sau cùng cũng sẽ tự mình rước lấy nhục nhã mà thôi.

Những truyện cực ngắn trên đây dù rất ngắn nhưng để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc về làm người, và sống ý chí, thành công trong cuộc sống.

Hãy đừng bao giờ ngừng tin tưởng, ngừng phấn đấu và sống chan hòa với mọi người. Bởi niềm tin và tình cảm sẽ giúp mình có một cuộc sống ý nghĩa trong cuộc đời này.

15. Con ếch nghễnh ngãng và bài học mặc kệ những lời đàm tiếu

Một đàn ếch đang di chuyển qua cánh rừng thì 2 con ếch không may bị rơi xuống hố sâu. Những con ếch khác cùng xem cái hố sâu đến chừng nào và kết luận rằng, hố quá sâu để có thể vượt ra ngoài. Chúng khuyên 2 con ếch kia rằng hãy giữ sức, vì chẳng có hy vọng gì đâu.

Phớt lờ những lời nói đó, 2 con ếch bị rơi xuống hố vẫn nỗ lực tìm cách nhảy ra khỏi hố. Những con ếch trên miệng hố, không những không động viên mà còn khuyên chúng hãy từ bỏ đi.

Một trong 2 con ếch sau vài lần thử nhảy đã kiệt sức và chấp nhận buông xuôi. Trong khi đó, con ếch còn lại càng nhảy càng hăng hơn và cuối cùng nó lấy hết sức nhảy vọt ra khỏi cái hố.

Khi ra ngoài, những con ếch khác hỏi rằng: "Cậu không nghe thấy chúng tôi nói gì sao?". Con ếch nhỏ đã giải thích rằng, vì nó bị điếc nên nó nghĩ rằng cả đàn ếch đã cổ vũ nó cố gắng nhảy ra ngoài.

Bài học: Những lời nói của người xung quanh có thể tác động to lớn đến cuộc sống mình, nhưng ta không nên dành thời gian với những người chỉ biết "hút cạn" nguồn hạnh phúc của mình. Ta không thể kiểm soát những gì sẽ xảy với cuộc đời mình nhưng ta có thể kiểm soát cách mà mình phản ứng với thế giới này.

 

16. Một cân bơ và sự gian dối

Ngày xa xưa, có một người nông dân thường xuyên bán bơ cho người thợ làm bánh. Một ngày, người thợ làm bánh quyết định cân lại số bơ anh ta mua để kiểm tra xem liệu người nông dân có bán chính xác khối lượng bơ anh ta yêu cầu hay không. Anh ta đã phát hiện ra khối lượng bơ không như thỏa thuận thực tế và kiện người nông dân ra tòa.

Quan tòa hỏi người nông dân rằng, anh đã dùng cách gì để cân khối lượng bơ bán ra. Người nông dân trả lời rằng: Thưa ngài, tôi không có dụng cụ đo lường chính xác nào cả, nhưng tôi có thứ để có thể biết được khối lượng bơ.

"Vậy anh đã cân bơ bằng cách nào?".

"Thưa ngài, trước khi anh thợ làm bánh mua bơ của tôi, tôi đang mua 1 cân bánh mỳ của anh ta, Mỗi ngày, khi anh bán bánh đem bánh mỳ tới, tôi đặt nó lên bàn cân và đưa lại cho anh ta số bơ có trọng lượng đúng bằng bánh mỳ. Nếu ai đó gian lận, thì đó chính là anh làm bánh".

Bài học: Ta sẽ nhận lại những gì mình cho đi. Sự gian dối sẽ được đáp trả bằng sự gian dối gấp nhiều lần.

 

17. Hòn đá tảng giữa đường và phần thưởng dành cho những người vượt qua trở ngại

Ở một vương quốc nọ, đức vua muốn thử lòng người nên đã sai người đặt một tảng đá to ở giữa một con đường nhiều người qua lại. Sau đó, nhà vua đóng giả người thường để quan sát xem ai sẽ là người dịch chuyển tảng đá khỏi con đường. Rất nhiều thương gia giàu có, cận thần của nhà vua đã đi qua con đường nhưng họ chỉ đi vòng qua hòn đá.

Thậm chí, nhiều người còn đổ lỗi cho nhà vua vì không có biện pháp giữ cho đường sá thông thoáng, nhưng không ai làm bất cứ điều gì để giải quyết vấn đề.

Một ngày nọ, một người nông dân mang rau ra chợ bán. Khi đến gần tảng đá, anh ta đã đặt gánh rau xuống và cố gắng tìm cách đẩy hòn đá ra khỏi vị trí án ngưỡng trên đường. Sau khi đẩy được hòn đá đi, anh nông dân phát hiện một chiếc túi đựng rất nhiều tiền vàng và một bức thư của nhà vua nhắn rằng: Vàng trong túi dành cho người đã loại bỏ tảng đá ra khỏi con đường.

Bài học: Mọi trở ngại chúng ta gặp đều là cơ hội để cải thiện bản thân. Trong khi những người lười biếng than phiền thì những người khác đang tạo ra cơ hội bằng trái tim nhân hậu, lòng hảo tâm và sẵn sàng làm mọi thứ.

 

18. Cái kén và con bướm

Một người đàn ông tìm thấy một cái kén của sâu bướm. Con sâu dường như đang cố gắng để chui ra khỏi kén. Người đàn ông ngồi xuống và quan sát cái kén suốt hàng giờ nhưng dường như con sâu bướm phải vật lộn rất vất vả mà chỉ tạo ra được một chiếc lỗ nhỏ xíu. Đột nhiên nó dừng lại và dường như kiệt sức, bế tắc.

Người đàn ông quyết định giúp con bướm có thể chui ra ngoài bằng cách dùng kéo cắt lỗ trên chiếc kén rộng thêm một chút nữa. Sau đó, con bướm nhỏ đã có thể thoát ra khỏi kén dễ dàng hơn nhưng cơ thể nó dường như yếu ớt, đôi cánh rúm ró.

Người đàn ông vẫn ở đó, chờ cho đôi cánh bướm có thể dang rộng và con bướm bay lên. Tuy nhiên, điều đó không bao giờ xảy ra. Con bướm sẽ chỉ có thể sống phần đời con lại bằng cách bò với cơ thể khuyết tật và đôi cánh rúm ró. Nó không bao giờ có thể bay,

Mặc dù, người đàn ông có lòng tốt, nhưng anh ta không hiểu quy luật của tự nhiên. cái kén chật hẹp là thử thách để sâu có thể hóa bướm. Chỉ có tự mình nỗ lực thoát khỏi cái kén, chất lỏng trong cơ thể sâu mới chuyển hết sang đôi cánh, giúp nó có thể bay tự do.

Bài học: Cuộc chiến với cuộc sống giúp chúng ta phát triển sức mạnh. Không đấu tranh, chúng ta không bao giờ trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Tự mình giải quyết các vấn đề, không dựa dẫm vào người khác là điều rất quan trọng để mình có thể vững vàng trong cuộc sống.

 

1. Thiên đường và Địa ngục

Một người đàn ông chết đi, và vì anh là một người tốt nên được lên Thiên đường. Thánh Peter đứng ở cổng Thiên đường chào đón anh.

"Xin chào mừng! Con có thể bước vào Thiên đường ngay bây giờ, nhưng vì con đã sống rất tốt nên con được phép xuống Địa ngục trước để so sánh hai nơi nếu con muốn", Thánh Peter nói.

Người đàn ông khá tò mò và nói "tại sao lại không chứ?".

Anh bước xuống Địa ngục, nơi mà cánh cửa đã mở sẵn. Phía sau cánh cửa, anh nhìn thấy rất nhiều người đang ngồi xung quanh những chiếc bàn đầy đồ ăn ngon lành, nhưng họ rất buồn bã và đau khổ, bởi chỉ có những chiếc dao và nĩa dài quá tầm tay. Vì thế, họ không thể đưa được một chút thức ăn nào vào miệng.

 

Người đàn ông quay trở lại Thiên đường và nói với Thánh Peter: "Chà, con rất vui khi được lên Thiên đường. Địa ngục đúng là một hình phạt".

 

"Chào mừng tới Thiên đường", Thánh Peter nói.

 

Khi người đàn ông bước vào Thiên đường, anh ta thấy gì? Anh lại thấy rất nhiều người đang ngồi xung quanh những chiếc bàn đầy đồ ăn ngon, cũng giống như dưới Địa ngục. Họ cũng có những chiếc dao và nĩa dài quá tầm tay, nhưng trên Thiên đường, mọi người không than khóc và chửi rủa, bởi vì họ đang đút thức ăn cho nhau. "Thử món này đi", họ cười nói vui vẻ. "Cả món này nữa", họ đã rất vui vẻ cùng nhau.

 

Bài học rút ra: Hạnh phúc là khi mang lại hạnh phúc cho người khác. Đừng ích kỷ, mà hãy quan tâm tới người khác, ta cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ họ.

 

2. Hai hạt giống

 

Hai hạt giống nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt giống thứ nhất nói:

 

"Tôi muốn lớn lên! Tôi muốn rễ đâm sâu vào trong lòng đất, lộc đâm xuyên lên mặt đất... Tôi muốn đâm chồi nảy lộc để báo hiệu mùa xuân tới.... Tôi muốn cảm nhận được sự ấm áp của Mặt trời và hứng trọn những giọt sương mai đọng trên cánh hoa..." Và hạt giống thứ nhất được lớn lên như đúng ý nguyện.

 

Hạt giống thứ hai nói "Chà, nếu tôi đâm rễ xuống lòng đấy, tôi không biết mình sẽ gặp phải những thứ gì trong bóng tối. Nếu tôi đâm chồi lên mặt đất rắn chắc, những nhánh mầm non nớt của tôi có thể bị hỏng... Nếu tôi đâm chồi rồi bị một con ốc sên ăn mất thì sao? Nếu tôi nở hoa, một đứa trẻ có thể tiện tay hái hoa. Không, tốt hơn là cứ đợi đến khi nào an toàn". Và hạt giống thứ hai cứ chờ đợi như ý muốn.

 

Vào một sáng mùa xuân, một con gà mái đi loanh quanh trên mảnh đất. Nó tìm thấy hạt giống đang nằm đợi và nhanh chóng ăn mất.

 

Bài học rút ra: Đừng đợi chờ bất cứ giây phút nào, vì cuộc đời không có thời gian cho mình chờ đợi.

 

3 . Vị vua và những bông hoa

 

Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.

 

Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp, chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.

 

Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu hoa rất đẹp. Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena.

 

Ngài hỏi "tại sao chậu hoa của cô không có gì?".

 

"Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi đã thất bại" cô gái trả lời.

 

"Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này".

 

Bài học rút ra: Sự trung thực sẽ cho mình những thứ bất ngờ vì không có tài sản nào quý giá bằng lòng trung thực.

 

4. Bức tranh bình yên nhất

 

Xưa có một ông vua tổ chức một cuộc thi tìm ra người nào vẽ được bức tranh yên bình nhất. Nhiều họa sĩ đã tham gia và nộp bài. Nhà vua xem xét tất cả các bức tranh và ông chọn ra hai bức ông thích nhất, nhưng ông vẫn phải chọn ra một bức tranh đạt giải.

 

Bức tranh thứ nhất vẽ một hồ nước tĩnh lặng đến mức có thể thấy những ngọn núi cao vút xung quanh soi bóng dưới hồ. Bên trên là bầu trời trong xanh, mây trắng. Đó là một bức tranh mà ai nhìn vào cũng phải mê mẩn.

 

Bức tranh thứ hai cũng vẽ cảnh núi, nhưng nó mấp mô và trần trụi. Bên trên là bầu trời u ám, vần vũ như sắp có mưa bão, sấm chớp. Phía dưới một ngọn núi là thác nước đổ xuống ào ào. Nhưng khi nhà vua nhìn kỹ, ông thấy bên cạnh thác nước là một bụi cây nhỏ nằm trong một kẽ đá. Trong bụi cây, một con chim mẹ đang làm tổ. Giữa thác nước đang gào thét, chim mẹ ngồi yên bình trong tổ.

 

Ta sẽ chọn bức tranh nào?

 

Nhà vua đã chọn bức tranh thứ hai và giải thích: "Bởi vì yên bình không có nghĩa là mình ở một nơi không có tiếng ồn, không gặp rắc rối, không phải làm việc vất vả. Yên bình là khi sống giữa tất cả những thứ đó, ta vẫn cảm thấy bình an trong tim. Đó mới là yên bình thực sự".

 

Hy vọng với những câu truyện hay và đầy tính nhân văn trên đây ta có thể rút ra nhiều bài học quý giá cho cuộc sống của mình.

 

NHỮNG LỜI KHUYÊN HAY VỀ CUỘC SỐNG

1. Hãy cho đi nhiều hơn nhận được.

 

2. Hãy kết hôn với người mà mình thích trò chuyện để khi về già chúng ta sẽ có được người bạn tâm giao đáng quý nhất.

 

3. Đừng tin vào tai mình, hãy lắng nghe bằng lý trí và cả trái tim.

 

4. Khi một người nào đó nói rằng "Anh/em yêu em/anh" thì đó chính là ý nghĩa thật sự của câu nói đó.

 

Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống

 

5. Hãy nhìn thẳng vào mắt đối phương khi nói lời "Xin lỗi".

 

6. Hãy tin vào tình yêu "từ cái nhìn đầu tiên".

 

7. Đừng bao giờ cười cợt giấc mơ của người khác vì những người không có mộng tưởng mới là những người trắng tay.

 

8. Hãy yêu sâu sắc và say đắm, có thể ta sẽ chịu tổn thương nhưng đó là cách duy nhất để hoàn thiện cuộc sống của mình.

 

9. Đừng bao giờ đánh giá một người nào đó vì xuất thân của họ.

 

10. Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.

 

11. Khi một người nào đó hỏi một vấn đề ta không muốn trả lời, hãy hỏi họ "Vì sao lại muốn biết điều này?"

 

12. Luôn ghi nhớ rằng tình yêu và thành công luôn ẩn chứa những nguy cơ tiềm tàng.

 

Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống

 

13. Hãy nói "Nhớ giữ gìn sức khoẻ" khi người nào đó cạnh bên ho/hắt hơi.

 

14. Đừng bao giờ quên những bài học khi thất bại.

 

15. Ghi nhớ 3 chữ T:

 

Tôn trọng bản thân mình

Tôn trọng người khác.

Trách nhiệm cho những việc mình làm là điều không thể nào né tránh.

 

16. Đừng để những tranh chấp nhỏ làm tổn thương tình bạn của mình.

 

17. Khi nhận ra lỗi lầm của mình, hãy sửa sai ngay lập tức.

 

18. Hãy cười vui vẻ khi nhận điện thoại của ai đó, vì đối phương sẽ cảm nhận được qua giọng nói của mình.

 

Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống

 

19. Dành thời gian cho riêng mình.

 

CÁC CON :NÊN LÀM

 

Cuộc sống luôn đầy rẫy thách thức, dù muốn hay không thì chúng ta cũng phải chấp nhận sự thật ấy. Ai cũng sẽ trưởng thành, phải giữ gìn sức khỏe và lao động kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và thậm chí là lo toan cho cả gia đình, đồng thời phải trụ vững được trước các loại áp lực và những thứ phiền phức khác.

 

Những điều đó rất dễ khiến con rơi vào bế tắc hoặc không thể tập trung suy nghĩ và suy xét thấu đáo được điều gì nên làm, điều gì không, tinh lực hao tổn mà sinh bệnh. Nhưng may thay, chúng ta sở hữu một trong những điều tuyệt vời nhất của cuộc sống đó là khả năng cải biến bản thân và thích nghi hoàn cảnh.

 

Nếu con cảm thấy mình đang bị kẹt trong một trạng thái tồi tệ nào đó thì hãy ngay lập tức thử làm 10 điều dưới đây để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

 

1. Chú trọng tới sức khỏe

 

Hãy chăm sóc bản thân, có sức khỏe thì tinh thần của con cũng sẽ tốt hơn.

Có hai lý do quan trọng để con cần quan tâm chăm sóc sức khỏe của bản thân. Một là, nếu con không quan tâm tới sức khỏe của mình thì thực ra con đang bỏ mặc cuộc sống của chính mình. Hai là, nếu con chăm sóc bản thân tốt thì tinh thần của con cũng sẽ tốt hơn.

 

con không cần phải trông giống những người mẫu trên truyền hình với thân hình sáu múi, chỉ đơn giản con nên làm những việc khiến cho cơ thể mình khỏe mạnh. Hãy dành thời gian mỗi ngày cho thể dục thể thao, ăn uống lành mạnh và dinh dưỡng hợp lý. Điều này không những giúp con tươi trẻ hơn mà còn cung cấp cho con năng lượng sống dồi dào hơn mỗi ngày.

 

2. Dành thời gian cho những người đối xử tốt với con

 

Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng lượng và truyền lửa để con sống tốt, hạnh phúc và hiệu quả hơn.

Người ta thường nói rằng mỗi người là trung bình của 5 người mà họ dành nhiều thời gian nhất. Dù cho con có thân cận với một số người nhất định, thì con cần phải thành thật với bản thân rằng có thể họ tốt hoặc cũng có thể là không tốt với con. Nếu họ không tốt với con thì con nên dành ít thời gian cho họ. Nghe có vẻ hài hước, nhưng thực tế là con hoàn toàn có quyền quyết định mình muốn dành thời gian cho ai. Bởi vậy, con hãy suy xét về điều này.

 

Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng lượng và truyền lửa để con sống tốt, hạnh phúc và làm việc hiệu quả hơn. Hãy sớm lên lịch để tới thăm và gặp gỡ họ.

 

3. Đánh giá cách sử dụng thời gian của con

 

Con cần tìm cách đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian của mình, con có thể thay đổi cách thức hoạt động để phù hợp với mục tiêu đặt ra.(điều này còn làm được)

Dành thời gian cuối ngày hoặc tuần để nhìn lại cách sử dụng thời gian của bản thân. con đã làm những gì trong ngày , tuần vừa qua? Bao nhiêu thời gian cho công việc? Bao nhiêu thời gian cho thông tin ,quảng cáo và truyền hình?

 

Việc xem lại những thông tin này giúp con tái sắp xếp thời gian hiệu quả hơn, việc nào nên giảm và việc gì cần đầu tư nhiều thời gian hơn. Điều này cũng gợi cho con ý tưởng để có thể dành đủ thời gian cho những công việc mà con muốn hoàn thành.

 

Dường như một ngày trôi qua nhanh đến mức chúng ta cảm thấy như mình chẳng có thời gian làm bất cứ điều gì, nhưng thực tế là bản thân mỗi người hoàn toàn có thể ưu tiên những gì mình muốn làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể học bất cứ một kỹ năng mới nào hoặc hoạt động nào đó mỗi ngày nếu ta có sắp xếp chúng một cách khoa học và tối ưu. Và kết quả là cung cách đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian của mình, con có thể thay đổi cách thức hoạt động để phù hợp với mục tiêu đặt ra.

 

4. Thường xuyên nhìn nhận lại bản thân

 

Hãy nhớ đừng để cho những điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều tốt đẹp mà con đang làm.

Cách suy nghĩ và hành xử trước mỗi tình huống trong cuộc sống thường nhật sẽ phản ánh ra chúng ta là ai và chúng ta quan tâm tới điều gì. Việc dành thời gian để nhìn nhận lại bản thân có thể thông qua nhiều phương thức như ghi nhật ký, thiền định hoặc đơn giản là đi bộ hoặc bất cứ cách thức nào mà nó cho phép con hiểu bản thân mình thấu đáo hơn.

 

Qua những hành động và cách suy nghĩ của mình, con sẽ nhận ra có khi nào bán thân đã có hành vi hay lời nào với người khác ngoài mong muốn hay không. Những lần nhìn nhận lại bản thân này sẽ đưa đến một mức độ tự nhận thức cao hơn, rất quan trọng cho sự phát triển bản thân. Hãy nhớ: Đừng để cho những điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều tốt đẹp mà con đang làm!

 

5. Thử thách bản thân mỗi ngày

Hãy thử thách bản thân mỗi ngày bằng một mục tiêu nhỏ

Làm việc hướng tới một mục tiêu nào đó sẽ giúp chúng ta cảm nhận tốt hơn về mục đích sống của chính mình. Do đó, hãy tìm cách để thử thách bản thân mỗi ngày. Thách thức đó có thể là những công việc nhỏ như bắt chuyện với một người lạ, hay mỗi ngày đọc một vài trang sách.

 

Cũng có thể là những công việc lớn hơn một chút, như tập thể dục một tiếng mỗi ngày trong ba tuần. Thực hiện bất cứ thử thách nào sẽ khiến con có thể hoàn thành được nhiều hơn những gì con muốn và khi đó con sẽ cảm nhận được rõ hơn mục đích của mình. 

6. Đặt mục tiêu làm việc 

Vạch ra mục tiêu và thường xuyên đánh giá lại mục tiêu để điều chỉnh hoặc thay đổi

Đặt mục tiêu và làm việc hướng tới mục tiêu đó là cách cụ thể nhất để con đạt được những gì mình muốn. Xác định được những mục tiêu này cũng giúp con vạch ra hướng đi rõ ràng và điều chỉnh lại mỗi khi con nhận ra hướng đi của mình không đúng. 

Quan trọng là con phải thường xuyên đánh giá lại những mục tiêu và xem liệu có còn thực sự phù hợp với hoàn cảnh hiện tại nữa hay không. Điều này có nghĩa rằng đặt ra mục tiêu là khởi điểm để con sống một cuộc sống có mục đích lớn hơn và cải biến cuộc sống của chính mình. 

7. Hãy làm những việc mà con yêu thích 

Hãy làm điều mang lại cho con niềm vui và giúp con giải tỏa căng thẳng

Hiển nhiên là ai cũng tán đồng khi nói rằng con sẽ tập trung nhiều hơn vào những việc mình yêu thích. Nhưng sự thế nhiều người không làm vậy. Đó là lý do tại sao nhiều người khác không cùng tham gia với họ bởi chính bản thân họ không biết mình yêu thích điều gì. 

Hãy xem bản thân yêu thích gì. Hãy nghĩ về những thứ khiến con thấy hạnh phúc và vui vẻ nhất. Ví dụ như nghe nhạc, chơi thể thao, hòa mình với thiên nhiên hoặc thời gian bên những người thân yêu. 

Những hoạt động này sẽ giúp con khôi phục lại năng lượng và khiến con hạnh phúc hơn. Vì vậy, chẳng có lý do gì lại không làm những điều đó nhiều lần hơn, hoặc ít nhất là hãy thử để biết mình thực sự yêu thích điều gì. 

8. Sẵn sàng thay đổi 

Chấp nhận thay đổi để cải biến bản thân và đạt được mục tiêu cuộc sống

Để chuẩn bị tốt cho cuộc sống của mình chúng ta cần phải sẵn sàng thay đổi. Đó là một thử thách với con vì nó sẽ khiến con tổn thương, con phải thừa nhận rằng những việc con làm hoặc suy nghĩ của con trong nhiều năm qua lại có thể không phải là tốt cho con. 

Mặc dù ban đầu những thử thách này giống như lột trần từng lớp của con, nhưng khi con chấp nhận những thay đổi này, con sẽ hạnh phúc hơn và trở thành một người tốt hơn.

 

9. Không ngừng học hỏi và khám phá những điều con quan tâm

 

Học tập là một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản thân

Ngoài việc thử thách bản thân ở những cách thức trên, học tập là một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản thân. Có vô số sách vở, tạp chí, bài viết, tài liệu và những thông tin khác có thể dạy cho con những điều mới mẻ. Hãy dành thời gian mỗi ngày để học thêm một chút. 

Không ngừng khám phá khiến con phải động não. Quá trình này sẽ mang lại cho con nhiều niềm vui và con sẽ học được nhiều điều để áp dụng vào cuộc sống hay công việc, con cũng có thể tìm được những sở thích mới để theo đuổi lâu dài. 

10. Hãy yêu thương bản thân dù đang ở trong tình cảnh khó khăn hay sau những quyết định tồi tệ 

Hãy học các tự yêu thương bản thân mình

Sẽ là một thử thách khi áp dụng các cách bên trên để điều chỉnh cuộc sống của bản thân. Để thực sự khiến con có sự “lột xác”, con phải học cách trân quý bản thân. Ngưng phán xét bản thân khi có một ngày tồi tệ, hành động vô lý hay chỉ đơn giản là khiến bản thân phải ăn rất nhiều mỗi khi gặp chuyện không vui. Làm những điều này chỉ vô ích! 

Thay vào đó, hãy học cách yêu bản thân qua những lần như vậy. Thay đổi thực sự khó khăn và điều đó cần thời gian. Vì vậy, con phải yêu quý bản thân để vượt qua quá trình này một cách hiệu quả và tốt nhất. Đừng hao tâm tổn trí vào việc ai đó nói hay nghĩ gì về con. Hãy gắng toàn tâm toàn ý tập trung nghĩ cách làm sao để qua mỗi ngày mình trở thành một phiên bản mới tốt hơn. Yêu quý bản thân sẽ giúp con vững bước hướng tới việc cải biến cuộc sống của con tốt lên.


NHỮNG NHẮC NHỞ NGẮN CẦN THIẾT CHO CUỘC SỐNG 

1 - Uống nhiều nước.

2 - Ăn sáng như Vua, ăn trưa như Ông hoàng và ăn tối như Kẻ ăn xin (ăn ít).

3 - Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy.

4 - Sống với 3 chữ N: Năng lực – Nhiệt thành - Nhân ái.

5 - Tìm ra thời gian phù hợp để mơ ước.

6 - Thể dục thể thao nhiều hơn.

7 - Đọc sách nhiều hơn so với năm trước.

8 - Mỗi ngày dành 10 phút ngồi yên lặng.

9 - Ngủ tối thiểu 7 giờ.

10 - Vừa đi bộ vừa mỉm cười 10-30 phút mỗi ngày.

11 - Đừng so sánh cuộc đời của mình với cuộc đời của những người khác.

12 - Đừng có những suy nghĩ tiêu cực hoặc nghĩ những điều mà mình không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của mình vào ngay thời điểm hiện tại.

13 - Đừng làm gì quá sức. Phải giữ một giới hạn cho bản thân.

14 - Đừng coi mình quá quan trọng, coi như không ai sánh nổi.

15 - Đừng phí năng lực quý báu vào những chuyện ngồi lê đôi mách.

16 - Hãy biết mơ nhiều hơn ngay khi còn đang thức.

17 - Ghen tỵ là phí thì giờ. Mình đã có tất cả những gì mình cần rồi.

18 - Hãy quên đi những chuyện đã qua. Đừng nhắc người thân nhớ lại những lỗi lầm trong quá khứ. Điều đó sẽ làm tan vỡ hạnh phúc đang có.

19 - Cuộc sống quá ngắn để tốn thời gian căm ghét bất cứ ai. Chớ ghét bỏ ai!

20 - Hãy dàn hòa với quá khứ của mình đẻ tránh làm hỏng cái hiện có.

21 - Không ai nuôi dưỡng hạnh phúc của mình, ngoài chính mình.

22 - Hãy coi cuộc đời là một trường học và con đang ở đó để học. Những điều khó hiểu chỉ là một phần của chương trình học, chúng xuất hiện rồi biến dần giống như môn Đại số. Nhưng những bài học mình thu nhận được sẽ kéo dài suốt đời.

23 - Hãy mỉm cười và cười nhiều hơn nữa.

24 - Không buộc phải thắng trong mọi cuộc tranh cãi. Hãy bằng lòng với sự bất đồng.

25 - Hãy thăm hỏi thường xuyên gia đình mình.

26 - Mỗi ngày hãy đưa lại vài điều tốt cho người khác.

27 - Hãy tha thứ cho mọi người về mọi chuyện.

28 - Hãy dành thời gian cho các cụ ngoài 70 và các cháu dưới 6 tuổi.

29 - Cố gắng làm được cho 3 người mỉm cười mỗi ngày.

30 - Không cần biết những điều người khác nghĩ về mình.

31 - Công việc không chăm sóc được khi mình đau ốm. Bạn mình mới làm được. Hãy luôn liên lạc với nhau.

32 - Hãy luôn làm những chuyện đúng đắn.

33 - Hãy gạt bỏ mọi chuyện bất lợi, không đẹp hoặc không vui.

34 - Trời sẽ chữa lành mọi chuyện.

35 - Dù cho mọi hoàn cảnh tốt hay xấu cũng sẽ thay đổi.

36 - Mặc dù cảm thấy thế nào cũng hãy đứng dậy, đi tiếp và thực hiện ước mơ

37 - Điều tốt nhất rồi sẽ đến.

38 - Thức dậy thấy vẫn sống, hãy cảm ơn ông trời.

39 - Trong lòng luôn thấy hạnh phúc. Đó chính là hạnh phúc.

40 - Hãy có những kỳ nghỉ thật tuyệt vời.

 

19 ĐIỀU TA NÊN LÀM ÍT NHẤT MỘT LẦN TRONG ĐỜI

 

Phần lớn những điều chúng ta làm trong cuộc sống là do thói quen, trách nhiệm mà không phải do chủ ý. Dưới đây là 19 điều mà mỗi người nên làm ít nhất một lần trong đời. Một lần thất bại, một lần làm những điều khiến mình sợ hãi… đều có thể giúp con người mình trưởng thành hơn rất nhiều. 

1. Có một công việc kinh doanh riêng 

Hãy tìm hiểu xem ta cần phải có gì để có thể tự thăng chức cho mình thành ông bà chủ. Dù là mình muốn thành lập một tập đoàn đa quốc gia hay mở một shop bán hàng ở góc phố hoặc chỉ là người kinh doanh tự do trên mạng, hãy một lần trải nghiệm sự tự do và cả thất vọng khi làm việc cho chính mình. 

2. Sống ở nước ngoài 

Tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau bằng cách cư trú ở một quốc gia khác miễn là số tiền tiết kiệm của mình và số ngày nghỉ phép của mình chịu được. Phần lớn các quốc gia cấp visa có thời hạn 60-90 ngày, và nhiều thành phố cung cấp các dịch vụ cho thuê nhà ngắn hạn rẻ hơn nhiều so với giá thuê khách sạn. Khách du lịch và người cư trú tạm thời là hai thế giới rất khác biệt. Hãy đi và khám phá. 

3. Lái xe dọc chiều dài đất nước 

Ít nhất một lần trong cuộc đời, ta hãy lên xe và lái qua tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Khi trở về mình có thể chọn một con đường khác. Phong cảnh và sự trải nghiệm sẽ là những điều ta không thể nào quên. 

4. Một lần thất tình 

Không ai muốn tìm kiếm đau khổ nhưng nỗi đau tinh thần là một phần tất yếu của cuộc sống. Nó thường là một điều kiện tiên quyết để phát triển lòng vị tha, sự thông cảm, sự thừa nhận và trân trọng tình yêu đích thực khi mình tìm thấy nó. 

5. Được đám đông cổ vũ 

Hãy làm một điều gì đó đáng để mọi người cổ vũ như ghi một bàn thắng cho đội bóng của mình, biểu diễn một tiết mục trước toàn công ty, ta sẽ được nếm thử cảm giác làm một người nổi tiếng. 

6. Lưu giữ một bài báo 

Tại một số thời điểm trong cuộc sống, ta hãy làm theo những tấm gương đã thành đạt, từ nghệ sĩ, nhà văn cho tới thủ tướng nhờ cách giữ những bài báo viết về họ phù hợp với những quan điểm, suy nghĩ và đánh giá của mình. 

7. Tin vào linh cảm 

Sẽ là tuyệt vời nếu ta có tất cả các dữ liệu để có thể lựa chọn một điều gì đó, nhưng không phải cuộc sống lúc nào cũng rõ ràng như 1+1=2. Đôi khi mình cần phải tin vào bản năng của mình và “liều lĩnh” quyết định. Tuy nhiên, rất có thể ta sẽ đi đến một cái đích thú vị hơn nhiều so với đi theo con đường của logic. 

8. Cho đi một điều gì đó 

Cuộc sống của mình viên mãn và hạnh phúc. Hãy dùng thời gian, tài năng và những đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình để giúp đỡ những người kém may mắn. Ta không chỉ cải thiện cuộc sống của những người trực tiếp tiếp xúc, mà còn làm giàu cho cộng đồng và cho chính bản thân mình . 

9. Thiết kế và xây một ngôi nhà 

Ta không cần ép cuộc sống của mình vào không gian do một người không hiểu rõ nhu cầu của mình thiết kế. Dù đó là ngôi nhà trong mơ của mình hay chỉ góc phòng ta muốn thư giãn cuối tuần, ít nhất hãy thiết kế một không gian theo đúng ý mình . 

10. Làm một bữa ăn với những thực phẩm do tự tay ta nuôi trồng 

Hầu hết chúng ta đều không suy nghĩ nhiều đến việc cần bao nhiêu công sức để sản xuất ra các thực phẩm chúng ta yêu thích và tiêu thụ mỗi ngày. Hãy thử một lần tự trồng rau, nuôi gà, không chỉ được ăn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng mà mình còn hiểu hơn về nỗi vất vả của người nông dân. 

11. Mua một tác phẩm nghệ thuật mà mình yêu thích 

Mua một tác phẩm nghệ thuật khi nó vừa xuất hiện có thể là một sự đầu tư nhưng cũng có thể lãng phí, nhưng ít nhất một lần trong đời ta nên mua một tác phẩm theo tiếng gọi của trái tim chứ không phải của túi tiền. Hãy quên đi chi phí và giá trị mà mình có thể thu được khi bán lại nó, hãy mua một tác phẩm chỉ đơn giản vì mình thích nó. 

12. Cắm trại ở nơi hoang dã 

Dựng lều ở sân vườn hay cắm trại tại công viên thành phố đều rất vui. Nhưng cuộc phiêu lưu đúng nghĩa chỉ diễn ra khi mình trở về với thiên nhiên hoang dã. Hãy đề lại cuộc sống văn minh phía sau lưng và chỉ dựa vào chính mình cùng những người bạn đồng hành với mình, ta có thể khám phá ra nhiều khả năng và phẩm chất của mình mà mình chưa từng nghĩ đến. 

13. Nghỉ phép dài hơi 

Rất nhiều người mơ về một năm không làm việc nhưng rất ít người dám biến điều đó thành hiện thực. Hãy là một người biết lao động và biết nghỉ ngơi. Hãy tiết kiệm tiền và viết đơn xin nghỉ phép, dù đó là cả năm hay chỉ một tháng để đi du lịch, theo đuổi niềm đam mê và lập kế hoạch cho chương tiếp theo trong cuộc đời của mình. 

14. Làm một món đồ 

Hãy dành thời gian tìm hiểu về nghề mộc và chế biến gỗ. Sau đó ta có thể tự mình đóng cho mình một chiếc bàn, chiếc ghế hay một cái giá sách. Đồ mộc do tự tay ta làm bao giờ cũng có giá trị hơn những món đồ ta mua ở cửa hàng. Nó cũng không cần phải hoàn hảo để trở thành một món đồ gia truyền. 

15. Đi lặn 

Hơn 70% bề mặt trái đất được bao phủ bởi nước. Hãy khám phá vẻ đẹp của thủy giới bằng một cái mặt nạ và vây cá đi lặn. 

16. Nuôi thú cưng

 

Con vật nuôi yêu thương chúng ta vô điều kiện, chúng cũng có thể dạy cho chúng ta cách sống và yêu thương đồng loại tốt hơn.

 

17. Thực hiện một hoạt động từng khiến mình sợ hãi

 

Leo núi, đi tàu lượn khổng lồ, đứng trên ban công tòa nhà 70 tầng nhìn xuống mặt đất… hãy làm một điều gì đó mà mình vẫn thường sợ hãi. Hãy thử chinh phục nỗi sợ hãi của mình và mình sẽ thấy mình trưởng thành rất nhiều.

 

18. Hãy đứng dậy

 

Hãy đứng lên và nói những điều chống lại sự bất công. Nếu mình biết mình đúng, hãy hành động với lòng dũng cảm và bất chấp rủi ro.

 

19. Làm công việc mà mình thực sự quan tâm

 

Tất cả đều rất bình thường, chúng ta lựa chọn một công việc dựa trên mức lương mình nhận được hoặc danh vọng đi kèm. Quá ít người đủ may mắn để làm có thể làm công việc thực sự có ý nghĩa với họ. Hãy thử một lần trong đời, làm đúng công việc mà mình yêu thích

 

ĐỜI SỐNG 

Một trong số những người lập nên danh sách cho biết: "Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong danh sách top 50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì nắm trong tay nhiều của cải vật chất. Và đó là chính xác là ý nghĩa của việc “sống một cuộc sống trọn vẹn”.

 

Theo quan niệm của mình, người Anh tin rằng nếu giảm cân nặng được 14 pound (tương đương 6,4kg), biểu diễn trực tiếp trên sân khấu, đi du lịch đến 25 quốc gia khác nhau và thu nhập nhiều hơn so với tuổi của mình là những điều kiện quan trọng để “sống một cuộc sống trọn vẹn”. Dành thời gian chơi với trẻ nhỏ, trải qua cảm giác tình một đêm và tiệc tùng thâu đêm được bổ sung thêm vào danh sách mới liệt kê 50 điều cần làm ít nhất một lần trong hành trình tìm kiếm tình yêu đích thực và tiến tới cuộc sống vợ chồng.

 

 

"Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong danh sách top 50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì nắm trong tay nhiều của cải vật chất.

 

 Sau cuộc điều tra trên 2.000 người ở độ tuổi trưởng thành về điều mà họ cảm thấy sẽ góp phần làm cuộc sống trở nên “trọn vẹn”, các nhà nghiên cứu đã soạn ra một danh sách, bao gồm cả việc nhảy bungee (là hoạt động nhảy tạo cảm giác mạnh từ một điểm cố định trên cao từ 31 đến 183 m, chân người nhảy được giữ bằng một sợi dây co giãn), hẹn hò một ai đó thú vị nhưng hoàn toàn không phù hợp với mình, và đi nghỉ hai lần mỗi năm, v.vv…

 

Nhưng nghiên cứu cũng cho thấy hầu như những người được hỏi chỉ mới thực hiện 8/50 việc được nêu trong danh sách trên, và chỉ có 23% số người tham gia cuộc điều tra tin rằng họ đã "sống một cuộc sống trọn vẹn”.

 

Nếm thử tất cả các món ăn, trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau, đạt được một trình độ học vấn nhất định, sở hữu một con vật cưng và ghé thăm tất cả các di tích lịch sử cũng được coi là những việc làm “cần thiết”.

 

Một trong số những người lập nên danh sách cho biết: "Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong danh sách top 50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì nắm trong tay nhiều của cải vật chất. Và đó là chính xác là ý nghĩa của việc “sống một cuộc sống trọn vẹn” – điều đó sẽ đến khi mình có thể tận hưởng từng giây phút, khoảnh khắc của cuộc sống, từ những cảm giác mạnh và những cuộc phiêu lưu tới thói quen thường nhật mỗi ngày.

 

 

Một phần ba số người được hỏi tin rằng họ sẽ có một cuộc sống trọn vẹn khi họ bắt đầu làm việc để sống thay vì sống để làm việc. Đối với nhiều người, dành nhiều thời gian cho những hoạt động bên ngoài sẽ là yếu tố giúp họ có một cuộc sống trọn vẹn, ví dụ như việc đặt vé cho chuyến đi du lịch vào phút cuối cùng, có can đảm để đi du lịch một mình và tiêu tiền không tiếc tay trong các chuyến đi mua sắm.

 

Trong khi đó, 12% số người được hỏi muốn mình có cơ hội trở thành anh hùng khi cứu sống được một ai đó, và 26% muốn được gia đình và bạn bè nghĩ tốt về mình. Ngoài ra, để có một cuộc sống trọn vẹn, ta cũng nên sắm cho mình một chiếc xe tốt, lập gia đình, trả hết nợ nần và đạt được một vị trí nào đó trong xã hội.

 

Dành thời gian cho gia đình và bạn bè, xem mỗi ngày như đó là ngày cuối cùng của mình và đạt đến đỉnh cao sự nghiệp mà mình mong muốn ở tuổi 40 cũng không nằm ngoài danh sách trên. Nghiên cứu cho thấy 65% người được hỏi cho biết họ không có một cuộc sống trọn vẹn bởi họ không có khả năng, trong khi 38% nói rằng lý do là vì họ không có thời gian. Chỉ chưa đầy 4/10 người nói rằng họ phải có trách nhiệm với những người xung quanh và điều này đôi khi ngăn cản họ thực hiện giấc mơ của mình, trong khi 17% tỏ ra quá sợ hãi để đối mặt với thách thức. Chỉ có 3/10 người tự nhận mình có máu phiêu lưu, trong khi 85% nói rằng nếu không phải bận tâm đến tiền bạc thì họ sẽ cố gắng để đạt được nhiều hơn những điều được nêu trong danh sách top 50.

 

Các nhà nghiên cứu có chung quan điểm: “Nhân vật Pi (trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Cuộc đời của Pi của nhà văn người Canada Yann Martel) đã buộc phải đưa ra quyết định không chỉ để tồn tại mà để sống. Có vẻ như trong cuộc sống thực, con người đang đối mặt với những sự lựa chọn đơn giản hơn nhiều nhưng họ vẫn phải đương đầu với một thách thức lớn trong cuộc tìm kiếm cảm giác được sống một cách thực sự trọn vẹn”.

 

50 cách giúp mình có một cuộc sống trọn vẹn

1. Ngừng lo lắng về tiền bạc

 

2. Ngừng lo lắng về suy nghĩ của người khác

 

3. Đi nghỉ 2 lần mỗi năm

 

4. Tận hưởng những phút giây vui vẻ trong đời

 

5. Trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau

 

6. Làm việc để sống thay vì sống để làm việc

 

7. Trả hết nợ nần

 

8. Thành thực với chính bản thân mình

 

9. Quan tâm đến những gì ta có thay vì những gì ta không có

 

10. Dùng tiền để có thêm nhiều trải nghiệm hơn là dành dụm cho những lúc khó khăn

 

11. Dành thời gian cho gia đình và bạn bè

 

12. Nếm thử tất cả các món ăn

 

13. Tìm kiếm tình yêu đích thực

 

14. Đi du lịch đến ít nhất 25 quốc gia khác nhau

 

15. Ra ngoài nhiều hơn

 

16. Học một ngôn ngữ mới

 

17. Được gia đình và bạn bè nghĩ tốt về mình

 

18. Giúp đỡ các thành viên trong gia đình khi học thực sự cần đến mình

 

19. Giảm 14 pound cân nặng

 

20. Xem mỗi ngày như thể là ngày cuối cùng của mình

 

21. Đến thăm tất cả các di tích lịch sử

 

22. Đặt vé đi du lịch vào phút cuối cùng

 

23. Tham gia hoạt động thiện nguyện

 

24. Nhận lời thách thức

 

25. Tham gia một chuyến đi săn

 

26. Vung tiền vào một cuộc đi mua sắm, chỉ bởi mình có thể làm điều đó .

 

27. Học một nhạc cụ mới

 

28. Kéo dài cuộc sống hôn nhân trên 20 năm

 

29. Có đủ tiền để cho các cháu chắt

 

30. Lập gia đình

 

31. Kiếm nhiều tiền hơn số tuổi của mình

 

32. Nuôi một con thú cưng

 

33. Lái một chiếc xe tốt

 

34. Đi du lịch một mình

 

35. Nuôi dạy con cái một cách khéo léo

 

36. Gặp gỡ những người lạ

 

37. Đến một địa điểm lạ

 

38. Trải qua cuộc tình một đêm

 

39. Thi đỗ bằng lái xe

 

40. Đạt được một trình độ học vấn nhất định

 

41. Cứu sống ai đó và mình sẽ là người hùng

 

42. Hẹn hò với ai đó thú vị nhưng thực sự không phù hợp với mình

 

43. Được thăng chức

 

44. Đạt tới đỉnh cao sự nghiệp mà mình mong muốn ở tuổi 40

 

45. Tiệc tùng thâu đêm

 

46. Biểu diễn một tiết mục nào đó trên sân khấu trước những người khác

 

47. Hôn một người lạ

 

48. Lên kế hoạch cho một bữa tiệc bất ngờ

 

49. Chơi những môn thể thao gây cảm giác mạnh như nhảy dù hoặc nhảy bungee

 

50. Dành thời gian chơi với trẻ nhỏ, ngay cả khi chúng không phải là con mình.

 

10 ĐIỀU NÊN LÀM ĐỂ CUỘC SỐNG CỦA MÌNH TỐT ĐẸP HƠN

Cuộc sống luôn đầy rẫy thách thức, dù muốn hay không thì chúng ta cũng phải chấp nhận sự thật ấy. Ai cũng sẽ trưởng thành, phải giữ gìn sức khỏe và lao động kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và thậm chí là lo toan cho cả gia đình, đồng thời phải trụ vững được trước các loại áp lực và những thứ phiền phức khác.

 

Những điều đó rất dễ khiến mình rơi vào bế tắc hoặc không thể tập trung suy nghĩ và suy xét thấu đáo được điều gì nên làm, điều gì không, tinh lực hao tổn mà sinh bệnh. Nhưng may thay, chúng ta sở hữu một trong những điều tuyệt vời nhất của cuộc sống đó là khả năng cải biến bản thân và thích nghi hoàn cảnh.

 

Nếu mình cảm thấy mình đang bị kẹt trong một trạng thái tồi tệ nào đó thì hãy ngay lập tức thử làm 10 điều dưới đây để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

 

1. Chú trọng tới sức khỏe

Có hai lý do quan trọng để mình cần quan tâm chăm sóc sức khỏe của bản thân. Một là, nếu mình không quan tâm tới sức khỏe của mình thì thực ra ta đang bỏ mặc cuộc sống của chính mình. Hai là, nếu mình chăm sóc bản thân tốt thì tinh thần của mình cũng sẽ tốt hơn.

Ta không cần phải trông giống những người mẫu trên truyền hình với thân hình sáu múi, chỉ đơn giản ta nên làm những việc khiến cho cơ thể mình khỏe mạnh. Hãy dành thời gian mỗi tuần cho thể dục thể thao, ăn uống lành mạnh và dinh dưỡng hợp lý. Điều này không những giúp mình tươi trẻ hơn mà còn cung cấp cho mình năng lượng sống dồi dào hơn mỗi ngày.

 

2. Dành thời gian cho những người đối xử tốt với mình.

Người ta thường nói rằng mỗi người là trung bình của 5 người mà họ dành nhiều thời gian nhất. Dù cho mình có thân cận với một số người nhất định, thì mình cần phải thành thật với bản thân rằng có thể họ tốt hoặc cũng có thể là không tốt với mình. Nếu họ không tốt với mình thì mình nên dành ít thời gian cho họ. Nghe có vẻ hài hước, nhưng thực tế là mình hoàn toàn có quyền quyết định mình muốn dành thời gian cho ai. Bởi vậy, ta hãy suy xét về điều này.

Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng lượng và truyền lửa để mình sống tốt, hạnh phúc và làm việc hiệu quả hơn. Hãy sớm lên lịch để tới thăm và gặp gỡ họ.

 

3. Đánh giá cách sử dụng thời gian của mình.

Dành cuối tuần để nhìn lại cách sử dụng thời gian của bản thân. Ta đã làm những gì trong tuần vừa qua? Bao nhiêu thời gian cho công việc? Bao nhiêu thời gian cho thông tin quảng cáo và truyền hình?

Việc xem lại những thông tin này giúp mình tái sắp xếp thời gian hiệu quả hơn, việc nào nên giảm và việc gì cần đầu tư nhiều thời gian hơn. Điều này cũng gợi cho mình ý tưởng để có thể dành đủ thời gian cho những công việc mà mình muốn hoàn thành.

Dường như một ngày trôi qua nhanh đến mức chúng ta cảm thấy như mình chẳng có thời gian làm bất cứ điều gì, nhưng thực tế là bản thân mỗi người hoàn toàn có thể ưu tiên những gì mình muốn làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể học bất cứ một kỹ năng mới nào hoặc hoạt động nào đó mỗi ngày nếu ta có sắp xếp chúng một cách khoa học và tối ưu. Và kết quả là bằng cách đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian của mình, ta có thể thay đổi cách thức hoạt động để phù hợp với mục tiêu đặt ra.

 

4. Thường xuyên nhìn nhận lại bản thân.

Cách suy nghĩ và hành xử trước mỗi tình huống trong cuộc sống thường nhật sẽ phản ánh ra chúng ta là ai và chúng ta quan tâm tới điều gì. Việc dành thời gian để nhìn nhận lại bản thân có thể thông qua nhiều phương thức như ghi nhật ký, thiền định hoặc đơn giản là đi bộ hoặc bất cứ cách thức nào mà nó cho phép mình hiểu bản thân mình thấu đáo hơn.

Qua những hành động và cách suy nghĩ của mình, ta sẽ nhận ra có khi nào bản thân đã có hành vi hay lời nào với người khác ngoài mong muốn hay không. Những lần nhìn nhận lại bản thân này sẽ đưa đến một mức độ tự nhận thức cao hơn, rất quan trọng cho sự phát triển bản thân. Hãy nhớ: Đừng để cho những điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều tốt đẹp mà mình đang làm!

 

5. Thử thách bản thân mỗi ngày.

Làm việc hướng tới một mục tiêu nào đó sẽ giúp chúng ta cảm nhận tốt hơn về mục đích sống của chính mình. Do đó, hãy tìm cách để thử thách bản thân mỗi ngày. Thách thức đó có thể là những công việc nhỏ như bắt chuyện với một người lạ, hay mỗi ngày đọc một vài trang sách.

Cũng có thể là những công việc lớn hơn một chút, như tập thể dục một tiếng mỗi ngày trong ba tuần. Thực hiện bất cứ thử thách nào sẽ khiến mình có thể hoàn thành được nhiều hơn những gì ta muốn và khi đó ta sẽ cảm nhận được rõ hơn mục đích của mình.

 

6. Đặt mục tiêu làm việc.

Đặt mục tiêu và làm việc hướng tới mục tiêu đó là cách cụ thể nhất để mình đạt được những gì mình muốn. Xác định được những mục tiêu này cũng giúp mình vạch ra hướng đi rõ ràng và điều chỉnh lại mỗi khi mình nhận ra hướng đi của mình không đúng.

Quan trọng là mình phải thường xuyên đánh giá lại những mục tiêu và xem liệu có còn thực sự phù hợp với hoàn cảnh hiện tại nữa hay không. Điều này có nghĩa rằng đặt ra mục tiêu là khởi điểm để mình sống một cuộc sống có mục đích lớn hơn và cải biến cuộc sống của chính mình.

 

7. Hãy làm những việc mà mình yêu thích

Hiển nhiên là ai cũng tán đồng khi nói rằng mình sẽ tập trung nhiều hơn vào những việc mình yêu thích. Nhưng sự tế nhiều người không làm vậy. Đó là lý do tại sao nhiều người khác không cùng tham gia với họ bởi chính bản thân họ không biết mình yêu thích điều gì.

Hãy xem bản thân yêu thích gì. Hãy nghĩ về những thứ khiến mình thấy hạnh phúc và vui vẻ nhất. Ví dụ như nghe nhạc, chơi thể thao, hòa mình với thiên nhiên hoặc thời gian bên những người thân yêu.

Những hoạt động này sẽ giúp mình khôi phục lại năng lượng và khiến mình hạnh phúc hơn. Vì vậy, chẳng có lý do gì lại không làm những điều đó nhiều lần hơn, hoặc ít nhất là hãy thử để biết mình thực sự yêu thích điều gì.

 

8. Sẵn sàng thay đổi.

Để chuẩn bị tốt cho cuộc sống của mình chúng ta cần phải sẵn sàng thay đổi. Đó là một thử thách với mình vì nó sẽ khiến mình tổn thương, ta phải thừa nhận rằng những việc ta làm hoặc suy nghĩ của mình trong nhiều năm qua lại có thể không phải là tốt cho mình.

Mặc dù ban đầu những thử thách này giống như lột trần từng lớp của mình, nhưng khi mình chấp nhận những thay đổi này, ta sẽ hạnh phúc hơn và trở thành một người tốt hơn.

 

9. Không ngừng học hỏi và khám phá những điều mình quan tâm.

Ngoài việc thử thách bản thân ở những cách thức trên, học tập là một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản thân. Có vô số sách vở, podcast, bài viết, tài liệu và những thông tin khác có thể dạy cho mình những điều mới mẻ. Hãy dành thời gian mỗi ngày để học thêm một chút.

 

Không ngừng khám phá khiến mình phải động não. Quá trình này sẽ mang lại cho mình nhiều niềm vui và mình sẽ học được nhiều điều để áp dụng vào cuộc sống hay công việc, ta cũng có thể tìm được những sở thích mới để theo đuổi lâu dài.

 

10. Hãy yêu thương bản thân dù đang ở trong tình cảnh khó khăn hay sau những quyết định tồi tệ.

Sẽ là một thử thách khi áp dụng 9 cách bên trên để điều chỉnh cuộc sống của bản thân. Để thực sự khiến mình có sự “lột xác”, ta phải học cách trân quý bản thân. Ngưng phán xét bản thân khi có một ngày tồi tệ, hành động vô lý hay chỉ đơn giản là khiến bản thân phải ăn rất nhiều mỗi khi gặp chuyện không vui. Làm những điều này chỉ vô ích!

Thay vào đó, hãy học cách yêu bản thân qua những lần như vậy. Thay đổi thực sự khó khăn và điều đó cần thời gian. Vì vậy, bản phải yêu quý bản thân để vượt qua quá trình này một cách hiệu quả và tốt nhất. Đừng hao tâm tổn trí vào việc ai đó nói hay nghĩ gì về mình. Hãy gắng toàn tâm toàn ý tập trung nghĩ cách làm sao để qua mỗi ngày mình trở thành một phiên bản mới tốt hơn. Yêu quý bản thân sẽ giúp mình vững bước hướng tới việc cải biến cuộc sống của mình tốt lên.

 

 

 

10 ĐIỀU NÊN NHỚ TRONG CUỘC SỐNG

Hãy dành thời gian cho bản thân để biết ta muốn gì và cần gì. Hãy dành thời gian cho bản thân để thử những việc mạo hiểm, dành thời gian để yêu, để cười, để khóc, để học hỏi và tha thứ. Cuộc sống ngắn hơn những gì mình nghĩ.

 

10 ĐIỀU TA CẦN BIẾT TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

 

1. Cuộc sống của mình không phải bắt đầu từ lúc ta sinh ra và kết thúc cho tới khi mình qua đời. Cuộc sống của mình chính là ngay lúc ta đang thở cho tới hơi thở tiếp theo. Hiện tại – ngay ở đây và ngay lúc này – chính là cuộc sống của mình. Vì thế, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bằng sự tử tế và bình an, đừng sợ hãi hay hối tiếc.

 

2. Cuộc đời thật sự rất ngắn ngủi. Đây là cuộc sống của mình và mình phải đấu tranh vì nó. Hãy đấu tranh vì những điều đúng đắn. Đấu tranh vì điều mà mình tin tưởng. Đấu tranh vì những thứ quan trọng với mình. Đấu tranh vì những người ta yêu thương và đừng bao giờ quên nói với họ rằng họ có ý nghĩa nhiều như thế nào với mình.

 

NHỮNG ĐIỀU TA NÊN NHỚ TRONG CUỘC SỐNG

 

3. Những hi sinh của ngày hôm nay sẽ được đền đáp vào ngày mai. Khi nói đến chuyện làm việc chăm chỉ để đạt được một ước muốn nào đó đều đòi hỏi thời gian và sự quyết tâm.

 

4. Khi mình trì hoãn, ta sẽ trở thành nô lệ của ngày hôm qua. Nhưng khi mình chủ động trong bất cứ việc gì, ngày hôm qua sẽ là một người bạn tốt làm động lực để thúc đẩy mình .

 

5. Thất bại là bài học, kinh nghiệm mà mình nhận được. Những điều tốt đẹp sẽ đến với những ai biết hi vọng vào tương lai ngay cả khi họ đã làm cho những người khác thất vọng, với những ai vẫn còn niềm tin đã nếm mùi thất bại, với những ai vẫn biết yêu thương ngay cả khi đã từng bị tổn thương.

 

6. Ta là người quan trọng nhất với chính mình. Hạnh phúc là khi mình cảm thấy hài lòng với bản thân mà không cần bất cứ sự đồng tình từ ai đó. Ta phải đối xử tốt với chính bản thân mình trước khi mình muốn có mối quan hệ tốt với những người khác.

 

7. Hành động của một người nói lên sự thật. Trong cuộc đời mình, ta sẽ gặp rất nhiều người, họ có thể nói những lời tốt đẹp tuy nhiên chỉ có hành động của họ mới nói lên họ là ai. Vì thế, đừng nghe nhiều mà hãy chú ý tới những gì mà người ta làm. hãy chú ý đến hành động của họ, nó sẽ nói thật với mình mọi thứ mà mình cần biết.

 

8. Những hành động tử tế dù rất nhỏ nhoi cũng sẽ làm cho thế giới trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Hãy mỉm cười với những người mà họ đã có một ngày làm việc mệt mỏi, căng thẳng. Hãy luôn tử tế với họ và đối xử tử tế là sự đầu tư duy nhất không bao giờ vô ích.

 

9. Phía sau một cuộc sống tươi đẹp là không ít những đau khổ. Không ai là một con người hoàn hảo. Dù ta có bị tổn thương nhưng ta vẫn sống sót. Hãy nghĩ về một thứ quý giá là mình vẫn được sống, được thở, được suy nghĩ, được tận hưởng và được theo đuổi những gì ta ước mơ, yêu thích.

 

10. Thời gian và trải nghiệm sẽ làm lành những nỗi đau.

 

20 ĐIỀU GIÚP MÌNH XÂY DỰNG CUỘC SỐNG Ý NGHĨA HƠN

 

Tin tưởng nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn, sẻ chia và đồng cảm nhiều hơn là những bài học đầu tiên ta cần nắm rõ trước khi xây dựng một cuộc sống ý nghĩa.

Có một thực tế phũ phàng rõ ràng ai cũng biết nhưng ít người thừa nhận đó là cuộc sống này quá ngắn ngủi. Chúng ta luôn tự cho rằng mình là người mạnh nhất, trẻ nhất, nhiều năng lượng nhất và chính điều ấy đã khiến mỗi người quên mất việc sống trọn vẹn một cuộc sống ý nghĩa thật sự khi còn trẻ như thế nào. Chúng ta thường bị cuốn theo những điều phù phiếm to lớn bên ngoài xã hội. Mãi đến khi mình dừnglại ở một độ tuổi đã đủ chín chắn, đủ trưởng thành, đã nửa cuộc đời, ta mới nhận ra mình đã bỏ lỡ quá nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống và bắt đầu hối tiếc.

Hãy nhớ rằng mình chỉ có duy nhất một lần được sống, vậy nên, tôi khuyên mình hãy sống thật chậm rãi, bước từng bước thật vững chắc, đừng quên vài lận lùi lại để nhìn xem bản thân đang ở đâu, làm được gì, nên khắc phục những gì và cố gắng thêm bao nhiêu. Nếu mình mong muốn một cuộc sống ý nghĩa và không phải hối tiếc về bất cứ điều gì khi đã về già, hãy biết:

 

1. Trân trọng thời gian

Thời gian trôi nhanh hơn khi mình già đi và hầu hết những ai đã bước qua một nửa cuộc đời đều tiếc nuối quãng thời gian trôi qua quá nhanh trước đây. Vậy nên, hãy sắp xếp công việc, gia đình và bạn bè một cách hợp lý, hãy biết trân trọng từng giây phút khi còn trẻ.

 

 

2. Bỏ ngoài tai những dè bỉu của thiên hạ

Việc người khác đánh giá thế nào về mình chẳng có gì phải đáng bận tâm và buồn bã. Việc của mình là sống thật tốt mỗi ngày và nếu mình không cảm thấy xấu hổ với bản thân thì chẳng ai đủ quyền được phán xét mình . Thời gian và năng lượng của mình nên dùng vào những việc mang đến lợi ích cho bản thân thay vì chạy theo những lo lắng sáo rỗng ấy.

 

3. Hoàn thành một mục tiêu nào đó trong cuộc sống

Nhà khoa học có giải thưởng Nobel, nghệ sĩ có giải thưởng Oscar, vận động viên cóhuy chươngOlympic,… ta đương nhiên không cần phải có một giải thưởng quốc tế thật vang dội nào cả, nhưng hãy đặt những mục tiêu cả ngắn hạn lẫn dài hạn trong cuộc sống và cố gắng hoàn thành được chúng. Ta sẽ không biết được cảm giác thực hiện được kế hoạch của bản thân nó tuyệt vời thế nào đến khi mình làm được điều đó.

 

4. Hết mình theo đuổi đam mê của bản thân

Một trong những hối tiếc lớn nhất của nhiều người chính là họ đã không đủ bản lĩnh và kiên trì để theo đuổi đam mê của bản thân trong những tháng ngày tuổi trẻ. Một mức lương lý tưởng, một môi trường an nhàn, một cuộc sống dễ chịu và mình chấp nhận bỏ qua đam mê của mình? Hãy cân nhắc những điều xứng đáng với tuổi trẻ và không phải hối tiếc!

 

5. Cho phép bản thân được làm những điều mình thích

Thay vì cố gắng làm bản thân trở nên hoàn hảo và thú vị hơn bằng cách học lỏm sở thích của người khác, ta chỉ việc sống hết mình với sở thích và đam mê của mình. Mỗi người được sinh ra với những tiêu chuẩn, tính cách và sở trường khác nhau. Có thể ta có năng lực để trở thành một bác sĩ hoặc luật sư trong khi người khác lại có tố chất hội hoạ để trở thành một hoạ sĩ. Ta cần biết bản thân thật sự thích điều gì thay vì bắt chước sở thích của người khác. Hãy nhớ rằng làm điều mình thích là tự do nhưng thích điều mình làm đó mới là hạnh phúc.

 

6. Quan tâm bản thân mình nhiều hơn

Chúng ta luôn tự làm khó chính mình bằng việc học cách làm hài lòng mọi người trong cuộc sống mà quên mất việc quan tâm nhiều hơn đến bản thân. Không ít người nhận ra đã bỏ bê bản thân quá lâu ở độ tuổi không thể cứu vãn nữa. Vậy nên, bằng tuổi trẻ của mình, ta đừng bao giờ xem nhẹ những cảm xúc cá nhân của bản thân, nó ảnh hưởng rất lớn đến tính cách và suy nghĩ của chính mình.

 

7. Và chăm sóc bản thân tốt hơn

Tuổi trẻ thường khiến chúng ta dễ quên đi sức khoẻ. Mãi đến khi đã có tuổi, khi những dấu hiệu sức khoẻ bắt đầu có chiều hướng xấu đi, ta mới cảm thấy tiếc nuối cho sức khoẻ của mình. Sức khoẻ luôn là vấn đề nên được quan tâm hàng đầu, một chế độ dinh dưỡng hợp lý và những bài tập cải thiện sức khoẻ là những gì mình cần thục hiện ngay từ bây giờ.

 

8. Tin tưởng vào bản thân

Cuộc sống này là của mình và cũng chỉ ta mới biết rõ mình đã làm gì và sẽ giải quyết thế nào. Không ai có thể chỉ ra cũng như thay ta quyết định điều gì cả. Dù bản thân đã làm đúng hay không, ta vẫn sẽ cảm thấy thoải mái, nếu đúng nghĩa là mình đã sáng suốt, nếu không thì mình vẫn có thêm những bài học thú vị.

 

9. Và sống thật với cảm xúc của mình

Sẽ đến lúc khi mình nhìn thấy những đứa trẻ lớn lên mỗi ngày và tiếc nuối rằng thời gian trôi qua quá nhanh và mình vẫn còn rất nhiều điều chưa kịp làm cho tuổi trẻ. Vậy nên, để không tiếc nuối về những tháng ngày đã qua, ta hãy sống thật với những cảm xúc của bản thân. Dồn nén cảm xúc chỉ khiến đời sống tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn thôi.

 

10. Dành nhiều thời gian hơn cho những người mình yêu quý

Khi trưởng thành, khi có quá nhiều mối quan hệ bên ngoài xã hội, ta dần sẽ quên mất tầm quan trọng của gia đình, của những người luôn yêu thương mình âm thầm không một đòi hỏi. Không ít người đã để mối quan hệ của bản thân và gia đình ngày càng xa cách và tìm cách hàn gắn khi đã trễ. Hãy nhớ, những ngày cuối tuần không phải để mình tiếp tục mang những việc ở công ty về nhà, hãy dành khoảng thời gian ngắn ngủi ấy để trò chuyện, nấu ăn, đi dạo và chia sẻ nhiều hơn với ba mẹ, anh chị em hoặc con cái của mình.

 

11. Quan tâm đến bạn bè

Không ít người dần xao lãng những người bạn thân để chạy theo những mối quan hệ công việc bận rộn. Tuy nhiên, đồng nghiệp là đồng nghiệp và mình không thể chia sẻ tất cả với một người đồng nghiệp. Bạn bè là điểm tựa cho mình những lúc áp lực và bế tắc. Họ hiểu mình, họ hiểu những khó khăn của mình và sẽ đưa ra cho mình những lời khuyên thiết thực nhất.

 

12. Không bao giờ lừa dối người bạn đời của mình

Áp lực, bất mãn và những gánh nặng xuất phát từ công việc và gia đình luôn khiến mình trở nên cáu gắt, mất bình tĩnh và điều này khiến mình chán ghét chính tổ ấm của mình. Hãy nhớ, những mối quan hệ qua đường luôn hấp dẫn và thú vị hơn cả bởi ở đó không hề có bất kỳ sự ràng buộc nào. Nhưng sau hết, ai mới là người lo lắng khi mình ốm đau, sẻ chia khi mình mệt mỏi, tận tâm trong từng bữa ăn của mình?

 

13. Đừng áp đặt con cái

Không ít những bậc phụ huynh cảm thấy hối tiếc khi họ áp đặt con cái phải trở thành những hình mẫu mà họ mong muốn mà sẵn sàng gạt đi những đam mê và sở thích riêng của đứa trẻ. Dù biết ta luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho chúng nhưng ta có bao giờ đặt mình vào bản thân những đứa trẻ chưa? Chẳng ai muốn người khác sống thay phần cuộc đời mình cả. Vậy nên, thay vì áp đặt chúng, ta hãy mở lòng và chia sẻ với chúng. Những đứa trẻ ngoan luôn biết cách theo đuổi đam mê của chúng mà không quên mất việc làm mình vui lòng.

 

14. Đừng quá an toàn trong công việc

Đến khi về già, ta sẽ nhận ra giá như khi còn trẻ, mình có nhiều bản lĩnh, nhiều sự năng động hơn để thử sức ở nhiều công việc khác nhau. Hãy tự cho bản thân vài năm được phép bay nhảy, hãy cho bản thân một vài lần nhảy việc nếu mình thật sự gặp phải bất mãn và bế tắc đến độ ta không biết nên dừng lại hay tiếp tục. Khi văn phòng và chỗ ngồi quen thuộc không còn đủ sức hấp dẫn kéo ta thức dậy vào mỗi sáng, đúng vậy, đã đến lúc ta cho bản thân một cơ hội mới ở một môi trường mới. Kinh nghiệm và trải nghiệm sẽ cho mình biết đâu là lúc nên dừng lại và ổn định.

 

15. Đừng chỉ biết đến làm việc và làm việc.

Kiếm thật nhiều tiền là điều mà ai cũng muốn dành cả tuổi trẻ để thực hiện. Thế nhưng, hầu hết những người đã dành cả thanh xuân chỉ để làm việc và kiếm tiền là những người mang nhiều những hối tiếc về sau nhất. Cuộc sống ý nghĩa hơn khi mình biết điều hoà giữa công việc và thời gian thư giãn. Rõ ràng, tiền bạc không phải là thước đo duy nhất để đánh giá cuộc sống ý nghĩa hay không?

 

16. Cơ hội luôn hiện diện.

Cứ sau mỗi lần vấp ngã hay thất bại nào đó của bản thân, ta thường tự trách mình đã không biết nắm bắt cơ hội và quyết định sai lầm để cơ hội biến mất. Thực ra, sai lầm đã dạy ta nhiều điều mà bản thân chưa từng được trải nghiệm. Một cuộc sống ý nghĩa vẫn ở đây, những cuộc gặp gỡ mới cũng ở đây và cơ hội thì luôn hiện diện, quan trọng là mình có nhận ra hay không. Chẳng phải chúng ta vẫn hay nói khi cánh cửa này đóng lại nghĩa là một cánh cửa khác sắp mở ra với mình sao?

 

17. Kiềm chế hành động khi đang nóng giận.

Không ít người hành động bộc trực khi đang nóng giận. Tuy nhiên, ta sẽ không tưởng tượng được hậu quả cho hành động mang tính nông nổi và nhất thời ấy lớn đến thế nào đâu. Học cách giữ bình tĩnh và kiếm chế các cảm xúc tiêu cực của bản thân là bài học lớn mà mình nên học được bằng tuổi trẻ của mình.

Kiềm chế bản thân trong những lần nóng giận là điều không phải ai cũng học được trong quãng đời tuổi trẻ của mình.

 

18. Đừng bao giờ để những cãi vả là lý do kết thúc cuộc trò chuyện.

Chúng ta sẽ không thể biết được đâu là lần cuối cùng trò chuyện với một người dù cho đó là người ta yêu quý hay không. Hãy để những cuộc trò chuyện được kết thúc yên bình nhất, dù trước đó có thể là những tranh luận với nhiều ý kiến chủ quan. Ta có biết rằng khi được hỏi ấn tượng của một người với một người, chúng ta thường có xu hướng nhớ đến ấn tượng của buổi gặp mặt hoặc trò chuyện gần nhất với họ không?

 

19. Dám mạo hiểm

Mọi người luôn cho rằng mạo hiểm chính là nguy hiểm. Tuy nhiên, sự mạo hiểm luôn đi kèm với những tính toán thông minh. Một cuộc sống quá an toàn giúp mình tránh được những biến cố nhưng lại vô cùng đơn điệu và tẻ nhạt. Ta thiếu đi tính linh hoạt khi gặp phải một trở ngại nào đấy. Mạo hiểm có tính toán không chỉ giúp mình có những trải nghiệm tuyệt vời mà còn nhìn ra được nhiều hướng giải quyết, nhiều góc nhìn của cùng một vấn đề. Không khó để mình nhận thấy người mạo hiểm luôn dễ thành công hơn những người ngại khó, ngại thử thách.

 

20. Đi nhiều hơn

Những chuyến đi luôn mở ra cho mình nhiều cơ hội và trải nghiệm mới mẻ.

Hãy tìm cơ hội để khám phá những điều thú vị của thế giới bên ngoài bằng những chuyến đi dù ở bất kì độ tuổi nào. Thay vì ngồi than thở không có thời gian, ta nên sắp xếp lại từng công việc của mình và thực hiện những chuyến đi. Du lịch không đơn giản chỉ để thư giãn và nghĩ ngơi, những chuyến đi luôn mở ra cho mình nhiều điều thú vị với những cơ hội mới. Đi nhiều hơn là cách xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

 

NHỮNG ĐIỀU ĐỪNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG

1. Ðừng nên thờ ơ với những gì đã quá quen thuộc với mình. Hãy giữ chắc lấy chúng như những gì quan trọng nhất, vì sẽ có lúc ta cảm thấy tiếc nuối khi những điều thân thuộc ấy mất đi.

2. Ðừng hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.

3. Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ có ta mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình.

4. Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo mình suốt cuộc đời.

5. Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất ta cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm.

6. Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.

7. Đừng để cuộc sống đi qua mắt ta chỉ vì mình đang sống trong quá khứ hay tương lai, mà hãy sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, ta đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.

8. Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho mình sức mạnh để tồn tại ngay khi mình đang bị bỏ rơi.

9. Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình có thể làm được và mình lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó.

10. Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ " giàu có" trong cuộc sống của mình.

11. Đừng để những khó khăn đánh gục mình, hãy kiên nhẫn rồi mình sẽ vượt qua.

12. Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.

13. Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của mình.

14. Đừng chờ đợi những gì ta muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

15. Đừng từ chối nếu mình vẫn còn cái để cho.

16. Đừng ngần ngại thừa nhận rằng mình chưa hoàn hảo.

17. Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, ta mới học được can đảm.

18. Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì mình nghĩ không thể nào tìm ra nó.

19. Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cánh tự do.

20. Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi ta quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu.

 

10 VIỆC TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI NÀY

 

Trong cuộc sống này, có rất nhiều chuyện kiến chúng ta phải suy nghĩ, phiền lòng và thất vọng, hãy học cách đối mặt và giải quyết vấn đề.

Sống trên đời, ai ai cũng có rất nhiều điều không được như ý, rất nhiều thời điểm rơi vào đau khổ tuyệt vọng. Nếu như chúng ta hiểu được ra để buông bỏ và dừng lại những việc không đáng làm thì cuộc đời nhất định sẽ được cải biến tốt hơn.

 

1. Đừng trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề, hãy nhìn thẳng vào khó khăn và cố gắng đi qua.

Mọi người đều biết, để làm được điều này quả thực là không hề dễ dàng. Thật khó để mỗi khi gặp khó khăn lại có thể dùng tâm thái bình thản, tĩnh tại để đối diện với nó.

Nhưng thực sự là khi gặp khó khăn, chỉ có bình tĩnh đối diện với nó thì mới giải quyết được vấn đề, còn trốn tránh nó thì chỉ làm lãng phí thêm thời gian và sự lo lắng cho bản thân mà thôi!

 

2. Đừng cố trở thành một người không phải là mình.

Có một điều mà con người luôn phạm phải đó là luôn nhìn người khác rồi ngưỡng mộ và mong muốn bản thân mình trở thành người ta. Một người xinh đẹp, thông minh, trẻ trung, thành đạt hơn mình… nhưng có một sự thật là họ không phải là mình.

Hãy đừng luôn ao ước trở thành người khác, hãy là chính bản thân mình và cố gắng hết sức mình để trở thành một người tốt, lương thiện, thật thà, bao dung người khác. Khi ấy ta cũng trở thành người “đáng ngưỡng mộ” trong mắt người khác!

 

3. Đừng tự lừa dối bản thân.

Đừng huyễn hoặc để lừa gạt bản thân mình, hãy dùng con mắt chuẩn xác để nhìn nhận bản thân mình. Người luôn tự lừa dối bản thân mình sẽ khó nhận ra được khả năng và vị trí của mình ở đâu. Muốn gặp được những cơ hội tốt, hãy bắt đầu từ việc chân thành đối đãi với chính bản thân mình.

 

4. Đừng lãng phí thời gian vào nhầm người.

Đời người rất ngắn ngủi, cho nên đừng đem những ngày tháng quý giá của mình lãng phí vào nhầm người. Nếu như người khác cần mình, họ sẽ dành cho mình một khoảng không gian.

Nhiều lúc, chúng ta không cần phải “giãy giụa” trong đau khổ mà thay vào đó hãy chọn cách “buông bỏ”. Hãy nhớ kỹ, bạn bè tốt là người luôn xuất hiện bên ta những lúc mình cần. Những người mà khi còn ở vào thời điểm huy hoàng mới đến kết giao thì đó chưa chắc là mình chân chính.

 

5. Đừng mải sống trong quá khứ

Nếu một người cứ mãi đắm mình trong “bóng ma” quá khứ thì người đó sẽ không có cách nào bắt đầu một cuộc đời mới!

 

6. Đừng mãi trách cứ sai lầm của bản thân.

Ta có thể yêu quý nhầm người hay cũng có thể khóc vì những sự việc không đáng nhưng có một điểm là hãy biết tha thứ cho bản thân mình, đừng mãi nhìn vào sai lầm của bản thân để rồi trách cứ mình. Bởi vì những sai lầm ấy, ít nhất nó cũng giúp mình biết tránh khi lần sau gặp lại, từ đó giúp mình trưởng thành hơn.

Hãy nhớ rằng, mỗi một sai lầm hôm nay sẽ là kinh nghiệm trong tương lai giúp mình hoàn thiện bản thân mình, thay vì mãi trách cứ bản thân, chi bằng hãy sửa chữa nó.

 

7. Đừng sợ phạm sai lầm mà không dám làm gì.

Trong cuộc đời, để đạt được thành công, hỏi có mấy người là không từng trải qua sai lầm? Đến một lúc nào đó, ta sẽ nhận ra rằng, đôi khi điều khiến bản thân hối hận “mãi không thôi” không phải làm một việc sai lầm, mà là không dám làm nó.

 

8. Đừng chuyên “thu hoạch” hạnh phúc từ người khác.

Nếu như ta luôn cảm thấy không thỏa mãn về chính bản thân mình thì đứng ở góc độ lâu dài mà xét, cho dù mình ở chung với ai đi nữa, ta cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ.

Cho nên, trước khi ở chung với người khác, ta cần tự làm cho bản thân mình trở nên tốt đẹp. Người ta nói rằng, có yêu bản thân mình mới yêu được mọi người xung quanh.

 

9. Đừng đáp ứng hết nhu cầu của bản thân.

Trong cuộc sống này, những thứ mà chúng ta ngày đêm mong muốn là vô cùng nhiều bởi vì dục vọng của con người gần như là vô tận. Tuy nhiên, những thứ mà thực sự khiến chúng ta thỏa mãn đôi khi lại rất ít và rất đơn giản như nụ cười, sự cho đi… Hãy tu tâm dưỡng thân để biết nhu cầu nào là cần thiết và nhu cầu nào là nên buông bỏ.

 

10. Đừng quá cố chấp để tranh luận.

Có rất nhiều người không nhận thức được rằng mình cũng có sai phạm, mà luôn hy vọng mình vĩnh viễn đúng. Thực tình là đã không biết rằng, điều này là rất nguy hiểm trong các mối quan hệ với người khác.

Ngoài ra nó còn đem lại cho chúng ta và cả người khác áp lực và sự thống khổ lớn. Vì vậy, lúc mà mình muốn vùi đầu mình vào để tranh luận đúng sai, hãy hỏi lại mình xem làm như vậy có thực sự tốt không? Nó thực sự đem lại lợi ích cho cả mình và người khác sao?

Nếu như ta đang làm 1 trong 10 việc trên mà thấy tâm mình bị vướng bận hay có khúc mắc trong lòng, hãy buông bỏ như lời khuyên của đức Phật để được khoan thai hơn nhé!

 

20 ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI

Nếu mình nhận được những lợi ích từ việc lên danh sách những việc cần làm cho bản thân mình như củng cố được mối quan hệ, cân bằng cảm xúc, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên nếu mình muốn đạt được những điều này, ta cũng cần liệt kê ra danh sách những việc ta nên tránh trong cuộc sống của mình.

1.Không lười biếng

2.Đừng thu mình lại trước những thử thách của cuộc sống

3.Đừng đi theo con đường mà người khác muốn mình đi

4.Đừng đợi chờ một thời gian thích hợp để hành động

5.Đừng khoác lên mình một chiếc mặt nạ

6.Đừng trốn tránh con người thật của mình

7.Đừng làm mọi thứ giống như việc vặt

8.Đừng cố gắng chinh phục mọi thứ khi mình chỉ vượt qua được bước đầu tiên

9.Đừng tập trung vào những vấn đề trong quá khứ

10.Đừng suy nghĩ nhiều về những gì mình có thể có được

11.Đừng bao giờ coi thường những điều nhỏ nhặt

12.Đừng cố gắng nắm giữ mọi thứ

13.Đừng bỏ qua những niềm vui hiện tại

14.Đừng nên chỉ nhận cho riêng mình

15.Đừng đợi ai đó có thể làm điều gì cho mình

16.Đừng cho mình luôn luôn đúng trong mọi trường hợp

17.Đừng vội phán xét người khác

18.Đừng nên ghét bỏ một ai đó hoặc một thứ gì đó

19.Đừng đặt điều kiện lên tình yêu của mình

20.Đừng thờ ơ với những tình bạn thân thiết

1.Không lười biếng

Thế giới không nợ ta bất cứ điều gì thế nhưng ta lại nợ thế giới một điều gì đó. Hãy dừng mơ mộng để bắt tay vào hành động. Thay sự lười biếng bằng việc quyết tâm với những mục tiêu rõ ràng. Chỉ đến khi thực sự quyết tâm vì một điều gì đó, ta mới thấy từng giây phút trôi qua có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của mình. Giới hạn của thời gian sẽ khiến mình nhận ra, mình còn có quá nhiều thứ cần làm.

 

2.Đừng thu mình lại trước những thử thách của cuộc sống

Chúng ta làm việc chăm chỉ để cố gắng tránh khỏi khó khăn và những nỗi buồn. Nhưng chúng ta không thể kết thúc chỉ mới một chương sách và mong đợi mình hiểu toàn bộ câu chuyện. Chúng ta không thể kết thúc một chương trong cuộc sống của mình và mong đợi cuộc sống của chúng ta vẫn ý nghĩa. Hãy giữ tất cả các chương cuộc sống của mình còn nguyên vên và tiếp tục lật qua các trang khác. Sớm muộn gì ta cũng sẽ ghép các trang đó lại thành một chương khác của cuộc đời mình, đến lúc đó, ta sẽ hiểu tại sao mọi trang, mọi chương trước đó đều cần thiết.

 

3.Đừng đi theo con đường mà người khác muốn mình đi

Đừng bận tâm người khác nói ta nên làm gì. Hãy dũng cảm tìm kiếm và mang những ý tưởng, những giấc mơ của mình vào trong cuộc sống chính mình. Đừng bao giờ so sánh ta với những người khác, tất cả chúng ta là những cá nhân riêng biệt. Tất cả chúng ta đều cần thời gian để đi hết con đường mình đã chọn. Đó là điều hoàn hảo nhất để trở nên khác biệt.

 

4.Đừng đợi chờ một thời gian thích hợp để hành động

Sẽ không bao giờ ta có được thời gian thích hợp thật sự cho bất điều gì trong cuộc sống. Luôn luôn sẽ có điều gì đó xảy ra trong cuộc sống của mình, ai đó đang đến thăm ta, ai đó đang rời đi sớm, thời gian của năm, thời tiết, tiền, mẹ mình, anh mình,… Bất cứ đó là gì, sẽ luôn luôn có một điều gì hoặc một ai đó thì thầm với mình rằng: Bây giờ không phải là lúc thích hợp. Hãy làm bất điều gì. Đừng đợi thời gian thích hợp đến với mình vì nó sẽ không bao giờ tồn tại.

 

5.Đừng khoác lên mình một chiếc mặt nạ

Ta không thể cho phép mọi người sợ mình . Ta không thể sống cuộc sống chỉ để làm hài lòng tất cả mọi người. Ta không thể sống cuộc sống khi phải lo lắng mọi người đang nghĩ gì về mình. Cho dù đó là mái tóc, là trang phục, những gì mình nói, cảm xúc của mình như thế nào, ta tin vào điều gì hoặc ta có gì,… Ta không thể để sự phán xét của người khác ngăn chặn việc ta là chính mình. Bởi vì nếu mình làm thế, ta không còn là chính mình nữa rồi. Ta chỉ là một người nào đó muốn mình trở thành.

Chúng ta thường sợ thất bại nhưng quên mất rằng thành công luôn bắt nguồn từ đó.

 

6.Đừng trốn tránh con người thật của mình

Thỉnh thoảng ta đối với những vấn đề và cho người ta thấy những khó khăn của mình, sự khó chịu của mình. Nếu mình làm được điều này, nó trở thành một phần trong con người mình . Và một tin tốt là thường thì những lúc khó khăn, ta sẽ biết rõ rằng ai là người sẽ chấp nhận con người thật của mình, ai sẽ không.

 

7.Đừng làm mọi thứ giống như việc vặt

Cuộc sống là một đặc ân, hãy hành động vì đặc ân ấy.Thay vì nghĩ ta phải làm quá nhiều việc thì hãy nói ta được làm tất cả những điều trong cuộc sống của mình. Khi đó những nguồn năng lượng, hạnh phúc và sự hiệu quả sẽ đến với mình.

 

8.Đừng cố gắng chinh phục mọi thứ khi mình chỉ vượt qua được bước đầu tiên

Sẽ không vui khi ngày qua ngày chẳng có điều gì thay đổi trong cuộc sống của mình nhưng khi thật sự nhìn lại, mọi thứ đã khác đi rất nhiều. Hãy nhớ, hành trình ngàn dặm đều bắt đầu bằng những bước rất nhỏ. Vì vậy, hãy bước những bước đầu tiên ngay hôm nay. Ta sẽ không bao giờ phải nối lời hối tiếc.

 

9.Đừng tập trung vào những vấn đề trong quá khứ

Đừng để bóng ma quá khứ  lấn át hết những cơ hội hiện tại hay làm cho mình phức tạp hóa mọi thứ ở tương lai. Trong cuộc sống, những bài kiểm tra thường đến trước những bài học mà mình có thể học được. Chính vì thế, hãy hít thở thật sâu và ngẫm thật kỹ. Quá khứ của mình sẽ không bao giờ là sai lầm nếu mình học được từ nó.

 

10.Đừng suy nghĩ nhiều về những gì mình có thể có được

Ta sẽ không thể biết trước được ta sẽ có được hoặc không có được điều gì. Vì vậy hãy nói thật to rằng: Có một cuộc sống khác tôi có thể có, nhưng tôi đang sống cuộc sống mà tôi đã chọn.

 

11.Đừng bao giờ coi thường những điều nhỏ nhặt

Hãy cố gắng hết sức trong mọi việc dù là nhỏ nhất. Hãy tập trung sức lực trong từng bước để tiến tới mục tiêu mình muốn. Nên nhớ rằng muốn có điều gì đó tốt đẹp cũng cần thời gian. Hãy thật kiên nhẫn ta nhé! Mọi thứ có thể đến cùng lúc, có thể nó không đến ngay tức khắc nhưng cuối cùng ta cũng đạt được điều mình muốn nếu thực sự cố gắng.

 

12.Đừng cố gắng nắm giữ mọi thứ

Cuộc sống luôn luôn thay đổi, mọi thứ không bao giờ ở yên đó. Hãy nhớ rằng, từ bỏ hoặc di chuyển là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Khi thứ này không ở trong cuộc sống của mình có nghĩa là đã đến lúc nó phải rời đi.

 

13.Đừng bỏ qua những niềm vui hiện tại

Nếu mình không coi trọng những gì ta có hiện tại, một ngày nào đó khi đến cuối cuộc sống này, ta sẽ suy nghĩ rằng: Tại sao tôi không sống như thể hôm nay là ngày cuối của cuộc đời? Tại sao tôi không trân trọng tất cả mọi thứ như thế tôi không còn cơ hội nào nữa? Nói cách khác, rồi một ngày nào đó, ta sẽ hối tiếc khi những giây phút tận hưởng cuộc sống hiện tại bị đánh đổi bằng việc tập trung quá nhiều vào tương lai.

 

14.Đừng nên chỉ nhận cho riêng mình

Hãy chia sẻ những gì ta có với những người xung quanh. Có thể nó là vật chất, có thể nó là tấm lòng, sự giúp đỡ hay đơn giản chỉ là nụ cười trao nhau. Cuộc sống này cần lắm những tấm lòng sẻ chia. Khi cho đi  là lúc mình được nhận lại.

 

15.Đừng đợi ai đó có thể làm điều gì cho mình

Nhận ra rằng cuộc sống bắt đầu khi chúng ta thực sự lên tiếng cho những vấn đề quan trọng của chính mình. Hãy nói thật to. Đừng che giấy những suy nghĩ, cảm xúc thật của mình đặc biệt là khi mình muốn tạo nên sự khác biệt. Hãy nói ra những gì mình cần. Hãy làm những gì mình cần phải làm. Ta dũng cảm hơn những gì mình nghĩ, mạnh mẽ hơn những gì mình nhìn thấy và có nhiều khả năng vượt ngoài sức tưởng tượng của mình.

 

16.Đừng cho mình luôn luôn đúng trong mọi trường hợp

Có rất nhiều cách để xác định điều gì là đúng. Vì vậy hãy lựa chọn. Thỉnh thoảng hòa bình và thỏa hiệp sẽ tốt hơn là việc cứ đấu tranh khẳng định mình đúng.

 

17.Đừng vội phán xét người khác

Chúng ta có xu hướng đánh giá người khác thông qua vẻ ngoài và cách cư xử của họ. Hơn nữa những định kiến cũng khiến ta phán xét người khác. Hãy cố gắng phán xét ít lại thay vào đó hãy yêu thương nhiều hơn ta nhé!

 

18.Đừng nên ghét bỏ một ai đó hoặc một thứ gì đó

Nếu mình muốn quên ai đó hoặc điều gì đó, đừng bao giờ ghét bỏ. Mọi thứ ta ghét sẽ nằm sâu trong trái tim và tâm trí mình, nó khiến mình khó chịu. Nếu mình muốn từ bỏ, nếu mình muốn bình an trong tâm hồn, hãy học cách tha thứ.

 

19.Đừng đặt điều kiện lên tình yêu của mình

Chúng ta đều muốn có một tình yêu vô điều kiện nhưng hiếm khi chúng ta cho đi điều đó. Khi mình xem hạnh phúc của người khác là hạnh phúc của mình, đó mới chính là tình yêu thật sự. Khi mình làm điều gì đó cho tình yêu, đừng bao giờ tính toán.

 

20.Đừng thờ ơ với những tình bạn thân thiết

Tôi nghĩ nếu tôi học được điều gì đó từ tình bạn thì đấy chính là sự bền chặt dù có chuyện gì đi chăng nữa. Giữ kết nối, chiến đầu cho tình bạn, và hãy để tình bạn chiến đấu vì mình. Đừng rời đi, đừng sao nhãn, đừng quá bận hay quá mệt để duy trì một tình bạn đẹp. Những người bạn thân thiết là một phần trong chất keo kết nối cuộc sống của mình với người khác nhờ sự tin tưởng nhau. Tình bạn thân thiết tạo nên sức mạnh lớn lao trong cuộc sống này.

 

9 ĐIỀU TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI

Mọi bài học trong cuộc sống đều cần được học một cách cẩn thận. Đó là lý do tại sao ta hãy nói không và đừng bao giờ làm những điều này.

 

Không bao giờ thử hút thuốc. Hút thuốc là một trong những điều ngu ngốc nhất mà con người tự làm. Nếu mình hút thuốc, ta đang dần dần giết chết chính mình.

 

Không bao giờ từ bỏ cha mẹ. Họ đã sinh ra mình, hỗ trợ mình tài chính trong nhiều năm, và hỗ trợ tinh thần khi mình cần. Cha mẹ xứng đáng được tôn trọng nhất và mãi mãi.

 

Không bao giờ để bất cứ ai kiểm soát cuộc sống của mình. Đừng để bất kỳ ai hoặc bất cứ điều gì kiểm soát điều đó. Ta là chủ nhân và là tác giả cuộc sống của mình. Ngoài ra, hãy suy nghĩ về những điều mình có thể kiểm soát hàng ngày như phương tiện truyền thông xã hội, công nghệ và những thói quen xấu.

 

Không bao giờ coi thường sức khỏe. Cố gắng sống càng lâu càng tốt, và không có cách nào tốt hơn để làm điều này là phải khỏe mạnh. Chúng ta nên cố gắng để được khỏe mạnh trong mọi khía cạnh của cuộc sống: thể chất, tinh thần và tình cảm.

 

Không bao giờ đặt công việc lên trên gia đình hoặc bạn bè. Ta cần phải làm việc nhưng cũng cần chia sẻ thời gian với gia đình và bạn bè. Hãy phấn đấu cho sự cân bằng giữa công việc và đời sống xã hội.

 

Không bao giờ chi tiêu nhiều hơn số tiền ta kiếm được. Đừng bao giờ bỏ qua việc tiết kiệm tiền và đầu tư cho tương lai của mình. Ta nên chi tiêu thông minh và khôn ngoan.

 

Không bao giờ quên người đã giúp mình trong những thời điểm khó khăn. Đôi khi, một người lạ có thể giúp mình một điều gì đó, hoặc một giáo sư có thể giúp mình thực hiện một dự án, hãy biết ơn và trả ơn.

 

Không bao giờ từ bỏ giấc mơ của mình, nhưng hãy nhớ, ta phải làm việc gấp ba lần để đạt được điều đó. Nếu mình không có một ước mơ để theo đuổi, bây giờ là lúc để ngồi xuống và nghĩ về điều gì đó mình muốn đạt được.

 

Không bao giờ coi trọng vật chất. Đừng quan tâm đến số tiền mà mình có thể kiếm được. Tình yêu, gia đình, bạn bè luôn luôn quan trọng đối với mỗi chúng ta.

 

12 ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI

 

Trong cuộc sống của mỗi người, để đạt được thành công và hạnh phúc, chúng ta phải làm những điều nên làm và tránh những điều nên tránh. Hãy đọc bài viết dưới đây để xem chúng ta nên tránh làm những điều gì để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn nhé!

 

1.Đừng bỏ cuộc, cứ kiên trì ắt sẽ có hy vọng

Điều đáng tiếc nhất trong cuộc đời, chẳng qua là dễ dàng vứt bỏ thứ không nên vứt bỏ. Cuộc đời này chỉ có một con đường mà chúng ta không thể lựa chọn, ấy chính là con đường bỏ cuộc; chỉ có một con đường mà chúng ta không thể từ chối, ấy chính là con đường trưởng thành.

 

2.Đừng hối hận, ai cũng sẽ mắc sai lầm

Trên thế giới này, không có ai là vĩnh viễn không phạm sai lầm cả. Nếu đã sai rồi, đừng lãng phí thời gian để hối hận. Dùng sai lầm trong quá khứ để trừng phạt bản thân, là tổn thất lớn hơn tổn thất, sai lầm lớn hơn sai lầm.

 

3.Đừng đau lòng, buồn đau chỉ là giây phút ngắn ngủi mà thôi

Trong dòng đời ngắn ngủi, ai cũng phải đối mặt với sinh ly tử biệt. Khi đau lòng và tủi thân, có thể khóc, nhưng khóc xong thì hãy lau mặt, nở nụ cười với chính mình.

 

4.Đừng thất vọng, vẫn còn cơ hội

Tài sản lớn nhất của con người chính là hy vọng, căn nguyên lớn nhất dẫn tới phá sản chính là tuyệt vọng. Người sáng tạo cơ hội là người dũng cảm, người chờ đợi cơ hội là kẻ ngốc. Đừng thất vọng, chỉ cần hy vọng, cơ hội ắt sẽ đến.

 

5.Đừng tức giận, sức khỏe là quan trọng nhất.

Trong cuộc sống sẽ luôn có người làm tổn thương đến mình, đừng tức giận, tức giận là mang sai lầm của người khác đến trừng phạt chính mình. Tâm thái lạc quan, cuộc sống lành mạnh đến từ sự khoan dung, độ lượng, hiểu lòng người.

 

6.Đừng lo lắng, mọi chuyện sẽ tốt lên thôi.

Ông trời đối xử công bằng với tất cả mọi người, đóng cánh cửa này, sẽ mở ra cánh cửa khác cho mình. Hãy tin rằng mưa sẽ không chỉ xối xuống mái nhà của một mình ta, thế giới này luôn có vị trí dành cho mình. Lạc quan, là bước đầu tiên để giải quyết và chiến thắng mọi khó khăn.

 

 

7.Đừng miễn cưỡng, cứ thuận theo tự nhiên là được.

Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện, có thể ta trải qua bao nhiêu nỗ lự cũng không thể đạt được. Chỉ cần ta từng nỗ lực, là có thể nói tiếng không thẹn với lòng rồi. Có những chuyện, nếu quả thực không làm được, vậy thôi bỏ đi, đừng làm khó chính mình.

 

8.Đừng sợ hãi, trời sẽ không đổ sập xuống đâu.

Khi sợ hãi, hãy đặt tâm tư vào những chuyện bắt buộc phải làm, chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Đời người chắc chắn sẽ vấp phải trắc trở, mỗi lần trắc trở là một lần rút ra được bài học kinh nghiệm. Hãy cứ đối mặt với khó khăn, không có cái gì là không thể vượt qua cả.

 

9.Đừng trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề, hãy nhìn thẳng vào khó khăn và cố gắng đi qua.

Nhưng thực sự là khi gặp khó khăn, chỉ có bình tĩnh đối diện với nó thì mới giải quyết được vấn đề, còn trốn tránh nó thì chỉ làm lãng phí thêm thời gian và sự lo lắng cho bản thân mà thôi!

 

10.Đừng cố trở thành một người không phải là mình.

Có một điều mà con người luôn phạm phải đó là luôn nhìn người khác rồi ngưỡng mộ và mong muốn bản thân mình trở thành người ta. Một người xinh đẹp, thông minh, trẻ trung, thành đạt hơn mình… nhưng có một sự thật là họ không phải là mình.

 

 

 

Hãy đừng luôn ao ước trở thành người khác, hãy là chính bản thân mình và cố gắng hết sức mình để trở thành một người tốt, lương thiện, thật thà, bao dung người khác. Khi ấy ta cũng trở thành người “đáng ngưỡng mộ” trong mắt người khác!

 

11.Đừng tự lừa dối bản thân.

Đừng huyễn hoặc để lừa gạt bản thân mình, hãy dùng con mắt chuẩn xác để nhìn nhận bản thân mình. Người luôn tự lừa dối bản thân mình sẽ khó nhận ra được khả năng và vị trí của mình ở đâu. Muốn gặp được những cơ hội tốt, hãy bắt đầu từ việc chân thành đối đãi với chính bản thân mình.

 

12.Đừng lãng phí thời gian vào nhầm người.

Đời người rất ngắn ngủi, cho nên đừng đem những ngày tháng quý giá của mình lãng phí vào nhầm người. Nếu như người khác cần ta, họ sẽ dành cho mình một khoảng không gian. Nhiều lúc, chúng ta không cần phải “giãy giụa” trong đau khổ mà thay vào đó hãy chọn cách “buông bỏ”.

Hãy nhớ kỹ, bạn bè tốt là người luôn xuất hiện bên ta những lúc ta cần. Những người mà khi con ở vào thời điểm huy hoàng mới đến kết giao thì đó chưa chắc là mình chân chính.

 

10 ĐIỀU KHÔNG ĐÁNG ĐỂ LÀM TRONG CUỘC SỐNG

Trong cuộc sống, có những điều chúng ta không thể kiểm soát, cái mà chúng ta có thể thay đổi chính là kiểm soát chính bản thân mình.

 

Chúng ta có quyền lựa chọn nơi dành thời gian và quyết định những gì mình cần làm. Ai cũng chỉ sống một đời, do vậy thật tuyệt vời nếu chúng ta sống một cuộc sống ý nghĩa.

 

 

1. Lãng phí thời gian cho sai người.

Sai lầm lớn nhất mà nhiều người mắc phải là đầu tư quá nhiều thời gian và công sức vào sai người. Cuối cùng, điều mà chúng ta nhận lại chỉ là 2 từ lãng phí, lãng phí thời gian, tuổi trẻ và sức lực. Quỹ thời gian là có hạn, hãy dành nó cho những người thật sự tốt với mình. Làm phong phú cuộc sống của chính mình chính là khoản đầu tư đáng giá nhất.

 

2. Thoát khỏi rắc rối.

Mọi rắc rối trong cuộc sống giống như một phần thiết yếu. Nếu mình không đối mặt và chủ động dẹp bỏ chúng, chúng sẽ càng chất chồng lên nhau và rồi “đè bẹp” cuộc đời mình . Liều thuốc giải độc duy nhất đối với một tình huống khó khăn không phải là chạy trốn hay đối đầu, mà là vượt qua, thoát khỏi nó.

 

3. Trở thành bản sao của người khác.

Nhiều người dành thời gian quý giá nhất của họ để cố gắng trở thành người khác, nhưng thực tế là mình không bao giờ có thể trở thành ai đó. Tất cả những gì ta đang theo đuổi là một cái bóng, một thứ không tồn tại.

Chúng ta không nên cố gắng để trở thành một người khác, mà hãy là chính mình, trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình, đi theo con đường của chính mình thay vì đi theo người khác.

 

4. Sống trong quá khứ.

Có những người cứ luôn hoài niệm về quá khứ, tiếc nuối những gì đã qua. Nhưng, đó là một điều thật lãng phí. Dù ta có quan tâm đến quá khứ nhiều đến đâu đi chăng nữa, quá khứ cũng không thể thay đổi. Hãy tập trung vào những khoảnh khắc hiện tại, để thay đổi tương lai, ta chỉ có thể nắm bắt từng khoảnh khắc của hiện tại.

 

5. Sợ mắc lỗi.

Nhà viết kịch Bernard Shaw từng nói: "Thành công không phải là không bao giờ phạm sai lầm, mà là không tái phạm lỗi đó lần hai”. Nếu cuộc sống phải phạm sai lầm để thành công, thì mình nên mắc lỗi càng sớm càng tốt.

 

6. Sự thiếu quyết đoán.

Ta càng ít do dự và trì hoãn, cuộc sống của mình sẽ tốt hơn. Hãy tin vào khả năng của mình và kiên trì theo đuổi mục tiêu.

Nếu mình do dự trong một thời gian dài và đưa ra quyết định sai lầm, ta sẽ không có thời gian để thử các lựa chọn khác và mất đi cơ hội để thay đổi. Một quyết định quyết đoán thường mang lại kết quả tốt. Ngay cả khi quyết định đó là sai, vẫn còn thời gian. Hãy thử các lựa chọn khác.

Thay vì do dự, hãy đưa ra quyết định một cách quyết đoán và dành nhiều thời gian để sửa lỗi nếu mình mắc lỗi.

Thật không đáng nếu luôn dành thời gian để so sánh mình với người khác.

 

7. So sánh bản thân với người khác.

Không cần phải ghen tị với người khác, cũng không cần so sánh bản thân với người khác, bởi vì mọi người đều đặc biệt, thế giới này không thể tìm đâu ra một người giống như mình .

Một trong những điều ta không nên dành thời gian trong cuộc sống là so sánh mình với người khác, bởi vì điều đó không có nghĩa lý gì. Tất cả những gì ta cần là trở thành người tốt nhất và sống cuộc sống của chính mình.

 

8. Than phiền.

Hãy cố gắng sống một cuộc sống mà không phàn nàn, ta sẽ thấy rằng cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn. Khi mình ngừng phàn nàn, ta đã ngăn cản những cảm xúc xấu hủy hoại cuộc sống của mình.

 

9. Làm những gì mình không muốn làm.

Làm những gì mình muốn làm là một trong những điều thường thấy nhất trong cuộc sống. Cuộc sống nên dành thời gian cho những gì ta nghĩ là quan trọng nhất, để cuộc sống của mình sẽ có giá trị.

 

10. Trì hoãn sự bắt đầu.

Điều đáng tiếc nhất trong cuộc sống là khi mình biết rằng mình có thể bắt đầu làm điều mình thích từ sớm, nhưng vì nhiều lý do mà trì hoãn. Trước cuộc sống mà mình muốn, ta nên theo đuổi nó một cách quyết đoán. Khi mình biết và bắt đầu theo đuổi những gì mình muốn từ sớm, cơ hội thành công của mình càng cao.

 

3 ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM TRONG ĐỜI

Sống ở đời đừng quá đặt nặng mọi thứ, cho được cứ cho

Sống ở đời đừng quá đặt nặng mọi thứ, cho được cứ cho

Vận số của người hạnh phúc phải có 3 chìa khóa này

Liệu mình có đang phạm phải 1 trong những sai lầm này?

 

I.Xây nhà quá to.

“Đừng dại gì mà cả đời thắt lưng buộc bụng, bóp mồm bóp miệng, dành tiền dựng lên một khối beton, sau đó vừa còng lưng trả nợ, vừa tự làm osin lau chùi quét dọn cả ngày. Rồi cuối cùng cũng ra ngoài cánh đồng nằm lạnh lẽo trong 6 tấm ván hoặc chui vào lọ sành.

Đồng ý là phải có nhà cửa đàng hoàng nhưng đừng quá sức.

Thử hỏi, mỗi ngày ta ở nhà mấy giờ đồng hồ và khi ở nhà thì hầu hết là lúc mình nhắm mắt.

Vì thế, nhà… to hay bé, xấu hay đẹp cũng không có gì khác nhau là mấy.”

Cho con cái quá nhiều

“Người Việt Nam có câu “Hi sinh đời bố, củng cố đời con”. Thế nên, nhiều người có bao nhiêu cho con hết. Cho nhiều quá nên con cái chẳng biết tự lo gì, có khi 30 tuổi rồi vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ.

Hơn nữa, nếu mình cho con cái quá nhiều mà không lo được gì cho mình thì về già ta sẽ làm cho con mình phải khổ bởi ta trở thành gánh nặng của chúng, đấy là chưa nói gì đến khi ốm đau, bệnh tật.

Cho con vừa thôi và quan trọng là cho nó thành NGƯỜI, cho khả năng tự lập mới là quan trọng. Có cho nhiều thì cũng đừng cho hết, hãy giữ lại một phần để tự lo cho bản thân khi tuổi cao, sức yếu để con cháu đỡ khổ.

 

II.Tự móc túi mình khi vào bệnh viện.

“Nhiều người chúng ta, cứ mải mê làm ăn, tích cóp mà không nghĩ cách bảo vệ tiền bạc của mình. Vì thế, đến khi vào bệnh viện, thay vì có chỗ họ phải trả tiền cho mình chăm sóc sức khỏe thì hầu hết chúng ta lại phải tự móc túi mình ra mà chi phí.

Đó là lý do đã thoát nghèo rồi lại bị tái nghèo. Khổ thân!”

Dành cả đời để suy nghĩ làm sao để có đủ tiền để sống đủ, để rồi đến cuối đời lại chẳng thể tiếp tục suy nghĩ như vậy nữa, chỉ mong sao có đủ tiền để trả viện phí, trả tiền thuốc men. Làm việc cật lực cả đời, cuối cùng chỉ mong có được một chỗ nằm trong bệnh viện.

 

III.Sức khỏe lúc nào cũng phải được đặt lên hàng đầu.

 Vẫn biết là có tiền thì trang trải được cuộc sống, nhưng không có sức khỏe thì nhiều tiền đến mấy, cuộc sống cũng chẳng vui. Vậy nên, trong cuộc sống, điều gì nên thử thì hãy thử làm, còn điều gì cần tránh thì đừng nên làm để không phải tiếc nuối về sau!

 

Những nhắc nhở ngắn cần thiết cho cuộc sống.

1 - Uống nhiều nước.

2 - Ăn sáng như Vua, ăn trưa như Ông hoàng và ăn tối như Kẻ ăn xin (ăn ít).

3 - Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy.

 

4 - Sống với 3 chữ N: Năng lực – Nhiệt thành - Nhân ái.

5 - Tìm ra thời gian để cầu nguyện.

6 - Chơi trò chơi nhiều hơn.

7 - Đọc sách nhiều hơn so với năm trước.

8 - Mỗi ngày dành 10 phút ngồi yên lặng.

9 - Ngủ tối thiểu 7 giờ.

10 - Vừa đi bộ vừa mỉm cười 10-30 phút mỗi ngày.

11 - Đừng so sánh cuộc đời của mình với cuộc đời của những người khác.

12 - Đừng có những suy nghĩ tiêu cực hoặc nghĩ những điều mà mình không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của mình vào ngay thời điểm hiện tại.

13 - Đừng làm gì quá sức. Phải giữ một giới hạn cho bản thân.

14 - Đừng coi mình quá nghiêm trọng, coi như không ai sánh nổi.

15 - Đừng phí năng lực quý báu vào những chuyện ngồi lê đôi mách.

16 - Hãy biết mơ nhiều hơn ngay khi còn đang thức.

17 - Ghen tỵ là phí thì giờ. Mình đã có tất cả những gì mình cần rồi.

18 - Hãy quên đi những chuyện đã qua. Đừng nhắc người thân nhớ lại những lỗi lầm trong quá khứ. Điều đó sẽ làm tan vỡ hạnh phúc đang có.

19 - Cuộc sống quá ngắn để tốn thời gian căm ghét bất cứ ai. Chớ ghét bỏ ai!

20 - Hãy dàn hòa với quá khứ của mình đẻ tránh làm hỏng cái hiện có.

21 - Không ai nuôi dưỡng hạnh phúc của mình, ngoài chính mình.

22 - Hãy coi cuộc đời là một trường học và mình đang ở đó để học. Những điều khó hiểu chỉ là một phần của chương trình học, chúng xuất hiện rồi biến dần giống như môn Đại số. Nhưng những bài học mình thu nhận được sẽ kéo dài suốt đời.

 

 

CÓ HAI VIỆC KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI

Điều quan trọng nhất mà ta sở hữu trong cuộc đời là gì? Không phải là sự huy hoàng của ngày hôm qua, cũng không phải là hy vọng của ngày mai, mà chính là hiện tại.

Ở ngôi chùa nọ có một vị sư đã ngoài 80 tuổi, trời nắng to vẫn mang phơi nấm hương. Sư trụ trì nhìn thấy, bèn nói: “Ông này, ông đã lớn tuổi vậy rồi, sao phải những chuyện này? Ông không cần phải cực khổ như vậy, tôi có thể tìm người làm thay ông mà!”

 

Vị sư già thoải mái nói: “Người khác không phải là tôi.”

Sư trụ trì lo lắng đáp: “Đúng là vậy, nhưng nếu có làm việc thì cũng đừng chọn lúc nắng chói chang như vậy chứ.”

Vị sư già lại nói: “Ngày nắng không phơi nấm, chẳng lẽ đợi trời râm hay mưa mới phơi hay sao?”

Sư trụ trì không nói gì thêm được nữa.

Người ta thường nói “việc hôm nay đừng để ngày mai”, “việc của mình thì mình làm”, tuy nói thì dễ nhưng làm thì lại rất khó. Chúng ta luôn có thể tìm được rất nhiều lý do để tránh né, nhưng kết quả thì chẳng phải là tự dối mình hay sao? Đời người có hai việc không nên làm, việc đầu tiên chính là “đợi”, việc thứ hai chính là “dựa dẫm”.

 

Lại có câu chuyện về một tiểu hòa thượng như thế này. Năm 9 tuổi, do cha mẹ mất, một cậu bé đã hạ quyết tâm xuất gia, vì thế cậu đã tìm đến sư thầy. Sư thầy hỏi cậu rằng: “Cậu còn nhỏ như thế, tại sao lại muốn xuất gia?”

Cậu bé trả lời: “Tuy con chỉ mới 9 tuổi, nhưng cha mẹ đều đã không còn, bởi vì con không biết tại sao con người ta lại phải chết, tại sao con phải xa cha mẹ, cho nên để hiểu được đạo lý này, con nhất định phải xuất gia.”

Sư cực kỳ khen ngợi chí nguyện này của cậu bé và nói: “Được rồi! Ta đã hiểu. Ta đồng ý nhận con làm đồ đệ, nhưng hôm nay quá muộn rồi, đợi sáng ngày mai ta sẽ xuống tóc cho con!”

Cậu bé nghe xong liền nói: “Thưa sư phụ, tuy người nói sáng mai sẽ xuống tóc cho con, nhưng dù sao con cũng còn là trẻ con ngây ngô, con không dám đảm bảo là ngày mai có còn muốn xuất gia nữa hay không. Hơn nữa, thưa sư phụ, người đã già thế rồi, người cũng không thể đảm bảo được liệu ngày mai người có còn thức dậy hay không ạ.”

Sư nghe lời ông nói xong thì vỗ tay khen hay, đồng thời hài lòng nói: “Nói rất hay! Lời con nói hoàn toàn đúng, bây giờ ta sẽ lập tức xuống tóc cho con.”

 

Nếu như còn có ngày mai thì mình sẽ trang điểm thế nào? Nếu không có ngày mai thì phải nói hẹn gặp lại thế nào đây? Mỗi người chúng ta đều phải đối mặt với sinh lão bệnh tử, trẻ con không biết được liệu có giữ quyết tâm của ngày hôm nay đến ngày mai được hay không, vậy còn ta có thể bảo đảm ngày mai mình còn nhớ kế hoạch ngày hôm nay hay không? Đúng thế, không có ai biết trước được tương lai cả, chúng ta không thể biết được ngày mai đến sẽ mang theo niềm hy vọng mới hay nỗi tuyệt vọng khó lường. Vì thế chúng ta sống phải nỗ lực, đừng để ngày hôm nay trở thành một phần trong quá khứ.

 

Khi ngồi trên bờ sông, Khổng Tử có nói: “Thệ giả như tư phù, bất xá trú dạ” (Luận Ngữ), nghĩa là: Người ra đi mãi không trở lại, ngày đêm mãi không ngừng trôi. Sinh mệnh là không thể chờ đợi được, cuộc đời ngắn ngủi, nên phải biết nắm lấy cơ hội.

 

Điếu quan trọng nhất trong cuộc đời đó là sống mà không cần phải chờ đợi hay dựa dẫm.

 

30 ĐIỀU KHÔNG NÊN TIẾP TỤC LÀM VỚI BẢN THÂN

 “Không ai có thể quay ngược lại thời gian để bắt đầu lại từ đầu, nhưng bất kỳ ai cũng có thể bắt đầu từ ngày hôm nay và tạo ra một kết thúc mới”.

 

1. Đừng mất thời gian với những đối tượng sai lầm.

 

Cuộc sống quá ngắn ngủi, ta không nên dành thời gian với những người chỉ biết hút cạn nguồn hạnh phúc của mình. Nếu ai đó muốn ta có mặt trong cuộc sống của họ, họ sẽ tự dành ra chỗ cho mình. Ta không phải đấu tranh để giành giật lấy một vị trí nào cả.

Đừng bao giờ ép mình vào mối quan hệ với những người coi thường giá trị của mình. Và hãy nhớ, những người bạn thật sự của mình không phải là những người ở bên cạnh ta khi mình thành công, mà là những người ở bên cạnh ta khi mình gặp khó khăn.

 

2. Đừng chạy trốn các rắc rối của mình.

Hãy đối diện với chúng. Đây không phải là việc dễ dàng. Không ai có khả năng xử lý hoàn hảo mọi vấn đề họ gặp phải. Chúng ta cũng không thể ngay lập tức mà giải quyết trọn vẹn một khó khăn. Chúng ta không sinh ra để làm như vậy. Trên thực tế, chúng ta sinh ra để thất vọng, buồn chán, đau khổ, và vấp ngã. Bởi vì đó là toàn bộ mục đích của cuộc sống – đối mặt với vấn đề, học hỏi, thích nghi, và xử lý chúng. Chính điều này đã rèn luyện chúng ta trở thành con người như chúng ta hiện nay.

 

 

3. Đừng nói dối bản thân mình.

Ta có thể nói dối người khác, nhưng ta không thể nói dối chính bản thân mình. Cuộc sống của chúng ta chỉ tiến bộ khi chúng ta nắm bắt các cơ hội; và cơ hội đầu tiên và cũng là khó khăn nhất mà chúng ta có thể nắm bắt lấy là trung thực với chính mình.

 

4. Đừng gác lại các nhu cầu của bản thân.

Điều đau đớn nhất là vì yêu người khác quá mà đánh mất bản thân mình, và quên mất rằng mình cũng là người đặc biệt. Vâng, hãy giúp đỡ người khác; nhưng ta cũng phải giúp đỡ chính mình nữa chứ. Nếu có giây phút nào dành cho mình để mình theo đuổi đam mê và làm điều gì đó quan trọng với mình, thì giây phút đó chính là ngay lúc này đây.

 

5. Đừng cố gắng làm người khác.

Một trong những thách thức lớn nhất trong cuộc sống là làm chính mình trong một thế giới cứ chực biến ta thành người giống như mọi người khác. Lúc nào cũng sẽ có người xinh đẹp hơn mình, thông minh hơn mình, trẻ trung hơn mình, nhưng họ sẽ không bao giờ là mình cả. Đừng thay đổi để mong người khác thích mình. Hãy là chính mình, và sẽ có người yêu con người thật của mình.

 

6. Đừng bận tâm với quá khứ.

Ta không thể bắt đầu một chương mới trong cuộc đời nếu cứ đọc đi đọc lại chương cũ.

 

7. Đừng sợ mắc sai lầm.

Làm việc gì đó rồi mắc sai lầm còn hiệu quả gấp 10 lần so với không làm gì cả. Mỗi thành công đều có một vệt dài những thất bại đằng sau nó, và mỗi thất bại đều dẫn đường tới thành công. Suy cho cùng, ta sẽ hối hận về những điều mình KHÔNG làm nhiều hơn là về những điều mình đã làm.

 

 8. Đừng trách móc bản thân vì những sai lầm đã qua.

Có thể chúng ta yêu nhầm người và đau khổ về những điều không xứng đáng, nhưng dù mọi việc có tồi tệ tới mức nào, thì cũng có một điều chắc chắn: sai lầm giúp chúng ta tìm được đúng người, đúng thứ phù hợp với chúng ta. Chúng ta ai cũng có lúc mắc sai lầm, ai cũng có khó khăn, và thậm chí tiếc nuối về những việc trong quá khứ. Nhưng ta không phải là sai lầm của mình, ta không phải là khó khăn của mình, và ngay lúc này đây, ta có trong tay sức mạnh để xây dựng nên hiện tại và tương lai của chính mình. Mỗi một điều từng xảy ra trong cuộc sống của mình đều góp phần chuẩn bị cho mình đón nhận một khoảnh khắc mới chưa đến.

 

9. Đừng cố công mua hạnh phúc.

Nhiều thứ chúng ta mong mỏi có được có giá đắt. Nhưng sự thật là, những gì thực sự khiến chúng ta hài lòng lại hoàn toàn miễn phí – đó là tình yêu, là tiếng cười, và là những giây phút miệt mài theo đuổi đam mê của mình.

 

 10. Đừng tìm kiếm hạnh phúc ở người khác.

Nếu mình không cảm thấy hạnh phúc với chính con người bên trong của mình, thì mình sẽ chẳng thể nào có được hạnh phúc lâu dài với bất kỳ người nào khác. Ta phải tạo ra sự ổn định trong cuộc sống của mình trước rồi mới nghĩ tới chuyện chia sẻ cuộc sống đó với người khác được.

 

11. Đừng lười nhác.

Đừng nghĩ ngợi quá nhiều, bởi có thể ta sẽ tạo ra một rắc rối không đáng có. Hãy đánh giá tình hình và đưa ra hành động dứt khoát. Ta không thể thay đổi điều mà mình không muốn đối mặt. Tiến bộ bao hàm rủi ro. Chấm hết! Ta không thể đứng một chỗ mà hy vọng mình sẽ tới được đích.

 

12. Đừng nghĩ rằng mình chưa sẵn sàng.

Khi một cơ hội xuất hiện, không có ai cảm thấy mình đã sẵn sàng 100% để đón nhận nó. Bởi vì phần lớn những cơ hội lớn lao trong cuộc đời đều đòi hỏi chúng ta phải phát triển vượt quá “vùng thoải mái” của mình – điều này có nghĩa là ban đầu, chúng ta sẽ không cảm thấy hoàn toàn thoải mái.

 

 13. Đừng tham gia vào các mối quan hệ vì những lý do sai lầm.

Cần phải lựa chọn các mối quan hệ một cách khôn ngoan. Ở một mình còn tốt hơn là giao tiếp với người xấu. Ta không cần phải vội vàng. Điều gì phải đến, sẽ đến – và nó sẽ đến đúng lúc, với đúng người, và vì lý do tốt đẹp nhất. Hãy yêu khi mình đã sẵn sàng, chứ đừng yêu khi mình cảm thấy cô đơn.

 

14. Đừng từ chối những mối quan hệ mới chỉ bởi vì các mối quan hệ cũ không đem lại kết quả tốt đẹp.

Trong cuộc sống, rồi ta sẽ nhận ra rằng mỗi người ta gặp đều có ý nghĩa riêng cho bản thân mình . Một số người sẽ thử thách mình, một số người sẽ lợi dụng ta, và một số khác sẽ dạy dỗ mình . Nhưng điều quan trọng nhất là, một số người sẽ giúp mình thể hiện được khía cạnh tốt đẹp nhất của mình.

 

15. Đừng cố cạnh tranh với tất cả mọi người.

Đừng lo lắng khi thấy người khác giỏi hơn mình. Hãy tập trung vào việc “phá kỷ lục” của chính mình mỗi ngày. Thành công chỉ là một cuộc chiến giữa TA và BẢN THÂN TA mà thôi.

 

16. Đừng ghen tị với người khác.

Ghen tị là hành động đếm các “điểm cộng” của người khác thay vì đếm các “điểm cộng” của mình. Hãy tự hỏi bản thân mình câu này: “Mình có điểm gì mà ai cũng mong có?”

 

17. Đừng than vãn và tự thương hại bản thân.

Các khó khăn xuất hiện trong cuộc sống đều có lý do riêng của chúng – nhằm hướng ta theo một cung đường phù hợp cho mình. Có thể khi khó khăn xuất hiện, ta sẽ không nhận thấy hay không hiểu được điều đó, và có thể đó là một trải nghiệm khó khăn.

Nhưng ta hãy thử nghĩ về những khó khăn mình đã trải qua trong quá khứ mà xem. Ta sẽ thấy rằng, cuối cùng, chúng đã hướng ta tới một địa điểm tốt hơn, trở thành một con người tốt hơn, có tâm trạng hay hoàn cảnh tích cực hơn. Vì thế, hãy cười lên! Hãy cho mọi người thấy rằng mình của ngày hôm nay mạnh mẽ gấp nhiều lần so với mình của ngày hôm qua – và mình sẽ là như thế.

 

18. Đừng giữ mãi những hằn học.

Đừng sống với niềm oán ghét trong tim. Ta sẽ khiến mình đau khổ hơn so với những gì mà người mà mình căm ghét có thể làm với mình. Tha thứ không phải là nói: “Những gì anh đã làm với tôi là chấp nhận được”, mà là: “Tôi sẽ không để hạnh phúc của mình bị hủy hoại vĩnh viễn bởi những gì anh đã làm với tôi”. Tha thứ là câu trả lời… hãy buông ra đi, hãy tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn, hãy giải phóng bản thân mình! Và hãy nhớ, tha thứ không chỉ vì người khác, mà còn vì chính mình nữa đấy. Hãy tha thứ cho bản thân mình, hãy tiếp tục cuộc sống, và cố gắng làm tốt hơn trong tương lai.

 

 19. Đừng để người khác kéo mình xuống vị trí ngang bằng với họ.

Đừng hạ thấp các tiêu chuẩn của mình để thích nghi với những người không chịu nâng cao các tiêu chuẩn của họ.

 

20. Đừng lãng phí thời gian giải thích bản thân cho người khác.

Bạn bè ta sẽ không cần mình phải giải thích gì cả, còn với kẻ thù, thì dù ta có giải thích bao nhiêu họ cũng chẳng tin đâu. Hãy cứ làm những gì mà thâm tâm mình biết là đúng.

 

21. Đừng miệt mài làm đi làm lại một việc mà không có “khoảng ngừng”.

Thời điểm phù hợp để mình hít một hơi thật sâu là khi mình không có thời gian cho việc đó. Nếu mình tiếp tục làm những gì mình đang làm, thì mình sẽ tiếp tục nhận được những gì mà mình đang nhận được. Đôi khi mình cần phải tạo ra cho mình một khoảng cách để có thể nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng.

 

 22. Đừng bỏ qua điều kỳ diệu của những khoảnh khắc nhỏ nhoi.

Hãy tận hưởng những điều nhỏ nhặt, bởi vì biết đâu một ngày nào đó, ta sẽ ngoảnh nhìn lại để rồi nhận ra rằng chúng là những điều lớn lao. Phần tốt đẹp nhất trong cuộc sống của mình sẽ là những khoảnh khắc nhỏ bé không tên khi mình dành thời gian mỉm cười với ai đó quan trọng đối với mình.

 

23. Đừng cố làm mọi thứ trở nên hoàn hảo.

Thế giới thực không vinh danh những người cầu toàn; nó sẽ trao phần thưởng cho những người hoàn thành công việc.

 

24. Đừng đi theo con đường ít bị cản trở nhất.

Cuộc sống không dễ dàng, nhất là khi mình lên kế hoạch đạt được điều gì đó có giá trị. Đừng chọn con đường đi dễ dàng. Hãy làm điều gì đó phi thường.

 

25. Đừng hành động như thể mọi việc đều tốt đẹp trong khi thực tế không phải như vậy.

Suy sụp một lát cũng không sao. Ta không nhất thiết lúc nào cũng phải tỏ ra mạnh mẽ, và cũng không cần phải liên tục chứng minh rằng mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Ta cũng không nên lo lắng về chuyện người khác đang nghĩ gì – hãy khóc nếu mình cần khóc – điều đó cũng tốt cho sức khỏe của mình mà. Càng khóc sớm, ta càng sớm có khả năng mỉm cười trở lại.

 

26. Đừng đổ lỗi cho người khác về các rắc rối của mình.

Khả năng thực hiện được ước mơ của mình tỉ lệ thuận với khả năng ta tự nhận trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Khi trách cứ người khác vì những gì ta đang trải qua, nghĩa là mình đang chối bỏ trách nhiệm – ta đang trao cho người khác quyền kiểm soát phần cuộc sống đó của mình.

 

27. Đừng cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người.

Đó là điều không thể xảy ra, và nếu mình cứ cố công làm như vậy, ta sẽ kiệt sức mất thôi. Nhưng làm cho một người mỉm cười cũng có thể thay đổi cả thế giới. Có thể không phải là toàn bộ thế giới, mà chỉ là thế giới của riêng người đó thôi. Vì thế, hãy thu hẹp sự tập trung của mình lại.

 

28. Đừng lo lắng quá nhiều.

Lo lắng sẽ không giúp giải thoát các gánh nặng của ngày mai, nhưng nó sẽ tước bỏ đi niềm vui của ngày hôm nay. Một cách để mình có thể kiểm tra xem có nên mất công suy nghĩ về điều gì đó hay không là tự đặt ra cho mình câu hỏi này: “Điều này có quan trọng gì nữa không trong một năm tiếp theo? Ba năm tiếp theo? Năm năm tiếp theo?”. Nếu câu trả lời là không, thì nó không đáng để mình bận tâm đâu.

 

29. Đừng tập trung vào những gì mình không mong muốn xảy ra.

Hãy tập trung vào những gì ta thực sự muốn xảy ra. Suy nghĩ tích cực là “tiền đồn” cho mọi thành công vĩ đại. Nếu mỗi sáng ta thức dậy với tâm niệm rằng ngày hôm nay sẽ có điều tuyệt vời xảy ra trong cuộc sống của mình, và mình để tâm chú ý, thì rồi thường là mình sẽ nhận thấy rằng niềm tin của mình là đúng.

 

30. Đừng là người vô ơn.

Dù ta đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi ngày với niềm biết ơn cuộc sống của mình. Ở nơi nào đó, người khác đang đấu tranh trong tuyệt vọng để giành giật lấy cuộc sống của họ. Thay vì nghĩ về những gì ta không có, hãy nghĩ về những gì ta đang có mà người khác không có.

 

10 ĐIỀU TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG.

Trong cuộc sống, đôi khi vì quá vội vàng hoặc tùy tiện, chúng ta vô tình hay hữu ý để lại những tổn thương, khó chịu cho người khác. 10 lời khuyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp mình sống tốt hơn trong cuộc đời này.

1. Ta không nên đánh giá sự tốt, xấu của gia đình khác. Bởi cuộc sống của họ chẳng liên quan gì đến mình cả.

 2. Ta cũng không nên nhận xét hay đánh giá sự tốt xấu của người khác. Bởi tất cả sự đánh giá đều chỉ là tương đối. Ở khía cạnh này có thể đó là xấu, nhưng nhìn ở khía cạnh khác thì họ lại là người rất tốt. Hơn nữa, đôi khi những cái nhìn thấy chưa chắc đã là sự thật.

3. Không nên đưa ra nhận xét về bất cứ ai, du cho đó là người ta ghét cay ghét đắng. Bởi những nhận xét đó có thể làm xấu đi hình ảnh của mình. 

4. Dù ta kiếm được nhiều tiền cũng trớ nên tiêu pha một cách vô tội vạ. Bởi có thể hôm nay ta nhiều tiền nhưng ngày mai chưa chắc tiền vẫn là của mình.

5. Không được “đâm sau lưng” người khác. Điều đó có thể sẽ lặp lại với chính mình.

6. Dù ta đang thăng tiến nhanh chóng, danh vọng tiền tài viên mãn cũng không nên tự mãn. Bởi nếu ngày sau ta thất thế, đó là cơ hội để người khác coi thường mình .

7. Ta không nên ỉ lại vào người khác. Cuộc sống của ai cũng đã quá nhiều áp lực và mệt mỏi rồi. Hãy dành cho nhau những phút giây thư giãn thoải mái, nhẹ nhàng.

8. Ta không nên nổi nóng hay giận dữ bất cứ ai bởi nó sẽ khiến những người xung quanh tránh xa mình .

9. Cho dù là người có tài, ta cũng không nên khoe khoang tự mãn. Bởi khiêm tốn, tự hạ mình xuống một chút là cách để mình nâng giá trị của bản thân lên rất nhiều.

10. Không bao giờ được nhận xét về đức hạnh của người khác bởi chưa chắc ta đã hiểu hết về con người của họ.

 

ĐỪNG CÁC CON NHÉ

Dù con đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi ngày với niềm biết ơn cuộc sống của mình.

1. Đừng mất thời gian với những kẻ là ngợm.

 

Cuộc sống quá ngắn ngủi, con không nên dành thời gian với những kẻ chỉ biết “hút cạn” nguồn hạnh phúc của mình. Nếu ai đó muốn con có mặt trong cuộc sống của họ, họ sẽ tự dành ra chỗ cho con. Con không phải đấu tranh để giành giật lấy một vị trí nào cả.

Đừng bao giờ ép mình vào mối quan hệ với những kẻ coi thường giá trị của con. Và hãy nhớ, những người bạn thật sự của con không phải là những người ở bên cạnh khi con thành công, mà là những người ở bên cạnh khi con gặp khó khăn.

 

2. Đừng chạy trốn các rắc rối của mình

 

Tuy đây không phải là việc dễ dàng, nhưng con hãy đối diện với chúng. Không ai có khả năng xử lý hoàn hảo mọi vấn đề họ gặp phải. Người ta cũng không thể ngay lập tức mà giải quyết trọn vẹn một khó khăn.

 Trên thực tế, người ta sinh ra phải đương đầu với : thất vọng, buồn chán, đau khổ và vấp ngã. … Bởi vì đối mặt với vấn đề, làm cho ta phải: học hỏi, thích nghi, và xử lý chúng. Chính điều này đã rèn luyện người ta trở thành con người hoàn chỉnh hơn.

 

3. Đừng nói dối bản thân mình.

 

Con có thể nói dối người khác ( lưu ý là có thể), nhưng con không thể nói dối chính bản thân mình. Cuộc sống của con chỉ tiến bộ khi  con nắm bắt được các cơ hội. Cơ hội đầu tiên cũng là khó khăn nhất mà con có thể nắm bắt lấy là trung thực với chính mình.

 

4. Đừng gác lại các nhu cầu của bản thân

 

Điều đau đớn nhất là vì yêu người khác quá mà đánh mất bản thân mình, và quên mất rằng mình cũng là người bình thường .Ừ :  giúp đỡ người khác nên làm ; nhưng con phải ưu tiên giúp đỡ chính mình trước chứ. Nếu có giây phút nào dành cho con để theo đuổi đam mê và làm điều gì đó quan trọng với mình, thì giây phút đó chính là ngay lúc này đây.

 

5. Đừng cố gắng làm người khác

 

Một trong những thách thức lớn nhất trong cuộc sống là làm chính mình trong một thế giới cứ chực biến con thành người giống như mọi người khác. Lúc nào cũng sẽ có người xinh đẹp hơn con, thông minh hơn con, trẻ trung hơn con, nhưng họ sẽ không bao giờ là con cả. Đừng thay đổi để mong người khác thích mình. Hãy là chính mình, và sẽ có người yêu con người thật của con.

 

6. Đừng bận tâm với quá khứ

 

Con không thể bắt đầu một chương mới trong cuộc đời nếu cứ đọc đi đọc lại chương cũ.

 

7. Đừng sợ mắc sai lầm

Làm việc gì đó rồi mắc sai lầm còn hiệu quả gấp 10 lần so với không làm gì cả. Mỗi thành công đều có một vệt dài những thất bại đằng sau nó, và mỗi thất bại đều dẫn đường tới thành công. Suy cho cùng, con sẽ hối hận về những điều mình không làm nhiều hơn là về những điều mình đã làm.

 

8. Đừng trách móc bản thân vì những sai lầm đã qua

 

Có thể chúng ta yêu nhầm người và đau khổ về những điều không xứng đáng, nhưng dù mọi việc có tồi tệ tới mức nào, thì cũng có một điều chắc chắn: sai lầm giúp chúng ta tìm được đúng người, đúng thứ phù hợp với chúng ta.

 

Chúng ta ai cũng có những sai lầm, khó khăn, thậm chí cả những hối tiếc trong quá khứ. Nhưng con không phải là sai lầm, khó khăn của mình, và ngay lúc này đây con có trong tay một sức mạnh để xây dựng hiện tại và tương lai của mình. Mỗi một điều từng xảy ra trong cuộc sống của con đều góp phần chuẩn bị cho con đón nhận một khoảnh khắc mới chưa đến.

 

9. Đừng cố công mua hạnh phúc

 

Nhiều thứ chúng ta mong mỏi có được có giá đắt. Nhưng sự thật là, những gì thực sự khiến chúng ta hài lòng lại hoàn toàn miễn phí – đó là tình yêu, là tiếng cười, và là những giây phút miệt mài theo đuổi đam mê của mình.

 

10. Đừng tìm kiếm hạnh phúc ở người khác

 

Nếu con không cảm thấy hạnh phúc với chính con người bên trong của mình, thì con sẽ chẳng thể nào có được hạnh phúc lâu dài với bất kỳ người nào khác. con phải tạo ra sự ổn định trong cuộc sống của mình trước rồi mới nghĩ tới chuyện chia sẻ cuộc sống đó với người khác được.

 

11. Đừng lười nhác

 

Đừng nghĩ ngợi quá nhiều, bởi có thể con sẽ tạo ra một rắc rối không đáng có. Hãy đánh giá tình hình và đưa ra hành động dứt khoát. con không thể thay đổi điều mà mình không muốn đối mặt. Tiến bộ bao hàm rủi ro. Chấm hết! con không thể đứng một chỗ mà hy vọng mình sẽ tới được đích.

 

12. Đừng nghĩ rằng mình chưa sẵn sàng

 

Khi một cơ hội xuất hiện, không có ai cảm thấy mình đã sẵn sàng 100% để đón nhận nó. Bởi vì phần lớn những cơ hội lớn lao trong cuộc đời đều đòi hỏi chúng ta phải phát triển vượt quá “vùng thoải mái” của mình – điều này có nghĩa là ban đầu, chúng ta sẽ không cảm thấy hoàn toàn thoải mái.

 

13. Đừng tham gia vào các mối quan hệ vì những lý do sai lầm

 

Cần phải lựa chọn các mối quan hệ một cách khôn ngoan. Ở một mình còn tốt hơn là giao tiếp với người xấu. con không cần phải vội vàng. Điều gì phải đến, sẽ đến – và nó sẽ đến đúng lúc, với đúng người, và vì lý do tốt đẹp nhất. Hãy yêu khi con đã sẵn sàng, chứ đừng yêu khi con cảm thấy cô đơn.

 

14. Đừng từ chối những mối quan hệ mới

 

Trong cuộc sống rồi con sẽ nhận ra rằng mỗi người con gặp đều có một ý nghĩa, mục đích riêng cho bản thân con. Một số người sẽ thử thách con, một số sẽ lợi dụng con và một số sẽ cho con những bài học. Nhưng điều quan trọng nhất là một số người sẽ giúp con thể hiện khía cạnh tốt nhất của mình.

 

15. Đừng cố cạnh tranh với tất cả mọi người

 

Đừng lo lắng khi mọi người giỏi hơn con. Hãy tập trung vào việc phá kỷ lục của mình mỗi ngày. Thành công là một trận chiến chỉ duy nhất có con và bản thân mình mà thôi.

 

16. Đừng ghen tị với người khác

 

Ghen tị là hành động “đếm” hạnh phúc, may mắn của người khác thay vì của con. Hãy tự hỏi bản thân câu: “Mình có những điều gì mà ai cũng mong muốn có?”.

 

17. Đừng than vãn và tự thương hại bản thân

 

Các khó khăn xuất hiện trong cuộc sống đều có lý do riêng của chúng và tất cả đều hướng con theo một cung đường phù hợp cho bản thân. Có thể con sẽ không nhìn thấy cũng như thấu hiểu mọi thứ vào thời điểm xảy ra.

 

Tuy nhiên hãy nhìn lại những khó khăn mà con đã trải qua trong quá khứ, con sẽ thấy chúng dẫn mình tới những nơi tốt hơn, trở thành con người tốt hơn, có tâm trạng và hoàn cảnh tốt hơn. Vì thế, hãy cười lên! Hãy cho mọi người biết rằng con của ngày hôm nay sẽ mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần so với con của ngày hôm qua – và con sẽ luôn là như thế.

 

18. Đừng giữ mãi những hằn học

 

Đừng sống với những điều mà con ghét. con sẽ tự làm đau bản thân mình hơn là việc những người con ghét đã làm. Tha thứ không phải là việc nói: “Những gì bạn đã làm thì ổn đối với tôi”, mà là nói: “Tôi sẽ không để hạnh phúc của mình bị hủy hoại bởi những gì mà anh đã gây ra cho tôi”.

 

Tha thứ là câu trả lời cho việc hãy buông tay, đi tìm bình an và giải phóng bản thân con. Và hãy nhớ, tha thứ không chỉ dành cho người khác, nó còn dành cho chính con. Hãy tha thứ cho bản thân, tiếp tục sống và cố gắng hơn nữa trong tương lai.

 

19. Đừng để người khác kéo con xuống vị trí ngang cùng với họ

 

Đừng hạ thấp các tiêu chuẩn của mình để thích nghi với những người không chịu nâng cao các tiêu chuẩn của họ.

 

20. Đừng lãng phí thời gian giải thích bản thân cho người khác

 

Bạn bè không cần điều đó và kẻ thù của con cũng không tin vào những điều mà con giải thích. Hãy làm những gì mà trái tim con mách bảo là đúng.

 

21. Đừng miệt mài làm đi làm lại một việc mà không có “khoảng ngừng”

 

Thời điểm phù hợp để con hít một hơi thật sâu là khi con không có thời gian cho việc đó. Nếu con tiếp tục làm những gì mình đang làm, thì con sẽ tiếp tục nhận được những gì mà con đang nhận được. Đôi khi con cần phải tạo ra cho mình một khoảng cách để có thể nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng.

 

22. Đừng bỏ qua điều kỳ diệu của những khoảnh khắc nhỏ nhoi

 

Hãy tận hưởng những điều nhỏ nhoi nhất, bởi biết đâu một ngày nào đó nhìn lại con sẽ thấy đó là điều vô cùng ý nghĩa với mình. Phần tốt đẹp nhất trong cuộc sống của con sẽ là những khoảnh khắc nhỏ bé, không tên mà con dành để mỉm cười cùng với ai đó qua trọng với con.

 

23. Đừng cố làm mọi thứ trở nên hoàn hảo

 

Thế giới thực không vinh danh những người cầu toàn; nó sẽ trao phần thưởng cho những người hoàn thành công việc.

 

24. Đừng đi theo con đường ít bị cản trở nhất

 

Cuộc sống không dễ dàng, nhất là khi con lên kế hoạch đạt được mục đích to lớn nào đó trong cuộc sống. Đừng đi con đường dễ nhất, hãy làm những gì đó khác biệt, phi thường.

 

25. Đừng hành động như thể mọi việc đều tốt đẹp trong khi thực tế không phải như vậy

 

Suy sụp một lát cũng không sao. con không phải tỏ ra lúc nào cũng mạnh mẽ và không cần chứng minh rằng mọi thứ rồi sẽ ổn thôi. con không cần quan tâm tới những gì mà người khác đang nghĩ – hãy khóc nếu con thấy cần – điều đó cũng tốt cho tâm lý, sức khỏe của con. Nếu con càng giải tỏa sớm, nụ cười sẽ càng có khả năng quay trở lại với con sớm hơn.

 

26. Đừng đổ lỗi cho người khác về rắc rối của con

 

Khả năng thực hiện được ước mơ của con tỉ lệ thuận với khả năng con tự nhận trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Khi trách cứ người khác vì những gì con đang trải qua, nghĩa là con đang chối bỏ trách nhiệm – con đang trao cho người khác quyền kiểm soát phần cuộc sống đó của mình.

 

27. Đừng cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người

 

Đó là điều không thể xảy ra, và nếu con cứ cố công làm như vậy, con sẽ kiệt sức. Nhưng làm cho một người mỉm cười cũng có thể thay đổi cả thế giới. Có thể không phải là toàn bộ thế giới, mà chỉ là thế giới của riêng người đó thôi. Vì thế, hãy thu hẹp sự tập trung của mình lại.

 

28. Đừng lo lắng quá nhiều

 

Lo lắng sẽ không giúp giải thoát các gánh nặng của ngày mai, nhưng nó sẽ tước bỏ đi niềm vui của ngày hôm nay. Một cách để con có thể kiểm tra xem có nên mất công suy nghĩ về điều gì đó hay không là tự đặt ra cho mình câu hỏi này: “Điều này có quan trọng gì nữa không trong một năm tiếp theo? Ba năm tiếp theo? Năm năm tiếp theo?”. Nếu câu trả lời là không, thì nó không đáng để con bận tâm đâu.

 

29. Đừng tập trung vào những gì con không mong muốn xảy ra

 

Hãy tập trung vào những gì con thực sự muốn xảy ra. Suy nghĩ tích cực là “tiền đề” cho mọi thành công vĩ đại. Nếu mỗi sáng con thức dậy với tâm niệm rằng ngày hôm nay sẽ có điều tuyệt vời xảy ra trong cuộc sống của mình, và con để tâm chú ý, thì rồi thường là con sẽ nhận thấy rằng niềm tin của mình là đúng.

 

30. Đừng là người vô ơn

 

Dù con đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi ngày với niềm biết ơn cuộc sống của mình. Ở nơi nào đó, người khác đang đấu tranh trong tuyệt vọng để giành giật lấy cuộc sống của họ. Thay vì nghĩ về những gì con không có, hãy nghĩ về những gì con đang có mà người khác không có

 

 

 

 

 

 

 

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...