TÔN TRỌNG PHÁP
Pháp : có nghĩa là "NẮM GIỮ, TUÂN THỦ,VẬN HÀNH", đặc biệt là nắm
giữ tính năng hoạt động của con người. Cách dùng chữ thuật ngữ này rất đa dạng,
và vì vậy, nó mang rất nhiều nghĩa:
- Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử;
- Điều phải làm, nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ;
- Trật tự xã hội, quy củ trong xã hội;
- Điều lành, việc thiện, đức hạnh;
- Sự thật, thật tại, chân lý
- Nền tảng của thế gian và các cõi giới;
- Tín ngưỡng tôn giáo;
- Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lý, về luật tắc;
- Giáo lý, sự giải thích;
- Bản thể, bản tính;
- Căn bản nhân đạo;
Thuộc tính, phẩm
chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa này của thuật ngữ thường được dùng
trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian
thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Họ cho rằng, các pháp không tồn tại
trên cơ sở tự tính này hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được. Không nhận
thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri
chướng. Trong luận lý học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ.
Tổng quát lại,
người ta có thể hiểu Pháp là "tất cả những gì có đặc tính của nó - không
khiến ta lầm với cái khác - có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh
trong đầu óc ta một khái niệm về nó
Pháp vốn được sử dụng trong Ấn Độ giáo, với ý nghĩa là chân lý, thiện pháp. Tương phản với cái thiện là phi pháp. Phật giáo cũng có tư tưởng là thiện pháp nhưng nói rộng hơn thì cái ác, phiền não, khổ, cũng là Pháp. Theo ngài luận sư Giác Âm thì Pháp có 4 nghĩa như: Thuộc tính; giáo pháp; thánh điển và sự vật(bao gồm vật nhìn thấy và không nhìn thấy. Còn đối với Phật giáo nguyên thủy thì pháp bao gồm: Hiện tượng và tâm lý, như ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay duyên khởi cũng là pháp. Đối với khái niệm trong pháp luật, pháp số... thì đó lại là những quỹ phạm của con người trong đời sống cộng đồng. Ví dụ: Khi một người nhìn vào một tượng Phật hay một sự vật nào đó, người đó sẽ sinh khởi các hành động, tư tưởng, ý kiến, đưa ra các giáo lý,... Đó là người đó đang an trụ trong pháp, ta xét ở ví dụ này là người đó sẽ bái lạy tượng Phật mỗi ngày đó là thực hành Phật pháp. Tương tự như vậy, ta sẽ có khái niệm tổng quát hơn về pháp, khi một đối tượng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với một đối tượng, họ sẽ sinh khởi các pháp, nếu hai đối tượng đó ngừng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với nhau thì pháp cũng sẽ dừng.
KHÁI
QUÁT VỀ VŨ TRỤ, HỆ MẶT TRỜI, TRÁI ĐẤT TRONG HỆ MẶT TRỜI
Vũ Trụ là khoảng không
gian vô tận chứa các thiên hà. Mỗi thiên hà là một tập hợp của rất nhiều thiên
thể (như các ngôi sao. hành tinh, vệ tinh, sao chổi,...) cùng với khí, bụi và
bức xạ điện từ.
Vũ Trụ
- Vũ Trụ là khoảng không
gian vô tận chứa các thiên hà.
- Mỗi thiên hà là một
tập hợp của rất nhiều thiên thể (như các ngôi sao. hành tinh, vệ tinh, sao
chổi,...) cùng với khí, bụi và bức xạ điện từ.
- Thiên hà chứa Mặt Trời
và các hành tinh của nó (trong có Trái Đất) được gọi là Dải Ngân Hà.
Hệ Mặt Trời
- Hệ Mặt Trời là một tập
hợp các thiên thể nằm trong Dải Ngân Hà.
- Gồm có Mặt Trời ở
trung tâm cùng với các thiên thể chuyển động xung quanh và các đám bụi khí.
- Hệ Mặt Trời có tám
hành tinh là : Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh,
Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh..
Trái Đất trong hệ Mặt
Trời
- Trái Đất là một hành
tinh trong Hệ Mặt Trời.
- Khoảng cách trung bình
từ Trái Đất đến Mặt Trời là 149.6 triệu km.
=> Khoảng cách đó
cùng với sự tự quay làm cho Trái Đất nhận được lượng nhiệt và ánh sáng phù hợp
để sự sống có thể phát sinh và phát triển.
- Trái Đất vừa tự quay
quanh trục, vừa chuyến động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời.
Nguồn gốc sự sống
Các dạng sống được biết đến sớm nhất trên Trái Đất là các vi sinh vật hóa thạch giả định, được tìm thấy trong các kết tủa thủy nhiệt, có thể tồn tại từ 4,28 tỷ năm trước, tương đối sớm sau khi các đại dương hình thành 4,41 tỷ năm trước và không lâu sau khi hình thành Trái Đất 4,54 tỷ năm trước.
Lịch trình tiến hóa sự
sống
Nguồn gốc sự sống cũng
thường được gọi là quá trình phát sinh sự sống là thuật ngữ để chỉ các lí
thuyết khác nhau về quá trình hình thành và phát triển sự sống trên Trái Đất
Trong các lí thuyết này, phổ biến nhất cho đến nay là những giả thuyết khoa học
cho rằng: đây là quá trình tự nhiên mà sự sống phát sinh từ vật chất không
sống, từ các chất vô cơ thành các hợp chất hữu cơ đơn giản, rồi tiến hoá thành
sinh giới ngày nay. Mặc dù các chi tiết của quá trình này vẫn chưa được biết,
giả thuyết khoa học phổ biến là sự chuyển đổi từ các thực thể không sống sang
các thực thể sống không phải là một sự kiện đơn lẻ, mà là một quá trình tăng
dần độ phức tạp liên quan đến việc tự sao chép phân tử, tự lắp ráp, tự sinh và
sự xuất hiện của màng tế bào. Mặc dù sự xuất hiện của nguồn gốc sự sống là
không gây tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhưng không có mô hình duy nhất được
chấp nhận cho nguồn gốc của sự sống, và bài viết này trình bày một số nguyên
tắc và giả thuyết về cách nguồn gốc sự sống có thể xảy ra.
Các nhà nghiên cứu
nghiên cứu nguồn gốc sự sống thông qua sự kết hợp của sinh học phân tử, cổ sinh
vật học, sinh vật học, hải dương học, sinh lý học, địa hóa học và hóa sinh, và
nhằm mục đích xác định các phản ứng hóa học trước khi có sự sống đã tạo ra sự
sống như thế nào. Nghiên cứu về nguồn gốc sự sống có thể là địa vật lý, hóa học
hoặc sinh học, với các phương pháp gần đây hơn đang cố gắng tổng hợp cả ba môn
khoa học trên, khi sự sống nảy sinh trong những điều kiện khác biệt so với
những điều kiện trên Trái Đất ngày nay. Sự sống hoạt động thông qua hoạt động
hóa học chuyên biệt của carbon và nước và xây dựng phần lớn dựa trên bốn họ hóa
chất chính: lipit (thành tế bào mỡ), carbohydrat (đường, cellulose), axit amin
(chuyển hóa protein) và axit nucleic (DNA và RNA tự sao chép). Bất kỳ lý thuyết
thành công của nguồn gốc sự sống phải giải thích nguồn gốc và tương tác của các
lớp phân tử này. Nhiều phương pháp tiếp cận nguồn gốc sự sống điều tra làm thế
nào các phân tử trên tự sao chép, hoặc các thành phần của chúng ra đời như thế
nào. Các nhà nghiên cứu thường nghĩ rằng cuộc sống hiện tại trên Trái Đất bắt
nguồn từ một thế giới RNA, mặc dù cuộc sống dựa trên RNA có thể không phải là
sự sống đầu tiên tồn tại.
Thí nghiệm Urey-Miller cổ điển năm 1952 và các nghiên cứu tương tự đã chứng minh rằng hầu hết các axit amin, thành phần hóa học của protein được sử dụng trong tất cả các sinh vật sống, có thể được tổng hợp từ các hợp chất vô cơ trong các điều kiện mô phỏng trạng thái của Trái Đất sơ khai. Các nhà khoa học đã đề xuất các nguồn năng lượng bên ngoài khác nhau có thể đã kích hoạt các phản ứng này, bao gồm sét và bức xạ. Các cách tiếp cận khác (giả thuyết "trước tiên về trao đổi chất" tập trung vào việc tìm hiểu cách xúc tác trong các hệ thống hóa học trên Trái Đất sơ khai có thể đã cung cấp các phân tử tiền chất cần thiết cho quá trình tự sao chép. Các phân tử hữu cơ phức tạp xuất hiện trong Hệ Mặt trời và trong không gian giữa các vì sao, và các phân tử này có thể đã cung cấp nguyên liệu ban đầu cho sự phát triển của sự sống trên Trái Đất.
Khởi đầu
Hóa sinh của sự sống có
thể đã bắt đầu ngay sau Vụ Nổ Lớn, 13,8 tỷ năm trước, trong một kỷ nguyên có
thể ở được khi tuổi của vũ trụ chỉ còn 10 đến 17 triệu năm. Giả thuyết
panspermia cho thấy sự sống siêu nhỏ được bụi vũ trụ, thiên thạch, tiểu hành
tinh và các vật thể trong Hệ Mặt trời nhỏ khác đưa đến Trái Đất sơ khai và sự
sống có thể tồn tại trong vũ trụ. Giả thuyết panspermia cho rằng sự sống bắt
nguồn từ bên ngoài Trái Đất, nhưng không giải thích dứt khoát về nguồn gốc của
nó.
Tuy nhiên, Trái Đất vẫn là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến với sự sống, và bằng chứng hóa thạch từ Trái Đất tạo điều kiện hầu hết các nghiên cứu về nguồn gốc sự sống. Tuổi của Trái Đất là khoảng 4,54 tỷ năm; bằng chứng không thể chối cãi sớm nhất về sự sống trên Trái Đất có từ ít nhất 3,5 tỷ năm trước, và có thể sớm nhất là từ kỷ Đại Tiền Thái cổ (từ 3,6 đến 4,0 tỷ năm trước đây), sau khi lớp vỏ địa chất bắt đầu hóa cứng sau Hadean Eon nóng chảy. Vào tháng 5 năm 2017, các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng có thể về sự sống ban đầu trên đất liền ở geyserite 3,48 tỷ năm tuổi và các mỏ khoáng sản liên quan khác (thường được tìm thấy xung quanh suối nước nóng và mạch nước phun) được phát hiện ở Pilbara Craton, Tây Úc. Tuy nhiên, một số khám phá cho thấy sự sống có thể đã xuất hiện trên Trái Đất thậm chí sớm hơn. Tính đến năm 2017, microfossils, hoặc các vi sinh vật hóa thạch, trong các kết tủa thủy nhiệt với tuổi từ 3,77 đến 4,28 tỷ năm tuổi được tìm thấy ở Quebec, trong các hòn đá Canada có thể chứa đựng kỷ lục sống lâu đời nhất trên Trái Đất, cho thấy sự sống bắt đầu ngay sau khi hình thành đại dương 4,4 tỷ năm trước. Theo nhà sinh vật học Stephen Blair Hedges, "Nếu sự sống phát sinh tương đối nhanh trên Trái Đất thì nó có thể phổ biến trong vũ trụ".
SỰ
SỐNG LÀ GÌ ?
Từ lâu, khoa học đã nói
cách định nghĩa xem sự sống là gì, còn những người bình thường thì quen nghĩ:
cái gì không chết là đang sống. Tuy nhiên, với những bước tiến nhảy vọt của
khoa học hiện đại, nhất là sinh học, định nghĩa về sự sống trở nên phức tạp hơn
và là thách thức lớn đối với các nhà khoa học.
Hiện mới lưu hành hai
quan điểm tranh luận: một nghiên cứu về lý thuyết cho rằng vật sống phải có mục
tiêu sinh sản, một có tính thực tiễn nhằm xác định các gien quan trọng tạo ra
một cơ thể sống.
Từ thuyết sức sống đến
các phân tử
Trước hết nhìn lại lịch
sử, theo một bài thuyết trình về Thế nào là sự sống? tháng 0l/2000 của Giáo sư
Francois Jacob, Giải thương Nobel Y học, thì trong nhiều thế kỷ, người ta đã
nghĩ rằng có một lực hoặc một chất mang sức sống phân biệt giữa vật chất sống
và vật chất bình thường và người ta cố gắng phát hiện ra nó. Với Descartes, đã
phát triển tư tưởng đồng quy về thuyết sức sống (vitahsm) theo đó tất cả các co
thể chỉ là những cỗ máy. Hai quan niệm trên rõ ràng tỏ ra không đủ. Đến cuối
thế kỷ thứ XIX, ba thuyết sau đây đã mở ra những triển vọng mới:
Thuyết các mầm bệnh của
Pasteur đã làm rõ vai trò của các cơ thể vi mô trong các bệnh tật mà con người
và động vật mắc phải. Ngoài ra nó cũng chứng minh không hề có chuyện thế hệ tự
phát, vi trùng lại đẻ ra từ vi trùng.
Thuyết tế bào do
Schleiden phát triển ở các loài thực vật và Doschwann phát triển ở động vật đã
xác định tế bào là đơn vị của sinh vật và tìm ra vai trò của tế bào trong việc
tái sinh.
Thuyết tiến hoá của
Darwin đã chỉ ra thế giới sinh vật là kết quả của lịch sử Trái đất, các chủng
loài kế tục lẫn nhau theo cơ chế cua sự lựa chọn tự nhiên.
Đầu thế kỷ XX, có hai
ngành khoa học đã quyết định một hướng bổ sung trong việc nhận thức sinh vật.
Ngành sinh hoá gắn với sự phân tích các thành tố và các phản ứng của tế bào,
làm rõ sự tồn tại trong lòng nó các acid nucleic và các protein. Một số các
chất ấy, các enzym, do vậy được xem nhu dấu hiệu rõ rệt của vật sống. Với di
truyền học, đã thấy được các gen ở bên trong một tế bào và như thế là một cơ
thể. Việc khám phá các gien trỏ thành động lực nghiên cứu về sinh vật.
Giữa thế kỷ XX có sự biến đổi mới: người ta đi đến cho rằng các chất của các cơ thể sống phải được nhất thiết giải thích bằng cấu trúc và sự tương tác của các phân tử hình thành nên cơ thể sống. Ngày nay các nhà khoa học đang ở vào thời kỳ hiểu sâu hơn và khai thác yêu cầu giải mã các phân tử. Nói một cách khác, không còn là vấn đề sự sống được hỏi đến trong phòng thí nghiệm mà là các hệ thống sống, các cấu trúc, các chức năng và lịch sử của chúng ta được phân tích. Và khi sinh học phân tử tập trung khám phá các gen với nhiều thành tựu kỳ diệu thì cố nhiên định nghĩa về sự sống cũng phát triển phức tạp hơn.
Không tái sinh sản được
không phải là sinh vật
Đó là quan điểm của nhà
sinh học Ba Lan Bernard Korzeniewski, làm việc ở Viện sinh học phân tử, Trường
Đại học Jagellon, Cracovie. Theo ông, sự sống được xác định trước hết bởi khả
năng tái sinh sản. Như vậy có vẻ như phi lý, vì thế thì người vô sinh không còn
được coi là sinh vật, con kiến cũng rứa. Trong một cuộc trả lới phỏng vấn mới
đây trên tờ báo Lan Gazeta Wyborcza, ông đã giải thích quan điểm của ông.
Bemard Korzeniewski coi
sinh vật là một tổng thể các cơ chế điều chỉnh hoạt động nhằm bảo tồn nó và
nhân nó lên. Nới đơn giản hơn, mục tiêu duy nhất của một sinh vật là đạt tới độ
tuổi tái sinh sản và tự nhân nó lên. Trong công việc này, nó được các cơ chế
điều chỉnh giúp đõ, đó là những tác động trở lại tích cực và tiêu cực. Các tác
động trở lại tiêu cực tham gia vào việc bảo tồn một nguyên trạng, ví như bộ ổn
nhiệt của tủ làm lạnh, còn các tác động trở lại tích cực góp phần vào việc biến
đổi nó. Định nghĩa này theo ý ông hay hơn các định nghĩa khác, vì nó đụng đến
bản chất của sự sống, lại giản dị, sáng sủa và phổ biến. Các định nghĩa khác
nhấn mạnh đến phương diện cấu trúc của sự sống, đến chất liệu tạo thành các cơ
chế và đến nhiệt động lực của các cơ chế ấy. Định nghĩa của Bernard
Korzeniewski tập trung vào các cơ chế điều chỉnh là mục đích của của sự sống.
Mục đích đó là tái sinh sản sinh vật theo định nghĩa được xem là đối tượng của
sự phát triển, nó chính là cái phát triển trong thực tế. Định nghĩa cho phép
phân biệt rõ giữa những đối tượng là sinh vật và những đối tượng không phải là
sinh vật.
Xét theo quan điểm điều
khiển học, con kiến không phải vật sống, con kiến thọ không sinh sản không hoạt
động cho tương lai phát triển của nó, thế thì làm sao nó đóng góp vào đàn kiến
nói chung. Cả kiến chúa cũng vậy, chỉ toàn bộ đàn kiến mới là đối tượng của sự
phát triển, vì kiến chúa không sống đơn độc, nên nó có liên quan đến một mạng
lưới dày đặc các tác động trở lại tiêu cục. Còn xét về quan điểm phát triển,
con người vô sinh cũng lâm vào bế tắc. Nếu nó không chuyển giao các gen của nó,
và chết mà vẫn giữ lại các gen ấy, thì chẳng khác gì nó không tồn tại.
Cần hiểu sinh vật theo ý
nghĩa điều khiển học.Các đối tượng phát triển có một số xét được một cách riêng
rẽ, một số khác lại phải xét tổng thể. Nhà khoa học nổi tiếng nước Anh Richard
Dawkins cho rằng có các gen "ích kỷ", ông nói "chúng ta là những
cỗ máy nhằm đảm bảo sự sống còn của các gen". Korzeniewski nghĩ là nói đến
tính ích kỷ của các gen không có ý nghĩa gì, khi ta biết rõ đa số các gen phải
hợp tác với nhau đề duy trì sụ sống còn. Chúng phải giúp đõ lân nhau bên trong
một cá thể điều khiển học, gen không phải là đối tượng phát triển mà là cá thể
kia. Sư sống là một thực thể tự sinh sản.
Korzeniewskj nói ông
không sẵn lòng vận dụng định nghĩa của ông vào con người. Nếu ta coi con người
là một tồn tại sinh học thì không có vấn đề gì. Những con người có đặc điểm
riêng là tầm vóc vật lý - sinh học hoà lan với kích cỡ tâm lý - văn hoá, ở một
số người cái sau chi phối cái trước. Và bởi vì tất cả các hiện tượng tâm lý -
văn hóa ở ngoài giới hạn vận dụng định nghĩa điều khiển học về sự sống, con
người sẽ không phải là một phần nằm trong khuôn khố ấy.
Việc con người sống một
cách khác với động vật tuỳ thuộc vào kích cỡ tâm lý - văn hoá, cho nên sẽ là vô
nghĩa nếu muốn đặt con người vào các phạm trù thuần tuý sinh học.
Korzeniewski không đồng
tình với ý kiến nhũng định nghĩa khác nhau về sự sống phản ánh việc vận dụng
khoa học khác nhau. Theo ông, mọi định nghĩa về sự sống phải tuân thủ một số
chuẩn mực. Trước hết nó phải vạch ra ranh giới rõ ràng giữa cái sống và cái
không sống, sau đó những đặc điểm nêu ra chỉ thấy xuất hiện ở các sinh vật, ví
dụ không thể nói mọi sinh vật đều sản xuất các chất hữu cơ, vì có những chất
hữu cơ tồn tại ở một thế giới vô sinh.
Những sinh vật đơn giản nhất ngày nay thì so với những sinh vật tồn tại ngày xưa hồi mới có sự sống trên Trái đất chúng vẫn đơn giản hơn. Xưa chúng sống trong đại dương còn bây giờ chúng sống bên trong các cơ thề sống, có thể nhờ các cơ thể cho chúng cư trú. Khôn bối cảnh sinh học, các virus và viroid sẽ chết. Tạp chí Nêu Scientist có lưu ý độc giả đến lợi ích của lý thuyết Korzeniewski đối với việc khám phá vũ trụ vì nó có thể giúp vào sự hiểu biết các hành tinh còn bí ấn, tuy nhiên ông cũng khiêm tốn cho rằng trong vũ trụ không phải các hình thái sự sống đều đồng nhất. Chúng ta mới thăm dò sự sống qua những biểu hiện trên Trái đất. Chúng ta khám phá những định luật chính vì hoạt động của các cơ chế đã biết, thấy rằng chúng gần như giống nhau mà gen, protein... Ngày nay có một vấn đề đặt ra: những đặc điểm trên liệu có phổ biến không? Có thể rằng một định nghĩa chỉ dựa vào gen và protein sẽ chật hẹp quá chúng ta còn chưa có định nghĩa nào có thể trải rộng tới các vùng khác của vũ trụ. Ông nói ông đã muốn tìm hiểu bản chất của sự sống vượt ra khỏi cái vỏ Trái đất và chỉ giữ lại cái gì thật phổ biến.
Sự sống nằm trong biểu
hiện giản đơn nhất về gen
Khi sự ồn ào xung quanh
việc cắt khúc bộ gen đơn bội con người dịu đi, thì một dự án một cơ bản hơn
đang hình thành, cũng từ cái phòng thí nghiệm ấy tại Maryland nơi phần lớn bản
đồ gen của con người đã được hoàn tất. Trong Viện nghiên cứu bộ gen đơn bội
(TIGR), nhà sinh học Mỹ Scott Peterson cùng với êkip của ông tìm cách thực hiện
một điều chưa từng tính đến trong tự nhiên: tạo ra trong phòng thí nghiệm một
sản phẩm sống cơ bản nhất, với một số lượng tối thiểu các gen cần thiết cho sự sống.
Nghĩa là một sinh vật đơn bào có số gen vừa đủ để sống.
Theo Tạp chí Mỹ
Discover, để chế tạo ra vi trùng ấy, ông phải liên kết một tập hợp gen lựa chọn
và xây dựng một thể nhiễm sắc. Rồi sau đó ông sẽ đặt cái búi ADN vào các tế
bào...Với nhiều lần nhân lên con vi trùng hoàn toàn độc đáo này, sự phát triển
đi tới một bước ngoặt mới . Scott Peterson đã chọn nghiên cứu vi khuẩn giản đơn
nhất trong tự nhiên là Aliycoplasma genitalium trú ẩn ở các trường sinh dục của
con người. Ông tìm đáp số cho 2 câu hỏi cơ bản: một tế bào cần chính xác là bao
nhiêu gen để sống được? Và là những gen nào? Peterson tuyên bố: "Chúng tôi
chế tạo ra một mô hình vật sống, chúng tôi tìm hiểu các đòi hỏi về số gen cần
thiết cho cuộc sống các tế bào. Thử và gạn lọc mãi, ông lập được một danh sách
chừng 300 gen chủ yếu. Chỉ thiếu một trong chúng, mycoplasma sẽ chết. Cuối cùng
mọi khảo nghiệm đưa đến kết luận: cách thức duy nhất để chứng minh có được một
tế bào số gen tối thiểu là phải tự chế lấy, nghĩa là tạo ra một cơ thể hoàn toàn
chưa từng biết đến Trái đất này. Để có được một vật tối thiểu, phải lắp ráp một
nhiễm sắc nhân tạo mà với công nghệ có tên gọi là Gateway Cloning-
Technologydòmichaelbrasch phát triển, đã giúp vào việc sao chép từng gen quan
trọng và tập hợp chúng lại theo đúng trật tự nhằm tái tạo nguyên vẹn bộ gen đơn
bội. Cố nhiên trước đó nhà nghiên cứu phải lụa chọn ra những gien nào thích hợp
để liên kết chúng lại.
Năm 1997, một nhóm các
nhà khoa học Nhật gọi là E-cell đã thử chế tạo ra một tế bào tối thiểu kỹ thuật
số qua máy tính. Mô hình tế bào gồm l27 gen, có khả năng giả vờ sống, nhưng
không tái sinh sản được. Muốn có sự sống thật sự, tế bào phải tự phân chia, mà
đối với tế bào tối thiểu ít gen thời gian càng lâu, mất hàng tháng mới tự phân
chia được và chỉ trong điều kiện chăm sóc của phòng thí nghiệm hiện đại về mặt
dinh dưỡng hay đột biến hoá học, mới duy trì được sự sống cho tế bào tối thiếu
vượt lên các thư thách. Hiện tại mới là như vậy.
Chắc chắn là dự án của
Scott Peterson cùng với các Dự án nghiên cứu khác trong lĩnh vực công nghệ sinh
học sẽ giúp cho ta hiểu rõ hơn các gen cùng nhau hoạt động như thế nào. Và có
thể tới ngày nào đó sẽ dẫn đến chỗ tạo ra một cơ thể đơn bào nhân tạo, bao gồm
các thành tố như ADN, các protein, lipid và chất đường.
Scott Peterson nói: "Tôi tin rằng sẽ có ngày khoa học đạt tới điểm mà chúng ta phải tự hỏi: có nên làm hay không?”. Trong khi ông khẳng định như thế, thì một nhà khoa học nổi tiếng khác là Craig Wnter lại nói: "Trước mắt, cách thức duy nhất để thu được sự sống là xuất phát từ chính bản thân sự sống. Chúng tôi làm việc theo hướng ấy và chúng tôi hãy còn xa mới đạt tới thời điểm quyết định xem liệu có nên tiếp tục tiến xa hơn nữa không?”.
Ba yếu tố cơ bản của sự
sống
Trong nỗ lực khám phá
nguồn gốc sự sống, trước tiên các nhà nghiên cứu phải định nghĩa được sự sống
là gì. Đối với một nhà hóa lý, việc định nghĩa này thật đơn giản, Robert Pascal
đến từ IBMM1 tại Montpellier (Pháp) giải thích: “Sự sống là một hệ thống các
thuộc tính mang lại trạng thái cân bằng khác xa so với trạng thái cân bằng
nhiệt động lực”.
Hơn nữa, một nhà sinh
học không thể hiểu được sự sống nếu không có thuyết tiến hóa của Darwin. Các
chuyên gia tìm hiểu về nguồn gốc của sự sống ít nhiều đều cho rằng sự sống hình
thành từ ba yếu tố cơ bản sau: một là sự trao đổi chất, toàn bộ các phản ứng
hóa học cung cấp cho sinh vật các dưỡng chất và năng lượng; hai là vật liệu di
truyền, bao gồm sơ đồ các cơ quan của sinh vật và giúp thực hiện quá trình tái
sản xuất; cuối cùng là môi trường bên ngoài, giúp phân biệt chính nó với các
nhân tố bên ngoài. Nếu không có một trong ba yếu tố này, có thể sẽ không tồn
tại sự sống. “Khó khăn nằm ở chỗ xác định yếu tố nào có trước”, Purificación
López-García thuộc phòng thí nghiệm ESE2 nghiên cứu về tiến hóa có trụ sở tại
Orsay giải thích.
Các nhà nghiên cứu tin rằng, nếu không có sự trao đổi chất, di truyền học có thể đã không xuất hiện. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng di truyền học xuất hiện trước rồi mới có sự trao đổi chất. “Mặc dù nhiều nhà khoa học nghiêng về giả thuyết thứ hai, vì di truyền học có ảnh hưởng rất lớn đến sinh học hiện đại, nhưng theo tôi nghĩ, các yếu tố này cùng tồn tại từ rất sớm”, Lospez-García cho biết. Một nhà nghiên cứu khác đến từ CBM3, Marylène Bertrand cũng chia sẻ quan điểm của mình: “các đại phân tử sinh học có liên quan lớn đến việc hình thành cả ba yếu tố này và có nhiều khả năng cả ba yếu tố tạo nên sự sống đều có sự phát triển cùng nhau”.
TRÌNH BÀY CÁC DẤU
HIỆU ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SỰ SỐNG
Trao đổi chất: toàn bộ các hoạt động hóa học của cơ thể sinh vật.
Sự nội cân bằng: xu hướng các sinh vật tự duy trì môi trường bên trong ổn định:
các tế bào hoạt động ở mức cân bằng và ổn định ở một trạng thái nhất định.
Sự tăng trưởng: tăng khối lượng chất sống của mỗi cơ thể sinh vật.
Đơn vị tổ chức: cấu trúc được bao gồm một hoặc nhiều tế bào - đơn vị cơ
bản của cuộc sống.
Sự đáp lại: đáp lai các kích thích khác nhau từ môi trường bên ngoài.
Sự sinh sản: gồm sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính
Sự thích nghi: khả năng cơ thể có thể sống bình thường trong một môi trường nhất định.
NHỮNG
BÍ ẨN CỦA CUỘC SỐNG MÀ KHOA HỌC CHƯA THỂ LÝ GIẢI
Mặc dù khoa học đã đưa
những hiểu biết của chúng ta về thế giới sự sống lên một tầm cao mới, nhưng vẫn
có một số điều thách đố tri thức của nhân loại. Dường như càng khám phá về cuộc
sống trên hành tinh này, thì các bí ẩn càng trở nên sâu sắc.
Tại sao bò luôn quay mặt
về hướng Bắc hoặc Nam trong khi gặm cỏ
Hầu hết mọi người không
nghĩ nhiều đến việc chăn thả bò, nhưng khi một nhóm các nhà khoa học quan sát
hàng ngàn bức ảnh vệ tinh từ Google Earth về những con bò, họ tình cờ phát hiện
ra một chi tiết mà cả ngàn năm qua không ai để ý đến: Những con bò sẽ đứng
dọc theo cực từ trường của Trái đất – quay mặt về hướng bắc hoặc nam -
bất cứ khi nào chúng gặm cỏ hoặc nghỉ ngơi. Mô hình này luôn nhất quán như vậy
bất kể gió hay các yếu tố khác, và không ai biết chắc lý do.
Tuy một số động vật được
biết là có một “la bàn” bên trong, đây là lần đầu tiên hiện tượng này được tìm
thấy ở một loài động vật có vú lớn. Một điều kỳ lạ nữa là càng ở gần cực của
trái đất, những con bò càng kém chính xác trong việc định hướng. Các nhà khoa
học không biết liệu hiện tượng này liên quan đến khả năng điều hướng hay là một
nỗ lực tính toán sai lầm nhằm xua đuổi động vật ăn thịt, mặc dù có vẻ như nó có
mục đích nào đó vì sự nhất quán được quan sát thấy ở những con bò trên cả 6
châu lục. Hiện tượng này có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, vì những
con bò bị nhốt theo hướng đông tây chắc sẽ bị ảnh hưởng theo một cách nào đó,
mặc dù không ai có thể nói cụ thể là thế nào.
Tại sao một số động vật
có vú lại chuyển về sống dưới nước
Chúng ta biết rằng các
động vật biển di chuyển lên cạn và phát triển các chi để bò trên mặt đất. Đó là
điều hợp lý, vì đất liền chứa một lượng lớn tài nguyên chưa được khai thác tạo
điều kiện lý tưởng cho sự tiến hóa thành công. Nhưng tại sao một số trong những
động vật này - như tổ tiên của cá voi và hải cẩu – lại trở lại sống dưới nước.
Có một điều là, sự tiến
hóa đối với động vật từ trên cạn xuống sống dưới nước sẽ khó khăn hơn nhiều so
với ngược lại, vì việc học cách bơi đối với động vật quen “đi đi bộ” tốn nhiều
năng lượng hơn. Điều này đã khiến các nhà khoa học phải đau đầu trong một thời
gian dài. Các động vật biển có vú đã phát triển một phương pháp điều hướng bằng
đuôi hiệu quả hơn thay vì mái chèo muộn hơn nhiều trong quá trình tiến hóa,
điều này khiến người ta tự hỏi: Tại sao lại phải trải qua tất cả những rắc rối
đó ngay từ đầu? Đây vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của tiến hóa mà khoa
học hiện đại phải đối mặt.
Các alkaloids trong thực
vật
Thực vật thường sinh ra
những chất với nhiều hiệu ứng lý thú và đôi khi đáng sợ đối với các loài động
vật ăn phải chúng. Các alkaloid – tên của chúng - là những chất xuất hiện tự
nhiên trong thực vật cũng như động vật, mà một trong những chất phổ biến là
morphin. Khoảng 7.000 loại alkaloids khác nhau đã được xác định trong thực vật,
và mặc dù có thể nghiên cứu rộng rãi về các chất này, chúng ta vẫn không hoàn
toàn chắc chắn tại sao chúng lại có mặt ở đó.
Đây là những chất mạnh
gây ra nhiều phản ứng khác nhau khi những động vật khác nhau ăn phải. Trong
trường hợp cây thuốc phiện sản sinh ra morphin, một số chuyên gia tin rằng nó
rất hữu ích trong việc xua đuổi động vật ăn thịt, mặc dù cách xua đuổi những kẻ
săn mồi của morphin, một chất rất hữu hiệu trong giảm đau, chỉ là phỏng đoán.
Một số người tin rằng, thay vì lý do bên ngoài, những chất này có thể hữu ích
cho việc điều hòa sự trao đổi chất của chính cây trồng.
Tại sao hoa lại có mặt ở
khắp mọi nơi?
Thực vật có hoa tạo thành
một lớp thực vật gọi là thực vật hạt kín, và như ta có thể nhận thấy, chúng có
mặt ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, điều có thể gây ngạc nhiên là điều này không
phải lúc nào cũng đúng. Thực vật có hoa đã chiếm ưu thế so với các loài thực
vật khác trong một khoảng thời gian nhanh chóng chừng 400 triệu năm trước, và
kết quả là chúng chiếm khoảng 90% tổng số tất cả các loài thực vật ngày nay.
Vấn đề này đã khiến
Charles Darwin lo lắng đến mức ông gọi nó là “một bí ẩn ghê gớm”. Sự tiến hóa
nhanh chóng của hoa ngay sau khi hình thành đã trực tiếp chống lại lý thuyết
của Darwin về sự tiến hóa dần dần thông qua chọn lọc tự nhiên. Và không gì có
lợi về mặt tiến hóa đối với các thực vật có hoa, vì với chi phí dinh dưỡng để
tạo ra hoa, thực vật có thể đầu tư vào tăng trưởng hoặc những thứ khác có thể
đưa chúng lên cao hơn trong bậc thang tiến hóa. Bởi vì các loài thực vật không
để lại bất kỳ hồ sơ hóa thạch nào khi chúng chết, rất khó để xác định những “kẻ
lang thang” này đến từ chỗ không có gì như thế nào đâu và tại sao chúng lại
nhanh chóng chiếm ưu thế như vậy.
Tại sao có quá nhiều sự
đa dạng sinh học gần xích đạo?
Nếu ta đi từ những vùng
lạnh hơn của trái đất về phía xích đạo, ta sẽ thấy cuộc sống trở nên đa dạng
hơn. Khoảng 200 năm trước, một nhà thám hiểm người Phổ tên là Alexander von
Humboldt đã lần đầu tiên phát hiện ra rằng sự đa dạng sinh học tăng lên khi
tiến gần đến đường xích đạo. Cả sự sống tự nhiên lẫn văn hóa của con người đều
trở nên đa dạng và sôi động hơn, và các bệnh cũng vậy. Bất cứ khi nào ta nghe về
sự bùng phát virus chết người ở Châu Phi hoặc Nam Mỹ, thì đó không chỉ vì chăm
sóc sức khỏe kém ở các nước kém phát triển. Các loại virus và vi khuẩn gây ra
các bệnh này đơn giản và đa dạng hơn ở các nước miền nam so với các nước miền
bắc.
Ta sẽ nghĩ rằng chúng ta
biết chắc chắn lý do của điều này, nhưng ngoài một số giả thuyết, khoa học vẫn
còn tranh cãi. Có khoảng ba chục giả thuyết để trả lời câu hỏi lớn này, nhưng
với số lượng lớn các dạng sự sống mà chúng ta đang nói đến, gần như không thể
dung hòa tất cả các giả thuyết thành một kết luận duy nhất.
Bí ẩn về tổ tiên loài
người
Dòng dõi của con người
hiện đại đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trong những năm qua, và mặc dù những con
người đầu tiên xuất hiện từ rất lâu về trước, chúng ta có vẻ như đã có một hình
dung rõ ràng về nguồn gốc của con người. Hoặc là chúng ta tưởng như vậy cho đến
khi các nhà khoa học phát hiện ra dấu vết của một kiểu người cổ đại hoàn toàn
mới trong ADN của một loài hiện đã tuyệt chủng.
Khi nghiên cứu ADN của người Denisova (Denisova hominin), một loài vượn người có quan hệ họ hàng gần gũi với người Neanderthal và được đặt tên theo các hang động nơi họ được tìm thấy lần đầu tiên, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu vết của một loài bí ẩn mà khoa học chưa thể xác định được. Mặc dù có một lớp màn bí ẩn bao phủ quanh thân phận của người Denisova, ít nhất chúng ta cũng biết họ là ai và họ đến từ đâu. Không thể nói điều tương tự với loài bí ẩn đã sống khoảng 30.000 năm trước, một loài để lại dấu ấn riêng biệt trong ADN của người Denisova. Về cơ bản, tất cả những gì chúng ta biết là họ đã mang lại cho người Denisova một bộ răng kỳ lạ không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trong thế giới sinh vật.
Qua trình bày ở trên khái niệm về pháp rất rộng , để phục vụ cho
mục đích của mình là trao đổi cùng Các Con Cháu của ta . Ta chỉ giới hạn lại ở
các phạm vi cụ thể hơn điều chỉnh các quan hệ nhân sinh như : PHÁP LUẬT , CÁC
QUY LUẬT CỦA TỰ NHIỆN , CÁC QUY LUẬT CỦA KINH TẾ , CÁC QUY LUẬT CỦA TÂM
LÝ CON NGƯỜI . đương nhiên chỉ dừng ở mức khái niệm thôi
a/Tự nhiên
Tự nhiên hay cũng
được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng
Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. "Tự
nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc
đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới
những khoảng cách lớn trong vũ trụ. Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn
trong thế giới khoa học. Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên,
nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những
hiện tượng tự nhiên.
Từ nature có
nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết,
thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự
sinh nở".Natura trong tiếng Latin là dịch từ physis trong tiếng Hy Lạp,
một từ có nguồn gốc liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và
những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép
lại.1 2 Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật chất, là một
trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách
thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu
được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó. Cách sử dụng này dần được chấp
nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế
kỷ qua.
Với nhiều cách sử
dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế
giới hoang dã. Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau,
và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô
giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi
trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như
vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên. Khi hiểu theo
nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang
dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người
thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người. Ví dụ, các sản
phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi
là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví
dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự
nhiên". Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay
vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những
thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc
vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ
"không tự nhiên" hay "siêu nhiên".
b/Trái Đất :Trái Đất là hành tinh duy nhất hiện đã được biết là có hỗ trợ
cho sự sống, và các đặc điểm tự nhiên của nó là đối tượng cho nhiều lĩnh vực
nghiên cứu khoa học. Trong hệ Mặt Trời, Trái Đất là hành tinh gần Mặt Trời thứ
3; là hành tinh đất đá lớn nhất và là hành tinh lớn thứ 5 trong 8 hành tinh.
Đặc điểm khí hậu nổi bật nhất của nó là hai vùng cực rộng lớn, hai đới ôn hòa
tương đối hẹp và một vùng trải rộng từ nhiệt đới xích đạo đến cận nhiệt đới
.Giáng thủy biến thiên rộng tùy theo vị trí, từ vài met mỗi năm đến ít hơn một
milimet. 71% bề mặt Trái Đất là nước mặn, phần còn lại là các lục địa và đảo,
với hầu hết con người định cư ở những vùng đất thuộc Bắc Bán cầu.
Trái Đất tiến hóa
qua các quá trình sinh học và địa chất đã để lại các dấu vết của những môi
trường nguyên thủy. Bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo chuyển
dịch chầm chậm. Phần bên trong hành tinh vẫn còn hoạt động với một lớp dày được
gọi là manti và lõi sắt trong cùng tạo ra một từ trường. Lõi sắt này bao gồm
một pha rắn ở trong và một pha lỏng ở ngoài. Sự chuyển động đối lưu trong lõi
tạo nên những dòng điện tử thông qua những hoạt động xuất điện, và hình thành
nên từ trường Trái Đất.
Các đặc tính khí
quyển hiện tại đã thay đổi đáng kể so với môi trường sơ khai do sự hiện diện
của các dạng sống, chúng tạo nên sự cân bằng sinh thái, giúp ổn định môi trường
bề mặt. Mặc cho những biến động khí hậu trên một khu vực rộng dọc theo vĩ độ và
các yếu tố địa lý khác, khí hậu trung bình dài hạn toàn cầu là khá ổn định
trong thời kỳ gian băng, và những biến đổi về mức độ hoặc nhiệt độ toàn cầu
trung bình trong lịch sử đã tạo ra những ảnh hưởng chính yếu đối với cân bằng
sinh thái và địa lý hiện thời của Trái Đất.
c/ Địa chất:Địa chất học là ngành khoa học nghiên cứu về vật chất rắn và
lỏng cấu tạo nên Trái Đất. Lĩnh vực địa chất bao gồm việc nghiên cứu về thành
phần, cấu tạo, thuộc tính vật lý, động lực và lịch sử của các vật liệu trên
Trái Đất và các quá trình mà các vật liệu này được hình thành, di chuyển và
biến đổi. Địa chất học là một trường học thuật chính, và cũng rất quan trọng
trong khai thác mỏ, dầu khí, những kiến thức về các tai biến thiên nhiên và
những giải pháp giảm thiểu các tai biến này, các lĩnh vực địa kỹ thuật, và hiểu
về cổ khí hậu và cổ môi trường.
d/ Tiến hóa địa
chất :Địa chất của một khu vực liên quan đến thời gian các đơn vị đá
kết tụ và đệm chèn, và quá trình biến dạng làm thay đổi hình dạng và vị trí tồn
tại ban đầu của chúng.
Các đơn vị đá đầu
tiên được hình thành bằng cách tích tụ trên bề mặt hoặc xâm nhập vào các đá có
trước. Sự tích tụ xảy ra khi trầm tích lắng đọng trên bề mặt Trái Đất và sau đó
biến thành đá tạo thành đá trầm tích, hoặc khi vật liệu núi lửa phun lên ở dạng
tro núi lửa hoặc dòng dung nham phủ trên bề mặt. Những loại đá macma xâm nhập
như batholith (thể nền), laccolith (thể nấm), dike (thể mạch), và sill, làm đẩy
các lớp đá bên trên lên và kết tinh khi chúng xâm nhập vào.
Sau khi lớp đá
được hình thành hay tích tụ, các đơn vị đá có thể bị biến dạng hoặc biến chất.
Sự biến dạng làm cho các lớp nằm ngang co lại, hoặc kéo giãn ra hoặc di chuyển
dọc theo nhau giữa hai phần của đứt gãy. Những cơ chế cấu trúc này liên quan
đến các ranh giới hội tụ, ranh giới tách giãn và ranh giới chuyển dạng giữa các
mảng kiến tạo.
+ Quan điểm lịch
sử
Trái Đất ước tính
được hình thành cách đây 4,54 tỉ năm từ tinh vân Mặt Trời, cùng với Mặt Trời và
các hành tinh khác. Mặt Trăng được hình thành khoảng 20 triệu năm sau đó. Ban
đầu Trái Đất ở dạng nóng chảy, lớp ngoài cùng của hành tinh nguội dần rồi tạo
thành vỏ rắn. Các khí thoát ra và hoạt động núi lửa tạo nên bầu khí quyển
nguyên thủy. Phần lớn hoặc tất cả hơi nước ngưng tụ đến từ băng được sao chổi
mang đến, tạo ra các đại dương và những nguồn nước khác. Môi trường hóa học năng
lượng cao được cho là đã tạo ra các phân tử tự sao chép khoảng 4 tỉ năm về
trước.
Các lục địa được
hình thành, rồi sau đó vỡ ra và tái sáp nhập thành bề mặt Trái Đất trải qua
hàng trăm triệu năm, đôi khi kết hợp với nhau tạo thành các siêu lục địa. Khoảng
750 triệu năm trước, siêu lục địa đầu tiên có tên Rodinia bắt đầu vỡ ra. Các
lục địa sau đó kết hợp lại tạo thành Pannotia, lục địa này sau đó tiếp tục vỡ
ra vào khoảng 540 triệu năm trước, sau cùng thì sáp nhập tạo thành Pangaea, rồi
lại vỡ ra vào khoảng 180 triệu năm trước.
Có bằng chứng rõ
ràng về hoạt động băng hà trong suốt Đại Tân Nguyên sinh (Neoproterozoic), băng
đã bao phủ phần lớn hành tinh, trong những sông băng và tảng băng. Giả thiết
này được gọi là "Quả cầu tuyết Trái Đất", và nó được đặc biệt quan
tâm khi nó có trước sự kiện bùng nổ kỷ Cambri mà theo đó các dạng sống đa bào
bắt đầu sinh sôi nảy nở khoảng 530–540 triệu năm trước.
Kể từ vụ bùng nổ
kỷ Cambri đã có 5 sự kiện tuyệt chủng lớn. Vụ tuyệt chủng lớn gần đây nhất xảy
ra vào khoảng 66 triệu năm trước, khi một thiên thạch có lẽ đã va chạm vào Trái
Đất làm tuyệt chủng các loài khủng long phi chim và các loài bò sát lớn khác,
ngoại trừ những loài động vật nhỏ như động vật có vú. Và hơn 66 triệu năm qua,
lớp thú đã tiến hành đa dạng hóa chủng loài.
Kỷ nguyên hiện
tại được xem là một phần của sự kiện tuyệt chủng lớn có tên gọi là tuyệt chủng
Holocen, đây là thời kỳ tuyệt chủng nhanh chưa từng thấy. Một số tác giả như E.
O. Wilson thuộc Đại học Harvard, dự đoán rằng sự phá hoại sinh quyển của con
người có thể là nguyên nhân làm tuyệt chủng phân nửa các loài trên Trái Đất
trong vòng 100 năm tới. Phạm vi của sự tuyệt chủng hiện tại vẫn đang được
nghiên cứu, vẫn còn tranh cãi và tính toán của các nhà sinh học.
+ Khí quyển, khí
hậu, và thời tiết
Khí quyển Trái
Đất là yếu tố quan trọng nhằm duy trì hệ sinh thái của hành tinh. Lớp khí mỏng
bao bọc Trái Đất được giữ bởi trọng lực của Trái Đất. Không khí khô bao gồm 78%
nitơ, 21% oxy, 1% argon và các khí trơ khác, cacbon dioxit...; nhưng không khí
cũng chứa một lượng đáng kể hơi nước. Áp suất khí quyển giảm từ từ theo cao độ,
và tồn tại trong khoảng khoảng 8 km từ bề mặt Trái Đất: độ cao mà áp suất khí
quyển giảm theo hằng số e (hằng số toán học tương đương 2,71...). Tầng ozon của
khí quyển Trái Đất có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn tia cực tím đến
bề mặt Trái Đất. Vì DNA dễ bị hủy hoại bởi các tia UV, nên tầng này giúp bảo vệ
sự sống tại bề mặt. Khí quyển cũng giúp duy trì nhiệt vào ban đêm, và giảm
nhiệt độ cực nóng vào ban ngày.
Thời tiết trên mặt
đất xuất hiện hầu hết ở phần dưới của khí quyển, và có vai trò là hệ đối lưu
trong việc tái phân phối nhiệt. Các dòng hải lưu là nhân tố quan trọng khác
trong việc xác định khí hậu, đặc biệt là các dòng tuần hoàn muối nhiệt chính
dưới nước có vai trò quan trọng trong việc phân phối năng lượng nhiệt trong các
đại dương ở xích đạo đến các vùng cực. Các dòng hải lưu này giúp điều hòa sự
chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè ở các vùng ôn đới. Cũng thế, do
không có sự tái phân bố năng lượng nhiệt của các dòng hải lưu và khí quyển, nên
các vùng nhiệt đới sẽ nóng hơn, và vùng cực lạnh hơn.
Thời tiết có thể
có những ảnh hưởng tốt và xấu. Thời tiết cực đoan như vòi rồng, bão nhiệt đới
và lốc xoáy, có thể tiêu tốn phần lớn năng lượng trên đường đi của chúng và gây
tàn phá. Thảm thực vật trên bề mặt phát triển phụ thuộc vào sự biến động của
thời tiết theo mùa, và những thay đổi bất ngờ chỉ trong vài năm có thể ảnh
hưởng rất lớn đến thảm thực vật này và cả những động vật sống phụ thuộc vào nó
để kiếm ăn.
Khí hậu Trái Đất
là thước đo về xu hướng diễn biến trong thời gian dài của khí thời tiết. Nhiều
yếu tố khác nhau được cho là ảnh hưởng đến khí hậu như hải lưu, suất phản chiếu
bề mặt, khí nhà kính, thay đổi độ chiếu sáng của Mặt Trời, và những thay đổi về
quỹ đạo của hành tinh. Dựa trên những dữ liệu lịch sử, Trái Đất từng trải qua
những lần biến đổi khí hậu mạnh mẽ trong quá khứ như các thời kỳ băng hà.
Khí hậu của một
khu vực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là vĩ độ. Dải vĩ độ của một bề mặt
với các đặc điểm khí hậu tương tự tạo thành một vùng khí hậu. Trên Trái Đất
người ta chia thành một số vùng khí hậu từ khí hậu nhiệt đới ở xích đạo đến khí
hậu vùng cực ở cực bắc và nam. Thời tiết cũng chịu ảnh hưởng theo mùa là kết
quả của sự nghiêng của trục Trái Đất so với mặt phẳng quỹ đạo. Vì vậy, tại một
thời điểm trong năm trong mùa hè hoặc đông, một phần của hành tinh sẽ hướng
thẳng vào các tia bức xạ của Mặt Trời. Sự tiếp xúc này thay đổi luân phiên khi
Trái Đất xoay quanh quỹ đạo của nó. Vào bất kỳ thời điểm nào, bất kể mùa, bán
cầu bắc và nam đều có các mùa trái ngược nhau.
Thời tiết là một
hệ hỗn loạn dễ dàng bị thay đổi theo môi trường, vì vậy việc dự báo thời tiết
chính xác hiện còn bị giới hạn chỉ trong vòng vài ngày.[cần dẫn nguồn] Nhìn
chung có hai điều đang diễn ra trên toàn cầu: nhiệt độ đang tăng tính theo giá
trị trung bình; và khí hậu khu vực đang trải qua những biến đổi rõ rệt.
e/ Nước trên Trái
Đất :Nước là một hợp chất hóa học được cấu tạo từ hydro và oxy và là
nguồn sống thiết yếu cho tất cả sinh vật. Ở dạng sử dụng thông thường, nước
được xem chỉ ở dạng lỏng hoặc trạng thái lỏng, nhưng nước cũng có thể tồn tại ở
trạng thái rắn, băng và khí như hơi nước. Nước bao phủ 71% bề mặt Trái Đất.
Trên Trái Đất, nước phân bố chủ yếu trong các đại dương và các vực nước lớn
khác, chỉ có 1,6% tồn tại trong các tầng chứa nước và 0,001% trong khí quyển ở
dạng hơi, mây và hoạt động giáng thủy. Các đại dương chiếm giữ 97% nước mặt,
sông băng và chỏm băng ở hai cực chiếm 2,4%, và các dạng nước mặt khác trong
sông, hồ và ao chiếm 0,6%. Ngoài ra, còn một lượng nhỏ nước trên Trái Đất tồn
tại trong các cơ thể sinh học và những sản phẩm tổng hợp.
f/Các đại dương
trên Trái Đất
Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Nam Đại Dương
Đại dương toàn
cầu
Đại dương là vực
chứa nước mặn lớn, và là thành phần cơ bản của thủy quyển. Khoảng 71% bề mặt
Trái Đất (một vùng trải rộng với diện tích 361 triệu kilomet vuông) được bao
phủ bởi đại dương. Các đại dương là các vực nước liên tục, thông thường được
chia thành các đại dương chính và các biển nhỏ hơn. Hơn phân nửa khu vực này có
độ sâu hơn 3.000 mét. Độ mặn trung bình của đại dương khoảng 35 phần ngàn (ppt)
(3,5%), và gần như toàn bộ nước biển có độ mặn dao động trong khoảng 30 đến 38
ppt. Nhìn chung thì các đại dương được xem là 'tách biệt', nhưng những vùng
nước này lại liên kết với nhau tạo nên một đại dương toàn cầu. Khái niệm về đại
dương toàn cầu đề cập đến một vực nước liên tục với khả năng trao đổi tương đối
tự do giữa các thành phần quan trọng của nó trong hải dương học.
Sự phân chia
những đại dương chính được xác định một phần bởi các lục địa, nhiều quần đảo,
và các tiêu chí khác: kết quả của sự phân chia (thứ tự giảm dần theo diện
tích), gồm: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Băng Dương và Bắc
Băng Dương. Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là biển, vịnh, và các
tên gọi khác. Cũng có từ hồ muối dùng để chỉ các vực nước nhỏ hơn không được
liên kết với các đại dương mà chứa nước mặn, ví dụ như biển Aral và hồ Muối
Lớn.
g/Hồ :Hồ là một vực chứa nước trên bề mặt đất nằm ngay trung tâm của
một bồn trũng. Trên Trái Đất, vực nước được xem là hồ khi nó nằm trên đất liền,
không có phần nào liên quan đến đại dương, nó sâu hơn và rộng hơn ao, và được
sông cung cấp nước.Một thiên thể duy nhất ngoài Trái Đất được biết đang ẩn náu
các hồ là Titan, vệ tinh lớn nhất của Sao Thổ, có những hồ chứa etan và đa phần
có thể còn pha trộn thêm metan. Dù bề mặt Titan bị chia cắt bởi một lượng lớn
đáy sông, nhưng không thể biết được các hồ của Titan có được các sông này chu
cấp hay không. Các hồ tự nhiên trên Trái Đất thường được tìm thấy ở các vùng
núi, đới tách giãn, và các vùng có băng hà gần đây. Các dạng hồ khác được tìm
thấy trong các lòng chảo nội lục hoặc dọc theo các đoạn sông trưởng thành. Ở
nhiều nơi trên thế giới, có nhiều hồ là do các kiểu thoát nước hỗn tạp tồn tại
từ thời kỳ băng hà gần đây nhất. Tất cả các hồ tồn tại một cách tương đối theo
thời gian địa chất, vì chúng sẽ bị lấp đầy chầm chậm bởi trầm tích hoặc tràn ra
khỏi lưu vực chứa nó.
h/Ao :Ao là một vực nước đứng (không chuyển động), tự nhiên hoặc nhân
tạo, thường nhỏ hơn hồ. Nhiều kiểu vực nước nhân tạo kích thước khác nhau cũng
được xếp vào ao, như các vườn nước được thiết kế cho nghệ thuật trang trí thẩm
mỹ, ao cá cho việc nuôi cá, và ao năng lượng được thiết kế cho việc trữ nhiệt.
Ao và hồ được phân biệt với các suối thông qua vận tốc dòng chảy. Trong khi các
dòng chảy trong suối dễ dàng quan sát, thì ao và hồ có các vi dòng chảy được
điều khiển bởi các dòng nhiệt và những cơn gió thoảng nhẹ. Đây chính là những
đặc điểm phân biệt ao với nhiều vùng đất ngập nước khác, như vũng suối và bể
thủy triều.
i/Sông :Sông là một nguồn nước tự nhiên, thường là nước ngọt, chảy vào
đại dương, hồ, biển hoặc một sông khác. Trong vài trường hợp, sông chảy ngầm
dưới đất hoặc bị khô hoàn toàn trước khi đổ vào một vực nước khác. Các sông nhỏ
có thể được gọi với nhiều tên gọi khác nhau, như: suối, kênh, rạch, ngòi, lạch;
không có nguyên tắc chung để định nghĩa thế nào là con sông. Nhiều tên gọi cho
các sông nhỏ cũng tùy theo vị trí địa lý; ví dụ như Burn ở Scotland và Đông Bắc
Anh. Đôi khi sông được cho là lớn hơn một con lạch, nhưng không phải lúc nào
cũng đúng trong mọi trường hợp, còn tùy vào những ý ngẫm mơ hồ của ngôn ngữ.
Sông là một phần của chu trình nước. Nước trong sông thường tụ lại từ hoạt động
giáng thủy chảy tràn trên bề mặt, xuất lộ của nước ngầm, suối, và giải phóng từ
các dạng chứa nước khác trong tự nhiên như băng tuyết, sông băng.
j/Suối :Suối là một vực nước chảy được xác định trong giới hạn của đáy
và bờ suối. Hoa Kỳ định nghĩa suối là vực nước có bề rộng nhỏ hơn 18 met. Suối
đóng vai trò quan trọng là mao dẫn của vòng tuần hoàn nước, công cụ của bổ cấp
nước ngầm, và là hành lang cho cá và các loài động vật hoang dã di cư. Những
cảnh quan sinh học lân cận dòng suối được gọi là vùng ven. Với hiện trạng đang
diễn ra về tuyệt chủng Holocen, các dòng suối đóng vai trò quan trọng như một
hành lang liên kết các môi sinh bị chia cắt và những vấn đề bảo tồn đa dạng
sinh học. Nghiên cứu về suối và vực nước nhìn chung liên quan đến nhiều nhánh
liên ngành của khoa học tự nhiên và kỹ thuật như thủy văn học, địa mạo bồi
tích, thủy sinh thái học, ngư sinh thái học, ven sinh thái học, v.v.
k/Hệ sinh thái :Hệ sinh thái được cấu thành bởi các thành phần vô sinh và hữu
sinh tương tác với nhau. Cấu trúc và thành phần được xác định bởi nhiều yếu tố
môi trường tương quan. Những biến đổi về các yếu tố này sẽ khơi mào những thay
đổi động lực đến các hệ sinh thái. Một số thành phần quan trọng hơn là đất, khí
quyển, bức xạ mặt trời, nước và các sinh vật sống.
Trung tâm của
khái niệm hệ sinh thái là ý tưởng về các sinh vật sống tương tác với các yếu tố
khác trong môi trường mà chúng sống. Eugene Odum, một nhà sáng lập của sinh
thái học nhận định rằng: "Bất cứ thành tố nào bao gồm tất cả sinh vật
(như: "quần xã") của một khu vực cho trước tương tác với môi trường
vật lý cũng chính là dòng chảy năng lượng dẫn đến sự xác định rõ ràng cơ cấu
dinh dưỡng, đa dạng sinh học và các chu trình vật chất (như: trao đổi vật chất giữa
những phần vô sinh và hữu sinh) trong hệ thống của một hệ sinh thái." Bên
trong hệ sinh thái, các loài có quan hệ với nhau và phụ thuộc nhau qua chuỗi
thức ăn, và trao đổi năng lượng và vật chất giữa chúng với nhau cũng như với
môi trường mà chúng sinh sống. Khái niệm hệ sinh thái con người căn cứ vào sự
giải tỏa cấu trúc giữa hai mặt đối lập loài người/tự nhiên và tiên đề về sự hòa
hợp sinh thái giữa tất cả sinh vật, cũng như với những thành phần vô sinh trong
sinh cảnh của chúng ta.
Các đơn vị nhỏ
hơn của hệ sinh thái được gọi là vi hệ sinh thái. Ví dụ, vi hệ sinh thái có thể
là hòn đá và tất cả sinh vật sống bên dưới nó. Một đại hệ sinh thái có thể liên
quan đến toàn bộ vùng sinh thái cùng lưu vực của nó.
Vùng hoang dã
được định nghĩa chung là những khu vực không có sự tác động đáng kể bởi các
hoạt động của con người. Quỹ WILD đưa ra định nghĩa chi tiết hơn đó là
"những khu vực hoang dã tự nhiên không bị xáo động, nguyên vẹn nhất còn
lại trên hành tinh của chúng ta – những nơi hoang dã thực sự cuối cùng mà con
người không kiểm soát và đã không phát triển với đường giao thông, đường ống
dẫn hoặc cơ sở hạ tầng công nghiệp khác". Các vùng hoang dã có thể được
tìm thấy trong các khu bảo tồn, điền trang, nông trang, trại chăn nuôi, rừng
quốc gia, vườn quốc gia và thậm chí là những vùng đô thị dọc theo sông ngòi,
khe sâu và các vùng chưa phát triển khác. Các vùng hoang dã và công viên được
bảo vệ được xem là thành phần quan trọng đối với sự sống còn của một số loài
nhất định, là nơi nghiên cứu về sinh thái học, bảo tồn, tĩnh tâm và tiêu khiển.
Nhiều nhà văn viết về tự nhiên tin rằng các vùng hoang dã là cần thiết cho tinh
thần và sự sáng tạo của con người, và các nhà sinh thái học xem các vùng hoang
dã là một phần của hệ sinh thái tự nhiên tự duy trì trên Trái Đất (sinh quyển).
Chúng cũng có thể bảo tồn những đặc điểm di truyền lịch sử và từ đó cung cấp
môi trường sống cho các hệ động và thực vật hoang dã mà khó có thể tạo ra trong
phòng thí nghiệm, vườn ươm cây hay vườn bách thú.
Tiến hóa
Sự sống được biết
là chỉ tồn tại trên Trái Đất. Nguồn gốc sự sống là một quá trình mà con người
vẫn chưa hiểu rõ, nhưng nó được cho rằng đã tồn tại từ cách đây ít nhất 3,5 tỉ
năm vào liên đại Hỏa thành hoặc liên đại Thái cổ trên Trái Đất nguyên thủy có
môi trường khác rất nhiều so với hiện nay. Các dạng sống này sở hữu các đặc
điểm cơ bản về quá trình tự sao chép và đặc điểm di truyền. Khi sự sống xuất
hiện, quá trình tiến hóa bằng cách chọn lọc tự nhiên đã tạo ra sự phát triển đa
dạng sự sống chưa từng có.
Những loài không
thể thích nghi với sự thay đổi của môi trường và sự cạnh tranh của các loài
khác thì chúng bị tuyệt chủng. Tuy nhiên, những hóa thạch lưu giữ những bằng
chứng về nhiều loài cổ hơn. Bằng chứng hóa thạch và DNA hiện tại cho thấy tất
cả các loài tồn tại có thể có tổ tiên phát triển liên tục từ các dạng sống
nguyên thủy đầu tiên.
Sự xuất hiện quá
trình quang hợp trong những dạng rất cơ bản của thực vật sống trên khắp Trái
Đất đã giúp hấp thụ lượng lớn năng lượng mặt trời để tạo nên điều kiện môi
trường cho những dạng sống phức tạp hơn. Sự tích tụ oxy trong khí quyển và dẫn
đến sự hình thành tầng ozon. Sự kết hợp các tế bào nhỏ hơn thành các tập đoàn
lớn đã tạo ra sự phát triển của các tế bào phức tạp hơn được gọi là sinh vật
nhân thực. Các tế bào trong các tập đoàn được biệt hóa mạnh hơn, tạo ra các
sinh vật đa bào. Cùng với việc tầng ozon hấp thụ các tia cực tím đã giúp cho
các sinh vật có thể định cư được trên bề mặt Trái Đất.
Vi sinh vật
Dạng sống đầu
tiên phát triển trên Trái Đất là các vi sinh vật, và chúng vẫn giữ nguyên kiểu
hình trên hành tinh này qua hàng tỉ năm khi các sinh vật đa bào bắt đầu xuất
hiện. Các vi sinh vật là các sinh vật đơn bào thường có kích thước rất nhỏ mà
mắt thường không thể nhìn thấy. Chúng bao gồm vi khuẩn, nấm, vi khuẩn cổ và
sinh vật nguyên sinh.
Các dạng sống này được phát hiện ở khắp nơi trên Trái Đất nơi có nước lỏng, bao gồm cả cấu trúc bên trong Trái Đất. Sự sinh sản của chúng nhanh chóng và nhiều. Sự kết hợp của tốc độ đột biến và vận chuyển ngang gen cao có khả năng giúp chúng thích nghi cao và có thể sống sót trong các môi trường mới bao gồm cả ngoài không gian. Chúng là một phần thiết yếu của hệ sinh thái trên Trái Đất. Tuy nhiên, nhiều vi sinh vật là tác nhân gây hại đối với sức khỏe của nhiều loài khác.
Thực vật và động
vật
Ban đầu Aristotle
chia tất cả sinh vật sống thành thực vật và động vật. Trong hệ thống phân loại
của Linnaeus, các sinh vật được phân thành giới Vegetabilia (sau này là
Plantae) và Animalia. Kể từ đó, việc phân chia trở nên rõ ràng rằng Plantae như
ban đầu được xác định bao gồm nhiều nhóm không liên quan, và nấm và nhiều nhóm
khác của tảo đã được xếp vào các giới mới. Tuy nhiên, chúng vẫn thường được xem
là thực vật trong một số ngữ cảnh. Vi khuẩn đôi khi nằm trong hệ thực vật, và
một số hệ thống phân loại dùng từ hệ thực vật vi khuẩn (bacterial flora) tách
biệt với hệ thực vật (plant flora).
Trong số nhiều
cách phân loại thực vật theo các hệ thực vật khu vực, việc phân chia này phụ
thuộc vào mục đích nghiên cứu, có thể bao gồm thực vật hóa thạch, đó là những
thành phần thực vật còn sót lại của thời kỳ trước. Con người ở nhiều vùng và
quốc gia khác nhau rất tự hào về những đặc điểm của hệ thực vật tự nhiên của
họ, các hệ này có thể phân bố rộng khắp trên toàn cầu do sự khác biệt về khí
hậu và địa hình.
Hệ thực vật khu
vực thường được chia thành thực vật bản địa và thực vật nghề vườn và nông
nghiệp, kiểu thực vật vườn đề cập đến các loại cây do con người trồng. Trong số
các loại "thực vật bản địa" thực chất có thể là du nhập hàng thế kỷ
trước do con người di cư từ vùng này sang vùng khác hoặc từ lục địa này sang
lục địa khác, và trở thành một phần không thể thiếu của thực vật bản địa hay hệ
thực vật tự nhiên của nơi mà chúng được du nhập đến. Đây là một ví dụ cho sự
tương tác của con người với tự nhiên có thể xóa nhòa ranh giới về bản chất tự
nhiên.
Một nhóm thực vật
khác được ghi lại trong lịch sử là cỏ dại. Cách gọi này được các nhà thực vật
học dùng để chỉ các loại thực vật "vô ích", cách dùng không chính
thức của từ "cỏ dại" để mô tả những thực vật xứng đáng loại khỏi là
minh họa khuynh hướng chung của loài người và cộng đồng xã hội về việc mưu cầu
sự biến đổi hay tái tạo lại chiều hướng vận động của tự nhiên. Tương tự vậy,
các loài động vật thường được xếp thành các nhóm như thuần hóa, động vật nuôi,
đông vật hoang dã, loài vây hại, v.v. theo mối quan hệ của chúng đối với con
người.
Động vật nằm
trong nhóm có nhiều đặc điểm khác biệt với các sinh vật sống khác. Động vật là
các sinh vật nhân thực và thường là đa bào (xem Myxozoa), tách biệt với vi
khuẩn, vi khuẩn cổ và hầu hết sinh vật đơn bào. Chúng là các sinh vật dị dưỡng,
thường tiêu hóa thức ăn trong các khoang bên trong cơ thể, khác biệt với thực
vật và tảo. Chúng cũng được phân biệt với thực vật, tảo và nấm do không có
thành tế bào.
Với số ít trường
hợp ngoại lệ, phần lớn trong đó là bọt biển (Ngành Bọt biển), động vật có cơ
thể chuyên biệt thành những mô biệt hóa.[cần dẫn nguồn] Chúng gồm có cơ bắp,
dùng để co rút và điều khiển vận động, và một hệ thần kinh, dùng để gửi và
chuyển tiếp tín hiệu. Chúng cũng có một khoang tiêu hóa đặc trưng bên trong. Tế
bào nhân thực là nền tảng của tất cả các loài động vật, được bao quanh bởi một
chất nền ngoại bào giàu đặc tính, xây dựng từ collagen và những glycoprotein
đàn hồi. Cấu trúc này có thể bị vôi hóa trở thành những dạng cấu trúc khác như
vỏ, xương và gai, một bộ khung nền để các tế bào có thể di chuyển và tái tổ
chức trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển và trưởng thành, cũng như hỗ
trợ cho những hệ giải phẫu phức tạp cần thiết cho tính di động.
Mặc dù con người
hiện chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng thể sinh khối trên Trái Đất nhưng tác
động của con người vào thiên nhiên lại quá lớn. Do sự mở rộng ảnh hưởng của con
người, các ranh giới giữa những gì của con người liên quan đến tự nhiên và các
"môi trường nhân tạo" là không rõ ràng trừ những trường hợp đặc biệt.
Ngay cả ở những trường hợp đặc biệt, số lượng các môi trường tự nhiên mà chưa
chịu sự ảnh hưởng của con người một cách rõ rệt hiện cũng đang giảm dần với tốc
độ nhanh chóng.
Sự phát triển
công nghệ của loài người đã cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên tốt hơn
và giúp giảm bớt rủi ro từ thiên tai. Tuy nhiên, trong quá trình này, số phận
của nền văn minh loài người vẫn gắn liền với những biến đổi của môi trường.
Hiện tồn tại một vòng hồi tiếp rất phức tạp giữa việc sử dụng công nghệ tiến bộ
và những biến đổi của môi trường, và cũng chỉ được hiểu biết một cách chậm
chạp. Những mối đe dọa do chính con người thực hiện đối với môi trường tự nhiên
trên Trái Đất như gia tăng dân số, phá rừng, tai biến như tràn dầu, và con
người cũng góp phần gây ra sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật và thực vật.
Con người sử dụng tự nhiên vào những hoạt động giải trí và kinh tế, việc tìm
kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động công nghiệp
vẫn là thành phần chính của nền kinh tế thế giới. Các hoạt động như săn bắn,
đánh cá phục vụ cho tiêu dùng và giải trí thì có sự khác biệt giữa các nhóm
người. Hoạt động nông nghiệp đã bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ 9 TCN. Thay
đổi từ sản xuất lương thực sang năng lượng đã tác động đến sự thịnh vượng của
nền kinh tế thế giới
Mặc dù vào thời
kỳ đầu, con người thu lượm những nguyên liệu từ thực vật hoang dại để làm thực
phẩm và sử dụng những đặc tính dược học của thực vật để chữa bệnh,còn hầu hết
con người hiện đại sử dụng thực vật thông qua các hoạt động nông nghiệp. Sự
phát quang một khu vực đất rộng lớn cho trồng trọt đã làm giảm đáng kể diện
tích rừng hiện hữu và các vùng đất ngập nước, làm mất môi trường sống của nhiều
loài động thực vật cũng như làm gia tăng xói mòn.
Vẻ đẹp của tự
nhiên đã và đang là chủ đề của nhiều tác phẩm nghệ thuật cũng như được ghi lại
trong nhiều quyển sách chất đầy thư viện và các nhà sách. Thiên nhiên đã được
miêu tả và được ca ngợi nhiều trong nghệ thuật, nhiếp ảnh, thơ và các loại hình
văn học nghệ thuật khác thể hiện thế mạnh của nó mà nhiều người đã liên kết hai
yếu tố tự nhiên và vẻ đẹp với nhau. Những lý do tại sao các mối liên hệ này tồn
tại, và cái gì đã liên kết chúng được nghiên cứu bởi một nhánh triết học được
gọi là sự thẩm mỹ. Ngoài những đặc điểm cơ bản mà nhiều triết gia đồng ý về
việc giải thích những gì được coi là đẹp, thì những ý kiến khác về cái đẹp hầu
như bất tận.Tự nhiên và hoang dã là các chủ đề quan trọng trong nhiều kỷ nguyên
của lịch sử thế giới. Nghệ thuật phong cảnh truyền thống sơ khai bắt đầu ở
Trung Quốc trong suốt triều đại nhà Đường (618–907). Biểu diễn thiên nhiên qua
nghệ thuật là một trong những chủ đề của tranh Trung Quốc và có những ảnh hưởng
nhất định đối với nghệ thuật châu Á.
Mặc dù các kỳ quan thiên nhiên được vinh danh trong Thánh Vịnh và Sách Job, việc truyền tải sự hoang dã trong nghệ thuật đã trở nên phổ biến hơn trong thập niên 1800, đặc biệt trong các tác phẩm của phong trào lãng mạn. Các họa sĩ Anh quốc như John Constable và J. M. W. Turner đã chuyển sự chú ý của họ vào việc truyền tải những vẻ đẹp của thế giới tự nhiên đi vào những bức họa. Trước đó, hội họa chủ yếu tập trung vào những hình ảnh tôn giáo hoặc con người. Thơ của William Wordsworth đã miêu tả sự kỳ diệu của thế giới tự nhiên, mà trước đây được xem như là "vùng nguy hiểm". Càng ngày sự coi trọng giá trị của thiên nhiên đã trở thành một khía cạnh của văn hóa phương Tây. Phong trào nghệ thuật này cũng trùng hợp với phong trào siêu việt luận trong thế giới phương Tây. Ý tưởng cổ điển chung của nghệ thuật về cái đẹp liên quan đến sự bắt chước thiên nhiên. Cũng trong lĩnh vực về vẻ đẹp của thiên nhiên là sự hoàn hảo được ngụ ý thông qua những dạng toán học hoàn hảo và tổng quát hơn bởi những cách sắp xếp của tự nhiên theo các khuôn mẫu nhất định. Như David Rothenburg viết, "Cái đẹp là gốc rễ của khoa học và mục đích của nghệ thuật, khả năng cao nhất mà nhân loại có thể hy vọng thấy được nó".
Vật chất và năng
lượng
Một số lĩnh vực
khoa học xem tự nhiên là vật chất chuyển động tuân theo những quy luật nhất
định của tự nhiên mà khoa học đang tìm hiểu. Vì lý do đó, nền tảng cơ bản nhất
của khoa học được hiểu một cách chung là "vật lý học" – tên gọi mà
vẫn có thể nhận ra nó ám chỉ nghiên cứu về tự nhiên.
Vật chất thường
được định nghĩa là chất cấu thành nên vật thể vật lý. Nó cấu tạo nên vũ trụ
quan sát được. Các thành phần này của vũ trụ hiện được tin là chỉ chiếm 4,9%
tổng khối lượng. Phần còn lại 26,8% là vật chất lạnh tối và 68,3% là năng lượng
tối. Số liệu chính xác của các thành phần này vẫn chưa được biết rõ và hiện
đang được các nhà vật lý nghiên cứu.
Trạng thái của vật chất và năng lượng thông qua việc quan sát được vũ trụ cho thấy chúng tuân theo các định luật vật lý rõ ràng. Các định luật này được áp dụng để thành lập các mô hình vũ trụ đã giải thích thành công cấu trúc và sự tiến hóa của vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát được. Các biểu thức toán học của các định luật vật lý sử dụng một bộ 12 hằng số vật lý có vẻ như là tĩnh đối với vũ trụ quan sát được. Giá trị của các hằng số này đã được đo đạc cẩn thận nhưng nguyên do để có được các con số này vẫn là điều bí ẩn.
Bên ngoài Trái
Đất
Không gian ngoài
thiên thể chỉ vùng không gian tương đối rỗng của vũ trụ bên ngoài khí quyển của
các thiên thể. Không có ranh giới rõ ràng giữa khí quyển Trái Đất và không gian
ngoài thiên thể, vì áp suất khí quyển giảm từ từ theo độ cao tăng dần. Không
gian ngoài thiên thể trong hệ Mặt Trời được gọi là không gian liên hành tinh,
nó trải rộng đến không gian liên sao tại nơi được gọi là nhật quyển.
Không gian ngoài
thiên thể gồm một số ít các loại vật chất phân tử hữu cơ được phát hiện bởi các
sóng quang phổ viba, phông nền bức xạ vũ trụ còn tồn dư sau vụ nổ Big Bang và
nguồn gốc của vũ trụ, và các tia vũ trụ chứa các hạt nhân nguyên tử bị ion hóa
và nhiều loại hạt hạ nguyên tử khác. Cũng có một số chất khí, plasma và bụi, và
các thiên thạch nhỏ. Ngoài ra, các dấu hiệu của sự sống loài người phát vào
không gian ngày nay như các loại vật liệu còn lại từ các vật thể có và không
người lái từng phóng lên không gian có tiềm năng gây hại cho các tàu vũ trụ.
Một số mảnh vỡ này theo định kỳ quay trở lại khí quyển Trái Đất.
Mặc dù Trái Đất
hiện là thiên thể duy nhất được biết là có sự sống trong hệ Mặt Trời, các bằng
chứng hiện tại cho rằng trong quá khứ xa xôi của Sao Hỏa từng tồn tại các vực
nước ở dạng lỏng trên bề mặt của nó. Như vậy, Sao Hỏa cũng có khả năng hỗ trợ
sự sống và hiện tại người ta cho rằng vẫn còn nước trên hành tinh này ở dạng
băng. Nếu sự sống tồn tại trên Sao Hỏa, nhiều khả năng bên dưới mặt đất của nó
nước có thể tồn tại.
Các môi trường
của các hành tinh đất đá khác như Sao Thủy và Sao Kim cho thấy khó có khả năng
hỗ trợ sự sống. Nhưng con người phỏng đoán rằng Europa, vệ tinh lớn thứ tư của
Sao Mộc, có thể có biển nước lỏng bên dưới bề mặt của nó và có tiềm năng hỗ trợ
sự sống
Ngày nay, các nhà thiên văn học đã và đang bắt đầu khám phá các hành tinh giống Trái Đất bên ngoài hệ Mặt Trời – các hành tinh nằm trong vùng có thể định cư trong không gian quanh các ngôi sao, mà chúng có thể hỗ trợ cho sự sống.
Thiên nhiên với
đời sống con người
Môi trường là tất
cả những gì xung quanh chúng ta, bao gồm các yếu tố sống (động thực vật và con
người) và các yếu tố không sống (đất, nước, không khí,…). Tài nguyên là thành
phần cấu tạo của môi trường, ví dụ tài nguyên đất, tài nguyên nước…
Mối tương quan
giữa thiên nhiên với đời sống con người.
Đời sống của mọi
sinh vật nói chung và của con người nói riêng luôn gắn liền với thiên nhiên.
Mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên là một điều hiển hiện có thể thấy
được ngay trong đời sống thường ngày. Con người được sinh ra từ thiên nhiên,
thiên nhiên quyết định cuộc sống của con người và con người quyết định số phận
của thiên nhiên.
Con người vừa là
sản phẩm vừa là chủ thể của tài nguyên và môi trường. Vì con người tồn tại được
là cần có các tài nguyên của môi trường cung cấp; bên cạnh đó con người trong
hoạt động của mình có tác động mạnh mẽ trở lại và làm thay đổi môi trường.
Tác động của
thiên nhiên với đời sống con người.
Con người nhận ở
môi trường tự nhiên: Thức ăn, nước uống, khí thở, cảnh đẹp để duy trì cuộc sống
và giải trí. Con người cũng nhận ở môi trường các loại tài nguyên thiên nhiên:
Kim loại, mỏ quặng các loại, than đá, khí đốt, gỗ rừng, gió, sức nước, sợi vải,
cây trái … để đưa vào sản xuất chế biến phục vụ đời sống con người và phát
triển xã hội.
Con người cho vào
môi trường tự nhiên: Rác thải sinh hoạt, rác công nghiệp, y tế, … nếu không xử
lý rác thì môi trường sẽ bị ô nhiễm trầm trọng. Khai thác tài nguyên không có
kế hoạch thì sẽ bị cạn kiệt, cây rừng, muông thú sẽ bị tuyệt chủng…
Tác động của con
người với thiên nhiên.
Thiên nhiên mang
đến cho chúng ta bao nhiêu là lợi ích. Thế nhưng con người chúng ta lại không
biết tôn trọng, bảo vệ và giữ gìn chúng. Chúng khai thác tài nguyên thiên nhiên
một cách vô tội vạ. Chúng ta làm ô nhiễm tài nguyên nước cũng như không khí
bằng các chất thải độc hại từ các nhà máy, xí nghiệp, các phương tiện giao
thông thường ngày. Tất cả các khu rừng đều bị chúng ta tàn phá, chúng ta đốt
rừng, chặt phá cây cối để tìm kiếm lợi nhuận riêng cho chính bản thân mình mà
không nghĩ đến người khác.
Những nguồn lợi
từ thiên nhiên mang đến cho cuộc sống chúng ta tưởng chừng như vô tận, nhưng
nếu chúng ta không biết bảo tồn và gìn giữ sẽ dẫn đến việc tài nguyên bị cạn
kiệt, môi trường bị ô nhiễm sẽ làm thủng tầng ô zôn, trái đất bị nóng lên cũng
như nguy cơ hạn hán, lũ lụt càng nhiều. Chính chúng ta đã góp phần tạo nên
những tác động nguy hại đến đời sống của bản thân chúng ta.
Thiên nhiên có vai trò rất quan trọng đối với tất cả con người cũng như tất cả những sinh vật sống trên trái đất. Chính vì thế chúng ta phải biết khai thác, sử dụng hợp lí cũng như bảo tồn, giữ gìn thiên nhiên để thiên nhiên trở thành một trong những tài sản quý giá nhất của con người chúng ta.
Hiện trạng môi
trường thiên nhiên.
Thông qua các
phương tiện truyền thông đã giúp cho chúng ta có nhiều thông tin về hiện trạng
môi trường thiên nhiên ngày càng ô nhiễm, vỏ trái đất đang nóng dần lên, thiên
tai nhiều hơn, nhân loại đang phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
Sự thay đổi của
môi trường thiên nhiên ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người, dịch
bệnh ngày càng nhiều hơn. Đời sống con người đang xa dần với môi trường thiên
nhiên do chịu ảnh hưởngcủa hiện trạng đô thị hóa của xã hội.
Giải pháp nào cho
cuộc sống con người trước hiện trạng môi trường thiên nhiên?
– Nhận thức đúng
đắn hơn về tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người
– Mỗi người chúng
ta hãy cùng chung tay bảo vệ môi trường và với các
Hoạt động trong
và ngoài nước về bảo vệ môi trường.
– Nhu cầu ngày
càng cao trong cuộc sống hiện nay đã dần hướng mọi người đến sử dụng các sản
phẩm từ thiên nhiên để bảo vệ sức khỏe cũng như sắc đẹp của mình.
– Việc cải thiện môi trường là một quá trình và cần có thời gian, chính vì vậy mõi người chúng ta cần chọn cho mình một giải pháp chăm sóc sức khỏe cho mình và gia đình với tình trạng môi trường hiện nay.
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
Ở NƯỚC TA
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC
Môi trường bao
gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có liên quan trực tiếphoặc gián
tiếp đến cuộc sống con người. Nó được tạo lập xung quanh con người, chi phối
đời sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Trong mối
quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, con người luôn tạo ra
những tác động tíchcực và tiêu cực. Mối quan hệ giữa con người – môi trường
được xem là mối quan hệ biện chứng tự nhiên – xã hội trong sự phát triển bền
vững ở nước ta. Đó là phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường,
giữ cân bằng giữa môi trường và sự phát triển.
Vấn đề môi trường
có vị trí quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con người. Môi
trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh
sống và sản xuất của con người. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên”
Với tư cách là
một thực thể tự nhiên – xã hội, con người sống trong môi trường tự nhiên và
luôn tồn tại trong môi trường xã hội. Mọi sự xáo trộn về môi trường tự nhiên
cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng sống của con
người. Để xử lý mối tương tác đó, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh
nghiệm của mình để tìm được “tiếng nói chung” với môi trường. Tuy nhiên, trong
bối cảnh hiện nay đang xuất hiện những vấn đề phức tạp trong việc giải quyết
mối quan hệ giữa con người và môi trường. Những cảnh báo khoa học đã giúp chỉ
rõ mối liên hệ nhân quả giữa của con người với môi trường sinh thái, giữa phát
triển kinh tế - xã hội với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Từ đó bắt đầu hình
thành những tư tưởng cơ bản về phát triển bền vững ở nước ta – một sự phát
triển hài hòa cả về kinh tế, xã hội, tài nguyên môi trường để đáp ứng những nhu
cầu về đời sống vật chất, tinh thần của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn
hại hoặc gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế -
xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng sống của các thế hệ tương lai.
Bài viết tập
trung nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường (môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội) trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay. Qua đó,
giúp cho mọi người thấy rõ hơn những tác động tích cực và tiêu cực của con
người đối với môi trường, cùng với những ảnh hưởng vô cùng to lớn của môi
trường đối với cuộc sống con người.
Để phục vụ bài viết này, Ngọc Minh sử dụng phương pháp luận triết học, đồng thời còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic.
NỘI DUNG
+ Mối quan hệ
giữa con người và môi trường tự nhiên trong sự phát triển bền vững ở nước ta
hiện nay
Môi trường tự
nhiên là tất cả những gì tạo nên môi trường sống quanh con người.
Đó là tổ hợp của
các yếu tố như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, khí hậu, ánh
sáng, cảnh quan… Cơm ăn, nước uống, thuốc chữa bệnh, quần áo mặc đều là sản
phẩm từ thiên nhiên thông qua quá trình lao động của chính con người.
Con người và môi
trường tự nhiên có mối quan hệ rất chặt chẽ. Con người lựa chọn, tạo dựng môi
trường sống cho mình từ môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên quy định cách
thức tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động vào môi trường tự
nhiên theo cả hướng tích cực và tiêu cực.
Sự tác động tích cực
của con người vào môi trường tự nhiên được thể hiện qua việc tận dụng khai thác
tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình.
Đồng thời, con người biết lựa chọn cho mình không gian sống thích hợp nhất, từ
chỗ lệ thuộc bị động đến cải tạo chinh phục tự nhiên. Sự tác động của con người
tăng theo sự gia tăng quy mô dân số và theo hình thái kinh tế (Từ nền nông
nghiệp săn bắt hái lượm đến nền nông nghiệp truyền thống và nền nông nghiệp
công nghiệp hóa). Tuy nhiên, sự tác động tiêu cực của con người vào môi
trường tự nhiên khiến cho môi trường tự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm, lúc đó con
người sẽ luôn phải sống trong cảnh lo âu về thiên tai, dịch bệnh... Do vậy, môi
trường tự nhiên phải được bảo vệ một cách tốt nhất, phải tiết kiệm các nguồn
tài nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, làm cho hệ
sinh thái được tái sinh thường xuyên. Đặc biệt, các hoạt động kinh tế của con
người phải được coi là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái và phát triển
kinh tế phải bảo toàn sự cân bằng của hệ sinh thái. Vấn đề nóng bỏng, gây bức
xúc trong dư luận xã hội nước ta hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh
thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này
ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển bền vững, sự tồn tại
và phát triển của các thế hệ con người. Trong một vài năm trở lại đây, chúng ta
luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra và do công tác
bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị
chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người làm ô nhiễm nghiêm
trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thử thách lớn lao. Đó
cũng chính là những kết quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng tự nhiên và sự
lúng túng trong việc tìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững. Có
điều là, nếu những hành vi của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên thì
tự nhiên sẽ là người bạn tốt, đầy thiện chí, ngược lại những hành vi trái với
quy luật tự nhiên thì sức trả thù của tự nhiên sẽ lớn hơn bất cứ lực lượng xã
hội nào. Thực tế đã chứng minh, không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể
sống trong đó có con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh
tim mạch, viêm vùng họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra cái chết cho
con người do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc,
cao huyết áp, bệnh trầm cảm, bệnh mất ngủ và gây nhiều hậu quả khác.
Chúng ta đang
sống trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển
mạnh mẽ, cuộc sống con người có những bước tiến rõ rệt, nhân loại tạo ra ngày
càng nhiều và phong phú những của cải vật chất, tinh thần cho con người. Điều
này dã phần nào thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người và đưa đến
sự phát triển nhanh nền văn minh nhân loại. Nhưng do sự gia tăng dân số và nhu
cầu đòi hỏi không giới hạn của con người đã làm cho nguồn tài nguyên thiên
nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi.
Đặc biệt, những tác hại của chất thải công nghiệp gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Theo số liệu mà Ngọc Minh nghiên cứu, trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cả nước có khoảng 200 khu công nghiệp. Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20% như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lý nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Ngọc Minh đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như sông Thị Tính, Thị Vải); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 – 9 lần. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông Đồng Nai phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập lụt và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm họa về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp. Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng quyết liệt của người dân, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt đối những hoạt động gây ô nhiễm môi trường.
Để tồn tại và
phát triển, con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhả ở, sản xuất
lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần
thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại
không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới.
Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên sẽ
dẫn đến những hậu quả nặng nề mà con người phải gánh chịu. Do đó, để vừa được
hưởng cuộc sống có chất lượng cao vừa bảo vệ được môi trường sống là cả một vấn
đề rất lớn và phức tạp, không chỉ giới hạn trong việc sử dụng những sản phẩm
tiêu thụ mà còn liên quan rất nhiều đến cách cư xử của chính con người với
thiên nhiên. Điều đó có thể nhận thấy qua việc chặt phá mở rộng diện tích đất
rừng canh tác hoặc lấy đất để ở đang diễn ra một cách tự phát, không tuân theo
quy định của pháp luật. Diện tích rừng ngày một giảm dần dẫn đến nạn ô nhiễm
môi sinh, nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, hạn hán, lũ lụt ngày một tăng
cả về tầng suất và cường độ, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người,
phá hoại tài sản không phải là chuyện hiếm. Những năm gần đây, chủ trương ngăn
đê, đắp đập chủ động nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, làm thủy điện ở một
số địa phương nước ta đã gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và
ngập lụt cục bộ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe con người và các
cơ thể sống khác. Trường hợp ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt ở đồng bằng sông Cửu
Long, lũ lụt ở miền Trung… đã cho thấy rõ điều đó.
Đáp ứng nhu cầu
lương thực, thực phẩm hàng ngày, con người không thể chỉ dựa dẫm vào thiên nhiên
và sử dụng các phương pháp canh tác cổ xưa mà phải đưa tiến bộ khoa học - kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống nhằm nâng cao năng xuất lao động và chất lượng
cuộc sống. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay trong các sản phẩm tiêu thụ hàng ngày
còn tồn dư quá nhiều hóa chất độc hại gây ra những vụ ngộ độc nghiêm trọng. Bên
cạnh những ảnh hưởng trực tiếp các vụ ngộ độc lên sức khỏe con người, những hóa
chất độc hại đó còn để lại những di chứng tiềm ẩn lâu dài, gây ra nhiều chứng
bệnh nan y mà con người phải gánh chịu. Theo thống kê của Bộ y tế, hàng năm cả
nước ta có gần 200.000 người bị bệnh ung thư mới phát hiện và có 70.000 người
chết vì căn bệnh này. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
bệnh ung thư ngày càng gia tăng, theo đánh giá tổng hợp của Bộ Y tế và Bộ Tài
nguyên – Môi trường là do môi trường sống ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Một
trong những giải pháp lớn cho vấn đề trên là cần áp dụng một cách triệt để hơn
các quy định của Nhà nước như Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển
rừng. Các Nghị định hướng dẫn thi hành luật mà Nhà nước đã ban hành.
Muốn phát huy ý
thức về bảo vệ môi trường của mọi người, mọi nhà, mọi địa phương trong cả nước
phải thường xuyên cùng nhau nỗ lực giải quyết và thực hiện nghiêm pháp luật.
Luật Bảo vệ Môi trường nước ta ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường,
thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện,
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”. Có như vậy, chúng ta
mới có thể hy vọng vào một tương lai với môi trường sống ngày càng trong lành
và thân thiện với con người hơn.
+ Mối quan hệ
giữa con người và môi trường xã hội trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện
nay
Môi trường xã hội
là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho
sự phát triển, làm cho con người khác với các sinh vật khác.
Môi trường xã hội
là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi
trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, thể
thao, lịch sử…xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục
tiêu cho mình. Con người tồn tại trong môi trường xã hội và chịu sự tác động
qua lại của cộng đồng và luật pháp. Trong một xã hội văn minh, có luật pháp ổn
dịnh con người sẽ có điều kiện phát triển bền vững và năng động hơn.
Trong cộng đồng
truyền thống, bên cạnh hệ thống luật pháp của Nhà nước, nhiều làng xã có hương
ước riêng do dân làng đặt ra và được thực hiện nghiêm ngặt trong phạm vi luật
lệ của làng. Có thể xem môi trường xã hội là điều kiện vật chất và tinh thần
của xã hội được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, bảo
đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Với ý nghĩa ở tầm vĩ mô, môi trường
xã hội là cả một hệ thống kinh tế - xã hội trong tính tổng thể của nó.
Đó là các lực
lượng sản xuất, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội và văn
hóa. Với ý nghĩa ở tầm vi mô, môi trường xã hội bao gồm: gia đình, các nhóm,
các tập thể học tập, lao động, các tập đoàn…tồn tại xung quanh con người với
các quá trình hoạt động giao tiếp của con người.
Môi trường xã hội
tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách của con
người. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện
sống về vật chất và tinh thần của con người thông qua việc sản xuất ra của cải
vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Trong quá trình
tìm kiếm con đường phát triển, loài người đã nhận ra giữa môi trường và sự phát
triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của
sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Môi trường xã hội
trong bối cảnh hiện nay ở nước ta đang phát triển theo chiều hướng cực kỳ sôi
động và cũng hết sức phức tạp. Lĩnh vực đáng quan tâm trước hết là những diễn
biến của quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa và hội nhập. Trong đó, giao lưu
văn hóa đang trở thành chiếc cầu nối tiềm ẩn những sắc thái văn hóa mới, nhưng
cũng đã xuất hiện những mặt trái đáng báo động trong môi trường xã hội. Sự pha
trộn các sắc thái văn hóa khác nhau trong một không gian đối tượng hưởng thụ có
trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng đều đã làm nảy sinh những khuynh
hướng không có lợi trong quá trình hình thành nhân cách con người. Các giá trị
đạo đức truyền thống, lối sống, văn hóa của con người Việt Nam đang đối mặt một
cách gay gắt với những tác động tiêu cực của lối sống, văn hóa ngoại lai.
Đó là lối sống
thực dụng, thác loạn, tự do cá nhân, tôn thờ đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi
thường các giá trị thuần phong mỹ tục của dân tộc, chà đạp lên tình nghĩa gia
đình, quan hệ thầy trò, tình đồng chí, đồng nghiệp. Lối sống thực dụng, vị kỷ
đang dẫn đến thái độ bàng quan, sống thờ ơ, lạnh nhạt với cộng đồng và những
người xung quanh. Điều đó làm cho mối liên kết giữa các nhân và cộng đồng, giữa
con người với con người trở nên lỏng lẻo, đi ngược lại truyền thống “tương thân,
tương ái” của dân tộc. Đây là một trong những thách thức lớn đối môi trường
sống của con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Do vậy, vấn đề đặt ra
trong hiện tại và tương lai cho các thế hệ Việt Nam là cần đặc biệt quan tâm
giữ gìn, nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo
đức, tập quán tốt đẹp, ý thức về cội nguồn và lòng tự hào dân tộc, có khả năng
đề kháng chống lại những căn bệnh do sự “ô nhiễm” của môi trường xã hội gây ra.
Bên cạnh sự
“xuống cấp” của môi trường văn hóa Việt Nam trong tiến trình giao lưu và hội
nhập, đó là sự phá vỡ của môi trường xã hội bởi các loại tệ nạn xã hội về mại
dâm, ma túy, cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan…cùng với các loại tội phạm giết
người, cướp của, xâm hại tình dục trẻ em… Hậu quả là cấu trúc gia đình, làng xã
bị phá vỡ, xã hội rơi vào tâm trạng bất an. Tệ nạn xã hội và tội phạm ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe và đạo đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm rối
loạn trật tự xã hội, suy thoái giống nòi, dân tộc. Môi trường xã hội Việt Nam
thật sự bất ổn về nhiều mặt qua nhiều sự kiện gần đây như vụ một người phụ nữ
nghèo ở Buôn Mê Thuật đi mót hạt cà phê trong một trang trại bị người quản lý
của trang trại bỏ mặc cho đàn chó dữ cắn xé đến chết, cho đến vụ án hiệu trưởng
một trường trung học phổ thông ở tỉnh Hà Giang, ông Sầm Đức Xương mua dâm hàng
loạt nữ sinh đang còn ở tuổi vị thành niên…
Hiện nay, tệ nạn
xã hội và tội phạm ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng trên quy mô lớn, có
tổ chức tinh vi. Đáng lưu ý là tội phạm ở nhóm người có chức quyền, tội tham
nhũng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở khi thực hiện
chức năng, chức quyền được giao đã tìm cách lợi dụng, chức năng, chức quyền đó
để tự cho phép làm trái pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà nước và bằng cách
đó thu lợi bất chính cho bản thân hoặc cho tổ chức mà họ là thành viên. Ngoài
ra, còn có nhóm tội phạm do buôn gian bán lận, buôn lậu, trốn thuế, quỵch nợ,
biển thủ, làm hàng giả hàng dỏm, nạn thất nghiệp, nghèo đói, lười lao động,
thích ăn chơi, đua đòi, bị sa đà, bị lôi kéo… Nếu để các nhóm này tiếp tục tồn
tại và phát triển thì đó sẽ là một tai họa, một nguy cơ của sự suy thoái đạo
đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay.
Do đời sống kinh tế nước ta còn khó khăn, cùng với sự tác động của kinh tế thị trường, trong xã hội còn xuất hiện khuynh hướng “thương mại hóa” trên nhiều lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật…nhằm mục đích thu lợi, không bảo đảm chất lượng và không mang lại những giá trị đích thực. Điều này góp phần làm tổn hại nặng nề đến môi trường sư phạm và sức khỏe cộng đồng, làm hoen ố các quan hệ con người, làm tha hóa đạo đức và nhân cách, làm suy giảm và lệch hướng mức độ và khả năng hấp thụ các giá trị tinh thần của con người.
SUY NGẪM
- Con người và
môi trường có mối quan hệ chặt chẽ.
- Con người sống
trong môi trường nào thì chịu sự tác động qua lại của môi trường đó.
- Trong mối quan
hệ với môi trường tự nhiên, con người lựa chọn tạo dựng môi trường sống của
mình từ môi trường tự nhiên, tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu
tố môi trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình.
- Môi trường tự
nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người.
- Con người tác
động vào môi trường tự nhiên theo hướng tích cực và tiêu cực.
- Trong mối quan
hệ tương tác, môi trường tự nhiên làm nền tảng cho cuộc sống của con người.
- Nếu con người
biết giới hạn để vừa sử dụng vừa bảo vệ môi trường tự nhiên thì mối quan hệ
ngày càng bền chặt và tồn tại lâu dài. Ngược lại, môi trường tự nhiên sẽ tiếp
tục bị tàn phá nếu con người không có biện pháp cụ thể để bảo vệ nó.
- Trong mối quan
hệ với môi trường xã hội, con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối
môi trường xã hội. Ngược lại, môi trường xã hội là nền tảng căn bản trong sự
phát triển nhân cách con người.
- Môi trường xã
hội tốt, con người sống sẽ được hòa nhập vào môi trường, được hưởng đầy đủ các
giá trị do môi trường xã hội mang lại. Mặt trái của môi trường xã hội đó là sự
suy thoái về đạo đức, lối sống, sự tiêm nhiễm văn hóa ngoại lai, các loại tệ
nạn xã hội, tội phạm và các biểu hiện lệch lạc khác.
- Để bảo đảm cho sự phát triển bền vững, đòi hỏi phải duy trì mối quan hệ thân thiện giữa con người và môi trường, ngăn chặn những tác động tiêu cực của con người tới môi trường tự nhiên và xã hội.
CÂU NÓI HAY VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
1. Đất nước này
là của mình. Hãy trân trọng những kỳ quan, trân trọng nguồn tài nguyên thiên
nhiên và trân trọng lịch sử như một di sản quý giá. Đừng để sự ích kỷ và tư lợi
của một vài cá nhân làm hại vẻ đẹp, sự giàu có và lãng mạn của nó. – Theodore Roosevelt
2. Ngày qua ngày,
thiên nhiên đang vẽ cho chúng ta bức tranh của vẻ đẹp vĩnh cửu. – John Ruskin
3. Trái Đất có
thể đáp ứng mọi nhu cầu của con người nhưng không thể đáp ứng được lòng tham
của mỗi người. – Mahatma Gandhi
4. Nếu mình sống
trong môi trường xấu, lý tưởng phụng sự, tâm ban đầu của mình sẽ bị xói mòn
nhanh chóng. Do đó, ta rất cần chọn một môi trường mà mọi người đang cùng chế
tác chung năng lượng từ bi, bình an, tình yêu thương. Nếu ta sống trong một
cộng đồng như thế thì tư niệm thực an lành, tâm phụng sự lớn của mình được che
chở và nuôi dưỡng. Còn nếu mình tự đặt mình vào đám đông hay giận dữ, thèm
khát, ganh tị, so sánh thì thế nào tâm ban đầu của mình cũng bị hao mòn. –
Thích Nhất Hạnh
5. Hãy nhớ rằng
Trái Đất thích cảm nhận đôi chân trần và làn gió luôn thích chơi đùa với mái
tóc của mình. – Kahlil Gibran
6. Tôi sẽ thấy
lạc quan hơn về tương lai của con người nếu chúng ta ít dành thời gian hơn cho
việc chứng tỏ mình có thể đánh lừa tự nhiên, thay vào đó là tận hưởng những gì
bà mẹ thiên nhiên ban tặng và ngưỡng mộ sự vĩ đại của Người. – Elwyn Brooks
White
7. Ta không thể trải
qua một ngày mà không có sự tương tác với thế giới xung quanh. Điều mình làm sẽ
tạo ra sự khác biệt và chính mình là người quyết định khác biệt nào mình muốn có.
– Jane Goodall
8. Chúng ta bắt
đầu thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn môi trường một cách cực kỳ cẩn thận,
bởi vì môi trường là mảnh đất nuôi dưỡng tinh thần, nơi cung cấp nguồn dinh
dưỡng cho tâm trí chúng ta. – Napoleon Hill
9. Chúng ta nên
biết tôn trọng mọi sinh vật sống và thay thế bạo lực bằng sự bao dung, thấu
hiểu và một tình yêu to lớn. – Jane Goodall
10. Chúng ta xử
tệ với Trái Đất bởi chúng ta coi nó là một tài sản thuộc về mình. Khi nào chúng
ta coi mình thuộc về Trái Đất, chúng ta có thể sẽ bắt đầu cư xử lại với tình
yêu và sự kính trọng. Aldo Leopld
11. Chính môi
trường sẽ dạy đứa trẻ, nếu mỗi sai lầm nó phạm phải được bộc lộ cho nó thấy,
không cần sự can thiệp của phụ huynh hay giáo viên. Những người này nên yên
lặng quan sát tất cả những gì xảy ra. – Maria Montessori
12. Mục tiêu đầu
tiên của việc chuẩn bị môi trường là trong phạm vi hết sức có thể, cho phép đứa
trẻ độc lập với người lớn. – Maria Montessori
13. Thiên nhiên không bao giờ vội vã. Từng chút một, “cô gái” ấy đạt được mục đích của mình. Một bài học từ việc đi thuyền hoặc trồng cây là tính kiên nhẫn của thiên nhiên – kiên nhẫn với sự chậm trễ của gió, mặt trời, thời tiết xấu… – Ralph Waldo Emerson
THƠ VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
Chung tay bảo vệ môi trường
Cây xanh tỏa bóng muôn phương yên bình
Vùng cao miền biển đẹp xinh
Bài ca xây dựng hòa bình màu xanh
Khi đô thị hóa tiến nhanh
Chao ôi là rác hôi tanh ngập tràn
Bữa cơm còn phải mắc màn
Đủ mùi xú uế hàng dàn tấn công
Lại thêm tiêu tốn nhân công
Ngày đêm dọn dẹp nhưng không thấy bờ
Hỡi ai! Đừng có thờ ơ!
Dẹp ngay rác hại .giấc mơ nhiều người
Non cao dùng bữa cười tươi
Lá làm mâm cỗ điểm mười sống xanh
Ai ai cũng muốn trong lành
Ni lông túi cước giảm nhanh đi nào
Ước mong cuộc sống thanh tao
Phân đúng loại rác bỏ vào điểm gom
Quan hệ xã hội là
những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động
kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, v.v... Mọi
sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với nhau. Nhưng
không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội
được hình thành từ tương tác xã hội. Những tương tác này không phải là ngẫu
nhiên, mà thường phải có mục đích, có hoạch định. Những tương tác này phải có
xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô hình tương tác. Nói cách khác,
các chủ thể hành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức độ tự
động hóa nhất định nào đó. Tức là họ thực hiện gần như không có ý thức, như
thói quen. Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở sân bay, nhà hàng hoặc rạp hát,
v.v... dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện lần đó; nhưng lần gặp sau lại không
nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ
chưa thể coi là có mối quan hệ xã hội. Trái lại, nếu như ở những lần gặp gỡ sau
các cá nhân đó lại tiếp tục sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữa họ có
thể coi là có mối quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định
của các chủ thể hành động. Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác
xã hội ổn định, có tính lặp lại, v.v... Các tương tác này còn có thể mang những
đặc trưng khác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau.
Hình thức quan hệ
và tương tác
Các hình thức quan hệ và tương tác trong xã hội học được mô tả như sau: trước tiên và cơ bản nhất là động vật giống như hành vi, tức là chuyển động vật lý khác nhau của cơ thể. Sau đó có những hành động - chuyển động với một ý nghĩa và mục đích. Tiếp theo có những hành vi xã hội, hoặc hoạt động xã hội, có địa chỉ (trực tiếp hoặc gián tiếp) khác với con người, trong đó thu hút một phản ứng từ các đại lý khác. Tương tác xã hội lần lượt hình thành cơ sở của mối quan hệ xã hội, và được minh họa trong bảng dưới đây:
Chủ thể xã hội
Cấp độ vĩ mô
• Nhóm xã hội;
• Tập đoàn;
• Toàn bộ xã hội.
Các nhóm, tập
đoàn lớn thường chiếm giữ những vị trí khác nhau trong xã hội. Do đó họ cũng có
những quyền lực, cơ hội, thu nhập hoặc lối sống khác nhau. Những vị trí xã hội
khác nhau, thu nhập khác nhau, lối sống khác nhau của các nhóm xã hội nhiều khi
lại là tiền tố tạo ra các tương tác xã hội giữa các nhóm. Trên cơ sở đó hình
thành những quan hệ xã hội giữa chúng. Cùng ở cấp độ vĩ mô, quan hệ xã hội còn
được thể hiện dưới dạng quan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong các quan hệ đó có tác động lẫn
nhau, và quan hệ kinh tế đóng vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng quyết định
đến chính trị, văn hóa và xã hội.
Cấp độ vi mô
• Cá nhân xã hội: các nhà xã hội học phương Tây gần như đồng nhất quan hệ xã hội với quan hệ giữa các cá nhân. Thực tế, quan hệ xã hội của các cá nhân chỉ tạo thành một bộ phận khá quan trọng của toàn bộ quan hệ xã hội. Thực chất, mọi quan hệ giữa các cá nhân được thiết lập nhờ những tương tác xã hội có tính chuẩn mực, ổn định, đều là những quan hệ xã hội. Tuy vậy, những quan hệ này lại khác biệt nhau rất nhiều nếu xét theo nội dung hoặc tính xã hội của từng loại quan hệ. Nói cách khác, có những quan hệ mang nhiều tính xã hội trong khi có những loại quan hệ ít mang tính xã hội hơn.
Quan hệ tình cảm
thuần túy
Quan hệ tình cảm
thuần túy còn được gọi là quan hệ sơ cấp, được dùng để chỉ đối lập với quan hệ
xã hội - quan hệ thứ cấp. Quan hệ tình cảm như quan hệ trong gia đình, họ hàng
- thực chất cũng là một loại quan hệ xã hội. Về cơ bản, quan hệ tình cảm cũng
có cơ chế hình thành giống như các loại quan hệ xã hội khác, tức là cũng phải
dựa trên sự tương tác lâu dài, ổn định của các chủ thể hành động.
Các loại quan hệ
xã hội
· Quan hệ giữa các tập đoàn lớn;
· Quan hệ giữa các nhóm xã hội nhỏ;
· Quan hệ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội;
· Quan hệ giữa các cá nhân.
Xem thêm
CÂU NÓI HAY VỀ QUAN HỆ XÃ HỘI
32 câu nói ý nghĩa về các mối quan hệ trong xã hội
Tình yêu, tình
bạn hay những mối quan hệ ngoài luồng khác luôn gắn với cuộc sống chúng ta. 32
câu nói sau sẽ giúp mình suy ngẫm nhiều hơn về các mối quan hệ của chính bản
thân mình.
1. "Điều
sung sướng nhất, thách thức nhất và quan trọng nhất trong một mối quan hệ là
khi mình được là chính mình."- Carrie Bradshaw
2. "Đừng
bước chân vào một mối quan hệ khi mình không được là chính mình." -Oprah
Winfrey.
3. "Cách tốt
nhất để chữa lành tổn thương là thời gian và những người bạn." - Gwyneth
Paltrow
4. "Tôi đã
từng trải qua cảnh mình chỉ có thể là bạn của một người, không hơn không
kém." - Taylor Swift
5. "Khi một
ai đó độc thân, không có nghĩa rằng là họ đang cô độc. Trong khi đó, một số
người đang trong một mối quan hệ trọn vẹn thì lại lãng quên "hạnh
phúc" là gì." - Drake
6. "Khi được
ai đó yêu thương đủ đầy, mình sẽ được tiếp thêm sức mạnh. Khi yêu ai đó sâu
đậm, mình sẽ có đủ sự can trường." - Lao Tzu.
7. "Không có
một cô gái nào không biết rằng "Họ không cần một người mà không cần họ
nữa." - Marilyn Monroe
8. "Cô ấy
chính là bạn của tôi bởi vì chúng tôi biết rằng, những gì chúng tôi có chắc
chắn sẽ làm tất cả mọi người phải ghen tị." - Cher Horowitz
9. "Trong
một mối quan hệ, tôi biết rằng, tôi nên chia tay người không ủng hộ những quyết
định của mình, không cho tôi thêm sức mạnh, không muốn dành những điều tốt đẹp
nhất trong cuộc sống cho tôi... Vì vậy, nếu bạn đang hẹn hò với một người không
muốn bạn là duy nhất của họ, đừng nên tiếp tục nữa." - Veronica Roth
10. "Tôi
không biết bất kì ai thực sự chân thành trong một mối quan hệ. Điều này dường
như không hề tồn tại." - Richard Gere
11. "Hãy
chấp nhận một tình yêu khi mình nghĩ là mình xứng đáng." - Stephen Chbosky
12. "Không
gì là tôi không thể làm cho những người bạn đích thực của mình. Thậm chí tôi
còn không có ý niệm san sẻ đi tình yêu thương đối với những người mà tôi yêu
mến. Nó vốn dĩ không phải là bản tính của tôi." - Jane Austen
13. "Ba điều
tôi muốn trong một mối quan hệ là: đôi mắt không phải đẫm lệ, đôi môi không
biết dối lừa và tình yêu thương bất diệt." - Wiz Khalifa
14. "Đừng để
ai trong cuộc đời này nói rằng chính mình không biết mình là ai." - Lady
Gaga
15. "Một
người bạn tốt sẽ biết những câu chuyện của chúng ta. Còn những người bạn thân
sẽ cùng ta viết nên những câu chuyện đó." - Vô danh
16. "Hạnh
phúc là khi mình có một gia đình đủ đầy, sum vầy, biết yêu thương và san
sẻ." - George Burns
17. "Tình
bạn là gì? Đó là tâm hồn đồng điệu của 2 con người."- Aristotle
18. "Sau tất
cả, người mình muốn kề bên chính là người làm mình mỉm cười." - Mr. Big
19. "Ta không thể chọn gia đình của mình. Đó là món quà mà Thượng đế đã ban cho mình, bởi vì mình là của họ" - Desmond Tutu
20. "Bạn bè
chính là những người luôn biết những gì đang xảy ra với mình và luôn yêu mến mình."
- Elbert Hubbard
21. "Họ có
thể thiếu thốn tình yêu, tuy nhiên nếu thiếu đi sự đồng điệu và thấu cảm như
hai người bạn thì quả là một cuộc hôn nhân không hạnh phúc." - Friedrich
Nietzsche
22. "Anh thà
chết vào ngày mai còn hơn là sống một trăm năm mà không biết gì về em
cả."- Pocahontas
23. "Những
gì tôi đang cảm nhận được lúc này, chính là lý do tại sao tôi muốn kết hôn. Dĩ
nhiên, cô gái mà tôi muốn cạnh bên đến suốt đời là một "siêu anh
hùng". Chúng tôi đã sẵn sàng để được bay cùng nhau." - Kanye West
24. "Đừng
bận tâm đến những kẻ không ra gì." - Jennifer Lawrence
25. "Cho dù
có yêu đến nhường nào, người phụ nữ cũng không nên mang cay đắng bên
mình." - Joyce Brothers
26. "Bạn tâm
giao: hai từ giản đơn, một ý nghĩa lớn. Niềm tin chính khi là một ai đó đang
nắm giữ chìa khóa bước vào trái tim mình." - Carrie Bradshaw
27. "Kết hôn
tương tự như việc bạn có một ai đó mãi mãi trong cuộc đời mình. Nó dường như là
vô bến bờ, không giới hạn." - Gloria Steinem
28. "Tôi yêu
chính bản thân mình, và tôi muốn ai đó làm điều này cùng tôi." - Eartha
Kitt
29. "Nếu bạn
không hạnh phúc khi ở cạnh bên ai đó, hãy rời xa họ. Hãy đợi đến lúc bạn tìm
thấy một người có thể giúp bạn cảm thấy là chính mình, người đó không bắt bạn
phải thay đổi nhưng lại có thể giúp bạn trưởng thành hơn mỗi ngày." - Zoe
Saldana
30. "Thời
gian chính là việc bạn đã trao đi yêu thương như thế nào." - Zadie Smith
31. "Có lẽ
đích đến của cuộc hôn nhân nào cũng sẽ là một tuyệt tác. Hãy tạo ra tuyệt tác
mà bạn muốn." - Mindy Kaling
32. "Sự cô đơn của tôi dường như cũng rất tốt. Tôi chỉ đón nhận anh nếu anh ngọt ngào hơn sự cô đơn của tôi." - Warsan Shire
20 CÂU NÓI THÔ NHƯNG THẬT VỀ CÁC MỐI
QUAN HỆ TRONG CUỘC SỐNG
Muốn có những mối
quan hệ tốt đẹp, bền vững, anh em hãy thử ghi nhớ những câu nói thô nhưng thật
dưới đây.
Có những điều tuy
thô nhưng thật về tình bạn, tình yêu lẫn tình cảm gia đình nên biết:
Bạn bè
1 Vật chất dễ
vay, ân tình khó trả. Bạn bè dễ kiếm, tri kỷ khó tìm.
2 Nếu muốn đi
nhanh, hãy đi một mình. Còn nếu muốn đi xa, hãy đi cùng nhau.
3 Sự lợi hại
không nằm ở chỗ bạn quen biết nhiều hay ít, mà ở chỗ khi gặp hoạn nạn, có bao
nhiêu người nhận là có quen biết bạn.
4 Nên tránh xa
những kẻ lấy bí mật của người khác ra để cải thiện mối quan hệ của riêng mình.
5 Có những người
mà ta không biết nói chuyện gì, nhưng cũng có những người mà ta có rất nhiều
chuyện để cùng im lặng.
6 Một người bạn
tốt là người luôn đâm ta ở ngay trước mặt. (Oscar Wilde)
7 Có những mối
quan hệ nếu không đủ dũng khí để buông tay thì nhất định quãng đời sau này sẽ
đi vào ngõ cụt.
8 Thành thật có
thể không mang lại nhiều bạn bè nhưng nó luôn mang lại những người bạn đúng
nghĩa. (John Lennon)
9 Nếu không có ai
ghét bạn nghĩa là bạn sống quá nhàm chán. Còn nếu ai cũng ghét bạn thì bạn sống
như *ba chấm*.
10 Khi bạn có tiền trong tay, chỉ có bạn quên mất mình là ai. Nhưng khi bạn không có đồng nào, cả thế giới sẽ quên đi bạn là ai. Đó là cuộc sống. (Bill Gates)
Gia đình
11 Nhà không cần
quá lớn, miễn trong đó có đủ tình yêu thương.
12 Ngôi nhà nhiều
tiếng cười cũng thường là ngôi nhà nhiều phiền muộn. (Edward Young)
13 Gia đình là sự
nghiệp cuối cùng. Tất cả mọi sự nghiệp khác đều phục vụ cho một mục đích, đó
chính là gia đình
14 Người ta có
nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về.
15 Một người đàn
ông không dành thời gian ở cùng với gia dình mình sẽ không bao giờ có thể là
một người đàn ông chân chính (Don Vito Corleone).
Tình yêu
16 Khi bình yên
người ta thường quên đi những lời thề trong giông bão.
17 Yêu nhau không
phải là cả đời không cãi nhau, mà là cãi nhau rồi vẫn có thể bên nhau cả đời.
18 Thật dễ dàng
để làm quen với một người xa lạ. Nhưng thật khó để quên đi một người xa lạ đã
từng quen.
19 Yêu đơn phương
cũng giống như tự... tè vào chân mình. Người ngoài nhìn vào chửi mình ngu nhưng
bản thân lại thấy rất ấm áp.
20 Trên đời này không có người vô tâm, chỉ là tâm của họ không hướng về mình mà thôi.
DANH NGÔN HAY VỀ QUAN HỆ
Bản chất một
người không phụ thuộc vào cuộc nói chuyện gần nhất mà thể hiện trong toàn bộ
mối quan hệ.
Ta không thể cứu
vãn một mối quan hệ trừ phi cả hai bên đều đầu tư tâm sức như nhau. Để thành
công phải có nỗ lực song phương. Chỉ một người cố gắng sẽ không bao giờ đủ.
Ta muốn tin rằng
trong đời có mối quan hệ mà sự phản bội không thể chạm tới. Một mối quan hệ
không thể bị ảnh hưởng bởi loại tổn thương đó. Và không có đâu.
Cá nhân tôi rất thích
dâu và kem, nhưng tôi phát hiện rằng không biết vì lý do kỳ lạ gì, cá lại thích
sâu hơn. Vậy nên khi tôi đi câu cá, tôi không nghĩ về điều tôi muốn. Tôi nghĩ
về điều chúng muốn. Tôi không treo mồi là dâu và kem. Thay vì thế, tôi treo mồi
là sâu hay châu chấu trước lũ cá, và bảo: "Lũ mày có thích chúng
không?"Tại sao lại không dùng lẽ thường như thế khi đi 'câu' người?
Các mối quan hệ
cần đặt trên sự tin tưởng và nếu mình phải chơi trò thám tử trong mối quan hệ
của mình, thì đã đến lúc bước tiếp rồi.
Các mối quan hệ
của con người giống như những động từ bất quy tắc trong một số ngôn ngữ mà gần
như tất cả động từ đều bất quy tắc.
Các mối quan hệ
là dấu xác nhận cho người trưởng thành.
Cái chết cố định
vĩnh viễn mối quan hệ giữa người ra đi và người còn sống trên trần thế.
Chất lượng cuộc
sống là chất lượng của những mối quan hệ ta có.
Chúng ta quên đi
làm thế nào để tự bản thân mình là một con người toàn vẹn. Ta cảm thấy như mình
chỉ là một nửa cá thể và ta cần ai đó khác để khiến mình toàn vẹn. Đó là lời nói
dối ta nói với bản thân, và thật không may, lời nói dối đó đã hủy hoại quá
nhiều người. Ta bước vào mối quan hệ, ta bị tổn thương, và rồi ta tìm đến ai đó
khác để giấu đi đau khổ hay lấp đầy khoảng trống trong cuộc sống, nhưng ta lại
không nhận ra rằng tìm đến nhầm người sẽ chỉ khiến mọi chuyện càng tồi tệ hơn.
Chúng ta xây quá
nhiều tường và chẳng đủ cầu.
Có những người
trở nên gắn bó hơn, có những người nhạt nhoà dần khỏi thế giới của mình. Có
người trân trọng giữ bên mình, có người chôn sâu trong tim, thỉnh thoảng uống
cốc trà chiều, nhớ lại những chuyện đã qua, có thể mỉm cười, vậy là đủ.
Có những người
vừa gặp đã trở nên thân quen, có những người biết cả đời cũng không thể nào
thân thiết.
Con người giống
như đất. Họ có thể nuôi dưỡng ta và khiến ta trưởng thành, hoặc họ cũng có thể
ngăn cản sự phát triển của ta, và khiến ta héo tàn.
Cuộc sống là sự
vận động, sự vận động liên tục trong các mối quan hệ và tư duy; cố gắng bắt lấy
vận động ấy dưới hình thức quá khứ, như ký ức, là sợ hãi cuộc sống.
Đây là bài kiểm
tra không thể sai lầm. Hãy tưởng tượng mình ở trong một tình huống chỉ có một
mình, duy nhất một mình trên thế gian, và mình được chọn một trong hai thứ:
sách hay người. Tôi thường nghe người ta yêu quý sự cô độc của mình, nhưng đó
chỉ bởi vì vẫn có con người ở đâu đó trên thế gian, dù là ở nơi xa xôi. Tôi
không biết gì về sách khi tôi rời khỏi bụng mẹ, và tôi sẽ chết không phải với
sách mà với bàn tay của một người khác trong tay mình. Thực ra tôi đôi lúc vẫn
đóng cửa và đắm mình trong sách, nhưng chỉ bởi tôi có thể lại mở cửa và thấy có
người nhìn mình.
Dù là mối quan hệ
gì thì người đến - nên nhiệt tình tiếp đón, người đi - hãy bình thản tiễn đưa!
Đừng chấp nhận
mối quan hệ không cho phép mình là chính bản thân mình.
Dưỡng ấm một trái
tim phải mất rất nhiều thời gian, nhưng làm nó lạnh giá chỉ cần trong chớp mắt.
Hóa ra khoảng
cách giữa con người cũng tùy lúc mà gần, hay xa.
Khi mình hạnh
phúc 100% rằng mình độc thân, chính là lúc mình sẵn sàng bước vào mối quan hệ.
Khoảng 15% thành
công tài chính của một người đến từ tri thức kỹ thuật và 85% đến từ kỹ năng
trong quan hệ với con người - từ tính cách và khả năng dẫn dắt người khác.
Không có ai nhất
định phải đối với ai tốt, người khác giúp mình, chính là phân tình, mình cũng
nên hiểu được phải có hồi báo, như vậy giao tình mới có thể lâu dài. Người chỉ
biết đòi lấy mà không chịu trả giá, thật sự vừa vô sỉ, vừa đáng ghét.
Không có giao
tiếp, không có quan hệ; Không có tôn trọng, không có tình yêu; Không có tin
tưởng, không có lý do để tiếp tục!
Mọi mối quan hệ
đều giống như những hạt cát trong tay mình vậy. Nếu buông lỏng trên bàn tay để
mở, cát vẫn nằm ở đó. Ngay giây phút mình nắm tay lại và siết chặt, cát lọt qua
những kẽ ngón tay mình. Ta có thể giữ lại chút cát, nhưng phần lớn sẽ rơi mất. Một mối
quan hệ cũng như vậy, nếu buông lỏng với sự trân trọng và cho đối phương tự do,
nó vẫn nguyên vẹn. Nhưng nếu giữ quá chặt và quá chiếm hữu, nó sẽ tuột dần khỏi
tay mình và rơi mất.
Mối quan hệ giữa
người với người đã hỏng, nên sớm nhổ cỏ tận gốc, nếu không sớm muộn chúng cũng
sẽ sinh trưởng thành độc thảo, kết thành một mạng lưới, sau đó khiến mình rơi
vào trong đó không cách nào thoát ra nổi.
Mối quan hệ trở nên dễ dàng hơn khi mình nhận ra mình không cần phải là người có lỗi để làm người nói lời xin lỗi.
Một mối quan hệ
chân thực giống như một con sông; nó càng sâu, nó càng ít tạo tiếng ồn.
Một mối quan hệ
giống như một công việc mà mình chẳng bao giờ có thể nghỉ hưu. Khi mình ngừng
nỗ lực vì nó, nó ngừng hoạt động.
Một mối quan hệ
không có sự tin tưởng giống như chiếc điện thoại di động không hòa mạng, tất cả những gì mình có thể làm là chơi trò
chơi.
Một số thử thách
lớn nhất trong các mối quan hệ đến từ việc hầu hết mọi người bước vào mối quan
hệ vì muốn đạt được điều gì đó: họ cố gắng tìm kiếm người sẽ làm cho họ cảm
thấy tốt đẹp. Trên thực tế, cách duy nhất để khiến một mối quan hệ duy trì bền
vững là nếu mình nhìn nhận mối quan hệ đó như là nơi để mình cho chứ không phải
là nơi để mình lấy.
Nghịch cảnh kéo
con người lại với nhau và tạo ra cái đẹp và sự hài hòa trong các mối quan hệ
cuộc đời, cũng như giá lạnh mùa đông tạo ra hoa băng trên những ô cửa kính, để
rồi tan đi trong hơi ấm.
Ngôn ngữ là một
môn nghệ thuật tinh thâm uyên bác, mỗi một câu nói trước khi được thốt ra, phải
học cách nghĩ đi nghĩ lại ba lần trong đầu đã, cố gắng hết sức để lựa chọn một
phương thức hữu hảo và dễ được người khác chấp nhận nhất để từng bước từng bước
tiến hành thảo luận. Do đó, duy trì tốt các mối quan hệ mới là bước đầu tiên
thiết thực giúp người ta tiếp cận gần hơn với giấc mơ.
Những động lực
cần thiết để làm bất cứ mối quan hệ nào trôi chảy: Cứ tiếp tục trao đi tình yêu
thương của mình.
Những mối quan hệ
cũng giống như những mảnh thủy tinh. Đôi khi để chúng tan vỡ còn hơn cố gắng
làm mình thương tổn bằng cách gắn nó lại.
Những mối quan
hệ, giống như ô tô, nên được bảo trì thường xuyên để đảm bảo chúng vẫn chạy
được trên đường.
Những người có
điểm giống nhau thường có khuynh hướng ưa thích nhau.
Nỗi đau của họ
như tấm gương soi vào nhau, thấy rõ đối phương. Thương xót cho nhau nhưng không
thể giơ tay ra chạm tới. Không bao giờ kể lể. Cãi nhau, không hiểu nhau, lạnh
nhạt, cố chấp. Chỉ có thể duy trì bằng cách như vậy. Chính như vậy. Có một số
người, họ yêu quý nhau như vậy. Tình yêu của họ cách trở hai bờ, chỉ có thể nhìn
nhau, không thể sát gần.
Ốc sên vác trên
mình chiếc vỏ nặng nề, lê từng bước, từng bước về phía trước. Dù gian khổ thế
nào nó cũng không muốn từ bỏ, bởi chiếc vỏ ấy đã gắn chặt với cuộc đời nó. Cũng
như mỗi người chúng ta đều là một phần cuộc sống của một người nào đó, ở tận
sâu trong trái tim, không thể tách rời.
Quân tử bất dĩ
sắc thân nhân. Tình sơ nhi mạo thân, tại tiểu nhân tắc xuyên du chi ích dã dư?
Tình dục tín, từ dục xảo.
Quân tử không lấy
sắc bên ngoài để thân cận với người. Tình sơ giao mà dùng dung mạo thì khác nào
kẻ tiểu nhân khoét tường lén trộm cắp của người? Tình phải tin nhau, lời phải
khéo léo.
Quy luật tương
ứng nghĩa là thế giới bên ngoài của mình là tấm gương phản chiếu thế giới bên
trong. Thế giới bên ngoài của mình tương ứng với thế giới bên trong. Thế giới
bên ngoài của những mối quan hệ - đặc biệt là quan hệ với con cái và bạn đời -
chỉ đơn giản là tương ứng với cách mình cảm nhận về chính mình, về những gì
mình đang làm.
Rõ ràng chúng ta
tự tạo nên bản thân mình. Để tôi giải thích. Tôi bước vào ngôi nhà này và lập
tức tôi trở thành điều tôi phải trở thành, điều tôi nên trở thành: Tôi tự tạo
ra bản thân mình. Tôi thể hiện bản thân với mình phù hợp với mối quan hệ mà tôi
muốn đạt được với mình. Và, dĩ nhiên, bạn cũng làm như vậy với tôi.
Sự chú ý của con
người thường tập trung vào những sự thỏa mãn mà các mối quan hệ được kỳ vọng sẽ
mang lại, chính xác là bởi chúng không thực sự làm hài lòng theo cách nào đó.
Và nếu chúng thực sự làm hài lòng, cái giá của sự thỏa mãn này thường cho thấy
là không thể chấp nhận được.
Sự hờ hững bắt
đầu như một vết nhiễm trùng, rồi trở thành căn bệnh.
Sự hoà hợp giữa người và người trong lúc ở chung không hoàn toàn quyết định bởi thời gian dài hay ngắn.
Suy cho cùng, một
mối quan hệ đổ vỡ, chưa hẳn hoàn toàn do lỗi của ai dối lừa ai, chỉ đơn giản vì
những xao lòng của trái tim không cần thêm bất cứ lời biện hộ nào. Biết là sai,
nhưng đã lạc nhịp, làm sao cấm cản cho đừng nhạt phai?
Tại sao người ta
lại khăng khăng giữ mối quan hệ không thỏa mãn, không sẵn lòng đi tìm giải pháp
hoặc chấm dứt nó và bước tiếp? Bởi vì họ biết thay đổi sẽ dẫn tới điều chưa
biết, và hầu hết mọi người tin rằng điều chưa biết ấy sẽ đau đớn hơn điều họ
đang trải nghiệm.
Tâm trí con người
tồn tại thôi thúc muốn nắm bắt những hình thái cố định qua những giả định không
thật, hay tưởng tượng, thứ luôn luôn hỗn loạn, luôn luôn thay đổi, và khó hiểu.
Dưới thôi thúc này, đứa trẻ thường sử dụng một kiểu cách để hành động và tìm
phương hướng. Chúng ta cũng như vậy khi ta chia trái đất thành kinh tuyến và vĩ
tuyến, bởi chỉ như vậy chúng ta mới có những điểm cố định để đưa vào mối quan
hệ với nhau.
Thật ra đôi khi
giữa người với người ở chung với nhau, chỉ cần bước một bước về phía trước mà
đối phương lại không lui về sau, cũng là một bước tiến triển rồi.
Thứ không đáng
tin cậy nhất trên thế gian là quan hệ giữa người với người.
Thử thách cho
khuôn mẫu hành vi của một người là mối quan hệ của người đó với xã hội, mối
quan hệ với công việc, và mối quan hệ với tình dục.
Trên đời này,
không có các chòm sao không hợp, chỉ có những con người không hợp nhau thôi.
Trong những mối quan hệ giữa người với người, lòng tốt và lời nói dối đáng giá cả ngàn sự thật.
CA DAO TỤC NGỮ VỀ QUAN HỆ XÃ HỘI
Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.
Ai ơi chớ vội cười nhau
Gẫm mình cho kĩ trước sau hãy cười.
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành.
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười.
Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
Con quan thì lại làm quan
Con nhà kẻ khó, bắt cua tối ngày.
Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.
Cô kia đội nón đi đâu
Tôi là phận gái làm dâu mới về
Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê
Tôi chẳng ở được, tôi về nhà tôi.
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm.
Cơm cha cơm mẹ đã từng
Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người
Cơm người khổ lắm, mẹ ơi!
Chẳng như cơm mẹ vừa ngồi vừa ăn.
Ai ơi đừng bỏ vợ ta,
Bao nhiêu cô vợ bấy nhiêu cục vàng.
Nhưng anh chẳng cần cục vàng
Chỉ cần có một con hàng như em.
Đàn ông một trăm lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Đất đâu đất lạ đất lùng,
Đi làm lại có thổ công ngồi bờ?
Thổ công không có người thờ
Cho nên mới phải vẩn vơ ngoài đồng.
Đêm nằm nghĩ lại mà coi,
Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Nhân nghĩa là chúa muôn đời
Bạc tiền là khách qua chơi bấy giờ.
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Nói lời phải giữ lấy lời
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
Nói người phải ngẫm đến ta
Thử sờ lên gáy xem xa hay gần
Nói người phải ngẫm đến thân
Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.
Non cao ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu?
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều
Người khôn mới nói nửa điều đã khôn
Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.
Không cha có chú ai ơi
Thay mặt đối lời chú cũng như cha.
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Làm người phải đắn phải đo
Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.
Làm người suy chín xét xa
Cho tường góc ngọn, cho ra vắn dài.
Lên non cho biết non cao
Xuống biển cầm sào cho biết cạn sâu.
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
Muốn no thì phải chăm làm
Một hạt thóc vàng chín giọt mồ hôi.
Rủ nhau xuống biển bắt cua
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.
Rừng có mạch, vách có tai
Kẻ trong chưa tỏ, người ngoài đã hay.
Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dù hay cũng nhàm.
Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
Sông sâu nước chảy đá mòn
Của kia ăn hết, nghĩa còn ghi xương.
Sự đời nước mắt soi gương
Càng yêu nhau lắm, càng thương nhớ nhiều.
Thế gian còn dại chưa khôn
Sống mặt áo rách, chết chôn áo lành,
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
Trăng mờ còn tỏ hơn sao
Dẫu rằng núi lỡ còn cao hơn đồi.
- Ai ơi gương vỡ khó hàn...
Ai ơi gương vỡ khó hàn,
Chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm.
- Bạn bè là nghĩa tương tri...
Bạn bè là nghĩa tương tri,
Sao cho sau trước một bề mới nên.
- Bạn nghèo thuở trước chớ quên...
Bạn nghèo thuở trước chớ quên,
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình.
- Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình...
Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình,
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi.
Bộ chi? Bộ xấu, bộ tồi,
Đã ăn hối lộ, còn đòi vú non?
- Bổn phận ở với láng giềng...
Bổn phận ở với láng giềng,
Là nơi kề cận ấm êm cửa nhà.
Ăn ở sao cho được thuận hòa,
Đừng tranh hơn thiệt, rầy rà chẳng nên.
Đôi bên là kẻ thân quen,
Trong cơn tắt lửa tối đèn có nhau!
- Cây cao thì gió càng lay...
Cây cao thì gió càng lay,
Càng cao danh vọng, càng dày gian nan.
Chim quyên xuống đất cũng quyên,
Anh hùng lỡ vận cũng nguyên anh hùng.
- Cơm ăn chẳng hết thì treo...
Cơm ăn chẳng hết thì treo,
Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng.
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
Con vua thì lại làm vua,
Con sãi ở chùa thì quét lá đa.
Bao giờ dân nổi can qua,
Con vua thất thế lại ra quét chùa.
Con vua thì ở đất vua,
Ra đi một bước phải mua đất làng,
Đò dọc phải sợ đò ngang,
Ngụ cư phải sợ dân làng chánh tri.
- Cồng cộc bắt cá dưới ao...
Cồng cộc bắt cá dưới ao,
Cha mẹ mày giàu đám giỗ đầu heo.
Cồng cộc bắt cá dưới sông,
Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.
Dẫu là lọng cả ngựa cao,
Cũng nên bước xuống mà chào bạn xưa.
- Đừng nài lương giáo khác dòng...
Đừng nài lương giáo khác dòng,
Vốn đều con cháu Lạc Hồng khi xưa.
- Giúp nhau khi đói mới hay...
Giúp nhau khi đói mới hay,
Nói chi bù cặp những ngày ấm no.
- Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu...
- Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!
Chăn trâu cho khéo làm giầu cho cha.
- Giàu thì chia bảy chia ba,
Phận em là gái được là bao nhiêu!
- Mẹ cha công đức sinh thành...
Mẹ cha công đức sinh thành,
Ra trường thầy dạy học hành cho hay.
Mười năm rèn luyện sách đèn,
Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.
- Muốn sang thì bắc cầu Kiều...
Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.
- Nghèo giữa chợ chẳng ai han hỏi...
Nghèo giữa chợ chẳng ai han hỏi,
Giàu đầu non nhiều kẻ viếng thăm.
- Người trên ở chẳng chính ngôi...
Người trên ở chẳng chính ngôi,
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
- Nhà có láng giềng nhà...
Nhà có láng giềng nhà,
Đồng có láng giềng đồng
- Nhiều quan thêm khổ thằng dân...
Nhiều quan thêm khổ thằng dân,
Nhiều giàu thì lại chết trân thằng nghèo.
- Phượng hoàng ở chốn cheo leo...
Phượng hoàng ở chốn cheo leo,
Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
Bao giờ gió thuận mưa hòa,
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.
Quốc kêu réo rắt trên ngàn...
Quốc kêu réo rắt trên ngàn,
Gà rừng táo tác gọi con trên đồi.
Lạnh lùng thay láng giềng ôi,
Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều.
- Sáo đói thì sáo ăn đa...
Sáo đói thì sáo ăn đa,
Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn.
- Sông sâu còn có kẻ dò...
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
- Trống reo thì mõ cũng reo...
Trống reo thì mõ cũng reo,
Sông khô biển cạn, chiếc thuyền chèo lơ ngơ.
Bạn thương không, nói thiệt ta chờ,
Để chi xuống bút uổng tờ giấy niêm.
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI
Công nghệ rất hữu
ích. Chúng ta trở nên năng suất hơn, bởi vì chúng ta phát minh ra công nghệ. Do
đó, con người càng hứng thú hơn với các công cụ và công nghệ. Chúng giúp cuộc
sống được dễ dàng hơn theo một phương cách nào đó. Điện thoại là một công nghệ
rất hữu ích. Và ngày nay, người ta dành nhiều thời gian hơn để xem tivi, hay
xem một cái gì đó trên điện thoại. Bởi vì điều đó làm cho họ thích thú. Con
người thực sự rất sợ sự buồn chán. Con người không thích sự buồn chán. Con
người muốn được tiêu khiển. Họ muốn một thứ gì đó để có thể giúp họ giải trí,
một thứ gì đó làm họ hứng thú. Công nghệ cũng giúp con người học hỏi được nhiều
hơn. Sách cũng là công nghệ. Như vậy, con người học hỏi từ công nghệ, con người
sử dụng công nghệ để học hỏi nhiều hơn. Tất cả mọi thiết bị, ngay cả cây thước,
cũng là công nghệ. Các Con đo cái này cái kia dài bao nhiêu. Bất cứ thứ gì con
người phát minh ra đều là một phần của công nghệ. Điều đó làm nên con người
chúng ta. Con người muốn phát minh, muốn tạo ra mọi thứ. Nên người ta liên tục,
liên tục phát minh ra các công nghệ mới. Không bao giờ dừng lại. Bản chất của
con người là khám phá, phát minh, làm cho mọi thứ tốt hơn. Đó là điều tốt.
Nhưng, khi con hỏi về vấn đề này, Ta hiểu rằng con đang suy nghĩ đến việc con
người ta đang ngày càng bị phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ và dành quá nhiều
thời gian vào đó. Câu hỏi của con là một câu hỏi rất hay.
Ngày nay, rất
nhiều nhà xã hội học, tâm lý học, và thậm chí cả bác sĩ nghĩ rằng công nghệ đã
trở thành một vấn đề cho cuộc sống. Trẻ con dành quá nhiều thời gian để chơi
trò chơi điện tử và xem video, không phải để học những điều có ý nghĩa hơn.
Chúng ta không
thể cưỡng lại công nghệ. Chúng ta phải học cách sử dụng công nghệ, đặc biệt là
những người như con, sống trong cuộc đời này và làm công việc kinh doanh. Kể cả
trong lĩnh vực giáo dục, trong các trường đại học, họ cũng cần phải sử dụng
công nghệ để dạy, để gửi thông tin. Không ích lợi chút nào nếu chống cự lại
công nghệ.
Một điểm khác con
người nói rất quan trọng. Quan hệ con người được dựa vào việc giao tiếp trực
tiếp với nhau, mặt đối mặt, người với người, lắng nghe và trao đổi. Điều đó làm
cho cuộc sống này phong phú. Công nghệ chủ yếu giúp trao đổi thông tin, nhưng
không thể tạo nên sự gần gủi. Chúng ta cần phải hiểu rằng, nếu chúng ta càng
trở nên bị lệ thuộc hơn vào công nghệ thì các mối quan hệ của chúng ta càng trở
nên hời hợt hơn. Để có thể học hỏi được những điều sâu sắc và ý nghĩa về cuộc
sống này, mọi người cần phải tiếp xúc trực tiếp với nhau, giữa người với người,
với các vị thầy, với bạn bè, để thực sự trao đổi những gì muốn học hỏi. Chúng
ta cũng có thể học hỏi nhiều từ sách vở, từ máy tính. Nhưng có những thứ chúng
ta chỉ có thể học từ một người khác. Do đó, điều rất quan trọng là chúng ta cần
phải gặp gỡ, nói chuyện, thảo luận. Cha mẹ và con cái. Họ cần phải gặp gỡ trực
tiếp. Chỉ gửi tin nhắn không thì không đủ. Chỉ gửi câu hỏi thăm đại loại như:
“Bố có khoẻ không?” – “Bố vẫn khoẻ” thì không đủ. Cần phải gặp gỡ nhau trực
tiếp, rất quan trọng. Như vậy, chúng ta cần thảo luận làm cách nào để sử dụng,
khai thác công nghệ, đồng thời với việc xây dựng các mối quan hệ một cách sâu
sắc và có ý nghĩa.
Khi kinh doanh,
Ta cần phải cho mọi người biết mặt hàng Ta bán cho khách hàng là cái gì và mức
giá mà người ta phải trả cho Ta. Và Ta phải thuyết phục được rằng, nếu họ mua
những gì Ta bán, nó có thể cải thiện cuộc sống của họ. Họ trở nên đẹp đẽ hơn,
khoẻ mạnh hơn, hạnh phúc hơn, một thứ gì đó tốt hơn. Điều này là tự nhiên.
Xuyên suốt lịch sử của cuộc sống, con người phát triển vì họ trao đổi. Tiền tệ
được phát minh để trao đổi. Ta giới thiệu món hàng Ta bán, nếu người ta thích
món hàng, người ta sẽ mua. Và đó là cách văn hoá được phát triển. Như vậy, việc
mua và bán là cần thiết. Nếu không có sự mua, bán này, thế giới sẽ không được
phát triển. Khi Ta bán một món hàng, Ta cần phải trình bày món hàng của Ta có.
Và ngày nay, với công nghệ, Ta có thể bày hàng qua Internet, qua tivi. Đây là
một phương thức nhanh hơn, dễ dàng hơn. Mọi người đều làm như thế. Và chúng ta
không thể né tránh việc này. Ta nghĩ ý Các con hỏi là làm sao sử dụng công nghệ
mà vẫn duy trì được mối quan hệ tốt với con người. Công nghệ có thể tiếp cận
được hàng tỉ người, nhưng không thể giúp chúng ta gặp nhau tận mặt. Như vậy,
chỉ có một số người mới có thể thực sự gặp mặt. Khi Ta nói chuyện trên tivi,
người ta có thể nghe và xem Ta nói. Họ lấy được một số thông tin từ việc xem.
Nhưng nếu Ta muốn hỏi ai một điều gì đó, muốn hiểu một điều gì đó một cách rõ
ràng hơn, Ta cần phải gặp mặt con người đó. Chúng ta cần phải suy nghĩ một cách
sâu sắc cách để có thể cân bằng hai thứ này.
Ngày nay, Ta thấy
giới trẻ dành quá nhiều thời gian vào màn hình, chứ không phải là việc học hỏi
những điều ý nghĩa từ người này, người kia. Điều này rất nguy hiểm. Bởi vì, để
có thể trở thành một người tốt, Các con cần phải tìm được một người tốt và học
hỏi từ họ. Làm cách nào để cuộc sống các con có ý nghĩa, bình an, và tự do? Các
Con cần phải gặp một vị thầy tốt và học từ vị thầy đó. Việc học từ sách vở,
công nghệ và học hỏi từ vị thầy cần phải đi cùng với nhau. Các Con không thể
tách rời các sự học hỏi này. Trước khi có sách, người ta chỉ có thể học hỏi
trực tiếp từ vị thầy: đi tìm và gặp vị thầy, đặt các câu hỏi, lắng nghe, và
thực hành. Kể từ khi sách được phát minh, Các con người có thể đọc sách và học
hỏi từ sách. Nhưng chỉ chừng đó thì chưa trọn vẹn. Vẫn cần phải gặp vị thầy của
con, nếu Các con muốn phát triển lên tầng mức cao hơn, sâu sắc hơn trong học
tập. Công nghệ cũng giống như sách, sách chính là một dạng công nghệ. Như vậy,
chúng ta cần phải học hỏi từ sách vở, học hỏi từ công nghệ, từ Internet. Và
chúng ta cũng cần phải học hỏi từ một vị thầy tốt. Hoặc chúng ta có thể học hỏi
lẫn nhau. Mọi người ai cũng có thể học hỏi được một thứ gì đó từ những người
xung quanh. Ta cũng có thể học hỏi được một điều gì đó từ các Các con. Khi Ta
gặp các con và suy nghĩ về các con, Ta thấy rằng, à con người này không giống
với những người khác, bởi vì chúng ta đều khác nhau. Nên khi Ta gặp gỡ, trao
đổi và hiểu hơn về Các con, điều đó làm cho cuộc sống của Ta phong phú hơn, tốt
hơn. Việc hiểu một người khác là rất quan trọng đối với chúng ta, trong bất cứ
một nền văn hoá nào. Các Con đến nước Mỹ, Các con đến Canada, Cáccon gặp gỡ
những người dân ở đó. Và Các con thấy họ sống khác với chúng ta. Thế Các Con
học được một điều gì đó từ họ. Gặp gỡ trực tiếp người khác là một việc quan
trọng của chúng ta. Từ xa xưa, người ta thường tổ chức lễ hội, mời mọi người từ
những địa phương khác nhau đến cùng tham dự, giải trí, nói chuyện, trao đổi
thảo luận, và kể cả mua bán trao đổi các mặt hàng với nhau. Ở Việt Nam, điều đó
cũng xảy ra. Trong thời gian diễn ra lễ hội, có rất nhiều người tới, trong đó
có cả những vị thầy thông tuệ. Nên người ta có những chương trình khác nhau cho
các đối tượng khác nhau.
Như vậy, gặp gỡ và trao đổi kiến thức và thông tin là việc làm cần thiết. Không nên nghĩ rằng công nghệ là một điều gì đó tệ hại. Các Con không thể cưỡng lại công nghệ. Chúng ta cần phải học cách để sử dụng công nghệ. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu rằng điều quan trọng là cần phải gặp gỡ và trao đổi với nhau. Và kể cả với công nghệ, chúng ta có thể sử dụng công nghệ để truyền tải những thông tin tốt, thông tin đúng cũng như ngược lại. Cũng giống như sách vở, có cuốn hay, có cuốn dở. Điều đó cũng không là ngoại lệ đối với công nghệ. Nếu Các con đọc cuốn sách tốt, Các con học được những điều hay. Nếu Các con đọc một cuốn sách không tốt, tài liệu không tốt, có thể các on sẽ học được những điều xấu. Các Con cần phải giải thích điều này với mọi người. Một số người không có sự hiểu biết này. Như vậy, cần phải hiểu công nghệ và sử dụng công nghệ.
NHỮNG CÂU NÓI HAY
VỀ QUAN HỆ GỮA NGƯỜI VÀ NGƯỜI
Những câu nói về
tình cảm ý nghĩa nhất thể hiện tình cảm gữa người với người . Trong cuộc sống
muốn quen biết, thân thiết với nhau thì đòi hỏi phải có tình cảm với nhau.
Trong tình yêu cũng vậy, khi hai người muốn yêu nhau và muốn tiến tới với nhau
thì điều cần thiết là phải dành tình cảm cho nhau, thì mới tạo nên một mối quan
hệ. Nhưng tình cảm là một thứ không thể đong đếm được nên tùy vào từng loại
tình cảm, từng mức độ mà tình cảm cũng nên có “khoảng cách”riêng. Những câu nói
hay về tình cảm, tình yêu hay những câu nói hay về cảm xúc sẽ là những câu nói
ý nghĩa góp phần giúp cuộc sống tươi đẹp hơn.
những câu nói hay về tình cảm
1. Khi còn bé,
chơi với bạn bè quá thân mật, nên cũng dễ chỉ vì một việc nhỏ mà cảm thấy đối
phương phiền phức.
Khi lớn lên, vì
quá gần gũi với người thân, mà cảm thấy đánh mất không gian của riêng mình.
Sau khi kết hôn,
việc sống chung với nửa còn lại đã tiêu hao phần lớn thời gian riêng tư. Lúc
đầu, muốn biết tất cả về đối phương, họ cũng muốn biết hết thảy về mình, hai
bên đều vui vẻ chia sẻ, nhưng qua thời gian dài, lại cảm thấy khó chịu…
Tất cả những mối
quan hệ thân thiết, tỉnh cảm đều cần “khoảng cách”
2. Mọi mối quan
hệ đều cần có khoảng cách, giữa người với người, không nên quá gần gũi.
3. Quá xa tổn
tình, quá gần tổn hữu. Cảm tình dù có tốt, cũng nên có khoảng cách, quan hệ có
thân thiết, cũng phải có cho mình sự riêng tư.
4. Trong hôn
nhân, cần có khoảng cách, hôn nhân không phải là trói buộc, mà là bổ sung cho
nhau.
5. “Tình cảm giữa
người với người, có đôi lúc cũng giống như chiếc áo len. Lúc đan thì từng mũi
từng sợi, cẩn thận vô cùng. Lúc tháo ra rồi lại chỉ cần kéo nhẹ một cái. Có thể
chỉ là một câu đùa vui, cũng có thể chỉ là một lần vô tình gây nên hiểu lầm
nhỏ, tất cả tình cảm liền coi như chưa từng tồn tại. Bạn bè không xét nhiều ít,
lúc khó khăn vẫn đồng hành mới là đáng quý. Tình cảm, không kể lâu chóng, lúc
nhờ giúp liền ưng thuận, giúp đỡ trân trọng nhau mới là đáng trọng.”
6. Tình là một
cốc nước, nóng lạnh vừa phải, uống vào sẽ cảm thấy thoải mái nhất, vì thế cần
phải thay đổi, để cho tình cảm được lâu dài, bền vững hơn.
7. Không có thành
công một ngày, cũng không thể một bước đặt cảm tình đúng vị trí, vì luôn phải
từng bước điều chỉnh cho thích hợp.
8. Muốn duy trì
các mối quan hệ bền vững, thì không nhất định phải quá gần gũi, mà cần có một
khoảng cách, như thế mới có thể lâu dài.
9. Tình cảm giữa
người với người, cứ nhạt một chút sẽ tốt, thân thiết quá dễ nảy sinh oán
nghiệp.
10. Mọi sự
trên đời đều có hai mặt của nó, quan hệ giữa người với người cũng như vậy. Hôm
nay hai người quá tốt với nhau, ngày mai có thể sẽ tuyệt giao không nhìn mặt.
Và đôi khi, ân oán nảy sinh lại là vì chúng ta quá thân thiết.
11. Quan hệ giữa
người với người thực sự rất thú vị, không có lòng cung kính, rất khó để duy trì
lâu dài, giữa vợ và chồng cũng vậy.
12. Tình yêu
thương,đó là tình cảm cao quý mà con người sẽ ko thể sống nếu thiếu nó.
Tình yêu thương
là mọi thứ tình cảm tốt đẹp mà con người ta dành cho nhau, có tình cảm gia
đình, tình cảm bè bạn,… thậm chí là đối với những người ta không hề quen biết.
Nó có thể là thứ tình cảm được vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài, nhưng
cũng có thế chỉ là một niềm thương cảm chợt trào dâng khi ta gặp một hoàn cảnh
nào đó.
13. Cái hạnh phúc
mà tình yêu thương đem lại cho cuộc sống là dành cho cả 2 phía. Người cho đi
yêu thương được nhận một cảm giác ngọt ngào, êm dịu và bình yên. Và hầu như là
họ cũng sẽ nhận lại được tình thương từ người mình vừa trao tặng. Người được
nhận yêu thương thì có thể nhận được rất nhiều. Đối với một đưa trẻ thì đó có
thể là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, suối nguồn tươi mát ươm mầm cho một trái tim
nhạy cảm. Cũng có thể là sức mạnh cảm hóa, bến bờ quay lại đối với một bước
chân lầm lỡ.
14. Tình yêu
thương là những rung động giữa con người với con người, là lực hấp dẫn kéo con
người ta xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất. Nếu cuộc sống không có
yêu thương thì mối liên kết sẽ vô cùng lỏng lẻo, có thể đứt gãy bất kì lúc nào.
Và sẽ thật là một thảm họa nếu như thế giới ở trong tình trạng ấy. Rất có thể
sẽ là chiến tranh, là chết chóc, bởi một khi yêu thương không tồn tại thì lòng
nhân đạo có thể bắt nguồn được từ đâu nữa? Khi ấy hạnh phúc sẽ ko thể tồn tại
được nữa!
15. Tình thương
không chỉ đơn thuần là một thứ tình cảm mà chúng ta dành cho nhau. Mà nó còn
xuất phát từ sự quan tâm yêu thương của ông bà cha mẹ dành cho con cháu và của
anh chị dành cho em út của mình.
Ngày nay khi cuộc
sống với bộn bề lo toang thì tình thương còn giữ đúng nghĩa của nó. Liệu mỗi
ngày di làm về chúng ta còn đủ thời gian góp mặt vào bữa cơm gia đình để chia
sẻ buồn vui vừa trải qua sau một ngày làm việc hay lại vùi đầu công việc đến
tối khuya và chì cần biết con cái đã được ăn uống và ngày mai chúng tiếp tục
đến trường, nghĩa vụ đó chính là tình thương mà ta dành cho chúng .Nếu như vậy
liệu chúng có cảm nhận được chăng? Hay chỉ cần học thật giỏi và chẳng cần quan
tâm đến ai cũng đủ để báo đáp tình thương đó rồi .Tình thương không phải dừng
lại ở những thứ vật chất kia.Mà tình thương đúng nghĩa đôi khi cũng chỉ là
những câu hỏi thăm của những người xa lạ và nó cũng chính là những cử chỉ những
hành động thân thiện mà chúng ta cháo hỏi nhau mỗi ngày.
16. Giữa người
với người, có thể gần, cũng có thể xa; Giữa việc với việc, có thể phức tạp,
cũng có thể giản đơn; Giữa tình cảm với nhau, có thể sâu, cũng có thể cạn.
17. Đừng mong cầu
người đối xử với mình đặc biệt, cũng chẳng nên hy vọng họ sẽ bớt đi những toan
tính.
18. Cuộc sống có
người nói ít làm nhiều, cũng sẽ có kẻ chỉ biết hoa chân múa tay. Ta không nên quá
bận lòng, chỉ cần quản tốt việc của bản thân: làm những việc cần làm, đi con
đường nên đi, giữ gìn sự lương thiện, nuôi dưỡng lòng chân thành; khoan dung
với mọi người, nghiêm khắc với bản thân, còn lại thuận theo nhân duyên là được.
19. Đức Phật từng
nói: với người không có duyên, dù nói bao nhiêu lời cũng là thừa; còn như đã
hữu duyên thì chỉ cần xuất hiện, mình cũng có thể thức tỉnh mọi giác quan của
họ…
20. Có một số
việc, vừa phân trắng đen đã trở thành quá khứ; Có một số người, giận hờn vài
ngày đã trở thành dĩ vãng; Có những nỗi đau, vừa cười lên đã tan thành bọt
nước; Có những hoàn cảnh, nhờ chịu chút thương đau mà trở nên kiên cường.
21. Đôi khi hôm
nay là việc lớn, ngày mai nhìn lại chẳng có gì đáng kể; năm nay quan trọng,
sang năm sẽ trở thành thứ yếu; chuyện vĩ đại đời này, đời sau người ta gọi là
truyền thuyết.
22. Chúng ta,
nhiều nhất cũng chỉ là câu chuyện của một người. Vì thế trong cuộc sống hay
công việc, nếu gặp chuyện không vừa ý, hãy nói với bản thân: “hôm nay sẽ qua
đi, ngày mai rồi cũng đến, hãy buông bỏ tất cả để bắt đầu ngày mới!”
23. Trên đời, có
một số việc không phải không để tâm, mà để tâm cũng không làm được gì hơn.
24. Cuộc sống
không có “nếu như”, chỉ có “hậu quả” và “kết quả” . Đón nhận đời mình như thế
nào là do bản thân lựa chọn, người khác không thể quyết định thay.
25. Trưởng thành
rồi, mình sẽ biết cách lấy nụ cười đối diện với tất cả.”
26. Quan hệ giữa
người và người, có thể tình cờ và đầy hồi hộp như chúng ta đoán lá bài đang úp
mặt xuống hoặc một hộp chocolate – chúng ta không biết được mùi vị bên trong
nhân sau khi ăn.
27. Quan hệ giữa
chúng ta và thế giới, mỏng manh như sợi chỉ, đầy đủ hỉ nộ ái ố, bi ai, hài
hước; đầy thất vọng và kỳ vọng, đầy trớ trêu và thường tình.
28. Thế giới thì
rộng lớn và đầy tình cờ, tôi vẫn chưa hiểu hết lý do của việc hai người gặp
nhau và thấy hứng thú ở nhau. Chắc chắn phải có cái gì thú vị hơn là bề ngoài
và sở thích.
29. Thái độ sống
của con người mang tính chất quyết định hủy hoại mối quan hệ hay làm nó trở nên
sâu sắc hơn. Lúc thân thiết, hai người có thể mặc chung một cái quần nhưng một
khi đã mâu thuẫn, có thể có chết cũng không nhìn mặt nhau. Nguyên nhân là bởi
hai phía đã từng quá tốt với nhau.
30. Để duy trì
được mối quan hệ bền chặt, đầu tiên mỗi người cần phải có một tấm lòng không mưu
cầu, không yêu cầu áp đặt đối phương, những việc mình không muốn, không áp đặt
cho người khác, thay vào đó, hãy làm, hãy nghĩ cho họ, như thế, quan hệ giữa
người với người mới có thể tốt dần lên được.
Những câu nói hay ý nghĩa về tình cảm giữa người với người, những tình cảm, mối quan hệ trong cuộc sống vô cùng ý nghĩa sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về tình cảm của đối phương là thật hay giả, và để trân trọng mối quan hệ, tình cảm đó, chúng ta cần phải làm gì. Con người sống với nhau thì cần đối xử tốt với nhau, đó là một loại tình cảm giữa người với người không thể thiếu trong cuộc sống
THƠ TÌNH NGƯỜI
Những câu thơ hay
về cuộc sống tươi đẹp là nguồn cảm hứng, động lực mang đến sự vui vẻ, lạc quan
trong cuộc sống. Những câu thơ hay về cuộc sống tươi đẹp, mang giá trị sâu sắc
thổi một luồng gió mát vào tâm hồnđang dần khô cằn, xóa tan đi những bế tắc, áp
lực, căng thẳng, vươn tới những điều tốt đẹp hằng mơ ước.
TA CỨ CƯỜI
Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc
Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh
Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn
Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ
Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ
Cho vui lòng bạn hữu với anh em
Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm
Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt
Cười khoan dung với những người không thật
Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân
Cười thứ tha cho những kẻ bất phân
Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối
Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi
Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau
Cười hả hê cho cuộc sống lao đao
Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng
Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận
Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô
Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô
Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.
QUÊN LÃNG
Khi vấp ngã đừng lo mình nhé
Hãy đứng lên mình sẽ kiên cường
Nhìn về phía trước yêu thương
Mênh mông rộng lớn con đường mở ra
Nếu đã chót sa đà lầm lỗi
Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn
Bỏ qua không tính thiệt hơn
Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi
Xin đừng khóc vì sai lầm nữa
Một ngày gần cánh cửa rạng ngời
Kinh nghiệm ta có trong đời
Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần
Quên quá khứ làm thân hiện tại
Bao niềm vui sao phải đau buồn
Nước kia đâu có cạn nguồn
Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.
SUY NGẪM
Làm người phải sống thẳng ngay
Đừng như con bướm đậu bay vô tình.
Sống sao thật với lòng mình
Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.
Đừng đùa bỡn nhé mình ơi
Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền
Nó như sợi chỉ nhân duyên
Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.
Dối người người sẽ dối ta
Thế nên hãy sống thật thà thì hơn
Đừng như con cá thờn bơn
Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.
GIẢN ĐƠN
Nếu có thể đừng than chi số phận
Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi
Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ
Sao bận lòng cho những phút sân si
Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé
Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời
Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi
Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi
Nếu có thể thả hồn nương theo gió
Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều
Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ
Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu
Nếu có thể giữ cho mình những phút
Khẽ khàng trôi không chút ầm ào
Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ
Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …
ĐỜI NGƯỜI ĐÂU MẤY LẦN VUI
Kiếp con người mỏng manh như là gió
Sống trên đời có được mấy lần vui
Sao phải đau mà không thể mĩm cười
Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ
Nếu có thể sao ta không làm thử
Để tâm hồn khắc hai chữ bình an
Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng
Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi
Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi
Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn
Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn
Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo
Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão
Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi
Được cơm no áo ấm cũng vui rồi
Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở
Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ
Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô
Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau
Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.
SỐNG
Sống phải biết trân trọng từng giây phút
Bởi hững hờ trong chốc lát mà thôi
Sẽ để ta ân hận cả cuộc đời
Mọi hối tiếc ăn năn thời vô nghĩa
Sống phải biết quan tâm và san sẻ
Bỏ ngoài tai lời mai mỉa khinh thường
Mở tấm lòng cho nhận những tình thương
Và đứng lên kiêng cường khi gục ngã
Sống phải biết mình cần chi vội vã
Chớ nghĩ suy rồi buồn bã tâm hồn
Chuyện qua rồi hãy cố gắng vùi chôn
Để nụ cười ung dung cùng thực tại
Sống phải biết không gì là e ngại
Cứ thật lòng đừng dối gạt lừa ai
Sống hôm nay nào biết được ngày mai
Tuy đời ngắn nhưng nghĩa dài vô tận
Sống phải biết còn bao người lận đận
Nên khổ sầu đừng khóc hận oán than
Chớ so bì người khó kẻ giàu sang
Không cần cù nào ai mang ban tặng
Sống phải biết để tâm hồn bình lặng
Được ấm no là may mắn hơn người
Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi
Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị.
YÊU ĐỜI
Em ơi! Dẫu sống trăm năm
Đến khi chết xuống, anh nằm không yên
Bởi đời đẹp quá đi, em!
Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa
Yêu đời biết mấy cho vừa
Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…
Tiếng gà lại giục bình minh
Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!
Giản đơn chiếc áo mặc vào,
Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường
Yêu đời trong máu, trong xương
Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi
Quê anh cà nhút mặn mòi
Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….
BÀI THƠ YÊU ĐỜI
Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng
Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ
Mẹ em phơi lụa hong tơ
Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời
Nắng hòa mưa thuận khắp nơi
Em mơ em ước mọi người ấm no
Những câu thơ
ngắn hay về cuộc sống càng đọc càng xúc để để thấu hơn về chuyện đời, chuyện
người. Những câu thơ hay về cuộc sống mang giá trị, chứa đựng nhiều thông điệp
ý nghĩa về cuộc đời. Gửi con cháu ta, những bài thơ về cuộc sống ngắn gọn để
đọc, để cảm nhận và để hiểu hơn về ý nghĩa từ những câu thơ về cuộc sống.
YÊU ĐỜI
Em ơi! Dẫu sống trăm năm
Đến khi chết xuống, anh nằm không yên
Bởi đời đẹp quá đi, em!
Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm chẳng thừa
Yêu đời biết mấy cho vừa
Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…
Tiếng gà lại giục bình minh
Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!
Giản đơn chiếc áo mặc vào,
Cởi ra còn nhớ, huống bao năm trường
Yêu đời trong máu, trong xương
Lòng anh hạt muối đại dương bồi hồi
Quê anh cà nhút mặn mòi
Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em….
BÀI THƠ YÊU ĐỜI
Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng
Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ
Mẹ em phơi lụa hong tơ
Ngắm mây em viết bài thơ yêu đời
Nắng hòa mưa thuận khắp nơi
Em mơ em ước mọi người ấm no
TUỔI HAI MƯƠI: LÀM GÌ ĐÂY?
Hai mươi năm nay, cơm ta ăn ta không đi cày,
Đường hầm và cầu ta không đắp không xây,
Hai mươi năm nay ta nhắm mắt ta đi theo thầy,
Chữ nghĩa dùi mài, đói kẻ khác, ta mâm đầy!
Khoan! Khoan dô khoan! Khoan dô khoan! Khoan dôôô… Khoan!
Non sông ai đắp, ai giữ gìn mới có ngày nay?
Nay ta hai mươi ta vác cuốc ta xin đi cày
Lam lũ bùn lầy với đất nước với dân này!
Tìm đường sống! Tìm đường sống! Tìm đường sống…!
Trời vừa sáng, tuổi hai mươi, đấ#t vẫn tươi! Máu anh hùng…!
Tìm đường sống…! Tìm đường sống…!
Những bài thơ hay về cuộc sống
THÀNH CÔNG
Minh ơi! biết cười luôn, biết yêu nhiều
Được người đời kính trọng
Được con trẻ yêu mến
Được phê bình là ” tạm được”
Chịu đựng được cái đau bị bạn bè phản bội
Biết thưởng thức cái đẹp
Biết tìm ra cái tốt nhất nơi người khác;
Biết cống hiến hết mình
Để lại cho đời một cái gì tốt hơn
Ví như nuôi con cái nên người
Hoặc vun xới một mảnh vườn tốt tươi
Hoặc xã hội được cái thiện;
Đã chơi say mê và cười thoải mái
Và ca hát vang lừng
Biết đã giúp một cuộc đời được dễ thở hơn
Vì mình đã làm đã sống…
Minh ơi, như vậy là đã thành công!
DÒNG ĐỜI
Dòng đời lúc nổi lúc chìm
Lúc phiêu dạt, lúc có mình không ta
Lúc đời ngoạn mục thăng hoa
Lúc cay, lúc đắng, lúc xa, lúc gần
Lúc thắng, lúc bại, khổ thân!
Lại có lúc sang đúng chiều chiều sai
Ngày mai lại đúng
Có lúc nằm mơ mong thoát kiếp dại khờ
Lại có lúc không biết sống đến mai
Mà dành củ khoai đến mốt
Khi vinh, khi nhục nên phải biết sống căn cơ
Như âm dương nghịch cảnh đợi chờ
Cho nên muốn trọn kiếp người
Phải tu thân tích đức, phải nuôi chí bền
Khổ công rèn luyện mới nên
Dòng đời hết đục trong liền mênh mông.
Trôi vào bất tận biển Đông
Dòng đời sáng mãi trong ngần vinh quang!
THƠ TỰ SỰ
Dù đục dù trong, con sông vẫn chảy
Dù cao dù thấp, cây lá vẫn xanh
Dù người phàm tục hay kẻ tu hành
Vẫn phải sống từ những điều rất nhỏ
Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó
Sao ta không tròn ngay tự trong tâm
Đất ấp ôm cho mọi hạt nảy mầm
Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng
Nếu tất cả đường đời đều trơn láng
Chắc gì ta đã nhận ra ta
Ai trong đời cũng có thể tiến xa
Nếu có khả năng tự mình đứng dậy
Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy
Không chỉ dành cho một riêng ai!
LẼ SỐNG
Lẽ sống tình đời sống khắp nơi
Sống đời có ích tệ sống chơi
Ai làm trăm sự cho ta sống
Cớ sao tham sống chỉ hại đời
Lẽ sống tình đời sống khắp nơi
Sống đẹp xem ai quyết xây đời
Tự tránh xa hoa nơi đàng điếm
Trần thế không nên sống ham chơi
Vui sao sống đẹp mãi sáng ngời
Ghi dấu sáng danh nghĩa tình đời
Nhân văn ghi chép thiên niên kỷ
Nghĩa tình cao cả với con người.
BÀI HỌC TỪ CUỘC SỐNG
Trong cuộc sống bao buồn vui, cay đắng
Cám ơn đời! Ta học được chữ khôn
Để bỗng thấy mình như thêm lớn
Trong gian nan, vất vả mới sinh tồn
Có thể nhận nhát dao còn ngơ ngác
Máu nhỏ ròng mới thấy biết mình đau
Dạy bài học, rằng ta luôn cảnh giác
Để lần kề, phải trông trước, nhìn sau
Đời nhiều mặt, muôn màu trong cuộc sống
Dạy cho ta học được ít nhiều điều
Được và mất, thấy mất nhiều hơn được
Nên bây giờ chẳng còn được bao nhiêu !
Xin cám ơn cuộc đời ta đang sống
Dạy cho ta học hỏi biết bao điều
Những vực thẳm và dây kia thòng lọng
Luôn chực chờ khi đợi bước chân xiêu
Những câu thơ hay
về cuộc sống lạc quan với bao cảm xúc vui vẻ trong cuộc sống. Những câu thơ về
cuộc sống góp phần xua tan đi những mệt mỏi căng thẳng đang phải đối mặt hằng
ngày. Đọc và nghiền ngẫm những bài thơ hay, sâu sắc này, các con sẽ có thêm một
nguồn năng lượng mới, đánh bay mọi sóng gió đang cản trở bản thân mình.
TA CỨ CƯỜI
Trong nhân thế chỉ đôi lần ta khóc
Khi chào đời khó nhọc mẹ khai sinh
Lúc song thân tạ thế khuất ánh nhìn
Rồi sẽ sống vì mình mà nở nụ
Cười chua chát dù tim nhàu héo rũ
Cho vui lòng bạn hữu với anh em
Cười mỉm chi trước kỳ thị pha dèm
Ngẩng cao đầu mặc ai xem chướng mắt
Cười khoan dung với những người không thật
Sống hai lòng ngoài mặt giả nghĩa nhân
Cười thứ tha cho những kẻ bất phân
Trộn gia vị mấy lần thêm mắm muối
Cười cay đắng cho chợ đời nữa buổi
Nhiều sắc màu đá cuội lẫn vàng thau
Cười hả hê cho cuộc sống lao đao
Đem thật giả nặn nhàu sai đen trắng
Cười chê chán lòng hờn ghen oán hận
Trước nhu mì sau vạch sẵn mưu mô
Giấu giận hờn sau làn nước mắt khô
Ta vẫn cứ trầm trồ cười nghiêng ngã.
QUÊN LÃNG
Khi vấp ngã đừng lo mình nhé
Hãy đứng lên mình sẽ kiên cường
Nhìn về phía trước yêu thương
Mênh mông rộng lớn con đường mở ra
Nếu đã chót sa đà lầm lỗi
Hãy sửa sai khi chuyện vẫn còn
Bỏ qua không tính thiệt hơn
Lương tâm thanh thản cô đơn đẩy lùi
Đừng khóc vì sai lầm nữa
Một ngày gần cánh cửa rạng ngời
Kinh nghiệm ta có trong đời
Những ngày kế tiếp đẹp tươi muôn phần
Quên quá khứ làm thân hiện tại
Bao niềm vui sao phải đau buồn
Nước kia đâu có cạn nguồn
Đời người ta hãy luôn luôn mỉm cười.
SUY NGẪM
Làm người phải sống thẳng ngay
Đừng như con bướm đậu bay vô tình.
Sống sao thật với lòng mình
Đã hứa hẹn phải đinh ninh giữ lời.
Đừng đùa bỡn nhé mình ơi
Lòng tin đâu phải trò chơi hão huyền
Nó như sợi chỉ nhân duyên
Kết tình bè bạn khắp miền gần xa.
Dối người người sẽ dối ta
Thế nên hãy sống thật thà thì hơn
Đừng như con cá thờn bơn
Suốt đời phải chịu tủi hờn đắng cay.
GIẢN ĐƠN
Nếu có thể đừng than chi số phận
Gạt nỗi buồn vướng bận gió cuốn đi
Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ
Sao bận lòng cho những phút sân si
Nếu có thể hãy thả lòng mình nhé
Sống vị tha mạnh mẽ giữa cuộc đời
Bởi vẫn biết cho đi là còn mãi
Tự bằng lòng tâm sẽ được thảnh thơi
Nếu có thể thả hồn nương theo gió
Biết bỏ buông mình sẽ có thật nhiều
Những niềm vui hạnh phúc dù bé nhỏ
Cuộc đời này thanh thản biết bao nhiêu
Nếu có thể giữ cho mình những phút
Khẽ khàng trôi không chút ầm ào
Giữa chợ đời lặng ru bình yên ngủ
Thả muộn phiền theo cánh gió lao xao …
Đời người đâu mấy lần vui
Kiếp con người mỏng manh như là gió
Sống trên đời có được mấy lần vui
Sao phải đau mà không thể mĩm cười
Gắng buông nỗi ngậm ngùi nơi quá khứ
Nếu có thể sao ta không làm thử
Để tâm hồn khắc hai chữ bình an
Cho đôi chân buớc thanh thản nhẹ nhàng
Dù hướng đời có muôn ngàn đá sỏi
Biết nhận sai khi trót gây lầm lỗi
Người ghét ta cũng chớ vội oán hờn
Đừng để mình xem nặng nhẹ thiệt hơn
Thì lệ sẽ chẳng ướt sờn vai áo
Phải mạnh mẽ đương đầu cùng giông bão
Sống chỉ cần chốn nương náo mà thôi
Được cơm no áo ấm cũng vui rồi
Bởi dòng đời còn lắm người cơ nhở
Chốn dương gian chẳng qua là tạm bợ
Tiệc tàn rồi cũng trở lại hư vô
Hãy giữ gìn trân trọng mến thuơng nhau
Vì thời gian chẳng thể nào quay lại.
Tuyển tập những
câu thơ hay về tình yêu và cuộc sống vô cùng ý nghĩa. Đọc những câu thơ hay về
tình yêu và cuộc sống làm ta hiểu hơn các dư vị của cuộc đời, các cung bậc cảm
xúc trong tình yêu sẽ là động lực để chúng ta nỗ lực hơn, mạnh mẽ hơn và tìm
được chỗ trải lòng cho mình.
VÌ TA CHÍNH LÀ TA
Ta không phải là người vĩ đại đâu nhé
Chỉ bình thường, mỏng manh như hoa gió
Lúc dạt dào, lúc lững lờ bõ ngõ
Lúc nồng nàn, lúc hờ hững buông lơi
Mỗi ngày cuối tuần cũng rất thích rong chơi
Lượn lờ dạo quanh cùng bạn bè phố thị
Mặc lứa dôi cứ đi về vội vã
Ta không đơn độc, rất hay một mình.
Cũng có những ngày suy nghĩ đâu đâu
Tưởng tượng đến anh rồi chợt buồn, chợt khóc
Anh biết không giữa cuộc đời khó nhọc
Sao tránh khỏi đau buồn, sao tránh nổi hanh hao.
Rồi đêm về trong những giấc chiêm bao
Niềm vui xa vời biết khi nào chạm tới
Em có buồn có suy tư nghĩ ngợi
Thì anh đâu hiểu hết trái tim này.
Khờ dại
Em cứ thế luôn làm anh khờ dại
Mong nhớ hoài mê mải với tình si
Nắng cuối chiều nào đâu kịp nghĩ suy
Giấy ái ân thầm thì trong khắc khoải
Dấu yêu ơi vẫn thơ tình hoang hoải
Anh viết hoài sao mãi chẳng tròn câu
Cuối đông rồi hạt nắng bỏ đi đâu
Để mong nhớ lại nhạt mầu mong nhớ
Anh vẫn biết đời này anh mắc nợ
Nợ ân tình nợ cả những lo âu
Nợ em yêu những tháng hẹn hò
Nợ bến vắng đợi con đò xưa cũ
Anh muốn ôm ru em vào giấc ngủ
Để đêm buồn héo hắt rũ chẳng tàn canh
Để thời gian cũng cảm thấy mong manh
Bao con sóng tròng trành bờ biển vắng
Ly cafe chiều sao sao chát đắng
Anh dại khờ… Say đắm… Với tình si !
Chia tay hoàng hôn
Níu kéo làm chi chuốc hận sầu
Tình mình đã nhạt có còn đâu.
Ngày vui; Bậu nói yêu nhiều lắm
Tháng hạn; Qua buồn nhớ lại câu…
Chỉ thắm se duyên ta đượm mãi
Tơ hồng buộc chặt mối tình sâu.
Ai ngờ nỗi nhịp cung đàn tắt
Để tím hoàng hôn rớt xuống cầu!
Mình Chia Tay Rồi Sao
Chia tay thật rồi phải không anh
Em cứ mơ gương vỡ sẽ lại lành
Như mỗi chiều mặt trời đi vắng
Hừng đông về ánh sáng vây quanh
Chia tay thật rồi phải không anh
Em ngỡ chỉ hôm nay trăng khuyết
Đêm mai thôi lại tròn vành vạnh
Bầu trời khuya huyền ảo lung linh
Chia tay thật rồi phải không anh
Em tưởng lúc này trời đi vắng
Mưa buồn nên tuôn dòng lệ ướt
Lát nữa thôi lại bật nắng vàng
Chia tay thật rồi phải không anh
Em lại nghĩ gió hôm nay ngưng thổi
Nên sóng không trào dâng dữ dội
Mai gió về sóng biển sẽ xôn xao
Bao ước mơ chất chồng cao mãi
Dẫu biết anh đi chẳng trở về
Đôi hàng mi đêm đêm đẫm lệ
Phương trời nào anh có biết không ?
CHIA XA
Đêm nay mượn rượu để say
Quên bao kỉ niệm chia tay người tình
Vùi chôn đi một bóng hình
Bao năm đeo đẵng làm mình khổ đau
Tim yêu dù phải nát nhàu
Người ơi gạt lệ quên sầu ra đi
Bùi ngùi giây phút biệt ly
Bởi không duyên nợ thôi thì chia xa
TÌNH BUỒN
Ừ thì hai tiếng chia tay
Từ nay lỗi mộng chia hai lối về
Cung trăng đó ta nguyện thề
Mà nay kỷ niệm tràn về cõi thu
Thâu đêm khói cảnh sương mù
Tình là ảo ảnh phù du phím đàn
Tình sầu tình bước lang thang
Ve sầu ve khóc dỡ dang tình buồn
Thôi đành cắt đứt dây chuông
Thôi không vương vấn tình muôn kiếp sầu
Những bài thơ hay về cuộc sống vô thường
Đời là vô thường,
cuộc sống thì quá ngắn ngủi để chúng ta chán ghét nhau, tị nạnh nhau. Hãy sống
cuộc sống hạnh phúc ý nghĩa. Cùng đọc những bài thơ hay về cuộc sống vô thường
để hiểu hơn về quy luật của giá trị cuộc sống. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm. Sống
vui vẻ, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa là trách nhiệm và quyền lợi của chúng
ta trong thế giới vô thường này, đúng không?
VÔ THƯỜNG
Cõi hồng trần ngàn lần rơi lệ
Kiếp luân hồi mặc kệ chúng sinh
Bao hương linh thác khóc đòi về
Hồn não nề nhớ nhà da diết.
Dẫu đã biết Vô thường là thế
Chẳng có ai không thể ra đi
Vẫn sầu bi trăm ngàn ai oán
Tiếc trần gian một thuở đam mê.
Ai rồi cũng sẽ về thiên cổ
Dù giàu sang hay khổ một đời
Nước mắt rơi khi hồn lìa xác
Chỉ còn là cát bụi hư vô.
Dù chết oan hay mồ vô chủ
Sẽ luân hồi khi ngủ đã say
Sông Vong Xuyên chờ ngày trên bến
Cầu Nại Hà dẫn đến đầu thai.
Hỏi trần gian có ai sống mãi
Ai chắc mình không trải tử sinh
Bao vong linh xa lìa cõi thế
Có trở về thân xác nguyên trinh ?
Ai rồi cũng tử, sinh phải nhận
Dẫu sang giàu hay phận vất vơ
Trăm đường tơ trở về một cõi
Vô Thường rồi…thoát khỏi… Sầu bi.
ĐỜI VỐN VÔ THƯỜNG
Muốn hay không thì cuộc đời vẫn vậy
Cứ xuôi dần theo dòng chảy thời gian
Người cơ hàn hay là kẻ giàu sang
Khi chết đi vẫn hai bàn tay trắng
Được ấm no đã là điều may mắn
Hãy giữ gìn đời bình lặng sóng yên
Có những điều để tạo hoá tự nhiên
Đừng gượng ép kẻo muộn phiền vây lấy
Đáng hay không vì xa hoa bóng bẩy
Rồi tự mình xô đẩy dưới vực sâu
Nếu như tâm chẳng muốn vướng ưu sầu
Thì chớ nên cưỡng cầu trong mê muội
Biết ăn năn và nhận ra lầm lỗi
Nhớ dặn lòng phải sửa đổi bản thân
Dẫu vật chất thì ai sống cũng cần
Nhưng đừng để chữ tình thân rạn nức
Chuyện tử sanh mãi luôn là định luật
Đời vô thường sự thật chẳng thể thay
Là con người thì ai cũng như ai
Đến cuối cùng cũng phải về cát bụi.
THẾ GIAN VÔ THƯỜNG
Cuộc đời như áng mây trôi
Ngàn năm nhân thế đắng môi lệ sầu
Đời người sống được bao lâu
Trăm năm rũ bóng huyệt sâu đợi chờ
Đời người như giấc ngủ mơ
Biệt ly không hẹn không chờ đợi ai
Sắc kia thắm đẹp cũng phai
Có ai giữ mãi tiền tài bền lâu
Đời người đi mãi về đâu
Vô thường chi phối âu sầu thế gian
Cuộc đời có hợp có tan
Hỏi đâu vĩnh cửu mộng vàng trăm năm
Quay về sống với chân tâm
Hãy như sen trắng giữa đầm ngát hương
Con người sống để yêu thương
Mĩm cười hạnh phúc đoạn trường bi ai.
Những câu thơ hay
về cuộc sống thật ý nghĩa phải không nào. Mỗi một bài thơ cuộc sống là tiếng
lòng của nhà thơ, của tác giả thể hiện cảm xúc, nỗi lòng về cuộc sống. Cùng
trải lòng mình, chia sẻ những cảm xúc khi đọc những bài thơ hay về cuộc sống
tươi đẹp. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, hãy sống sao cho thật xứng đáng, thật
hạnh phúc để có cuộc sống trọn vẹn hơn nhé.
PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC
Nhà nước, hiểu
theo nghĩa pháp luật thì tương đương với một quốc gia, là một tổ chức xã hội
đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực
hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà
nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng
giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị
(kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy
toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia do vậy nhà nước mang vai trò xã
hội, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Nhà nước
xuất hiện khi có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xuất hiện những giai cấp
đối kháng nhau do vậy mà nó cần một tổ chức chính trị đứng ra để điều hòa những
mâu thuẫn ấy và để quản lí xã hội.
Bản chất
Nhà nước mang bản
chất giai cấp. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp
nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp,
nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà
nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản,
Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp thống trị
thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho
giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc
tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không
thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ
bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích
của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại
diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực
hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình.
Đặc trưng cơ bản
Nhà nước có năm
đặc trưng cơ bản sau đây:
Nhà nước có quyền
lực chính trị công cộng đặc biệt; có bộ máy cưỡng chế, quản lý những công việc
chung của xã hội.
Nhà nước có quyền
quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính.
Nhà nước có chủ
quyền quốc gia.
Nhà nước có quyền
xây dựng, sáng tạo pháp luật và có quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng
pháp luật.
Nhà nước có quyền
ban hành các sắc thuế và thu thuế.
Vai trò
Ban hành pháp
luật và văn bản dưới luật;
Ban hành các
chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết, điều phối các chính sách kinh tế - xã hội;
Đầu tư, cung cấp
sản phẩm, dịch vụ xã hội cơ bản (cấp phép, kiểm dịch, kiểm định, giám sát, kiểm
tra, v.v...);
Giải quyết các
vấn đề xã hội (người già, trẻ em, người tàn tật, v.v...);
Bảo vệ môi
trường, giao thông, phòng chống thiên tai, bão lụt, v.v...
Bộ máy Nhà nước
Bộ máy nhà nước được
tổ chức thành các cơ quan nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng Nhà
nước. Có thể phân loại thành ba hệ thống cơ quan Nhà nước, đó là hệ thống các
cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.
Hệ thống các cơ
quan lập pháp là các cơ quan quyền lực Nhà nước, bao gồm Quốc hội (hoặc Nghị
viện) và các hội đồng địa phương.
Hệ thống các cơ
quan hành pháp là các cơ quan hành chính Nhà nước, bao gồm Chính phủ (hay Nội
các), các Bộ và cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các chính
quyền địa phương.
Hệ thống các cơ
quan tư pháp bao gồm các cơ quan xét xử (các hệ thống tòa án) và các cơ quan
kiểm sát (ở các nước Xã hội chủ nghĩa).
Các cơ quan Nhà
nước khác với các tổ chức xã hội khác là có quyền lực Nhà nước, có nhiệm vụ,
chức năng Nhà nước và thẩm quyền theo quy định của pháp luật (nghĩa là chỉ được
làm những việc luật cho phép), có hình thức hoạt động theo quy định của pháp
luật.
TÌM HIỂU THÊM
+ Những Khái Niệm
Chung Về Nhà Nước
- Khái niệm và
đặc trưng của nhà nước
- Chức năng nhà
nước
- Hình thức và bộ
máy nhà nước
-Bộ máy nhà nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Những Khái Niệm
Chung Về Pháp Luật
-Khái niệm, thuộc
tính, hình thức pháp luật
-Quy định pháp
luật và văn bản quy phạm pháp luật
-Quan hệ pháp
luật
-Thực hiện pháp luật,
vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
+ Pháp Luật Dân
Sự Và Tố Tụng Dân Sự
-Pháp luật dân sự
(Những quy định chung của pháp luật dân sự)
-Pháp luật dân sự
(Những chế định cụ thể của pháp luật dân sự)
-Pháp luật tố
tụng dân sự (Những quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự)
-Pháp luật tố
tụng dân sự (Các thủ tục tố tụng)
+ Pháp Luật Lao
Động
-Những vấn đề
chung về pháp luật lao động
-Những vấn đề cơ
bản được điều chỉnh bởi pháp luật lao động
+ Pháp Luật Hình
Sự Và Tố Tụng Hình Sự
- Khái niệm chung
về luật hình sự
- Một số tội phạm
trong bộ luật hình sự
- Luật tố tụng
hình sự
+ Pháp
Luật Hành Chính Và Tố Tụng Hành Chính
- Luật hành chính Việt Nam
- Luật tố tụng hành chính Việt Nam
+ Pháp
Luật Kinh Doanh
- Pháp luật doanh nghiệp
- Pháp luật thương mại
- Pháp luật cạnh tranh
- Pháp luật ngân sách nhà nước
- Pháp luật thuế
- Pháp luật ngân hàng
+ Pháp Luật
Đất Đai Và Môi Trường
- Luật đất đai
- Luật môi trường
+ Đại
Cương Về Pháp Luật Quốc Tế
- Công pháp quốc tế
- Tư pháp quốc tế
- Luật thương mại quốc tế
CHÚ Ý VỀ PHÁP LUẬT
Pháp luật là hệ
thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các
tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà nước bóc
lột). Pháp luật có các đặc điểm cơ bản:
1) Là hệ thống
các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung;
2) Thể hiện ý chí
của nhà nước;
3) Do các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện;
4) Được thể hiện
dưới những hình thức nhất định: pháp luật tập quán, pháp luậy án lệ, văn bân
quy phạm pháp luật;
5) Nhà nước có
thể dùng biện pháp cưỡng chế để đảm bảo chọ pháp luật được thực hiện.
DANH NGÔN HAY VỀ LUẬT PHÁP
Bảo vệ cho sự vô
tội quan trọng hơn trừng phạt tội lỗi, bởi tội lỗi và tội ác thường xảy ra trên
thế giới này nhiều tới mức không thể trừng phạt hết chúng. Nhưng nếu sự vô tội
bị đưa ra trước vành móng ngựa và kết án, có thể bị xử tử, thì người dân sẽ
nói, "việc tôi làm điều tốt hay điều xấu không quan trọng, bởi sự vô tội
chẳng đem lại chút bảo vệ nào," và nếu ý nghĩ đó hình thành trong tâm trí
nhân dân thì đó sẽ là kết thúc của mọi sự an ninh.
Chỉ dân chủ là
chưa đủ, số đông không thể biến điều sai thành đúng. Để thực sự tự do, đất nước
cũng phải yêu tự do sâu sắc và có sự tôn trọng tuân thủ luật pháp.
Chính quyền được
lập nên để bảo vệ con người khỏi tội phạm, và Hiến pháp được viết để bảo vệ con
người khỏi chính quyền.
Chúng ta bị luật
pháp trói buộc, để chúng ta có thể tự do.
Con người trở nên
tự do khi anh ta nhận ra mình bị luật lệ ràng buộc.
Công lý mà tình
yêu mang lại là sự đầu hàng, công lý mà luật pháp mang lại là sự trừng phạt.
Hiến pháp phải
được viết trong những trái tim, chứ không phải chỉ trên giấy.
Khi luật pháp trở
nên bạo ngược, đạo đức bị buông thả, và ngược lại.
Luật lệ hà khắc
thường là bất công lớn.
Luật lệ không
công bằng tự nó đã là một dạng bạo lực.
Luật pháp giống
như mạng nhện, có thể bắt được ruồi nhỏ, nhưng lại để ong bắp cày phá vỡ chui
qua.
Luật pháp là mạng
nhện mà ruồi lớn thì bay qua còn ruồi con thì mắc kẹt.
Luật pháp nghiêm
khắc nhất đôi khi là sự bất công trầm trọng nhất.
Luật pháp quá nhẹ
nhàng ít khi được tuân theo; quá hà khắc, hiếm khi được thi hành.
Luật pháp và trật
tự là một lợi ích xã hội. Tội ác và nỗi sợ hãi mà mối đe dọa tội ác gây ra có
thể làm tê liệt cả cộng đồng, làm những người già cô đơn và dễ tổn thương không
dám rời nhà, dọa sợ những người trẻ tuổi và nâng kẻ ức hiếp vênh váo hau háu
khống chế đường phố lên khiến người ta kính sợ. Tôi ngờ rằng sẽ có nhiều sự ủng
hộ và ít sự chỉ trích hơn là những nhà chính trị ngày nay tưởng tượng hướng đến
sự chuyển dịch nguồn lực mạnh mẽ từ an sinh xã hội sang luật pháp và trật tự -
chừng nào những lời khoa trương về việc cứng rắn với tội phạm được thực tế theo
kịp.
Luật pháp và trật
tự tồn tại với mục đích thiết lập công lý và khi chúng thất bại trong mục đích
này, chúng trở thành những con đập được cấu trúc nguy hiểm ngăn chặn dòng chảy
của tiến bộ xã hội.
Luật pháp, với sự
bình đẳng uy nghiêm, cấm cả người giàu lẫn người nghèo ngủ dưới cầu, ăn xin
trên phố và trộm bánh mỳ.
Một thói xấu ám
ảnh của nền dân chủ là lấy dư luận thay thế cho luật pháp. Đây là hình thức
thường gặp mà quần chúng thể hiện sự bạo ngược của mình.
Nền cộng hòa càng
mục ruỗng, nó càng có nhiều luật lệ.
Người tốt không
cần luật pháp để bảo mình phải hành động có trách nhiệm, còn người xấu tìm
đường lách luật.
Nhà nước ổn định
duy nhất là nhà nước mà ở đó tất cả con người đều bình đẳng trước pháp luật.
Nhà tù được dựng
lên bằng đá của Luật pháp. Nhà chứa được dựng lên bằng gạch của tôn giáo.
Ở mặt tốt nhất,
con người cao thượng nhất trong tất cả các loài động vật; tách khỏi luật lệ và
công lý, anh ta trở thành tồi tệ nhất.
Quan tòa bị kết
án khi tội nhân được xóa tội.
Quan tòa trừng
phạt kẻ vi phạm pháp luật giống như ngôi nhà đang cháy gây thương tổn cho người
bên trong. Một người có thể bị thiêu chết trong nhà khi đang đi cướp, hay khi
đang cứu mình. Cũng tương tự, từ góc nhìn của đạo đức, công việc của quan tòa
là thiện hay ác phụ thuộc vào việc những luật lệ mà anh ta thực thi là thiện
hay ác.
Quyết định của
tòa án không bao giờ nên được in ra; về lâu về dài, chúng tạo nên một thế lực
đối lập với luật pháp.
Tôi thật mong ước
chúng ta đang sống ở một thời đại mà ta không cần đến luật pháp để bảo vệ mình
khỏi nạn phân biệt đối xử.
Tôi xin nêu lên
rằng người phá vỡ điều luật mà lương tâm anh ta cho rằng không chính đáng, và
sẵn sàng chấp nhận bị phạt tù để khơi dậy lương tâm của cộng đồng về điều bất
công ấy, trên thực tế đang thể hiện sự tôn trọng cao nhất đối với luật pháp.
Tự do chính đáng
là hành động theo ý chí của ta và không bị cản trở trong giới hạn bao quanh ta
được hình thành từ quyền tương đương của người khác. Tôi không bổ sung
"trong giới hạn của luật pháp", bởi luật pháp thường không là gì hơn
ngoài ý chí của bạo chúa, và luôn luôn là như vậy khi nó vi phạm quyền của cá
nhân.
LỢI ÍCH CỦA PHÁP LUẬT
Một số người cho
rằng, pháp luật là sự ép buộc làm hạn chế quyền tự do của mình, tuy nhiên đây
là cách hiểu sai lầm vì pháp luật sinh ra nhằm giúp cuộc sống tốt đẹp hơn. Sau
đây là những lợi ích của pháp luật:
1/ Điều chỉnh
hành vi của con người theo một khuôn khổ phù hợp với thực tiễn
Như chúng ta đã
biết, chỉ có pháp luật mới mang tính bắt buộc thực hiện, như vậy pháp luật phù
hợp với thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh hành vi của mọi người theo một khuôn
khổ nhất định phù hợp với đạo đức.
Pháp luật mang
tính bắt buộc để tạo nên sự tự do, nghĩa là bắt buộc mọi người phải tôn trọng
quyền tự do của người khác nếu ai ngăn cản thì phải gánh lấy chế tài từ pháp
luật.
Ví dụ: Nếu không
có pháp luật thì không ai có thể trừng trị những kẻ trộm cắp, giết người, … nên
lợi ích và quyền tự do của công dân bị xâm phạm.
2/ Bảo vệ người
yếu thế
Trong xã hội nào
cũng tồn tại những người có trình độ hiểu biết khác nhau nên người hiểu biết
kém dễ bị người hiểu biết cao lừa dối hoặc cưỡng ép gây hại. Bởi vậy, pháp luật
là công cụ góp phần ngăn chặn sự việc này.
Ví dụ: Trong hợp
đồng pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, tuy nhiên cũng chặn việc
thỏa thuận nhằm gây hại cho bên kia (như là cho vay nặng lãi, trái với thuần
phong mỹ tục…).
3/ Thiết lập nên
sự công bằng
Sự bất công luôn
hiện diện ở bất kỳ đâu (vì nhiều lý do khác nhau), chính vì vậy pháp luật ra
đời nhằm thiết lập nên sự công bằng.
Ví dụ: Pháp luật
luôn có những chính sách ưu tiên cho người nghèo, dân tộc thiểu số, những người
không được may mắn trong cuộc sống … để từ đó họ có điều kiện ngang bằng với
những người có điều kiện khác.
Khái niệm
Khái niệm là một
đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao gồm một ý tưởng, một ý nghĩa
của một tên gọi chung trong phạm trù lôgic, hoặc một sự suy diễn) phản ánh
những thuộc tính chung, bản chất của các đối tượng sự vật, quá trình, hiện
tượng trong tâm lý học và mối liên hệ cơ bản nhất các đối tượng trong hiện thực
khách quan.
Việc tạo ra một
khái niệm là một chức năng cơ bản của sự cảm nhận và suy nghĩ. Các khái niệm
cho phép ta hệ thống hóa hiểu biết của ta về thế giới.
Hai dạng khái
niệm cơ bản:
Khái niệm cổ điển
: Với các giới hạn rõ rệt, dựa vào các định nghĩa chính xác, có mang các điều
kiện cần và đủ, để đối tượng cho trước có thể được coi như là một đại diện xứng
đáng trong một thể loại cho trước;
Khái niệm tự
nhiên : Thay vì dựa vào các định nghĩa và các điều kiện cần và đủ, thì lại dựa
vào sự đồng dạng so với những đối tượng tiêu bản đã được lưu lại trong trí nhớ.
Định nghĩa
Định nghĩa là sự
xác định bằng ngôn ngữ nhất định những đặc trưng cơ bản tạo thành nội dung của
khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá trình, với mục đích phân biệt nó
với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Định nghĩa có vai trò quan trọng
trong khoa học và là bộ phận căn bản trong mọi lý thuyết khoa học.
Các nguyên tắc
của định nghĩa:
Nguyên tắc tương
xứng, nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa và ngoại diên của khái
niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau
Không nói vòng
quanh
Không nói theo
cách phủ định
Phải rõ ràng,
nghĩa là định nghĩa không chứa những thuộc tính có thể suy ra từ thuộc tính
khác
Ví dụ: Hình vuông
là hình có 4 góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau.
Để định nghĩa một
khái niệm nào đó, người ta thường ghép nó với một khái niệm lớn hơn (chủng),
rồi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của khái niệm cần định nghĩa (đặc điểm về
loại). Ví dụ, định nghĩa về carbon: "carbon" là nguyên tố hóa học (chủng)
có trọng lượng nguyên tử bằng 12 đơn vị carbon (đặc điểm về loại)". Đối
với những khái niệm lớn và bao trùm, chẳng hạn như khái niệm vật chất, ý thức,
người ta sử dụng cách định nghĩa ngoại lệ.
Trong toán học,
khi đưa ra 1 định nghĩa, người ta thường liệt kê các điều kiện cần và đủ để xác
định khái niệm đó. Một khái niệm trong toán học do đó có thể được định nghĩa
theo nhiều cách khác nhau, điển hình là số e.
Thông thường có 4
cách định nghĩa trong toán học:
- Phương pháp cấu trúc chỉ rõ cách xây dựng khái niệm đó
- Phương pháp quy khái niệm đang xét về những khái niệm đã biết
- Phương pháp tiên đề, định nghĩa một khái niệm thông qua các tiên
đề: ví dụ định nghĩa về song song
- Phương pháp quy nạp dựa trên 2 yếu tố:
Những đối tượng
xuất phát hoặc cơ bản của hệ thống
Những quy tắc hay
thao tác cho phép dùng những đối tượng hiện có để tạo thành đối tượng mới của
hệ thống
Định nghĩa mờ
Định nghĩa mờ
trong lô gíc mờ còn được gọi là định nghĩa thao tác, là phương pháp định nghĩa
một sự vật thông qua một tập hợp nhận định gần đúng về sự vật đó nhờ một loạt
thao tác có thể tạo ra bằng thực nghiệm hoặc quan trắc mà kết quả khách quan
của nó có thể trực tiếp nhận biết được thông qua sự quan sát có tính chất kinh
nghiệm hay bằng đo lường. Ví dụ định nghĩa về lửa như sau: "Lửa là một cái
gì đó nóng". "Lửa là cái phát sáng". "Lửa là sức mạnh của
thần thánh"...
So sánh khái niệm
và định nghĩa
Sự khác nhau cơ
bản nhất giữa khái niệm và định nghĩa ở chỗ:
Định nghĩa là lời
giải thích làm cho rõ nghĩa của từ hoặc của khái niệm.
Còn khái niệm
cũng có thể xem như lời giải thích (như ở định nghĩa) nhưng lời giải thích này
được phần đông nhân loại hoặc tổ chức có chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể mà
khái niệm đó nhắc tới công nhận, thừa nhận.
Phạm trù
Phạm trù là một
trong những phương tiện nhận thức thế giới dùng trong nghiên cứu khoa học, đặc
biệt là khoa học xã hội. Khái niệm phạm trù được xuất hiện trong quá trình hình
thành triết học. Trong vô vàn những sự vật, hiện tượng, quá trình hỗn loạn của
thế giới xung quanh. Con người cần tách riêng một tập hợp nào đó ra, tập trung
sự chú ý, xác định những đặc điểm tiêu biểu của quy luật phát triển hiện vật,
hiện tượng, xem xét quan hệ xung quanh thế giới quan. Như vậy phạm trù không
đơn giản như là sự phân loại. Phân loại có được chỉ sau khi xác định được lý
thuyết phạm trù.
Phạm trù của một
nội dung nào đó bao gồm khái niệm tương đồng về nó. Khái niệm được xác định bởi
định nghĩa chung nhất với những đặc điểm chung nhất. Nội dung xác định bởi toàn
bộ những đặc điểm có thể có, quy luật phát triển của các đặc điểm, quan hệ đối
với các điều khác trong ngoài thế giới. Định nghĩa nội dung của điều được xem
xét tạo nên ranh giới nhất định của phạm trù tương ứng.
Phạm trù là thành
phần kết cấu nên lý thuyết.
Một số khái niệm
khác về phạm trù
Đó là khái niệm
chung nhất có giới hạn, có khả năng hàm chứa nhiều nhất.
Trong phép biện
chứng logic đó là khái niệm phản ánh giai đoạn tuần tự sự hình thành điều cụ
thể nguyên vẹn nào đó.
Trong thuyết siêu
hình đó là cách gọi của các dạng tồn tại khác nhau.
Một trong các
lĩnh vực trừu tượng nhất của toán học hiện đại là lý thuyết phạm trù sử dụng
thuật ngữ "phạm trù" như là thuật ngữ cơ sở xuất phát từ Immanuel
Kant.
Các kiểu phạm trù
trong triết học
-Các phạm trù của
Aristotle[2]
-Các phạm trù của
Immanuel Kant
-Các phạm trù của
Georg Hegel
Ứng dụng trong
nghiên cứu
Phạm trù là khái
niệm hàm chứa chung nhất, khó xác định trong khuôn khổ một lý thuyết nói riêng
hay ngành khoa học nào đó nói chung. Phạm trù được xem là thành phần kết cấu
của sơ đồ phạm trù xác định quy trình tư duy. Mỗi phạm trù nhờ khả năng giải mã
cũng là yếu tố lưu giữ trạng thái quy trình. Phạm trù được dùng trong việc hệ
thống hóa kiến thức qua quá trình nhận thức, trong đó chúng đóng vai trò ấn
định tên cho đề mục. Cùng với những định nghĩa trên phạm trù còn được công nhận
trong sự hình thành siêu ngôn ngữ mà thành phần của nó là các định nghĩa
"lớp kiến thức". Phạm trù là đơn vị đặc biệt bảo đảm quá trình chuyển
dịch kiến thức (knowledge transfer) trong nghiên cứu liên ngành. Phạm trù ghi
giữ các lớp kiến thức, các giai đoạn và các yếu tố của quá trình nhận thức, vì
thế nó thuộc về hệ thống quản lý kiến thức. Phạm trù cho phép liên hệ bất cứ
kiến thức nào với triết học và ngược lại, liên hệ triết học đến bất kỳ lĩnh vực
kiến thức nào. Tuy có sự chú ý đáng kể đối với phạm trù nhưng ứng dụng chúng
vào quá trình nhận biết thế giới vẫn diễn ra ở mức cảm tính.
So sánh : Khái
niệm & phạm trù
Khái niệm và phạm
trù là hai mặt của phương thức định nghĩa về bản thân ta-thế giới. Tức là, về
thực chất, chúng là một: khái niệm là một phạm trù giác tính với nội hàm đủ
thông số - xác định rõ ràng được các “yếu tố đáng kể” - để có thể tri giác và
diễn đạt được bằng các hình ảnh trực giác đã biết, đồng thời dễ dàng có thể tìm
kiếm đối tượng ở ngay xung quanh; phạm trù là một khái niệm có ngoại diên được
mở rộng tối đa - tức là nội hàm tối thiểu đủ có thể phân biệt với các phạm trù
khác, và vì vậy để diễn đạt phạm trù này phải thông qua mối quan hệ với các
phạm trù khác dễ hình dung hơn.
Ranh giới giữa
khái niệm và phạm trù rất mong manh. Thực chất cả hai là một, chúng chỉ khác
nhau ở một điểm rất nhỏ và tương đối trừu tượng, đó là: phạm trù là một loại
khái niệm mà có nội hàm tối thiểu, tức là có ngoại diên tối đa. Khi nói “tối
thiểu” tức là cần phải đặt phạm trù trong mối quan hệ với một lớp các khái niệm
có chung những yếu tố nội hàm nhất định. Chẳng hạn, khái niệm hình vuông, hình
tròn, hình chữ nhật, hình tam giác... có phạm trù chung trong toán là: hình
học. Còn khi đặt cái được gọi là phạm trù ở trên trong mối quan hệ với những
khái niệm không có chung nội hàm thì nó cũng chỉ là một khái niệm.
Nếu đối tượng của
mỗi khoa học cụ thể là một đối tượng cụ thể được mô tả bởi các khái niệm và hệ
thống các lý thuyết về sự vận động của đối tượng đó (mối liên hệ các các khái
niệm) thì đối tượng của triết học là cả thế giới như một chỉnh thể được mô tả
bởi các phạm trù và hệ thống các học thuyết về sự tồn tại và sự vận động tự
thân - mối quan hệ giữa các phạm trù. Nếu không vạch ra được các khái niệm cũng
như khái quát được những mối quan hệ cơ bản của các khái niệm làm cơ sở lý
thuyết thì các khoa học cụ thể sẽ không thể hình thành; tương tự như vậy, nếu
không nêu lên được các phạm trù và khái quát được mối quan hệ cơ bản của các phạm
trù thì triết học cũng không còn đất tồn tại. Khi những cây xanh của khoa học
cụ thể và triết học không được nảy sinh thì sẽ tạo ra một khoảng đất trống mênh
mông cho các loài cỏ huyền thoại, thần thoại và triết thuyết tôn giáo nảy sinh.
Và ngay cả khi cây xanh mọc um tùm thì cỏ vẫn cứ mọc. Tất nhiên là Tạo Hóa
không phân biệt giữa cỏ dại và cây xanh, đó là lý lẽ của con người.
Bất cập của loại
ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm) là khả năng diễn đạt dài dòng. Trong
khi chưa diễn đạt xong ý này thì ý khác đã ập tới. Và khi nhiều ý cùng muốn
diễn đạt một lúc thì khiến cho ngôn ngữ trở nên bế tắc. Vậy nên trong giao tiếp
giữa ta và thế giới, điều quan trọng là cần nắm bắt và thông suốt được tâm ý.
Cần có khả năng tư duy trên ngôn ngữ "vô hạn" (phạm trù) thay vì ngôn
ngữ "hữu hạn" (khái niệm). Tạo Hóa vốn không phân biệt; sự phân biệt
vốn chỉ là lý lẽ của con người. Mọi ranh giới phân biệt đều rất mong manh,
tương đối. Ngôn ngữ là vỏ bọc tư duy. Khả năng sử dụng ngôn ngữ tùy thuộc vào
năng lực phân biệt trong tư duy của người đó. Vì lẽ đó, cần truyền đạt và nắm
được cái mạch ý tưởng thống nhất của người nói (mối liên hệ giữa các phạm trù
tư tưởng), chứ đừng quá câu nệ về sự xung đột (mâu thuẫn) trong giới hạn nhất
định của việc sử dụng ngôn từ (khái niệm). “Ý tại ngôn ngoại” cũng bao hàm cái
ý nghĩa như vậy. Nếu khái niệm diễn đạt hiện tượng thì phạm trù diễn đạt bản
chất. Hiện tượng và bản chất có sự thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn
toàn; cũng như vậy, ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các khái niệm) và nội dung truyền
tải trong ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các phạm trù tư tưởng) cũng có tính thống
nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn. Đó chính là sự bất cập của tư duy
ngôn ngữ cũng như việc lấy các hiện tượng minh họa, dẫn tới những loại ngụy
biện trong việc sử dụng ngôn ngữ và những hiện tượng minh họa phiến diện. Để
lĩnh hội được những ý tưởng được diễn đạt bằng ngôn từ thì cần coi trọng cái
đầu hơn đặt nặng trái tim; nhưng để lĩnh hội được những điều vốn được diễn đạt
ở bên ngoài lời thì cần coi trọng trái tim hơn cái đầu.
Để nghiên cứu thế
giới vi mô cần hợp nhất những "khái niệm đối lập" mang tính phân biệt
của thế giới vĩ mô thành các phạm trù độc lập (không còn tính phân biệt thô
thiển) – dạng phân biệt tinh tế hơn.
Làm rõ hơn về
phạm trù
– Trong cuộc
sống, chúng ta thường xuyên gọi tên những khái niệm nhất định như “người”,
“thú”, “vàng”, “chì”… Những khái niệm đó là hình thức của tư duy, phản ánh
những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của một nhóm nhóm, một lớp những sự
vật, hiện tượng nhất định.
Tùy thuộc vào số
lượng sự vật, hiện tượng được khái niệm phản ánh, “gom vào” mà ta có khái niệm
rộng, hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất trong một lĩnh vực cụ thể chính là
phạm trù trong lĩnh vực ấy.
“Khái niệm rộng
nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản
nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định được gọi
là phạm trù”.
– Mỗi bộ môn khoa
học (toán, lý, hóa, văn, sử, tâm lý học…) đều có phạm trù riêng của mình. Như
các phạm trù năng lượng, khối lượng… trong vật ly; biến dị, di truyền… tring
sinh học; hàng hóa, giá trị… trong kinh tế học.
Còn phạm trù
triết học là phạm trù rộng nhất, lớn nhất, chung nhất…, hơn tất cả các ngành
khoa học có thể kể tên như toán học, hóa học, văn học, sử học, kinh tế học…
Một số phạm trù
triết học quen thuộc:
– Vật chất.:
Định nghĩa vật
chất của Lênin được diễn đạt như sau:
“Vật chất là phạm
trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
+ Nội dung định
nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:
- Vật chất là một
phạm trù triết học.
- Vật chất là
thực tại khách quan.
- Vật chất được
đem lại cho con người trong cảm giác.
- Vật chất được
giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.
+ Định nghĩa vật
chất của Lênin có nhiều ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận to lớn:
- Bác bỏ những
quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về vật chất.
- Phủ nhận thuyết
không thể biết về vật chất.
- Khắc phục những
khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất.
- Định hướng các
khoa học cụ thể trong việc tìm kiến các dạng hoặc hình thức mới của vật thể.
- Cho phép xác
định vật chất trong lĩnh vực xã hội.
+ Nội dung định
nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ bản sau:
- Vật chất là một
phạm trù triết học.
“Vật chất” ở đây
không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học,
sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học
thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày
(tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…).
“Vật chất” trong
định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái
quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn.
Đến nay, nhận
thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái
gì rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét” vật chất này trong một
khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó.
- Vật chất là
thực tại khách quan.
Vật chất tồn tại
khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức
của con người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu
chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
Dù con người đã
nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất luôn
tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.
- Vật chất được
đem lại cho con người trong cảm giác.
Vật chất, tức là
thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức). Như thế,
vật chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất. Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là
tính thứ hai.
Do tính trước –
sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật
chất.
Trước khi loài
người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa
có con người. Đây ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ
thuộc vào ý thức.
Có ý thức của con
người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác
quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ
thuộc vào vật chất. Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào
trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Để hiểu thêm về ý
thức, ta đọc bài viết: Nguồn gốc, bản chất của ý thức.
- Vật chất được
giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.
Vật chất là một
phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ
thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các giác
quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được.
Giác quan của con
người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn
tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản
ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con
người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện.
Nói rộng ra, tư
duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là
hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người.
– Ý thức.
Vấn đề nguồn gốc,
bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp, là trung tâm của
cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật
biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và
xã hội. Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản
chất của phạm trù này.
+ Nguồn gốc của ý
thức
*Nguồn gốc tự
nhiên
Dựa trên những
thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật
biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách
rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên óc người.
= Bộ óc người
Đây là một dạng
vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về
mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.
Tức là, chỉ con
người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật
thông minh nhất có năng lực này.
Ý thức phụ thuộc
vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức
không diễn ra bình thường hoặc rối loạn.
Tuy nhiên, nếu
chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì
cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế
giới bên ngoài.
- Sự tác động của
thế giới bên ngoài lên bộ óc người
Trong tự nhiên,
mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều có
thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một
hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại
giữa chúng.
Nói một cách dễ
hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó. Chép lại
lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh.
Để có quá trình
phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động.
Đương nhiên, bộ
óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh của bộ óc con người có
trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.
Sau quá trình
tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc
tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự
nhiên.
Do hoàn mỹ nhất
như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù “ý
thức”. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con
người.
*Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra
đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ.
Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là
những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Đó là lao động, tức là thực tiễn xã hội và
ngôn ngữ.
Ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và
các cơ quan xã hội. Theo Ph. Ăng-ghen, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích
thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não người, biến tâm lý động vật thành ý
thức con người.
- Lao động
Trong tự nhiên,
con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật
yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.
Con người có khả
năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi,
tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn. Tức là, con người phải lao động mới
đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.
Chính thông qua
lao động, hay còn gọi là hoạt động thực tiễn, nhằm cải tạo thế giới khách quan
mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó,
mới có ý thức về thế giới này.
Nhưng ở đây,
không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để
con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động
vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.
Nhờ chủ động tác
động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực
(núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu,
quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý
thức của con người.
- Ngôn ngữ
Trong quá trình
lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau,
tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời
của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.
Ngôn ngữ do nhu
cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống tín hiệu vật chất
mang nội dung ý thức. Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn
tại và thể hiện được.
Theo C. Mác, ngôn
ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không
có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.
Ngôn ngữ vừa là
phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con
người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái
niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.
Cũng nhờ ngôn
ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Bộ não con người
và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
+ Bản chất của ý
thức
Chủ nghĩa duy vật
biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con
người một cách năng động, sáng tạo.
Như vậy, bản chất
của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:
- Ý thức là sự
phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh.
Cái được phản ánh
(tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh (tức ý
thức). Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan. Vì vậy, không thể
đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.
Ý thức là cái
phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính
vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm
tính.
- Ý thức là sự
phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.
Tuy thuộc phạm vi
chủ quan, nhưng ý thức không phải là bản sao thụ động, giản đơn, máy móc của sự
vật. Tức là, không phải cứ sự vật tác động như thế nào thì ý thức sẽ chép lại,
chụp lại y nguyên như thế.
Con người là một
thực thể xã hội năng động, sáng tạo.
Trong quá trình
lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật
một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng,
đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng
động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.
Tính năng động,
sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.
Trên cơ sở những
cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra
cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách
tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí,
một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…
Tính sáng tạo của
ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của
sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh.
- Ý thức là quá
trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3 mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản
ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng,
chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối
tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý
thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý
tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan.
Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến
quan niệm của mình thành dạng vật chất trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ
xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở
trên.
- Ý thức là một
hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.
Chỉ khi con người
xuất hiện, tiến hành hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới khách quan theo
mục đích của mình, ý thức mới xuất hiện. Như thế, ý thức không phải là một hiện
tượng tự nhiên thuần túy, mà bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh
những quan hệ xã hội khách quan.
Ý thức bị chi
phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi các quy luật xã hội. Ở
những thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng một thời đại, ý thức về cùng một
sự vật, hiện tượng có thể khác nhau ở các chủ thể khác nhau.
+ Ý nghĩa rút ra
từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức
Từ quan điểm của
chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, ta có thể rút
ra ý nghĩa phương pháp luận sau:
Xuất phát từ thế
giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Do ý thức là sự
phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan. Tức là, trước hết ta
phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ
nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó.
Ta cần phải chống
bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ
thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật chất.
Cần xóa bỏ thói
quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu
cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.
Phát huy tính tự
giác, chủ động của con người
Do ý thức là sự
phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta cần phát huy hết sức
tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự
vật, hiện tượng.
Ta cần phát huy
hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động. Luôn nỗ lực
bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa.
– Sự phát triển.
Sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với mối liên hệ phổ biến giữa chúng. Do
vậy, nguyên lý về sự phát triển cũng gắn liền, quan hệ hữu cơ với nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến.
Hiểu một cách
chung nhất, “nguyên lý” là những tư tưởng ban đầu, xuất phát, có vai trò định
hướng, chỉ đạo việc triển khai những lý thuyết tiếp theo.
Khái niệm về sự
phát triển
Trong chủ nghĩa
duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá
trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn.
Ta cần phân biệt
khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển“:
Vận động là mọi
biến đổi nói chung. Khái niệm này có ngoại diên lớn hơn khái niệm phát triển.
Phát triển là sự
vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy luật. Phát triển gắn liền với
sự ra đời của cái mới này.
Nhờ có sự phát
triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cũng như chức
năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như thế, phát triển là một trường
hợp đặc biệt của sự vận động.
Quan điểm biện
chứng thừa nhận tính phức tạp, tính không trực tuyến của quá trình phát triển.
Sự phát triển có thể diễn ra theo con đường quanh co, phức tạp, trong đó không
loại trừ bước thụt lùi tương đối.
* Tính chất của
sự phát triển
- Tính khách quan
của sự phát triển
Tất cả các sự
vật, hiện tượng trong hiện thực luôn vận động, phát triển một cách khách quan,
độc lập với ý thức của con người. Đây là sự thật hiển nhiên, dù ý thức của con
người có nhận thức được hay không, có mong muốn hay không.
Nguồn gốc của sự
phát triển nằm ngày trong chính bản thân của sự vật, hiện tượng. Đó là sự thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thuộc mỗi sự vật, hiện tượng.
Phát triển là quá
trình tự thân (tự nó, tự mình) của mọi sự vật, hiện tượng.
Quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan của sự phát triển đã phủ nhận quan
điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển.
Quan điểm duy tâm
cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực lượng siêu nhiên, phi vật chất
(thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người. Tức là đều nằm ở bên ngoài sự
vật, hiện tượng.
Quan điểm siêu
hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im”, không phát triển.
Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về mặt lượng (số lượng, kích
thước…) mà không có sự biến đổi về chất.
- Tính phổ biến
của sự phát triển
Sự phát triển
diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ hiện thực
khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiện thực ấy.
Trong hiện thực,
không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, luôn luôn duy trì một trạng thái cố
định trong suốt quãng đời tồn tại của nó.
- Tính kế thừa
của sự phát triển
Sự phát triển tạo
ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những
bộ phận, đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải,
loại bỏ những gì tiêu cực, lạc hậu, không tích hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái
mới này lại phát triển thành cái mới khác trên cơ sở kế thừa như vậy.
Đó là quá trình
phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá
trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc.
- Tính phong phú,
đa dạng của sự phát triển
Sự phát triển có
muôn hình, muôn vẻ, biểu hiện ra bên ngoài theo vô vàn loại hình khác nhau.
Sự phong phú của
các dạng vật chất và phương thức tồn tại của chúng quy định sự phong phú của
phát triển. Môi trường, không gian, thời gian và những điều kiện, hoàn cảnh
khác nhau tác động vào các sự vật, hiện tượng cũng làm cho sự phát triển của
chúng khác nhau.
Trong giới hữu
cơ, sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi
của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao
hơn…
Sự phát triển
trong xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội ngày càng
lớn của con người.
Đối với tư duy,
sự phát triển là năng lực nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện, đúng đắn hơn.
* Ý nghĩa phương
pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển
Từ việc nghiên
cứu nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng, chúng ta rút ra quan
điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điển này đòi hỏi:
- Khi xem xét các
sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó trong sự vận động và phát triển.
Ta cần phải nắm
được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang hiện hữu trước mắt, mà còn
phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai, khả năng chuyển hóa của nó.
Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ được xu hướng chủ đạo của tất cả
những biến đổi khác nhau đó.
Quan điểm phát
triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến. Tuyệt
đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhất
định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát
triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.
- Không dao động
trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong thực tiễn.
Ta cần phải xác
quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình biện chứng đầy
mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá trình phát
triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.
Quan điểm phát
triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với mỗi bước thụt
lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ khiến
chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.
- Phải chủ động
tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Ta phải tích cực,
chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi sự vật, hiện tượng. Từ
đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật, hiện
tượng phát triển.
Việc xác định
những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự
vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến
cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Vì trong sự phát
triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát hiện, cổ vũ cái mới phù hợp, tìm
cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ đạo.
Ta cũng phải tìm
cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ, đồng thời kiên
quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển.
Phải tích cực học
hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn.
Tuyệt đối tránh
bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động.
-Sự phát triển
được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay đổi về chất.
Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật, hiện
tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất.
– Sáu cặp phạm trù cơ
bản:
+ Cái riêng và
cái chung.
+ Nguyên nhân và
kết quả.
+ Tất nhiên và
ngẫu nhiên.
+ Nội dung và
hình thức.
+ Bản chất và
hiện tượng.
+ Khả năng và
hiện thực.
CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
Xã hội là khái niệm
để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên
tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai
cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.
a) Vai trò
và trách nhiệm của cá nhân đổi với xã hội
Xã hội là khái
niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau
trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng lớn, dưới các hình thức dân tộc,
giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài người.
Mọi sự vật, hiện
tượng trong xã hội đều có mối liên hệ với nhau, nhưng không phải mối liên hệ
nào cũng là quan hệ xã hội. Chỉ những quan hệ giữa người với người được hình
thành trong quá trình hoạt động của con người trên mọi lĩnh vực mới gọi là quan
hệ xã hội.
Quan hệ xã hội là
khách quan hình thành từ tác động của cá nhân và tập thể trong xã hội. Những
tác động này không phải ngẫu nhiên mà có mục đích, có xu hướng ổn định. Cá nhân
thực hiện các vai trò do xã hội quy định với tư cách là thành viên của xã hội.
Quan hệ xã hội làm
thay đổi bản chất con người. Quan hệ xã hội chung là quan hệ về quốc gia, dân
tộc, giai cấp, địa phương, lãnh đạo, chính quyền, pháp luật, phong tục tập
quán,...
Quan hệ xã hội
riêng là quan hệ cá nhân trong gia đình, bạn bè, họ hàng, người thân, cơ quan,
tập thể...Quan hệ xã hội chính thức là quan hệ hành chính do xã hội quy định
như quan hệ cấp dưới, cấp trên, người dân, chính quyên. Quan hệ xã hội không
chính thức là quan hệ tâm lý của cá nhân như tình cảm, nhóm bạn bè, xã giao..
Biết xây dựng và
kết hợp các quan hệ xã hội đúng đắn sẽ có hành vi ứng xử tốt đẹp. Cá nhân tham
gia vào các mối quan hệ xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp, do đó cá nhân
cần chú ý các ứng xử lịch sự, văn hoá, lành mạnh, đúng mực.
Các chủ thể trong
quan hệ xã hội có ý thức, thói quen. Từ quan hệ giữa các cá nhân có thể tạo ra
các loại quan hệ xã hội khác nhau. Cá nhân tham gia xã hội để có quyền lợi của
mình, phục vụ cho lợi ích của mình, Trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế đóng
vai trò quyết định các quan hệ khác.
Mỗi cá nhân là
thành viên của xã hội và là con người, cá nhân có nhu cầu về vật chất, tình
cảm, ngoài ra còn có nhu cầu xã hội như học tập, lao động, dân chủ, văn hoá...
Bởi vậy cá nhân phải tự rèn luyện cả thể lực và trí lực để trở thành một con
người toàn diện.
Cá nhân dù có
nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng khó tránh khỏi những điều chưa tốt, nếu không
thường xuyên sống hướng thiện thì có thể phần bản năng sinh vật sẽ lấn át phần
xã hội, sẽ không còn tính người, sẽ xảy ra sự tranh giành lẫn nhau, cái ác sẽ
lấn át cái thiện.
Một trong những
quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền tự do. Xã hội càng phát triển,
con người càng được có điều kiện hưởng tự do. Tuy nhiên, tự do cá nhân không
được phép xâm phạm đến tự do cá nhân của người khác, không được gây ảnh hường
đến xã hội. Tự do cá nhân không thể tách rời các chuẩn mực đạo đức xã hội. Cá
nhân không thể sống cô lập, cách ly khỏi đời sống xã hội.
Xã hội tiến bộ,
phát triển bền vững dựa trên nền tảng giá trị đạo đức vững chác của mọi cá
nhân. Mọi người sống có đạo đức, có tài năng, là thành viên xứng đáng, góp phần
xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Lòng hướng thiện của mỗi cá nhân có tác
động tích cực giúp cá nhân xích lại gần nhau, dễ dàng cởi mở và sống chân thành
với nhau hơn. Chủ động tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với người khác, với xã hội
càng hài hoà, tốt đẹp, phát triển bền vững.
b) Xây dựng quan
hệ đúng đắn giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ xã hội
của cá nhân là bộ phận của toàn bộ quan hệ xã hội gồm có quan hệ giữa các tập
đoàn lớn, giữa các nhóm xã hội, các quan hệ cá nhân. Mỗi cá nhân có điều thiện,
điều tốt nhưng không tránh khỏi có cái xấu trong lòng. Muốn xây dựng xã hội tốt
đẹp cần làm cho cái tốt nhiều hơn, cái xấu bớt dần đi.
Muốn xây dựng xã
hội mới thì phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là con người có
trí tuệ, có tài năng, có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có
tình thương yêu nhân dân, yêu con người. Nếu cá nhân biết đem lợi ích riêng của
mình phục tùng lợi ích chung thì cả xã hội và cá nhân đều được bảo đảm.
Sự phát triển của
xã hội phải bắt nguồn từ sự phát triển của mỗi cá nhân. Hiện nay, Đảng ta cụ
thể hoá quan hệ cá nhân, tập thể và xã hội với quan điểm:
- Gắn
tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; khuyến khích mọi
người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo, kết hợp hài hoà
các lợi ích, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các hoạt động đền ơn
đáp nghĩa...
- Coi con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi chính
sách đều coi trọng cá nhân nhưng phải xuất phát từ nhu cầu của tập thể, của xã
hội. "Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn
thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài"
- Thông qua các
chính sách kinh tế để khuyến khích lợi ích. Kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân,
lợi ích tập thể và xã hội. Luật pháp hoá, thể chế hoá các quyền của cá nhân,
các mối quan hệ theo các chuẩn mực tiến bộ, giữ bản sắc văn hoá dân tộc.
- Gắn lợi
ích với trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tăng cường sự đồng thuận
xã hội, xây dựng quan hệ hợp tác, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai; xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực to lớn đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
CÁ NHÂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ NHÂN TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU VÀ TRONG
ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
Quan niệm mác xít
về cá nhân dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, xem xét con người như là sản
phẩm của môi trường xã hội và thừa nhận vai trò tích cực của con người trong
nhận thức và cải tạo môi trường đó. C. Mác đã khẳng định: "Bản thân xã hội
sản sinh ra con người với tính cách là con người như thế nào, thì con người
cũng sản sinh ra xã hội như thế ấy"
Từ quan niệm trên
chúng ta thấy rằng, cá nhân trước hết là cá thể người với tư cách là sản phẩm
của sự phát triển xã hội, -là chủ thể của hoạt động, của mọi quan hệ xã hội và
của nhận thức do những điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội quy định.
Cá nhân là cá thể
người, song không phải mọi cá thể người nào cũng đều là cá nhân. Để thể hiện
đúng tư cách là cá nhân, con người phải trải qua một quá trình phát triển nhất
định để có một nhân cách đầy đủ, mang tính chỉnh thể. Ở đây, phạm trù cá nhân
đặc trưng cho con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa những đặc điểm
riêng biệt của con người với bản chất chung của cộng đồng .
Trong sự phát
triển của xã hội nói chung, sự phát triển của cá nhân là thước đo, là đặc trưng
cho sự phát triển xã hội đó. Không có và không bao giờ có cá nhân chung chung,
trừu tượng, mà chỉ có cá nhân với tất cả dáng vẻ riêng biệt và sự thống nhất
mang tính lịch sử- cụ thể.
Lịch sử sinh
thành loài người hàng chục vạn năm cũng là lịch sử mà điện mạo cá nhân luôn
luôn vận động và phát triển.
Thuở sơ khai, con
người là những thực thể hoang dã, chưa đủ sức mạnh để tách ra khỏi giới tự
nhiên, sống chung với muôn loài và thế giới thần linh; số phận con người bị chi
phối bởi những sức mạnh huyền bí của tạo hoá. Con người duy trì sự sống trong
giới tự nhiên bao la bằng sức mạnh cơ bắp, bằng năng lực bẩm sinh của cái tự
nhiên và bằng sự may rợ của số phận.
Trong giai đoạn
cao của thời đại mông muội, việc dùng lửa và chế tạo ra cung tên đã làm cho sức
mạnh con người chuyển biến một cách đáng kể. "Cung tên đối với thời đại
mông muội cũng giống như thanh kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng
đối với thời đại văn minh: một vũ khí có tính chất quyết định”
Khi lịch sử bước
sang giai đoạn văn minh, diện mạo con người thay đổi một cách cơ bản. Từ chỗ là
một bộ phận của giới tự nhiên, con người tách dần ra khỏi giới tự nhiên; từ chỗ
là nô lệ của giới tự nhiên, con người từng bước thống trị giới tự nhiên.
Tuy nhiên, suốt
đêm trường Trung cổ, con người bị dồn ép trong ý thức hệ phong kiến và tôn
giáo. Bản chất vươn lên khẳng định mình là những cá nhân đã làm nẩy sinh tư
tưởng Phục hưng ca ngợi con người, đòi tự do cho cá nhân, đòi quyền tư hữu, đề
cao chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giải phóng con người.
Nhưng trong chế
độ tư bản chủ nghĩa, ước mơ tự do cho cá nhân, giải phóng con người đã không
thể thực hiện được. Sự tha hoá con người xuất hiện với tính cách là hậu quả
trực tiếp của sở hữu tư nhân, của độ người bóc lột người, mà nét đặc trưng là
biến sản phẩm hoạt động của con người, những năng lực, những đặc tính của con
người thành những cái gì xa lạ với con người, chi phối con người.
Chủ nghĩa xã hội
hiện thực đã từng bước khắc phục sự tha hoá con người, để con người thật sự trở
thành những cá thể với tư cách là những chủ thể làm chủ đời sống với những năng
lực sáng tạo, phát triển xã hội. Mặc dù đã tạo được một bước tiến to lớn trong
sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của con người, nhưng xét trên nhiều mặt thì mục
tiêu phát triển những cá nhân đích thực – làm chủ bản thân, làm chủ xã hội –
thì những nội dung mà chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thời gian qua đã làm vẫn
còn phải bổ sung thêm nhiều điểm mới.
Từ cái nhìn toàn
diện, phải thấy rằng “con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử; cao hơn nữa,
con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; và điều còn quan trọng hơn, con người
phải là những chủ thể văn hoá”(3). Chỉ có thể đứng trên quan điểm đó mới thấy
hết xu thế và khả năng phát triển của con người với tư cách là cá nhân trong
thời đại ngày nay – đó là thời đại mà mọi sự thay đổi đạt đến tốc độ kỳ diệu,
là thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, là thời đại hoà nhập và hợp tác vì sự
tăng trường kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm mục đích cao quý là phục vụ con
người.
Trong xu thế đó,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế,
giải phóng mọi tiềm năng sản xuất, lấy hiệu quả kinh tế và phát triển văn hoá
làm thước đo cho sự phát triển xã hội; phát triển kinh tế gắn liền với việc
phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc, tất cả vì sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với đặc điểm ấy,
con người với tư cách là cá nhân trong xã hội Việt Nam hiện nay sẽ là con người
phát triển hài hoà trong mối quan hệ cá nhân – xã hội.
Đã có một thời kỳ
dài, chúng ta xây dựng con người tập thể theo những khuôn mẫu chung chung, trừu
tượng, ít được phát triển mặt cá tính riêng tư, thiếu bản sắc độc đáo. Con
người khuôn mẫu, cố nhiên không thể có sức sáng tạo, hoặc bản lĩnh sáng tạo vốn
có của nó bị hạn chế. Bởi vậy, về mục tiêu, chúng ta đề cao con người, nhưng về
phương pháp, có khi vô tình, chúng ta lại hạ thấp con người, làm mất đi sự năng
động và sự phong phú của các cá nhân.
Tinh thần đổi mới
và những điều kiện của sự nghiệp đổi mới đất nước đang mở ra những triển vọng
tốt đẹp cho sự phát triển của các cá nhân.
Trước hết, đó là
mục tiêu vươn tới với những động lực bên trong của nó. Con người, xét về bản
chất xã hội là mang tính cộng đồng, nhưng động lực bên trong thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển của cá nhân là những lợi ích thiết thực đối với từng cá nhân.
Tinh thần đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì hạnh phúc con
người mà toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện là điều kiện để kết hợp lợi ích
chung với lợi ích riêng, để sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
mang mục đích và ý nghĩa tự thân.
Thời đại ngày nay
là thời đại của văn minh trí tuệ: Trí tuệ trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất hiện đại. Hàm lượng trí tuệ trong các sản phẩm do con người làm ra ngày
càng cao. Trong xu thế đó, giáo dục để nâng cao dân trí là đòi hỏi cấp bách của
sự nghiệp đổi mới. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra
vấn đề đào tạo những cá nhân lao động ngày càng có chất lượng cao. Hiện nay, cả
nước ta có 96 trường đại học và cao đẳng, 436 trường trung học chuyên nghiệp và
dạy nghề. Cán bộ có trình độ cao đang ngày càng phát triển: Tiến sỹ 420 người,
Phó tiến sỹ 10.500 người, Thạc sỹ gần 400 người, hàng trăm nghìn cán bộ có
trình độ trung học, đại học. Con số này mỗi năm một tăng lên đáng kể. Điều đó
cho thấy, con người Việt Nam đang vận động theo hướng phát triển trí tuệ. Đó là
những cá nhân có học vấn, ham tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Con người ngày
càng hành động theo quy luật, có định hướng và hiệu quả ngày càng cao. Yêu cầu
và điều kiện của công cuộc đổi mới hình thành một đội ngũ trí thức - công nhân
với sự hài hoà hai yếu tố tri thức và kỹ năng trong lao động, tạo thành một đội
ngũ những người công nhân lành nghề, có tay nghề cao, thực hành giỏi. Ở đây, sự
phát triển của cá nhân đang hướng tới chỗ coi trọng các yếu tố thực hành có
hiệu quả, không phải là những cá nhân chỉ biết thuần tuý lý thuyết.
Muốn phát triển
thì phải tự khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng. Con người Việt Nam đang
hướng tới những giá trị mang tính toàn cầu nhưng đồng thời cung là con người
mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc. Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển
cá nhân đang đòi hỏi một trong những nét đặc trưng của con người - yếu tố nhân
ái, nhân văn trong quan hệ với cộng đồng. Phát triển cá nhân không có nghĩa là
đề cao chủ nghĩa cá nhân, mà thực chất là phát huy những giá trị chuẩn mực về
văn hoá của cộng đồng và phát huy tối đa những phẩm chất, tư chất trong bản
thân mỗi cá nhân. Nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường nhiều khi làm cho
người ta chỉ chú ý đến giá trị kinh tế mà quên mất các giá trị tinh thần có ý
nghĩa trường tồn của con người.
Những cá nhân có
lòng nhân ái vốn đã trở thành nét truyền thống "lá lành đùm lá rách"
của đạo lý dân tộc, đó là những con người luôn coi trọng các giá trị văn hoá,
tinh thần mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Một cá nhân đích thực trong cộng đồng hiệm
nay phải là một cá nhân kết hợp hài hoà trong mình các yếu tố dân tộc - nhân
loại, truyền thống - hiện đại. Mặt khác, con người là sự thống nhất giữa cải
chung và cái đặc thù, giữa những chuẩn mực có tính đặc trưng của cộng đồng xã
hội với tính cách cá nhân. Môi trường hoà nhập quốc tế, điều kiện kinh tế - xã
hội và khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay là điều kiện tốt để cho mỗi cá
nhân có thể phát huy đầy đủ cá tính và bản sắc riêng, thể hiện bản lĩnh thích
nghi và hoà nhập với cộng đồng, tự chủ và sáng tạo. Trong sự thay đổi nhanh
chóng của điều kiện xã hội, nhất là trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học
- kỹ thuật hiện đại, mỗi cá nhân phải luôn tự khẳng định mình, biết chấp nhận
mọi thay đổi và thích nghi với hoàn cảnh, năng động, có bản lĩnh và cạnh tranh
quyết liệt để tồn tại và phát triển. Bởi vậy, phát triển cá nhân cũng có nghĩa
là phát huy các yếu tố mang bản sắc riêng có của mỗi con người, đề cao bản lĩnh
tự chủ và sáng tạo trong con người.
Nền kinh tế thị
trường đang đòi hỏi một cách khách quan năng lực hoạt động kinh tế trong mỗi cá
nhân. Cá nhân hiện đại không chỉ là con người chính trị, mà còn phải phát triển
khía cạnh con người kinh tế, nghĩa là biết tư duy kinh tế, biết làm giàu chính
đáng. Xét một cách bản chất, điều đó có nghĩa là con người biết hoạt động thực
tiễn một cách có hiệu quả nhất. Tư duy kinh tế là sự đòi hỏi nghiêm khắc của cả
hai mặt: bản lĩnh sáng tạo và tri thức khoa học. Năng lực hoạt động thực tiễn
được thể hiện ở hiệu quả kinh tế và là một trong những phẩm chất quan trọng đối
với sự phát triển của cá nhân hiện nay.
Muốn đáp ứng được
sự phát triển của những phẩm chất cá nhân theo tinh thần đó, con người phải học
tập, phải rèn luyện không ngừng. Có thể nói, học tập là nét nổi bật trong hiện
tại và tương lai của cuộc sống con người. Điều này, cũng có nghĩa là khẳng định
vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người với tư cách cá nhân. Chỉ
có không ngừng học tập, mỗi cá nhân mới có thể theo kịp tri thức, học vấn và
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại để sẵn sàng thích nghi và sáng tạo
trong cuộc sống hiện đại. Bởi vậy, trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện
nay, quan điểm của V. I. Lê nin "Học, học nữa, học mãi" có ý nghĩa
thiết thực hơn bao giờ hết.
Phát triển cá
nhân là xu thế tất yếu của cuộc sống. Sự phát triển cá nhân, tự nó đã bao hàm
ngay trong bản thân nó quan hệ cá nhân - cộng đồng, là sự thể hiện đặc trưng
bản chất xã hội và bản sắc, tư chất riêng trong mỗi con người. Những điều kiện
của thời đại và của xã hội Việt Nam hiện nay đang tạo ra những tiền đề quan
trọng cho sự phát triển cá nhân, hướng tới sự hài hoà về nhân cách con người
Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
CÁCH TỰ TÔN TRỌNG BẢN THÂN, BẢN THÂN
PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐƯỢC TÔN TRỌNG
Biết cách tôn
trọng bản thân luôn là nhân tố hàng đầu trong việc xây dựng nhân cách của 1 con
người, ngoài ra đó cũng là điểm khiến phụ nữ bị cuốn hút. Đối với phụ nữ, việc
đàn ông biết tự tôn trọng mình đồng nghĩa với sức mạnh tinh thần mà người đó
phát ra.
Trên thực
tế, phụ nữ luôn tìm kiếm mẫu đàn ông có thể đối phó với mọi hoàn cảnh, và
có thể che chở cho họ tại mọi thời điểm. Vậy tự tôn trọng bản thân là gì? Và nó
có can dự gì đến cuộc sống của đàn ông chúng ta?
Tự tôn trọng bản
thân không phải thứ xuất phát từ bên ngoài. Nó không phải là danh tiếng, sức
mạnh, quyền lực, tiền bạc, xe hơi, nhà cửa, v.v… Nó là thứ tồn tại từ bên trong
con người mỗi chúng ta. Nó hiện diện như 1 trò chơi, trong trò chơi này, ta
phải là kẻ miễn nhiễm với mọi cám dỗ luôn vẫy tay chào đón hàng ngày.
Sự miễn nhiễm này
sẽ rất khó khăn nếu mình không gia tăng sức mạnh của việc tự tôn trọng bản
thân. Dưới đây là 6 phương pháp giúp mình cải thiện sự tôn trọng của mình đối
với chính bản thân mình.
Muốn tôn trọng
bản thân hãy sống có ý thức
Hãy tưởng tượng
ta đang đi lại trong 1 căn phòng không ánh sáng, chắc hẳn bên cạnh việc
dò dẫm thì cơ thể mình sẽ chạm phải rất nhiều đồ đạc xung quanh. Trong khi đó,
nếu bật đèn lên, việc đi lại sẽ trở nên đơn giản đến chừng nào, và cũng chẳng
có việc ta va chạm vào đồ vật trong phòng nữa. Thế nên, sống có ý thức
cũng như việc đi lại trong căn phòng sáng đèn vậy. Ta chắc chắn sẽ muốn sống
trong ánh sáng thay cho bóng đêm, đúng chứ?
Biết chấp nhận
Đừng từ chối
những kết quả chưa hoàn hảo, cũng đừng từ chối công sức mà mình bỏ ra. Hãy thừa
nhận tất cả và thành thật với bản thân. Bên cạnh đó phải hiểu bản thân nữa. Làm
sao ta có thể sống ở 1 nơi mà không biết mình ở đâu?
Có trách nhiệm
với bản thân
Trước khi than
phiền hay trách móc ai đó, hãy nhìn vào bản thân mình trước đã. Nhìn nhận trách
nhiệm của mình giống như việc ta dám đối diện với sự thật, và chấp nhận
sự thật dù nó có khốc liệt đến thế nào đi nữa.
Quyết đoán để tôn
trọng bản thân
Hãy xếp tất cả
mọi thứ thành 1 đường thẳng và chọn ra thứ nào đúng, và bỏ qua những thứ sai.
Hãy sẵn sàng nói không cho dù mình có thể gặp rắc rối, hoặc thậm chí là bị tẩy
chay đi nữa.
Sống có mục đích
Đặt ra những mục
tiêu cho bản thân, đừng bao giờ là 1 kẻ thụ động trong cuộc đời. Hãy tạo ra
những mục tiêu 1 năm, 3 năm, 5 năm, tiếp đến chia nhỏ chúng thành nhiều phần
như 6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, cho đến ngày, giờ, v.v… Đừng chỉ sống với mục
đích, ta cần phải tạo ra những kế hoạch nữa, và đừng chỉ tạo ra không, hãy thực
hiện nó, và không chỉ thực hiện nó, hãy đo đạc và so sánh những kết quả đạt
được. Từ đó cuộc sống của mình sẽ có nhiều mục đích hơn.
Trung thực
Nếu đã nói làm gì
đó, dù có ra sao, ta cũng cần phải thực hiện nó, và đừng để bất cứ vấn đề ngoại
cảnh nào tác động. Trung thực được ví như con thuyền, sẵn sàng vượt đại dương
cho dù có bất cứ bão táp nào muốn nhấn chìm. Sau cùng con thuyền trung thực vẫn
tìm được đến bến đỗ của nó mà thôi.
Một anh chàng mới
lớn gần đây cảm ơn tôi. Tôi hỏi cảm ơn vì điều gì? Cậu ta nói cảm ơn vì đã giúp
cậu ta có hiểu biết để trải qua 7 cuộc tình trong suốt 4 năm qua. Cảm ơn vì đã
giúp cậu ta tìm ra đam mê trở thành 1 PT chuyên nghiệp thời gian sắp tới. Sự
thật thì cậu ta mua sách Giải mã bí ẩn phái đẹp của tôi từ năm lớp 9. Cậu ta
giấu bố mẹ và giấu luôn cả tôi. Bởi biết thừa rằng sách chỉ dành cho 18+ và
không đời nào tôi bán những kiến thức đó cho những người nhỏ tuổi hơn.
Còn mình, ta đã từng làm gì đó tương tự vậy
chưa?
6
MỐI QUAN HỆ QUYẾT ĐỊNH CUỘC SỐNG CỦA MÌNH
Dù mình có khác biệt
đến đâu thì các mối quan hệ xung quanh cuộc sống của mình cũng phát triển theo
cùng một kịch bản.
Để hiểu rõ hơn, những
phân tích sau sẽ thảo luận về sáu mối quan hệ phổ biến nhất mà mình phải đối
mặt. Hãy đặt mình vào đó, hiểu rõ vấn đề của mình và tìm ra điều ta đang
cần.
Hãy quan tâm nhiều
hơn nếu mình đang có một mối quan hệ "cùng phát triển'
1. Mối quan hệ
"cùng phát triển"
Tức là khi hai người
phụ thuộc vào nhau và giúp đỡ nhau cùng phát triển - cảm xúc và tâm lý. Sự phát
triển cảm xúc là một phần quan trọng trong cuộc sống, chúng ta không thể tiến
lên phía trước nếu không có sự trưởng thành cảm xúc. Người đồng hành trong kiểu
quan hệ này sẽ làm mình mạnh mẽ hơn và truyền động lực
để mình vượt qua được những giới hạn bản thân. Nếu mình đang ở
trong mối quan hệ này, ta thực sự rất may mắn đấy và lời khuyên cho mình là
hãy "quan tâm" nhiều hơn đến mối quan hệ này để có thể duy trì nó.
2. Mối quan hệ
"im lặng dễ chịu"
Khi mình cảm thấy gắn
kết và dễ chịu với đối phương và hai người có thể ngồi im lặng cùng nhau mà
không hề lo nghĩ gì về thế giới ngoài kia. Xây dựng được một mối quan hệ kiểu
này thường rất khó khăn và yêu cầu nhiều thời gian, nỗ lực từ hai phía. Hãy
tưởng tượng nếu mình và người ấy đang ngồi cạnh nhau trong một buổi tối -chỉ
ngồi, không nói năng gì. Ta cảm thấy thế nào? Nếu mình thấy điều đó bình thường
thì có lẽ ta đã có được một mối quan hệ cực kỳ bền vững.
3. Quan hệ "lợi
ích"
Những mối quan hệ
kiểu này hoặc tốt hoặc xấu. Những người này thường cần phải đạt được một mục
tiêu cụ thể nào đó cho riêng họ, như là nghề nghiệp hay cuộc sống xã hội. Trong
trường hợp xấu nhất, chỉ một trong hai người biết rằng họ không thực sự đi cùng
với người kia mãi mãi nhưng họ cần ở bên cạnh để lấy được một lợi ích nào đó.
Mối quan hệ này sẽ kết thúc nhanh chóng khi một trong hai người đã đạt được
tham vọng của mình.
4. Mối quan hệ
"trải nghiệm"
Đây là một kiểu ích
kỷ căn bản trong tự nhiên. Nó xảy ra khi một người quyết định thực hiện mục
tiêu của mình là để ai đó thành một thứ gì đó. Ví dụ, người ấy muốn ta
trở thành một người khác, khác hoàn toàn so với những gì mình muốn.
Và họ sẽ kết nối với mình để họ đạt được điều này. Họ muốn kiểm tra xem trải
nghiệm của họ có thành công không và liệu rằng họ có thể thay đổi mình trở
thành một người lý tưởng theo trí tưởng tượng của họ. Có khoảng 98% những mối
quan hệ này sẽ thất bại theo một cách tiêu cực và khá khủng khiếp.
5. Quan hệ "lôi
kéo"
Có lẽ đây là một
trong những kiểu quan hệ tệ nhất. “Lôi kéo” là khi một người đáng lẽ đã phải
kết thúc mối quan hệ từ lâu nhưng thực tế thì họ vẫn bị lôi kéo về với người
kia. Nó thường xảy ra sau một cuộc chia tay tồi tệ và lại gặp nhau vài tháng
sau đó. Nỗi buồn và sự đau đớn của cuộc chia tay là quá lớn khiến họ không thể
kiểm soát được, tuy nhiên mỗi người lại cố gắng thổi cuộc sống mới vào mối tình
đang chìm dần. Họ hiểu rằng họ không hợp với người kia, họ hiểu rằng họ có
nhiều xung đột hơn tình yêu, họ hiểu rằng họ sẽ khổ sở hơn mỗi ngày nhưng họ
vẫn cứ cố níu giữ. Sự níu kéo này có thể vì lý do xã hội và điều này còn làm họ
đau khổ hơn.
Cuối cùng mọi thứ
cũng sẽ kết thúc nhưng quá trình này kéo dài rất lâu và chỉ sau rất nhiều nỗ
lực vô ích để hàn gắn mối quan hệ. Nếu mình đang dính phải mối quan hệ như vậy,
lựa chọn tốt nhất là hãy kết thúc nó thật gọn ghẽ.
6. Quan hệ "cạnh
tranh"
Mối quan hệ kiểu này
sẽ không bao giờ đem lại điều gì tốt đẹp. Khi hai người đang yêu, họ sẽ cố gắng
hết mình để giúp đỡ nhau cùng phát triển. Trong một mối quan hệ "cạnh
tranh", cả hai người đều cạnh tranh và thậm chí có xu hướng chống đối lại
người kia. Ví dụ, một người đàn ông và vợ anh ta có thể cố gắng để đánh bại
nhau trong sự nghiệp, trong những khía cạnh mà họ cảm nhận rằng đối phương
không chỉ là đối thủ mà thậm chí còn là kẻ thù. Nếu mình đang ở trong mối quan
hệ kiểu này, hãy tự giải thoát mình ngay lập tức.
NHỮNG QUI LUẬT TỰ NHIÊN TRONG CUỘC SỐNG
1.Luật cân bằng:
Đây là quy luật quan
trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật khác của cuộc sống. Quy luật này
được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc trong cuộc đời một con người là những
số dương, nếu coi đau khổ là những số âm. Thì tổng của tất cả hạnh phúc và đau
khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng không.
2.Luật tuần hoàn:
Diễn giải nôm na,
luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc đời của một con người là môt chuỗi
tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn
đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó lại đến một giai đoạn đau khổ mới
và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo quy luật này không ai là hạnh
phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.
3.Nguyên lý cho và
nhận:
Những thứ ta nhận
được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho
cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.
4.Luật trả giá và đền
đáp:
Dần dà trong cuộc
đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ cho từng lỗi lầm và từng hành
động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một cách xứng đáng cho mọi cố gắng
và mọi việc làm tốt đẹp của mình.
5.Luật thử thách:
Những khó khăn,
nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những thử thách giúp những kẻ biết
vượt qua trở nên mạnh hơn.
6.Luật bù trừ:
Ở trên đời này, hễ
được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái
khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái
hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật
đánh đổi.
7.Luật cộng sinh:
Một mối quan hệ giữa
hai cá thể (loài vật, cây, con người hay một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu dài
nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có lợi
cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối quan hệ đó sẽ không tồn tại được lâu
dài. Đó là luật cộng sinh.
8.Luật hấp dẫn:
Người xưa diễn giải
luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, hay "ngưu tầm ngưu,
mã tầm mã". Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau. Một
khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn là khi một ý nghĩ được nung nấu, nó
sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để biến ý nghĩ đó thành hiện thực.
9.Luật vạn vật đồng
nhất:
Luật vạn vật đồng
nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào đúng với trời đất, với vạn vật thì
những quy luật đó cũng đúng với con người, với cuôc đời hay các mối quan hệ của
con người.
10.Luật cường độ giảm
dần theo thời gian:
Luật cường độ giảm
dần theo thời gian phát biểu như sau: Một hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì ngày
hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức nào
thì ngày hôm sau đau khổ đó cũng được cảm thấy dịu bớt đi.
11.Luật tự kỷ ám thị:
Nếu một ý nghĩ được
lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài thì cho đến một lúc nào
đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là công cụ mạnh của quảng cáo và ta cũng có
thể tận dụng quy luật này để có được những suy nghĩ tích cực và để rèn cho mình
những đức tính mà mình chưa có.
12.Luật về sức mạnh
của thói quen:
Những suy nghĩ hay
hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở thành thói quen và thói quen sẽ trở
thành một phần trong tính cách. Đây là công cụ mạnh để rèn luyện những tính
cách mình muốn có.
13.Luật thích nghi:
Con người là động vật
lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng
chịu được. Con người được ban cho khả năng thích nghi với nhiều điều kiện hoàn
cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết
thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và môi trường xung quanh.
14.Luật về sự tương
tác
Khi vật A tác động
vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một lực tác động ngược lại đúng bằng
lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan hệ giữa con người với con người,
khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự đau đớn đúng bằng vậy. Và ngươc
lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản thân ta sẽ nhận được một hạnh phúc
đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.
VẬN MỆNH CON
NGƯỜI BỊ CHI PHỐI BỞI 9 QUY LUẬT NÀY, MUỐN CẢI BIẾN PHẢI BIẾT
Rất nhiều sự
việc trên đời xảy ra tưởng chừng như ngẫu nhiên, nhưng nó lại tuân theo
một số quy luật, đạo lí nhất định. Nếu như có thể nắm vững những
định quy luật này thì có thể cải biến vận mệnh.
1. Luật nhân quả
Trên đời này
không có một sự tình nào là ngẫu nhiên xảy ra. Mỗi một việc xảy ra đều có
nguyên nhân của nó. Đây được xem là quy luật căn bản nhất của vũ trụ. Vận mệnh
của con người cũng là tuân theo quy luật này.
Từ xưa đến nay,
các trường phái công nhận quy luật này không chỉ có Phật giáo mà còn có Cơ đốc
giáo… Triết học gia Hi Lạp cổ đại Socrates và nhà khoa học vĩ đại Newton cũng
công nhận đây là quy luật căn bản nhất của vũ trụ.
Suy nghĩ, lời nói
và hành vi của con người đều được coi là “nhân” và sẽ sản sinh ra “quả” tương
ứng. Nếu “nhân” tốt thì “quả” cũng tốt, nếu “nhân” xấu thì “quả” cũng xấu. Con
người chỉ cần có suy nghĩ thì sẽ lập tức không ngừng gieo trồng ra một loại
“nhân”. Cho nên, “thiện nhân” hay “ác nhân” là do bản thân mỗi người quyết
định.
Bởi vậy, một
người nếu muốn cải mệnh thì trước hết phải chú ý đến suy nghĩ của mình. Bởi vì,
tâm niệm một khi khởi lên thì sẽ dẫn phát ra lời nói và hành vi tương ứng. Từ
hành vi và lời nói ấy sẽ dẫn đến kết quả tương ứng.
2. Luật năng
lượng biến đổi không ngừng
Vạn vật trong vũ
trụ đều mang một trường năng lượng tương ứng và đặc trưng. Mọi thứ đều di
chuyển và thay đổi cũng như việc biến đổi của năng lượng vậy. Không có gì là
đứng yên và ngưng nghỉ cả. Luật này cho phép cuộc sống trở nên bất tận và kéo
dài vô tận. Không có gì mất đi, chỉ đơn giản là biến đổi.
Từ một năng lượng
thấp và tiêu cực vẫn có thể chuyển hóa thành năng lượng tích cực và tinh khiết.
Mọi năng lượng đều có thể biến đổi theo một chiều hướng khác, có thể là hoàn
toàn khác biệt và hoàn toàn mới.
Không có gì là
mất đi trong vũ trụ cả, chỉ là biến đổi và chuyển sang một dạng năng lượng khác
mà thôi. Cũng như khi mình còn trong thân xác, ta là một dạng năng lượng đặc
rắn chẳng hạn, còn khi mình “chết đi”, rời bỏ cơ thể thì mình vẫn “sống”, chỉ
đơn thuần là mình biến đổi thành một dạng năng lượng khác mịn hơn, nhẹ
hơn, linh hoạt hơn… mà thôi. Tất cả đều là năng lượng. Vạn vật đều là năng
lượng tùy thuộc vào tính chất, hình dạng, kết cấu đặc trưng của năng lượng đó
mà thôi.
Ta có thể
áp dụng luật này để chuyển đổi trường năng lượng của mình theo hướng mà mình
muốn, tích cực hay tiêu cực là phụ thuộc vào sự lựa chọn của mình.
3. Luật vô thường
Các thuộc tính
của thời tiết mưa, gió, nắng tạo hiện tượng mát, lạnh, nóng hình thành các mùa
trong năm. Thời tiết vận hành tạo ra sự vô thường làm con người sinh - lão -
bệnh - tử nhưng nếu không có cái vô thường đó thì sẽ không có thế hệ con người
hạnh phúc, an lạc trong tương lai cũng giống như không có mùa đông lạnh lẽo sẽ
chẳng có mùa xuân ấm áp với muôn hoa đua nở. Tất cả những tai ách, chướng duyên
hay cụ thể là chết chóc, li biệt… là sầu não dẫu có xảy ra là đang hứa hẹn một
cái mới hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong tương lai.
Vì vậy, chúng ta
phải có suy nghĩ lạc quan trước mọi đổi thay dù là tiêu cực của cuộc sống để
luôn có giây phút bình an, tự tại. Những khó khăn giúp chúng ta tích lũy được
kinh nghiệm, những trở ngại rèn luyện cho ta bản lĩnh vững vàng, tạo đà để ta
có đời sống tinh thần vững chãi và giải quyết mọi công việc một cách dứt điểm,
nhẹ nhàng, sáng suốt hơn.
4. Luật hấp dẫn
Tâm niệm (tư
tưởng, suy nghĩ) của con người và hiện thực là luôn hấp dẫn lẫn nhau. Ví như,
một người luôn tràn đầy ý niệm rằng đường đời là nhiều cạm bẫy, bước ra cửa sợ
ngã, đi xe sợ tai nạn giao thông, kết giao bạn bè sợ bị lừa gạt, thì người này
sẽ có nguy cơ rất cao là gặp phải những sự cố phiền phức ấy trong cuộc sống
hiện thực. Họ chỉ hơi lơ đễnh, không cẩn thận thì liền rước họa vào thân. Trái
lại, một người luôn có suy nghĩ vui tươi, vô tư chính trực, nghĩa khí khi kết
giao bạn bè thì họ sẽ dễ dàng có được những người bạn cũng có tính cách như vậy
hơn so với những người không có suy nghĩ này.
Tại sao lại như
vậy? Đó là bởi vì con người đều là dùng con mắt “lựa chọn” để nhìn thế giới.
Người ta chỉ nhìn đến, chú ý đến những con người, sự vật mà mình tin tưởng, đối
với những sự vật mà bản thân không tin tưởng, người ta sẽ có thiên hướng không
chú ý đến, thậm chí là “nhìn thấy mà làm như không nhìn thấy”. Cho nên, những
điều xảy ra trong hiện thực của một người là do tâm niệm của người ấy hấp dẫn
mà đến. Những điều này con người cũng không khó để phát hiện ra. Tâm niệm của
một người là tiêu cực, xấu xa thì hoàn cảnh thực tế mà người ấy gặp phải cũng
sẽ tương tự. Ngược lại, tâm niệm của một người là lương thiện, là tích cực thì
hoàn cảnh thực tế của người ấy cũng sẽ như vậy.
Một người nếu có
thể kiểm soát được tâm niệm (suy nghĩ) của mình, khiến nó luôn lương thiện,
tích cực thì cái năng lượng mà tâm niệm ấy phát ra sẽ có thể hấp dẫn được
người, sự việc, sự vật có cùng đặc tính đến. Cho nên, kiểm soát được tâm niệm
(tư tưởng, ý nghĩ) của bản thân sẽ có thể cải thiện được vận mệnh của mình.
5. Luật gia tăng
Đây này là một
luật tuyệt vời để mình áp dụng vào cuộc sống của mình. Tính chất của nó là
mình cho đi, dù chỉ là một ít, nhưng đó lại là một lời khẳng định với vũ trụ
rằng mình “có”, và sự giàu có của mình
là dồi dào. Và từ đó, chính lời khẳng định đó sẽ tạo ra thực tại của mình vì vũ
trụ cũng như một cây đèn thần hay một cỗ máy copy vậy. Dù chỉ có một ít
tiền, dù là một khoản nhỏ thôi nhưng cũng hãy biết ơn vì điều đó, cảm ơn vì
những thứ ta đang có và rồi sự dồi dào của mình sẽ được gia tăng. Cầu
nguyện mỗi ngày với những câu khẳng định biết ơn để gia tăng và cải thiện các
khía cạnh trong đời sống của mình như là hạnh phúc, tiền bạc, thành công, sức
khỏe… hay bất cứ điều gì mình muốn có trong tương lai.
Tuy nhiên, lời
khẳng định không thể làm việc một mình được, mà nó phải được kèm theo với một
tư tưởng và niềm tin mạnh mẽ. Tư tưởng mang một sức mạnh vô hình, và hãy cứ tập
trung vào điều mình muốn và sáng tạo ra trải nghiệm mà mình khao khát. Cứ tin
như thể là nó chắn chắc sẽ xảy ra và rồi ta sẽ thấy Luật Gia Tăng làm
việc rất hiệu quả.
Thường thì hầu
hết chúng ta khi vui, khi hạnh phúc thì ít khi biết ơn, nhưng khi không vui hay
buồn khổ thì chúng ta lại hay oán trách. Bây giờ, hãy thôi than phiền về nợ
nần, những điều không vừa ý xảy ra trong cuộc sống của mình (nếu mình không
muốn hấp dẫn thêm nợ nần và nhiều điều tiêu cực đến với mình), mà thay vào đó
hãy biết ơn với những gì khiến mình vui và hạnh phúc ở hiện tại và cảm ơn cả những gì mình ao ước trong tương lai và tin
tưởng những điều tốt đẹp sẽ đến với mình.
6. Luật tin tưởng
Một người nếu
thực sự tin tưởng thâm sâu rằng một việc nào đó chắc chắn sẽ xảy ra thì không
quản việc ấy là thiện hay ác, tốt hay xấu đều sẽ xảy ra đối với người ấy. Trí
óc của mình sẽ tìm kiếm những thông tin, hoàn cảnh, nguồn lực để phù hợp với
niềm tin của mình. Luật niềm tin rất mạnh mẽ, nếu mình tin rằng mình nghèo khó thì cả cuộc đời ta
chắc chắn sẽ nghèo khó, khi đó ta chỉ tìm kiếm những sự kiện, suy
nghĩ để phù hợp với sự nghèo khó đó vị dụ như: tôi không có tiền, tôi không
thành công… Nếu mình tin tưởng mình giàu có và thành công thì cho dù trong bất
kì hoản cảnh có khó khăn đến thế nào ta vẫn vượt qua để phù hợp với niềm
tin giàu có và thành công đó.
Chúng ta cũng
hành động dựa trên niềm tin dù đa số con người tự giới hạn niềm tin của mình.
Điều may mắn là không ai sinh ra đã có niềm tin. Niềm tin của mình về bản thân,
tiềm năng, thế giới, tôn giáo, chính trị, con người, mọi thứ… đều do ta
đã học hỏi một cách cẩn thận và tỉ mỉ, được hướng dẫn và lặp đi lặp lại
nhiều lần. Vậy sẽ vô cùng sai lầm khi chúng ta bị giới hạn niềm tin của chính
mình hoặc do bị ai đó tác động đến chúng ta làm giới hạn niềm tin từ bản thân
chúng ta. Đôi khi họ nói: ta không làm được đâu, điều đó khó lắm chưa ai
từng làm, ta nghĩ mình là ai? Ta không đủ thông minh, ta không đủ sáng tạo… đó
đều là những lời nói làm giới hạn niềm tin của chúng ta. Điều tồi tệ nhất xảy
ra khi chúng ta bị giới hạn bởi những niềm tin, những niềm tin giới hạn sẽ giữ
chúng ta lại trong cả một đời mà không phát huy được hết khả năng, tiềm năng
trong mỗi người. Ta cần phá vỡ giới hạn niềm tin của mình bằng cách luôn nghĩ
khả năng của mình, của mỗi người là không có giới hạn.
7. Luật buông
lỏng
Con người, chỉ
khi ở trong tình huống buông lỏng tâm thái thì mới có thể đạt được thành quả
tốt nhất. Một người có tâm thái nôn nóng, luống cuống, nóng nảy… đều sẽ đem đến
kết quả không tốt.
Vậy tâm thái nào
là tốt nhất? Đó chính là càng thanh khiết, không có niệm càng tốt. Một người
nếu có thể đặt mục tiêu muốn đạt được những điều lí tưởng trong nhân cách, cảnh
giới, các mối quan hệ và cuộc sống trong suy nghĩ, rồi buông lỏng tâm thái,
tinh tấn cố gắng, làm những điều nên làm, không nghĩ đến kết quả thì những điều
ấy sẽ nhanh đến. Trái lại, nếu người ấy càng nôn nóng nhìn thấy kết quả đạt
được bao nhiêu thì sẽ càng không thể đạt được kết quả lí tưởng bấy nhiêu, thậm
chí còn nhận được kết quả ngược lại.
Ví dụ: Vào một
đêm nóng bức đột nhiên mất điện, mọi người nằm trên giường đổ mồ hôi đầm đìa,
trằn trọc không thể ngủ được, trong đầu luôn nghĩ lúc nào mới có điện, kết quả
lại thấy điện như thể là “cố tình” không đến. Hơn nữa, khi con người càng bực
bội thì thân thể lại càng bức bối hơn. Nhưng nếu người ấy quên đi, nằm yên tĩnh
thì sẽ cảm thấy mát hơn và dường như “điện” cũng sẽ đến nhanh hơn.
Tại sao lại như
vậy? Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, cũng không phải là mê tín. Đó là
quy luật “buông lỏng”. Cái gọi là “vô niệm, vô nghĩ” ấy kì thực cũng không phải
là nhất nhất rằng trong đầu não không có ý nghĩ gì hết, mà là dù có ý nghĩ
nhưng cũng không để tâm, cũng có nghĩa là “không lưu luyến vào đó mà sinh ra
tâm này”. Khi đạt được điều ấy rồi thì vận mệnh, hoàn cảnh xung quanh của người
ấy cũng sẽ được cải biến.
8. Luật âm dương
Vạn vật đều mang
các yếu tố và nguyên tắc âm dương (-) (+) và năng lượng nam tính và nữ tính bên
trong nó. Cũng như mọi thứ trên Trái Đất từ khoáng chất cho đến cây cối, động
vật cho tới con người luôn cần có đủ và cân bằng hai nguồn năng lượng âm -
dương để tăng trưởng và tiến hóa.
Cũng như linh hồn
phân chia ra thành các cặp nam nữ vậy. Trong trường hợp linh hồn sinh đôi, đó
chính là linh hồn của mình tách ra làm hai linh hồn mang hai nguồn năng lượng
khác nhau, nữ tính (trội) và nam tính (trội), để đi trải nghiệm hai khía cạnh
khác nhau và có sự gắn kết đặc biệt. Đến thời điểm thích hợp đặc biệt, khi cần
tiến hóa cao hơn nữa thì linh hồn sẽ hợp nhất và trở nên toàn vẹn.
Người mang giới
tính nam thường có năng lượng nam tính trội hơn nhiều so với năng lương nữ
tính, và người mang giới tính nữ thì ngược lại (tương đối). Khi linh hồn tiến
hóa lên cao thì linh hồn đó sẽ cân bằng được hai nguồn năng lượng này.
Ngay cả bản thân
chúng ta, bất kể là nam hay nữ thì vẫn mang trong mình cả năng lượng nam và nữ
tính, chỉ là cái nào trội hơn mà thôi, hoặc có nhiều người cân bằng cả hai
nguồn năng lượng. Mỗi nguồn năng lượng đều mang tính đặc trưng đối với nhân
loại, chẳng hạn như: Năng lượng nam tính giúp chúng ta mạnh mẽ và vững chắc,
can đảm và kiên cường, lí trí và khôn ngoan… Còn năng lượng nữ tính thì giúp
chúng ta dịu dàng và tinh tế, sâu sắc và yêu thương, khéo léo và tỉ mỉ…
9. Luật thói quen
Những gì ta
làm lặp đi lặp lại liên tục sẽ tạo thành thói quen. Ta có thể tạo ra bất
kì thói quen cảm xúc nào mình muốn như về tự tin, lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc. Ta tạo
lập thói quen tinh thần tích cực bằng cách tư duy, suy nghĩ, nói ra lặp đi lặp
lại hàng ngày đến thuộc lòng. Điều quan trong của quy luật thói quen là giúp
mình trở thành con người mà mình nghĩ đến nhiều nhất hàng ngày. Ta trở thành
người như mình thường nghĩ
trong hầu hết thời gian hàng ngày.
Emerson nói :
“Con người thường làm những gì mà họ nghĩ cả ngày”. Vậy mình thường nghĩ gì cả ngày? Ta hãy
chọn những mục tiêu, suy nghĩ tích cực và thường xuyên nghĩ đến cả ngày khi đó
ta sẽ trở thành những gì mình suy nghĩ. Khi thay đổi thói quen suy nghĩ, ta thay đổi
cuộc đời.
Nếu nắm được cách
những quy luật này vận hành và có tâm thức cải biến, chắc chắn cuộc đời mình sẽ sang một trang mới nhiều
bất ngờ.
QUY LUẬT KINH TẾ
Khái niệm
Các qui luật
kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường
xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.
Tính chất Qui
luật kinh tế
Qui luật kinh tế
có những tính chất sau:
- Cũng như các
qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại
trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện
đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.
Người ta không
thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát
hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt
động kinh tế của mình.
- Qui luật kinh
tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật
kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con
người.
Nếu nhận thức
đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược
lại sẽ phải chịu những tổn thất.
- Khác với các
qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử,
chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Do đó, có thể
chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc
thù và các qui luật kinh tế chung.
Các qui luật
kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một
phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại
trong một số phương thức sản xuất.
Ý nghĩa
Nghiên cứu qui
luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá
trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật
kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.
Chính sách kinh
tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào
hoạt động kinh tế. Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả
kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp
ứng được lợi ích kinh tế của con người.
KHUYẾN NGHỊ TÌM HIỂU THÊM
Kinh tế chính trị
nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với?
Quy luật
kinh tế và chính sách kinh tế là?
Quy luật
kinh tế là quy luật:
Chức năng
của Kinh tế chính trị bao gồm?
Phân loại
tái sản xuất theo quy mô bao gồm?
Tái sản
xuất mở rộng bao gồm hai hình thức là?
Các khâu
của quá trình tái sản xuất bao gồm?
Nội dung cơ
bản của tái sản xuất xã hội bao gồm?
Tái sản
xuất của cải vật chất được xem xét trên cả hai mặt?
Tái sản xuất
sức lao động bao gồm hai mặt?
Tăng trưởng
kinh tế là:
Các nhân tố
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bao gồm?
Tăng trưởng
kinh tế và phát triển kinh tế là?
Những nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế?
Chỉ
số phát triển con người ( HDI) bao gồm các tiêu chí?
Tiến bộ xã
hội được thể hiện ở các mặt cơ bản?
Tiến bộ xã
hội xét về thực chất là?
Sản
xuất hàng hóa là?
Sản xuất
hàng hóa và sản xuất tự cấp, tự túc là?
Điều kiện
ra đời của sản xuất hàng hóa?
Phân công
lao động xã hội là?
Hai thuộc
tính cơ bản của hàng hóa là?
Giá trị sử
dụng của hàng hóa là?
Giá trị
hàng hóa là?
Giá trị
trao đổi là?
Mục đích
của nhà sản xuất là?
Tính chất
hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là?
Lao động cụ
thể và lao động trừu tượng là?
Tính chất
hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh?
Lượng giá
trị của hàng hóa được đo lường bằng?
Thời gian
lao động xã hội cần thiết là?
Thời gian
lao động xã hội cần thiết có thể do thời gian lao động cá biệt của nhà sản
xuất?
Các nhân tố
ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?
Lao động
giản đơn và lao động phức tạp là?
Tăng năng
suất lao động và tăng cường độ lao động là?
Tăng năng
suất lao động và tăng cường độ lao động có điểm giống nhau là?
Tăng năng
suất lao động sẽ làm cho?
Tăng cường
độ lao động không làm thay đổi?
Cấu thành
lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (W).
Tiền tệ ra
đời là do?
Sự phát
triển của các hình thái giá trị bao gồm?
Bản chất
tiền tệ là?
Các chức
năng của tiền tệ là?
Công thức
của lưu thông hàng hóa khi tiền làm môi giới trong trao đổi là?
Quy luật
giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở nào ?
Quy luật
giá trị vận động thông qua ?
Ngoài giá
trị, giá cả thị trường còn phụ thuộc vào ?
Tác dụng
của quy luật giá trị là gì?
Cạnh tranh
kinh tế là gì?
Giữa cung và
cầu tồn tại mối quan hệ biện chứng, sự tác động giữa chúng hình thành nên gì ?
Điều kiện
để tiền biến thành tư bản là gì ?
Công thức
chung của tư bản là gì ?
Điều kiện
để sức lao động biến thành hàng hóa là:
Giá trị sức
lao động được đo lường gián tiếp bằng:
Giá trị sử
dụng của hàng hóa sức lao động, khi sử dụng sẽ tạo ra:
Giá trị
thặng dư là:
Ngày lao
động của công nhân gồm những phần nào?
Tư bản khả
biến (v) là gì ?
Tỷ suất giá
trị thặng dư (m’) là gì ?
Khối lượng
giá trị thặng dư (M) được tính bằng công thức nào ?
Giá trị
thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được do?
Giá trị
thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được do?
Giá trị
thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư có được do?
Giá trị
thặng dư siêu ngạch còn được gọi là?
Sản xuất
giá trị thặng dư là gì?
Bản chất
của tiền công trong CNTB là gì?
Hai hình
thức tiền công cơ bản là gì/
Nguồn gốc
chủ yếu của tích lũy tư bản là gì ?
Động cơ chủ
yếu của tích lũy tư bản là gì?
Những nhân
tố ảnh hưởng đến quy mô của tích lũy tư bản là gì ?
Nguồn gốc
của tích tụ tư bản là gì ?
Nguồn gốc
của tập trung tư bản là gì ?
Cấu tạo hữu
cơ của tư bản là gì ?
Tuần hoàn
của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của những hình thái tuần hoàn nào?
Chu chuyển
của tư bản là: gì ?
Thời gian
chu chuyển của tư bản bằng...?
Tư bản cố
định là bộ phận tư bản mà...?
Hao mòn tư
bản cố định có các loại nào hình nào?
Tư bản lưu
động là bộ phận tư bản mà...?
Khi nghiên
cứu tái sản xuất tư bản xã hội, K. Marx chia nền kinh tế ra làm hai khu vực là
?
Điều kiên
thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn là ?
Điều kiện
thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng ?
Chu kỳ
khủng hoảng kinh tế trong CNTB bao gồm ?
Chi phí sản
xuất TBCN (k) là gì?
Chi phí sản
xuất TBCN: ?
Bản chất
lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là gì?
Lượng lợi
nhuận có thể là?
Lượng tỷ
suất lợi nhuận là?
Những nhân
tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bao gồm?
Cạnh tranh
trong nội bộ ngành sẽ như thế nào ?
Cạnh tranh
giữa các ngành là?
Cạnh tranh
giữa các ngành?
Lợi nhuận
bình quân là?
Khi hình
thành lợi nhuận bình quân sẽ dẫn đến?
Giá cả sản
xuất bằng ?
Tư bản
thương nghiệp trong CNTB là?
Thực chất
lợi nhuận thương nghiệp là?
Chi phí lưu
thông gồm hai loại chính là?
Tư bản cho
vay là?
Nguồn gốc của
lợi tức là?
Tỷ suất lợi
tức là?
Những nhân
tố chủ yếu ảnh hưởng đến tỷ suất lợi tức là?
Công ty cổ
phần là?
Thị trường
chứng khoán là?
Địa tô tư
bản là?
Các hình
thức cơ bản của địa tô tư bản chủ nghĩa là?
Những đặc
điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền bao gồm?
Biểu hiện
của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn CNTB độc quyền là?
Những biểu
hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước?
CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY
Ta xét hai ví dụ
suy luận:
“Mọi người đều
phải chết.
Socrate là người.
Vậy, Socrate phải
chết."
và:
“Vợ tôi là đàn
bà.
Em là đàn bà.
Vậy, em là vợ
tôi”
Rõ ràng suy luận
thứ nhất đúng, còn suy luận thứ hai thì sai. Nhưng căn cứ vào cơ sở nào mà ta
xác định được như vậy? Tất nhiên là có thể căn cứ trực tiếp vào thực tiễn. Tuy
nhiên thực hiện việc đó gặp phải rất nhiều khó khăn, vì ở đây sau khi kiểm tra
thấy kết luận đúng ta cũng không thể nói rằng chắc chắn suy luận đúng. Một
phương pháp khác thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều là sử dụng các quy luật của
tư duy, tức là các quy luật mà môn logic nghiên cứu, để làm cơ sở cho việc xét
đoán. Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì hợp lý, đúng; suy luận nào
không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai.
Như đã biết, quy
luật của tư duy là những mối liên hệ bên trong, bản chất, lặp đi lặp lại trong
các quá trình tư duy. Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua
hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến
chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo
các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính
chất bản năng.
Trong số các quy
luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Các quy luật này được gọi là cơ bản vì:
thứ nhất, chúng phản ánh những tính chất cơ bản nhất của các quá trình tư duy;
thứ hai, vì bất cứ quá trình tư duy nào cũng phải tuân theo chúng; thứ ba, vì
các quy luật khác có thể rút ra được từ chúng, nhưng không thể rút ra chúng từ
các quy luật khác. Các quy luật cơ bản đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không
mâu thuẫn, quy luật triệt tam.
I. QUY LUẬT ĐỒNG
NHẤT
Phát biểu: A là
A. Một tư tưởng, khi đã định hình, phải luôn là chính nó trong một quá trình tư
duy.
Quy luật này phản
ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều này có nghĩa là, trong quá trình
hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả thuyết,
…) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì không được thay đổi nữa.
Nếu nó vẫn tiếp tục thay đổi thì logic hình thức sẽ coi nó là tư tưởng khác.
Tính ổn định như vậy là điều kiện cần cho mọi quá trình tư duy. Mặc dù tư tưởng
- cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác -, luôn luôn vận động và biến đổi,
nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt biến đổi đó của tư tưởng thì không thể nào tư duy
được. Một ý kiến được nói ra phải có nội dung không đổi ít nhất là trong cùng
một quá trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng minh quan điểm, … nghĩa là
một quá trình tư duy, thì người ta mới có thể căn cứ vào nó để xét đoán đúng
sai, hợp lý hay bất hợp lý, …
Nội dung của quy
luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn thông qua những yêu cầu sau:
1. Một từ chỉ
được dùng trong suy luận với một nghĩa duy nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ
nói chung lúc thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác trong cùng một quá
trình suy luận. Cũng vậy, trong cùng một quá trình suy luận một khái niệm, một
tư tưởng, … không được thay đổi nội dung của mình. Nếu một tư tưởng xuất hiện
nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả những lần xuất hiện đó nó phải
có cùng một nội dung, phải có giá trị chân lý như nhau. Điều này có nghĩa là ở
các quá trình tư duy khác nhau ta có thể dùng từ với nhiều nghĩa khác nhau, tư
tưởng có thể có những giá trị chân lý khác nhau, nhưng trong cùng một quá trình
suy luận thì từ ngữ bao giờ cũng được dùng với một nghĩa duy nhất, tư tưởng
phải có cùng một nội dung duy nhất, phải có cùng một giá trị chân lý duy nhất.
Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ không nhất quán, lẫn lộn và người khác sẽ không
hiểu.
2. Những từ ngữ
khác nhau nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với
nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được
đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận. Vi phạm yêu cầu này, ta không rút
ra được thông tin cần thiết. Ví dụ: người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều
là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, và hỏi quê quán của nhà
thơ Nguyễn Du. Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều
thì ta không trả lời được cho câu hỏi này. Ta cũng không thể suy luận được.
Đây là những yêu
cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu này bắt buộc phải tuân theo để tư
tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp rất
nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một cách vô tình hay cố ý. Ví dụ, các trò
chơi chữ là những vi phạm cố ý:
Bà già đi chợ Cầu
Đông
Bói xem một quẻ
lấy chồng lợi chăng ?
Thầy bói gieo quẻ
nói rằng:
Lợi thì có lợi,
nhưng răng chẳng còn.
Ở đây, cùng một
chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.
Yêu cầu của quy
luật này rất đơn giản. Tuy nhiên, để tuân thủ yêu cầu này không phải là dễ.
Đồng nhất những cái gì và không đồng nhất những cái gì là dựa vào sự hiểu biết,
dựa vào trình độ văn hóa của chủ thể tư duy, và dựa vào bối cảnh tư duy. Bởi
vì, xét cho cùng, quy luật này đòi hỏi phải đồng nhất những thứ không đồng
nhất. Chính điều này giải thích tại sao khi nghe một câu chuyện vui thì nhiều
người bật cười nhưng một số người khác thì không. Người ta cười vì đã đồng nhất
được những cái mà người kể muốn đồng nhất, còn nếu không làm được điều đó thì
người ta không cười. Như trong ví dụ sau đây:
Lớp đang học về
truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, Cu Tèo ngủ gật. Thấy vậy, thầy giáo hỏi:
“Tèo, ai đã lấy cắp nỏ của An Dương Vương ?”. Giật mình, Cu Tèo vội đáp: “Thưa
thầy con không lấy, con không lấy, ta nào lấy con không biết…”.
Thầy giáo chán
nản, đem câu chuyện kểlại cho hiệu trưởng nghe. Hiệu trưởng nghe xong, trầm
ngâm một lúc rồi bảo: “Thôi được, chuyện đâu còn có đó, trẻ con ấy mà. Thầy xem
thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra mua một cái khác thay thế. Rõ
khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”.
Câu chuyện được
đem kể lại ở sở giáo dục và đào tạo. Những người có mặt bò lăn ra cười, chỉ một
người không cười, đó là kế toán trưởng. Mọi người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta
nói: “Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách chức tay hiệu trưởng đó. Tiền đâu
ra mà cái gì cũng mua, cái gì cũng chi như vậy?…”
Quy luật đồng
nhất là quy luật của tư duy hình thức, không nên nhầm lẫn rằng đây là quy luật
của hiện thực khách quan bên ngoài tư duy. Quy luật đồng nhất, vì vậy, không
dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự vật và hiện tượng luôn luôn
vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một sự vật vừa chính là nó vừa
không phải là nó. Tư duy hình thức phản ánh hiện thực khách quan một cách lý
tưởng[1], phản ánh hiện thực khách quan trong sự đứng im tương đối của nó, bỏ
qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các sự vật và hiện tượng trong sự
tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác. Một sự vật của hiện thực khách
quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau, tạo nên những đối
tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong hiện thực khách quan A và B
có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể phản ánh tính chất chung đó ở
hai sự vật đã nêu và tạo thành hai đối tượng khác nhau trong tư duy. Hai đối
tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì vậy mà mặc dù trong hiện thực
khách quan không hề có hai sự vật hoàn toàn giống nhau, nhưng ta vẫn có thể
đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như vậy là bởi ta chỉ đồng nhất chúng
trong một mối quan hệ nhất định mà thôi. Ví dụ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai
người khác nhau, tuy nhiên, khi tư duy phản ánh các ông từ góc độ là nhà thơ
thì tạo thành hai đối tượng đồng nhất với nhau trong tư duy.
Vì tư duy phản ánh
hiện thực khách quan nên thông qua quy luật đồng nhất của tư duy ta có thể nói
về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư
tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng nhất đối tượng trong hiện thực với
đối tượng trong hiện thực. Cần lưu ý rằng ở đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng
với tư tưởng ta mới có thể đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng
trong hiện thực. Điều này làm cho phạm vi ứng dụng của quy luật này được mở
rộng hơn nhiều.
Ta xét vài ví dụ:
Ví dụ 1. Trước
Tòa bà Minh nói “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư ký phiên tòa ghi
“Tôi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con”. Sai lầm này của thư ký phiên tòa đã làm
cho việc thi hành án sau này gặp nhiều khó khăn.
Ví dụ 2. Có diễn
giả nói: “Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một mắt thì mắt kia
sẽ tinh hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn, ....”. Nghe vậy, có
thính giả kêu lên: “Rất đúng, tôi cũng thấy rằng nếu một người cụt chân thì y
như rằng chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho cả thính phòng
cười ồ lên. Anh ta đã không nhận thấy rằng khi diễn giả nói “…mắt kia sẽ tinh
hơn”, “…tai kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt và tai bình thường,
còn anh ta thì so sánh “chân kia” với chân cụt.
Quy luật đồng
nhất là quy luật vô cùng quan trọng của logic hình thức. Nếu như các quy luật
khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và không đúng trong một số hệ
logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây dựng được hệ logic hình thức
nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất không đúng.
II. QUY
LUẬT KHÔNG MÂU THUẪN
Phát biểu: Hai
phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau không thể nào cùng đúng.
Trong hai phán đoán, nhận định như vậy có ít nhất là một phán đoán, nhận định
sai.
Quy luật này phản
ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình
tư duy nên trong tư duy nhất định phải tránh nó. Tư duy của chúng ta không được
chứa mâu thuẫn vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan, mà trong hiện thực
khách quan thì ở mỗi thời điểm không thể có trường hợp một đối tượng vừa có,
lại vừa không có một tính chất nhất định nào đó. Ví dụ, tại một thời điểm, một
bông hồng cụ thể không thể nào vừa có màu đỏ, vừa không có màu đỏ. Cần lưu ý
rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu thuẫn hình thức, chứ không
phải là mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức không thể có được vì, như đã
biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư cách là sự phản ánh các sự vật
và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự đứng im của nó, nghĩa là phản
ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.
Nội dung của quy
luật không mâu thuẫn được diễn giải cụ thể hơn qua các yêu cầu sau đây:
1. Quá trình tư
duy không được chứa mâu thuẫn trực tiếp. Cụ thể là
không được cùng một lúc vừa khẳng định vừa phủ định một điều gì đó. Ví dụ,
không thể vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ có được bản hiến pháp của
mình, lại vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ không thể thông qua được một
bản hiến pháp như thế.
Trong thực tế đôi
khi ta gặp những câu nói có vẻ như chứa mâu thuẫn trực tiếp nhưng vẫn thấy chấp
nhận được. Ví dụ, câu “Giải vô địch bóng đá quốc gia V-leage vừa qua vừa đạt,
vừa chưa đạt” nhìn bề ngoài như chứa mâu thuẫn trực tiếp, nhưng lại vẫn chấp
nhận được. Vậy phải chăng ở đây ta đã bỏ qua yêu cầu của quy luật không mâu
thuẫn? Thật ra thì trong trường hợp này yêu cầu của luật không mâu thuẫn vẫn
được tôn trọng, vì từ “đạt” trong câu nói trên được hiểu theo nhiều cách khác
nhau, và vì vậy ở đây không có mâu thuẫn. Nếu tiếp tục làm rõ ý kiến của mình
thì người đưa ra câu nói đó sẽ giải thích đã đạt ở mặt nào và không đạt ở mặt
nào (đó là các mặt khác nhau). Nghĩa là anh ta sẽ cho biết hiểu theo nghĩa nào
thì chuyến tập huấn được coi là đạt và hiểu theo cách nào thì không đạt.
2. Quá trình tư
duy không được chứa mâu thuẫn gián tiếp. Cụ thể là
không được khẳng định (hay phủ định) một vấn đề nào đó rồi lại phủ định (hay
khẳng định) các hệ quả của nó. Ví dụ, nếu khẳng định rằng lý thuyết tương đối
hẹp của Einstein là đúng thì không thểphủnhận công thức E = mc2 thể hiện mối
liên hệ giữa năng lượng và khối lượng của ông.
Nếu như mâu thuẫn
trực tiếp dễ được nhận thấy, và vì vậy dễ tránh, thì mâu thuẫn gián tiếp khó
nhận thấy hơn, và vì vậy khó tránh hơn nhiều.
Ví dụ 3. Lời nói
của Đức Phật với quỷ Mala: “(…) Ta không cần danh vọng, Mala, mi hãy thuyết
những điều đó với những kẻ hám danh vọng. (…) Thành đạt, danh tiếng, danh dựvà
vinh quang chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của người kia.
(…) Ta trải cơ mạn xa để chiến đấu với người đây. Ta thà chết vinh trong trận
chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng.”[3] Trong lời nói này ta thấy câu cuối
cùng “ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng” mâu
thuẫn với những câu ở phía trên.
Khi rèn luyện tư
duy nhiều ta sẽ nâng cao được khả năng phát hiện mâu thuẫn trong các suy luận
của chính mình và của người khác, phát hiện thấy những cái không ổn trong các
suy luận đó. Khi phát hiện rằng suy luận “có điều gì đó không ổn”, nghĩa là
phát hiện ra khả năng chứa mâu thuẫn gián tiếp của nó, ta có thể tiến hành đặt
liên tiếp các câu hỏi để người đưa ra suy luận trả lời và bằng cách đó chỉ ra
mâu thuẫn trực tiếp.
Ví dụ 4. Khi thấy
lời khai của người bị tình nghi phạm tội có chứa điều gì đó không ổn, cán bộ
điều tra sẽ đặt ra cho người đó hàng loạt câu hỏi cho đến khi người đó không
trả lời được nữa, vì thấy mình đã gặp mâu thuẫn rõ ràng, trực tiếp.
Ví dụ 5. Trong
câu chuyện tiếu lâm về con rắn vuông, khi nghe chồng kể về một con rắn khổng
lồ, chị vợ đã liên tục tỏ ý nghi ngờ về chiều dài của nó. Điều này làm cho anh
chồng liên tục rút ngắn chiều dài của con rắn, và cuối cùng là có được con rắn
vuông. Như vậy, mâu thuẫn chưa lộ rõ hẳn giữa sự tồn tại của con rắn khổng lồ
trong câu chuyện của người chồng với thực tế đến lúc này đã trở thành mâu thuẫn
rõ ràng giữa sự tồn tại của con rắn vuông với thực tế.
Câu “nói dối hay
cùng” chính là nói về những trường hợp như thế này.
Nắm vững nội dung
và áp dụng thành thạo quy luật không mâu thuẫn giúp ta trình bày tư tưởng nhất
quán và dễ dàng phát hiện các biểu hiện ngụy biện trong suy luận.
III. QUY LUẬT
TRIỆT TAM
Phát biểu: Một
phán đoán, nhận định hoặc đúng hoặc sai chứ không thể có một giá trị thứ ba nào
khác.
Đây là quy luật
đặc trưng của logic hai giá trị - logic thông thường mà ta vẫn sử dụng.
Với một phán
đoán, nhận định nhất định, quy luật triệt tam không cho biết nó đúng hay sai,
nhưng cho biết rằng nó chỉ có thể hoặc đúng, hoặc sai chứ không thể có giá trị
nào khác. Ví dụ, ta chưa biết câu nói “Có người ngoài Trái đất đến thăm Trái đất”
đúng hay sai, nhưng quy luật triệt tam khẳng định rằng hoặc nó đúng, hoặc nó
sai!
Quy luật triệt
tam không cho phép người ta tránh né vấn đề khi trả lời câu hỏi. Nó không cho
phép trả lời lấp lửng, nước đôi, mà đòi hỏi câu trả lời dứt khoát.
Ví dụ, khi một
thanh niên đi kiếm việc làm được hỏi có biết ngoại ngữ hay không thì anh ta chỉ
có thể trả lời “có” hoặc “không”, tất cả các câu trả lời khác đều không có giá
trị.
Trong thực tiễn,
người ta ứng dụng quy luật triệt tam để chứng minh bằng phản chứng.
Đôi khi ta gặp
những câu nói rất sâu sắc mà biểu hiện trực tiếp là quy luật triệt tam. Ví dụ,
cuối bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, sau khi kể chuyện nhà Tấn thống nhất Trung
Quốc, tác giả La Quán Trung đã viết, đại ý: Lịch sử các nước cứ như vậy, hết
hợp thì tan, hết tan rồi lại hợp. Hay, cuối bộ sách Hồng lâu mộng, sau khi kể
vợ Bảo Ngọc sinh con trai và gia đình họ Giả bắt đầu hưng thịnh trở lại, tác
giả Tào Tuyết Cần viết, đại ý: Ở đời cứ như vậy, hết thịnh rồi thì suy, hết suy
rồi lại thịnh.
Một số tác giả cho
rằng quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất. Đây là một sự nhầm
lẫn. Ta có thể bác bỏ điều đó hết sức dễ dàng. Thật vậy, nếu quy luật triệt tam
là hệ quả của quy luật đồng nhất thì ở bất cứ chỗ nào mà quy luật đồng nhất
đúng thì quy luật triệt tam cũng phải đúng. Nhưng rõ ràng là trong các hệ logic
ba giá trị quy luật đồng nhất vẫn đúng, trong khi đó thì quy luật triệt tam
không đúng. Trong những suy luận nhằm rút ra quy luật triệt tam từ quy luật
đồng nhất mà thỉnh thoảng ta gặp trong các tài liệu logic đã chứa sẵn vòng tròn
logic. Thật vậy, những suy luận kiểu này được thực hiện trong khuôn khổ của
logic hai giá trị và sử dụng các tính chất của logic đó. Tuy nhiên sở dĩ logic
hai giá trị là logic hai giá trị là vì nó tuân thủ quy luật triệt tam. Như vậy
có nghĩa là những tính chất của logic hai giá trị được sử dụng để rút ra quy
luật triệt tam từ quy luật đồng nhất phụ thuộc vào chính quy luật triệt tam!
IV. QUY LUẬT LÝ
DO ĐẦY ĐỦ
Phát biểu: Một tư
tưởng chỉ có giá trị khi nó có đầy đủ các cơ sở.
Khác với ba quy
luật trên, - những quy luật được Aristote tìm ra từ thời cổ đại -, quy luật này
được Leibnitz phát hiện ở thế kỷ thứ XVIII.
Quy luật lý do
đầy đủ đòi hỏi các tư tưởng phải được đưa ra trên những cơ sở nhất định. Tư duy
của chúng ta cấu thành từ một chuỗi các tư tưởng như vậy. Những tư tưởng đi
trước làm cơ sở cho những tư tưởng đi sau. Chỉ trong trường hợp đó thì tư duy
mới được coi là chặt chẽ, có logic. Ngược lại, tư tưởng sẽ lủng củng. Người
nghe sẽ thấy người nói nhảy từ vấn đề này qua vấn đề khác một cách tùy tiện.
Trong thực tế, đòi hỏi làm một việc gì đó hoặc trình bày một vấn đề nào đó theo
một trình tự nhất định chính là đòi hỏi thỏa mãn quy luật này.
Quy luật lý do
đầy đủ dựa trên một quy luật rất cơ bản của tự nhiên là quy luật nhân - quả:
Mọi sự vật và hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Trong cùng một điều kiện,
cùng một nguyên nhân sẽ đưa đến cùng một kết quả. Nếu như tư tưởng phản ánh
hiện tượng thì cơ sở của nó là cái phản ánh nguyên nhân của hiện tượng đó.
Trong tự nhiên, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Nhưng trong tư duy
ta lại có thể biết hiện tượng trước rồi mới đi tìm nguyên nhân sau, nên thứ tự
ở đây không giống trong tự nhiên.
Nguyên nhân mà
chúng ta nói đến ở đây là nguyên nhân hiện thực, chứ không phải là nguyên nhân
siêu nhiên, thần thánh, ma quỷ.
Ví dụ 6. Một
người lái taxi nào đó luôn có thu nhập cao hơn so với nhiều người khác, mặc dầu
anh ta làm việc trong cùng một điều kiện như họ. Khi đó, người ta hay nói rằng
số anh ta may mắn. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì ta sẽ không cải thiện được
tình hình của mình. Ngược lại, nếu hiểu rằng hiện tượng này cũng phải có nguyên
nhân của nó, và nguyên nhân đó là nguyên nhân vật chất, nghĩa là nguyên nhân có
thể hiểu và ứng dụng được, thì ta sẽ tìm hiểu, phân tích những yếu tố đưa lại
thành công cho người kia, rồi tìm cách để áp dụng, và nhờ đó có thể nâng cao
thu nhập của mình.
Tuân thủ nghiêm
các quy luật cơ bản trình bày trên đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ và trình bày
tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Ứng
dụng các quy luật này chúng ta cũng dễ dàng phát hiện các sai lầm trong suy
luận của người khác và của chính mình để phản bác, để vạch trần sự ngụy biện,
hoặc để tránh sai lầm.
ĐỊNH LUẬT CUỘC
SỐNG
Luật Bù Trừ: Hễ được cái này thì sẽ mất cái khác, không nên
chỉ nhìn mặt ngoài mà cho rằng người khác may mắn, sung sướng hơn
mình.
Luật Cân Bằng: Nếu coi hạnh phúc là số dương, đau khổ là số âm,
thì tổng số của hạnh phúc và đau khổ là bằng không. Hãy tin có
Luật Cân bằng.
Luật Cộng Sinh: Mối quan hệ giữa hai bên chỉ tồn tại lâu dài khi
cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một bên hưởng lợi, còn
một bên mãi hy sinh thì mối quan hệ đó sẽ không bền.
Luật Trả và
Đền: Dù sớm hay muộn, mỗi người sẽ phải trả giá cho
từng hành động sai trái, cũng như sẽ được đền bù cho các việc làm
tốt đẹp của mình.
Luật Cường độ
giảm dần theo thời gian: Một niềm vui dù
lớn đến đâu cũng sẽ qua đi. Một đau khổ dù tới mức nào rồi cũng sẽ
phai phôi. Đừng tự phụ vì thành công hôm nay, mà cũng đừng tự ti khi
đang thất bại.
Luật Hấp Dẫn: Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau để
đoàn kết nâng đỡ nhaucùng làm đẹp cuộc đời.
Luật Tha Thứ: Nếu mình rộng lượng,bao dung với người khác,mình sẽ được
thông cảm, tha thứ khi chính mình làm lỗi.
Luật Bù Trừ: Hễ được cái này thì sẽ mất cái khác. Không nên chỉ nhìn
mặt ngoài mà cho rằng người khác may mắn,sung sướng hơn mình.
Luật Sống Vui: Nếu muốn sống vui, hãy tích cực và làm những gì mình cần ngày
hôm nay. Đừng đợi khi có cái này, xong cái kia.
45 ĐỊNH LUẬT RẤT ĐÚNG CHO CUỘC
SỐNG
1. Định Luật Trái
Táo
Nếu có một số
táo, có quả tốt có quả hỏng, thì mình nên ăn quả tốt trước, vứt quả hỏng đi.
Nếu mình ăn quả hỏng trước, thì quả tốt cũng sẽ hỏng, ta sẽ chẳng bao giờ ăn
được quả còn tốt, cuộc sống cũng như vậy.
2. Định Luật Nói
Chuyện
Có hai cách nói
chuyện đáng ghét nhất, một là không bao giờ dừng lại để nghĩ, hai là không bao
giờ nghĩ đến việc dừng lại.
3. Định Luật
Chiếc Bánh
Vào lúc trên trời
rơi xuống một chiếc bánh, cẩn thận trên mặt đất cũng đang có một cái bẫy chờ
đợi mình .
4. Định Luật Sai
Lầm
Ai cũng đều có
lúc sai sót, nhưng chỉ khi nào lặp lại sai sót cũ thì đó mới là sai lầm.
5. Định Luật Của
Sự Ngu Dốt
Sự ngu dốt phần
lớn đều được sinh ra khi tay chân hoặc mồm miệng hành động nhanh hơn cả não bộ.
6. Định Luật Im
Lặng
Trong khi tranh
luận, quan điểm khó đánh đổ nhất chính là im lặng. Quan điểm khó chấp nhận
nhất cũng là im lặng.
7. Định Luật Tiết
Kiệm Thời Gian
Nếu mình muốn
tiết kiệm thời gian ngay từ khi mới bắt đầu, thì kết quả sẽ là mình mất
nhiều thời gian hơn gấp vài lần.
8. Định Luật Hạnh
Phúc
Nếu mình không
cần phải luôn nghĩ xem liệu bản thân có hạnh phúc hay không, thì tức là
mình đang hạnh phúc.
9. Định Luật Giá
Trị
Khi mình đã sở
hữu một món đồ gì đó, ta sẽ phát hiện ra rằng thứ đó không hề có giá trị
như mình từng nghĩ.
10. Định Luật
Động Lực
Động lực thường
bắt nguồn từ hai nguyên nhân: hi vọng hoặc tuyệt vọng.
11. Định Luật Của
Lời Hứa
Hứa rồi chưa chắc
có thể đảm bảo sẽ nhất định làm được, nhưng nếu mình không hứa, thì dù mình làm
được cũng chẳng có giá trị gì.
12. Định Luật Địa
Vị
Có người đứng
dưới chân núi, có người lại đứng trên đỉnh núi, tuy vị trí khác nhau, nhưng
trong mắt cả hai, người kia đều nhỏ bé như nhau.
13. Định Luật Vui
Vẻ
Gặp chuyện gì chỉ
cần ta nghĩ đến mặt tốt của nó thì mình sẽ vui vẻ, cũng như khi mình bị
ngã xuống rãnh nước, ta có thể tưởng tượng rằng sẽ có con cá chui vào túi áo
mình .
14. Định Luật Sỉ
Nhục
Khi bị sỉ nhục,
biện pháp là bỏ qua, nếu không thể bỏ qua, hãy coi thường nó, nếu đến việc coi
thường nó mà mình cũng không thể làm được thì mình chỉ còn cách là chịu bị sỉ
nhục mà thôi.
15. Định Luật Hỗn
Loạn
Khi mình gặp
phiền phức, mà vẫn còn muốn thận trọng từng bước, thì phiền phức sẽ trở thành
hỗn loạn.
16. Định Luật Kết
Cục
Có một kết cục
“rất đáng e sợ” sẽ đến, còn tốt hơn là không có bất cứ kết thúc nào.
17. Định Luật
Trang điểm
Thời gian dành để
trang điểm càng lâu thì tức là khiếm khuyết mà mình muốn che đi càng nhiều.
18. Định Luật
Hiểu Nhầm
Bị một người hiểu
nhầm, phiền phức không lớn lắm, bị nhiều người hiểu nhầm, có lẽ sẽ rất phiền
phức. Chính mình không hiểu mình, thì không còn cơ hội cho người khác hiểu
mình.
19. Định Luật
Thất Bại
Thất bại không có
nghĩa là lãng phí thời gian và cuộc đời, mà thường có nghĩa là mình có
thể sở hữu thời gian và cuộc đời một cách tốt hơn nhưng mình đã
không làm.
20. Định Luật
Thăng Tiến
Người làm quan,
mỗi khi thăng một cấp, không cẩn thận thì tình người lại giảm đi một bậc.
21. Định Luật
Tăng Giá Trị
Hàng xuất khẩu
tiêu thụ trong nước thì sẽ tăng giá, dư luận cũng giống như vậy.
22. Định Luật Trò
Chơi
Dù mình chơi
bowling dở tới mức nào, mỗi lần chơi đều có thể có một hai lần đánh trúng tất,
làm mình vừa lòng, vui vẻ tới mức lần sau lại chơi tiếp.
23. Định Luật Dự
Phòng
Học cách sử dụng
tay trái làm một vài việc, vì tay phải không phải lúc nào cũng hữu dụng.
24. Định Luật Du
Lịch
Không có cảnh nào
đẹp hơn cảnh trong kí ức, nên tốt nhất không nên đến nơi nào đó 2 lần.
25. Định Luật
Nguy Nan
Thường thì vấn đề
càng phức tạp, thời hạn càng ngắn.
26. Định Luật Tài
Chính
Các tấm séc luôn
đến muộn, còn các hóa đơn luôn đến sớm.
27. Định luật
Cuộc Đời
Những thứ ta
sống chết đòi có được nó, có thể đều không phải những thứ cần thiết
nhất.
28. Định Luật Hội
Nghị
Tất cả mọi quyết
sách quan trọng đều được đưa ra trong 5 phút cuối cùng trước khi hội nghị kết
thúc hoặc trước bữa trưa.
29. Định Luật
Tiền Bạc
Tiền không phải
tất cả, nhưng tất cả đều cần tiền.
30. Định Luật Hợp
Tác
Việc gì mà một
người phải bỏ ra một tiếng để làm, thì nhiều khi hai người sẽ phải bỏ ra hai
tiếng.
31. Định Luật Kết
Hợp
Cho dù mình là
ai, làm gì, thì người giúp mình hi vọng và người chống đối lại ta đều
luôn luôn có mặt sát bên mình .
32. Định Luật
Đường Tắt
Mọi người đều
đang đi đường tắt, thực ra đó là con đường khó nhất.
33. Định Luật Bản
Lĩnh
Đừng bao giờ để
tính tình của mình lớn hơn bản lĩnh hiện tại của mình.
34. Định Luật Buồn
Chán
Người vui vẻ
trước nỗi buồn của mình, là kẻ địch. Người vui vẻ trước niềm vui của mình,
là bạn bè. Người buồn trước nỗi buồn của mình, là người bạn nên đặt trong
lòng.
35. Định Luật Sai
Lầm
Người khác đều
không đúng, thì đó chính là cái sai của bản thân.
36. Định Luật
Hiệu Quả
Rơi nước mắt trên
vết thương và xát muối vào vết thương, hiệu quả là như nhau.
37. Định Luật Đố
Kỵ
Điều mà con người
đố kỵ không phải là chuyện lên như diều gặp gió của người xa lạ, mà là chuyện
lên như diều gặp gió của người bên cạnh mình.
38. Định Luật
Vuông Tròn
Con người không
thể quá vuông, cũng không thể quá tròn, một cái sẽ khiến người ta bị thương,
một cái sẽ khiến người ta xa cách mình, bởi vậy mà con người phải
là hình bầu dục.
39. Định Luật
Nước Miếng
Khi mình nổi tiếng
đến độ khiến người ta chảy nước miếng, thì đồng thời, "nước miếng"
dành mình cũng tăng lên vòn vọt.
40. Định Luật Lợi
Dụng
Không sợ bị người
ta lợi dụng, chỉ sợ mình vô dụng.
41. Định Luật Gió
Mưa
Tình yêu, có thể
chịu đựng nổi gió mưa, song không chịu đựng được sự bình lặng.
Tình bạn, có thể
chịu được sự bình lặng, song không chịu đựng nổi gió mưa.
42. Định Luật
Hành Tỏi
Quá coi bản thân
là cọng hành, sẽ luôn giỏi trong việc: Giả tỏi.
43. Định Luật
Đánh Giá
Không cần thiết
phải tò mò xem người ta đánh giá mình thế nào, hãy nghĩ xem mình đánh giá thế nào về người ta.
44. Định Luật
Thành Tựu
Nếu mình không có
thành tựu, ta sẽ vì sự bình thường của mình mà không có bạn bè. Nếu mình có
thành tựu, ta sẽ bởi sự xuất sắc của mình mà mất đi bạn bè.
45. Định Luật
Trưởng Thành
Trưởng thành
chính là quá trình điều chỉnh tiếng khóc của mình về chế độ im lặng.
NÊN BIẾT ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC
1. Luật nhân
quả
Luật nhân quả
là quy luật mà thiết nghĩ ai cũng nên hiểu rõ về nó vì quy luật này quyết định
tiến trình luân hồi và giải thoát của chúng ta. Những gì mà chúng ta tạo
ra trong vũ trụ này, chúng sẽ mãi mãi gắn liền với cuộc đời của
chúng ta vì chúng ta là những sinh mệnh nằm bên trong vũ trụ đó.
Điều chúng ta làm hôm nay sẽ quyết định tương lai cuộc đời của mình.
Thiện hay ác, tốt hay xấu đều do tự bản thân mỗi người lựa chọn.
Điều đó làm nên chính mình trong tương lai.
2. Luật hấp
dẫn
Chìa khóa để
có được nội tâm bình ổn chính là không bị lệ thuộc bởi những gì đang
diễn ra xung quanh, hướng vào bên trong bản thân mình để luôn đạt được
trạng thái yên bình trong tâm. Muốn trở thành một người tích cực và
thiện lương, hãy giao lưu với những người tích cực và những con người
thiện lương để cuộc sống luôn tràn ngập những điều tốt đẹp. Giống như
các cụ có câu ‘Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng’.
3. Luật chấp
nhận
Trong cuộc
sống, chúng ta không thể thay đổi hoàn cảnh cho đến khi ta học cách
chấp nhận chúng. Tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời ta là có lý
do, đó là do nhân duyên, duyên nghiệp của ts từ nhiều kiếp trước, dù ta có tin
hay không. Và nếu như ta vẫn đang xem ai đó như một kẻ thù, thì điều
đó có nghĩa là ta không chấp nhận quy luật tạo hoá ở một mức độ cao hơn và
đặc tính của vũ trụ (vốn luôn có đối lập giữa thiện ác – tốt xấu). Chấp nhận
hoàn toàn tự nguyện là tốt nhất cho sự tồn tại của ta. Khi ta học cách
chấp nhận, và thay đổi chính bản thân để thích hợp với hoàn cảnh, thì hoàn cảnh
cũng sẽ tự nhiên biến chuyển theo. Hãy hiểu rằng, có những thứ trong cuộc sống
này, ta không còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận chúng, và dù ta có mạnh mẽ
và thông minh đến đâu, thì cũng sẽ không thể luôn bắt mọi thứ phải theo cách mà
ta muốn.
4. Luật phát
triển
Mỗi người trong
chúng ta khi đến với thế giới này đều mang theo một sứ mệnh riêng,
góp phần giúp cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn và tìm về những bản
tính tốt đẹp bên trong chính bản thân mình. Không cần thiết tập trung
vào những người mà ta gặp nhưng chưa biết rõ về họ, hoặc ám ảnh
về nơi mà ta đang sống và công nghệ mà ta đang sử dụng. Cuộc
sống và thời gian này là tất cả những gì quý giá nhất ta có.
5. Luật trách nhiệm
Cuộc sống tựa
như một tấm gương mà khi soi vào đó, ta sẽ nhìn thấy bản thân mình
được rõ hơn. Hãy luôn tu sửa chính mình để tốt hơn ngày hôm qua. Mỗi
người có một cuộc sống hoàn toàn khác nhau, dựa trên cách sống và
tâm thái của họ trong những vấn đề của cuộc sống mà cuộc đời của
họ trở nên khác nhau. Vì vậy, đừng nên chỉ nhìn vào người khác, hãy
luôn nhìn vào chính mình để sống hạnh phúc và ý nghĩa với sứ mệnh
riêng của ta.
6. Luật kết
nối
Bất kể việc
gì mà ta thực hiện mà ta cho là vô nghĩa, nhưng ta vẫn phải làm bởi
vì mọi thứ trong thế giới này đều có liên hệ tương hỗ. Bước đầu tiên hay bước
cuối cùng đều quan trọng như nhau vì chúng đều đi đến đích hoàn thành một
điều gì đó có ý nghĩa trong đường đời của một con người.
7. Luật tập
trung
Ta không thể suy
nghĩ hai vấn đề trong cùng một lúc. Nếu như ta đang tìm kiếm điều gì
đó quan trọng, thì đầu óc của ta cũng không còn đủ chỗ cho sự giận
dữ và tham lam. Vì vậy, hãy để tâm trí thanh tỉnh và bình an, loại
bỏ những điều tiêu cực và những tâm không tốt của bản thân để chưa
đựng trong tâm những điều tốt đẹp nhất.
8. Luật “ở đây
và ngay bây giờ”
Sự vọng tưởng
về tương lai có thể khiến ta hoàn toàn mất tập trung vào những
điều đang diễn ra ở hiện tại. Những hình mẫu hành vi cũ, cũng như
những tư duy theo lối cũ, có thể ngăn trở con đường đưa ta tiến đến
những điều mới mẻ hơn.
10. Luật cơ hội
Lịch sử sẽ
lặp lại chính nó cho đến khi ta rút ra được những bài học kinh
nghiệm từ sau đó. Con người ta không thể hành động theo “cách cũ” mà
mong tưởng một “kết quả mới” được.
11. Luật kiên
trì và tưởng thưởng
Kiên trì và nỗ
lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại tương ứng. Đó chính là điều tất yếu.
Niềm vui thực sự đến từ lao động chân chính, bền bỉ để rồi sau đó
đạt được mục tiêu của mình. Người ta sẽ không đạt được điều gì thực
sự nếu không nỗ lực và đặt tâm trí vào điều đó.
12. Luật ý
nghĩa và cảm hứng
Chỉ khi ta trở
nên xứng đáng với điều gì đó, thì ta có nó. Càng bỏ công sức
bao nhiêu, ta sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Và người nào càng cho đi
nhiều sẽ nhận lại nhiều bấy nhiêu.
xxxxxxxxxxx
Bên cạnh Luật Vũ
Trụ tối cao, Minh ơi còn có các giới luật được cai quản bởi Cái Tôi Cao Hơn
liên quan đến tính cách của con người mà mày có thể áp dụng vào cuộc sống để
nâng cao rung động và tâm thức của mình như:
Từ bi,bác ái,
nhân đức, rộng lượng, khoan dung, tốt bụng, tha thứ, chân thật, trách nhiệm,
tận tâm, can đảm, trung thực, khát vọng, niềm vui, niềm tin, động viên khen
ngợi, kiên cường, kiên nhẫn, yêu thương bản thân, tình yêu vô điều kiện, biết
ơn, không can thiệp (vi phạm tự do ý chí của người khác)…
---------------,----------------
HÃY TRÁNH XA NHỮNG KẺ
-Kẻ Đặt điều
-Kẻ Gió chiều nào
xoay chiều đó
-Kẻ Bằng mặt
không bằng lòng
-Kẻ Thích xu nịnh
-Kẻ Gây chuyện
thị phi
-Kẻ Đổ trách
nhiệm cho người khác
+Đối với những kẻ
tiểu nhân, tuyệt đối không được sơ suất, không được mềm lòng nhường nhịn, thái
độ cần phải kiên quyết. Bậc quân tử tấm lòng rộng rãi, kẻ tiểu nhân thường hẹp
hòi, u uất. Mỗi người đều sẽ gặp phải kẻ tiểu nhân. Khi ở chung với kẻ tiểu
nhân, chỉ cần thiếu thận trọng một chút ta sẽ phải chịu thiệt lớn, vậy nên học
cách phân biệt kẻ tiểu nhân vô cùng quan trọng.
-Một điều nhịn
chín điều lành
Nếu chẳng may có
xích mích với tiểu nhân, hãy nhẫn nhịn. Ta đừng cố gắng tranh cãi, vì rất khó
để thắng được họ. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân lại sẽ vì lí do đó mà ghi hận,
rồi tìm cách để hãm hại ta. Người xưa có câu: Nhịn một khắc sóng yên biển lặng,
lùi một bước biển rộng trời cao. Nếu như thiệt hại không lớn, lại chẳng thể đấu
trí được, ta hãy cho qua và xem như đó là bài học để trưởng thành.
-Tốt thôi đừng
tốt quá
Có một sự thật là
người lương thiện trong cuộc đời này thường nhu nhược, họ không phân biệt được
nên tốt với ai, vì vậy họ thường thua thiệt. Ví dụ trong công việc, họ luôn
nhường người khác lập công trước, có đôi khi là ôm khó khăn vào mình vì sợ
người khác nghĩ mình lười biếng. Vì vậy, muốn tốt cũng được nhưng đừng tốt quá,
đừng khiến mình bị thiệt thòi bởi cuối cùng chẳng ai ở lại giúp đỡ ta
đâu. Với kẻ tiểu nhân, ta đối đãi theo cách dành cho kẻ tiểu nhân, miễn sao
trong lòng không hối hận là được.
-Yếu đuối khiến
ta bị hèn yếu trước kẻ tiểu nhân
Điều khác biệt
lớn nhất giữa kẻ tiểu nhân và kẻ ác đó là kẻ ác có tâm địa hiểm độc nhưng kẻ
tiểu nhân thì khác, họ sẽ trở nên thật thà và ít nguy hiểm hơn nếu gặp người
mạnh hơn mình. Họ cho dù có ác nhưng là công khai, không giấu diếm không chơi
trò mưu hèn kế bẩn, còn kẻ tiểu nhân luôn dùng cách đâm sau lưng để hại người
khác. Chính vì vậy ta phải luôn kiên cường, đừng bao giờ mềm lòng bởi những lời
ngon ngọt của kẻ tiểu nhân.
----------------------‐--------------------
NGƯỜI LÀM NÊN ĐẠI SỰ THƯỜNG CÓ 7 ĐẶC
ĐIỂM NÀY: CÔNG VIỆC SỐ 1 NHƯNG GIA ĐÌNH VẪN QUAN TRỌNG NHẤT
1 Nhẫn nhịn chịu
được cô độc
Vì cuộc sống,
công việc, sự nghiệp, rất nhiều lúc ta không thể được gần người thân và
bạn bè. Khi người khác nghỉ ngơi hay đoàn tụ, còn mình thui thủi một mình làm
việc. ta có chịu được nỗi cô đơn này không?
Đời người muốn
đạt được thành công thì phải nhẫn chịu được cô độc, nhất là thuở ban đầu sáng
nghiệp. Rất nhiều lúc để đạt được mục tiêu thì trong lúc người khác nghỉ ngơi,
ta phải một mình lặng lẽ hy sinh. Quá trình này rất cô độc, nhưng nếu có thể
vượt qua thì ta sẽ đạt được thành công lớn hơn so với người khác.
2 Chịu được trách
nhiệm
Trong gia đình ta có các vai là con, là cha , là chồng, .
Ở doanh nghiệp ta có các vai là nhân viên, người quản lý, lãnh đạo hoặc sếp. Ở
xã hội ta có cái vai là công dân, … Tóm lại mỗi người đều có những vai diễn
khác nhau trong các trường hợp khác nhau.
Trách nhiệm có 3 loại: Trách nhiệm gia đình, trách nhiệm doanh
nghiệp, trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm là một từ cửa miệng của ta trong
cuộc sống. Từ điển giải thích: "Trách nhiệm" nghĩa là bổn phận phải
thực hiện mà chưa thực hiện hoặc làm chưa tốt, vì vậy phải gánh chịu lỗi lầm.
3 Chấp nhận mạo
hiểm
Những người thành
công dám chấp nhận các thử thách mà số đông sợ hãi như vay món tiền lớn để đầu
tư, đầu tư vào một thương vụ mạo hiểm hay mua một mảnh đất lớn để phát triển
sản phẩm còn chưa tồn tại...
4 Tập trung cao
độ vào mục tiêu
Người giàu biết
chính xác những gì họ muốn và có một kế hoạch cụ thể để đạt được điều đó. Họ
đặt toàn bộ niềm tin vào công việc. Họ đặt ra những tiêu chuẩn cao cho bản
thân, đồng thời cũng mong đợi mọi người xung quanh tuân thủ tiêu chuẩn đó. Họ
sẽ không ngần ngại bộc lộ sự thất vọng hay cảm giác không vừa ý bởi các hành vi
không đúng trong cuộc trò chuyện.
5 Biết quyết tâm
Bằng cách tự thúc
đẩy bản thân mình, ta sẽ luôn có động lực để thực hiện mọi việc mà ta mong
muốn. Luôn nhắc đi nhắc lại những quyết tâm của mình là một thói quen tốt mà ta
nên tạo ra cho mình. Hãy viết những quyết tâm ấy vào những mẩu giấy và đọc lại
chúng một lần nữa. Sau đó ta chỉ nên chọn những quyết tâm nào mà ta tin tưởng
một cách sâu sắc rằng mình sẽ thực hiện được.
Và hãy thực hiện
chúng ngay lập tức. Học tập theo những thành công trước đó. Không ngừng hoàn
thiện mình. Những ai dám nghĩ dám làm mới có thể giành được chiến thắng. Hãy
biết cách tránh đi những nỗi đau và tìm kiếm sự hạnh phúc. Đầu tư cho hôm nay chính
là đầu tư cho ngày mai. Ta cũng cần phải có thái độ biết ơn cần thiết. Ta có
thể làm được tất cả những gì mà ta quyết tâm muốn khẳng định.
6 Thừa nhận những
nỗi sợ hãi và yếu điểm của bản thân
Trên đời này
không có ai là hoàn hảo và cũng không có ai là thật sự không có những nỗi sợ
của riêng mình. Ta hoàn toàn có thể là một người nghiêm khắc với bản thân. Hãy
biết tiếp thu một số vấn đề nào đó. Khi ta thẳng thắn thừa nhận với mình những
yếu điểm của chính ta cũng có nghĩa là ta đã đối mặt hay sửa chữa được ít nhất
phân nửa những khuyết điểm đó. Hãy đối mặt với nỗi sợ hãi và bằng cách này ta
đã tự tạo cho mình một tính cách tốt. Ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hiểm
nguy khi ta muốn nếm trải đủ mọi hương vị của cuộc sống này. Đừng e dè khi phải
nói câu “Tôi xin lỗi. Tôi đã sai.”
7 Phấn đấu trở
thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình
Giá trị số 1
trong cuộc sống của những người giàu là sự đảm bảo về tài chính. Những người có
khả năng làm giàu hiểu rằng, nếu họ có thể hi sinh những thú vui, sự hài lòng
nhất thời để xây dựng nền tảng tài chính vững chắc thì đến cuối cùng, họ sẽ có
nhiều sự lựa chọn hơn, tự do tài chính hơn. Người giàu bắt tiền làm việc cho họ
và từ chối sống một cuộc sống bình thường, đơn giản.
----------------------------,,------------
HÃY CƯ XỬ NHƯ MỘT QUÝ ÔNG
MỘT
SỐ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG NHỮNG MỐI QUAN HỆ TỐT
Trong xã hội, chúng
ta phải xây dựng các mối quan hệ tốt vì rất nhiều lí do, đặc biệt là ở nơi làm
việc. Xã hội cũng giống như một mạng lưới các mối quan hệ, nó đòi hỏi tất cả mọi
người phối hợp làm việc với nhau để tạo ra kết quả tốt nhất. Những gì làm xã
hội trở nên tốt đẹp hơn chính là các mối quan hệ tích cực, hợp tác và tôn trọng
lẫn nhau
Tất cả mọi người cùng
hướng về một mục tiêu chung, điều này đòi hỏi phải có mối quan hệ tốt dựa trên
sự hiểu biết lẫn nhau.
Nếu như ta hiểu
rõ mọi người muốn gì và tại sao họ lại muốn như vậy thì thường ta sẽ tìm
ra được cách để hai bên đều tiến triển cùng nhau. Cách tốt nhất để hiểu đó là
lắng nghe và quan sát mà không cần đưa ra những phán xét vội vã.
Như thế nào là một
mối quan hệ tốt đẹp ?
Trong một mối quan hệ
tốt đẹp, các bên biết lắng nghe để hiểu rõ quan điểm và cảm xúc của nhau. Cách
đơn giản nhất để biết điều gì là quan trọng với một người hay nhóm người là hỏi
và sau đó lắng nghe câu trả lời của họ. Nếu mình hiểu rõ người khác ta sẽ
biết cách làm gì để mọi người có thể thân thiện và làm việc với nhau hiệu quả
hơn. Không chỉ có vậy các bên còn thẳng thắn bày tỏ quan điểm và cảm xúc của
mình. Con người rất phức tạp và phản ứng trước những sự việc hoàn toàn khác
nhau do đó họ vẫn có thể ngạc nhiên về người kia ngay cả khi đã từng chung sống
với nhau rất lâu.
Chúng ta cần nói
những gì chúng ta cần và bày tỏ cảm xúc của mình hơn là chờ đợi người khác nhận
ra chúng ta muốn gì rồi sau đó đợi họ mang đến cho chúng ta. Để cho mối quan hệ
trở nên tốt đẹp chúng ta nên tôn trọng bản thân cũng như người khác. Lòng tôn
trọng là cốt lõi của mọi mối quan hệ tốt, nó được thể hiện bằng cách lắng nghe
và tìm hiểu xem người khác đánh giá sự việc như nào. Việc phán xét dựa trên
thành kiến là cách hoàn toàn đối lập với lòng kính trọng. Ta có thể thể hiện sự
tôn trọng người khác bằng cách thừa nhận rằng họ đã làm những gì tốt nhất có
thể. Tôn trọng là nền tảng cho một mối quan hệ vững chắc do đó ta nên tôn
trọng bản thân mình cũng như những người khác. Nếu như ta cảm thấy hài
lòng với bản thân thì việc nhìn thấy những điểm tốt của người khác và tôn trọng
họ sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Một điều quan trọng
khác để thiết lập mối quan hệ tốt đó là đương đầu trực tiếp với những điểm khác
nhau giữa mọi người bởi vì chúng rất thú vị. Trong cuộc đối thoại mà mọi người
đều lắng nghe nhau thì mình sẽ phát hiện ra một sự thật mới giúp hoà nhập hai ý
tưởng tranh cãi. Hãy cùng tìm ra giải pháp khiến cả hai bên đều cảm thấy mình
chiến thắng. Nếu như cả hai phía đều cảm thấy đã thu được gì đó từ việc giải
quyết những khác biệt, họ sẽ sẵn sàng hơn để tiếp tục hợp tác trong tương lai.
Điều này sẽ xây dựng một mối quan hệ thoải mái và hài lòng.
Sau đây là một số lời
khuyên có thể giúp mình xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp :
1. Ít nhất phải có
một bên quyết định rằng mối quan hệ là quan trọng.
Nếu như ta
quyết định rằng mối quan hệ với một ai đó là quan trọng, ta sẽ đầu tư
thời gian và sức lực để hiểu rõ những yêu cầu của họ cũng như cách giải quyết
những khó khăn cản trở. Ngay cả khi mình cố gắng nhưng thất bại, ta biết rằng
mình đã cố gắng hết sức và thấy thoải mái về điều đó.
2. Học cách lắng nghe
một cách thật sự và đừng phán xét.
Lắng nghe một cách
thật sự và không phán xét sẽ giúp mình hiểu rõ người khác. Việc phán xét chỉ
làm tăng khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau.
3. Gặp gỡ mọi người
một cách thân mật khiến họ cảm thấy thoải mái trong việc nêu ra những vấn đề
quan trọng với họ.
Hầu hết mọi người cảm
thấy thoải mái hơn trong những khung cảnh thân mật. Nếu mình có ý định gặp ai
với mục đích cụ thể là để phát triển mối quan hệ với họ, hãy nghĩ đến việc tổ
chức cuộc gặp gỡ trong khung cảnh mà họ thấy thoải mái bởi vì khi thấy thoải
mái, họ có thể nói nhiều hơn về những gì là quan trọng với mình.
4. Phát triển một văn
hoá trong đó mọi người có thể bày tỏ cảm xúc của mình.
Các mối quan hệ được
hình thành dựa trên việc chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc. Thật khó để hai người có
một cuộc hội thoại hữu ích khi một người trong họ không nhận thấy rằng người
kia tức giận vì những gì họ đã nói hoặc làm. Văn hoá công ty khuyến khích mọi
người gần nhau có thể tạo ra niềm say mê để đạt được những điều tuyệt vời cùng
nhau.
Một số khó khăn có
thể gặp phải trong việc xây dựng mối quan hệ tốt:
+ Thiếu tin tưởng và
khuôn sáo : Chúng ta thường nhận được những thông tin sai lệch về những người
trong nhóm khác. Giữa các thành viên trong nhóm thường có nhiều khác biệt với
nhau hơn là giữa các nhóm, nếu như chúng ta nghĩ rằng "tất cả mọi người đều
như nhau" thì chúng ta đã sai lầm. Điều này sẽ huỷ hoại mối quan hệ vì mỗi
cá nhân là duy nhất và họ muốn cảm thấy có những giá trị riêng.Khi sự khuôn sáo
trở thành bệnh dịch, sự áp bức giữa nhóm này và nhóm khác trở nên phổ biến thì
sẽ khiến những cảm giác tiêu cực bóp méo thái độ của họ.
+ Đổ lỗi cho người
khác khi mối quan hệ không tốt đẹp:điều này thật vô ích, nó sẽ tạo ra khoảng
cách và sự phòng vệ lẫn nhau. Nếu như không hài lòng về một mối quan hệ ta
nên nghĩ mình cần làm gì để cải thiện nó.Đồng thời việc thay đổi thái độ
của bản thân dễ hơn nhiều so với việc thuyết phục người khác thay đổi.
+ Tập trung vào nhiệm
vụ mà không quan tâm tới cảm xúc và nhu cầu của người khác Mọi người đều có cảm
xúc và họ mang những cảm xúc này vào công việc. Nếu như ta bất chấp cảm
xúc của người khác để hoàn thành nhiệm vụ thì những người giỏi nhất của mình sẽ
lần lượt rời bỏ mình .Con người không phải là những cố máy, nếu mình tôn trọng
và hiểu họ, lắng nghe cảm xúc của họ, họ sẽ muốn cống hiến và làm việc tốt hơn.
+ Mục tiêu, vai trò,
sự mong đợi lẫn nhau không rõ ràng Nếu như chúng ta không biết mình cần gì ở
người khác thì hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi và mối quan hệ sẽ chịu hậu
quả từ điều nay
Các con các Cháu của ta
Cuộc sống luôn diễn ra quanh ta, nhưng có lẽ các con đang
gặp khó khăn trong việc chọn cách sống đúng nghĩa. Sống như thế nào là lựa chọn
của các con, và việc đưa ra lựa chọn phù hợp với bản thân là cách tốt nhất để
tìm ra điều ý nghĩa và niềm hạnh phúc. Để sống đúng nghĩa, trước tiên các con
cần hiểu bản thân, bao gồm những giá trị cốt lõi, điểm mạnh và đam mê của mình.
Từ đó, các con sẽ quyết định hành động sao cho phù hợp với các giá trị đó. Cuối
cùng, hãy gắn kết với người khác và thể hiện sự quan tâm của các con dành cho
họ.Ta rất biết mỗi người có các nguồn lực khác nhau ;nên ta đưa ra nhiều giải
pháp để các con cháu ta lựa chọn theo từng phương pháp hay đan xen là tùy nguồn
lực của mỗi con .
Phương pháp 1
Hiểu bản thân
1.Xác định giá trị cốt lõi để mình có thể sống đúng với những
điều đó.
Trước tiên, các con thử nghĩ xem điều gì quan trọng đối với mình
trong cuộc sống và cách hành xử nào mà các con ngưỡng mộ ở người khác. Tiếp
theo, hãy cố gắng nhớ lại những ngày tốt đẹp nhất trong đời và việc các con đã
làm trong những ngày đó. Đây là những thông tin giúp các con tìm ra các giá trị
cốt lõi của mình - những điều mà các con quan tâm nhất.
Ví dụ, các con đề cao việc giúp đỡ người khác, cởi mở trong suy
nghĩ và chia sẻ những gì mình có.
2.Tìm ra mục đích sống bằng cách xác định điều gì đem đến động
lực cho mình.
Hãy nghĩ xem điều gì trong cuộc sống khiến các con phải hành
động, chẳng hạn như những việc khiến mình háo hức. Tiếp theo, các con thử hình
dung bản thân trong 5, 10, 15 và 20 năm nữa và liệt kê những gì mà mình mong
muốn đạt được. Bên cạnh đó, hãy thử hỏi bản thân điều gì khiến các con sẵn lòng
hy sinh và làm cách nào để mình có thể tận dụng những kỹ năng tốt nhất của mình
trong việc cống hiến cho cuộc đời. Đây là cách giúp các con tìm ra mục đích
sống của mình.
Không sao cả nếu các con có nhiều hơn một mục đích sống.
Mục đích sống của các con có thể thay đổi khi mình trưởng thành
hơn và hiểu hơn về bản thân.
Ví dụ, mục đích sống của các con có thể là truyền cảm hứng cho
người khác thông qua âm nhạc hoặc giúp đỡ người khác bằng việc trở thành điều
dưỡng.
3.Xác định để khai thác điểm mạnh và năng khiếu cá nhân.
Các con giỏi nhất trong lĩnh vực nào và điều gì đến với mình một
cách dễ dàng? Hãy liệt kê những kỹ năng và khả năng được cho là điểm mạnh của
mình . Từ đó, các con sẽ chọn ra điểm mạnh và năng khiếu quan trọng nhất với
mình để tiếp tục mài giũa và phát huy.
Ví dụ, các con có thể giỏi viết lách, đá bóng và chăm sóc em
nhỏ. Như vậy, các con thử cân nhắc việc đến lớp bồi dưỡng viết lách để ngày
càng giỏi hơn hoặc tham gia câu lạc bộ bóng đá. Tương tự như vậy, việc trông
trẻ có thể là cách giúp mình có thêm thu nhập.
4.Theo đuổi đam mê và sở thích để tạo niềm vui cho bản thân.
Trước tiên, các con cần liệt kê những gì thu hút sự chú ý của
mình, bao gồm hoạt động và sự vật. Tiếp theo, hãy tìm cách đem những điều thú
vị này vào cuộc sống của mình. Các con nên cố gắng dành nhiều thời gian cho đam
mê hoặc sở thích, tốt hơn hết là mỗi ngày.
Ví dụ, mối quan tâm của các con có thể là âm nhạc, trang sức và
nghệ thuật xăm. Như vậy, các con có thể học một loại nhạc cụ hoặc bắt đầu sưu
tập đĩa hát, học làm trang sức và thiết kế hình xăm.
Đừng lo lắng về những gì người khác nói. Đây là cuộc sống của
các con, nên cứ theo đuổi đam mê của chính mình.
5.Xác định xem mình là người dậy sớm hay là “cú đêm” để có thể
làm việc năng suất hơn.
Các con cảm thấy tỉnh táo và tràn đầy năng lượng vào buổi sáng
hay khi màn đêm buông xuống? Hãy làm những việc quan trọng nhất vào thời điểm
mà mình tỉnh táo nhất. Bên cạnh đó, các con nên điều chỉnh kế hoạch sớm hơn
hoặc muộn hơn nếu việc này khả thi.
Ví dụ, các con sẽ học hoặc làm những việc quan trọng nhất vào
buổi sáng sớm nếu là người thường dậy sớm. Ngược lại, “cú đêm” thường thích làm
những việc đó trước khi đi ngủ.
6.Xác định xem mình là người hướng ngoại, hướng nội hay vừa
hướng ngoại vừa hướng nội để chọn ra cách xã giao phù hợp.
Người hướng ngoại được tiếp thêm năng lượng khi ở cạnh những
người khác, còn người hướng nội sẽ cần được ở một mình để lấy lại năng lượng.
Người vừa hướng ngoại vừa hướng nội sẽ ở khoảng giữa, nghĩa là họ có thể thoải
mái khi ở cùng người khác hoặc ở một mình. Việc biết mình thuộc nhóm nào sẽ
giúp các con xác định tình huống xã giao nào phù hợp nhất với mình. Cách đơn
giản nhất để biết điều này là thực hiện một bài kiểm tra trực tuyến.
Thông thường, người hướng ngoại tập trung vào những việc ở bên
ngoài, còn người hướng nội tập trung vào bên trong.
Ví dụ, người hướng nội thích ở nhà vào tối thứ bảy, còn người
hướng ngoại thích ra ngoài. Cả hai lựa chọn này đều là những cách tuyệt vời để
giúp các con cảm thấy vui vẻ.
Phương pháp 2
Chọn hành động phù hợp với giá trị
của mình
1.Sống theo tín ngưỡng tâm linh của mình (nếu có).
Có thể các con đang tôn thờ một tôn giáo nào đó hoặc một số tín
ngưỡng tâm linh cá nhân. Các con sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn và gắn kết hơn với
thế giới khi đem những niềm tin đó vào cuộc sống hằng ngày. Hãy đưa ra lựa chọn
phù hợp với niềm tin và dành thời gian kết nối với đấng tối cao của mình .
Thiền hoặc cầu nguyện mỗi ngày.
Tham gia cộng đồng những người có cùng tín ngưỡng nếu có thể.
Đây là cách giúp các con hình thành niềm tin sâu sắc hơn.
Nếu các con bắt gặp bản thân đưa ra những lựa chọn không phù hợp
với niềm tin của mình, hãy dừng lại để suy ngẫm xem tại sao mình làm như vậy và
cố gắng thay đổi.
2.Điều chỉnh thói quen hằng ngày sao cho phù hợp với giá trị của
mình.
Những lựa chọn nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày có thể tạo ra
ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các con. Hãy đảm bảo rằng những việc mình làm
sẽ củng cố cho các giá trị và mục đích sống của các con. Sau đây là một số thay
đổi mà mình có thể thực hiện:
Sử dụng sản phẩm tái chế nếu các con đề cao việc bảo vệ môi
trường.
Chọn sản phẩm hữu cơ nếu các con nghĩ thuốc trừ sâu không tốt.
Chọn sản phẩm tự nhiên nếu các con nghĩ rằng các hóa chất có hại
cho con người.
Ăn chay để bảo vệ động vật hoặc môi trường.
Đi bộ hoặc đạp xe để giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch.
Quyên góp tiền hoặc thức ăn cho người cần giúp đỡ.
Nhường đường khi tham gia giao thông để lan tỏa thiện chí.
Trả ơn bằng cách cho đi, chẳng hạn như thỉnh thoảng mua cà phê
sáng cho ai đó.
3.Đặt ra các mục tiêu cá nhân để giúp mình tiến gần hơn đến mục
đích sống của đời mình.
Việc tìm ra mục đích sống vẫn dễ hơn là sống đúng với điều đó.
Cách tốt nhất để không lạc lối là đặt ra các mục tiêu giúp các con có cuộc sống
đúng theo ý muốn. Hãy nghĩ về những điều quan trọng nhất với mình và chia chúng
thành những phần nhỏ. Bước tiếp theo là tạo ra mốc thời gian cho việc hoàn
thành từng phần đó để giúp các con đạt được các mục tiêu của mình.[9]
Ví dụ, các con có thể đặt mục tiêu trở thành điều dưỡng. Các
bước nhỏ mà mình cần làm sẽ là học giỏi khoa học và toán, tham gia hoạt động
tình nguyện tại viện dưỡng lão hoặc bệnh viện, hoàn thành bậc cử nhân và thạc
sĩ của ngành điều dưỡng và công tác tại bệnh viện.
Một ví dụ khác, mục tiêu của các con có thể là trưng bày tác
phẩm của mình ở nơi công cộng. Như vậy, các con cần tham gia các lớp nghệ thuật
để cải thiện kỹ năng, tạo ra các tác phẩm của mình, tham gia các buổi triển lãm
nghệ thuật tại địa phương và hỏi xem các quán cà phê gần nhà có thể treo tác
phẩm của mình hay không.
4.Chọn con đường học vấn và sự nghiệp hướng đến mục đích sống
của mình.
Các con muốn làm điều gì trong đời và con đường sự nghiệp nào
liên quan đến mục đích sống của mình? Từ đó, hãy chọn chương trình học và công
việc tiếp thêm năng lượng cho các con. Theo đuổi con đường này trong suốt quá
trình phát triển của mình.
Có thể những người khác sẽ áp đặt suy nghĩ của họ lên lựa chọn
của các con, đặc biệt là người thân trong gia đình. Hãy cố gắng phớt lờ những
gì họ nói và làm những gì tốt nhất cho mình. Các con chỉ có một đời để sống,
nên cứ làm những gì mà mình yêu thích.
Lời khuyên: Không có điều gì đảm bảo rằng con đường an toàn
trong cuộc sống sẽ đưa các con đến thành công. Người khác thường hay nói rằng
một công việc hoặc trình độ nào đó sẽ giúp mình thành công, nhưng điều đó chưa
hẳn đã đúng. Hãy đưa ra lựa chọn dựa trên những gì mà các con mong muốn trong
đời thay vì nghe theo lời hứa hẹn về “thành công”.
5.Tận hưởng những gì mà mình yêu thích ở mức vừa phải để có một
cuộc sống cân bằng.
Hãy ăn món các con thích, theo đuổi sở thích của mình và vui đùa
cùng bạn bè. Tuy nhiên, các con cũng cần cân bằng những niềm vui này bằng cách
chăm sóc bản thân và nỗ lực hoàn thành mục tiêu. Sự chừng mực sẽ giúp mình có
cuộc sống viên mãn, thế nên đừng quá sức trong công việc hoặc dành quá nhiều
thời gian cho các thú vui.
Ví dụ, hãy tạo lập thói quen giúp các con có thời gian hoàn
thành công việc, dọn dẹp, giữ gìn vệ sinh cá nhân, theo đuổi sở thích và dành
thời gian cho những người mà mình quan tâm.
6.Cho phép bản thân tiếp tục học hỏi và phát triển khi mình đã
hiểu biết hơn.
Khi có thêm nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, các con sẽ nhìn
nhận mọi thứ khác hẳn so với khi còn nhỏ. Hãy trân trọng sự hiểu biết và kiến
thức mà mình tích lũy được theo năm tháng. Bên cạnh đó, các con cũng cần tiếp
nhận thông tin mới và học hỏi từ những người mà mình có cơ hội gặp gỡ. Cởi mở
với sự phát triển và thay đổi của bản thân vì đây là cách giúp mình hiểu hơn về
cuộc sống.
Lắng nghe câu chuyện của những người mà các con gặp. Cố gắng tìm
ra bài học từ trải nghiệm của họ, đặc biệt khi họ có lối sống hoàn toàn khác
với mình.
Đọc sách báo hoặc xem phim tài liệu để học hỏi thêm về thế giới
xung quanh.
Nếu có thể, các con nên đi du lịch để biết thêm cách sống của
người dân ở nơi khác.
Phương pháp 3
Gắn kết và quan tâm đến người khác
1.Kết bạn bằng cách tham gia các lớp học, công việc tình nguyện
hoặc câu lạc bộ.
Cách tốt nhất để gặp nhiều người và có các mối quan hệ mới là ra
ngoài. Nếu các con thoải mái với việc gặp gỡ người mới, hãy trò chuyện với
người mà mình gặp khi mua sắm hoặc khi đi chơi. Nếu không, các con có thể đăng
ký tham gia lớp học yêu thích hoặc tham gia câu lạc bộ liên quan đến sở thích
của mình. Tham gia hoạt động tình nguyện cũng là một lựa chọn hữu ích.[13]
Tìm các câu lạc bộ trong khu vực của các con trên các nhóm
Facebook hoặc Meetup.com. Nếu các con vẫn còn đi học, hãy tìm câu lạc bộ hoạt
động sau giờ học.
Nhà văn hóa có thể sẽ đăng thông tin về các câu lạc bộ địa
phương.
2.Giao tiếp với bạn thân và người thân thường xuyên.
Mỗi ngày, các con nên gửi tin nhắn cho người mà mình yêu
quý. Ngoài ra, hãy gọi điện thoại hoặc đến thăm họ khi có thể. Đây là cách giúp
cho các mối quan hệ ngày càng bền chặt và lành mạnh.
Ví dụ, gửi tin nhắn chào buổi sáng đến người yêu, hỏi thăm cha
mẹ và gửi những nội dung hài hước cho bạn bè.
Hẹn đi cà phê với một người bạn hoặc mời họ đến nhà xem Netflix.
Thường xuyên ăn tối cùng gia đình hoặc trò chuyện qua Skype với
người thân khi các con sống xa nhà.
3.Dành toàn bộ sự chú ý cho người đang ở cùng mình.
Các con nên bỏ thói quen kiểm tra điện thoại hoặc gửi tin nhắn
khi đang ở bên bạn bè, người thân hoặc người yêu. Hãy tập trung vào khoảng thời
gian ở bên ai đó và lắng nghe những gì họ nói. Đây là cách gìn giữ sự khắng
khít của các mối quan hệ và giúp các con gắn kết hơn với người khác.
Khi đi chơi với bạn bè, các con cũng nên dành thời gian riêng
cho việc trò chuyện. Ví dụ, khi đi xem phim, mình có thể dành 15 phút để trò
chuyện trước khi thưởng thức bộ phim.
Nếu người kia tập trung vào điện thoại, hãy cho họ biết rằng
mình muốn họ chú ý vào buổi gặp gỡ. Các con có thể nói: “Tớ rất vui vì chúng ta
có thể hẹn gặp tối nay. Nhưng sẽ tuyệt hơn nếu cậu có thể không dán mắt vào
điện thoại trong khi ăn tối.”
4.Chọn những người bạn giúp mình cảm thấy tốt hơn về bản thân.
Thay vì chọn những người bạn trông có vẻ thú vị, các con nên
chọn những người quan tâm đến mình, sẵn sàng hỗ trợ và cho các con lời khuyên.
Đó là những người mình sẽ làm cho cuộc sống của các con tuyệt vời hơn! Hãy dành
thời gian cho những người mà mình thích ở cạnh.
Đối xử với bạn bè theo cách mà các con muốn được đối đãi. Hãy có
mặt khi họ cần và không ngừng động viên.
Đừng lo lắng về việc chủ động cắt đứt liên lạc với những người
tiêu cực. Các con chỉ cần tập trung chào đón sự tích cực và những người tiêu
cực sẽ tự nhiên biến mất khỏi cuộc sống của mình.
5.Cho đi nhiều như cách mà mình nhận từ các mối quan hệ.
Các mối quan hệ tốt đẹp thường bao gồm cho và nhận, nên các con
không thể chỉ nhận mà thôi. Hãy cố gắng đáp lại sự tử tế của bạn bè, người thân
hoặc người yêu. Việc tạo ra sự cân bằng sẽ giúp các con nuôi dưỡng mối quan hệ
bền chặt.
Ví dụ, nếu bạn bè giúp các con điều gì đó, hãy đáp lại theo cách
tương tự hoặc bằng một cử chỉ tốt đẹp khác, như mua cho họ một cốc cà phê.
Tương tự như vậy, khi người yêu luôn làm cho các con những gì mà
mình muốn, hãy chủ động nói rằng các con sẽ làm việc mà họ thích trong lần tiếp
theo.
Lời khuyên: Nếu các con đang trong mối quan hệ với một người chỉ
biết nhận, đừng vội thất vọng về họ và hãy nghĩ rằng họ không biết bản thân
đang làm việc đó. Bước tiếp theo là trao đổi với họ về vấn đề này. Các con có
thể nói: “Em cảm thấy gần đây mình đang cho mối quan hệ này nhiều hơn những gì
có thể nhận lại. Anh thấy chuyện giữa hai chúng ta đang như thế nào?”
6.Nhìn nhận mặt tốt của người khác.
Cách nhìn của các con về cuộc sống sẽ thay đổi theo hướng tích
cực khi mình nghĩ rằng ai cũng tốt đẹp. Bên cạnh đó, các con cũng sẽ dễ
dàng nhận ra điểm tốt của bản thân, giúp cho tâm trạng của mình tốt hơn. Vì
vậy, hãy cố gắng suy nghĩ tích cực về người khác. Sau đây là một số gợi ý dành
cho các con:
Đừng vội nghĩ xấu cho ai khi sự việc chưa rõ ràng.
Nhìn nhận điều tốt đẹp trong mỗi hành động.
Nhìn vào ưu điểm của người khác thay vì khuyết điểm.
Tập trung vào những nét tính cách tốt thay vì chưa tốt.
Nhớ rằng không phải ai cũng đi trên hành trình giống các con.
7.Mở lòng đón nhận tình yêu khi mình sẵn sàng.
Trước khi tìm tình yêu, các con cần phải hiểu chính mình. Tiếp
theo là suy nghĩ về điều mà mình mong muốn nhất ở người yêu. Khi gặp ai đó
khiến mình “cảm nắng”, các con nên thử tìm hiểu họ để biết hai người có phù hợp
với nhau không. Hãy để mối quan hệ phát triển thành tình yêu khi các con dần
thân thiết hơn với họ.
Các con sẽ yêu nhiều lần trong đời. Đây là một hành trình đau
đớn, nhưng sẽ giúp các con tìm ra một nửa hoàn hảo của mình.
Đừng cưỡng cầu trong tình yêu. Những mối quan hệ tốt đẹp nhất
đều cần thời gian để phát triển thành sự gắn kết chân thành.
Lời khuyên
Can đảm bước ra thế giới và tôn trọng người khác.
Làm theo lẽ phải.
Chăm sóc bản thân về mặt thể chất lẫn tinh thần.
Kiên nhẫn với bản thân.
CON ĐƯỜNG TA ĐI
Dẫu cho đời có bể dâu
Trong ta vẫn cạn nỗi sầu thế gian
Dẫu cho muôn sự ngổn ngang
Trong ta vẫn có con đường để đi
Dẫu cho cuộc sống đầy vơi
Trong ta đã có luân hồi phái sinh
Dẫu cho đời có vô tình
Thì ta vẫn giữ tâm kinh pháp truyền.
Dẫu sinh diệt, vẫn thảnh thơi
Vì ta đã có pháp thời hôm nay
Dẫu cho đời có thế nào
Trong ta vẫn có nẻo vào chân như.
Dẫu cho đời cả sương mù
Tâm ta vẫn sáng giữa phù trần mê
Dẫu cho đời vỡ bờ đê
Trong ta vẫn có đường về chân nguyên.
Đường xưa rũ sạch bụi phiền
Đường nay rũ sạch đôi miền có – không
Trắng thơm ta có tấm lòng
Thương ai phiêu dạt giữa dòng thế gian
Thương ai bỏ mất tu tường
Bỏ quên tri thức trong đường tiến thân.
Các con các cháu rất yêu của ta
Tự đề cũng như bài thơ ta viết trên ta đề cập nhiều đếm : Pháp ;
Tôn trọng pháp ; và khuyên áp dụng Pháp , kích thích pháp, không chống lại pháp
. Thế Pháp là gì? Theo định ước của ta ,Pháp là : “Con Đường Đời Ta Đi”
Thế con đường đó : “Con Đường Đời Ta Đi” gồm những gì ? rộng hay
hep? dài hay ngắn ?...
Hàm Fx:“Con Đường Đời Ta Đi” = Các hệ thống (Khái+Định +Quy)
Muốn đi trên con đường này để về đích :Thành Người Thành Đạt
Hạnh Phúc , nhanh hay chậm , đến hay không đến được đích còn tùy thuộc vào
:Niềm Tin,Nỗ lực, Ghi Nhớ-Chất lương thực hiện-Tần xuất thực hiện , của mỗi các
nhân
“Con Đường Đời Ta Đi” dài hay ngắn là do mỗi cá nhân: Hiểu- áp
dụng tất cả các thành tố cấu tạo thành con đường .Muốn hiểu phải Tu Học ;
Muốn áp dụng phải làm việc ,Muốn sống hạnh phúc phải tuân theo ,không được
cưỡng lại.
“Con Đường Đời Ta Đi” rộng hay hẹp là do mỗi con người tôn trọng
và thực thi nó thế nào , cảm nhận ra làm sao ….
“Con Đường Đời Ta Đi” bao gồm tất cả các yếu tố nội và ngoại hàm
: Khái niệm + Định nghĩa + Định lý + Định luật + Quy luật + Quy định của
pháp luật , của cả tự nhiên .của cả xã hội , của cả con người .
Choáng rồi phải không ? từ từ , các thành tố cấu tạo nên con
đường này chỉ bao gồm (xếp theo trật tự ABC) : BẢN NĂNG , BẢN THÂN , CÁI ÁC , CÁI CHẾT , CẢM
XÚC ,CÁN DỖ , CHỊU TRÁCH NHIỆM VIỆC MÌNH LÀM , CÔNG ƠN CHA MẸ ,ĐAM MÊ ,
DANH TÍN , ĐAU THƯƠNG ,GIA ĐÌNH , HÃM HẠI NGƯỜI KHÁC , HẬN THÙ , HẠNH
PHÚC , HIỆN TẠI , KHÓ KHĂN ,KINH NGHIỆM ,LAO ĐỘNG , LẼ PHẢI , LỜI HỨA , LÒNG
KIÊN TRÌ , LÒNG TỐT , NGÀY MAI , NHÂN CÁCH , NHẬN THỨC , NIỀM TIN
, PHẢN BỘI LÒNG TIN , PHÁP , SỐNG THẬT , SỰ BAO
DUNG , SỰ GIÚP ĐỠ CỦA NGƯỜI KHÁC , SỰ ÍCH
KỶ , SỰ KHÁC BIỆT , SỨC KHỎE , THÂN , THÀNH
ĐẠT , TIỀN BẠC , TÌNH YÊU , TRI THỨC .
Để đi vào vấn đề cụ thể như tựa đề ta đặt Tôn Trọng Và Áp Dụng
Pháp; Chúng ta cùng nhau làm rõ các vấn đề như là : khái niệm; định nghĩa ,
phạm trù , định lý định luật, quy luật ….
Khái niệm
Khái niệm là một đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao
gồm một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù lôgic, hoặc
một sự suy diễn) phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của các đối tượng sự
vật, quá trình, hiện tượng trong tâm lý học và mối liên hệ cơ bản nhất các đối
tượng trong hiện thực khách quan.
Việc tạo ra một khái niệm là một chức năng cơ bản của sự cảm
nhận và suy nghĩ. Các khái niệm cho phép ta hệ thống hóa hiểu biết của ta về
thế giới.
Hai dạng khái niệm cơ bản:
Khái niệm cổ điển : Với các giới hạn rõ rệt, dựa vào các định
nghĩa chính xác, có mang các điều kiện cần và đủ, để đối tượng cho trước có thể
được coi như là một đại diện xứng đáng trong một thể loại cho trước;
Khái niệm tự nhiên : Thay vì dựa vào các định nghĩa và các điều
kiện cần và đủ, thì lại dựa vào sự đồng dạng so với những đối tượng tiêu bản đã
được lưu lại trong trí nhớ.
Định nghĩa
Định nghĩa là sự xác định bằng ngôn ngữ nhất định những đặc
trưng cơ bản tạo thành nội dung của khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá
trình, với mục đích phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác.
Định nghĩa có vai trò quan trọng trong khoa học và là bộ phận căn bản trong mọi
lý thuyết khoa học.
Các nguyên tắc của định nghĩa:
Nguyên tắc tương xứng, nghĩa là ngoại diên của khái niệm được
định nghĩa và ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau
Không nói vòng quanh
Không nói theo cách phủ định
Phải rõ ràng, nghĩa là định nghĩa không chứa những thuộc tính có
thể suy ra từ thuộc tính khác
Ví dụ: Hình vuông là hình có 4 góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau.
Để định nghĩa một khái niệm nào đó, người ta thường ghép nó với
một khái niệm lớn hơn (chủng), rồi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của khái niệm
cần định nghĩa (đặc điểm về loại). Ví dụ, định nghĩa về carbon: "carbon"
là nguyên tố hóa học (chủng) có trọng lượng nguyên tử bằng 12 đơn vị carbon
(đặc điểm về loại)". Đối với những khái niệm lớn và bao trùm, chẳng hạn
như khái niệm vật chất, ý thức, người ta sử dụng cách định nghĩa ngoại lệ.
Trong toán học, khi đưa ra 1 định nghĩa, người ta thường liệt kê
các điều kiện cần và đủ để xác định khái niệm đó. Một khái niệm trong toán học
do đó có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, điển hình là số e.
Thông thường có 4 cách định nghĩa trong toán học:
- Phương pháp cấu trúc chỉ rõ cách xây dựng khái niệm đó
- Phương pháp quy khái niệm đang xét về những khái niệm đã biết
- Phương pháp tiên đề, định nghĩa một khái niệm thông qua các tiên
đề: ví dụ định nghĩa về song song
- Phương pháp quy nạp dựa trên 2 yếu tố:
Những đối tượng xuất phát hoặc cơ bản của hệ thống
Những quy tắc hay thao tác cho phép dùng những đối tượng hiện có
để tạo thành đối tượng mới của hệ thống
Định nghĩa mờ
Định nghĩa mờ trong lô gíc mờ còn được gọi là định nghĩa thao tác,
là phương pháp định nghĩa một sự vật thông qua một tập hợp nhận định gần đúng
về sự vật đó nhờ một loạt thao tác có thể tạo ra bằng thực nghiệm hoặc quan
trắc mà kết quả khách quan của nó có thể trực tiếp nhận biết được thông qua sự
quan sát có tính chất kinh nghiệm hay bằng đo lường. Ví dụ định nghĩa về lửa
như sau: "Lửa là một cái gì đó nóng". "Lửa là cái phát
sáng". "Lửa là sức mạnh của thần thánh"...
So sánh khái niệm và định nghĩa
Sự khác nhau cơ bản nhất giữa khái niệm và định nghĩa ở chỗ:
Định nghĩa là lời giải thích làm cho rõ nghĩa của từ hoặc của
khái niệm.
Còn khái niệm cũng có thể xem như lời giải thích (như ở định
nghĩa) nhưng lời giải thích này được phần đông nhân loại hoặc tổ chức có chuyên
môn trong lĩnh vực cụ thể mà khái niệm đó nhắc tới công nhận, thừa nhận.
Phạm trù
Phạm trù là một trong những phương tiện nhận thức thế giới dùng
trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội. Khái niệm phạm trù được
xuất hiện trong quá trình hình thành triết học. Trong vô vàn những sự vật, hiện
tượng, quá trình hỗn loạn của thế giới xung quanh. Con người cần tách riêng một
tập hợp nào đó ra, tập trung sự chú ý, xác định những đặc điểm tiêu biểu của
quy luật phát triển hiện vật, hiện tượng, xem xét quan hệ xung quanh thế giới
quan. Như vậy phạm trù không đơn giản như là sự phân loại. Phân loại có được
chỉ sau khi xác định được lý thuyết phạm trù.
Phạm trù của một nội dung nào đó bao gồm khái niệm tương đồng về
nó. Khái niệm được xác định bởi định nghĩa chung nhất với những đặc điểm chung
nhất. Nội dung xác định bởi toàn bộ những đặc điểm có thể có, quy luật phát
triển của các đặc điểm, quan hệ đối với các điều khác trong ngoài thế giới.
Định nghĩa nội dung của điều được xem xét tạo nên ranh giới nhất định của phạm
trù tương ứng.
Phạm trù là thành phần kết cấu nên lý thuyết.
Một số khái niệm khác về phạm trù
Đó là khái niệm chung nhất có giới hạn, có khả năng hàm chứa
nhiều nhất.
Trong phép biện chứng logic đó là khái niệm phản ánh giai đoạn
tuần tự sự hình thành điều cụ thể nguyên vẹn nào đó.
Trong thuyết siêu hình đó là cách gọi của các dạng tồn tại khác
nhau.
Một trong các lĩnh vực trừu tượng nhất của toán học hiện đại là
lý thuyết phạm trù sử dụng thuật ngữ "phạm trù" như là thuật ngữ cơ
sở xuất phát từ Immanuel Kant.
Các kiểu phạm trù trong triết học
-Các phạm trù của Aristotle
-Các phạm trù của Immanuel Kant
-Các phạm trù của Georg Hegel
Ứng dụng trong nghiên cứu và ứng dụng.
Phạm trù là khái niệm hàm chứa chung nhất, khó xác định trong
khuôn khổ một lý thuyết nói riêng hay ngành khoa học nào đó nói chung. Phạm trù
được xem là thành phần kết cấu của sơ đồ phạm trù xác định quy trình tư duy.
Mỗi phạm trù nhờ khả năng giải mã cũng là yếu tố lưu giữ trạng thái quy trình.
Phạm trù được dùng trong việc hệ thống hóa kiến thức qua quá trình nhận thức, trong
đó chúng đóng vai trò ấn định tên cho đề mục. Cùng với những định nghĩa trên
phạm trù còn được công nhận trong sự hình thành siêu ngôn ngữ mà thành phần của
nó là các định nghĩa "lớp kiến thức". Phạm trù là đơn vị đặc biệt bảo
đảm quá trình chuyển dịch kiến thức (knowledge transfer) trong nghiên cứu liên
ngành. Phạm trù ghi giữ các lớp kiến thức, các giai đoạn và các yếu tố của quá
trình nhận thức, vì thế nó thuộc về hệ thống quản lý kiến thức. Phạm trù cho
phép liên hệ bất cứ kiến thức nào với triết học và ngược lại, liên hệ triết học
đến bất kỳ lĩnh vực kiến thức nào. Tuy có sự chú ý đáng kể đối với phạm trù
nhưng ứng dụng chúng vào quá trình nhận biết thế giới vẫn diễn ra ở mức cảm
tính.
So sánh : Khái niệm & phạm trù
Khái niệm và phạm trù là hai mặt của phương thức định nghĩa về
bản thân ta-thế giới. Tức là, về thực chất, chúng là một: khái niệm là một phạm
trù giác tính với nội hàm đủ thông số - xác định rõ ràng được các “yếu tố đáng
kể” - để có thể tri giác và diễn đạt được bằng các hình ảnh trực giác đã biết,
đồng thời dễ dàng có thể tìm kiếm đối tượng ở ngay xung quanh; phạm trù là một
khái niệm có ngoại diên được mở rộng tối đa - tức là nội hàm tối thiểu đủ có
thể phân biệt với các phạm trù khác, và vì vậy để diễn đạt phạm trù này phải
thông qua mối quan hệ với các phạm trù khác dễ hình dung hơn.
Ranh giới giữa khái niệm và phạm trù rất mong manh. Thực chất cả
hai là một, chúng chỉ khác nhau ở một điểm rất nhỏ và tương đối trừu tượng, đó
là: phạm trù là một loại khái niệm mà có nội hàm tối thiểu, tức là có ngoại
diên tối đa. Khi nói “tối thiểu” tức là cần phải đặt phạm trù trong mối quan hệ
với một lớp các khái niệm có chung những yếu tố nội hàm nhất định. Chẳng hạn,
khái niệm hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác... có phạm trù
chung trong toán là: hình học. Còn khi đặt cái được gọi là phạm trù ở trên
trong mối quan hệ với những khái niệm không có chung nội hàm thì nó cũng chỉ là
một khái niệm.
Nếu đối tượng của mỗi khoa học cụ thể là một đối tượng cụ thể
được mô tả bởi các khái niệm và hệ thống các lý thuyết về sự vận động của đối
tượng đó (mối liên hệ các các khái niệm) thì đối tượng của triết học là cả thế
giới như một chỉnh thể được mô tả bởi các phạm trù và hệ thống các học thuyết
về sự tồn tại và sự vận động tự thân - mối quan hệ giữa các phạm trù. Nếu không
vạch ra được các khái niệm cũng như khái quát được những mối quan hệ cơ bản của
các khái niệm làm cơ sở lý thuyết thì các khoa học cụ thể sẽ không thể hình
thành; tương tự như vậy, nếu không nêu lên được các phạm trù và khái quát được
mối quan hệ cơ bản của các phạm trù thì triết học cũng không còn đất tồn tại.
Khi những cây xanh của khoa học cụ thể và triết học không được nảy sinh thì sẽ
tạo ra một khoảng đất trống mênh mông cho các loài cỏ huyền thoại, thần thoại
và triết thuyết tôn giáo nảy sinh. Và ngay cả khi cây xanh mọc um tùm thì cỏ
vẫn cứ mọc. Tất nhiên là Tạo Hóa không phân biệt giữa cỏ dại và cây xanh, đó là
lý lẽ của con người.
Bất cập của loại ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm) là khả
năng diễn đạt dài dòng. Trong khi chưa diễn đạt xong ý này thì ý khác đã ập
tới. Và khi nhiều ý cùng muốn diễn đạt một lúc thì khiến cho ngôn ngữ trở nên
bế tắc. Vậy nên trong giao tiếp giữa ta và thế giới, điều quan trọng là cần nắm
bắt và thông suốt được tâm ý. Cần có khả năng tư duy trên ngôn ngữ "vô
hạn" (phạm trù) thay vì ngôn ngữ "hữu hạn" (khái niệm). Tạo Hóa
vốn không phân biệt; sự phân biệt vốn chỉ là lý lẽ của con người. Mọi ranh giới
phân biệt đều rất mong manh, tương đối. Ngôn ngữ là vỏ bọc tư duy. Khả năng sử
dụng ngôn ngữ tùy thuộc vào năng lực phân biệt trong tư duy của người đó. Vì lẽ
đó, cần truyền đạt và nắm được cái mạch ý tưởng thống nhất của người nói (mối
liên hệ giữa các phạm trù tư tưởng), chứ đừng quá câu nệ về sự xung đột (mâu
thuẫn) trong giới hạn nhất định của việc sử dụng ngôn từ (khái niệm). “Ý tại
ngôn ngoại” cũng bao hàm cái ý nghĩa như vậy. Nếu khái niệm diễn đạt hiện tượng
thì phạm trù diễn đạt bản chất. Hiện tượng và bản chất có sự thống nhất chứ
không có sự đồng nhất hoàn toàn; cũng như vậy, ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các
khái niệm) và nội dung truyền tải trong ngôn ngữ (mối quan hệ giữa các phạm trù
tư tưởng) cũng có tính thống nhất chứ không có sự đồng nhất hoàn toàn. Đó chính
là sự bất cập của tư duy ngôn ngữ cũng như việc lấy các hiện tượng minh họa, dẫn
tới những loại ngụy biện trong việc sử dụng ngôn ngữ và những hiện tượng minh
họa phiến diện. Để lĩnh hội được những ý tưởng được diễn đạt bằng ngôn từ thì
cần coi trọng cái đầu hơn đặt nặng trái tim; nhưng để lĩnh hội được những điều
vốn được diễn đạt ở bên ngoài lời thì cần coi trọng trái tim hơn cái đầu.
Để nghiên cứu thế giới vi mô cần hợp nhất những "khái niệm
đối lập" mang tính phân biệt của thế giới vĩ mô thành các phạm trù độc lập
(không còn tính phân biệt thô thiển) – dạng phân biệt tinh tế hơn.
Khái niệm định lý :
Một tính chất
được khẳng định là đúng bằng suy luận được gọi là định lí. Định lí thường phát
biểu dưới dạng: ” Nếu A thì B” với A là giả thiết, là điều kiện cho biết, B là
kết luận, là điều được suy ra. 2. Chứng minh định lí
Chứng minh định
lý :
Là dùng suy luận
để khẳng định kết luận (được suy ra từ giả thiết) là đúng
Kết cấu :
Một định lý
thường bắt đầu bằng việc giới thiệu các điều kiện (input - nhiều khi các điều
kiện được giới thiệu trước khi đi vào định lý); tiếp đến là một kết luận (output),
đúng trong trường hợp của các điều kiện đã nêu. Phần chứng minh, mặc dù là cần
thiết để khẳng định đề xuất là định lý, thường không nằm trong phát biểu của
định lý. Một đề xuất có vẻ đúng nhưng chưa được chứng minh gọi là phỏng đoán.
Các phỏng đoán giữ vai trò quan trọng còn được gọi là định đề.
Các đề xuất toán
học đúng đắn cần phải có ý nghĩa hay độ tổng quát nhất định để được gọi là định
luật. Nếu độ quan trọng, hay độ tổng quát thấp, chúng có thể được gọi là bổ đề,
tức là các đề xuất nằm trong phần chứng minh cho một định lý tổng quát hơn, hay
hệ quả, tức là các kết luận dễ dàng suy ra từ định lý quan trọng hơn. Tuy nhiên
việc phân loại theo độ quan trọng này khá tùy tiện.
Các định lý
thường là một phần của một hệ thống lôgíc gọi là hệ tiên đề; trong đó, các định
lý được suy luận từ các tiên đề hay từ các định lý đã được chứng minh khác.
Định luật
Các định luật là
các phát biểu mô tả hoặc dự đoán một loạt các hiện tượng tự nhiên. Mỗi định
luật khoa học là một tuyên bố dựa trên những quan sát thử nghiệm lặp đi lặp lại
mô tả một số khía cạnh của vũ trụ. Thuật ngữ này có cách sử dụng đa dạng trong
nhiều trường hợp (lý thuyết gần đúng, chính xác, rộng hoặc hẹp) trên tất cả
\lĩnh vực khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học, địa chất, thiên văn học,...).
Các định luật khoa học tóm tắt và giải thích một tập hợp lớn các sự kiện được
xác định bằng thí nghiệm và được kiểm tra dựa trên khả năng dự đoán kết quả của
các thí nghiệm trong tương lai. Chúng được phát triển từ thực tế hoặc thông qua
toán học và được hỗ trợ mạnh mẽ bởi bằng chứng thực nghiệm. Người ta thường
hiểu rằng chúng phản ánh các mối quan hệ nhân quả cơ bản với thực tế, và được
phát hiện chứ không phải được phát minh.
Định luật phản ánh kiến thức khoa học rằng các thí
nghiệm đã nhiều lần xác minh (và không bao giờ làm sai lệch). Độ chính xác của
chúng không thay đổi khi các lý thuyết mới được thực hiện, mà là phạm vi áp
dụng, vì phương trình (nếu có) đại diện cho luật không thay đổi. Cũng như các
kiến thức khoa học khác, chúng không có sự chắc chắn tuyệt đối (như các định
lý hoặc định danh toán học làm) và luôn luôn có thể luật bị đảo ngược bởi các
quan sát trong tương lai. Một luật thường có thể được xây dựng dưới dạng một
hoặc một số câu hoặc phương trình, để nó có thể được sử dụng để dự đoán kết quả
của một thí nghiệm, do hoàn cảnh của các quá trình diễn ra.
Định luật khác với giả thuyết và định đề, được đề xuất trong quá trình
khoa học trước và trong khi xác thực bằng thí nghiệm và quan sát. Các giả
thuyết và định đề không phải là luật vì chúng chưa được xác minh ở cùng mức độ
và có thể không đủ chung chung, mặc dù chúng có thể dẫn đến việc xây dựng luật.
Một luật là một tuyên bố chính thức và vững chắc hơn, được chắt lọc từ thí
nghiệm lặp đi lặp lại. Luật pháp có phạm vi hẹp hơn so với các lý thuyết khoa
học, có thể chứa một hoặc một số luật. Khoa học phân biệt một định luật hoặc lý
thuyết với thực tế. Gọi một định luật là một thực tế là mơ hồ, nói quá hoặc một
sự không tương xứng. Mặc dù bản chất của một quy luật khoa học là một câu hỏi
trong triết học và mặc dù các quy luật khoa học mô tả bản chất về mặt toán học,
các định luật khoa học là những kết luận thực tế đạt được bằng phương pháp khoa
học; chúng được dự định không mang nặng các cam kết về bản thể học cũng như các
tuyên bố về sự tuyệt đối hợp lý.
Theo sự thống
nhất của luận án khoa học, tất cả định luật khoa học đều tuân theo căn bản từ
vật lý. Các luật xảy ra trong các ngành khoa học khác cuối cùng cũng tuân theo
các quy luật vật lý. Thông thường, từ các quan điểm cơ bản về mặt toán học, các
hằng số phổ biến xuất hiện từ một định luật khoa học.
Luật là gì
Luật là một loại
văn bản quy phạm pháp luật do Quốc. hội (Nghị viện) ban hành, có hiệu lực pháp
lí cao nhất, chỉ dưới Hiến pháp. Ví dụ: Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính
phủ... Tất cả các văn bản pháp luật khác do các cơ quan nhà nước khác ban hành
đều là văn bản dưới luật.
Văn bản quy phạm
pháp luật bao gồm: Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước, các bộ luật và các
đạo luật.
Trong một số ngữ
cảnh nhất định, luật có thể hiểu là pháp luật nói chung. Ví dụ: khoa học luật,
đại học luật, sinh viên luật, tiến sĩ luật, nghề luật, luật sư, luật gia.
Chế định pháp
luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi.
có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định.
Ví dụ: ngành luật
dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng, chế định
thừa kế, chế định quyền tác giả... Ngành luật hình sự có các chế định như các
tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm,
danh dự của con người; các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân...
Luật pháp
Luật pháp dưới
góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc
gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục,
thuyết phục, và cưỡng chế.
Luật pháp thông
thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án, trong đó, quan tòa sẽ nghe
tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và
hợp lý. Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp
lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.
Phần lớn các quốc
gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung
phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp
trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa
ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh
khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.
Những người hành
nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý
trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án,
Lịch sử
Luật pháp dưới
góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm
quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết
phục, và cưỡng chế.
Luật pháp thông
thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các
cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án.....Tuy
nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu
cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án. Hiện nay,
hầu hết các nước trên thế giới đều có hai "nhánh" là thực thi luật
pháp theo con đường hành chính và thực thi theo con đường hình sự. Hành chính
và hình sự là hai cấp độ khác nhau và không thể đồng thời áp dụng lên một hành
vi vi phạm. (Cụ thể xin vui lòng xem thêm quy định tại các văn bản pháp luật
hiện hành để biết quy định nào sẽ cấu thành tội phạm hình sự và hành vi nào sẽ
bị xử phạt hành chính).
Về cơ bản, luật
pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ
như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và
xử phạt vi phạm.....
Trong xã hội dân
dự, mặc dù Tòa án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một
người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi.
Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước châu Á nói chung, việc đưa vụ việc
đến Tòa án chưa trở thành một thói quen và văn hóa pháp luật.
Phần lớn các quốc
gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung
phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp
trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa
ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh
khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.
Những người hành
nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý
trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý
hay đưa ra các tư vấn pháp lý.
Bản chất
Bản chất của luật
pháp phản ánh bản chất của Nhà nước đặt ra nó. Nhà nước kiểu nào thì pháp luật
kiểu đó. Chính vì vậy, luật pháp có tính chất giai cấp. Luật pháp còn có tính
xã hội vì nó chứa đựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ.
Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù
hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.
Bản chất này cho phép luật pháp gần gũi với dân chúng, được dân chúng ủng hộ,
do đó mà có hiệu quả điều chỉnh lên các quan hệ xã hội. Luật pháp có tính thời
đại, nghĩa là phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng
hội nhập với luật pháp quốc tế.
Thuộc tính của
luật pháp
Về mặt nội dung,
luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối
tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn các quy phạm xã hội khác.
Về mặt hình thức,
luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà
nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ. Có 3 hình
thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm
pháp luật.
Luật pháp được
đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời
sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn
lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.
Các hệ thống pháp
luật trên thế giới.
Hình trên bia mộ
vua Hammurabi mô tả thần Shamash đang tiết lộ bộ luật cho vua. Hiện vật bảo
tàng Louvre.
Nói chung có 4 hệ
thống pháp luật đang được thực thi ngày nay trên thế giới.
Dân luật/Luật
châu Âu lục địa
Hệ thống luật
châu Âu lục địa hay dân luật là sự pháp điển hóa đặt thành một hệ thống bao hàm
toàn diện các quy tắc được áp dụng và làm sáng tỏ bởi các quan tòa. Đây là hệ
thống luật được thực thi lớn nhất trên thế giới, với khoảng 60% dân số thế giới
sống tại các quốc gia được điều hành bởi hệ thống luật này.
Sự khác biệt quan
trọng nhất của hệ thống luật này với thông luật hay luật Anh-Mỹ, là thông
thường thì chỉ có các quy định trong các đạo luật mới được coi là có giá trị
ràng buộc pháp lý mà không phải là các tiền lệ, ngoại trừ các trường hợp tương
tự đã được phán quyết tại tòa án tối cao. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử đối
với các trường hợp tương tự thì các tòa án thông thường theo các phán quyết
trước đây của mình. Ngoài ra, tại một số hệ thống luật pháp theo hệ thống luật
châu Âu lục địa (chẳng hạn tại Đức), các văn bản của các học giả pháp lý cũng
có ảnh hưởng đáng kể tại tòa.
Trong phần lớn
các chế định pháp lý thì lĩnh vực hạt nhân của luật tư được pháp điển hóa trong
dạng luật dân sự, nhưng trong một số trường hợp, chẳng hạn tại Scotland thì
chúng không được pháp điển hóa. Hệ thống luật châu Âu lục địa có nguồn gốc từ
Luật La Mã, đã được các học giả và các tòa án kế tục và sử dụng từ cuối thời kỳ
Trung cổ trở đi. Phần lớn các hệ thống pháp lý ngày nay có nguồn gốc từ xu
hướng pháp điển hóa trong thế kỷ 19. Luật dân sự của nhiều quốc gia, cụ thể là
tại các thuộc địa cũ của Pháp và Tây Ban Nha có các vết tích từ bộ luật
Napoleon trong nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, điều này không đúng đối với phần lớn
các quốc gia trong khu vực Trung và Đông Âu, Scandinavia và Đông Á. Đáng chú ý
là Bộ Luật Dân sự của Đức BGB đã được phát triển từ luật La Mã với sự tham chiếu
tới các tập quán pháp lý của Đức và có ảnh hưởng quyết định tới sự đi theo dân
luật tại các quốc gia khác.
Tầm quan trọng
của luật Napoléon cũng không nên cường điệu hóa quá mức do nó chỉ bao hàm một
số lĩnh vực cơ bản của luật tư, trong khi còn có các bộ luật khác điều chỉnh
các lĩnh vực như luật doanh nghiệp, luật hành chính, luật thuế và hiến pháp
v.v.
Thông luật/luật
Anh-Mỹ
Thông luật hay
luật Anh-Mỹ là một hệ thống pháp luật với hình thức pháp lý đặc thù là tiền lệ
pháp. Đó là pháp luật dựa trên các phán quyết tạo ra tiền lệ (stare decisis) từ
các vụ án trước đó. Hệ thống thông luật hiện nay được áp dụng tại Ireland, Anh,
Australia, New Zealand, Nam Phi, Canada (ngoại trừ Québec) và Hoa Kỳ (bang
Louisiana sử dụng cả thông luật và dân luật Napoleon). Ngoài ra, một số quốc
gia khác cũng áp dụng hệ thống thông luật trong một hệ thống hỗn hợp, chẳng hạn
như Pakistan, Ấn Độ và Nigeria chủ yếu áp dụng hệ thống thông luật, nhưng kết
hợp cả luật tôn giáo và tập quán pháp.
Tập quán pháp
Tập quán pháp là
những tập quán có ích sẵn có đối với một nhà nước mới được thành lập và được
nhà nước này thừa nhận làm pháp luật. Lưu ý là luật tập quán cũng có thể thích
hợp trong các phán quyết tại các hệ thống pháp lý khác trong những lĩnh vực hay
vụ việc mà các quy định pháp lý điều chỉnh lại không (hoặc chưa) tồn tại. Ví
dụ, tại Áo, các học giả luật tư thông thường cho rằng luật tập quán vẫn còn tồn
tại, trong khi các học giả luật công lại không công nhận điều này. Trong bất kỳ
trường hợp nào, rất khó để tìm các ví dụ thích hợp trong thực tế.
Luật tôn giáo
Bài chính: Luật
tôn giáo.
Nhiều quốc gia
xây dựng hệ thống pháp luật của mình trên cơ sở các nguyên lý tôn giáo. Hệ
thống có ảnh hưởng lớn nhất trong dạng này là Sharia, hay luật Hồi giáo.
Luật Do Thái
(Halakha), được tuân thủ bởi những người Do Thái Chính thống và Bảo thủ (trong
các dạng khác nhau đáng kể) đề cập cả các quan hệ có tính chất tôn giáo cũng
như dân luật. Tuy nhiên, không giống như Sharia, hiện nay không có quốc gia nào
có luật pháp tuân theo Halakha một cách đầy đủ.
Ở mức độ nhỏ hơn
thì hiện nay vẫn còn các khu vực trên thế giới áp dụng luật giáo hội, nó được
tuân thủ bởi những người theo Công giáo và Anh giáo, và hệ thống pháp lý tương
tự được sử dụng bởi Chính thống giáo Đông phương. Tuy nhiên, luật giáo hội Kitô
giáo ngày nay gần như chỉ để phân xử các quan hệ tôn giáo chứ không giống như
Sharia, trong đó nó liên quan tới cả dân luật (chẳng hạn các quyền về tài sản,
hợp đồng, công ty, hiệp hội và đền bù tổn thất) cũng như luật hành chính.
Các bộ phận của
luật
Trong nghĩa rộng,
các bộ phận của luật pháp có thể phân chia trên cơ sở bên nào là bên có tố
quyền. Một điều rất phổ biến là các lĩnh vực thực tế của áp dụng luật pháp có
thể bao trùm nhiều bộ phận của luật pháp.
Luật tư (luật dân sự)
Lĩnh vực của luật
tư (luật dân sự) là hệ thống pháp lý liên quan đến các bộ luật điều chỉnh các
quan hệ giữa các cá nhân hay pháp nhân (không nhà nước).
Luật tư có thể
coi như là luật dân sự mở rộng, nó không chỉ là hệ thống dân luật thịnh hành ở
nhiều quốc gia mà còn bao gồm cả những gì có trong đời sống pháp luật của một
cá nhân mà không có sự chi phối mạnh mẽ của Nhà nước như hôn nhân gia đình,
thừa kế, thương mại (nói chung là các lĩnh vực mà các bên liên quan thiết lập
theo thỏa thuận là chính).
Luật tư quốc tế
là sự mở rộng của luật tư để hướng dẫn cách xử sự, giải quyết các tranh chấp
giữa các cá nhân hay pháp nhân thuộc các hệ thống tư pháp khác nhau (xuyên quốc
gia). Nó bao gồm cả các hợp đồng thương mại như vận đơn (để vận chuyển) và các
quyền cá nhân v.v đến thừa kế tài sản. Các thành phần quan trọng của luật tư
quốc tế vẫn chưa được pháp điển hóa trong các điều khoản của các điều ước quốc
tế (chẳng hạn lex situs - địa điểm thích hợp của quyền sở hữu tài sản) nhưng
nói chung được công nhận tại các quốc gia và vì thế vẫn duy trì ở dạng luật tập
quán.
Ví dụ: Khi ông A
là người Việt Nam đi du lịch sang Hoa Kỳ, tại đây, chẳng may ông bị tai nạn
giao thông, đưa vào bệnh viện, trước khi qua đời ông di chúc miệng lại cho con
trai của ông đang ở Việt Nam tài sản là 100.000 USD mà ông đang gửi ở một ngân
hàng tại Thụy Sĩ. Như vậy luật pháp của nước nào sẽ được dùng để xử lý di chúc
này, đó là một trong rất nhiều lĩnh vực mà Luật tư quốc tế điều chỉnh.
Khi mà các quy
định của luật tư quốc tế khác với các luật tư quốc gia thì ở đó tồn tại mâu
thuẫn luật.
Luật công
Trong nghĩa chung
nhất thì lĩnh vực của luật công là các sắc luật trong hệ thống luật pháp đang
đề cập tới nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức nhà nước ở các cấp độ
khác nhau, cũng như điều chỉnh các tranh chấp giữa tổ chức nhà nước với các cá
nhân, pháp nhân khác (phi-nhà nước) trong phạm vi quốc gia đó. Các tổ chức nhà
nước sử dụng tố quyền để khởi kiện các cá nhân vì các vi phạm hình sự cũng như
các cá nhân/pháp nhân vì các vi phạm luật pháp khác. Luật công có thể chia
thành 3 tiểu thể loại: hiến pháp, luật hành chính và luật hình sự.
Tương tự, các cá
nhân/pháp nhân cũng có thể khởi kiện các cơ quan, tổ chức nhà nước (công quyền)
vì các tổn thất mà các tổ chức nhà nước đã gây ra cho họ. Nó bao gồm các nền tảng
trên cơ sở các quy định, sắc luật được đưa ra vượt quá khả năng của họ hay dẫn
đến các vi phạm các quyền cá nhân. Hai điểm đang đề cập này thông thường được
bảo vệ bởi hiến pháp của quốc gia đó.
Luật tố tụng
Luật tố tụng là
lĩnh vực của luật pháp điều chỉnh quy trình tiến hành vụ việc pháp lý. Nó bao
gồm các quy trình như ai có thể có quyền đệ đơn tới tòa, đệ đơn ra tòa như thế
nào, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh tụng. Luật tố tụng
thường được coi như là luật "bổ trợ" do nó là các bộ luật liên quan
đến việc các bộ luật khác được áp dụng như thế nào. Thông thường, nó bao gồm
các quy định tố tụng dân sự và hình sự, nhưng nó có thể bao gồm cả luật điều
chỉnh bằng cứ, trong đó xác định cách thức như thế nào được phép sử dụng để xác
nhận chứng cứ, cũng như luật liên quan đến các phương thức khắc phục hậu quả.
Luật hình sự
Khái niệm luật
hình sự nói về những luật có chung tính chất là đề ra những hình phạt riêng
biệt và nặng nề hơn bình thường nếu phạm vào. Tùy theo loại tội và thẩm quyền,
sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị
phạt vạ. Những tội cổ xưa như sát nhân (giết người), phản quốc.v.v. luật hình
sự nơi nào cũng có. Nhưng cũng có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà
nước khác thì không. Ngay cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về
ranh giới giữa dân sự và hình sự. Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố
bởi chính quyền, không giống như luật dân sự thường được tiến hành khởi tố bởi
người dân hay các pháp nhân khác.
Luật quốc tế
Luật quốc tế điều
chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia, các thực thể quốc tế chưa đầy đủ,lãnh thổ
hoặc vùng lãnh thổ. Hay giữa các công dân của các quốc gia khác nhau cũng như
giữa các tổ chức quốc tế. Hai nguồn cơ bản của luật quốc tế là các luật tập
quán và các điều ước quốc tế.
Triết học luật
pháp
Triết học luật
pháp thường được coi như là lý thuyết pháp lý. Lý thuyết pháp lý quy phạm thực
chất là triết học chính trị, và đặt vấn đề là: "luật nên là gì?",
trong khi đó lý thuyết pháp lý phân tích đặt câu hỏi là "luật là
gì?". Câu trả lời theo chủ nghĩa công lợi của John Austin là luật là
"những mệnh lệnh, được bảo đảm bằng sự đe dọa trừng phạt, từ một ông vua,
cho những người có thói quen phục tùng". Mặt khác, những luật gia theo
trường phái tự nhiên, như là Jean-Jacques Rousseau, chỉ ra là luật thực chất
phản ánh đạo đức và những luật tự nhiên không thể thay đổi. Quan niệm
"luật tự nhiên" xuất hiện trong triết học Hy Lạp cổ đại và gắn liền
với khái niệm về công lý, và tái xuất trong dòng chảy văn hóa Phương Tây
Quy luật : Quan hệ không đổi, được biểu thị dưới dạng công thức khái quát,
giữa nhiều hiện tượng hoặc nhóm hiện tượng.
Quy luật xã hội.
Quy luật xã hội
là quy luật hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình. Vậy ta có thể
nhận diện những đặc điểm của loại quy luật này theo những tính chất nào?
Hoạt động của con
người chỉ có thể diễn ra trong các mối quan hệ xã hội, trong sự tác động giữa
con người với nhau và giữa con người với tự nhiên.
I. Định nghĩa
Quy luật xã hội
là những mối liên hệ khách quan, tất yếu và phổ biến giữa các hiện tượng và các
quá trình xã hội.
Loại quy luật này
trước tiên phải mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của quy luật nói chung, đồng
thời nó cũng có những quy luật riêng có của mình.
II. Đặc điểm
chung
Cũng giống như
quy luật tự nhiên, quy luật xã hội có tính khách quan, tính tất yếu và tính phổ
biến.
1. Tính khách
quan
Tuy quy luật xã
hội được biểu hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người nhưng nó không
phụ thuộc vào ý thức, ý chí của bất kỳ của một cá nhân hay một lực lượng xã hội
nào.
Bởi vì bằng hoạt
động thực tiễn, con người tạo ra xã hội, làm nên lịch sử. Song, những hoạt động
của con người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất
định, trong những mối quan hệ nhất định giữa người với người và giữa người với
giới tự nhiên. Mà những điều kiện và những mối quan hệ đó là khách quan đối với
mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích
của bản thân mình.
Quy luật xã hội
thường được biểu hiện ra như là những xu hướng, mang tính xu hướng. Những mối
liên hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người và người tạo ra
những hoạt động khác nhau trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó
tạo thành xu hướng vận động của lịch sử, trong đó, lực hoạt động của khối đông
chiếm ưu thế.
Điều đó có nghĩa
là, mặc dù hoạt động của con người biểu thị cho rất nhiều ý muốn, mục đích của
nhiều con người khác nhau, những ý muốn và mục đích đó luôn chồng chéo nhau,
thậm chí đối lập nhau, nhưng quy luật xã hội chỉ phản ánh những ý muốn, những
mục đích của khối đông người, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của
lịch sử. Xu hướng này là khách quan, không thế lực nào có thể điều khiển được.
2. Tính tất yếu
và tính phổ biến
Những mối quan hệ
của con người trong xã hội được hình thành một cách tất yếu và phổ biến nhằm để
thảo mãn nhu cầu sống của con người, nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội.
Do đó, quy luật xã hội mang tính tất yếu và phổ biến.
Quan hệ của con
người trong xã hội có nhiều cấp độ khác nhau:
– Loại quan hệ xã
hội tồn tại phổ biến cho mọi hình thái kinh tế – xã hội, như:
+ Quan hệ giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất;
+ Quan hệ giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội;
+ Quan hệ giữa
kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng…
Những quy luật phản
ánh các mối quan hệ này hoạt động ở mọi hình thái xã hội, chẳng hạn như quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã
hội…
– Loại quan hệ xã
hội chỉ tồn tại trong một số hình thái xã hội: Như quan hệ giai cấp, quan hệ
dân tộc, quan hệ gia đình…
– Loại quan hệ xã
hội chỉ riêng có ở một hình thức xã hội nhất định như: Quan hệ giữa chủ nô và
nô lệ, quan hệ giữa địa chủ và nông dân (nông nô), quan hệ giữa tư sản và vô
sản…
– Loại quan hệ xã
hội dành riêng cho từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa…: Như
quan hệ giữa các đảng phái chính trị, quan hệ buôn bán thương mại, quan hệ đạo
đức, tôn giáo, pháp luật…
Tùy thuộc vào mức
độ quan trọng và phổ biến của các mối quan hệ xã hội mà các quy luật thể hiện
chúng cũng có mức độ tất yếu và phổ biến khác nhau.
III. Đặc điểm
riêng của quy luật xã hội
Bên cạnh những
đặc điểm của quy luật nói chung đã trình bày ở trên, quy luật xã hội
còn những đặc điểm riêng như sau:
1. Tồn tại và tác
động trong những điều kiện nhất định.
– Khi những điều
kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội bị xóa bỏ thì quy luật cũng không còn
tồn tại.
Ví dụ: Đấu tranh
giai cấp là một trong những động lực của lịch sử, là quy luật của các xã hội có
sự đối kháng giai cấp. Quy luật đấu tranh giai cấp đó sẽ chấm dứt hoạt động khi
xã hội chấm dứt hoàn toàn sự phân chia thành những giai cấp đối kháng.
– Hình thức biểu
hiện sự tác động của các quy luật xã hội thường bị biến dạng nhiều do hoàn cảnh
lịch sử của từng giai đoạn, từng thời đại, từng nước khác nhau và còn tùy thuộc
vào trạng thái phát triển của các quan hệ xã hội. Các quy luật này thể hiện một
cách rõ rệt khi các quan hệ xã hội vốn có của nó đạt đến trình độ chín muồi nhất
định.
Chẳng hạn như:
Quy luật giá trị thặng dư – quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa, được C. Mác phát hiện ra khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ
cao, nó phản ánh một cách sâu sắc và đầy đủ nhất mối quan hệ cơ bản trong xã
hội tư bản chủ nghĩa.
– Sự tác động của
quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người.
Động lực cơ bản
thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ
thể hoạt động. Do vậy, lợi ích trở thành một yếu tố quan trọng trong cơ chế
hoạt động của quy luật xã hội và trong sự nhận thức của con người về nó.
Điều đó không làm
mất đi tính khách quan vốn có của quy luật xã hội. Bởi vì tuy hoạt động của con
người bao giờ cũng nhằm theo đuổi những lợi ích và mục đích khác nhau, nhưng
kết quả tác động của quy luật xã hội lại không phụ thuộc vào ý muốn của từng cá
nhân mà hướng đến ưu trội của khối đông người đó.
Ví thế, lợi ích
nói đến ở đây không thể nào là lợi ích cá nhân, mà phải là lợi ích của cộng
đồng, của giải cấp…
2. Để nhận thức
được quy luật xã hội cần phải có phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa
rất cao.
– Bởi vì, sự biểu
hiện và tác động của quy luật xã hội thường diễn ra trong một thời gian rất
lâu, có khi là suốt quá trình lịch sử. Do đó, ta không thể dùng thực nghiệm để
kiểm tra như những quy luật của tự nhiên, cũng không thể dùng lối suy diễn
lô-gíc một cách đơn thuần.
Như C. Mác đã
viết: “Khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển
vi hay những chất phản ứng hóa học được. Sức trừu tượng hóa phải thay thế cho
cả hai cái đó”.
– Để nhận thức
những quy luật xã hội cần phải nghiên cứu những nguyên nhân thúc đẩy sự vận
động và phát triển của xã hội. Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động của con người là
một chuỗi nhân quả xã hội:
Hoàn cảnh bên
ngoài (bao gồm những điều kiện khách quan, quan trọng nhất là điều kiện kinh
tế) – Nhu cầu – Lợi ích – Mục đích (động cơ tư tưởng) – Hoạt động thực nghiệm
mục đích.
Trong chuỗi nhân
quả trên, nhu cầu và lợi ích giữ vai trò rất quan trọng. Đó là khâu đầu tiên
phản ánh và chuyển hóa những yêu cầu khách quan bên ngoài thành hành động tư
tưởng bên trong thúc đẩy con người hoạt động.
Vì vậy, nhu cầu
và lợi ích là nguồn gốc, là động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động và
do đó, cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội.
– Quy luật xã hội
và quy luật tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động của con người.
Vì con người
không chỉ tồn tại trong môi trường xã hội, mà còn tồn tại trong môi trường tự
nhiên. Hoạt động của con người không chỉ tuân theo quy luật xã hội mà còn phụ
thuộc vào những quy luật tự nhiên.
– Nhận thức và
vận dụng được quy luật, con người sẽ có tự do.
Quy luật xã hội
mang tính tất yếu khách quan. Dù con người có nhận thức được hay không, có tự
giác vận dụng hay không, thì quy luật xã hội vẫn luôn tác động ngoài ý chí của
con người.
Khi con người
chưa nhận thức và chưa vận dụng được quy luật thì chúng tác động như một lực
lượng tự phát và biến con người thành nô lệ của tính tất yếu.
Khi con người
nhận thức được quy luật khách quan và những điều kiện hoạt động của chúng để
vận dụng vào hoạt động có mục đích, thì con người làm chủ được tính tất yếu,
nghĩa là con người đạt đến tự do.
Như vậy, tự do
không có nghĩa là hành động tùy tiện, bất chấp quy luật. Trái lại, tự đó là
nhận thức được quy luật và làm theo quy luật.
– Tự do là sản
phẩm của sự phát triển lịch sử. Ở giai đoạn sơ khai của lịch sử, con người là
nô lệ của tính mù quáng ngự trị trong giới tự nhiên.
Khi xuất hiện chế
độ tư hữu, hình thành xã hội có giai cấp, thì đồng thời với sự lệ thuộc vào
giới tự nhiên, con người chịu thêm sự ràng buộc của các quan hệ xã hội, trước
hết là quan hệ sản xuất.
Quá trình phát
triển của xã hội cũng là quá trình con người từng bước vươn tới tự do. Đến xã
hội cộng sản chủ nghĩa, mà xã hội xã hội chủ nghĩa là giai đoạn đầu, con người
được giải phóng khỏi mọi áp bức bóc lột, con người mới thật sự làm chủ tự
nhiên, xã hội và bản thân, trở thành con người thực sự tự do.
Quy luật tình cảm
Phân tích các quy
luật của đời sống tình cảm? Từ đó nêu ra ứng dụng của các quy luật đó vào đời
sống
Học Tập Suốt Đời
Đời sống tình cảm
vô cùng phong phú và đa dạng.
Khái niệm tình
cảm: Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ.
Có 6 quy luật
tình cảm: quy luật thích ứng, quy luật lây lan, quy luật di chuyển, quy luật
tương phản, quy luật pha trộn và quy luật về sự hình thành tình cảm.
1.Quy luật thích
ứng: Một xúc cảm, tình cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách
không thay đổi thì cuối cùng sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống. Đó là hiện tượng
“chai sạn” tình cảm.
Biểu hiện: “Gần
thường xa thương”
Dao năng mài thì
sắc, người năng chào thì quen.
“ Sự xa cách đối
với tình yêu giống như gió với lửa,gió sẽ dập tắt những tia lửa nhỏ,nhưng lai
đốt cháy,bùng nổ những tia lửa lớn”
(Ngạn ngữ Nga)
Ví dụ: Một người
thân của chúng ta đột ngột qua đời,làm cho ta và gia đình đau khổ,vất vả,nhớ
nhung … nhưng năm tháng và thời gian cũng lui dần vào dĩ vãng,ta cũng phải
nguôi dần …để sống.
Ứng dụng: Tránh
thích ứng và tập thích ứng
Biết trân trọng
những gì mình đang có .
Trong đời sống
hằng ngày qui luật này được ứng dụng như phương pháp “lấy độc trị độc” học
sinh.
Ví dụ: Hoa là một
học sinh nhút nhát,luôn rụt rè trước mọi người.Mỗi lần bị giáo viên gọi dậy trả
lời câu hỏi,Hoa đều tỏ ra lúng túng và đỏ mặt.Nhưng một thời gian sau,việc Hoa
luôn phải đứng dậy trả lời lặp đi lặp lại nhiều lần và nhờ sự khuyến khích động
viên của bạn bè thầy cô thì Hoa đã tự tin trả lời những câu hỏi trước lớp.
2. Quy luật lây
lan: Xúc cảm, tình cảm của người này có thể truyền, lây sang người
khác
Biểu hiện: Vui
lây,buồn lây,đồng cảm
Một con ngựa đau
cả tàu bỏ cỏ
Niềm vui nhân
đôi, nỗi buồn sẻ nửa
Ví dụ: An vừa
nhận được giấy báo nhập học.An vô cùng sung sướng,vui mừng.An thông báo cho bố
mẹ và bạn bè của mình.Sự vui vẻ của An đã tạo nên không khí thoải mái,vui mừng
cho mọi người xung quanh.
Ứng dụng: Các
hoạt động tập thể của con người.Đây là cơ sở tạo ra các phong trào,hoạt động
mang tính tập thể.
Ví dụ: Ba lớp :
Kinh tế-Tài chính-Đô thị cùng chung một lớp.Lúc đầu mỗi thành viên của 3 lớp
luôn tự đặt cho mình một khoảng cách.Nhưng khi 3 lớp trưởng đều là những người
biết quan tâm,giúp đỡ,hòa đồng với tất cả các thành viên không phân biệt lớp
nào đã tạo cho lớp không khí vui vẻ đoàn kết.
3. Quy luật tương
phản: Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm,sự xuất
hiện hoặc suy yếu của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm của một hiện
tượng khác diễn ra đồng thời.
Biểu hiện: Càng
yêu nước càng căm thù giặc
“Ngọt bùi nhớ lúc
đắng cay”
Mai sau anh gặp
người đẹp
Đẹp hơn người cũ
anh thời quên tôi.
Ví dụ: Khi chấm
bài,sau một loạt bài kém,gặp một bài khá,giáo viên thấy hài lòng .Bình thường
bài khá này chỉ đạt điểm 7 nhưng trong hoàn cảnh này giáo viên sẽ cho điểm 9.
Ứng dụng: Trong
dạy học,giáo dục tư tưởng,tình cảm người ta sử dụng quy luật này như một biện
pháp “ôn nghèo nhớ khổ,ôn cố tri ân” và nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện
chính diện.
Cần có cái nhìn
khách quan hơn
Trong nghệ
thuật,quy luật này là cơ sở để xây dựng các tình tiết gây cấn,đẩy cao mâu
thuẫn.
Ví dụ: Càng yêu
mến nhân vật Bạch Tuyết hiền lành thì càng căm ghét mụ hoàng hậu độc ác .
4. Quy luật di
chuyển: Là hiện tượng tình cảm, cảm xúc có thể di chuyển từ người
này sang người khác.
Biểu hiện: “Giận
cá chém thớt”
“Yêu nhau yêu cả
đường đi
Ghét nhau ghét cả
tông ti họ hàng”
Ví dụ: Hương đang
tập trung làm một bài tập rất khó,áp lực tâm lí đang đè lên người cô.Lúc này cô
cần sự yên tĩnh nhưng Hạnh vô tình đã hỏi cô liên tục một câu hỏi.Hương cảm
thấy khó chịu và cáu gắt với Hạnh cho dù Hạnh không thực sự có lỗi.
Ứng dụng: Kiềm
chế cảm xúc và tránh hiện tượng vơ đũa cả nắm.
Tránh thiên vị
trong đánh giá “yêu tốt ghét xấu”
Ví dụ: Giáo viên
phải luôn là một người khách quan,công bằng khi chấm bài.
5. Quy luật pha
trộn: Trong đời sống tình cảm của con người,nhiều khi hai tình
cảm đối cực nhau,có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau,chúng pha
trộn vào nhau.
Biểu hiện: “Giận
mà thương,thương mà giận”
“Cái gì càng khó
khăn gian khổ mới đạt được thì khi đạt được ta càng tự hào”
Ví dụ: Thanh yêu
Lợi,cô luôn muốn Lợi ở bên cạnh cô,quan tâm chăm sóc cô.Nhưng khi cô thấy Lợi
có một cử chỉ thân mật hay một hành động quan tâm tới một người con gái khác
thì Thanh tỏ ra khó chịu ghen tuông.
Ứng dụng: Đời
sống tình cảm đầy mâu thuẫn, phức tạp vì vậy cần phải biết quy luật này để
thông cảm, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình.
Giáo viên phải
nghiêm khắc trên tinh thần thương yêu học sinh.
Ví dụ: Giáo viên
phải luôn là một người khách quan công bằng.Khi chấm bài,không vì sự yêu mến
học trò này mà cho điểm cao và không có cảm tình với học trò kia nên cho điểm
thấp.Phải nhìn vào kết quả học sinh đó làm được để đánh giá.
6. Quy luật về sự
hình thành tình cảm: Xúc cảm là cơ sở
của tình cảm,tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại,chúng được
động hình hóa,tổng hợp hóa và khái quát hóa mà thành
Tổng hợp hóa :là
quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rồi nhờ sự phân
tích thành một chỉnh thể.
Động hình hóa: là
khả năng làm sống lại một phản xạ hoặc một chuỗi phản xạ đã được hình thành từ
trước
Khái quát hóa :là
quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một
loại theo những thuộc tính, những liên hệ , quan hệ chung nhất định.
Biểu hiện: Năng
mưa thì giếng năng đầy.
Anh năng đi lại
mẹ thầy năng thương .
Lửa gần rơm lâu
ngày cũng bén.
Mưa dầm thấm đất
.
Đẹp trai không
bằng chai mặt .
Ví dụ: Tình cảm
của con cái đối với bố mẹ là cảm xúc thường xuyên xuất hiện do liên tục được bố
mẹ yêu thương,thỏa mãn nhu cầu, dần dần được tổng hợp hóa, động hình hóa và
khái quát hóa mà thành.
Ứng dụng: Muốn
hình thành tình cảm cho học sinh phải đi từ xúc cảm đồng loại.
Ví dụ: Xây dựng
tình yêu Tổ quốc phải xuất phát từ tình yêu gia đình,mái nhà,làng xóm.
Kết luận: Nếu
không có các quy luật đời sống tình cảm thì sẽ khó hình thành nên tình cảm hoặc
gây ra hiện tượng “ đói tình cảm” làm cho toàn bộ hoạt động sống của con người
không thể phát triển bình thường.
Đời sống tình cảm
rất phong phú,đa dạng và phức tạp chính vì vậy chúng ta phải nắm bắt được tình
cảm của bản thân.
Tham gia nhiều
hoạt động để nắm bắt được đời sống tình cảm của mọi người.
Tạo môi trường
thuận lợi để phát triển toàn diện về mặt tình cảm.
TƯ DUY
Con người khác
con vật ở chỗ biết Tư duy. Nên hãy dùng Tư duy trong cuộc sống hàng ngày. Có Tư
duy để đưa ra lựa chọn đúng đắn, ta sẽ ít gặp những vấp váp và sai lầm trên
đường đời nhiều chông gai.
1. Các giai đoạn
của tư duy
a,Nhận thức vấn
đề
b,Xuất hiện các
liên tưởng
c,Sàng lọc liên
tưởng và hình thành giả thuyết
d,Kiểm tra giả
thuyết
e1, Chính xác hóa
- Khẳng định - Giải quyết vấn đề
e2, > Phủ định
- Hành động tư duy mới
2. Các thao tác
tư duy
a. Phân tích-Tổng
hợp
– Phân tích: Là
hoạt động trí tuệ phân chia đối tượng thành những bộ phận, những thuộc tính,
các quan hệ khác nhau theo một hướng nhất định.
– Tổng hợp: Là
quá trình kết hợp những thuộc tính, quan hệ…mà ta đã tách ra do quá trình phân
tích thành một chỉnh thể thống nhất.
Phân tích và tổng
hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, phân tích được tiến hành trên cơ sở tổng
hợp và tổng hợp được thực hiện trên kết quả của phân tích.
b. So sánh:
Là sự xác định sự
giống nhau hay khác nhau, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật hiện
tượng. Thao tác này cũng có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. So sánh
là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy. Nhờ có sự so sánh các sự vật hiện
tượng với nhau mà ta có thể lĩnh hội các tài liệu học tập với tất cả tính đa
dạng độc đáo và phức tạp của chúng.
c. Trừu tượng hóa
và khái quát hóa
– Trừu tượng hóa:
Là quá trình gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính, quan hệ không cần
thiết chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.
– Khái quát hóa:
Là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau trên cơ sở có
một số thuộc tính giống nhau nào đó.
Nhưng ta cũng cần
phân biệt những thuộc tính chung gồm có hai loại: những thuộc tính chung giống
nhau và những thuộc tính chung là những thuộc tính bản chất. Vì vậy, nếu khái
quát hóa chỉ dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau thì dễ dẫn đến sai lầm.
Ví dụ: Một số học sinh đã sai lầm khi xếp cá voi vào loài cá…
Trừu tượng hóa và
khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau. Muốn khái quát hóa đối tượng thì ta
phải trừu tượng hóa những dấu hiệu không bản chất. Khái quát hóa chính là sự
tổng hợp ở mức độ cao.
d. Cụ thể hóa:
Là sự vận dụng
những khái niệm, định luật, quy tắc đã được khái quát hóa vào hoạt động thực
tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.
Trong quá trình
tư duy các thao tác tư duy có quan hệ mật thiết với nhau, chúng thống nhất với
nhau theo một hướng nhất định để giải quyết các nhiệm vụ của tư duy. Việc thực
hiện các thao tác tư duy có thể không tuân theo một thứ tự nhất định và cũng
không nhất thiết phải sử dụng tất cả các thao tác trong một quá trình tư duy.
SAI LỆCH HÀNH VI NHÂN CÁCH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH
- Đại đa số hành
vi của cá nhân trong cộng đồng có hành vi tương tự nhau, được lặp đi lặp lại
giống nhau trong những tình huống cụ thể xác định, thì hành vi đó là hành vi
phù hợp. Những hành vi nào khác lạ thì được coi là lệch chuẩn
- Chuẩn mực xã
hội đó là những quy tắc, những yêu cầu xã hội đối với cá nhân, các quy tắc, các
yêu cầu này có thể ghi thành văn bản, đạo luật, điều luật, điều lệ, văn bản
pháp quy, hoặc là những yêu cầu có tính ước lệ trong một cộng đồng nào đó mà
mọi người thừa nhận
- Các loại chuẩn
mực: Pháp luật, Đạo đức, Phong tục truyền thống, Thẩm mỹ, Chính trị
- Khắc phục sai
lệch của người khác:
+ Cung cấp những
hiểu biết về chuẩn mực/ Tuyên truyền giáo dục để ngăn chặn
+ Phân tích, giải
thích, thuyết phục để họ hiểu đúng và chấp nhận/ Người có bệnh lý cần cho họ
tiếp xúc nhiều hoặc nhờ chuyên gia y tế.
+ Hình thành thái
độ tích cực ủng hộ các hành vi phù hợp, lên án hành vi không phù hợp/ Tăng
cường việc hướng dẫn hành vi nhất là đối với thành viên mới, thế hệ trẻ/ Cộng
đồng cần có sự điều chỉnh những chuẩn mực không phù hợp hoặc chưa rõ ràng
+ Biện pháp trừng
phạt bằng hành chính, luật pháp
- Khắc phục sai
lệch của chính mình:
+ Cá nhân phải tự
ý thức hành vi của bản thân
+ Trau dồi đạo
đức cá nhân
+ Lắng nghe đóng
góp của bạn bè, người thân, cộng đồng
+ Nhờ người khác
giúp đỡ để tăng cường điều chỉnh hành vi
+ Chấp nhận hình
phạt, từ đó thay đổi.
Trong Tâm lý học,
người ta xem tình cảm là mặt tập trung nhất, đậm nét nhất của nhân cách con
người. Tình cảm có quan hệ và chi phối toàn bộ các thuộc tính tâm lý của nhân
cách (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin), là điều kiện và động lực để hình
thành năng lực của con người.
Xúc cảm là trạng
thái tâm lý xảy ra ngay lập tức tại thời điểm diễn ra sự kiện, từ những xúc cảm
này sẽ hình thành nên tình cảm.
CÁC QUY LUẬT CỦA XÚC CẢM/TÌNH CẢM
* Quy luật thích
ứng
Tình cảm lặp đi
lặp lại nhiều lần tạo nên sự thích ứng
* Quy luật “tương
phản”
Trong quá trình
hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc sự suy yếu đi của một tình
cảm này có thể làm tăng hoặc giảm của một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc
nối tiếp với nó.
* Quy luật “pha
trộn”
Trong đời sống
tình cảm của con người cụ thể, nhiều khi 2 tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra
cùng một lúc, nhưng không loại trừ nhau chúng “pha trộn” vào nhau.
*Quy luật “di
chuyển”
Xúc cảm, tình cảm
của con người có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác
* Quy luật “lây
lan”
Xúc cảm tình cảm
có thể truyền lây từ người này sang người khác.
* Quy luật về sự
hình thành tình cảm
Xúc cảm là cơ sở
của tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa
và khái quát hóa những xúc cảm cùng loại.
Tình cảm được
hình thành từ xúc cảm, nhưng khi hình thành thì tình cảm lại thể hiện quan xúc
cảm và chi phối xúc cảm.
NHÂN CÁCH
Nhân cách là một
tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc
và giá trị xã hội của con người.
Hai thành phần
cốt yếu để tạo nên nhân cách của một con người là ĐỨC và TÀI
Đức - hệ thống chuẩn
mực đạo đức xã hội
Tài - những khả
năng của cá nhân
- Giáo dục giữ
vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy, ta có
thể vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Thông qua
giáo dục thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau lĩnh hội, tiếp thu nền văn hóa
xã hội- lịch sử. Phát huy tối đa các mặt mạnh, các yếu tố chi phối sự phát
triển nhân cách. Có thể uốn nắn sai lệch. Muốn có một nhân cách tốt, phải được
thụ hưởng một sự giáo dục tốt.
- Hoạt động là
nhân tố tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự hình
thành và phát triển nhân cách. Thông qua hoạt động mà nhân cách được hình thành
và bộc lộ. Sự hình thành nhân cách phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời
kỳ nhất định. Do đó bản thân phải tích cực hoạt động để phát triển nhân cách cá
nhân.
- Giao tiếp là
điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người, là nhu cầu cơ bản xuất hiện
sớm nhất ở con người. Nhờ GT con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh
hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực. Mặt khác đóng góp tài lực vào kho tàng nhân
loại. Qua GT con người nhận thức người khác và nhận thức bản thân mình. Là điều
kiện cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy phải biết
"chọn bạn mà chơi".
- Tập thể là điều
kiện, môi trường để hình thành và phát triển nhân cách, nên muốn trở thành con
người như thế nào thì phải tìm đến môi trường tập thể (trường, lớp, nhóm bạn)
như vậy.
- Cá nhân cần tự
ý thức để tự hoàn thiện nhân cách.
TƯỞNG TƯỢNG
Trong những
trường hợp không đủ dữ liệu để tư duy có thể giải quyết vấn đề, người ta mượn
đến tưởng tượng. Tưởng tượng cần thiết cho hoạt động của con người vì nó cho
phép hình dung được kết quả sẽ đạt được, vượt thoát được mọi rào cản trong cuộc
sống.
Hình ảnh của
tưởng tượng được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau, dưới đây là những cách cơ
bản nhất:
1.Thay đổi kích
thước, số lượng (của sự vật hay của các thành phần của sự vật) VD: Người khổng
lồ, Phật trăm mắt ngàn tay...
2. Nhấn mạnh (chi
tiết, thành phần, thuộc tính): Bigfoot, Sọ Dừa
3. Chắp ghép (kết
dính) giữ nguyên và ghép lại với nhau VD: con rồng, nàng tiên cá
4. Liên hợp: tạo
ra hình ảnh mới bằng việc liên hợp các bộ phận của nhiều sự vật khác nhau trong
một tương quan mới hợp lý. VD: thủy phi cơ
5. Điển hình hóa:
tổng hợp những đặc điểm chung tạo thành một hình ảnh biểu tượng mới. VD; bà mẹ
VN anh hùng, Sở Khanh...
6. Loại suy: tạo
ra công cụ lao động theo sự tương tự của thao tác lao động từ đôi tay con
người. VD: cái móc, cái cào...
Quy luật lịch sử.
Hegel – nhà triết
học duy tâm danh tiếng người Đức từng ám chỉ xã hội phong kiến vương quốc Phổ
hồi thế kỷ 18 bằng mệnh đề nổi tiếng:
“Hợp lý là tồn
tại, tồn tại là hợp lý”.
Ông chán ghét sự
mục nát của thời cuộc nhưng không thể bắn vào đó bằng súng đại bác.
Tất cả những gì
hậu thế, kể cả K.Marx biết và tiếp thu Hegel đều qua hệ thống tư tưởng được coi
là “rối rắm”, “tư biện” “lộn ngược đầu xuống đất” của ông.
Người Việt tuy
chưa có triết học theo nghĩa Phương Tây (philosophia) nhưng vẫn tổng kết thực
tiễn thành triết lý vô cùng thâm sâu.
Cũng công kích
chế độ phong kiến, song (người Việt) còn thẳng thắn hơn nhiều, điển hình như
câu ca dao “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”.
Dù muốn hay không
vẫn phải thừa nhận rằng, chế độ phong kiến Việt Nam chỉ mới tan rã cách đây
đúng 72 năm sau ngày hoàng đế Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng và
tuyên bố:
“Trẫm thà làm dân
một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.
Lời nói của cựu
hoàng Bảo Đại chính là lời trăn trối cuối cùng cho cái mà Hegel từng ám chỉ chế
độ phong kiến Châu Âu.
Rằng nó không còn
hợp lý nên không có cơ sở để tồn tại.
Hơn 7 thập kỷ xây
dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tất cả chúng ta đều tưởng
rằng, câu ca dao ngày nào về chuyện “con vua”, “con sãi” đã hết vai trò lịch
sử.
Hạnh phúc của dân
tộc là gì?
Nhưng đó là nhận
xét có phần vội vàng.
Tuy nhiên, với
những người học Mác, Lênin… điều đó không khó giải thích.
Quan hệ sản xuất
“tàn dư” – vẫn dai dẳng tồn tại cho đến ngày nay, nó như một quy luật lịch sử
mặc dù chúng ta đang xây dựng quan hệ sản xuất kiểu mới – quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa.
Một trong những
“tàn dư” của tư tưởng cũ lạc hậu để lại là tình trạng “cả nhà làm quan”, “cả họ
làm quan” là “COCC”, các loại “ệ” là các thuật ngữ tưởng chỉ dùng trong khoa
học vũ trụ như “thần tốc’, “siêu tốc”, “bệ phóng”… kết quả của các loại “đúng
quy trình” – nói như đại thi hào Nguyễn Du: “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”.
Mười năm trở lại
đây là khoảng thời gian chứng kiến nhiều “quý tử” ngồi “tót” một cách khó hiểu.
Điều đó không
biết có mang lại diễm phúc gì cho dân tộc hay không hay chỉ làm nở rộ một rừng
dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước?
Từ Vũ Quang Hải ở
Sabeco, Vũ Minh Hoàng ở Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, cho đến Lê Phước Hoài Bảo ở
Quảng Nam, hotgirl Quỳnh Anh ở Thanh Hóa, Phan Kim Yến ở An Giang… cho đến
những pha “thủng lưới” khó tin như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng… khiến người
dân đặt câu hỏi: Đúng quy trình hay đúng “con vua” thua “con sãi”?
Vì sao những sai
phạm bổ nhiệm trên không rơi vào trường hợp nào chẳng “dây cà dây muống”.
Hay nói cách khác
chỉ có những con người vươn lên bằng thực tài mới không dính vào thứ quy trình
đang bị nghi ngờ là bảo bối của sai phạm!
Đó là quy luật
lịch sử, không hợp lý nên chẳng thể tồn tại.
Khách quan hơn,
nhìn rộng ra, không phải lúc nào, khi nào cũng phải “dây mơ rễ má” mới có đường
tiến thân.
Cái gì Dân muốn
thì Trời cũng phải thuận theo
Lịch sử phong
kiến cũng vậy, nhiều kỳ tài xuất chúng là “con sãi” như Lưỡng quốc trạng nguyên
Mạc Đỉnh Chi, Cao Bá Quát, Lê Quát, Chu Văn An hay gần hơn là Nguyễn Văn Vĩnh…
và vô vàn những nhân tài đất Việt thời nay không “con ông cháu cha”.
Quy luật lịch sử
rất công bằng, vì sao ngày nay người ta thường hay nhắc đến những danh nhân
lịch sử “chân đất” kể trên hơn là những “cậu ấm cô chiêu” chốn hoàng cung được
nối ngôi vua cha, vua chú ngồi trên đỉnh quyền lực?
Quyền lực, ghế
trên “ngồi tót”… tất cả chẳng là gì sau lớp bụi lịch sử được phủi sạch.
Bản thân “con ông
cháu cha” không tội lỗi gì cả, nếu “con ông cháu cha” lại làm lãnh đạo và cống
hiến tốt cho xã hội đó thực sự là “phúc của dân tộc” như một đại biểu quốc hội
đã nói.
Nhưng làm ở đây
là làm cho “con sãi” tâm phục khẩu phục, làm cho dân được nhờ, làm rạng danh
tên tuổi cha anh chứ không phải làm điều xằng bậy để dân tình ngao ngán.
Nên chăng, những
“cậu ấm”, “cô chiêu” “con vua” thời @ phải biết chạnh lòng trước những tấm
gương “con dân” đỗ đạt vang danh quốc tế.
Sao không lấy đó
làm gương mà cứ núp mình trong vỏ ốc quyền lực của cha anh chờ túm tóc, giật
đầu bỏ vào “bệ phóng” để vinh thân.
Há chăng như vậy
mới gọi là “phúc của dân tộc”.
Lâu nay, sau mỗi
kỳ thi Olympic quốc tế hay đại học, trên các trang báo lại tràn ngập tin, bài
về các tấm gương “con nhà nghèo học giỏi” như:
Bố mẹ sửa khóa
con giành huy chương vàng quốc tế; bố mẹ ăn xin nuôi con thi đỗ thủ khoa đại
học; sống 10 năm trong ống cống nuôi con thủ khoa đại học;
Bố mẹ phụ hồ con
trai đạt 2 huy chương vàng Olympic; bố lái xe, mẹ bán thịt bò, con đoạt Huy
chương vàng Vật lý quốc tế; học trò nghèo quê lúa giành Huy chương vàng Olympic
Toán Quốc tế…
Thừa thãi đúng
quy trình, hiếm hoi nhận trách nhiệm
Đến đây, có thể
rõ thế nào là họa, phúc của dân tộc.
Phúc của dân tộc
là “con vua” biết sống đời của “con dân”, họa của muôn dân là “con vua” làm
băng hoại uy tín, danh dự, sự nghiệp của cha ông mình.
Bằng việc lôi ra
ánh sáng một loạt “ông trẻ” ngồi tót sỗ sàng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang
xúc tác đúng chỗ cho quy luật lịch sử tiếp tục diễn tiến đúng nội hàm của nó.
Đó là thanh lọc
những thứ không hợp lý và bồi bổ cho những cái hợp lý trên con đường nó đi qua.
Đó là quy luật tồn tại vĩnh cửu của vũ trụ.
Có một thí nghiệm
trên chuột, thoạt đầu người ta cho chúng sống trong môi trường lý tưởng, dư dả
thức ăn nước uống.
Thời kỳ đầu chúng
phát triển sinh, sôi nảy nở rất nhanh. Nhưng qua vài thế hệ, bọn chuột bắt đầu
loạn hành vi, sinh bệnh tật, quay ra cắn giết nhau cuối cùng chỉ còn vài con.
Người ta thả một
vài con chuột đồng hoang dã vào, những con chuột quen sống sung túc lần lượt
chết vì thiếu khả năng cạnh tranh sinh tồn.
Chúng ta không
mong muốn cứ mãi mãi thủ khoa, huy chương quốc tế là “con nhà nghèo học giỏi”,
là “phu hồ”, “bán rau muống”… mà phải đến lúc bố mẹ của những thủ khoa, huy
chương vàng thay vì “sửa khóa”, “bán hàng rong” là một nhà khoa học giỏi, một
chuyên gia có tài, một lãnh đạo uy tín.
Chỉ dăm bảy
trường hợp “sỗ sàng” sai quy trình đã làm nghiêng ngả xã hội.
Điều đó cho thấy
dân chúng ngày nay đã biết thế nào là một nhà nước pháp quyền, thượng tôn luật
pháp.
Những người có
quyền hành nên xem đó là bài học kinh nghiệm xương máu, nếu không muốn người
dân quay lưng bất biết.
Chuyện “con sãi”,
“con vua” không phải chỉ xã hội phong kiến mới có, nó thuộc về bản chất của
loài người như cái ô xòe ra đương nhiên che cái cán.
Nhưng đó tuyệt
nhiên cũng không phải vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước kiểu mới.
Dưới lăng kính
của lịch sử, công tội phân minh.
Quy luật kinh tế
Các qui luật
kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường
xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.
Tính chất Qui
luật kinh tế
Qui luật kinh tế
có những tính chất sau:
- Cũng như các
qui luật khác, qui luật kinh tế là khách quan, nó xuất hiện, tồn tại
trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi các điều kiện
đó không còn; nó tồn tại độc lập ngoài ý chí con người.
Người ta không
thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát
hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt
động kinh tế của mình.
- Qui luật kinh
tế là qui luật xã hội, nên khác với các qui luật tự nhiên, qui luật
kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con
người.
Nếu nhận thức
đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược
lại sẽ phải chịu những tổn thất.
- Khác với các
qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật kinh tế có tính lịch sử,
chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Do đó, có thể
chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó là các qui luật kinh tế đặc
thù và các qui luật kinh tế chung.
Các qui luật
kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ tồn tại trong một
phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh tế chung tồn tại
trong một số phương thức sản xuất.
Ý nghĩa
Nghiên cứu qui
luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hiện tượng và quá
trình kinh tế đều chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế. Qui luật
kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.
Chính sách kinh
tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế và các qui luật khác vào
hoạt động kinh tế. Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả
kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế, và đáp
ứng được lợi ích kinh tế của con người.
Không hiểu
biết, vận dụng sai hoặc coi thường qui luật kinh tế sẽ không tránh
khỏi bệnh chủ quan, duy ý chí, chính sách kinh tế sẽ không đi vào
cuộc sống, thậm chí còn gây hậu quả khó lường
Các quy luật của kinh tế thị trường
a) Quy luật lưu
thông tiền tệ
Quy luật lưu
thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng
hóa ở mỗi thời kì nhất định .
Khi tiền mới chỉ
thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì số lượng tiền cần thiết cho
lưu thông được tính theo công thức :
M=P.Q/V
Trong đó :
M :là lượng tiền
cần thíêt cho lưu thông
P :là mức giá cả
Q :là khối lừợng
hàng hóa đem ra lưu thông
V: là số vòng
luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ
Tức :
M= Tổng giá cả
hàng hóa đem ra lưu thông / số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền
tệ
Khi tiền thực
hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số lượng cần thiết cho lưu thông
được xác định như sau :
b. Quy luật giá
trị
– Nội dung và yêu
cầu của quy luật giá trị :
Quy luật giá trị
là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Quy luật giá trị
yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó ,tức
trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết .
Trong sản xuất
quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá
biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết ,có như
vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay lưu thông phải thực hiện
theo nguyên tắc ngang giá .Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết
tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi mua bán hàng hóa phải thực hiện
với giá cả bằng gía trị .
Cơ chế tác động
của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị.
-Tác động của quy
luật giá trị
Trong nền sản
xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:
(+)Điều tiết sản
xuất và lưu thông hàng hóa :
Quy luật giá trị
điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất ,nếu như
một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa bán chạy và lãi cao
những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư thêm tư liệu sản xuất
và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng hóa khác nhau cũng có thể
chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu sản xúât và sức lao động ở
ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Thứ hai,nếu như
một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ vốn.Tình hình đó buộc
người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản
xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi
ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt
hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt
hàng này.
Như vậy quy luật
gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động
vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tác động điều
tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa
từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp phần làm cho hàng hóa
giữa các vùng có sự cân bằng nhất định .
(+)Kích thích cải
tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao động hạ giá thành sản
phẩm.
Các hàng hóa được
sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên thị trường thì các hàng
hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động cá biệt khác nhau
,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí
lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức hao phí
lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ đựơc nhiều
lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa
cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất ,cải tiến tổ chức quản lí ,thực hiền
tiết kịêm …nhằm tăng năng xuất lao động ,hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh
quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn.Nếu người sản
xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng xuất lao động
xã hội không ngừng tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
(+)Phân hóa những
người sản xuất hàng hóa thành giàu ,nghèo.
Những người sản
xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức lao động hao phí
xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết
sẽ thu được nhiều lãi ,giàu lên có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất ,mở rộng
sản xuất kinh doanh,thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.
Ngược lại những
người sản xuất hàng hóa nào có mức lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao
động xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ ,nghèo đi
,thậm chí có thể phá sản,trở thành lao động làm thuê.
Đây cũng chính là
một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất TBCN ,cơ sở ra đời
của CNTB. Như vậy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động
tiêu cực .Do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển ,nhà
nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của
nó ,đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
C.Cạnh tranh và
quan hệ cung cầu
– Cạnh tranh :
Cạnh tranh là sự
ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành
giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa
để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể
diễn ra giữa những người sản xuất và người tiêu dùng Trong cuộc cạnh tranh này
người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau .
Cạnh tranh có vai
trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản
xuất phát triển.Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động nhạy bén
,thường xuyên cải tiến kĩ thuật ,áp dụng tiến bộ khoa học,công nghệ nâng cao
tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu
quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành mạnh.Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh
tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ bảo thủ ,kém phát
triển.
Bên cạnh mặt tích
cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như
dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật nhằm thu được nhiều
lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến lợi ích của tập thể ,xã hội cộng đồng như
làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền tung tin phá hoại uy tín
đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau nghèo hoặc tổn hại đối với
môi trường sinh thái …
– Quan hệ cung
cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu
có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng không phải là nhu cầu bất
kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền tương ứng gọi là nhu cầu có
khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như :thu
nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi xuất thị hiếu của người tiêu dùng
…trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc biệt quan trọng .
(+)Cung là tổng
số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường
.Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng hóa .Như vậy cung do sản
xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng nhất với sản xuất .Ví
dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có khả năng đưa tới thị
trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ thuộc chủ yếu vào số
lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí sản xuất ,giá cả hàng hóa trong
đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng .
Cung và cầu có
quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu
.Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của cung về hàng hóa: hỉ có những hàng hóa nào
có cầu thì mới được sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều ,nhanh
nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngựơc lại .Đến lượt mình cung tác
động đến cầu ,kích thích cầu :những hàng hóa được sản xuất cung ứng phù hợp với
nhu cầu ,thị hiếu sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa thích hơn ,bán chạy
hơn ,làm cho cầu về chúng tăng lên .Vì vậy người sản xuất hàng hóa phải thường
xuyên nghiên cứu nhu cầu ,thị hiếu ,sở thích của người tiêu dùng ,dự đoán sự
thay đổi của cầu ,phát hiện các nhu cầu mới ..,để cải tiến chất lượng ,hình
thức mẫu mã cho phù hợp ;đồng thời phải quảng cáo để kích thích cầu ..
Cung- cầu không
chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả:
Khi cung = cầu ,
thì giá cả = giá trị
Khi cung > cầu
, thì giá cả < giá trị
Khi cung < cầu
, thì giá cả > giá trị
Đồng thời giá cả
cũng có tác động đến cung và cầu .Nhìn chung trong cơ chế thị trường khi không
có sự nhất trí giữa cung và cầu ,thì giá cả có tác động đìêu tíêt đưa cung và
cầu trở về xu hướng cân bằng nhau .Ví dụ :khi cung >cầu ,giá cả sẽ giảm
xuống ,khi giá cả gỉam thì cầu sẽ tăng lên ngược lại cung sẽ giảm dần và như
vậy cung và cầu lại trở về xu thế cân bằng .Đó cũng chính là cơ chế tự điều
chỉnh của nền kinh tế hàng hóa .
Như vậy chúng ta
thấy rằng :cạnh tranh,cung-cầu ,giá cả .gía trị là những yếu tố luôn đi liền
với nhau và cùng tác động đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Cần tham khảo
thêm:
quy luật kinh tế
thị trường
quy luật lưu
thông tiền tệ
kinh tế hàng hóa
tiêu cực
quy luật kinh tê
thi trường
phân tich quy
luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hóa
qui luật kttt?
quy luật khách
quan của kinh tế thị trường
Nhìn lại :
Nhân dịp đầu năm
dương lịch, Chúng ta ngồi lại để tổng hợp kiến thức cơ bản về các quy luật của
nền kinh tế thị trường theo góc nhìn của mình để mình biết rõ mà tuân theo. Có
thể khẳng định rằng thời buổi này bất cứ một hoạt động nào đều liên quan đến
tính kinh tế và đều phải tuân theo quy luật thị trường đầy đủ. Sẽ thật không
vui nếu một ngày nào đó chúng ta chịu thiệt chỉ vì biết rằng mình đã không tuân
thủ theo các quy luật của nền KT-TT
<->
Quy luật giá trị :
Mỗi một sp / dv
đều có giá trị và phải được định giá cụ thể thông qua giá cả. Hoạt động mua bán
trao đổi sẽ dựa trên tính chất win-win. Việc định giá sp / dv sẽ do thị trường
định đoạt (sự hữu ích / khan hiếm / gia tăng / phái sinh …) chứ không phải do
người bán hoặc người mua định giá. Tuy nhiên ở vào từng thời điểm cụ thể người
mua hoặc người bán có thể tác động đến giá trị của sp / dv dựa trên tính minh
bạch hoặc gian lận từ mục đích của họ. Trong hoạt động KT-TT ổn định, để tăng
giá trị của sp / dv, công việc của người bán là phải giảm giá thành tạo ra sp /
dv đó.
VD : Giá trị của
một đám đất được thị trường định giá theo sự hữu ích : vị trí địa lý đắc địa,
sự khan hiếm : nằm trong diện quy hoạch số lượng sp có hạn, sự gian tăng : giá
trị có thể tăng trong tương lai, sự phái sinh : lợi ích kỳ vọng trong tương
lai,…Trong trường hợp này người bán có thể tác động đến giá trị sp bằng cách vẽ
ra các viễn cảnh không thật, làm giá…
<-> Quy
luật cung cầu :
Cung và cầu là
hai hoạt động tương tác qua lại lẫn nhau và không hoạt động độc lập trong nền
KT-TT. Cung đến từ hoạt động sản xuất, khai thác tạo ra sp, tổng cung là tổng
số lượng sp / dv. Cầu đến từ nhu cầu sử dụng sp / dv và khả năng chi trả của KH
cho sp / dv đó. Điểm gặp nhau giữa cung và cầu gọi là giá cả bình quân, ở đó
người mua chấp nhận trả tiền trên cơ sở win – win. Các DN tham gia vào hoạt
động sx kd là tham gia vào dòng cung sp / dv vì vậy cần xác định rõ xu hướng
tăng giảm của tổng cầu cho sp / dv trước khi đi ra các chiến lược cạnh tranh.
VD : Trong trường
hợp miếng đất ở trên, nếu thời điểm ban đầu tổng cung cao, người mua có thể mua
được sp với giá tốt, tuy nhiên đến thời điểm cao điểm, khi tổng cầu lớn hơn
tổng cung, điểm cân bằng giá trị thông qua giá cả sẽ bị thị trường đẩy lên cao
do đó người mua có thể phải thanh toán mức giá cao hơn, đến thời điểm tổng cầu
giảm đến mức nhỏ hơn tổng cung, có thể mức giá sẽ xuống thấp hơn nhiều so với
mức giá người mua mua vào ban đầu.
<-> Quy
luật cạnh tranh :
Trong nền KT-TT
nhiều người mua và nhiều người bán, sự cạnh tranh là tất yếu. Các chủ thể tham
gia ở vai trò cung cần xác định rõ lợi thế của sp / dv và đưa ra các chiến lược
cạnh tranh phù hợp về giá, khuyến mại, khuyến mãi, dịch vụ khách hàng,…Việc
nhiều người bán cạnh tranh sẽ dẫn đến giá cả sp / dv sẽ giảm xuống và có lợi
cho người mua và ngược lại, khi nhiều người mua cạnh tranh để có được sp / dv,
người bán có thể tăng giá cả trao đổi sp / dv đó.
VD : Cùng thời
điểm tết khi mà rất nhiều các DN bán lẻ cùng muốn đẩy hàng nhanh và sự cạnh
tranh cao xuất hiện, dẫn đến việc giá có thể giảm và có lợi cho người mua…
<-> Quy
luật lưu thông tiền tệ :
Dòng tiên lưu
thông trong thị trường đại diện cho sức mua, tổng số lượng sp / dv đại diện cho
sức bán. Sức mua của thị trường sẽ bị chi phối bởi sự biến đổi của sức khoẻ
đồng tiền, các công cụ lưu trữ, vận chuyển tiền tệ (vàng, đô la,…), tỉ lệ
lạm phát, lãi suất ngân hàng, các chỉ số tăng trưởng kinh tế khác, các biến
động kinh tế, chính trị trong nước và toàn cầu, …
<-> Quy
luật giá trị thặng dư :
Bất cứ hoạt động
trao đổi nào người bán cũng đều phải nhận lại giá trị thặng dư so với giá trị
sp / dv để bù đắp các chi phí ban đầu, tái sản xuất và sinh lời theo quy tắc :
T – H – H’ – T’
Nhận thức và giải
quyết mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường
Phát triển kinh
tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng
trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế,
chất lượng cuộc sống.
Những vấn đề cơ
bản của phát triển kinh tế
Điều kiện đầu
tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy mô sản lượng của nền
kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định).
Sự thay đổi trong
cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh
tế... thay đổi. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ
trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là
ngành dịch vụ.
Cuộc sống của đại
bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần
của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo.
Trình độ tư duy,
quan điểm sẽ thay đổi.
Để có thể thay
đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế.
Phát triển kinh
tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên
trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó.
Từ những tiền đề
trên chúng ta cùng xem xét lại bản thân mình, gia đ2nh mình,dòng họ mình , quê
hương đất nước minh
Bắt đầu từ đất
nước :
1. Phát triển nền
kinh tế thị trường là một trong những nội dung quan
trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta gần 35 năm qua.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế
tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhận thức về
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng rõ và đầy đủ
hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây
dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự
quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát triển đất
nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Thực tế : hệ tống
chính trị nhà nước ta chưa phát triển kịp vì nhiều lý do , trong đó con người
tạo lập ra môi trường , chỉ huy , trọng tài đều khiếm khuyết , vì lợi ích và
danh vọng cá nhân “công bộc” lãnh đạo hầu hết các cấp đều vun vén cho mình ,gia
đình,dòng họ mình , mà quên đi lợi ích quốc gia dân tộc .
Còn về phần mình
: Chúng ta phải thừa nhận là mình yếu kém ; nếu không nói là toàn diện kể cả về
“TâmTrí Lực” thói lười (học tập,lao động,tu rèn) thể hiện rất rõ , bênh cạnh đó
là thói ỷ lại , ngộ sao cũng được , cẩu thả ,ích kỷ toàn diện .Vì vậy tất cả
các cá nhân , gia đình dòng họ ta đều yếu kém về kinh tế so với yêu cầu bình
diện chung .
2. Tuy vậy, từ nhiều năm trước và đến ngày nay, vẫn có một số người, cả ở
trong nước và ngoài nước, vì nhiều lý do, nhiều động cơ khác nhau, vẫn cho rằng
không có nền kinh tế thị trường; không quan tâm,xem xét,học hành, nghiên cứu
các quy luật của kinh tế thị trường
Những luận điệu
như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm
một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng
trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước,
vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả
chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác.
3. Sai lầm của những người cho rằng không thể có nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thứ nhất, là do họ đã đồng nhất kinh tế thị
trường với kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại kinh
tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Song, thực chất các quan
hệ kinh tế thị trường và các quan hệ tư bản là hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc
và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá
cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, cung cầu, quy luật giá trị của
kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường. Các
phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản nắm
lấy, sử dụng để phát triển thành kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Giá trị
và tư bản là những phạm trù khác nhau, cũng như quy luật giá trị và quy luật
giá trị thặng dư là những quy luật khác nhau.
Thứ hai, sai lầm
của những người này là dường như cho rằng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
từ khi ra đời đến nay là không thay đổi, “nhất thành, bất biến”. Họ không thấy
rằng trải qua thời gian, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến
đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là kinh tế
thị trường tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết
của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hiệu quả tiêu cực, đặc
biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý
của nhà nước để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ
chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản
phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết
bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết thị trường là cơ sở,
nền tảng, điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường
(Công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và
các nguồn lực kinh tế của nhà nước).
Hơn nữa, kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn
toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp
và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước. Có mô hình kinh tế thị trường
tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ
bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định
xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động
kinh tế (như Mỹ trước thời Tổng thống D.Trump). Có mô hình kinh tế thị trường
xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho
mọi người tham gia vào phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc
quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như Đức). Có mô hình kinh tế
thị trường phúc lợi xã hội ở nước mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều
tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người
dân, đặc biệt những người cần được trợ giúp: trẻ em, người già, người thất
nghiệp… (như các nước Bắc Âu). Có mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát
triển ở nước mà nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh
tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế
của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như Nhật
Bản, Hàn Quốc)…
Kinh tế thị
trường là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy kinh tế thị
trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Trong thời đại
ngày nay, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đã
xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triên, dù ở
mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những
mầm mống của chủ nghĩa xã hội trong lòng chủ nghĩa tư bản (là những sự phủ định
đối với tư bản tư nhân, dù vẫn chưa phá bỏ được chế độ tư bản). Do tính chất
của thời đại, ngày nay, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa, cũng có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở những nước này, sử dụng cả kinh tế thị trường và cả kinh
tế tư bản chủ nghĩa để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
- Về sai lầm của
luận điểm cho rằng các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ
nghĩa hoàn toàn đối lập, loại trừ nhau.
Là một nền kinh
tế thị trường thì phải vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đó là
các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu
thông tiền tệ, trong đó trung tâm là quy luật giá trị. Đặc trưng của kinh tế
thị trường là cạnh tranh. Các doanh nghiệp (dùng doanh nghiệp để chỉ chung cho
tất cả các chủ thể kinh tế) luôn phải cạnh tranh với nhau để chiếm được các
nguồn lực sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, lao động, khoa học công nghệ…),
các dự án đầu tư, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh tranh là sức ép,
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, cải tiến quản lý, tổ
chức sản xuất kinh doanh hợp lý; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; đổi mới,
nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng
suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh; qua đó, thúc đẩy kinh tế phát
triển, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Quy luật cạnh tranh là mạnh được,
yếu thua. Đây là mặt tích cực của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực: khai thác tối đa sức lực người lao
động (kéo dài giờ làm, tăng cường độ lao động), giảm chi phí cho lao động (giảm
lương, giảm bảo hộ lao động); khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi
trường; sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, như: làm hàng giả,
kém chất lượng, ăn cắp công nghệ, buôn lậu, trốn thuế, phá hoại đối thủ… Trong
nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới, nhất
là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh
tranh; bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nhưng, đồng thời, ngăn
ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh
tranh không lành mạnh.
Lưu thông hàng
hóa trong nền kinh tế thị trường (cả hàng hóa là yếu tố đầu vào của sản xuất và
hàng hóa là sản phẩm do sản xuất tạo ra) được điều tiết bởi quy luật cung -
cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu,
giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của giá cả hàng hóa là
tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ
nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản
xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa, cung lớn hơn cầu, tăng cường,
mở rộng sản xuất các hàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều
tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động, linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế
thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu. Nhưng, trong nền kinh tế
thị trường tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều chạy theo
lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ, lại không xác định được tổng cầu
của xã hội (từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung
gian), nên thường xuyên sản xuất thừa, dẫn đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ,
phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung -
cầu, của cơ chế tự điều tiết của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có
quản lý của nhà nước, nhà nước có khả năng thấy rõ hơn từng người sản xuất kinh
doanh về tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của nhà nước là để khắc
phục khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng
chu kỳ do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.
Quy luật giá trị
là quy luật cơ bản, trung tâm của kinh tế thị trường. Giá trị hàng hóa là lao
động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa. Chi phí để sản xuất hàng hóa,
xét đến cùng, là chi phí lao động, bao gồm lao động của người trực tiếp sản
xuất ra hàng hóa (lao động sống) và lao động chi phí để sản xuất ra các tư liệu
sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa này (lao động quá khứ). Về lượng
giá trị, không phải mọi hao phí lao động cá biệt của những người sản xuất hàng
hóa đều được xã hội thừa nhận để trở thành giá trị, chỉ những hao phí lao động
ở mức trung bình xã hội, được hình thành do cạnh tranh, được xem là hao phí lao
động xã hội cần thiết, mới là lượng giá trị. Giá trị biểu hiện ra bên ngoài
thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị là hình thái
của cải trong nền kinh tế thị trường, là mục tiêu, là yếu tố chi phối mọi hoạt
động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.
Trong kinh tế thị
trường, đối với người sản xuất, việc sản xuất hàng hóa nào chỉ là phương tiện
để làm giàu, để thu được nhiều giá trị nhất. Trong sản xuất, họ năng động, sáng
tạo, cải tiến, đổi mới… là để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản
xuất, để chi phí sản xuất của họ thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần
thiết, qua đó thu được nhiều giá trị hơn. Đối với người lưu thông hàng hóa cũng
vậy, mua và bán hàng hóa gì đối với họ không quan trọng, vấn đề cũng là để thu
được nhiều giá trị nhất, để làm giàu. Họ năng động, sáng tạo, nắm bắt kịp thời
yêu cầu của thị trường, đưa hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi cung lớn
hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao; cải tiến
quản lý để giảm chi phí lưu thông… cũng để thực hiện mục đích này. Đây là cách
thức vận hành của quy luật giá trị, cách thức vận hành đó gắn bó chặt chẽ với
quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu; có thể nói các quy luật cạnh tranh, quy
luật cung cầu là những hình thức biểu hiện, cách thức vận hành của quy luật giá
trị. Tác động của quy luật giá trị bao gồm những tác động của quy luật cạnh
tranh và quy luật cung cầu (tất nhiên, quy luật giá trị còn có nội dung rộng
hơn hai quy luật này), cả những tác động tích cực, như: thúc đẩy năng động,
sáng tạo, không ngừng cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ… thúc đẩy kinh tế
phát triển; điều tiết sản xuất, lưu thông một cách nhanh nhạy… và cả những hậu
quả tiêu cực, như: khủng hoảng chu kỳ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô
nhiễm môi trường… Trong các nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước,
sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là để tạo khung khổ pháp luật và điều
kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận hành, đồng thời hạn chế, khắc phục
những hậu quả tiêu cực này.
Trong nền kinh tế
thị trường, còn có quy luật lưu thông tiền tệ, một quy luật phái sinh của quy
luật giá trị. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa hàng hóa và tiền tệ trong lưu
thông, về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa, bảo đảm cho lưu thông
hàng hóa thuận lợi, trôi chảy. Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết cho
lưu thông hàng hóa là do tổng giá trị hàng hóa cần lưu thông và tốc độ luân
chuyển (hay tốc độ vòng quay) của tiền quyết định. Trong thời kỳ sử dụng tiền
vàng, tiền có đủ giá trị, thì khi số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông
hàng hóa, tiền vàng sẽ tự động được rút khỏi lưu thông. Khi tiền giấy thay cho
tiền vàng, nếu số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền sẽ
mất giá, gây ra hiện tượng lạm phát. Giữ vững giá trị đồng tiền là nhiệm vụ
hàng đầu của nhà nước ở các nước có kinh tế thị trường trên thế giới.
Tóm lại, trong
tất cả các nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới, đều có hoạt động của
các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường và có vai trò quản lý của nhà nước;
nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường,
đồng thời, vừa hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, tự phát do các quy
luật kinh tế thị trường gây ra, giữ môi trường ổn định cho kinh tế phát triển
và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã
hội, quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Song, không có phê phán nào về vai
trò của nhà nước, cho rằng điều này đối lập với hoạt động của các quy luật của
nền kinh tế thị trường.
Ở nước ta, sau
gần 35 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước
ta, về cơ bản, đã có đầy đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại theo
các chuẩn mực quốc tế: có đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế,
tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng,
hệ thống thị trường phát triển ngày càng đồng bộ…; quản lý kinh tế của nhà nước
đã đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giữ giá trị của đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ
mô, hạn chế khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường… Trong điều kiện đó, các
quy luật của kinh tế thị trường đã vận hành đồng bộ: các doanh nghiệp đã phải
nỗ lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa đã cơ bản do thị
trường quyết định; sản xuất và lưu thông đã phải chú ý đến những tín hiệu giá
cả, cung - cầu trên thị trường; thị trường đã đóng vai trò trực tiếp điều tiết
sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, huy động và phân
bổ các nguồn lực của sản xuất… Các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
của nền kinh tế thị trường gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để giữ vững các cân đối lớn của nền
kinh tế, ổn định xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… Nội dung và phương
thức quản lý của nhà nước ta như vậy không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các
quy luật của kinh tế thị trường mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực của các quy luật này, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững,
hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
- Về những luận
điểm sai lầm liên quan đến vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và
kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sai lầm của những
người cho rằng nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì không có bình đẳng
giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và không thể có nền kinh tế thị trường,
thứ nhất, là do bị ám ảnh bởi kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu, bao cấp trước đây và thứ hai, là do hiểu sai về vai trò
chủ đạo, cho rằng chủ đạo là phải được ưu đãi, ưu ái của nhà nước, phải chiếm
tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế
trước đổi mới, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, không có kinh tế tư
nhân (kinh tế tư nhân không được phép tồn tại); kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng
tuyệt đối trong nền kinh tế, do nhà nước trực tiếp quản lý bằng kế hoạch hóa
tập trung, thì không thể có kinh tế thị trường. Ngày nay, kinh tế nhà nước hoàn
toàn khác. Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực kinh tế của nhà nước và các
doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là một công cụ của nhà nước, để cùng
với các công cụ khác như luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Các nguồn lực kinh tế
của nhà nước được huy động, phân bổ, sử dụng theo yêu cầu phải phù hợp, phục vụ
việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước; nhưng
khi thực hiện phải theo cơ chế thị trường, thông qua đấu thầu cạnh tranh, có sự
tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, để việc phân bổ hợp lý,
sử dụng có hiệu quả cao. Doanh nghiệp nhà nước được nhà nước đầu tư, phát triển
ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh của đất nước (nhất là khi các thành phần kinh tế khác không được, không
muốn hay không đủ sức đầu tư), làm lực lượng tiên phong, nòng cốt cho sự phát
triển ngành, lĩnh vực, địa bàn đó. Các doanh nghiệp nhà nước tự chủ, hoạt động
theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác. Khi đã có các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các ngành,
lĩnh vực, địa bàn này và không nhất thiết phải có doanh nghiệp nhà nước, thì
nhà nước có thể thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển vốn nhà nước đầu tư
vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng khác để thực hiện chiến lược, mục
tiêu mới của nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với ý
nghĩa là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết, thúc đẩy, định hướng phát
triển kinh tế, xã hội đất nước. Với vai trò đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế, với sự phát
triển của kinh tế thị trường.
Trước đổi mới,
kinh tế tập thể, dưới hình thức là các hợp tác xã sở hữu tập thể về đất đai và
các tư liệu sản xuất chủ yếu, quản lý theo kế hoạch, phân phối theo lao động và
nằm trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp chung của
đất nước thì đối lập với kinh tế thị trường. Trong những năm đổi mới, các hợp
tác xã cũng đã được đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động, khác rất
nhiều so với các hợp tác xã trước đây. Hợp tác xã hiện nay (hợp tác xã kiểu
mới) là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ sản xuất kinh doanh tự nguyện thành
lập để làm dịch vụ cho các hộ thành viên, hỗ trợ cho các thành viên, những
người sản xuất nhỏ, yếu thế khi tham gia thị trường, giúp họ nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Tùy theo năng lực của hợp tác xã và nhu cầu của các hộ
thành viên, hợp tác xã có thể cung ứng các vật tư, nguyên liệu, các yếu tố đầu
vào cho sản xuất của các hộ (với giá rẻ hơn, chất lượng bảo đảm hơn khi từng hộ
riêng lẻ mua); đảm nhận các dịch vụ sản xuất như làm đất, chăm sóc, thu hoạch
cho các hộ thành viên (tiết kiệm cho các hộ phải mua máy móc thiết bị nhưng sử
dụng không hết công suất); bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành
viên (có lợi hơn cho hộ so với khi từng hộ bảo quản, chế biến, tiêu thụ); hỗ
trợ các hộ thành viên vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng… Các hợp tác
xã phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà cả trong các lĩnh vực
tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, vận tải…. Các hợp tác xã từng bước tích lũy
vốn, quỹ, tài sản, mở rộng quy mô hoạt động; liên kết với nhau thành hiệp hội,
liên hiệp hợp tác xã theo ngành nghề, theo địa bàn hoạt động… tạo thành mạng
lưới rộng khắp để hỗ trợ những người sản xuất nhỏ, đưa những người sản xuất nhỏ
đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế tập thể
với vai trò hỗ trợ cho những người sản xuất nhỏ hoạt động, phát triển trong nền
kinh tế thị trường và cùng với kinh tế nhà nước, với vai trò là công cụ để nhà
nước thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế đất nước, đi tiên phong để thu hút
các thành phần kinh tế khác đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan
trọng của đất nướcthì hai thành phần kinh tế này được xác định là nền tảng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng đắn, không cản trở
sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, cản trở sự phát triển của kinh
tế thị trường.
Về sai lầm của
luận điểm cho rằng kinh tế tư nhân với vai trò là một động lực quan trọng của
nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh
tế mạnh thì nền kinh tế không thể phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
mà sẽ trở thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Quả thật là nếu để kinh tế tư
nhân phát triển một cách tự phát thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ đi theo
con đường tư bản chủ nghĩa. Nhưng nền kinh tế thị trường nước ta có sự quản lý
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,
kinh tế tư nhân không phát triển tự phát, mà phải tuân thủ luật pháp, chính
sách của nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế của nhà nước. Mặt khác, khi nhà nước khuyến khích
kinh tế tư nhân phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt
động ở cả trong nước và ngoài nước thì luật pháp, chính sách của nhà nước cũng
định hướng các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phát triển thành các công ty cổ
phần có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước
ta sẽ đưa kinh tế tư nhân vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước,
một nấc thang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để kinh tế tư nhân đóng góp vào phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Một số kiến
nghị
- Đẩy mạnh công
tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn tạo cơ sở khoa học cho việc xây
dựng, hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta; cho công tác tư tưởng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, tạo sự thống nhất về chính trị tinh thần trong Đảng và toàn xã hội; củng
cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của đất nước; tăng thêm động lực, quyết tâm thực hiện thắng
lợi đường lối của Đảng, Nhà nước.
Việc nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn cần tập trung vào tiếp tục làm rõ những vấn đề mà
thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta đặt ra hiện nay, chuẩn bị cho việc hình thành lý luận về phát triển kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chưa phát triển,
chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Việt Nam. Đồng thời, cần
phải nghiên cứu những vấn đề mới của thời đại, của chủ nghĩa tư bản hiện đại,
những mâu thuẫn và xu hướng phát triển trên thế giới, làm rõ tính chất quá độ
lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay.
- Tiếp tục hoàn
thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, tập trung vào những vấn đề còn vướng mắc trong nhận thức, quan điểm,
lúng túng trong thực hiện, như: thể chế trong huy động, phân bổ các nguồn lực
để các nguồn lực được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; thể chế để thúc đẩy việc sắp
xếp lại, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước, phát triển và nâng cao hiệu
quả hoạt động các hợp tác xã; hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
xây dựng, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thể chế cho sự
ra đời các mô hình kinh doanh mới, phát triển các sản phẩm mới, đẩy mạnh ứng
dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thể chế định
hướng các doanh nghiệp tư nhân phát triển theo mô hình công ty cổ phần, gắn kết
các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, đưa các doanh
nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; thể chế để tạo thuận
lợi cho tích tụ tập trung đất đai, phát triển nông nghiệp sản xuất lớn, công
nghệ cao, nông nghiệp sinh thái… để phát huy mặt tích cực của các quy luật của
kinh tế thị trường, đồng thời củng cố, tăng cường các nhân tố bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.
- Tiếp tục làm rõ
nội dung và thực hiện có kết quả nhiệm vụ chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế,
đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trong bối cảnh mới để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Cái thiếu nhất đối
với nước ta, cũng như các nước kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa nói chung, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở vật chất
kỹ thuật, là trình độ phát triển của nền kinh tế (việc hoàn thiện thể chế, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng hướng tới thực hiện
mục tiêu này); bởi xét đến cùng năng suất lao động là yếu tố quyết định sự
thắng lợi của một chế độ xã hội. Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã đề
ra nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình
tăng trưởng; việc thực hiện tuy có đạt một số kết quả, nhưng chưa đạt yêu cầu,
mục tiêu đề ra. Trong bối cảnh mới, nguy cơ chưa giàu đã già, rơi vào bẫy thu nhập
trung bình, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với thế giới đối với nước ta là rất
lớn. Vượt qua thách thức này, nguy cơ này là yêu cầu cấp bách hàng đầu của nước
ta trong những năm tới.
- Tập trung vào
đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng luật pháp, cơ chế chính sách, chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực kinh tế; rà soát, khắc phục những chồng
chéo, mâu thuẫn, những điểm mơ hồ, bất hợp lý, không khả thi, tình trạng luật pháp
mới ban hành, chờ thực hiện đã phải sửa đổi, bổ sung, tình trạng luật chờ nghị
định, nghị định chờ thông tư… Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục
hành chính, xóa bỏ những thủ tục hành chính không hợp lý, gây khó khăn cho
người dân và doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm cá nhân, kỷ luật, kỷ cương
trong thực hiện công vụ, trong tổ chức thực hiện. Xây dựng tổ chức bộ máy quản
lý nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước,
đẩy nhanh việc sử dụng các công cụ, phương thức quản lý hiện đại ở các cơ quan
quản lý kinh tế nhà nước các cấp. Điều này gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
nhân tố quyết định đối với sự ổn định, phát triển của đất nước, với thành công
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời
kỳ mới./.
Vận dụng vào phát
triển kinh tế :
Cùng với quá
trình đổi mới tư duy lý luận trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,
Đảng ta đã có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa trong thời kỳ mới, về
mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, về phát triển công nghiệp văn hóa, thị
trường văn hóa,... Do đó, việc xác định những nguyên tắc cơ bản trong vận dụng
quy luật kinh tế để phát triển văn hóa, nghệ thuật là một trong những nhiệm vụ
cơ bản và cấp thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn vận động của đời sống văn hóa,
nghệ thuật ở nước ta hiện nay.
Du khách quốc tế
hoà mình trong làn điệu Xoan “Mó cá” độc đáo ở đình làng cổ tỉnh Phú Thọ_Ảnh:
Tư liệu
Đặc điểm của sản
phẩm văn hóa, nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa
C. Mác từng viết:
“Nhà văn, đương nhiên phải kiếm tiền mới có thể sống và viết, nhưng nhà văn
tuyệt nhiên không được sống và viết để kiếm tiền… Nhà văn hoàn toàn không coi
tác phẩm của mình là một phương tiện. Tác phẩm là mục đích tự nhân; tác phẩm
không phải là phương tiện đối với nhà văn cũng như đối với những người khác,
cho nên, nhà văn, khi cần có thể hy sinh sự tồn tại cá nhân của mình cho sự tồn
tại của tác phẩm”(1). Như vậy, một mặt, C. Mác thừa nhận sản phẩm văn hóa, nghệ
thuật nói chung có thuộc tính hàng hóa, được xã hội trả công thông qua thị
trường hoặc được nhà nước đặt hàng (theo V.I. Lê-nin). Mặt khác, C. Mác cũng
đặc biệt nhấn mạnh đến thiên chức xã hội của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Văn
hóa, nghệ thuật phải thể hiện được vai trò của mình trong việc đấu tranh cho
chân lý, lẽ phải, cho cái đẹp, tham gia vào bồi đắp tư tưởng, tình cảm cho xã
hội.
Đây là cơ sở lý
luận quan trọng để chúng ta vận dụng vào lãnh đạo, quản lý văn hóa, nghệ thuật
trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. Một mặt, phải khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần để xây
dựng một chế độ xã hội tốt đẹp. Mặt khác, phải khai thác văn hóa như một động
lực để phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa không chỉ có chức năng bồi đắp về
tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ cho xã hội mà còn là động lực, là nguyên nhân, là
nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Tiềm năng nguồn lực văn hóa chính là
năng lực sáng tạo thẩm mỹ - nghệ thuật của đội ngũ văn nghệ sĩ; các sản phẩm
văn hóa, nghệ thuật; các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể do thế hệ trước
để lại. Việc phát huy vai trò của chủ thể sáng tạo là đội ngũ trí thức, văn
nghệ sĩ chiếm một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển sản phẩm văn hóa,
nghệ thuật, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trong khi khẳng
định sản phẩm văn hóa, nghệ thuật là sản phẩm hàng hóa đặc biệt, trước hết cần
tôn trọng thuộc tính hàng hóa của sản phẩm này, tạo điều kiện để phát triển thị
trường văn hóa một cách lành mạnh, công bằng, dân chủ, tôn trọng sự vận động
theo quy luật cung - cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh theo Hiến
pháp và pháp luật. Công cụ để quản lý và điều tiết quá trình phát triển văn
hóa, nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là luật pháp và các chính sách văn hóa. Hệ thống luật pháp vừa phải bảo đảm
quyền tự do sáng tạo, sản xuất và quảng bá các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của
công dân theo Hiến pháp và pháp luật, vừa bảo đảm duy trì môi trường bình đẳng,
dân chủ, đề cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào các hoạt động văn hóa,
nghệ thuật trước nhân dân, dân tộc và thời đại. Đối với các dòng chảy chủ đạo
của nền văn hóa, nghệ thuật cách mạng, Nhà nước cũng như các tổ chức chính trị
- xã hội phải là người đặt hàng và tài trợ, bảo đảm các điều kiện về vật chất
và tinh thần cho lao động sáng tạo văn hóa, văn nghệ phục vụ cho các mục tiêu
chính trị - xã hội chung của đất nước.
Vận dụng quy luật
của kinh tế thị trường để phát triển văn hóa, nghệ thuật
Du khách xem biểu
diễn múa rối nước khi đến tham quan làng quê Yên Đức (thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh)_Nguồn: baoquangninh.com.vn
Trong thời kỳ
chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động sáng
tạo, sản xuất, phổ biến, tiếp nhận các sản phẩm văn hóa nghệ thuật ở nước ta
đều chịu tác động của quy luật kinh tế thị trường. Đội ngũ trí thức, văn nghệ
sĩ phải đối mặt với thị trường, trả lời các câu hỏi của đời sống, đáp ứng nhu
cầu thụ hưởng văn hóa ngày càng đa dạng, sinh động của các tầng lớp xã hội khác
nhau. Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của nhân dân tác động
mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo, sản xuất, quảng bá các sản phẩm này. Đây vừa là
thời cơ để đội ngũ văn nghệ sĩ, những doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực này
phát huy tài năng, sức sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của công chúng, đồng thời cũng
đặt ra không ít thách thức trước sự biến đổi thường xuyên của nhu cầu văn hóa,
nghệ thuật của công chúng. Công việc sáng tạo giờ đây không thể ngồi yên trên
“tháp ngà” mà phải bám sát vào đời sống thực tiễn, đối diện thường xuyên với
thị trường văn hóa. Mặt khác, mọi hoạt động văn hóa, nghệ thuật đều vừa phải
chú ý đến hiệu quả tư tưởng, thẩm mỹ, nghệ thuật, vừa phải chú ý cả về hiệu quả
kinh tế - xã hội. Những người tham gia vào hoạt động trên lĩnh vực này cũng
phải am hiểu quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh để tối
ưu hóa hiệu quả sản phẩm của mình. Tính liên kết, sự hợp tác giữa các chủ thể
sáng tạo, sản xuất, phổ biến, thụ hưởng các thành tựu sáng tạo ngày càng trở
nên cần thiết để tạo nên chuỗi giá trị của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Hàng
loạt các khái niệm mới, thuật ngữ mới dần được tiếp nhận và đi vào đời sống văn
hóa, nghệ thuật nước nhà, như công nghiệp văn hóa, văn hóa đại chúng, tiêu dùng
văn hóa, thị trường văn hóa, thị trường sân khấu, thị trường điện ảnh, thị
trường sách, thị trường tranh…
Trong Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta đã phê phán xu hướng thương mại
hóa, chạy theo thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm
mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm và đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp lớn
để xây dựng, phát triển văn hóa, nhấn mạnh đến xây dựng, hoàn thiện pháp luật,
các chính sách văn hóa, trong đó có chính sách kinh tế trong văn hóa, chính
sách văn hóa trong kinh tế, chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chính
sách khuyến khích sáng tạo… Đây là những chủ trương hoàn toàn đúng đắn để giải
quyết những vấn đề mới của văn hóa, nghệ thuật thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế
thị trường. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII,
Đảng ta đã tổng kết lại quá trình thực hiện Nghị quyết này và bổ sung, phát
triển các quan điểm lý luận mới về văn hóa trong thời kỳ phát triển kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị
Trung ương 9, khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định một trong những mục
tiêu cụ thể của sự nghiệp văn hóa là xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy
mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam. Để
thực hiện mục tiêu này, Đảng ta đã nêu ra nhiệm vụ quan trọng là phát triển
công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Trong
nhiệm vụ này, Đảng ta đã nêu rõ yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa nhằm
khai thác, phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam,
khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra
thế giới, “có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa; tạo thuận
lợi để các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn
lực xã hội để phát triển”.
Tiết mục biểu
diễn nghệ thuật "Làng tôi" vừa giàu tính nghệ thuật, văn hóa, vừa
mang lại hiệu quả kinh tế, do Công ty Lune Production sản xuất_Ảnh:
luneproduction.com
Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016 “Phê duyệt Chiến lược
phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”,
khẳng định các ngành công nghiệp văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa
nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn
hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên sự sáng tạo, khoa học - công nghệ
và bản quyền trí tuệ, khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa.
Phát triển công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình theo hướng
chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy được lợi thế của Việt Nam, phù hợp với các quy
luật cơ bản của kinh tế thị trường, được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các ngành, các khâu sáng tạo,
sản xuất, phân phối, phổ biến và tiêu dùng. Phát triển công nghiệp văn hóa gắn
liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần bảo vệ,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác
quốc tế.
Có thể nói, những
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Chiến lược này nêu ra về cơ bản
đã đáp ứng đúng và trúng nhu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế. Công nghiệp văn hóa đã được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của nền
kinh tế quốc dân hoạt động theo các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường,
được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mục tiêu
chung của chiến lược là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao
gồm: quảng cáo, kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ;
thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp
ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa trở thành những
ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp
tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất
ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu sáng tạo, hưởng thụ tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất
khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam; xác lập được
các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có
nhiều lợi thế tiềm năng của Việt Nam.
Tuy nhiên, thời
gian tới cần chú trọng hơn nữa đến các giá trị nhân văn, giá trị xã hội của
công nghiệp văn hóa nói riêng cũng như các hoạt động văn hóa nói chung, cần
nhận thức rõ, công nghiệp văn hóa vừa là một phận quan trọng của nền văn hóa
dân tộc, vừa là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Sự gắn kết giữa nhân tố
văn hóa và nhân tố kinh tế - kỹ thuật ở đây rất chặt chẽ. Phát triển công
nghiệp văn hóa không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà phải góp phần làm
lành mạnh hóa đời sống tinh thần của xã hội, bồi dưỡng lý tưởng, tình cảm, đạo
đức, lối sống, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, góp phần xây dựng hệ giá trị văn
hóa và con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Nếu
không quan tâm đúng mức đến những vấn đề cơ bản và cốt lõi này thì sẽ dẫn đến
tình trạng đánh mất “mục đích tự thân” của văn hóa, nghệ thuật mà còn biến văn
hóa, nghệ thuật trở thành “phương tiện kiếm tiền” như C. Mác đã cảnh báo, biến
sản phẩm văn hóa, nghệ thuật từ một sản phẩm hàng hóa đặc biệt trở thành loại
hàng hóa vật chất phục vụ tiêu dùng hằng ngày như các sản phẩm thông dụng khác.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc hạ thấp thiên chức xã hội của văn hóa, nghệ
thuật.
Việc vận dụng các
quy luật của kinh tế thị trường vào trong hoạt động văn hóa, văn nghệ cần phải
chú ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, đối với
các chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo, sản xuất, phổ biến và tiêu thụ các
sản phẩm văn hóa, văn nghệ.
Cần vận dụng quy
luật của sản xuất hàng hóa, như quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật
cạnh tranh để nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường văn hóa, nghệ thuật. Sự kết hợp giữa các khả năng sáng tạo, khả năng
kinh doanh, khả năng áp dụng khoa học - công nghệ trở thành yêu cầu bắt buộc
đối với các chủ thể tham gia trên thương trường văn hóa, nghệ thuật. Chất lượng
của sản phẩm văn hóa, nghệ thuật không chỉ phụ thuộc vào sự sáng tạo của đội
ngũ nghệ sĩ mà còn bao hàm cả khả năng marketing thị trường, khả năng quảng bá,
phổ biến và kích thích sự tiêu dùng sản phẩm này của công chúng. Trong quá
trình phát triển thị trường văn hóa, vai trò của đội ngũ nghệ sĩ, doanh nhân,
doanh nghiệp, các nhà khoa học về văn hóa, nghệ thuật ngày càng quan trọng và
gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành chuỗi liên kết để tạo nên hợp lực trong
phát triển; trong đó, cần chú ý hơn đến vai trò của đội ngũ doanh nhân, doanh
nghiệp, của các công ty, các hãng phim, hãng sản phẩm băng hình và trò chơi
điện tử, các trung tâm biểu diễn nghệ thuật… Việc phát triển các doanh nghiệp,
doanh nhân có thương hiệu mạnh trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật sẽ tạo động
lực quan trọng để xây dựng các “trụ cột” văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Chính đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp là những người vừa có tiềm năng kinh tế
vừa có khả năng kết nối với đội ngũ nghệ sĩ và công chúng, tạo ra các sản phẩm
văn hóa, văn nghệ mới để đưa ra thị trường.
Du khách quốc tế
tham quan phiên chợ vùng cao trong khuôn khổ Lễ hội Hoa ban, tỉnh Điện
Biên_Nguồn: svhttdldienbien.gov.vn
Thứ hai, về công
tác quản lý văn hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường.
Trước hết, cần
tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách phát
triển văn hóa. Hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển văn hóa phải
hướng tới bảo đảm quyền văn hóa của công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định,
đặc biệt là quyền sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ văn hóa, văn nghệ.
Nguyên tắc cơ bản của việc quản lý văn hóa, văn nghệ theo cơ chế thị trường là:
1- Nhà nước đặt hàng đối với các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và các hoạt động
văn hóa, nghệ thuật phục vụ các mục tiêu chính trị, các sự kiện chính trị trọng
yếu; 2- Nhà nước có chính sách khuyến khích sáng tạo, sản xuất, kinh doanh và
dịch vụ đối với những lĩnh vực cần ưu tiên phục vụ lợi ích quốc gia, phát triển
các trào lưu văn hóa, văn nghệ chủ đạo; trợ giúp những vùng khó khăn, vùng biên
giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng dễ bị tổn thương
trong xã hội thông qua các chính sách ưu đãi về tài chính, ngân hàng, thuế đất,
thuế thu nhập…; 3- Nhà nước tạo hành lang pháp lý bình đẳng để các chủ thể tham
gia sáng tạo, sản xuất, phổ biến các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, văn nghệ theo
quy luật thị trường, bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân
vừa đem lại lợi ích kinh tế cho các chủ thể mà luật pháp cho phép; 4- Nhà nước
sử dụng các biện pháp về kinh tế để hạn chế phát triển các hoạt động văn hóa,
nghệ thuật không thiết yếu, không khuyến khích.
Như vậy, vấn đề
xác định cụ thể từng đối tượng để đưa ra các chính sách và giải pháp điều tiết
cụ thể thông qua đòn bẩy kinh tế là hết sức cần thiết để tạo động lực cho sự
phát triển văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời, bảo đảm tính công
bằng, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn
hóa, nghệ thuật. Đây cũng là cơ sở để góp phần nâng cao phúc lợi xã hội cho
nhân dân trên lĩnh vực sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa, nghệ thuật ở
nước ta hiện nay
Đến sinh viên đại
học cũng rất có thể không phân biệt thế nào là định nghĩa, định luật, định lý,
tiên đề. Chúng ta cũng để ý thấy rằng dường như trong các chương trình, từ phổ
thông đến đại học, ít sách nào đề cập đến mấy khái niệm căn bản đó. Giáo viên
dường như cũng quên đi việc đưa ra các khái niệm trên, còn người học được chép
từ định nghĩa này đến định luật nọ, từ tiên đề này cho đến việc chứng minh định
lý kia. Để rồi khi gặp những vấn đề cần động não, một bài tập nhỏ chẳng hạn,
cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu.
Quan trọng nhất
trong các thuật ngữ trên chính là định nghĩa. Đôi khi người ta tranh luận dai
dẳng với nhau chẳng qua chỉ vì bất đồng về định nghĩa. Không hiếm trường hợp cả
hai người tranh luận đều sai trong việc ý thức về định nghĩa đó, để rồi cãi vã
vô lý chẳng đi đến đâu.
Chính do không
xác định đúng định nghĩa ;Trong đời sống người ta khá vất vả để tìm ra hướng
giải quyết cho một “bài tập” đơn giản của cuộc đời chỉ bởi vì không nắm rõ định
nghĩa. Câu hỏi muốn hỏi về cái gì, ta phải nằm lòng định nghĩa về cái ấy, sau
đó mới lần theo đó mà tìm ra phương cách.
Ví dụ đơn giản
thế này, một sinh viên có câu hỏi liên quan đến hiệu suất của động cơ nhiệt,
vấn đề đối với anh ta khá rắc rối, nhưng sau khi bất chợt xem lại định nghĩa về
hiệu suất động cơ (tỉ lệ giữa công sinh ra do tác nhân với nhiệt hấp thụ từ môi
trường) thì mọi chuyện đã trở nên sáng sủa. Những bài tập dễ thường chỉ như
thế, nắm chắc công thức và quy về định nghĩa, vậy thôi.
Định nghĩa quan
trọng hơn cả còn bởi vì các định luật định lý đều đề cập đến những đối tượng
được định nghĩa trước. Tôi lấy ví dụ: định luật bảo toàn moment động lượng.
Nhưng để sử dụng được định luật này cần trải qua một số “thủ tục”:
– Thế moment động
lượng là gì?
– Là moment của
động lượng!
– Thế moment là
gì, động lượng là gì?
– Moment của một
vector là tích có hướng của vector cánh tay đòn với vector đó, động lượng là
một đại lượng đặc trưng cho khả năng tương tác của vật, có giá trị bằng khối
lượng nhân cho vector vận tốc.
– Vậy vector là
cái gì?
Câu chuyện trên
nhằm minh họa cho vai trò của định nghĩa. Không có định nghĩa không làm gì
được. Muốn nói gì đầu tiên cần định nghĩa. Tuy nhiên phải cẩn thận vì đôi khi
những người viết sách, những người thầy của chúng ta, cũng mâu thuẫn với nhau.
Tôi đã có những lần khi đối mặt với các thầy đã phải nói những câu như: “Thưa
thầy theo sách Sivukhin thì nó được định nghĩa như thế này…, còn sách của
Irodov lại viết khác…”
Giờ tôi nói tiếp
đến định luật và định lý. Sở dĩ tôi bàn một lúc cả hai cái để tiện so sánh. Còn
vì sao tôi so sánh, vì chữ luật và chữ lý làm cho hai từ bắt đầu bằng chữ định
này trở nên dễ nhầm lẫn. Điều đó thường xuyên xảy ra vì chúng ta thường chỉ
biết lấy và sử dụng chúng thôi. Về mặt này, cả định luật lẫn định lý có giá trị
gần như nhau. Cấu trúc và cách phát biểu của chúng cũng rất giống nhau. Chuyện
nhầm là dễ hiểu.
Điểm khác biệt rõ
ràng nhất giữa hai khái niệm này chính là nguồn gốc của nó. Định luật vốn xuất
phát từ thực nghiệm. Nó xác định quy luật của tự nhiên. Ví dụ: dựa theo kết quả
quan sát thiên văn, Kepler phát hiện ra rằng các hành tinh chuyển động theo
đường elip, người ta gọi đó là định luật Keple thứ nhất. Không một chứng minh
duy ý chí nào ở đây cả, cứ theo khách quan mà nói, sự thật thế nào ta rút ra
thế ấy, đó chính là định luật. Nói nghe có vẻ dễ dàng, nhưng để đúc kết các sự
kiện trở thành định luật cũng không đơn giản. Còn định lý là phát biểu được
chứng minh dựa trên những thứ có sẵn. Ví dụ như một khi đã có định nghĩa về
động năng, công, lực và một số thứ khác, ta có thể kết luận một cách đàng hoàng
rằng: độ biến thiên động năng bằng công của ngoại lực. Đó là một định lý, vì ta
chỉ việc làm một vài phép toán biến đổi để đi đến kết luận đó mà không cần đến
thực nghiệm. Định lý chính là hệ quả tất yếu nảy sinh. Theo ý nghĩa này thì các
khái niệm như “hệ quả” hay “bổ đề” cũng mang nét tượng tự định lý.
Vì xuất phát từ
thực nghiệm nên chỉ có khoa học tự nhiên mới có định luật, còn toán học thì
không. Trong hai thứ này, ở toán học chỉ có định lý. Không hề tồn tại một định
luật toán học nào cả. Ngược lại, trong bộ môn cơ học lý thuyết, chúng ta không
thể tìm thấy một định luật vật lý nào. Đây là một phát hiện thú vị, chúng ta cứ
thử kiểm tra xem. Sở dĩ có chuyện đó bởi do đây là thứ cơ học chỉ dựa trên một
vài tiên đề rồi suy ra toàn bộ phần còn lại, không lấy dẫn chứng từ bất kì thực
nghiệm nào. Bởi thế người ta mới gọi là cơ học lý thuyết.
Việc nắm rõ nguồn
gốc giúp ta phân định rõ ràng đâu là định lý, đâu là định luật. Sự phân định
như thế lại giúp ta tư duy đúng đắn về vật lý. Có một số nhầm lẫn khá phổ biến,
như định luật bảo toàn cơ năng chẳng hạn. Tôi xin nhấn mạnh rằng không có định
luật nào về bảo toàn cơ năng cả. Bảo toàn cơ năng là hệ quả tất yếu sau phép
định nghĩa về lực bảo toàn, hay lực thế. Nói cho đúng thì nó là một định lý.
Trên thực tế chỉ có định luật bảo toàn năng lượng mà thôi.
Sau cùng tôi đề
cập đến tiên đề, có lẽ không cần phải nói nhiều. Tiên đề là thứ mặc nhiên thừa
nhận, dù nó có đơn giản đến mức nào đi nữa, nếu người ta muốn chọn nó làm điểm
khởi đầu cho một lý thuyết. Tiên đề cũng giống như định luật hay định lý vậy,
chỉ khác ở chỗ, định luật do thực nghiệm, định lý do suy diễn, còn tiên đề do
chúng ta đặt lấy, thường là sự khái quát hoá một kinh nghiệm của con người.
Ta biết rằng, các
định luật của Kepler về quy luật chuyển động của các hành tinh được phát minh
ra trước định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Tuy nhiên, sau khi Newton viết
ra công thức tính lực hấp dẫn thì tự nhiên sẽ suy ra được các phương trình
chuyển động của các hành tinh, đúng như Kepler đã nói. Nói cách khác, từ lúc
bấy giờ trở đi nếu ta coi định luật vạn vật hấp dẫn là quan trọng nhất thì theo
đó các định luật Keple tự nhiên biến thành hệ quả hay định lý. Mặc dù vậy, có
lẽ vì tôn trọng lịch sử, người ta vẫn coi các kết luận của Keple là định luật.
Một lý thuyết vật
lý bao giờ cũng có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định nghĩa, định luật, định lý
và tiên đề. Nhưng đôi khi cũng có sự thiếu rõ ràng giữa chúng. Định luật thứ
hai của Newton hiện nay được dùng không khác gì một định nghĩa về lực, và cũng
không khác gì một tiên đề. Tôi sẽ quay lại vấn đề cụ thể này ở bài viết sau.
Ngay chính định luật bảo toàn năng lượng theo tôi không phải là một định luật,
mà là một tiên đề không hơn không kém. Tôi cũng xin để dành vấn đề này cho một
bài viết khác.
Vật lý cũng như
các môn khoa học khác, rất lâu nữa mới tạm gọi là hoàn chỉnh. Nhưng con đường
đi đến chân lý bao giờ cũng vậy, bao giờ cũng cần đến tiên đề, định nghĩa, định
luật và định lý. Đối với người học, nắm chắc và phân định rạch ròi là cần
thiết.
TỔNG HỢP TẤT
CẢ CÁC ĐỊNH LÝ TOÁN HỌC:
A. TOÁN SƠ CẤP:
I. HÌNH HỌC
PHẲNG:
1. Định lý
Talet.
2. Định lý
Pitago.
3. Định lý
đường phân giác trong tam giác.
4. Định lý về
đường trung tuyến.
6. Định lý
Apollonius
7. Định lí
Menelaus
8. Mở rộng định
lí Menelaus theo diện tích.
9. Định lí Menelaus
cho tứ giác.
10. Định lí Ceva.
11. Định lí Ceva
dạng sin.
12. Định lí
Desargues.
13. Định lí
Pappus.
14. Một trường
hợp đặc biệt của định lí Pappus qua góc nhìn hình xạ ảnh.
15. Đẳng thức
Ptolemy.
16. Bất đẳng thức
Ptolemy.
17. Định lí
Pascal.
18. Định lí
Brianchon.
19. Định lí
Miquel.
20. Công thức
Carnot.
21. Định lí
Carnot.
22. Định lí
Brokard.
23. Định lí Euler
về khoảng cách giữa tâm 2 đường tròn nội, ngoại tiếp của tam giác.
24. Định lí Euler
về khoảng cách giữa tâm 2 đường tròn nội, ngoại tiếp của tứ giác (Định lí
Fuss).
25. Định lí
Casey.
26. Định lí
Stewart.
27. Định lí
Lyness.
28. Định lí
Lyness mở rộng (Bổ đề Sawayama).
29. Định lí
Thébault.
30. Công thức
Jacobi liên quan đến tâm tỉ cự,định lí Lebnitz.
31. Định lí
Newton cho tứ giác ngoại tiếp.
32. Định lí
Breichneider.
33. Định lí con
nhím.
34. Định lí
Gergonne -Euler.
35. Định lí
Peletier.
36. Định lí
Miobiut.
37. Định lí
Viviani.
38. Công thức
Lagrange mở rộng.
39. Đường thẳng
Simson.
40. Đường thẳng
Steiner.
41. Điểm
Anti-Steiner (Định lí Collings).
42. Định lí
Napoleon.
43. Định lí
Morley.
44. Định lí con
bướm với đường tròn.
45. Định lí con
bướm với cặp đường thẳng.
46. Điểm Blaikie.
47. Định lí chùm
đường thẳng đồng quy.
48. Đường tròn
Apollonius.
49. Định lí
Blanchet.
50. Định lí
Blanchet mở rộng.
51. Định lí
Jacobi.
52. Định lí
Kiepert.
53. Định lí
Kariya.
54. Cực trực
giao.
55. Khái niệm tam
giác hình chiếu ,công thức Euler về diện tích tam giác hình chiếu.
56. Khái niệm hai
điểm đẳng giác.
57. Khái niệm tứ
giác toàn phần.
58. Đường thẳng
Droz-Farny.
59. Đường tròn
Droz-Farny.
60. Định lí Van
Aubel về tứ giác và các hình vuông dựng trên cạnh.
61. Hệ thức Van
Aubel
62. Định lí
Pithot.
63. Định lí
Johnson.
64. Định lí
Eyeball.
65. Bổ đề Haruki.
66. Bài toán
Langley.
67. Định lí Paul
Yiu về đường tròn bàng tiếp.
68. Định lí
Maxwell.
69. Định lí
Brahmagupta về tứ giác nội tiếp có hai đường chéo vuông góc.
70. Định lí
Schooten.
71. Định lí
Bottema.
72. Định lí
Pompeiu.
73. Định lí
Zaslavsky.
74. Định lí
Archimedes.
75. Định lí
Urquhart.
76. Định lí
Mairon Walters.
77. Định lí
Poncelet về bán kính đường
II. HÌNH HỌC
KHÔNG GIAN:
1. Định lý 3
đường vuông góc.
III. SỐ HỌC:
1. Định lý
Fermat nhỏ.
IV. ĐẠI SỐ:
1. Định lý Bơ
du.
2. Định lý
Vi-et.
V. GIẢI TÍCH:
VI. LƯỢNG GIÁC:
1. Định lý sin.
2. Định lý cos.
B. TOÁN CAO
CẤP:
I. ĐẠI SỐ:
1. Định lý
Fermat lớn.
II. TÔ PÔ:
1. Định lý
Heine-Borel.
2. Định lý
Tychonoff.
3. Định lý
metric.
4. Định lý mở
rộng Tietze.
5. Định lý phạm
trù Baire.
II. LÝ THUYẾT
ĐỒ THỊ:
1. Định lý bốn
màu (four-color theorem).
2. Định lý đồ thị
hoàn hảo mạnh (strong perfect graph theorem).
3. Định lý luồng
cực đại lát cắt cực tiểu.
III. PHƯƠNG
TRÌNH VI PHÂN:
1. Định lí
Picard-Lindelöf về sự tồn tại và tính duy nhất của hàm nghiệm.
5. Tô pô hay tô pô
học, còn có một tên nay đã ít dùng là vị tướng học (tiếng Anh: topology), có
gốc từ trong tiếng Hy Lạp gồm topos (nghĩa là "nơi chốn") và logos
(nghiên cứu), là một ngành toán học nghiên cứu các đặc tính còn được bảo toàn
qua các sự biến dạng, sự xoắn, và sự kéo dãn nhưng ngoại trừ việc xé rách và
việc dán dính. Do đó, tô pô còn được mệnh danh là "hình học của màng cao
su". Các đặc tính đó gọi là các bất biến tô pô. Khi ngành học này lần đầu
tiên tìm ra trong những năm đầu của thế kỉ 20 thì nó vẫn được gọi bằng tiếng
Latinh là geometria situs (hình học của nơi chốn) và analysis situs (giải tích
nơi chốn). Từ khoảng 1925 đến 1975 nó đã trở thành lãnh vực lớn mạnh quan trọng
bậc nhất của toán học.
Thuật ngữ tô pô
cũng để chỉ một đối tượng toán học riêng biệt trong ngành. Với ý nghĩa này, một
tô pô là một họ của các tập mở mà có chứa tập trống và toàn bộ không gian, và
nó đóng dưới các phép hội bất kì và phép giao hữu hạn. Và đây là định nghĩa của
một không gian tô pô.Người ta có phát biểu rằng một nhà tô pô học là người mà
không thể phân biệt được sự khác nhau giữa một cái vòng xuyến và một ca đựng
bia có quai. Vì cả hai đều là vật rắn và có đúng 1 lỗ hổng. Đôi khi tô pô còn
được gọi là hình học về miếng cao su vì trong tô pô thì không có sự phân biệt
giữa một đường hình vuông với một đường tròn. Đường hình tròn có thể được kéo
co giãn để biến dạng thành hình vuông. Tuy nhiên, đường tròn thì hoàn toàn phân
biệt với đường hình số 8, bởi vì không thể nào kéo dãn hình tròn để tạo thành
hình số 8 mà không đục xé nó ra thêm một lỗ. Các không gian nghiên cứu trong tô
pô gọi là các không gian tô pô. Chúng thay đổi từ dạng quen thuộc như không
gian thực n chiều cho đến các cấu trúc vô cùng kì lạ.
Như vậy có thể
nói một cách nôm na rằng tô pô là một ngành nghiên cứu về đặc tính của các cấu
trúc đặc có tính siêu co giãn, siêu biến dạng nhưng lại không thể bị cắt rời
thành nhiều mảnh, không thể bị đâm thủng hay bị dán dính vào nhau.
Một số định
hướng khi nghiên cứu môn toán cũng như các môn khoa học lý thuyết:
TỔNG HỢP
TẤT CẢ CÁC TẬP HỢP SỐ HIỆN NAY:
1. Số tự nhiên
2. Số nguyên
3. Số hữu tỉ
4. Số vô tỉ
5. Số thực
6. Số phức
7. Số siêu phức
Giải phương
trình là một trong những phần trọng tâm nhất của Đại số. Ngày nay
người ta đã có thể giải các phương trình từ bậc 1 ->4 bằng nhiều
cách khác nhau tuy nhiên phương trình từ bậc 5 trở đi thì người ta
chứng minh được rằng không có phương pháp giải chung với mọi bài và
rất nhiều phương trình đặc biệt là các phương trình vô tỉ không giải
được bằng toán học sơ cấp...
CÁC BẤT ĐẲNG
THỨC NỔI TIẾNG:
1. Bất đẳng thức
Bunya không vsky
2. Bất đẳng thức
Azuma
3. Bất đẳng thức
Bernoulli
4. Bất đằng thức
Boole
5. Bất đẳng thức
Cauchy-Schwarz
6. Bất đẳng thức
cộng Chebyshev
7. Bất đẳng thức
Chernoff
8. Bất đẳng thức
Cramer-Rao
9. Bất đẳng thức
Hoeffding
10. Bất đẳng thức
Holder
11. Bất đẳng thức
Jensen
12. Bất đẳng thức
Markhôngv
13. Bất đẳng thức
Minkhôngwski
14. Bất đẳng thức
Nesbitt
15. Bất đẳng thức
Pedoe
16. Bất đẳng thức
tam giác
17. Bất đẳng thức
trung bình cộng và trung bình nhân
Làm rõ hơn về phạm trù
– Trong cuộc sống, chúng ta thường xuyên gọi tên những khái niệm
nhất định như “người”, “thú”, “vàng”, “chì”… Những khái niệm đó là hình thức
của tư duy, phản ánh những mặt, những thuộc tính quan trọng nhất của một nhóm
nhóm, một lớp những sự vật, hiện tượng nhất định.
Tùy thuộc vào số lượng sự vật, hiện tượng được khái niệm phản
ánh, “gom vào” mà ta có khái niệm rộng, hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất
trong một lĩnh vực cụ thể chính là phạm trù trong lĩnh vực ấy.
“Khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính,
những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh
vực hiện thực nhất định được gọi là phạm trù”.
– Mỗi bộ môn khoa học (toán, lý, hóa, văn, sử, tâm lý học…) đều
có phạm trù riêng của mình. Như các phạm trù năng lượng, khối lượng… trong vật
ly; biến dị, di truyền… tring sinh học; hàng hóa, giá trị… trong kinh tế học.
Còn phạm trù triết học là phạm trù rộng nhất, lớn nhất, chung
nhất…, hơn tất cả các ngành khoa học có thể kể tên như toán học, hóa học, văn
học, sử học, kinh tế học…
Một số phạm trù triết học quen thuộc:
– Vật chất.:
Định nghĩa vật chất của Lênin được diễn đạt như sau:
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ
bản sau:
- Vật chất là một phạm trù triết học.
- Vật chất là thực tại khách quan.
- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.
- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản
ánh.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin có nhiều ý nghĩa thế giới quan
và phương pháp luận to lớn:
- Bác bỏ những quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về vật chất.
- Phủ nhận thuyết không thể biết về vật chất.
- Khắc phục những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình,
máy móc về vật chất.
- Định hướng các khoa học cụ thể trong việc tìm kiến các dạng
hoặc hình thức mới của vật thể.
- Cho phép xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội.
+ Nội dung định nghĩa vật chất nêu trên gồm những khía cạnh cơ
bản sau:
- Vật chất là một phạm trù triết học.
“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất
trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ
trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất
trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…).
“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học,
tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì
khác rộng hơn.
Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người)
vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét”
vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó.
- Vật chất là thực tại khách quan.
Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý
thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người. “Tồn tại khách quan” là thuộc
tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì
không phải là vật chất.
Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong
muốn hay không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.
- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.
Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác
(nói rộng ra là ý thức). Như thế, vật chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất.
Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là tính thứ hai.
Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức,
nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất.
Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn
tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có con người. Đây ví dụ cho thấy vật
chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức.
Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người.
Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ thuộc vào vật chất. Như thế, ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng
tạo.
Để hiểu thêm về ý thức, mời các con đọc bài viết: Nguồn gốc, bản
chất của ý thức.
- Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản
ánh.
Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng
được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái
bàn, quả táo…) mà các giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận
được.
Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại,
chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự
chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc
nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện.
Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người
chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người.
– Ý thức.
Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề
hết sức phức tạp, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của
quá trình phát triển tự nhiên và xã hội. Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên
và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản chất của phạm trù này.
+ Nguồn gốc của ý thức
*Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý
học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý
thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên
ngoài tác động lên óc người.
= Bộ óc người
Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua
quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của
riêng dạng vật chất này.
Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất
nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này.
Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị
tổn thương thì hoạt động ý thức không diễn ra bình thường hoặc rối loạn.
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài
tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có
yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài.
- Sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người
Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái
bàn, mặt nước, cái gương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là
sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất
khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.
Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại,
kể lại một cái gì đó. Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh
cũng là sự phản ánh.
Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận
tác động.
Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản
ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật
chất khác.
Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành
sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so
với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.
Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người
được gọi riêng bằng phạm trù “ý thức”. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế
giới bên ngoài vào bộ óc con người.
*Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,
không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan
trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Đó là
lao động, tức là thực tiễn xã hội và ngôn ngữ.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người
thông qua lao động, ngôn ngữ và các cơ quan xã hội. Theo Ph. Ăng-ghen, lao động
và ngôn ngữ là hai sức kích thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não người,
biến tâm lý động vật thành ý thức con người.
- Lao động
Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như
trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.
Con người có khả năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản
phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn.
Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.
Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động thực tiễn,
nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết
được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này.
Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác
động vào bộ óc con người để con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do
con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó
nhằm tạo ra những sản phẩm mới.
Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt
những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc
lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào
bộ óc người để hình thành ý thức của con người.
- Ngôn ngữ
Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi
kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính
nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là
chữ viết.
Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó
là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có hệ thống tín hiệu
này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được.
Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của
tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa,
tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật
cảm tính.
Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bộ não con người và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên
của ý thức.
+ Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Như vậy, bản chất của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:
- Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được
phản ánh.
Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài
và độc lập với cái phản ánh (tức ý thức). Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự
vật khách quan. Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.
Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm
vi chủ quan, không có tính vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối
tượng vật chất có tồn tại cảm tính.
- Ý thức là sự phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.
Tuy thuộc phạm vi chủ quan, nhưng ý thức không phải là bản sao
thụ động, giản đơn, máy móc của sự vật. Tức là, không phải cứ sự vật tác động
như thế nào thì ý thức sẽ chép lại, chụp lại y nguyên như thế.
Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.
Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con
người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu
cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức
của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện
thực khách quan.
Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong
phú.
Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về
sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán,
dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo
tưởng, huyền thoại. Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm,
thấu thị…
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật
chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn
khổ của sự phản ánh.
- Ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3
mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin
giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi
này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, con người mô hình
hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh
tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã
hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chủ thể chuyển mô hình
từ trong óc ra hiện thực khách quan. Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng,
thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất
trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi…
theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở trên.
- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.
Chỉ khi con người xuất hiện, tiến hành hoạt động thực tiễn để
cải tạo thế giới khách quan theo mục đích của mình, ý thức mới xuất hiện. Như
thế, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà bắt nguồn từ
thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.
Ý thức bị chi phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ
yếu bởi các quy luật xã hội. Ở những thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng
một thời đại, ý thức về cùng một sự vật, hiện tượng có thể khác nhau ở các chủ
thể khác nhau.
+ Ý nghĩa rút ra từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức
Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản
chất của ý thức, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:
Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn
Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc
người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới
khách quan. Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật
chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối
tượng vật chất đó.
Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói
quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật
chất.
Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân
mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.
Phát huy tính tự giác, chủ động của con người
Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách
quan, ta cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn. Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng
nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng.
Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong
học tập, lao động. Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ
nghĩa.
– Sự phát triển.
Sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với mối
liên hệ phổ biến giữa chúng. Do vậy, nguyên lý về sự phát triển cũng gắn liền,
quan hệ hữu cơ với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Hiểu một cách chung nhất, “nguyên lý” là những tư tưởng ban đầu,
xuất phát, có vai trò định hướng, chỉ đạo việc triển khai những lý thuyết tiếp
theo.
Khái niệm về sự phát triển
Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù
triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Ta cần phân biệt khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển“:
Vận động là mọi biến đổi nói chung. Khái niệm này có ngoại diên
lớn hơn khái niệm phát triển.
Phát triển là sự vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy
luật. Phát triển gắn liền với sự ra đời của cái mới này.
Nhờ có sự phát triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận
động của sự vật cũng như chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như
thế, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động.
Quan điểm biện chứng thừa nhận tính phức tạp, tính không trực
tuyến của quá trình phát triển. Sự phát triển có thể diễn ra theo con đường
quanh co, phức tạp, trong đó không loại trừ bước thụt lùi tương đối.
* Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan của sự phát triển
Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực luôn vận động,
phát triển một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người. Đây là sự
thật hiển nhiên, dù ý thức của con người có nhận thức được hay không, có mong
muốn hay không.
Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngày trong chính bản thân của sự
vật, hiện tượng. Đó là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thuộc
mỗi sự vật, hiện tượng.
Phát triển là quá trình tự thân (tự nó, tự mình) của mọi sự vật,
hiện tượng.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan
của sự phát triển đã phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu
hình về sự phát triển.
Quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực
lượng siêu nhiên, phi vật chất (thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người.
Tức là đều nằm ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.
Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là
“đứng im”, không phát triển. Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về
mặt lượng (số lượng, kích thước…) mà không có sự biến đổi về chất.
- Tính phổ biến của sự phát triển
Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội
và tư duy. Từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh
hiện thực ấy.
Trong hiện thực, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im,
luôn luôn duy trì một trạng thái cố định trong suốt quãng đời tồn tại của nó.
- Tính kế thừa của sự phát triển
Sự phát triển tạo ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa,
giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ phận, đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của
cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu cực, lạc hậu, không tích
hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác trên
cơ sở kế thừa như vậy.
Đó là quá trình phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn
đến sự thay đổi về chất. Quá trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy
trôn ốc.
- Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển
Sự phát triển có muôn hình, muôn vẻ, biểu hiện ra bên ngoài theo
vô vàn loại hình khác nhau.
Sự phong phú của các dạng vật chất và phương thức tồn tại của
chúng quy định sự phong phú của phát triển. Môi trường, không gian, thời gian
và những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau tác động vào các sự vật, hiện tượng
cũng làm cho sự phát triển của chúng khác nhau.
Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi
của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính
mình với trình độ ngày càng cao hơn…
Sự phát triển trong xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự
nhiên, cải tạo xã hội ngày càng lớn của con người.
Đối với tư duy, sự phát triển là năng lực nhận thức ngày càng
sâu sắc, toàn diện, đúng đắn hơn.
* Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển của các sự vật,
hiện tượng, chúng ta rút ra quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn. Quan điển này đòi hỏi:
- Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó trong sự
vận động và phát triển.
Ta cần phải nắm được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang
hiện hữu trước mắt, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai, khả
năng chuyển hóa của nó. Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ được xu hướng
chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đó.
Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ,
trì trệ, định kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được
trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về
toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến
sai lầm nghiêm trọng.
- Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát
triển trong thực tiễn.
Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển
theo một quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh
co, phức tạp của quá trình phát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá
khách quan đối với mỗi bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan
về sự thụt lùi tương đối sẽ khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.
- Phải chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự
vật, hiện tượng.
Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn
trong mỗi sự vật, hiện tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu
thuẫn để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.
Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai
đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo
nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Vì trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát
hiện, cổ vũ cái mới phù hợp, tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ
đạo.
Ta cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp
lý của cái cũ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu,
cản trở sự phát triển.
Phải tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức
thực tiễn.
Tuyệt đối tránh bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động.
-Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng
để tạo ra sự thay đổi về chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao
động để làm cho sự vật, hiện tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi
về chất.
– Sáu cặp phạm trù cơ bản:
Trước khi tìm hiểu về 6 phạm trù triết học, chúng ta cùng điểm
qua định nghĩa về phạm trù và phạm trù triết học.
Phạm trù là khái niệm phản ánh những thuộc tính, mối liên hệ cơ
bản và chung nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Phạm trù triết học là khái niệm rộng nhất, chung nhất phản ánh
các mặt, các mối liên hệ với bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên xã
hội và trong tư duy.
Phạm trù triết học có những tính chất sau:
Tính biện chứng: Được thể hiện ở nội dung mà phạm trù phản ánh
luôn phát triển, vận động nên phạm trù cũng vận động, thay đổi liên tục, không
đứng im. Phạm trù có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Tính biện chứng của hiện tượng hay sự vật mà phạm trù phản ánh
quy định biện chứng của phạm trù. Điều này cho thấy chúng ta cần sử dụng, vận
dụng phạm trù hết sức linh hoạt, mềm dẻo, biện chứng và uyển chuyển.
Tính khách quan: Mặc dù phạm trù chính là kết quả của sự tư duy,
tuy nhiên nội dung mà các phạm phù phản ánh lại là khách quan do thiện thực
khách quan mà phạm trù phản ánh quy dinh. Có thể giải thích rộng hơn là phạm
trù khách quan về cơ sở, về nguồn gốc, về nội dung, còn hình thức thể hiện là
phản ánh chủ quan của phạm trù.
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn
tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong
thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:
1) Cái chung và cái riêng
2) Bản chất và hiện tượng
3) Nội dung và hình thức
4) Nguyên nhân và kết quả
5) Khả năng và hiện thực
6) Tất nhiên và ngẫu nhiên
Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa
vào 3 tính chất cơ bản (tính khách quan, tính phổ biến và tínhđa dạng, phong
phú) theo không gian và thời gian cụ thể.
Cặp phạm trù cái chung và cái riêng
Cái chung là phạm trù triết học chỉ ra những thuộc tính, những
mặt giống nhau và được lặp lại trong cái riêng khác.
Phạm trù cái riêng chỉ ra một hiện tượng, một sự vật, một hệ
thống hay một quá trình mà sự vật tạo thành chỉnh thể độc lập với các cái riêng
khác.
Cái chung chỉ tồn tại ở trong cái riêng, thông qua cái riêng để
biểu hiện sự tồn tại của mình.
Ví dụ: Mỗi người là một thể thực riêng biệt, bên trong mỗi người
đều có điểm chung như có đầu óc để quan sát và điều khiển hành vi của mình. Có
trái tim để cảm nhận thế giới xung quanh.
Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là phạm trù được dùng để chỉ tác động qua lại giữa
các bộ phận, các mặt và các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật
với nhau gây nên những biến đổi nhất định.
Kết quả là phạm trù chỉ ra những biến đổi đã xuất hiện do phạm
trù nguyên nhân tạo ra.
Nguyên nhân sẽ sinh ra kết quả nên nguyên nhân có trước, kết quả
có sau và nguyên nhân như thế nào thì sẽ sinh ra kết quả tương tự như thế đó.
Ví dụ: Gieo gió ắt sẽ gặp bảo, làm việc phi pháp sự ác đến ngay,
ở hậu gặp hậu ở bạc gặp bạc.
Cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
Phạm trù tất nhiên sẽ vạch ra đường đi cho mình qua rất nhiều cái
ngẫu nhiên, tất nhiên sẽ quy định cái ngẫu nhiên đồng thời ngẫu nhiên sẽ bổ
sung cho tất nhiên. Do đó trong thực thế mọi việc đều phải căn cứ vào tất nhiên
chứ không căn cứ vào phạm trù ngẫu nhiên, nhưng cũng không được bỏ quá ngẫu
nhiên, không được tách rời tất nhiên ra khỏi ngẫu nhiên.
Ví dụ: Để đạt được kết quá nhất trong việc học tập thì cần siêng
năng, chăm chỉ là điều tất nhiên, tuy nhiên tới ngày thi thì mắc vấn đề sức
khỏe nên làm bài thi kết quả thấp là điều ngẫu nhiên.
Để đạt được kết quả tốt trong học tập thì chăm chỉ, siêng năng
học tập là điều tất nhiên, nhưng nhưng đến ngày thi thì bị vấn đề về sức khỏe
làm kết quả thi thấp là điều ngẫu nhiên.
Cặp phạm trù nội dung và hình thức
Cặp phạm trù này luôn có mối liên hệ thống nhất và gắn bó chặt
chẽ với nhau. Không có một hình thức nào không có nội dung, cũng như không một
nội dung nào lại không chứa hình thức. Phạm trù nội dung quyết định hình thức,
đồng thời hình thức tác động ngược lại với nội dung. Hình thức phù hợp thúc đẩy
nội dung phát triển tốt hơn và ngược lại.
Ví dụ: Nội dung trong một cuốn sách như thế nào sẽ quyết định
phải làm bìa như thế đó, nếu nội dung buồn mà lại có cách bố trí tiêu đề và màu
bìa là gam màu vui nhộn thì sẽ rất phản cảm, người đọc sẽ không bao giờ quyết
định đọc cuốn sách đó.
Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng
Bản chất là phạm trù chỉ ra tổng hợp các mặt cũng như các mối
liên hệ tương đối ổn định trong sự vật, bản chất quy định sự phát triển và vận
động của sự vật đó.
Hiện tượng là phạm trù chỉ ra biểu hiện bên ngoài của bản chất.
Hiện tượng là biểu hiện của một bản chất và bản chất bao giờ
cũng thể hiện ra thành những hiện tượng nhất định. Bản chất quyết định tới hiện
tượng, bản chất thế nào thì hiện tượng sẽ thế đó.
Ví dụ: Nước có bản chất là lỏng thì sẽ thể hiện ra bằng hiện
tượng.
Cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Phạm trù khả năng và hiện thực luôn tồn tại thống nhất, luôn
chuyên hóa và không tách rời nhau. Khả năng khi ở trong điều kiện nhất định sẽ
biến thành hiện thực. Do đó, trong việc nhận thức về thực tiễn cần dựa vào hiện
thực. Để khả năng biến thành hiện thực, con người cần phát huy tối đa tính chủ
động của mình trong nhận thức và thực tiễn.
Ví dụ: Trước mắt là bút, giấy và thước kẻ là hiện thực thì khả
năng có thể tạo ra được một hộp đựng quà.
Chắc hẳn qua thông tin về 6 cặp phạm trù triết học trên ai quan
tâm đọc đã có thể nắm rõ được quan điểm triết học Mác – Lênin về mối quan hệ
biện chứng giữa các cặp phạm trù, ý nghĩa phương pháp luận được rút ra khi
nghiên cứu các phạm trù này
* Nguyên lý về sự phát triển:
Là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát
triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy
luật cơ bản:
1) Quy luật mâu
thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, hay còn
gọi là quy luật mâu thuẫn, là một trong ba quy luật cơ bản của triết học Mác –
Lênin. Quy luật này làm sáng tỏ nguồn gốc sự vận động, phát triển của sự vật.
NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU
TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP:
Nội dung quy luật này phát biểu rằng:
Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh
hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và
phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT
VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP:
* Định nghĩa về các “mặt đối lập”, “mâu thuẫn
biện chứng”, sự “thống nhất” và “đấu tranh” của các mặt đối lập:
– Mặt đối lập:
Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc
tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một
cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ví dụ:
+ Trong mỗi con người, các mặt đối lập là hoạt động ăn và hoạt
động bài tiết.
+ Trong một lớp học, các mặt đối lập là hoạt động đoàn kết để cả
lớp cùng lớn mạnh và hoạt động cạnh tranh để trở thành sinh viên giỏi nhất lớp.
+ Trong sinh vật, các mặt đối lập là đồng hóa và dị hóa.
Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong
tất cả các sự vật.
– Mâu thuẫn biện chứng:
Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái mà các mặt đối lập liên hệ,
tác động qua lại lẫn nhau.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến
trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh
mâu thuẫn trong hiện thực và nguồn gốc phát triển của nhận thức.
Ta cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng với mâu thuẫn lô-gic hình
thức. Mâu thuẫn lô-gic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, xuất hiện do sai lầm
trong tư duy.
– Sự “thống nhất” của các mặt đối lập:
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn
tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy
sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
Ví dụ: Trong mỗi con người, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết
rõ ràng là các mặt đối lập. Nhưng chúng phải nương tựa nhau, không tách rời
nhau. Nếu có hoạt động ăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không
thể sống được. Như vậy, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết thống nhất với nhau
ở khía cạnh này.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao
giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự
“đồng nhất” của các mặt đối lập. Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà
trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có
thể chuyển hóa cho nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động
ngang nhau của chúng. Tuy nhiên, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn
khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.
– Sự đấu tranh của các mặt đối lập:
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu
hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.
Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa
dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và điều
kiện diễn ra cuộc đấu tranh.
Ví dụ: Trong một lớp học, hoạt động đoàn kết và hoạt động cạnh
tranh là các mặt đối lập. Có những lúc hoạt động đoàn kết nổi trội hơn, nhưng
có những lúc hoạt động cạnh tranh lại nổi trội hơn. Như thế, hoạt động đoàn kết
và hoạt động cạnh tranh đang “đấu tranh” với nhau.
* Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
– Sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt đối lập là hai
xu hương tác động khác nhau của các mặt đối lập.
Hai xu hướng này tạo thành một loại mâu thuẫn đặc biệt. Như vậy,
mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “sự đấu tranh” của các
mặt đối lập.
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời
nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật.
Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, ổn định tạm thời của sự
vật. Còn sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động, phát triển.
– Đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự
thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển.
Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản,
nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng lớn lên,
rộng ra và đi đến trở thành đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt và đã
hội đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ
sự giải quyết này mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới;
sự vật cũ mất đi, thay thế bằng sự vật mới.
Ví dụ: Trong hoàn cảnh sống của bạn Lan đang tồn tại một mâu
thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn đi du lịch nhiều. Khi mâu
thuẫn này phát triển đến mức bạn Lan không đi du lịch nhiều thì không thể thấy
hạnh phúc, nên bạn Lan đã quyết tâm học tiếng Anh để đi kiếm tiền nhiều hơn.
Kiếm được tiền nhiều nghĩa là mâu thuẫn đã được giải quyết. Cuộc sống cũ ít
hạnh phúc của Lan được thay bằng cuộc sống mới nhiều hạnh phúc hơn.
– Như thế, sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Ta thấy rõ, không có thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ không
có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không
thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng.
Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa
tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn chính là
nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
Các nhân viên đều phấn đấu làm giám đốc. Họ cùng cố gắng, cạnh
tranh nhau, do đó đều trở nên giói hơn. Như thế, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự
vận động và phát triển. Ảnh: Ecoblader.com.
* Phân loại mâu thuẫn:
Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng. Tính phong phú, đa dạng đó
được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều
kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó
mâu thuẫn tồn tại.
*- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, ta có thể
phân loại các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
– Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các
khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.
Ví dụ:
Mâu thuẫn giữa hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là mâu thuẫn
bên trong mỗi con người.
– Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn
diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.
Ví dụ:
Phòng A và phòng B đều đang phấn đấu để trở thành đơn vị kinh
doanh xuất sắc nhất của công ty X. Ở đây tồn tại mâu thuẫn giữa phòng A và
phòng B. Nếu xét riêng đối với phòng A (hoặc phòng B), mâu thuẫn này là mâu
thuẫn bên ngoài.
– Việc phân chia thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài chỉ mang tính tương đối, tùy theo phạm vi xem xét. Cùng một mâu thuẫn nếu
xét trong mối quan hệ này là mâu thuẫn bên trong, nhưng xét trong mối quan hệ
khác lại là mâu thuẫn bên ngoài.
Ví dụ:
Ở trên ta đã đưa ra các ví dụ về phòng A, phòng B của công ty X.
Nếu xét trong nội bộ phòng A thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâu thuẫn
bên ngoài. Nhưng nếu xét trong nội bộ công ty X thì mâu thuẫn giữa phòng A và
phòng B là mâu thuẫn bên trong.
– Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với
quá trình vận đông, phát triển của sự vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và
mâu thuẫn bên ngoài không ngừng tác động qua lại lẫn nhau.
Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải
quyết mâu thuẫn bên ngoài. Việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để
giải quyết mâu thuẫn bên trong.
*- Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn
bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ
bản.
– Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật,
quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật. Mâu thuẫn cơ bản tồn
tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Mâu thuẫn này được giải quyết thì
sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất.
Ví dụ:
Trong ví dụ về bạn Lan đã nêu ở trên, mâu thuẫn giữa việc có
tiền ít và muốn đi du lịch nhiều là mâu thuẫn cơ bản vì nó liên quan đến giá
trị sống của bạn Lan. Khi mâu thuẫn cơ bản này được giải quyết (tức là kiếm
được nhiều tiền để đi du lịch nhiều), cuộc sống mới nhiều hạnh phúc của Lan
thay thế cho cuộc sống cũ ít hạnh phúc. Như tế, sự vật đã thay đổi căn bản về
chất.
– Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một
phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn
đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.
Ví dụ:
Mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B trong nội bộ công ty X mà ta
nêu ở trên là mâu thuẫn không cơ bản.
*- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại, phát
triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, ta có mâu thuẫn chủ yếu và mâu
thuẫn thứ yếu.
– Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giải
đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai
đoạn đó. Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện để
sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn
cơ bản, hay là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai
đoạn nhất định.
Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng
bước mâu thuẫn cơ bản.
– Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong
một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi
phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối. Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu góp phần
vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
*- Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, ta chia mâu
thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
– Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những
tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa công nhân với giới chủ, giữa nông dân với
địa chủ, giữa thuộc địa với chính quốc.
– Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã
hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không
cơ bản, cục bộ, tạm thời.
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thông, giữa lao động trí
óc với lao động chân tay.
Việc phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa
trong việc xác định đúng phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn
đối kháng phải bằng mâu thuẫn đối kháng. Giải quyết mâu thuẫn không đối kháng
thì phải bằng phương pháp đàm phán, hiệp thương…
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ QUY
LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làm sáng tỏ
nguồn gốc của sự vận động, phát triển của các sự vật và có ý nghĩa phương pháp
luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
* Để nhận thức đúng bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng,
giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn, ta phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra
mâu thuẫn của sự vật.
Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất
những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra những mặt đối lập
và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa những mặt đối lập
đó.
* Phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu
thuẫn.
Khi phân tích mâu thuẫn, ta phải xem xét quá trình phát sinh,
phát triển của từng mâu thuẫn. Ta phải xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ
lẫn nhau của các mâu thuẫn. Phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị
trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng.
Chỉ có như vậy ta mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật,
hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn.
* Để thúc đẩy sự vật phát triển, ta phải tìm mọi cách để giải
quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn.
Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ
phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng
giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi.
Một mặt, ta phải chống thái độ chủ quan, nón vội. Mặt khác, ta
phải cực kỳ thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải
quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi.
Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Do
đó, ta phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa
phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.
Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn
thiện hơn.
Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình
luận để mọi người anh em có thể giải đáp khi thời gian cho phép nhé!
2/Quy luật lượng
– chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển
Quy luật lượng – chất là một trong ba quy luật cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin. Diễn đạt một cách đầy đủ, đó là quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.
NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại phát biểu rằng: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự
thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn
của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất
mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng.
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG –
CHẤT:
* Phạm trù “chất” và phạm trù “lượng”:
*- Phạm trù “chất”:
Định nghĩa: Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy
định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các
thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác.
Ta cần lưu ý mối quan hệ giữa chất và thuộc tính như sau:
– Tổng hợp các thuộc tính của sự vật làm nên chất của sự vật đó.
Thuộc tính ở đây có thể hiểu là “tính chất”, như tính dẫn điện, tính co giãn,
tính chua, tính ngọt…
– Để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức được
những thuộc tính của sự vật đó. Và để nhận thức được thuộc tính nhất định của
sự vật, ta cần nhận thức thuộc tính đó trong mối quan hệ giữa các sự vật. Ở mức
độ cao hơn, để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức sự vật trong
tổng hợp các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với các sự vật khác.
– Nếu nhận thức sự vật A trong 01 mối quan hệ giữa sự vật A với
sự vật B, ta hiểu phần nào về chất của A. Nếu nhận thức sự vật A trong 02 mối
quan hệ là giữa A với B và giữa A với C, ta hiểu hơn về chất của A. Cứ như vậy,
nhận thức càng nhiều mối quan hệ của A với các sự vật B, C, D, E.., Z, ta sẽ
hiểu ngày càng đầy đủ về chất của A.
– Ta cũng có thể hiểu mỗi sự vật có vô vàn chất.
Vì mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính lại có một
phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến mỗi thuộc tính ây lại trở
thành một chất.
– Chất căn bản và giới hạn tồn tại của sự vật:
+ Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính khác nhau; có thuộc tính cơ bản
và thuộc tính không cơ bản. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất căn
bản của sự vật.
+ Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản. Đó là loại chất mà nếu
mất đi, sự vật cũng mất đi. Chất can bản sẽ quy định sự tồn tại, phát triển hay
tiêu vong của sự vật.
+ Mỗi sự vật đều có giới hạn tồn tại của mình. Khi xem xét sự
vật trong tính xác định về chất của nó, ta thường so sánh sự vật đó với các sự
vật khác. Sự so sánh này giúp ta hình thành về giới hạn tồn tại của sự vật.
Vượt qua giới hạn của mình, sự vật không còn là nó mà trở thành
một cái gì đó khác. Điều đó có nghĩa chất của sự vật đồng nghĩa với tính có hạn
của nó.
*- Phạm trù “lượng”:
Định nghĩa: Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định
vốn có của sự vật, biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận
động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
Ta cần lưu ý một số điểm sau liên quan phạm trù lượng:
– Lượng có thể được xác định bằng những đơn vị đo lường cụ thể
và chính xác. Ví dụ: dài 3 mét, nặng 20 ki-lô-gram.
Đồng thời, có những tính quy định về lượng chỉ có thể biểu thị
dưới dạng trừu tượng, khái quát. Ví dụ: anh A yêu chị B rất nhiều, trình độ dân
trí cao, ý thức pháp luật thấp…
– Cũng như chất của sự vật, lượng của sự vật cũng mang tính
khách quan. Trong sự tồn tại khách quan của mình, sự vật có vô vàn chất. Do đó,
sự vật cũng có vô vàn lượng.
– Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời và quy định lẫn
nhau. Một chất nhất định của sự vật có lượng tương ứng với nó.
Ví dụ: Một cậu bé 10 tuổi (chất là “cậu bé”) có lượng kiến thức
vừa phải. Khi cậu bé trở thành thanh niên (chất là “thanh niên”), anh ta có
lượng kiến thức lớn hơn.
Như thế, sự biến đổi tương quan giữa chất và lượng tạo nên tiến
trình phát triển của sự vật.
* Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay
đổi về chất theo quy luật lượng – chất:
Để nắm được mối quan hệ này, ta cần nắm được định nghĩa về “độ”,
“điểm nút” và “bước nhảy”.
*- “Độ”:
– Định nghĩa: “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự
thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi
về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật”.
– Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Khi sự
vật vận động và phát triển, chất và lượng của nó cũng vận động, biến đổi, thay
đổi. Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn ra độc lập với nhau mà có
quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập
tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay đổi
trong giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó. Giới
hạn đó chính là “độ”.
– Ví dụ về “độ”:
+ Người sống lâu nhất thế giới từng được biết đến có tuổi thọ
146 tuổi. Nên với dữ kiện này, ta có thể thấy giới hạn từ 0 – 146 năm là “độ”
của con người xét về mặt tuổi. Diễn đạt một cách chính xác hơn: Sự thống nhất
giữa trạng thái còn sống và số tuổi từ 0 – 146 là “độ tồn tại” của con người.
(Thuật ngữ “độ tuổi” mà chúng ta hay dùng cũng ít nhiều liên quan ở đây).
+ Từ 0 đến dưới 100 độ C, nước vẫn ở thể lỏng. Trong khoảng 0
< t < 100 độ C, sự thống nhất giữa trạng thái nước lỏng và nhiệt độ C
tương ứng là “độ” tồn tại của nước lỏng. (Ở đây cần phân biệt “độ C” và “độ tồn
tại” là hai khái niệm khác nhau). Nếu quá 100 độ C, nước sẽ chuyển thành hơi
nước. Nếu ở dưới 0 độ C, nước sẽ ở thể rắn.
*- “Điểm nút”:
– Định nghĩa: “Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về
lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút”.
Ví dụ: Ở những ví dụ đã nêu trên, 0 độ C, 100 độ C, 146 tuổi là
những điểm nút.
– Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời
của chất mới. Sự thống nhất giữa lượng mới và chất mới tạo thành một độ mới với
điểm nút mới.
*- “Bước nhảy”:
– Định nghĩa: “Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ
giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây
ra”.
Ví dụ: Sự chuyển hóa từ nước lỏng thành hơi nước là một bước
nhảy. Có bước nhảy này là do nước lỏng có sự thay đổi về nhiệt độ và đạt đến
100 độ C.
Sự thay đổi về lượng rồi ắt sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất và
ngược lại.
– Trong lịch sử triết học, do tuyệt đối hóa tính dần dần, tính
tiệm tiến của sự thay đổi về lượng nên các nhà triết học siêu hình đã phủ nhận
sự tồn tại của “bước nhảy”. Triết học Mác – Lênin cho rằng phải có “bước nhảy”
thì mới giải thích được sự vận động, phát triển của thực tế.
– Các hình thức của bước nhảy có thể phân loại như sau:
+ Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần:
Sự phân chia này dự trên thời gian và tính chất của sự thay đổi
về chất của sự vật.
Những bước nhảy gọi là đột biến khi chất của sự vật biến đổi một
cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành nó.
Những bước nhảy dần dần xuất hiện khi quá trình thay đổi về chất
diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần, lâu dài những nhân tố của chất mới và
mất đi dần những nhân tốc của chất cũ.
+ Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ:
Sự phân chia này dựa trên sự xuất hiện của bước nhảy ở số lượng bộ
phận cấu thành của sự vật.
Nếu bước nhảy làm thay đổi về chất của tất cả các mặt, bộ
phận, yếu tố cấu thành sự vật…, thì đó là bước nhảy toàn bộ.
Còn bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, bộ
phận… cấu thành sự vật.
+ Khi xem xét sự thay đổi về bản chất của xã hội, ta có thể chia
sự thay đổi ra thành thay đổi cách mạng và thay đổi có tính chất tiến hóa.
Cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự
cải tạo căn bản về chất của sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó được diễn
ra như thế nào.
Tiến hóa là sự thay đổi về lượng cũng với những biến đổi nhất
định về chất, nhưng là chất không căn bản của sự vật.
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại giúp chúng ta nhận thức được phương thức vận động
và phát triển của sự vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
* Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt
lượng và mặt chất của nó.
Những nhận thức ban đầu về chất của các sự vật chỉ trở nên đúng
đắn và sâu sắc hơn khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của
sự vật đó.
Để nhận thức được sự vật, ta phải nhận thức trong mối quan hệ
tác động qua lại giữa sự vật đó với những sự vật khác, cũng như giữa các mặt,
thuộc tính của sự vật đó. Vì chỉ khi đó, mặt lượng và mặt chất của sự vật mới
bộc lộ ra.
* Ta phải tổ chức hoạt động thực tiễn dựa trên sự hiểu biết đúng
đắn vị trí, vai trò và ý nghĩa của sự thay đổi về lượng cũng như sự thay đổi về
chất trong sự phát triển xã hội.
Ta phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang
tính cách mạng.
Để xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, ta phải xem xét
tiến hóa và cách mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng. Hiểu đúng đắn mối
quan hệ này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn nghiêm khắc với chủ nghĩa cải lương,
chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa tả khuynh.
* Ta phải kiên trì đổi mới trên từng lĩnh vực để tiến tới đổi mới
toàn diện đời sống xã hội.
Nắm được quy luật lượng – chất sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng
quan, toàn diện và xác định đúng phương pháp, lộ trình thực hiện công cuộc đổi
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.
Theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới là
một quá trình mang tính cách mạng. Ta cần phải thực hiện đổi mới thành công
trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo ra bước nhảy về chất ở đó. Với sự
thành công trên nhiều lĩnh vực, ta có cơ sở thực tế để đổi mới thành công toàn
diện đất nước Việt Nam. Đó là khi ta tạo được bước nhảy về chất của toàn bộ xã
hội nói chung.
Những bước nhảy trong quá trình đổi mới hiện nay chỉ có thể là
kết quả của qúa trình thay đổi về lượng thích hợp. Do đó, bất kỳ sự nôn nóng,
chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra những tổn thất lớn cho đất nước.
Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn
thiện hơn.
Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình
luận để anh chị em có thể giải đáp ngay trên blog này khi thời gian cho phép
nhé!
3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản
của triết học Mác – Lênin. Quy luật này nói lên chiều hướng phát triển của sự
vật, hiện tượng.
I. NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ
ĐỊNH:
Quy luật phủ định của phủ định là quy luật nói lên mối liên hệ,
sự kế thừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định; do sự kế thừa đó, phủ định
biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển
trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung
tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất
phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn; do vậy, sự phát triển có tính chất tiến lên
không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc.
Sự phát triển có tính chất tiến lên không phải theo đường thẳng
mà theo đường xoáy ốc.
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH
CỦA PHỦ ĐỊNH:
* Định nghĩa về phủ định biện chứng:
– Trước khi tìm hiểu phủ định biện chứng là gì, ta cần hiểu thế
nào là phủ định.
Phủ định là sự thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện
tượng khác trong quá trình vận động và phát triển.
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá
trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong. Sự vật cũ mất đi được thay
bằng sự vật mới.
Sự thay thế đó là phủ định. Phủ định là tất yếu trong quá trình
vận động và phát triển của sự vật. Không có phủ định, sự vật không phát triển
được.
Ví dụ:
+ Trong quá trình phát triển của các phương tiện giao thông, xe
máy là sự phủ định đối với xe đạp. Xê ô tô là sự phủ định đối với xe máy.
+ Trong sự phát triển của gia đình, con giỏi hơn cha tức là con
đã phủ định cha. Ông cha ta thường hay nói “con hơn cha là nhà có phúc” là ý
như vậy.
– Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân
phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ
hơn so với cái bị phủ định.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hóa từ những thay
đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất; sự đấu tranh thường xuyên của các
mặt đối lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi,
sự vật mới ra đời thay thế.
Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động, phát triển
không ngừng của sự vật. Sự vật mới ra đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ.
Điều đó có nghĩa là sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên
tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Đó là phủ định biện chứng.
Ví dụ:
+ Trong ngành sản xuất điện thoại thông minh, iPhone 11 là sự
phủ định đối với iPhone X.
+ Khi gieo trồng, cây lúa là sự phủ định biện chứng đối với hạt
thóc.
+ Trong chăn nuôi, con gà đạp trứng ra đời là sự phủ định biện
chứng đối với quả trứng.
* Đặc điểm của phủ định biện chứng:
Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bản là tính khách quan và
tính kế thừa.
*- Tính khách quan:
– Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự
phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật. Nguyên nhân đó chính là kết quả giải
quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật.
– Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển.
Vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động,
phát triển của sự vật. Đương nhiên, mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng
tùy thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng.
– Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí chủ quan
của con người. Con người chỉ có thể tác động mà cho quá trình phủ định ấy diễn
ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.
*- Tính kế thừa:
– Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của
sự vật nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái cũ.
– Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, chúng không
thể từ hư vô. Cái mới ra đời là sự phát triển tiếp tục của cái cũ trên cơ sở
gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại,
cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, bổ sung những mặt mới phù
hợp với hiện thực.
– Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định những
mặt tốt, tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực.
Có thể nói, sự phát triển chẳng qua chỉ là sự biến đổi trong đó
những giai đoạn sau bảo tồn tất cả những mặt tích cực được tạo ra ở giải đoạn
trước và bổ sung thêm những mặt mới phù hợp với hiện thực.
Phủ định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, sự vật cũ,
mà còn là sự liên kết giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, quá khứ
và hiện tại. Phủ định biện chứng là mắt khâu tất yếu của mối liên hệ và sự phát
triển.
Ví dụ:
Trong bất kỳ loài sinh vật nào, các thế hệ con cái đều kế thừa
những yếu tố tích cực của cha mẹ và bỏ qua những yếu tố lạc hậu.
– Tuy vậy, cũng cần lưu ý là, những nhân tố tích cực của sự vật
cũ được giữ lại vẫn phải được cải tạo, phải được biến đổi cho phù hợp với điều
kiện mới.
* Phủ định của phủ định: Hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển:
– Sự vật ra đời và tồn tại đã khẳng định chính nó. Trong quá
trình vận động của sự vật ấy, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những
nhân tố cũ. Khi đó, sự phủ định biện chứng lần 1 diễn ra: Sự vật ban đầu không
còn nữa mà bị thay thế bằng sự vật mới, trong đó những nhân tố tích cực của sự
vật ban đầu được giữ lại.
– Tuy nhiên, sau một thời gian, sự vật mới ra đời ở trên lại bị
phủ định bằng sự vật mới khác. Đó là sự phủ định lần 2. Cứ thế tiếp tục, tùy
vào sự vật sẽ có phủ định lần 3, lần 4…, lần n.
Sau 2 hoặc nhiều lần phủ định, sẽ có một sự vật mới dường như
lặp lại (rất giống) với sự vật ban đầu, song không phải là sự trùng lặp hoàn
toàn với sự vật ban đầu đó, mà ở nấc thang cao hơn; nó được bổ sung những nhân
tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực đối với sự phát triển tiếp tục của
nó.
Sau 2 hoặc nhiều lần phủ định dẫn đến sự xuất hiện sự vật mới mà
dường như lặp lại sự vật ban đầu thì ta có một chu kỳ phát triển. Ở đây có sự
phủ định của phủ định.
Ví dụ:
+ Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được
ấp) => Phủ định lần 1 tạo ra gà mái con => Phủ định lần 2 (gà mái con lớn
lên) sinh ra nhiều quả trứng.
+ Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng) =>
Phủ định lần 1 tạo ra cây lúa => Phủ định lần 2, cây lúa sinh ra nhiều hạt
thóc.
Ở 2 ví dụ trên ta có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban
đầu đến nhiều quả trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mới. Từ
một đến nhiều tức là có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. Đó là kết quả phủ
định của phủ định.
– Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện
chứng là sự thống nhất giữa loại bỏ, kế thừa và phát triển. Mỗi lần phủ định
biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tố tích cực mới.
Như thế, những lần phủ định biện chứng nối tiếp nhau sẽ tạo ra
xu hướng tiến lên không ngừng, như việc sẽ ngày càng có nhiều quả trứng hơn,
ngày càng có nhiều hạt thóc hơn.
– Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển do mâu
thuẫn.
Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa của các mặt
đối lập trong bản thân sự vật. Các mặt đối lập ở đây là mặt khẳng định và mặt
phủ định.
Phủ định lần 1 sẽ làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với
mình (như quả trứng ban đầu đối lập với gà mái con; gà mái con là vật trung
gian). Sau một hoặc nhiều lần phủ định tiếp theo sẽ ra đời một sự vật mới đối
lập với cái trung gian (nhiều quả trứng sinh ra đối lập với gà mái con).
Mà đối lập với cái trung gian nghĩa là dường như tương đồng với
sự vật ban đầu, dường như quay trở lại thời điểm xuất phát (như việc một quả
trứng sinh ra nhiều quả trứng, một hạt thóc sinh ra nhiều hạt thóc).
Như thế ta thấy, đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện
chứng thông qua phủ định của phủ định chính là sự phát triển dường như quay trở
lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn.
– Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ
phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp
theo. Cứ thế, các chu kỳ phát triển cứ nối tiếp nhau tạo thành sự phát triển,
sự tiến lên vô cùng tận của thế giới, nhưng không phải theo đường thẳng mà theo
hình xoáy ốc.
– Sở dĩ nói “theo hình xoáy ốc” vì “hình xoáy ốc” đã biểu đạt
được các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp
lại nhưng không quay trở lại và tính chất tiến lên của sự phát triển.
Mỗi vòng mới của đường “xoáy ốc” thể hiện trình độ cao hơn của
sự phát triển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua, lặp lại vòng trước. Sự
nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tân của sự phát triển, tính vô tận
của sự tiến lên từ thấp lên cao.
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ QUY
LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Quy luật phủ định của phủ định làm sáng tỏ chiều hướng vận động,
phát triển của các sự vật và có ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
* Cái mới nhất định sẽ xuất hiện từ cái cũ nhưng ta không được
phủ sạch cãi cũ.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta cần lưu ý rằng cái
mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc
hậu. Cái mới ra đời từ cái cũ, kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ. Do
đó, ta cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.
* Chúng ta phải chủ động phát hiện, bồi dưỡng, thúc đẩy cái mới.
Trong thực tiễn, ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới,
phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới. Mặc dù cái mới lúc đầu còn
yếu ớt, ít ỏi, ta phải ra sức ủng hộ, bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều
kiện cho cái mới chiến thắng cái cũ.
Trong khi đấu tranh với cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, gạn
đục khơi trong, giữ lấy những gì còn tích cực, có giá trị từ cái cũ, cải tạo
cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới. Chúng ta phải chống thái độ “hư vô
chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận, đánh giá quá khứ.
* Phải khắc phục thái độ bảo thủ, loại bỏ những hủ tục trong xã
hội.
Trong khi chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá
khứ, chúng ta cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại những cái
lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử.
Chúng ta phải nhận thức rõ những cái lỗi thời, ví dụ như những
hủ tục cũ trong việc cưới xin, tang lễ, hội hè…, quan niệm “có nếp có tẻ” trong
việc sinh con… sẽ gây ra nhiều tốn kém và nhiễu nhương.
Xin mời các con đưa ra một vài bình luận để bài viết có thể hoàn
thiện hơn.
Nếu còn điều gì chưa rõ, các con hãy để lại câu hỏi ở phần bình
luật trên blog để các anh chị em có thể giải đáp khi thời gian cho phép nhé!
Biện chứng là một phương pháp lý luận, một lý thuyết cho rằng
một cái gì đó – cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức
được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn:
– Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc
một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế
thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là các sự vật tồn tại trên trời đất nó sẽ có
giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu.
– Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là
“phản đề”, nó nhằm phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa
chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó, ở một
vài khía cạnh nhất định, nó vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát
hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa
và tránh các hạn chế của cả hai.
– và Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là
“hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ
nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn
như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở
nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều
này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề
mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại
diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ thứ ba khi một hợp
đề thứ hai đạt được.
CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người
sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng
lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài
người.
a) Vai trò và trách nhiệm của cá nhân đổi với xã hội
Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người
sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực. Xã hội tồn tại rộng
lớn, dưới các hình thức dân tộc, giai cấp, quốc gia... rộng hơn là xã hội loài
người.
Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có mối liên hệ với nhau,
nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội. Chỉ những quan hệ giữa
người với người được hình thành trong quá trình hoạt động của con người trên
mọi lĩnh vực mới gọi là quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội là khách quan hình thành từ tác động của cá nhân
và tập thể trong xã hội. Những tác động này không phải ngẫu nhiên mà có mục
đích, có xu hướng ổn định. Cá nhân thực hiện các vai trò do xã hội quy định với
tư cách là thành viên của xã hội.
Quan hệ xã hội làm thay đổi bản chất con người. Quan hệ xã hội
chung là quan hệ về quốc gia, dân tộc, giai cấp, địa phương, lãnh đạo, chính
quyền, pháp luật, phong tục tập quán,...
Quan hệ xã hội riêng là quan hệ cá nhân trong gia đình, bạn bè,
họ hàng, người thân, cơ quan, tập thể...Quan hệ xã hội chính thức là quan hệ
hành chính do xã hội quy định như quan hệ cấp dưới, cấp trên, người dân, chính
quyên. Quan hệ xã hội không chính thức là quan hệ tâm lý của cá nhân như tình
cảm, nhóm bạn bè, xã giao..
Biết xây dựng và kết hợp các quan hệ xã hội đúng đắn sẽ có hành
vi ứng xử tốt đẹp. Cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội thông qua hoạt
động và giao tiếp, do đó cá nhân cần chú ý các ứng xử lịch sự, văn hoá, lành
mạnh, đúng mực.
Các chủ thể trong quan hệ xã hội có ý thức, thói quen. Từ quan
hệ giữa các cá nhân có thể tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau. Cá nhân
tham gia xã hội để có quyền lợi của mình, phục vụ cho lợi ích của mình, Trong
quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế đóng vai trò quyết định các quan hệ khác.
Mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và là con người, cá nhân có
nhu cầu về vật chất, tình cảm, ngoài ra còn có nhu cầu xã hội như học tập, lao
động, dân chủ, văn hoá... Bởi vậy cá nhân phải tự rèn luyện cả thể lực và trí
lực để trở thành một con người toàn diện.
Cá nhân dù có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng khó tránh khỏi những
điều chưa tốt, nếu không thường xuyên sống hướng thiện thì có thể phần bản năng
sinh vật sẽ lấn át phần xã hội, sẽ không còn tính người, sẽ xảy ra sự tranh
giành lẫn nhau, cái ác sẽ lấn át cái thiện.
Một trong những quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền
tự do. Xã hội càng phát triển, con người càng được có điều kiện hưởng tự do.
Tuy nhiên, tự do cá nhân không được phép xâm phạm đến tự do cá nhân của người
khác, không được gây ảnh hường đến xã hội. Tự do cá nhân không thể tách rời các
chuẩn mực đạo đức xã hội. Cá nhân không thể sống cô lập, cách ly khỏi đời sống
xã hội.
Xã hội tiến bộ, phát triển bền vững dựa trên nền tảng giá trị
đạo đức vững chác của mọi cá nhân. Mọi người sống có đạo đức, có tài năng, là
thành viên xứng đáng, góp phần xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Lòng hướng
thiện của mỗi cá nhân có tác động tích cực giúp cá nhân xích lại gần nhau, dễ
dàng cởi mở và sống chân thành với nhau hơn. Chủ động tạo ra mối quan hệ tốt
đẹp với người khác, với xã hội càng hài hoà, tốt đẹp, phát triển bền vững.
b) Xây dựng quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ xã hội của cá nhân là bộ phận của toàn bộ quan hệ xã hội
gồm có quan hệ giữa các tập đoàn lớn, giữa các nhóm xã hội, các quan hệ cá
nhân. Mỗi cá nhân có điều thiện, điều tốt nhưng không tránh khỏi có cái xấu
trong lòng. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp cần làm cho cái tốt nhiều hơn, cái xấu
bớt dần đi.
Muốn xây dựng xã hội mới thì phải xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa. Đó là con người có trí tuệ, có tài năng, có đạo đức cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư, có tình thương yêu nhân dân, yêu con người. Nếu cá nhân
biết đem lợi ích riêng của mình phục tùng lợi ích chung thì cả xã hội và cá
nhân đều được bảo đảm.
Sự phát triển của xã hội phải bắt nguồn từ sự phát triển của mỗi
cá nhân. Hiện nay, Đảng ta cụ thể hoá quan hệ cá nhân, tập thể và xã hội với
quan điểm:
- Gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và
công bằng xã hội; khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực
xoá đói giảm nghèo, kết hợp hài hoà các lợi ích, thực hiện tốt các chính sách
an sinh xã hội, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa...
- Coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế xã hội. Mọi chính sách đều coi trọng cá nhân nhưng phải xuất phát
từ nhu cầu của tập thể, của xã hội. "Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định
phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng
lợi ích lâu dài"
- Thông qua các chính sách kinh tế để khuyến khích lợi ích. Kết
hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội. Luật pháp hoá, thể chế
hoá các quyền của cá nhân, các mối quan hệ theo các chuẩn mực tiến bộ, giữ bản
sắc văn hoá dân tộc.
- Gắn lợi ích với trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ công
dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, xây dựng quan hệ hợp tác, tin cậy lẫn
nhau, hướng tới tương lai; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực
to lớn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
CÁ NHÂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁ NHÂN
TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
Quan niệm mác xít về cá nhân dựa trên quan điểm duy vật về lịch
sử, xem xét con người như là sản phẩm của môi trường xã hội và thừa nhận vai
trò tích cực của con người trong nhận thức và cải tạo môi trường đó. C. Mác đã
khẳng định: "Bản thân xã hội sản sinh ra con người với tính cách là con
người như thế nào, thì con người cũng sản sinh ra xã hội như thế ấy"
Từ quan niệm trên chúng ta thấy rằng, cá nhân trước hết là cá
thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, -là chủ thể của
hoạt động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử
cụ thể của đời sống xã hội quy định.
Cá nhân là cá thể người, song không phải mọi cá thể người nào
cũng đều là cá nhân. Để thể hiện đúng tư cách là cá nhân, con người phải trải
qua một quá trình phát triển nhất định để có một nhân cách đầy đủ, mang tính
chỉnh thể. Ở đây, phạm trù cá nhân đặc trưng cho con người hoàn chỉnh trong sự
thống nhất giữa những đặc điểm riêng biệt của con người với bản chất chung của
cộng đồng .
Trong sự phát triển của xã hội nói chung, sự phát triển của cá
nhân là thước đo, là đặc trưng cho sự phát triển xã hội đó. Không có và không
bao giờ có cá nhân chung chung, trừu tượng, mà chỉ có cá nhân với tất cả dáng
vẻ riêng biệt và sự thống nhất mang tính lịch sử- cụ thể.
Lịch sử sinh thành loài người hàng chục vạn năm cũng là lịch sử
mà điện mạo cá nhân luôn luôn vận động và phát triển.
Thuở sơ khai, con người là những thực thể hoang dã, chưa đủ sức
mạnh để tách ra khỏi giới tự nhiên, sống chung với muôn loài và thế giới thần
linh; số phận con người bị chi phối bởi những sức mạnh huyền bí của tạo hoá.
Con người duy trì sự sống trong giới tự nhiên bao la bằng sức mạnh cơ bắp, bằng
năng lực bẩm sinh của cái tự nhiên và bằng sự may rợ của số phận.
Trong giai đoạn cao của thời đại mông muội, việc dùng lửa và chế
tạo ra cung tên đã làm cho sức mạnh con người chuyển biến một cách đáng kể.
"Cung tên đối với thời đại mông muội cũng giống như thanh kiếm sắt đối với
thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh: một vũ khí có tính chất
quyết định”
Khi lịch sử bước sang giai đoạn văn minh, diện mạo con người
thay đổi một cách cơ bản. Từ chỗ là một bộ phận của giới tự nhiên, con người
tách dần ra khỏi giới tự nhiên; từ chỗ là nô lệ của giới tự nhiên, con người
từng bước thống trị giới tự nhiên.
Tuy nhiên, suốt đêm trường Trung cổ, con người bị dồn ép trong ý
thức hệ phong kiến và tôn giáo. Bản chất vươn lên khẳng định mình là những cá
nhân đã làm nẩy sinh tư tưởng Phục hưng ca ngợi con người, đòi tự do cho cá
nhân, đòi quyền tư hữu, đề cao chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giải phóng con
người.
Nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, ước mơ tự do cho cá nhân,
giải phóng con người đã không thể thực hiện được. Sự tha hoá con người xuất
hiện với tính cách là hậu quả trực tiếp của sở hữu tư nhân, của độ người bóc
lột người, mà nét đặc trưng là biến sản phẩm hoạt động của con người, những
năng lực, những đặc tính của con người thành những cái gì xa lạ với con người,
chi phối con người.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã từng bước khắc phục sự tha hoá con
người, để con người thật sự trở thành những cá thể với tư cách là những chủ thể
làm chủ đời sống với những năng lực sáng tạo, phát triển xã hội. Mặc dù đã tạo
được một bước tiến to lớn trong sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của con người,
nhưng xét trên nhiều mặt thì mục tiêu phát triển những cá nhân đích thực – làm
chủ bản thân, làm chủ xã hội – thì những nội dung mà chủ nghĩa xã hội hiện thực
trong thời gian qua đã làm vẫn còn phải bổ sung thêm nhiều điểm mới.
Từ cái nhìn toàn diện, phải thấy rằng “con người không chỉ là
sản phẩm của lịch sử; cao hơn nữa, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; và
điều còn quan trọng hơn, con người phải là những chủ thể văn hoá” Chỉ có thể
đứng trên quan điểm đó mới thấy hết xu thế và khả năng phát triển của con người
với tư cách là cá nhân trong thời đại ngày nay – đó là thời đại mà mọi sự thay
đổi đạt đến tốc độ kỳ diệu, là thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, là thời
đại hoà nhập và hợp tác vì sự tăng trường kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm mục
đích cao quý là phục vụ con người.
Trong xu thế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối phát
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy
mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế, giải phóng mọi tiềm năng sản xuất, lấy hiệu quả
kinh tế và phát triển văn hoá làm thước đo cho sự phát triển xã hội; phát triển
kinh tế gắn liền với việc phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc, tất
cả vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với đặc điểm ấy, con người với tư cách là cá nhân trong xã hội
Việt Nam hiện nay sẽ là con người phát triển hài hoà trong mối quan hệ cá nhân
– xã hội.
Đã có một thời kỳ dài, chúng ta xây dựng con người tập thể theo
những khuôn mẫu chung chung, trừu tượng, ít được phát triển mặt cá tính riêng
tư, thiếu bản sắc độc đáo. Con người khuôn mẫu, cố nhiên không thể có sức sáng
tạo, hoặc bản lĩnh sáng tạo vốn có của nó bị hạn chế. Bởi vậy, về mục tiêu,
chúng ta đề cao con người, nhưng về phương pháp, có khi vô tình, chúng ta lại
hạ thấp con người, làm mất đi sự năng động và sự phong phú của các cá nhân.
Tinh thần đổi mới và những điều kiện của sự nghiệp đổi mới đất
nước đang mở ra những triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của các cá nhân.
Trước hết, đó là mục tiêu vươn tới với những động lực bên trong
của nó. Con người, xét về bản chất xã hội là mang tính cộng đồng, nhưng động
lực bên trong thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của cá nhân là những lợi ích thiết
thực đối với từng cá nhân. Tinh thần đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá vì hạnh phúc con người mà toàn Đảng toàn dân ta đang thực hiện là điều
kiện để kết hợp lợi ích chung với lợi ích riêng, để sự phát triển của mỗi cá
nhân và của cả cộng đồng mang mục đích và ý nghĩa tự thân.
Thời đại ngày nay là thời đại của văn minh trí tuệ: Trí tuệ trực
tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hiện đại. Hàm lượng trí tuệ trong các sản
phẩm do con người làm ra ngày càng cao. Trong xu thế đó, giáo dục để nâng cao
dân trí là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới. Công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước đang đặt ra vấn đề đào tạo những cá nhân lao động ngày
càng có chất lượng cao. Hiện nay, cả nước ta có 96 trường đại học và cao đẳng,
436 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Cán bộ có trình độ cao đang
ngày càng phát triển: Tiến sỹ 420 người, Phó tiến sỹ 10.500 người, Thạc sỹ gần
400 người, hàng trăm nghìn cán bộ có trình độ trung học, đại học. Con số này
mỗi năm một tăng lên đáng kể. Điều đó cho thấy, con người Việt Nam đang vận
động theo hướng phát triển trí tuệ. Đó là những cá nhân có học vấn, ham tìm
tòi, khám phá và sáng tạo. Con người ngày càng hành động theo quy luật, có định
hướng và hiệu quả ngày càng cao. Yêu cầu và điều kiện của công cuộc đổi mới
hình thành một đội ngũ trí thức - công nhân với sự hài hoà hai yếu tố tri thức
và kỹ năng trong lao động, tạo thành một đội ngũ những người công nhân lành
nghề, có tay nghề cao, thực hành giỏi. Ở đây, sự phát triển của cá nhân đang
hướng tới chỗ coi trọng các yếu tố thực hành có hiệu quả, không phải là những
cá nhân chỉ biết thuần tuý lý thuyết.
Muốn phát triển thì phải tự khẳng định mình và hoà nhập với cộng
đồng. Con người Việt Nam đang hướng tới những giá trị mang tính toàn cầu nhưng
đồng thời cung là con người mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc. Trong điều
kiện hiện nay, sự phát triển cá nhân đang đòi hỏi một trong những nét đặc trưng
của con người - yếu tố nhân ái, nhân văn trong quan hệ với cộng đồng. Phát
triển cá nhân không có nghĩa là đề cao chủ nghĩa cá nhân, mà thực chất là phát
huy những giá trị chuẩn mực về văn hoá của cộng đồng và phát huy tối đa những
phẩm chất, tư chất trong bản thân mỗi cá nhân. Nhiều yếu tố của nền kinh tế thị
trường nhiều khi làm cho người ta chỉ chú ý đến giá trị kinh tế mà quên mất các
giá trị tinh thần có ý nghĩa trường tồn của con người.
Những cá nhân có lòng nhân ái vốn đã trở thành nét truyền thống
"lá lành đùm lá rách" của đạo lý dân tộc, đó là những con người luôn
coi trọng các giá trị văn hoá, tinh thần mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Một cá
nhân đích thực trong cộng đồng hiệm nay phải là một cá nhân kết hợp hài hoà
trong mình các yếu tố dân tộc - nhân loại, truyền thống - hiện đại. Mặt khác,
con người là sự thống nhất giữa cải chung và cái đặc thù, giữa những chuẩn mực
có tính đặc trưng của cộng đồng xã hội với tính cách cá nhân. Môi trường hoà
nhập quốc tế, điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ ở nước ta hiện
nay là điều kiện tốt để cho mỗi cá nhân có thể phát huy đầy đủ cá tính và bản
sắc riêng, thể hiện bản lĩnh thích nghi và hoà nhập với cộng đồng, tự chủ và
sáng tạo. Trong sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện xã hội, nhất là trong bối
cảnh của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, mỗi cá nhân phải luôn tự
khẳng định mình, biết chấp nhận mọi thay đổi và thích nghi với hoàn cảnh, năng
động, có bản lĩnh và cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển. Bởi vậy,
phát triển cá nhân cũng có nghĩa là phát huy các yếu tố mang bản sắc riêng có
của mỗi con người, đề cao bản lĩnh tự chủ và sáng tạo trong con người.
Nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi một cách khách quan năng lực
hoạt động kinh tế trong mỗi cá nhân. Cá nhân hiện đại không chỉ là con người
chính trị, mà còn phải phát triển khía cạnh con người kinh tế, nghĩa là biết tư
duy kinh tế, biết làm giàu chính đáng. Xét một cách bản chất, điều đó có nghĩa
là con người biết hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Tư duy kinh tế
là sự đòi hỏi nghiêm khắc của cả hai mặt: bản lĩnh sáng tạo và tri thức khoa
học. Năng lực hoạt động thực tiễn được thể hiện ở hiệu quả kinh tế và là một
trong những phẩm chất quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân hiện nay.
Muốn đáp ứng được sự phát triển của những phẩm chất cá nhân theo
tinh thần đó, con người phải học tập, phải rèn luyện không ngừng. Có thể nói,
học tập là nét nổi bật trong hiện tại và tương lai của cuộc sống con người.
Điều này, cũng có nghĩa là khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự phát
triển con người với tư cách cá nhân. Chỉ có không ngừng học tập, mỗi cá nhân
mới có thể theo kịp tri thức, học vấn và những tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện
đại để sẵn sàng thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống hiện đại. Bởi vậy, trước
những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay, quan điểm của V. I. Lê nin
"Học, học nữa, học mãi" có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết.
Phát triển cá nhân là xu thế tất yếu của cuộc sống. Sự phát
triển cá nhân, tự nó đã bao hàm ngay trong bản thân nó quan hệ cá nhân - cộng
đồng, là sự thể hiện đặc trưng bản chất xã hội và bản sắc, tư chất riêng trong
mỗi con người. Những điều kiện của thời đại và của xã hội Việt Nam hiện nay
đang tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển cá nhân, hướng tới sự
hài hoà về nhân cách con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
CÁCH TỰ TÔN TRỌNG BẢN THÂN, BẢN THÂN
PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐƯỢC TÔN TRỌNG
Biết cách tôn trọng bản thân luôn là nhân tố hàng đầu trong việc
xây dựng nhân cách của 1 con người, ngoài ra đó cũng là điểm khiến phụ nữ bị
cuốn hút. Đối với phụ nữ, việc đàn ông biết tự tôn trọng mình đồng nghĩa với
sức mạnh tinh thần mà người đó phát ra.
Trên thực tế, phụ nữ luôn tìm kiếm mẫu đàn ông có thể đối
phó với mọi hoàn cảnh, và có thể che chở cho họ tại mọi thời điểm. Vậy tự tôn
trọng bản thân là gì? Và nó có can dự gì đến cuộc sống của đàn ông chúng ta?
Tự tôn trọng bản thân không phải thứ xuất phát từ bên ngoài. Nó
không phải là danh tiếng, sức mạnh, quyền lực, tiền bạc, xe hơi, nhà cửa, v.v…
Nó là thứ tồn tại từ bên trong con người mỗi chúng ta. Nó hiện diện như 1 trò
chơi, trong trò chơi này, ta phải là kẻ miễn nhiễm với mọi cám dỗ luôn vẫy tay
chào đón hàng ngày.
Sự miễn nhiễm này sẽ rất khó khăn nếu mình không gia tăng sức
mạnh của việc tự tôn trọng bản thân. Dưới đây là 6 phương pháp giúp minh cải
thiện sự tôn trọng của mình đối với chính bản thân mình.
Muốn tôn trọng bản thân hãy sống có ý thức
Hãy tưởng tượng ta đang đi lại trong 1 căn phòng không ánh sáng,
chắc hẳn bên cạnh việc dò dẫm thì cơ thể mình sẽ chạm phải rất
nhiều đồ đạc xung quanh. Trong khi đó, nếu bật đèn lên, việc đi lại sẽ trở nên
đơn giản đến chừng nào, và cũng chẳng có việc ta va chạm vào đồ vật trong phòng
nữa. Thế nên, sống có ý thức cũng như việc đi lại trong căn phòng sáng đèn vậy.
Ta chắc chắn sẽ muốn sống trong ánh sáng thay cho bóng đêm, đúng chứ?
Biết chấp nhận
Đừng từ chối những kết quả chưa hoàn hảo, cũng đừng từ chối công
sức mà minh bỏ ra. Hãy thừa nhận tất cả và thành thật với bản thân. Bên cạnh đó
phải hiểu bản thân nữa. Làm sao ta có thể sống ở 1 nơi mà không biết mình ở
đâu?
Có trách nhiệm với bản thân
Trước khi than phiền hay trách móc ai đó, hãy nhìn vào bản thân
mình trước đã. Nhìn nhận trách nhiệm của mình giống như việc ta dám đối diện
với sự thật, và chấp nhận sự thật dù nó có khốc liệt đến thế nào đi nữa.
Quyết đoán để tôn trọng bản thân
Hãy xếp tất cả mọi thứ thành 1 đường thẳng và chọn ra thứ nào
đúng, và bỏ qua những thứ sai. Hãy sẵn sàng nói không cho dù mình có
thể gặp rắc rối, hoặc thậm chí là bị tẩy chay đi nữa.
Sống có mục đích
Đặt ra những mục tiêu cho bản thân, đừng bao giờ là 1 kẻ thụ
động trong cuộc đời. Hãy tạo ra những mục tiêu 1 năm, 3 năm, 5 năm, tiếp đến
chia nhỏ chúng thành nhiều phần như 6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, cho đến ngày,
giờ, v.v… Đừng chỉ sống với mục đích, ta cần phải tạo ra những kế hoạch nữa, và
đừng chỉ tạo ra không, hãy thực hiện nó, và không chỉ thực hiện nó, hãy đo đạc
và so sánh những kết quả đạt được. Từ đó cuộc sống của mình sẽ
có nhiều mục đích hơn.
Trung thực
Nếu đã nói làm gì đó, dù có ra sao, ta cũng cần phải thực hiện
nó, và đừng để bất cứ vấn đề ngoại cảnh nào tác động. Trung thực được ví như
con thuyền, sẵn sàng vượt đại dương cho dù có bất cứ bão táp nào muốn nhấn
chìm. Sau cùng con thuyền trung thực vẫn tìm được đến bến đỗ của nó mà thôi.
Một anh chàng mới lớn gần đây cảm ơn tôi. Tôi hỏi cảm ơn vì điều
gì? Cậu ta nói cảm ơn vì đã giúp cậu ta có hiểu biết để trải qua 7 cuộc tình
trong suốt 4 năm qua. Cảm ơn vì đã giúp cậu ta tìm ra đam mê trở thành 1 PT
chuyên nghiệp thời gian sắp tới. Sự thật thì cậu ta mua sách Giải mã bí ẩn phái
đẹp của tôi từ năm lớp 9. Cậu ta giấu bố mẹ và giấu luôn cả tôi. Bởi biết thừa
rằng sách chỉ dành cho 18+ và không đời nào tôi bán những kiến thức đó cho
những người nhỏ tuổi hơn. Còn ta, mình đã từng làm gì đó tương
tự vậy chưa?
CÁC MỐI QUAN HỆ QUYẾT ĐỊNH CUỘC SỐNG
CỦA MÌNH
Dù mình có khác biệt đến đâu thì các mối quan hệ xung quanh cuộc
sống của mình cũng phát triển theo cùng một kịch bản.
Để hiểu rõ hơn, những phân tích sau sẽ thảo luận về sáu mối quan
hệ phổ biến nhất mà minh phải đối mặt. Hãy đặt mình vào đó, hiểu rõ vấn đề của
mình và tìm ra điều ta đang cần.
Hãy quan tâm nhiều hơn nếu mình đang có một mối quan hệ
"cùng phát triển'
1. Mối quan hệ "cùng phát triển"
Tức là khi hai người phụ thuộc vào nhau và giúp đỡ nhau cùng
phát triển - cảm xúc và tâm lý. Sự phát triển cảm xúc là một phần quan trọng
trong cuộc sống, chúng ta không thể tiến lên phía trước nếu không có sự trưởng
thành cảm xúc. Người đồng hành trong kiểu quan hệ này sẽ làm ta mạnh mẽ hơn và
truyền động lực để mình vượt qua được những giới hạn bản thân. Nếu mình đang ở
trong mối quan hệ này, ta thực sự rất may mắn đấy và lời khuyên cho minh là hãy
"quan tâm" nhiều hơn đến mối quan hệ này để có thể duy trì nó.
2. Mối quan hệ "im lặng dễ chịu"
Khi mình cảm thấy gắn kết và dễ chịu với đối phương và hai người
có thể ngồi im lặng cùng nhau mà không hề lo nghĩ gì về thế giới ngoài kia. Xây
dựng được một mối quan hệ kiểu này thường rất khó khăn và yêu cầu nhiều thời
gian, nỗ lực từ hai phía. Hãy tưởng tượng nếu mình và người ấy đang ngồi cạnh
nhau trong một buổi tối -chỉ ngồi, không nói năng gì. Ta cảm thấy thế nào? Nếu
mình thấy điều đó bình thường thì có lẽ ta đã có được một mối quan hệ cực kỳ
bền vững.
3. Quan hệ "lợi ích"
Những mối quan hệ kiểu này hoặc tốt hoặc xấu. Những người này
thường cần phải đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó cho riêng họ, như là nghề
nghiệp hay cuộc sống xã hội. Trong trường hợp xấu nhất, chỉ một trong hai người
biết rằng họ không thực sự đi cùng với người kia mãi mãi nhưng họ cần ở bên
cạnh để lấy được một lợi ích nào đó. Mối quan hệ này sẽ kết thúc nhanh chóng
khi một trong hai người đã đạt được tham vọng của mình.
4. Mối quan hệ "trải nghiệm"
Đây là một kiểu ích kỷ căn bản trong tự nhiên. Nó xảy ra khi một
người quyết định thực hiện mục tiêu của mình là để ai đó thành một thứ gì đó.
Ví dụ, người ấy muốn ta trở thành một người khác, khác hoàn toàn so với những
gì ta muốn. Và họ sẽ kết nối với mình để họ đạt được điều này. Họ muốn kiểm tra
xem trải nghiệm của họ có thành công không và liệu rằng họ có thể thay đổi ta
trở thành một người lý tưởng theo trí tưởng tượng của họ. Có khoảng 98% những
mối quan hệ này sẽ thất bại theo một cách tiêu cực và khá khủng khiếp.
5. Quan hệ "lôi kéo"
Có lẽ đây là một trong những kiểu quan hệ tệ nhất. “Lôi kéo” là
khi một người đáng lẽ đã phải kết thúc mối quan hệ từ lâu nhưng thực tế thì họ
vẫn bị lôi kéo về với người kia. Nó thường xảy ra sau một cuộc chia tay tồi tệ
và lại gặp nhau vài tháng sau đó. Nỗi buồn và sự đau đớn của cuộc chia tay là
quá lớn khiến họ không thể kiểm soát được, tuy nhiên mỗi người lại cố gắng thổi
cuộc sống mới vào mối tình đang chìm dần. Họ hiểu rằng họ không hợp với người
kia, họ hiểu rằng họ có nhiều xung đột hơn tình yêu, họ hiểu rằng họ sẽ khổ sở
hơn mỗi ngày nhưng họ vẫn cứ cố níu giữ. Sự níu kéo này có thể vì lý do xã hội
và điều này còn làm họ đau khổ hơn.
Cuối cùng mọi thứ cũng sẽ kết thúc nhưng quá trình này kéo dài
rất lâu và chỉ sau rất nhiều nỗ lực vô ích để hàn gắn mối quan hệ. Nếu mình
đang dính phải mối quan hệ như vậy, lựa chọn tốt nhất là hãy kết thúc nó thật
gọn ghẽ.
6. Quan hệ "cạnh tranh"
Mối quan hệ kiểu này sẽ không bao giờ đem lại điều gì tốt đẹp.
Khi hai người đang yêu, họ sẽ cố gắng hết mình để giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Trong một mối quan hệ "cạnh tranh", cả hai người đều cạnh tranh và
thậm chí có xu hướng chống đối lại người kia. Ví dụ, một người đàn ông và vợ
anh ta có thể cố gắng để đánh bại nhau trong sự nghiệp, trong những khía cạnh
mà họ cảm nhận rằng đối phương không chỉ là đối thủ mà thậm chí còn là kẻ thù.
Nếu mình đang ở trong mối quan hệ kiểu này, hãy tự giải thoát mình ngay lập
tức.
NHỮNG QUI LUẬT TỰ NHIÊN TRONG CUỘC SỐNG
1.Luật cân bằng:
Đây là quy luật quan trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật
khác của cuộc sống. Quy luật này được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc
trong cuộc đời một con người là những số dương, nếu coi đau khổ là những số âm.
Thì tổng của tất cả hạnh phúc và đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con
người (của bất cứ ai) là bằng không.
2.Luật tuần hoàn:
Diễn giải nôm na, luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc
đời của một con người là môt chuỗi tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và
đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó
lại đến một giai đoạn đau khổ mới và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo
quy luật này không ai là hạnh phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.
3.Nguyên lý cho và nhận:
Những thứ ta nhận được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta
cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được
từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.
4.Luật trả giá và đền đáp:
Dần dà trong cuộc đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ
cho từng lỗi lầm và từng hành động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một
cách xứng đáng cho mọi cố gắng và mọi việc làm tốt đẹp của mình.
5.Luật thử thách:
Những khó khăn, nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những
thử thách giúp những kẻ biết vượt qua trở nên mạnh hơn.
6.Luật bù trừ:
Ở trên đời này, hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ
mất một cái này sẽ được một cái khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại
tương ứng và ngược lại mỗi cái hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng.
Đó là luật bù trừ hay là luật đánh đổi.
7.Luật cộng sinh:
Một mối quan hệ giữa hai cá thể (loài vật, cây, con người hay
một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu dài nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho
nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có lợi cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối
quan hệ đó sẽ không tồn tại được lâu dài. Đó là luật cộng sinh.
8.Luật hấp dẫn:
Người xưa diễn giải luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu, hay "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã". Những tính cách giống nhau
sẽ thu hút và tìm đến với nhau. Một khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn
là khi một ý nghĩ được nung nấu, nó sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để
biến ý nghĩ đó thành hiện thực.
9.Luật vạn vật đồng nhất:
Luật vạn vật đồng nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào
đúng với trời đất, với vạn vật thì những quy luật đó cũng đúng với con người,
với cuôc đời hay các mối quan hệ của con người.
10.Luật cường độ giảm dần theo thời gian:
Luật cường độ giảm dần theo thời gian phát biểu như sau: Một
hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì ngày hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi
rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức nào thì ngày hôm sau đau khổ đó cũng được
cảm thấy dịu bớt đi.
11.Luật tự kỷ ám thị:
Nếu một ý nghĩ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng
thời gian dài thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là
công cụ mạnh của quảng cáo và ta cũng có thể tận dụng quy luật này để có được
những suy nghĩ tích cực và để rèn cho mình những đức tính mà mình chưa có.
12.Luật về sức mạnh của thói quen:
Những suy nghĩ hay hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở
thành thói quen và thói quen sẽ trở thành một phần trong tính cách. Đây là công
cụ mạnh để rèn luyện những tính cách mình muốn có.
13.Luật thích nghi:
Con người là động vật lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là
chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng chịu được. Con người được ban cho khả năng
thích nghi với nhiều điều kiện hoàn cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con
người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và
môi trường xung quanh.
14.Luật về sự tương tác
Khi vật A tác động vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một
lực tác động ngược lại đúng bằng lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan
hệ giữa con người với con người, khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự
đau đớn đúng bằng vậy. Và ngươc lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản
thân ta sẽ nhận được một hạnh phúc đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.
VẬN MỆNH CON NGƯỜI BỊ CHI PHỐI BỞI 9 QUY LUẬT NÀY, MUỐN CẢI BIẾN
PHẢI BIẾT
Rất nhiều sự việc trên đời xảy ra tưởng chừng như ngẫu
nhiên, nhưng nó lại tuân theo một số quy luật, đạo lí nhất định. Nếu
như có thể nắm vững những định quy luật này thì có thể cải biến
vận mệnh.
1. Luật nhân quả
Trên đời này không có một sự tình nào là ngẫu nhiên xảy ra. Mỗi
một việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó. Đây được xem là quy luật căn bản
nhất của vũ trụ. Vận mệnh của con người cũng là tuân theo quy luật này.
Từ xưa đến nay, các trường phái công nhận quy luật này không chỉ
có Phật giáo mà còn có Cơ đốc giáo… Triết học gia Hi Lạp cổ đại Socrates và nhà
khoa học vĩ đại Newton cũng công nhận đây là quy luật căn bản nhất của vũ trụ.
Suy nghĩ, lời nói và hành vi của con người đều được coi là
“nhân” và sẽ sản sinh ra “quả” tương ứng. Nếu “nhân” tốt thì “quả” cũng tốt,
nếu “nhân” xấu thì “quả” cũng xấu. Con người chỉ cần có suy nghĩ thì sẽ lập tức
không ngừng gieo trồng ra một loại “nhân”. Cho nên, “thiện nhân” hay “ác nhân”
là do bản thân mỗi người quyết định.
Bởi vậy, một người nếu muốn cải mệnh thì trước hết phải chú ý
đến suy nghĩ của mình. Bởi vì, tâm niệm một khi khởi lên thì sẽ dẫn phát ra lời
nói và hành vi tương ứng. Từ hành vi và lời nói ấy sẽ dẫn đến kết quả tương
ứng.
2. Luật năng lượng biến đổi không ngừng
Vạn vật trong vũ trụ đều mang một trường năng lượng tương ứng và
đặc trưng. Mọi thứ đều di chuyển và thay đổi cũng như việc biến đổi của năng
lượng vậy. Không có gì là đứng yên và ngưng nghỉ cả. Luật này cho phép cuộc
sống trở nên bất tận và kéo dài vô tận. Không có gì mất đi, chỉ đơn giản là
biến đổi.
Từ một năng lượng thấp và tiêu cực vẫn có thể chuyển hóa thành
năng lượng tích cực và tinh khiết. Mọi năng lượng đều có thể biến đổi theo một
chiều hướng khác, có thể là hoàn toàn khác biệt và hoàn toàn mới.
Không có gì là mất đi trong vũ trụ cả, chỉ là biến đổi và chuyển
sang một dạng năng lượng khác mà thôi. Cũng như khi mình còn trong thân xác, ta
là một dạng năng lượng đặc rắn chẳng hạn, còn khi mình “chết đi”, rời bỏ cơ thể
thì mình vẫn “sống”, chỉ
đơn thuần là mình biến đổi thành một dạng năng lượng khác mịn hơn, nhẹ hơn,
linh hoạt hơn… mà thôi. Tất cả đều là năng lượng. Vạn vật đều là năng lượng tùy
thuộc vào tính chất, hình dạng, kết cấu đặc trưng của năng lượng đó mà thôi.
Ta có thể áp dụng luật này để chuyển đổi trường năng lượng của
mình theo hướng mà minh muốn, tích cực hay tiêu cực là phụ thuộc vào sự lựa
chọn của mình.
3. Luật vô thường
Các thuộc tính của thời tiết mưa, gió, nắng tạo hiện tượng mát,
lạnh, nóng hình thành các mùa trong năm. Thời tiết vận hành tạo ra sự vô thường
làm con người sinh - lão - bệnh - tử nhưng nếu không có cái vô thường đó thì sẽ
không có thế hệ con người hạnh phúc, an lạc trong tương lai cũng giống như
không có mùa đông lạnh lẽo sẽ chẳng có mùa xuân ấm áp với muôn hoa đua nở. Tất
cả những tai ách, chướng duyên hay cụ thể là chết chóc, li biệt… là sầu não dẫu
có xảy ra là đang hứa hẹn một cái mới hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong tương lai.
Vì vậy, chúng ta phải có suy nghĩ lạc quan trước mọi đổi thay dù
là tiêu cực của cuộc sống để luôn có giây phút bình an, tự tại. Những khó khăn
giúp chúng ta tích lũy được kinh nghiệm, những trở ngại rèn luyện cho ta bản
lĩnh vững vàng, tạo đà để ta có đời sống tinh thần vững chãi và giải quyết mọi
công việc một cách dứt điểm, nhẹ nhàng, sáng suốt hơn.
4. Luật hấp dẫn
Tâm niệm (tư tưởng, suy nghĩ) của con người và hiện thực là luôn
hấp dẫn lẫn nhau. Ví như, một người luôn tràn đầy ý niệm rằng đường đời là
nhiều cạm bẫy, bước ra cửa sợ ngã, đi xe sợ tai nạn giao thông, kết giao bạn bè
sợ bị lừa gạt, thì người này sẽ có nguy cơ rất cao là gặp phải những sự cố
phiền phức ấy trong cuộc sống hiện thực. Họ chỉ hơi lơ đễnh, không cẩn thận thì
liền rước họa vào thân. Trái lại, một người luôn có suy nghĩ vui tươi, vô tư
chính trực, nghĩa khí khi kết giao bạn bè thì họ sẽ dễ dàng có được những người
bạn cũng có tính cách như vậy hơn so với những người không có suy nghĩ này.
Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì con người đều là dùng con mắt
“lựa chọn” để nhìn thế giới. Người ta chỉ nhìn đến, chú ý đến những con người,
sự vật mà mình tin tưởng, đối với những sự vật mà bản thân không tin tưởng,
người ta sẽ có thiên hướng không chú ý đến, thậm chí là “nhìn thấy mà làm như
không nhìn thấy”. Cho nên, những điều xảy ra trong hiện thực của một người là
do tâm niệm của người ấy hấp dẫn mà đến. Những điều này con người cũng không
khó để phát hiện ra. Tâm niệm của một người là tiêu cực, xấu xa thì hoàn cảnh
thực tế mà người ấy gặp phải cũng sẽ tương tự. Ngược lại, tâm niệm của một
người là lương thiện, là tích cực thì hoàn cảnh thực tế của người ấy cũng sẽ
như vậy.
Một người nếu có thể kiểm soát được tâm niệm (suy nghĩ) của
mình, khiến nó luôn lương thiện, tích cực thì cái năng lượng mà tâm niệm ấy
phát ra sẽ có thể hấp dẫn được người, sự việc, sự vật có cùng đặc tính đến. Cho
nên, kiểm soát được tâm niệm (tư tưởng, ý nghĩ) của bản thân sẽ có thể cải
thiện được vận mệnh của mình.
5. Luật gia tăng
Đây này là một luật tuyệt vời để mình áp dụng vào cuộc
sống của mình. Tính chất của nó là mình cho đi, dù chỉ là một ít, nhưng đó
lại là một lời khẳng định với vũ trụ rằng mình “có”, và sự giàu
có của minh là dồi dào. Và từ đó, chính lời khẳng định đó sẽ tạo ra thực tại
của minh vì vũ trụ cũng như một cây đèn thần hay một cỗ máy copy vậy. Dù
chỉ có một ít tiền, dù là một khoản nhỏ thôi nhưng cũng hãy biết ơn vì điều đó,
cảm ơn vì những thứ ta đang có và rồi sự dồi dào của minh sẽ được gia tăng. Cầu
nguyện mỗi ngày với những câu khẳng định biết ơn để gia tăng và cải thiện các
khía cạnh trong đời sống của minh như là hạnh phúc, tiền bạc, thành công, sức
khỏe… hay bất cứ điều gì ta muốn có trong tương lai.
Tuy nhiên, lời khẳng định không thể làm việc một mình được, mà
nó phải được kèm theo với một tư tưởng và niềm tin mạnh mẽ. Tư tưởng mang một
sức mạnh vô hình, và hãy cứ tập trung vào điều ta muốn và sáng tạo ra trải
nghiệm mà minh khao khát. Cứ tin như thể là nó chắn chắc sẽ xảy ra và rồi ta sẽ
thấy Luật Gia Tăng làm việc rất hiệu quả.
Thường thì hầu hết chúng ta khi vui, khi hạnh phúc thì ít khi
biết ơn, nhưng khi không vui hay buồn khổ thì chúng ta lại hay oán trách. Bây
giờ, hãy thôi than phiền về nợ nần, những điều không vừa ý xảy ra trong cuộc
sống của minh (nếu mình không muốn hấp dẫn thêm nợ nần và nhiều điều tiêu cực
đến với mình), mà thay vào đó hãy biết ơn với những gì khiến mình vui và hạnh phúc ở
hiện tại và cảm ơn cả những gì ta ao ước trong tương lai và tin tưởng những
điều tốt đẹp sẽ đến với mình.
6. Luật tin tưởng
Một người nếu thực sự tin tưởng thâm sâu rằng một việc nào đó
chắc chắn sẽ xảy ra thì không quản việc ấy là thiện hay ác, tốt hay xấu đều sẽ
xảy ra đối với người ấy. Trí óc của minh sẽ tìm kiếm những thông tin, hoàn
cảnh, nguồn lực để phù hợp với niềm tin của minh. Luật niềm tin rất mạnh mẽ,
nếu mình tin rằng mình nghèo khó thì cả
cuộc đời ta chắc chắn sẽ nghèo khó, khi đó ta chỉ tìm kiếm những sự kiện, suy
nghĩ để phù hợp với sự nghèo khó đó vị dụ như: tôi không có tiền, tôi không
thành công… Nếu mình tin tưởng mình giàu có và thành công thì cho dù trong bất
kì hoản cảnh có khó khăn đến thế nào ta vẫn vượt qua để phù hợp với niềm tin
giàu có và thành công đó.
Chúng ta cũng hành động dựa trên niềm tin dù đa số con người tự
giới hạn niềm tin của mình. Điều may mắn là không ai sinh ra đã có niềm tin.
Niềm tin của minh về bản thân, tiềm năng, thế giới, tôn giáo, chính trị, con
người, mọi thứ… đều do ta đã học hỏi một cách cẩn thận và tỉ mỉ, được hướng dẫn
và lặp đi lặp lại nhiều lần. Vậy sẽ vô cùng sai lầm khi chúng ta bị giới hạn
niềm tin của chính mình hoặc do bị ai đó tác động đến chúng ta làm giới hạn
niềm tin từ bản thân chúng ta. Đôi khi họ nói: ta không làm được đâu, điều đó
khó lắm chưa ai từng làm, ta nghĩ mình là ai? Ta không đủ thông minh, ta không đủ sáng tạo… đó
đều là những lời nói làm giới hạn niềm tin của chúng ta. Điều tồi tệ nhất xảy
ra khi chúng ta bị giới hạn bởi những niềm tin, những niềm tin giới hạn sẽ giữ
chúng ta lại trong cả một đời mà không phát huy được hết khả năng, tiềm năng
trong mỗi người. Ta cần phá vỡ giới hạn niềm tin của mình bằng cách luôn nghĩ
khả năng của minh, của mỗi người là không có giới hạn.
7. Luật buông lỏng
Con người, chỉ khi ở trong tình huống buông lỏng tâm thái thì
mới có thể đạt được thành quả tốt nhất. Một người có tâm thái nôn nóng, luống
cuống, nóng nảy… đều sẽ đem đến kết quả không tốt.
Vậy tâm thái nào là tốt nhất? Đó chính là càng thanh khiết,
không có niệm càng tốt. Một người nếu có thể đặt mục tiêu muốn đạt được những
điều lí tưởng trong nhân cách, cảnh giới, các mối quan hệ và cuộc sống trong
suy nghĩ, rồi buông lỏng tâm thái, tinh tấn cố gắng, làm những điều nên làm,
không nghĩ đến kết quả thì những điều ấy sẽ nhanh đến. Trái lại, nếu người ấy
càng nôn nóng nhìn thấy kết quả đạt được bao nhiêu thì sẽ càng không thể đạt
được kết quả lí tưởng bấy nhiêu, thậm chí còn nhận được kết quả ngược lại.
Ví dụ: Vào một đêm nóng
bức đột nhiên mất điện, mọi người nằm trên giường đổ mồ hôi đầm đìa, trằn trọc
không thể ngủ được, trong đầu luôn nghĩ lúc nào mới có điện, kết quả lại thấy
điện như thể là “cố tình” không đến. Hơn nữa, khi con người càng bực bội thì
thân thể lại càng bức bối hơn. Nhưng nếu người ấy quên đi, nằm yên tĩnh thì sẽ
cảm thấy mát hơn và dường như “điện” cũng sẽ đến nhanh hơn.
Tại sao lại như vậy? Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên,
cũng không phải là mê tín. Đó là quy luật “buông lỏng”. Cái gọi là “vô niệm, vô
nghĩ” ấy kì thực cũng không phải là nhất nhất rằng trong đầu não không có ý
nghĩ gì hết, mà là dù có ý nghĩ nhưng cũng không để tâm, cũng có nghĩa là
“không lưu luyến vào đó mà sinh ra tâm này”. Khi đạt được điều ấy rồi thì vận
mệnh, hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng sẽ được cải biến.
8. Luật âm dương
Vạn vật đều mang các yếu tố và nguyên tắc âm dương (-) (+) và
năng lượng nam tính và nữ tính bên trong nó. Cũng như mọi thứ trên Trái Đất từ
khoáng chất cho đến cây cối, động vật cho tới con người luôn cần có đủ và cân
bằng hai nguồn năng lượng âm - dương để tăng trưởng và tiến hóa.
Cũng như linh hồn phân chia ra thành các cặp nam nữ vậy. Trong
trường hợp linh hồn sinh đôi, đó chính là linh hồn của minh tách ra làm hai linh
hồn mang hai nguồn năng lượng khác nhau, nữ tính (trội) và nam tính (trội), để
đi trải nghiệm hai khía cạnh khác nhau và có sự gắn kết đặc biệt. Đến thời điểm
thích hợp đặc biệt, khi cần tiến hóa cao hơn nữa thì linh hồn sẽ hợp nhất và
trở nên toàn vẹn.
Người mang giới tính nam thường có năng lượng nam tính trội hơn
nhiều so với năng lương nữ tính, và người mang giới tính nữ thì ngược lại
(tương đối). Khi linh hồn tiến hóa lên cao thì linh hồn đó sẽ cân bằng được hai
nguồn năng lượng này.
Ngay cả bản thân chúng ta, bất kể là nam hay nữ thì vẫn mang
trong mình cả năng lượng nam và nữ tính, chỉ là cái nào trội hơn mà thôi, hoặc
có nhiều người cân bằng cả hai nguồn năng lượng. Mỗi nguồn năng lượng đều mang
tính đặc trưng đối với nhân loại, chẳng hạn như: Năng lượng nam tính giúp chúng
ta mạnh mẽ và vững chắc, can đảm và kiên cường, lí trí và khôn ngoan… Còn năng
lượng nữ tính thì giúp chúng ta dịu dàng và tinh tế, sâu sắc và yêu thương,
khéo léo và tỉ mỉ…
9. Luật thói quen
Những gì ta làm lặp đi lặp lại liên tục sẽ tạo thành thói quen.
Ta có thể tạo ra bất kì thói quen cảm xúc nào ta muốn như về tự tin, lạc quan,
vui vẻ, hạnh phúc. Ta tạo lập thói quen tinh thần tích cực bằng cách tư duy,
suy nghĩ, nói ra lặp đi lặp lại hàng ngày đến thuộc lòng. Điều quan trong của
quy luật thói quen là giúp minh trở thành con người mà minh nghĩ đến nhiều nhất
hàng ngày. Ta trở thành người như ta thường nghĩ trong hầu hết thời gian hàng
ngày.
Emerson nói : “Con người thường làm những gì mà họ nghĩ cả
ngày”. Vậy ta thường nghĩ gì cả ngày? Ta hãy chọn những mục tiêu, suy nghĩ tích
cực và thường xuyên nghĩ đến cả ngày khi đó ta sẽ trở thành những gì ta suy
nghĩ. Khi thay đổi thói quen suy nghĩ, ta thay đổi cuộc đời.
Nếu nắm được cách những quy luật này vận hành và có tâm thức cải
biến, chắc chắn cuộc đời ta sẽ sang một trang mới nhiều bất ngờ.
CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY
Ta xét hai ví dụ suy luận:
“Mọi người đều phải chết.
Socrate là người.
Vậy, Socrate phải chết."
và:
“Vợ tôi là đàn bà.
Em là đàn bà.
Vậy, em là vợ tôi”
Rõ ràng suy luận thứ nhất đúng, còn suy luận thứ hai thì sai.
Nhưng căn cứ vào cơ sở nào mà ta xác định được như vậy? Tất nhiên là có thể căn
cứ trực tiếp vào thực tiễn. Tuy nhiên thực hiện việc đó gặp phải rất nhiều khó
khăn, vì ở đây sau khi kiểm tra thấy kết luận đúng ta cũng không thể nói rằng
chắc chắn suy luận đúng. Một phương pháp khác thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều
là sử dụng các quy luật của tư duy, tức là các quy luật mà môn logic nghiên
cứu, để làm cơ sở cho việc xét đoán. Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì
hợp lý, đúng; suy luận nào không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai.
Như đã biết, quy luật của tư duy là những mối liên hệ bên trong,
bản chất, lặp đi lặp lại trong các quá trình tư duy. Con người phát hiện ra các
quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không
phải bẩm sinh đã biết đến chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó,
biết suy luận tuân theo các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện
chứ không phải có tính chất bản năng.
Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Các quy
luật này được gọi là cơ bản vì: thứ nhất, chúng phản ánh những tính chất cơ bản
nhất của các quá trình tư duy; thứ hai, vì bất cứ quá trình tư duy nào cũng
phải tuân theo chúng; thứ ba, vì các quy luật khác có thể rút ra được từ chúng,
nhưng không thể rút ra chúng từ các quy luật khác. Các quy luật cơ bản đó là:
quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.
I. QUY LUẬT ĐỒNG NHẤT
Phát biểu: A là A. Một tư tưởng, khi đã định hình, phải luôn là
chính nó trong một quá trình tư duy.
Quy luật này phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều
này có nghĩa là, trong quá trình hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm,
phán đoán, lý thuyết, giả thuyết, …) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành
xong thì không được thay đổi nữa. Nếu nó vẫn tiếp tục thay đổi thì logic hình
thức sẽ coi nó là tư tưởng khác. Tính ổn định như vậy là điều kiện cần cho mọi
quá trình tư duy. Mặc dù tư tưởng - cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác -, luôn
luôn vận động và biến đổi, nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt biến đổi đó của tư tưởng
thì không thể nào tư duy được. Một ý kiến được nói ra phải có nội dung không
đổi ít nhất là trong cùng một quá trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng
minh quan điểm, … nghĩa là một quá trình tư duy, thì người ta mới có thể căn cứ
vào nó để xét đoán đúng sai, hợp lý hay bất hợp lý, …
Nội dung của quy luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn
thông qua những yêu cầu sau:
1.Một từ chỉ được dùng trong suy luận
Với một nghĩa duy nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một
biểu thức ngôn ngữ nói chung lúc thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác
trong cùng một quá trình suy luận. Cũng vậy, trong cùng một quá trình suy luận
một khái niệm, một tư tưởng, … không được thay đổi nội dung của mình. Nếu một
tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả những lần
xuất hiện đó nó phải có cùng một nội dung, phải có giá trị chân lý như nhau.
Điều này có nghĩa là ở các quá trình tư duy khác nhau ta có thể dùng từ với nhiều
nghĩa khác nhau, tư tưởng có thể có những giá trị chân lý khác nhau, nhưng
trong cùng một quá trình suy luận thì từ ngữ bao giờ cũng được dùng với một
nghĩa duy nhất, tư tưởng phải có cùng một nội dung duy nhất, phải có cùng một
giá trị chân lý duy nhất. Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ không nhất quán, lẫn
lộn và người khác sẽ không hiểu.
2. Những từ ngữ khác nhau
Nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với nhau
về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được đồng
nhất với nhau trong quá trình suy luận. Vi phạm yêu cầu này, ta không rút ra
được thông tin cần thiết. Ví dụ: người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều là
người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, và hỏi quê quán của nhà
thơ Nguyễn Du. Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều
thì ta không trả lời được cho câu hỏi này. Ta cũng không thể suy luận được.
Đây là những yêu cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu
này bắt buộc phải tuân theo để tư tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc
sống hàng ngày, chúng ta gặp rất nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một cách vô
tình hay cố ý. Ví dụ, các trò chơi chữ là những vi phạm cố ý:
Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng ?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.
Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác
nhau.
Yêu cầu của quy luật này rất đơn giản. Tuy nhiên, để tuân thủ
yêu cầu này không phải là dễ. Đồng nhất những cái gì và không đồng nhất những
cái gì là dựa vào sự hiểu biết, dựa vào trình độ văn hóa của chủ thể tư duy, và
dựa vào bối cảnh tư duy. Bởi vì, xét cho cùng, quy luật này đòi hỏi phải đồng
nhất những thứ không đồng nhất. Chính điều này giải thích tại sao khi nghe một
câu chuyện vui thì nhiều người bật cười nhưng một số người khác thì không.
Người ta cười vì đã đồng nhất được những cái mà người kể muốn đồng nhất, còn
nếu không làm được điều đó thì người ta không cười. Như trong ví dụ sau đây:
Lớp đang học về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, Cu Tèo ngủ
gật. Thấy vậy, thầy giáo hỏi: “Tèo, ai đã lấy cắp nỏ của An Dương Vương ?”.
Giật mình, Cu Tèo vội đáp: “Thưa thầy con không lấy, con không lấy, mình nào lấy con không
biết…”.
Thầy giáo chán nản, đem câu chuyện kể lại cho hiệu trưởng nghe.
Hiệu trưởng nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Thôi được, chuyện đâu còn có
đó, trẻ con ấy mà. Thầy xem thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra
mua một cái khác thay thế. Rõ khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”.
Câu chuyện được đem kể lại ở sở giáo dục và đào tạo. Những người
có mặt bò lăn ra cười, chỉ một người không cười, đó là kế toán trưởng. Mọi
người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta nói: “Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách
chức tay hiệu trưởng đó. Tiền đâu ra mà cái gì cũng mua, cái gì cũng chi như
vậy?…”
Quy luật đồng nhất là quy luật của tư duy hình thức, không nên
nhầm lẫn rằng đây là quy luật của hiện thực khách quan bên ngoài tư duy. Quy
luật đồng nhất, vì vậy, không dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự
vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một
sự vật vừa chính là nó vừa không phải là nó. Tư duy hình thức phản ánh hiện
thực khách quan một cách lý tưởng[1], phản ánh hiện thực khách quan trong sự
đứng im tương đối của nó, bỏ qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các
sự vật và hiện tượng trong sự tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác.
Một sự vật của hiện thực khách quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ
khác nhau, tạo nên những đối tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong
hiện thực khách quan A và B có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể
phản ánh tính chất chung đó ở hai sự vật đã nêu và tạo thành hai đối tượng khác
nhau trong tư duy. Hai đối tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì
vậy mà mặc dù trong hiện thực khách quan không hề có hai sự vật hoàn toàn giống
nhau, nhưng ta vẫn có thể đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như vậy là bởi
ta chỉ đồng nhất chúng trong một mối quan hệ nhất định mà thôi. Ví dụ, Nguyễn
Trãi và Nguyễn Du là hai người khác nhau, tuy nhiên, khi tư duy phản ánh các
ông từ góc độ là nhà thơ thì tạo thành hai đối tượng đồng nhất với nhau trong
tư duy.
Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thông qua quy luật
đồng nhất của tư duy ta có thể nói về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư
tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng
nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Cần lưu ý rằng ở
đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng với tư tưởng ta mới có thể đồng nhất đối
tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Điều này làm cho phạm vi
ứng dụng của quy luật này được mở rộng hơn nhiều.
Ta xét vài ví dụ:
Ví dụ 1. Trước Tòa bà Minh
nói “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư ký phiên tòa ghi “Tôi đồng ý
bán nhà trả nợ giúp con”. Sai lầm này của thư ký phiên tòa đã làm cho việc thi
hành án sau này gặp nhiều khó khăn.
Ví dụ 2. Có diễn giả nói:
“Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một mắt thì mắt kia sẽ tinh
hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn, ....”. Nghe vậy, có thính giả
kêu lên: “Rất đúng, tôi cũng thấy rằng nếu một người cụt chân thì y như rằng
chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho cả thính phòng cười ồ lên.
Anh ta đã không nhận thấy rằng khi diễn giả nói “…mắt kia sẽ tinh hơn”, “…tai
kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt và tai bình thường, còn anh ta
thì so sánh “chân kia” với chân cụt.
Quy luật đồng nhất là quy luật vô cùng quan trọng của logic hình
thức. Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và
không đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây
dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất
không đúng.
II. QUY LUẬT KHÔNG MÂU THUẪN
Phát biểu: Hai phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái ngược
nhau không thể nào cùng đúng. Trong hai phán đoán, nhận định như vậy có ít nhất
là một phán đoán, nhận định sai.
Quy luật này phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư
duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình tư duy nên trong tư duy nhất định phải tránh
nó. Tư duy của chúng ta không được chứa mâu thuẫn vì tư duy phản ánh hiện thực
khách quan, mà trong hiện thực khách quan thì ở mỗi thời điểm không thể có
trường hợp một đối tượng vừa có, lại vừa không có một tính chất nhất định nào
đó. Ví dụ, tại một thời điểm, một bông hồng cụ thể không thể nào vừa có màu đỏ,
vừa không có màu đỏ. Cần lưu ý rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu
thuẫn hình thức, chứ không phải là mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức
không thể có được vì, như đã biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư
cách là sự phản ánh các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự
đứng im của nó, nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.
Nội dung của quy luật không mâu thuẫn được diễn giải cụ thể hơn
qua các yêu cầu sau đây:
1. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn trực tiếp.
Cụ thể là không được cùng một lúc vừa khẳng định vừa phủ
định một điều gì đó. Ví dụ, không thể vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ
có được bản hiến pháp của mình, lại vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ
không thể thông qua được một bản hiến pháp như thế.
Trong thực tế đôi khi ta gặp những câu nói có vẻ như chứa mâu
thuẫn trực tiếp nhưng vẫn thấy chấp nhận được. Ví dụ, câu “Giải vô địch bóng đá
quốc gia V-leage vừa qua vừa đạt, vừa chưa đạt” nhìn bề ngoài như chứa mâu
thuẫn trực tiếp, nhưng lại vẫn chấp nhận được. Vậy phải chăng ở đây ta đã bỏ
qua yêu cầu của quy luật không mâu thuẫn? Thật ra thì trong trường hợp này yêu
cầu của luật không mâu thuẫn vẫn được tôn trọng, vì từ “đạt” trong câu nói trên
được hiểu theo nhiều cách khác nhau, và vì vậy ở đây không có mâu thuẫn. Nếu
tiếp tục làm rõ ý kiến của mình thì người đưa ra câu nói đó sẽ giải thích đã
đạt ở mặt nào và không đạt ở mặt nào (đó là các mặt khác nhau). Nghĩa là anh ta
sẽ cho biết hiểu theo nghĩa nào thì chuyến tập huấn được coi là đạt và hiểu
theo cách nào thì không đạt.
2. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn gián tiếp.
Cụ thể là không được khẳng định (hay phủ định) một vấn đề nào đó
rồi lại phủ định (hay khẳng định) các hệ quả của nó. Ví dụ, nếu khẳng định rằng
lý thuyết tương đối hẹp của Einstein là đúng thì không thểphủnhận công thức E =
mc2 thể hiện mối liên hệ giữa năng lượng và khối lượng của ông.
Nếu như mâu thuẫn trực tiếp dễ được nhận thấy, và vì vậy dễ
tránh, thì mâu thuẫn gián tiếp khó nhận thấy hơn, và vì vậy khó tránh hơn
nhiều.
Ví dụ 3. Lời nói của Đức
Phật với quỷ Mala: “(…) Ta không cần danh vọng, Mala, mi hãy thuyết những điều
đó với những kẻ hám danh vọng. (…) Thành đạt, danh tiếng, danh dựvà vinh quang
chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của người kia. (…) Ta trải
cơ mạn xa để chiến đấu với người đây. Ta thà chết vinh trong trận chiến, còn
hơn sống nhục trong đầu hàng.” Trong lời nói này ta thấy câu cuối cùng “ta thà
chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng” mâu thuẫn với
những câu ở phía trên.
Khi rèn luyện tư duy nhiều ta sẽ nâng cao được khả năng phát
hiện mâu thuẫn trong các suy luận của chính mình và của người khác, phát hiện
thấy những cái không ổn trong các suy luận đó. Khi phát hiện rằng suy luận “có
điều gì đó không ổn”, nghĩa là phát hiện ra khả năng chứa mâu thuẫn gián tiếp
của nó, ta có thể tiến hành đặt liên tiếp các câu hỏi để người đưa ra suy luận
trả lời và bằng cách đó chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp.
Ví dụ 4. Khi thấy lời khai của người bị tình nghi phạm tội có
chứa điều gì đó không ổn, cán bộ điều tra sẽ đặt ra cho người đó hàng loạt câu
hỏi cho đến khi người đó không trả lời được nữa, vì thấy mình đã gặp mâu thuẫn
rõ ràng, trực tiếp.
Ví dụ 5. Trong câu chuyện
tiếu lâm về con rắn vuông, khi nghe chồng kể về một con rắn khổng lồ, chị vợ đã
liên tục tỏ ý nghi ngờ về chiều dài của nó. Điều này làm cho anh chồng liên tục
rút ngắn chiều dài của con rắn, và cuối cùng là có được con rắn vuông. Như vậy,
mâu thuẫn chưa lộ rõ hẳn giữa sự tồn tại của con rắn khổng lồ trong câu chuyện
của người chồng với thực tế đến lúc này đã trở thành mâu thuẫn rõ ràng giữa sự
tồn tại của con rắn vuông với thực tế.
Câu “nói dối hay cùng” chính là nói về những trường hợp như thế
này.
Nắm vững nội dung và áp dụng thành thạo quy luật không mâu thuẫn
giúp ta trình bày tư tưởng nhất quán và dễ dàng phát hiện các biểu hiện ngụy
biện trong suy luận.
III. QUY LUẬT TRIỆT TAM
Phát biểu: Một phán đoán, nhận định hoặc đúng hoặc sai chứ không
thể có một giá trị thứ ba nào khác.
Đây là quy luật đặc trưng của logic hai giá trị - logic thông
thường mà ta vẫn sử dụng.
Với một phán đoán, nhận định nhất định, quy luật triệt tam không
cho biết nó đúng hay sai, nhưng cho biết rằng nó chỉ có thể hoặc đúng, hoặc sai
chứ không thể có giá trị nào khác. Ví dụ, ta chưa biết câu nói “Có người ngoài
Trái đất đến thăm Trái đất” đúng hay sai, nhưng quy luật triệt tam khẳng định
rằng hoặc nó đúng, hoặc nó sai!
Quy luật triệt tam không cho phép người ta tránh né vấn đề khi
trả lời câu hỏi. Nó không cho phép trả lời lấp lửng, nước đôi, mà đòi hỏi câu
trả lời dứt khoát.
Ví dụ, khi một thanh niên đi kiếm việc làm được hỏi có biết
ngoại ngữ hay không thì anh ta chỉ có thể trả lời “có” hoặc “không”, tất cả các
câu trả lời khác đều không có giá trị.
Trong thực tiễn, người ta ứng dụng quy luật triệt tam để chứng
minh bằng phản chứng.
Đôi khi ta gặp những câu nói rất sâu sắc mà biểu hiện trực tiếp
là quy luật triệt tam. Ví dụ, cuối bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, sau khi kể
chuyện nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, tác giả La Quán Trung đã viết, đại ý:
Lịch sử các nước cứ như vậy, hết hợp thì tan, hết tan rồi lại hợp. Hay, cuối bộ
sách Hồng lâu mộng, sau khi kể vợ Bảo Ngọc sinh con trai và gia đình họ Giả bắt
đầu hưng thịnh trở lại, tác giả Tào Tuyết Cần viết, đại ý: Ở đời cứ như vậy,
hết thịnh rồi thì suy, hết suy rồi lại thịnh.
Một số tác giả cho rằng quy luật triệt tam là hệ quả của quy
luật đồng nhất. Đây là một sự nhầm lẫn. Ta có thể bác bỏ điều đó hết sức dễ
dàng. Thật vậy, nếu quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất thì ở
bất cứ chỗ nào mà quy luật đồng nhất đúng thì quy luật triệt tam cũng phải
đúng. Nhưng rõ ràng là trong các hệ logic ba giá trị quy luật đồng nhất vẫn
đúng, trong khi đó thì quy luật triệt tam không đúng. Trong những suy luận nhằm
rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất mà thỉnh thoảng ta gặp trong
các tài liệu logic đã chứa sẵn vòng tròn logic. Thật vậy, những suy luận kiểu
này được thực hiện trong khuôn khổ của logic hai giá trị và sử dụng các tính
chất của logic đó. Tuy nhiên sở dĩ logic hai giá trị là logic hai giá trị là vì
nó tuân thủ quy luật triệt tam. Như vậy có nghĩa là những tính chất của logic
hai giá trị được sử dụng để rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất phụ
thuộc vào chính quy luật triệt tam!
IV. QUY LUẬT LÝ DO ĐẦY ĐỦ
Phát biểu: Một tư tưởng chỉ có giá trị khi nó có đầy đủ các cơ
sở.
Khác với ba quy luật trên, - những quy luật được Aristote tìm ra
từ thời cổ đại -, quy luật này được Leibnitz phát hiện ở thế kỷ thứ XVIII.
Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi các tư tưởng phải được đưa ra trên
những cơ sở nhất định. Tư duy của chúng ta cấu thành từ một chuỗi các tư tưởng
như vậy. Những tư tưởng đi trước làm cơ sở cho những tư tưởng đi sau. Chỉ trong
trường hợp đó thì tư duy mới được coi là chặt chẽ, có logic. Ngược lại, tư
tưởng sẽ lủng củng. Người nghe sẽ thấy người nói nhảy từ vấn đề này qua vấn đề
khác một cách tùy tiện. Trong thực tế, đòi hỏi làm một việc gì đó hoặc trình
bày một vấn đề nào đó theo một trình tự nhất định chính là đòi hỏi thỏa mãn quy
luật này.
Quy luật lý do đầy đủ dựa trên một quy luật rất cơ bản của tự
nhiên là quy luật nhân - quả: Mọi sự vật và hiện tượng đều có nguyên nhân của
nó. Trong cùng một điều kiện, cùng một nguyên nhân sẽ đưa đến cùng một kết quả.
Nếu như tư tưởng phản ánh hiện tượng thì cơ sở của nó là cái phản ánh nguyên
nhân của hiện tượng đó. Trong tự nhiên, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết
quả. Nhưng trong tư duy ta lại có thể biết hiện tượng trước rồi mới đi tìm
nguyên nhân sau, nên thứ tự ở đây không giống trong tự nhiên.
Nguyên nhân mà chúng ta nói đến ở đây là nguyên nhân hiện thực,
chứ không phải là nguyên nhân siêu nhiên, thần thánh, ma quỷ.
Ví dụ 6. Một người lái taxi
nào đó luôn có thu nhập cao hơn so với nhiều người khác, mặc dầu anh ta làm
việc trong cùng một điều kiện như họ. Khi đó, người ta hay nói rằng số anh ta
may mắn. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì ta sẽ không cải thiện được tình hình
của mình. Ngược lại, nếu hiểu rằng hiện tượng này cũng phải có nguyên nhân của
nó, và nguyên nhân đó là nguyên nhân vật chất, nghĩa là nguyên nhân có thể hiểu
và ứng dụng được, thì ta sẽ tìm hiểu, phân tích những yếu tố đưa lại thành công
cho người kia, rồi tìm cách để áp dụng, và nhờ đó có thể nâng cao thu nhập của
mình.
Tuân thủ nghiêm các quy luật cơ bản trình bày trên đây sẽ giúp
chúng ta suy nghĩ và trình bày tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác,
ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Ứng dụng các quy luật này chúng ta cũng dễ dàng
phát hiện các sai lầm trong suy luận của người khác và của chính mình để phản
bác, để vạch trần sự ngụy biện, hoặc để tránh sai lầm.
Những quy luật tâm lý chúng ta vẫn vô thức làm theo, đúng đến giật mình
Có những hành động chúng ta làm trong vô thức hóa ra là ảnh
hưởng của những quy luật tâm lý tự nhiên. Dưới đây là 9 quy luật mà con người
vẫn vô thức làm theo và lý giải của các nhà khoa học về hiện tượng ấy.
1. Chúng ta thường hướng bàn chân về phía người mình thích khi
trò chuyện cùng nhau
Không chỉ tư thế cơ thể mà hướng bàn chân cũng nói lên nhiều
điều khi mình đang giao tiếp với mọi người. Nếu một người hướng thân về phía ta
nhưng bàn chân lại hướng về phía khác thì điều đó có nghĩa người này không hứng
thú với cuộc trò chuyện
Thạc sĩ Joe Navarro giải thích đây là hành động tự nhiên của cơ
thể. Cơ thể ta muốn đảm bảo đôi chân có thể phản ứng ngay lập tức khi cảm thấy
có mối đe dọa. Đây là bản năng sinh tồn.
Chúng ta đứng bắt chéo chân khi cảm thấy thoải mái, ví dụ khi đi
thang máy một mình, nhưng khi có một nhóm người lạ thì không. Vì trong tư thế
đó ta sẽ không thể chạy trốn nhanh.
Bởi vậy khi ai đó thấy chán trò chuyện, chân họ sẽ hướng về phía
khác với người nói.
2. Chúng ta thường không mua món đồ đắt nhất hay rẻ nhất
Chúng ta muốn tiêu tiền một cách hợp lý, vậy nên chúng ta thường
chọn các sản phẩm có giá cả và chất lượng tương ứng.
Do đó chúng ta không thích mua những món đồ đắt nhất hay rẻ
nhất. Theo tâm lý người dùng, giá quá cao có thể là cao hơn giá trị thực của
sản phẩm, còn quá rẻ thì chất lượng món đồ không tốt.
Mặc dù nghe có vẻ hợp lý, nhưng ta cần biết rằng các nhà
marketing cũng nhận thức điều này. Đôi khi để bán một sản phẩm mà họ cố tình
đặt nó cạnh các sản phẩm đắt hơn và rẻ hơn.
Phần lớn khác hàng sẽ không chần chừ lấy món hàng giá tầm trung.
3. Chúng ta giữ cửa cho người khác
Giữ cửa cho người khác là cử chỉ lịch sự chúng ta có thể được
học ngay khi còn nhỏ. Nhưng ngoài phép lịch sự thì còn lý do khác khiến chúng
ta làm điều này.
Theo nhà khoa học Joseph Santamaria và David Rosenbaum, chúng ta
giữ cửa để tiết kiệm năng lượng chung, tức là người đi sau sẽ không cần phí
năng lượng để giữa cửa nữa. Ngược lại khi có ai khác giữ cửa cho minh thì mình cũng không cần mất
năng lượng làm việc này.
Thực tế nó cũng phản ánh "quy tắc vàng về đạo đức" -
đối xử với người khác theo cách mà minh muốn họ sẽ đối xử với mình.
4. Đàn ông thường ngại hỏi đường
Theo khảo sát của TrekAce, chỉ có 6% nam giới trả lời họ sẽ hỏi
đường người lạ nếu bị lạc. Cũng theo nghiên cứu này thì trung bình một người
đàn ông trong 50 năm cuộc đời sẽ phí thời gian đi nhầm đường thêm 1448.41km chỉ
vì ngại hỏi đường.
Tiến sĩ y khoa Mark Goulston đã thử lý giải điều này. Theo ông,
đàn ông ngại hỏi đường dù biết mình đi nhầm đường bởi họ không muốn tỏ ra yếu
đuối, sợ bị tổn hương hay bẽ mặt.
5. Trong tập thể, chúng ta thường không ăn miếng cuối cùng
Điề này khá lạ lùng vì nó đi ngược với nhiều nghiên cứu, rằng
sản phẩm càng hiếm thì chúng ta càng muốn có được. Cũng bởi vậy trong quảng cáo
chúng ta thường nghe đến cụm từ "số lượng có hạn".
Tuy nhiên, tiến sĩ Daniel A. Effron và Dale T. Miller của ĐH
Stanford đã nghiên cứu cụ thể và phát hiện trong một công ty, các nhân viên
thường không ăn miếng pizza cuối cùng, miếng doughnut cuối cùng, viên kẹo cuối
cùng trong gói, vì họ cảm thấy mình không có quyền đó.
6. Đàn ông không thích đi vệ sinh cạnh nhau
Khi ở nhà vệ sinh công cộng, phần lớn chúng ta không muốn đi vệ
sinh trước ánh mắt liếc nhìn của ai đó. Do vậy khi bước vào nhà vệ sinh đàn ông
thường thích chọn bồn vệ sinh cách một khoảng với người khác.
7. Chúng ta thích đỗ xe cạnh một chiếc xe khác ở bãi đỗ xe trống
Con người có tính bầy đàn, chúng ta thường theo đám đông và
trong trường hợp này cũng vậy, chúng ta thường tự động đỗ xe cạnh một chiếc xe
khác dù còn rất nhiều chỗ trống.
Lý giải tính theo đám đông của con người, trợ lý nghiên cứu ở ĐH
Yale Rob Henderson phân tích, một trong những lý do là vì ngày nay có quá nhiều
sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta không có thời gian để thử nghiệm hết.
Do đó chúng ta sẽ dùng những sản phẩm đã được số đông kiểm chứng.
Đó cũng là lý do trong quảng cáo hay có câu như "sản phẩm
đã được 9 trên 10 chuyên gia khuyên dùng". Đó là cách họ muốn chúng ta
theo đám đông.
8. Chúng ta khoa chân múa tay khi nói chuyện
Nếu tay chúng ta không bận gì thì trong lúc nói chuyện, chúng ta
thường có các động tác khoa tay. Đây là điều hết sức bình thường.
Giáo sư Andrew Bass từ ĐH Cornell University đã phát hiện ra
rằng hành động khoa chân múa tay khi nói chuyện là kết quả của sự tiến hóa.
9. Chúng ta thường vặn nhỏ âm lượng khi lái xe ở những nơi không
quen thuộc
Tưởng tượng ta đang lái xe đến một cuộc họp quan trọng ở một địa
điểm lạ. Ta sẽ phải vặn nhỏ âm lượng đài, nhạc, hoặc tắt hoàn toàn để tập trung
lái xe và không bị lạc.
Giáo sư Khoa Khoa học tâm thần và bộ não tại ĐH Johns Hopkins,
tiến sĩ Steven Yantis đã minh chứng rằng khi tập trung vào việc nghe thì chúng
ta sẽ bị giảm tập trung vào các thông tin hình ảnh. DO đó chúng ta thường phải
vặn nhỏ âm lượng nhạc, đài để tập trung lái xe, không nhầm đường.
NHỮNG SỰ THẬT KHẮC NGHIỆT VỀ CUỘC SỐNG
TA PHẢI CHẤP NHẬN
Dù các con thông minh, tốt bụng, xinh đẹp... cỡ nào thì vẫn sẽ
có người thấy mình đầy khuyết điểm.
Ngay cả những người thông minh, khôn ngoan tới đâu vẫn có lúc cố
chối bỏ những sự thật mà thẳm sâu bên trong họ biết là đúng. Theo Brigh Side,
hiểu rõ và công nhận những điều dưới đây sẽ giúp cuộc sống của mình nhẹ nhàng
và ý nghĩa hơn:
Không có sự bình đẳng trong mọi hoàn cảnh
Có những người sinh ra trong vùng nghèo đói, sớm phải mưu sinh,
trong khi nhiều người khác chào đời ở những gia đình giàu có hay được thừa kế
cả gia sản của một tập đoàn lớn. Thường ai có xuất phát điểm tốt thì cuộc sống
về sau sẽ thoải mái hơn. Tất nhiên vẫn có những ngoại lệ nhưng không nhiều.
Chẳng ai muốn yêu một người không biết trân trọng chính mình
Các con có thể sẽ chết già nếu chỉ ngồi một chỗ rồi ước hoàng tử
đẹp trai tìm đến cầu hôn. Tuy nhiên, nếu biết yêu và tôn trọng bản thân thì
khác. Đừng bắt người khác phải chịu trách nhiệm cho hạnh phúc đời mình, nếu
không, tâm trạng của mình sẽ luôn bị phụ thuộc vào ngoại cảnh và ai đó.
Thế giới này không nợ mình điều gì
Ngay cả khi các con là người cuốn hút, thông minh, có học thức
với những tính cách tuyệt vời thì không có nghĩa là mọi cơ hội luôn mở rộng.
Người thành công biết rằng chỉ có hai lựa chọn: than thân trách phận vì nghĩ
mình xứng đáng được nhiều hơn nữa hoặc đấu tranh để đạt được vị trí tốt.
Ta có nhiều thời gian hơn mình tưởng
Có 168 tiếng mỗi tuần - và đó là số thời gian không ít. Các con
hãy thay đổi suy nghĩ "tôi không có thời gian" sang "đó không
phải là ưu tiên của tôi". Nếu các con không tập thể thao và hay ăn tạp,
sức khỏe không phải là điều mình n ưu tiên. Nếu các con không giúp vợ việc nhà,
hôn nhân không phải điều mình coi trọng.
Cuộc sống của mình sẽ không bao giờ hoàn hảo
Sẽ không bao giờ có cái gọi là "đúng lúc" để kết hôn,
sinh con, thay đổi công việc hay đi du lịch. Các con cố nấn ná chờ "thời
điểm đúng" thật ra chỉ vì sợ thay đổi. Hãy mạnh dạn bước ra khỏi vùng an
toàn, nếu không, các con sẽ sớm thấy tiếc nuối về cuộc sống của mình.
Không ai thực sự quá bận, chỉ là họ không quan tâm tới mình
Chồng /vợ quá bận để trả lời tin nhắn thứ 30 của vợ/chồng?
Nhà tuyển dụng không có thời gian để gọi lại cho các con sau buổi phỏng vấn?
Mọi thứ thực ra rất đơn giản: Họ không muốn nói chuyện với các con. Càng sớm
ngừng lo lắng về những người không quan tâm tới mình, cuộc sống của các con
càng trở nên tốt đẹp hơn.
Ta không thể hoàn hảo trong mắt mọi người
Dù cho các con tử tế, tốt bụng, hào phóng hay xuất sắc thế nào,
vẫn có những người không hài lòng về mình. Dù cho cơ thể các con có khiến người
mẫu nội y phải ghen tỵ thì cũng không có nghĩa mình chẳng bị ai phán xét là kém
hoàn hảo.
Cuộc đời không công bằng
Mọi người không phải lúc nào cũng trân trọng những việc các con
làm. Dù mình là người tử tế và đáng yêu thì chẳng có nghĩa các con sẽ không bị
phản bội, bỏ rơi. Kẻ xấu không hẳn lúc nào cũng bị trừng phạt. Sự cứu giúp cũng
có thể chẳng đến vào những giờ phút đen tối. Dù vậy, điều đó không hẳn là cuộc
đời chỉ toàn điều tệ. Có điều, các con đừng đòi hỏi quá nhiều mà thôi.
Người có khả năng làm hại mình nhất là chính mình
Thường, con người sẽ không làm hại chính mình vì bản năng sinh
tồn nhưng ngày qua ngày chúng ta lại dễ dàng tự hủy hoại bản thân hoặc mạo hiểm
cuộc sống khi quên nghĩ tới hậu quả việc mình làm. Các thói quen xấu, những lần
vi phạm giao thông, vô tư vào xe cùng người lạ - tất cả đều đặt mạng sống của
chúng ta vào nguy hiểm.
Những việc tốt có thể khiến cuộc đời mình gặp rắc rối
Có những việc tưởng chừng như tốt nhưng có lẽ các con không nên
làm để tránh rắc rối vào người.
Yêu người chưa sẵn sàng cho mối quan hệ: Đối với người chưa thực
sự sẵn sàng cho mối quan hệ nghiêm túc, các con đừng nên dại dột chấp nhận và
hi sinh vô điều kiện. Các con có thể bên họ nhưng cũng sẽ có thể là một trong
nhiều sự lựa chọn của họ.
Giúp đỡ người không muốn nhận sự giúp đỡ: Khi các con muốn
khuyên, giúp đỡ người thân của mình thoát khỏi vấn đề hay tình huống xấu nhưng
họ từ chối thì nên dừng lại. Vì bất kể các con làm gì, cố gắng bao nhiêu cũng
chỉ lãng phí thời gian mà thôi.
Người thường xuyên nhờ tới sự giúp đỡ của bạn bè: Nếu người các
con quen ở trong tình huống vô vọng, thì hãy giúp đỡ họ nếu có thể. Tuy nhiên,
có một loại người khi gặp bất cứ chuyện gì cũng nhờ vả sự giúp đỡ. Nếu cho họ
vay tiền thì có thể không lấy lại được. Các con nên cân nhắc việc giúp đỡ họ,
nếu không, hãy cho họ vay một số tiền mà cảm thấy thoải mái khi trong trường
hợp xấu nhất nó không quay lại.
Làm vừa lòng người khác: Làm hài lòng người yêu, người các con
thân thiết không có gì sai, nhưng đừng nên làm hài lòng tất cả mọi người.
Bởi các con có thể đánh mất chính mình khi làm điều đó. Hãy
tránh xa những người đang cố gắng thay đổi hành vi, lối sống hoặc ngoại hình
của các con.
Cho đi miễn phí: Ví dụ, các con muốn cho đi bể cá lớn trong nhà mình. Nhưng các con nhận lại là những yêu cầu vô lý như: bể phải có cá, miễn phí vận chuyển... Vậy nên, việc giúp đỡ người khác hay cho đồ là điều tốt nhưng có thể các con sẽ nhận lại những yêu cầu đòi hỏi. Tuy nhiên, nếu người đó thực sự khó khăn và cần món đồ này, các con có thể đáp ứng yêu cầu của họ.
15 triết lí về cuộc đời của thiền sư gây tranh cãi nhất thế giới
Nhiều người trong số những người ảnh hưởng nhất trên thế giới
của chúng ta đã phơi bày những sự thật, sự thông thái hoặc các quan điểm gây
tranh cãi. Triết lí của họ có thể khiến người khác dè bỉu hoặc ngưỡng mộ. Và
Osho là một trong những người đó.
Osho Rajneesh (1931-1990) là một giáo sư thần bí, thầy giáo và
thiền sư Ấn Độ. Ông đã có hàng triệu tín đồ trên toàn thế giới, cùng với hàng
ngàn người căm ghét triết lí của ông. Tự tin và thẳng thắn, ông đã đưa ra ánh
sáng cho các chủ đề thường được xem là điều cấm kị trong xã hội.
Sinh ra năm 1931, Osho lớn lên đặt câu hỏi về các chuẩn mực tôn
giáo, văn hoá và xã hội hiện có. Cuối cùng, ở tuổi 21, ông đã có một kinh
nghiệm về thế giới quan dẫn ông đến với cái mà ông gọi là sự khai sáng. Osho
nổi bật lên như một “người truyền bá” tâm linh không chỉ ở Ấn Độ, mà còn trên
phạm vi thế giới. Lời dạy của ông tập trung vào sự cần thiết của thiền định,
nhận thức, tình yêu, lòng can đảm, sáng tạo và hài hước, tất cả những gì ông
tin là bị đàn áp bởi các hệ thống tín ngưỡng truyền thống, truyền thống tôn
giáo và xã hội hóa. Những giáo lý của ông đã ảnh hưởng rất lớn đến phong trào
Tây phương Mới.
Osho qua đời vào năm 1990, nhưng công việc của ông vẫn tiếp tục
được xuất bản bởi hơn 200 nhà xuất bản trên toàn thế giới và hơn 60 ngôn ngữ.
Với điều đó đã nói, dưới đây là 15 trích dẫn đáng kinh ngạc của vị thiền sư gây
tranh cãi nhất thế giới ở thế kỉ XX:
1. "Tình yêu không có ranh giới. Tình yêu không thể ghen
tị, bởi vì tình yêu không thể sở hữu. Tình yêu là xấu xa bởi chính ý tưởng
rằng mình có ai đó bởi vì mình yêu. Ta có ai
đó - có nghĩa là mình đã giết ai đó và biến họ thành hàng hóa. Chỉ có điều có
thể được sở hữu đó là tình yêu mang lại tự do. Tình yêu là tự do."
2. "Giữ liên tục tình cảm trong tuần trăng mật. Tiếp tục
tìm kiếm và tìm kiếm nhau, tìm ra những cách mới để yêu thương nhau, tìm ra
những cách mới để ở bên nhau. Và mỗi người là một bí ẩn vô hạn, vô tận, khó
hiểu. Không thể nào nói rằng: "Tôi đã biết cô ấy", hoặc: “Tôi đã biết
anh ấy.” Thay vì đó, ta có thể nói: "Tôi đã cố gắng hết sức, nhưng bí ẩn
vẫn còn là một bí ẩn." Trong thực tế, ta càng biết, bí ẩn càng trở thành
một bí ẩn khác. Sau đó, tình yêu là một cuộc phiêu lưu không ngừng nghỉ."
3. Khi mình không cần một người nào cả, khi mình hoàn toàn đủ
với bản thân, khi mình có thể cô đơn và hạnh phúc và sung sướng, thì tình yêu
là có thể. Nhưng rồi, ta cũng không thể chắc chắn rằng tình yêu của người khác
có thật hay không - ta có thể chắc chắn về một điều duy nhất: liệu tình yêu của
minh có thật hay không. Làm thế nào ta có thể chắc chắn về người kia? Nhưng sau
đó ta không có nhu cầu nghĩ về điều đó nữa. Sự lo lắng liên tục về tình yêu của
người khác có thật hay không chỉ đơn giản cho thấy một điều: tình yêu của minh
không có thật. Nếu không, tại sao phải lo lắng về nó? Thưởng thức nó trong khi
nó kéo dài, được bên nhau trong khi mình có thể được với nhau! Đó là một tiểu
thuyết, nhưng ta cần tiểu thuyết."
4. "Hãy bỏ ý tưởng trở thành một người khác, bởi vì mình đã
là một kiệt tác. Ta không phải thay đổi bản thân mình để sao chép người khác.
Ta chỉ cần đến nó, để biết nó, để nhận ra nó."
5. "Tôi yêu thế giới này bởi vì nó không hoàn hảo. Nó không
hoàn hảo, và đó là lý do tại sao nó đang phát triển; nếu nó là hoàn hảo nó đã
có thể đã chết. Sự phát triển chỉ có thể xảy ra nếu có sự không hoàn hảo. Tôi
muốn mình nhớ lại lần nữa, tôi không hoàn hảo, toàn bộ vũ trụ
là không hoàn hảo, và để yêu thương sự không hoàn hảo này, để vui mừng trong sự
không hoàn hảo này là toàn bộ thông điệp của tôi."
6. "Nếu mình có thể mang ý thức, nhận thức của minh, trí
thông minh của mình để hành động, nếu mình có thể được tự
phát, sau đó không cần bất kỳ tôn giáo khác, cuộc sống chính nó sẽ là tôn
giáo."
7. "Chân lý không phải là cái gì đó bên ngoài được phát
hiện, nó là cái gì đó bên trong được nhận ra."
8. "Không ai nói với mình rằng cần phải biết ơn sự tồn tại
trên đời và cuộc sống này thực sự đã là một món quà. Ngược lại, mọi người đều
không hài lòng, phàn nàn.”
9. "Nếu mình muốn học bất cứ điều gì, hãy tìm hiểu sự tin
tưởng. Nếu mình khốn khổ, hãy tìm hiểu sự tin tưởng. Nếu mình cảm thấy cuộc
sống vô nghĩa, không gì có thể giúp được, ta đã học được sự tin tưởng. Niềm tin
chỉ có ý nghĩa khi mình tin rằng không có gì là mãi mãi.”
10 . "Hãy lắng nghe bản thể của mình. Nó liên tục cho minh
những gợi ý; Nó không hét vào mặt mình, đó là sự thật. Và nếu mình
im lặng một chút, ta sẽ bắt đầu cảm thấy theo cách của mình. Hãy là người bạn
của chính mình. Đừng bao giờ cố gắng trở thành người khác, và mình sẽ
trưởng thành. Sự trưởng thành đang chấp nhận trách nhiệm là mình, bất kể cái
giá nào. Chấp nhận tất cả để là chính mình, đó chính là sự trưởng thành."
11. "Khi tình yêu và căm ghét cả hai đều vắng mặt, mọi thứ
trở nên rõ ràng và không được che dấu."
12. "Cuộc sống là sự cân bằng giữa phần còn lại và phong
trào".
13. "Những kẻ lừa dối người khác. Trí tuệ tự cười."
14. "Tất cả những gì mà thế giới này cần là một sự vị tha
của trái tim, của tất cả những sai lầm từ quá khứ. Và tiếng cười và nước mắt có
thể làm cả hai.”
15. Dù mình đang làm gì, đừng để quá khứ xáo
trộn tâm trí của mình; đừng để suy tính trong tương lai làm
phiền mình. Bởi vì quá khứ không còn nữa, và tương lai chưa
đến. Sống trong ký ức, sống trong trí tưởng tượng, là sống trong điều không tồn
tại. Và khi mình đang sống trong điều không tồn tại, ta đang thiếu những gì tồn
tại. Đương nhiên ta sẽ đau khổ, bởi vì mình sẽ nhớ cả cuộc đời
của mình. Hãy sống cho thực tại, đó là bí mật đơn giản của hạnh phúc. "
QUY LUẬT KINH TẾ
Khái niệm
Các qui luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ tất
yếu, bản chất, thường xuyên, lặp đi lặp lại của các hiện tượng
và quá trình kinh tế.
Tính chất Qui luật kinh tế
Qui luật kinh tế có những tính chất sau:
- Cũng như các qui luật khác, qui luật kinh tế là khách
quan, nó xuất hiện, tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định
và mất đi khi các điều kiện đó không còn; nó tồn tại độc lập
ngoài ý chí con người.
Người ta không thể sáng tạo, hay thủ tiêu qui luật kinh
tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế
để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình.
- Qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nên khác với các
qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế chỉ phát sinh tác dụng thông qua
hoạt động kinh tế của con người.
Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ
mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất.
- Khác với các qui luật tự nhiên, phần lớn các qui luật
kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế
nhất định.
Do đó, có thể chia qui luật kinh tế thành hai loại. Đó
là các qui luật kinh tế đặc thù và các qui luật kinh tế chung.
Các qui luật kinh tế đặc thù là các qui luật kinh tế chỉ
tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Các qui luật kinh
tế chung tồn tại trong một số phương thức sản xuất.
Ý nghĩa
Nghiên cứu qui luật kinh tế có ý nghĩa quan trọng bởi
vì các hiện tượng và quá trình kinh tế đều chịu sự chi phối của
các qui luật kinh tế. Qui luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh
tế.
Chính sách kinh tế là sự vận dụng các qui luật kinh tế
và các qui luật khác vào hoạt động kinh tế. Nó chỉ đi vào cuộc
sống, mang lại hiệu quả kinh tế cao khi nó phù hợp với yêu cầu của
qui luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người.
KHUYẾN NGHỊ TÌM HIỂU THÊM
Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động
qua lại với?
Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là?
Quy luật kinh tế là quy luật:
Chức năng của Kinh tế chính trị bao gồm?
Phân loại tái sản xuất theo quy mô bao gồm?
Tái sản xuất mở rộng bao gồm hai hình thức là?
Các khâu của quá trình tái sản xuất bao gồm?
Nội dung cơ bản của tái sản xuất xã hội bao gồm?
Tái sản xuất của cải vật chất được xem xét trên cả hai
mặt?
Tái sản xuất sức lao động bao gồm hai mặt?
Tăng trưởng kinh tế là:
Các nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bao gồm?
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là?
Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế?
Chỉ số phát triển con người ( HDI) bao gồm các tiêu
chí?
Tiến bộ xã hội được thể hiện ở các mặt cơ bản?
Tiến bộ xã hội xét về thực chất là?
Sản xuất hàng hóa là?
Sản xuất hàng hóa và sản xuất tự cấp, tự túc là?
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa?
Phân công lao động xã hội là?
Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa là?
Giá trị sử dụng của hàng hóa là?
Giá trị hàng hóa là?
Giá trị trao đổi là?
Mục đích của nhà sản xuất là?
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là?
Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là?
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh?
Lượng giá trị của hàng hóa được đo lường bằng?
Thời gian lao động xã hội cần thiết là?
Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể do thời gian
lao động cá biệt của nhà sản xuất?
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?
Lao động giản đơn và lao động phức tạp là?
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động là?
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động có điểm
giống nhau là?
Tăng năng suất lao động sẽ làm cho?
Tăng cường độ lao động không làm thay đổi?
Cấu thành lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (W).
Tiền tệ ra đời là do?
Sự phát triển của các hình thái giá trị bao gồm?
Bản chất tiền tệ là?
Các chức năng của tiền tệ là?
Công thức của lưu thông hàng hóa khi tiền làm môi giới
trong trao đổi là?
Quy luật giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hóa
phải dựa trên cơ sở nào ?
Quy luật giá trị vận động thông qua ?
Ngoài giá trị, giá cả thị trường còn phụ thuộc vào ?
Tác dụng của quy luật giá trị là gì?
Cạnh tranh kinh tế là gì?
Giữa cung và cầu tồn tại mối quan hệ biện chứng, sự tác
động giữa chúng hình thành nên gì ?
Điều kiện để tiền biến thành tư bản là gì ?
Công thức chung của tư bản là gì ?
Điều kiện để sức lao động biến thành hàng hóa là:
Giá trị sức lao động được đo lường gián tiếp bằng:
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, khi sử dụng sẽ
tạo ra:
Giá trị thặng dư là:
Ngày lao động của công nhân gồm những phần nào?
Tư bản khả biến (v) là gì ?
Tỷ suất giá trị thặng dư (m’) là gì ?
Khối lượng giá trị thặng dư (M) được tính bằng công thức
nào ?
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được do?
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được do?
Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư có được
do?
Giá trị thặng dư siêu ngạch còn được gọi là?
Sản xuất giá trị thặng dư là gì?
Bản chất của tiền công trong CNTB là gì?
Hai hình thức tiền công cơ bản là gì/
Nguồn gốc chủ yếu của tích lũy tư bản là gì ?
Động cơ chủ yếu của tích lũy tư bản là gì?
Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của tích lũy tư bản là
gì ?
Nguồn gốc của tích tụ tư bản là gì ?
Nguồn gốc của tập trung tư bản là gì ?
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là gì ?
Tuần hoàn của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của
những hình thái tuần hoàn nào?
Chu chuyển của tư bản là gì ?
Thời gian chu chuyển của tư bản bằng...?
Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà...?
Hao mòn tư bản cố định có các loại nào hình nào?
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản mà...?
Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, K. Marx chia nền
kinh tế ra làm hai khu vực là ?
Điều kiên thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản
xuất giản đơn là ?
Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản
xuất mở rộng ?
Chu kỳ khủng hoảng kinh tế trong CNTB bao gồm ?
Chi phí sản xuất TBCN (k) là gì?
Chi phí sản xuất TBCN: ?
Bản chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là gì?
Lượng lợi nhuận có thể là?
Lượng tỷ suất lợi nhuận là?
Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bao gồm?
Cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ như thế nào ?
Cạnh tranh giữa các ngành là?
Cạnh tranh giữa các ngành?
Lợi nhuận bình quân là?
Khi hình thành lợi nhuận bình quân sẽ dẫn đến?
Giá cả sản xuất bằng ?
Tư bản thương nghiệp trong CNTB là?
Thực chất lợi nhuận thương nghiệp là?
Chi phí lưu thông gồm hai loại chính là?
Tư bản cho vay là?
Nguồn gốc của lợi tức là?
Tỷ suất lợi tức là?
Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tỷ suất lợi tức là?
Công ty cổ phần là?
Thị trường chứng khoán là?
Địa tô tư bản là?
Các hình thức cơ bản của địa tô tư bản chủ nghĩa là?
Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền bao gồm?
Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn
CNTB độc quyền là?
Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước?
ĐỊNH LUẬT CUỘC SỐNG
1.Luật bù trừ:
Ở trên đời này,
hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái
khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái
hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật
đánh đổi.
2.Luật cân bằng:
Đây là quy luật
quan trọng nhất, nó chi phối tất cả các quy luật khác của cuộc sống. Quy luật
này được phát biểu như sau: Nếu coi hạnh phúc trong cuộc đời một con người là
những số dương, nếu coi đau khổ là những số âm. Thì tổng của tất cả hạnh phúc
và đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng
không.
3.Luật cộng sinh:
Một mối quan hệ
giữa hai cá thể (loài vật, cây, con người hay một tổ chức) chỉ tồn tại được lâu
dài nếu cả hai đều sinh lợi (cộng sinh) cho nhau. Nếu một mối quan hệ chỉ có
lợi cho một bên còn bên kia chỉ có hại thì mối quan hệ đó sẽ không tồn tại được
lâu dài. Đó là luật cộng sinh.
4.Luật cường độ
giảm dần theo thời gian:
Luật cường độ
giảm dần theo thời gian phát biểu như sau: Một hạnh phúc cho dù lớn đến đâu thì
ngày hôm sau cũng bớt cảm thấy hạnh phúc đi rồi. Một đau khổ cho dù lớn đến mức
nào thì
5.Luật hấp dẫn:
Người xưa diễn
giải luật này là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, hay "ngưu tầm
ngưu, mã tầm mã". Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với
nhau. Một khía cạnh quan trọng khác của luật hấp dẫn là khi một ý nghĩ được
nung nấu, nó sẽ có khả năng hấp dẫn các phương cách để biến ý nghĩ đó thành
hiện thực.
6.Luật Sống Vui: Nếu muốn sống vui, hãy
tích cực và làm những gì mình cần ngày hôm nay. Đừng đợi khi có cái này, xong
cái kia.
7.Luật Tha Thứ:
Nếu mình rộng lượng,bao dung với người khác,mình sẽ được thông
cảm, tha thứ khi chính mình làm lỗi.
8.Luật thích
nghi:
Con người là động
vật lạ lùng. Sướng bao nhiêu đối với nó là chưa đủ, nhưng khổ bao nhiêu nó cũng
chịu được. Con người được ban cho khả năng thích nghi với nhiều điều kiện hoàn
cảnh. Và để tồn tại và phát triển, con người (hay bất cứ vật nào) cần phải biết
thích nghi với điều kiện hoàn cảnh và môi trường xung quanh.
9.Luật thử thách:
Những khó khăn,
nghịch cảnh, những thất bại, đau buồn là những thử thách giúp những kẻ biết
vượt qua trở nên mạnh hơn.
10.Luật trả giá
và đền đáp:
Dần dà trong cuộc
đời, mỗi người sẽ phải trả giá một cách đầy đủ cho từng lỗi lầm và từng hành
động sai trái của mình, và sẽ được đền đáp một cách xứng đáng cho mọi cố gắng
và mọi việc làm tốt đẹp của mình.
11.Luật Trả và Đền:
Dù sớm hay muộn, mỗi người sẽ phải trả giá cho
từng hành động sai trái, cũng như sẽ được đền bù cho các việc làm
tốt đẹp của mình.
12.Luật tự kỷ ám
thị:
Nếu một ý nghĩ
được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian dài thì cho đến một
lúc nào đó ta sẽ tin ý nghĩ đó là thật. Đây là công cụ mạnh của quảng cáo và ta
cũng có thể tận dụng quy luật này để có được những suy nghĩ tích cực và để rèn
cho mình những đức tính mà mình chưa có.
13.Luật tuần
hoàn:
Diễn giải nôm na,
luật tuần hoàn được phát biểu như sau: cuộc đời của một con người là môt chuỗi
tuần hoàn gồm những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn
đau khổ thì đến giai đoạn hạnh phúc. Sau đó lại đến một giai đoạn đau khổ mới
và một giai đoạn hanh phúc mới. Như vậy, theo quy luật này không ai là hạnh
phúc mãi mà cũng không ai phải chịu đau khổ mãi.
14.Luật vạn vật
đồng nhất:
Luật vạn vật đồng
nhất phát biểu như sau: Những quy luật nào đúng với trời đất, với vạn vật thì
những quy luật đó cũng đúng với con người, với cuôc đời hay các mối quan hệ của
con người.
15.Luật về sự
tương tác:
Khi vật A tác
động vào vật B một lực thì vật A sẽ nhận được một lực tác động ngược lại đúng
bằng lực mà vật A đã tác động vào vật B. Trong quan hệ giữa con người với con
người, khi ta làm cho ai đau đớn, ta sẽ nhận được sự đau đớn đúng bằng vậy. Và
ngươc lại, khi ta làm cho ai hạnh phúc, chính bản thân ta sẽ nhận được một hạnh
phúc đúng bằng hạnh phúc ta đã ban ra.
16.Luật về sức
mạnh của thói quen:
Những suy nghĩ
hay hành vi được lặp đi lặp lại lâu ngày sẽ trở thành thói quen và thói quen sẽ
trở thành một phần trong tính cách. Đây là công cụ mạnh để rèn luyện những tính
cách mình muốn có.
17.Nguyên lý cho
và nhận:
Những thứ ta nhận
được từ cuộc đời tương ứng với những thứ ta cho đi trong cuộc đời. Ta càng cho
cuộc đời nhiều bao nhiêu, ta càng nhận được từ cuộc đời nhiều bấy nhiêu.
Các con các cháu rất yêu của ta
Cuộc đời mỗi chúng ta là một bức tranh màu sắc, thi vị với đủ
cung bậc cảm xúc trong cuộc sống. Để giúp cuộc sống của các con có thêm những
màu sắc đặc biệt hơn, thì những câu cuả Thiền Nhân hay và thú vị đôi khi sẽ là
thứ gia vị không thể thiếu. Những câu nói đó chúng ta có thể bắt gặp hoặc lượm
nhặt ở đâu đó thường gợi cho chúng ta nhiều chiêm nghiệm. Những câu nói này
thường là sự đúc kết từ trải nghiệm thực tiễn của một vài nhân vật nào đó. Việc
đọc và học hỏi những điều hay, những phương châm, định luật trong cuộc sống sẽ
là điều vô cùng có ích cho chúng ta, giúp cuộc sống của các con được đúc kết,
đấy chính là món quà tinh thần không của cải nào có thể trao đổi.
Dưới đây là 45 định luật rất đúng cho cuộc sống, các con nên đọc
và suy ngẫm ít nhất một lần trong đời. Càng đọc các con sẽ càng thấy thấm thía
cuộc đời hơn. Hãy cùng đọc và tìm ra đâu là câu nói ý nghĩa giúp ích cho bản
thân mình nhé!
1. Định Luật Trái Táo
Nếu có một số táo, có quả tốt có quả hỏng, thì Ta nên ăn quả tốt
trước, vứt quả hỏng đi. Nếu Ta ăn quả hỏng trước, thì quả tốt cũng sẽ hỏng, các
con sẽ chẳng bao giờ ăn được quả còn tốt, cuộc sống cũng như vậy.
2. Định Luật Nói Chuyện
Có hai cách nói chuyện đáng ghét nhất, một là không bao giờ dừng
lại để nghĩ, hai là không bao giờ nghĩ đến việc dừng lại.
3. Định Luật Chiếc Bánh
Vào lúc trên trời rơi xuống một chiếc bánh, cẩn thận trên mặt
đất cũng đang có một cái bẫy chờ đợi các con.
4. Định Luật Sai Lầm
Ai cũng đều có lúc sai sót, nhưng chỉ khi nào lặp lại sai sót cũ
thì đó mới là sai lầm.
5. Định Luật Của Sự Ngu Dốt
Sự ngu dốt phần lớn đều được sinh ra khi tay chân hoặc mồm miệng
hành động nhanh hơn cả não bộ.
6. Định Luật Im Lặng
Trong khi tranh luận, quan điểm khó đánh đổ nhất chính là im
lặng. Quan điểm khó chấp nhận nhất cũng là im lặng.
7. Định Luật Tiết Kiệm Thời Gian
Nếu các con muốn tiết kiệm thời gian ngay từ khi mới bắt đầu,
thì kết quả sẽ là Ta mất nhiều thời gian hơn gấp vài lần.
8. Định Luật Hạnh Phúc
Nếu các con không cần phải luôn nghĩ xem liệu bản thân có hạnh
phúc hay không, thì tức là các con đang hạnh phúc.
9. Định Luật Giá Trị
Khi các con đã sở hữu một món đồ gì đó, Ta sẽ phát hiện ra rằng
thứ đó không hề có giá trị như Ta từng nghĩ.
10. Định Luật Động Lực
Động lực thường bắt nguồn từ hai nguyên nhân: hi vọng hoặc tuyệt
vọng.
11. Định Luật Của Lời Hứa
Hứa rồi chưa chắc có thể đảm bảo sẽ nhất định làm được, nhưng
nếu các con không hứa, thì dù các con làm được cũng chẳng có giá trị gì.
12. Định Luật Địa Vị
Có người đứng dưới chân núi, có người lại đứng trên đỉnh núi, tuy
vị trí khác nhau, nhưng trong mắt cả hai, người kia đều nhỏ bé như nhau.
13. Định Luật Vui Vẻ
Gặp chuyện gì chỉ cần các con nghĩ đến mặt tốt của nó thì Ta sẽ
vui vẻ, cũng như khi các con bị ngã xuống rãnh nước, các con có thể tưởng tượng
rằng sẽ có con cá chui vào túi áo mình.
14. Định Luật Sỉ Nhục
Khi bị sỉ nhục, biện pháp là bỏ qua, nếu không thể bỏ qua, hãy
coi thường nó, nếu đến việc coi thường nó mà các con cũng không thể làm được
thì Ta chỉ còn cách là chịu bị sỉ nhục mà thôi.
15. Định Luật Hỗn Loạn
Khi các con gặp phiền phức, mà vẫn còn muốn thận trọng từng
bước, thì phiền phức sẽ trở thành hỗn loạn.
16. Định Luật Kết Cục
Có một kết cục “rất đáng e sợ” sẽ đến, còn tốt hơn là không có
bất cứ kết thúc nào.
17. Định Luật Trang điểm
Thời gian dành để trang điểm càng lâu thì tức là khiếm khuyết mà
các con muốn che đi càng nhiều.
18. Định Luật Hiểu Nhầm
Bị một người hiểu nhầm, phiền phức không lớn lắm, bị nhiều người
hiểu nhầm, có lẽ sẽ rất phiền phức. Chính mình không hiểu mình, thì không còn
cơ hội cho người khác hiểu mình.
19. Định Luật Thất Bại
Thất bại không có nghĩa là lãng phí thời gian và cuộc đời, mà
thường có nghĩa là các con có thể sở hữu thời gian và cuộc đời một cách tốt hơn
nhưng Ta đã không làm.
20. Định Luật Thăng Tiến
Người làm quan, mỗi khi thăng một cấp, không cẩn thận thì tình
người lại giảm đi một bậc.
21. Định Luật Tăng Giá Trị
Hàng xuất khẩu tiêu thụ trong nước thì sẽ tăng giá, dư luận cũng
giống như vậy.
22. Định Luật Trò Chơi
Dù các con chơi bowling dở tới mức nào, mỗi lần chơi đều có thể
có một hai lần đánh trúng tất, làm Ta vừa lòng, vui vẻ tới mức lần sau lại chơi
tiếp.
23. Định Luật Dự Phòng
Học cách sử dụng tay trái làm một vài việc, vì tay phải không
phải lúc nào cũng hữu dụng.
24. Định Luật Du Lịch
Không có cảnh nào đẹp hơn cảnh trong kí ức, nên tốt nhất không
nên đến nơi nào đó 2 lần.
25. Định Luật Nguy Nan
Thường thì vấn đề càng phức tạp, thời hạn càng ngắn.
26. Định Luật Tài Chính
Các tấm séc luôn đến muộn, còn các hóa đơn luôn đến sớm.
27. Định luật Cuộc Đời
Những thứ các con sống chết đòi có được nó, có thể đều không
phải những thứ cần thiết nhất.
28. Định Luật Hội Nghị
Tất cả mọi quyết sách quan trọng đều được đưa ra trong 5 phút
cuối cùng trước khi hội nghị kết thúc hoặc trước bữa trưa.
29. Định Luật Tiền Bạc
Tiền không phải tất cả, nhưng tất cả đều cần tiền.
30. Định Luật Hợp Tác
Việc gì mà một người phải bỏ ra một tiếng để làm, thì nhiều khi
hai người sẽ phải bỏ ra hai tiếng.
31. Định Luật Kết Hợp
Cho dù các con là ai, làm gì, thì người giúp Ta hi vọng và người
chống đối lại mình đều luôn luôn có mặt sát bên Ta.
32. Định Luật Đường Tắt
Mọi người đều đang đi đường tắt, thực ra đó là con đường khó
nhất.
33. Định Luật Bản Lĩnh
Đừng bao giờ để tính tình của các con lớn hơn bản lĩnh hiện tại
của mình.
34. Định Luật Buồn Chán
Người vui vẻ trước nỗi buồn của các con, là kẻ địch. Người vui
vẻ trước niềm vui của Ta, là bạn bè. Người buồn trước nỗi buồn của mình, là
người bạn nên đặt trong lòng.
35. Định Luật Sai Lầm
Người khác đều không đúng, thì đó chính là cái sai của bản thân.
36. Định Luật Hiệu Quả
Rơi nước mắt trên vết thương và xát muối vào vết thương, hiệu
quả là như nhau.
37. Định Luật Đố Kỵ
Điều mà con người đố kỵ không phải là chuyện lên như diều gặp
gió của người xa lạ, mà là chuyện lên như diều gặp gió của người bên cạnh mình.
38. Định Luật Vuông Tròn
Con người không thể quá vuông, cũng không thể quá tròn, một cái
sẽ khiến người ta bị thương, một cái sẽ khiến người ta xa cách các con, bởi vậy
mà con người phải là hình bầu dục.
39. Định Luật Nước Miếng
Khi các con nổi tiếng đến độ khiến người ta chảy nước miếng, thì
đồng thời, "nước miếng" dành cho Ta cũng tăng lên vòn vọt.
40. Định Luật Lợi Dụng
Không sợ bị người ta lợi dụng, chỉ sợ mình vô dụng.
41. Định Luật Gió Mưa
Tình yêu, có thể chịu đựng nổi gió mưa, song không chịu đựng
được sự bình lặng.
Tình bạn, có thể chịu được sự bình lặng, song không chịu đựng
nổi gió mưa.
42. Định Luật Hành Tỏi
Quá coi bản thân là cọng hành, sẽ luôn giỏi trong việc: Giả tỏi.
43. Định Luật Đánh Giá
Không cần thiết phải tò mò xem người ta đánh giá các con thế
nào, hãy nghĩ xem mình đánh giá thế nào về người ta.
44. Định Luật Thành Tựu
Nếu các con không có thành tựu, Ta sẽ vì sự bình thường của mình
mà không có bạn bè.
45. Định Luật Trưởng Thành
Trưởng thành chính là quá trình điều chỉnh tiếng khóc của các
con về chế độ im lặng.
NÊN BIẾT ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC
1. Luật nhân quả
Luật nhân quả là quy luật mà thiết nghĩ ai cũng nên hiểu rõ về
nó vì quy luật này quyết định tiến trình luân hồi và giải thoát của chúng ta.
Những gì mà chúng ta tạo ra trong vũ trụ này, chúng sẽ mãi mãi gắn
liền với cuộc đời của chúng ta vì chúng ta là những sinh mệnh nằm
bên trong vũ trụ đó. Điều chúng ta làm hôm nay sẽ quyết định tương lai
cuộc đời của mình. Thiện hay ác, tốt hay xấu đều do tự bản thân mỗi
người lựa chọn. Điều đó làm nên chính mình trong tương lai.
2. Luật hấp dẫn
Chìa khóa để có được nội tâm bình ổn chính là không bị
lệ thuộc bởi những gì đang diễn ra xung quanh, hướng vào bên trong bản
thân mình để luôn đạt được trạng thái yên bình trong tâm. Muốn trở
thành một người tích cực và thiện lương, hãy giao lưu với những
người tích cực và những con người thiện lương để cuộc sống luôn tràn
ngập những điều tốt đẹp. Giống như các cụ có câu ‘Gần mực thì đen, gần đèn
thì sáng’.
3. Luật chấp nhận
Trong cuộc sống, chúng ta không thể thay đổi hoàn cảnh
cho đến khi ta học cách chấp nhận chúng. Tất cả những gì xảy ra
trong cuộc đời ta là có lý do, đó là do nhân duyên, duyên nghiệp của ts từ
nhiều kiếp trước, dù ta có tin hay không. Và nếu như ta vẫn đang xem ai đó
như một kẻ thù, thì điều đó có nghĩa là ta không chấp nhận quy luật tạo
hoá ở một mức độ cao hơn và đặc tính của vũ trụ (vốn luôn có đối lập giữa thiện
ác – tốt xấu). Chấp nhận hoàn toàn tự nguyện là tốt nhất cho sự tồn tại
của ta. Khi ta học cách chấp nhận, và thay đổi chính bản thân để thích
hợp với hoàn cảnh, thì hoàn cảnh cũng sẽ tự nhiên biến chuyển theo. Hãy hiểu
rằng, có những thứ trong cuộc sống này, ta không còn cách nào khác ngoài việc
chấp nhận chúng, và dù ta có mạnh mẽ và thông minh đến đâu, thì cũng sẽ không
thể luôn bắt mọi thứ phải theo cách mà ta muốn.
4. Luật phát triển
Mỗi người trong chúng ta khi đến với thế giới này đều
mang theo một sứ mệnh riêng, góp phần giúp cho xã hội trở nên tốt
đẹp hơn và tìm về những bản tính tốt đẹp bên trong chính bản thân
mình. Không cần thiết tập trung vào những người mà ta gặp nhưng
chưa biết rõ về họ, hoặc ám ảnh về nơi mà ta đang sống và công
nghệ mà ta đang sử dụng. Cuộc sống và thời gian này là tất cả những gì
quý giá nhất ta có.
5. Luật trách nhiệm
Cuộc sống tựa như một tấm gương mà khi soi vào đó, ta
sẽ nhìn thấy bản thân mình được rõ hơn. Hãy luôn tu sửa chính mình
để tốt hơn ngày hôm qua. Mỗi người có một cuộc sống hoàn toàn khác
nhau, dựa trên cách sống và tâm thái của họ trong những vấn đề của
cuộc sống mà cuộc đời của họ trở nên khác nhau. Vì vậy, đừng nên
chỉ nhìn vào người khác, hãy luôn nhìn vào chính mình để sống hạnh
phúc và ý nghĩa với sứ mệnh riêng của ta.
6. Luật kết nối
Bất kể việc gì mà ta thực hiện mà ta cho là vô nghĩa,
nhưng ta vẫn phải làm bởi vì mọi thứ trong thế giới này đều có liên hệ
tương hỗ. Bước đầu tiên hay bước cuối cùng đều quan trọng như nhau vì chúng
đều đi đến đích hoàn thành một điều gì đó có ý nghĩa trong đường đời
của một con người.
7. Luật tập trung
Ta không thể suy nghĩ hai vấn đề trong cùng một lúc. Nếu
như ta đang tìm kiếm điều gì đó quan trọng, thì đầu óc của ta cũng
không còn đủ chỗ cho sự giận dữ và tham lam. Vì vậy, hãy để tâm trí
thanh tỉnh và bình an, loại bỏ những điều tiêu cực và những tâm không
tốt của bản thân để chưa đựng trong tâm những điều tốt đẹp nhất.
8. Luật “ở đây và ngay bây giờ”
Sự vọng tưởng về tương lai có thể khiến ta hoàn
toàn mất tập trung vào những điều đang diễn ra ở hiện tại. Những
hình mẫu hành vi cũ, cũng như những tư duy theo lối cũ, có thể ngăn
trở con đường đưa ta tiến đến những điều mới mẻ hơn.
10. Luật cơ hội
Lịch sử sẽ lặp lại chính nó cho đến khi ta rút ra được
những bài học kinh nghiệm từ sau đó. Con người ta không thể hành động
theo “cách cũ” mà mong tưởng một “kết quả mới” được.
11. Luật kiên trì và tưởng thưởng
Kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại tương ứng.
Đó chính là điều tất yếu. Niềm vui thực sự đến từ lao động chân
chính, bền bỉ để rồi sau đó đạt được mục tiêu của mình. Người ta
sẽ không đạt được điều gì thực sự nếu không nỗ lực và đặt tâm trí
vào điều đó.
12. Luật ý nghĩa và cảm hứng
Chỉ khi ta trở nên xứng đáng với điều gì đó, thì
ta có nó. Càng bỏ công sức bao nhiêu, ta sẽ nhận lại được bấy
nhiêu. Và người nào càng cho đi nhiều sẽ nhận lại nhiều bấy nhiêu.
xxxxxxxxxxx
Bên cạnh Luật Vũ Trụ tối cao, các con ơi còn có các giới luật
được cai quản bởi Cái Tôi Cao Hơn liên quan đến tính cách của con người mà mày
có thể áp dụng vào cuộc sống để nâng cao rung động và tâm thức của mình như:
Từ bi,bác ái, nhân đức, rộng lượng, khoan dung, tốt bụng, tha
thứ, chân thật, trách nhiệm, tận tâm, can đảm, trung thực, khát vọng, niềm vui,
niềm tin, động viên khen ngợi, kiên cường, kiên nhẫn, yêu thương bản thân, tình
yêu vô điều kiện, biết ơn, không can thiệp (vi phạm tự do ý chí của người
khác)…
HÃY TRÁNH XA NHỮNG KẺ
-Kẻ Đặt điều
-Kẻ Gió chiều nào xoay chiều đó
-Kẻ Bằng mặt không bằng lòng
-Kẻ Thích xu nịnh
-Kẻ Gây chuyện thị phi
-Kẻ Đổ trách nhiệm cho người khác
+Đối với những kẻ tiểu nhân, tuyệt đối không được sơ suất, không
được mềm lòng nhường nhịn, thái độ cần phải kiên quyết. Bậc quân tử tấm lòng
rộng rãi, kẻ tiểu nhân thường hẹp hòi, u uất. Mỗi người đều sẽ gặp phải kẻ tiểu
nhân. Khi ở chung với kẻ tiểu nhân, chỉ cần thiếu thận trọng một chút ta sẽ
phải chịu thiệt lớn, vậy nên học cách phân biệt kẻ tiểu nhân vô cùng quan
trọng.
-Một điều nhịn chín điều lành
Nếu chẳng may có xích mích với tiểu nhân, hãy nhẫn nhịn. Ta đừng
cố gắng tranh cãi, vì rất khó để thắng được họ. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân
lại sẽ vì lí do đó mà ghi hận, rồi tìm cách để hãm hại ta. Người xưa có câu:
Nhịn một khắc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nếu như
thiệt hại không lớn, lại chẳng thể đấu trí được, ta hãy cho qua và xem như đó
là bài học để trưởng thành.
-Tốt thôi đừng tốt quá
Có một sự thật là người lương thiện trong cuộc đời này thường
nhu nhược, họ không phân biệt được nên tốt với ai, vì vậy họ thường thua thiệt.
Ví dụ trong công việc, họ luôn nhường người khác lập công trước, có đôi khi là
ôm khó khăn vào mình vì sợ người khác nghĩ mình lười biếng. Vì vậy, muốn tốt
cũng được nhưng đừng tốt quá, đừng khiến mình bị thiệt thòi bởi cuối cùng chẳng
ai ở lại giúp đỡ ta đâu. Với kẻ tiểu nhân, ta đối đãi theo cách dành cho
kẻ tiểu nhân, miễn sao trong lòng không hối hận là được.
-Yếu đuối khiến ta bị hèn yếu trước kẻ tiểu nhân
Điều khác biệt lớn nhất giữa kẻ tiểu nhân và kẻ ác đó là kẻ ác
có tâm địa hiểm độc nhưng kẻ tiểu nhân thì khác, họ sẽ trở nên thật thà và ít
nguy hiểm hơn nếu gặp người mạnh hơn mình. Họ cho dù có ác nhưng là công khai,
không giấu diếm không chơi trò mưu hèn kế bẩn, còn kẻ tiểu nhân luôn dùng cách
đâm sau lưng để hại người khác. Chính vì vậy ta phải luôn kiên cường, đừng bao
giờ mềm lòng bởi những lời ngon ngọt của kẻ tiểu nhân.
NGƯỜI LÀM NÊN ĐẠI SỰ THƯỜNG CÓ 7 ĐẶC
ĐIỂM NÀY: CÔNG VIỆC SỐ 1 NHƯNG GIA ĐÌNH VẪN QUAN TRỌNG NHẤT
1 .Nhẫn nhịn chịu được cô độc
Vì cuộc sống, công việc, sự nghiệp, rất nhiều lúc ta không
thể được gần người thân và bạn bè. Khi người khác nghỉ ngơi hay đoàn tụ, còn
mình thui thủi một mình làm việc. ta có chịu được nỗi cô đơn này không?
Đời người muốn đạt được thành công thì phải nhẫn chịu được cô
độc, nhất là thuở ban đầu sáng nghiệp. Rất nhiều lúc để đạt được mục tiêu thì
trong lúc người khác nghỉ ngơi, ta phải một mình lặng lẽ hy sinh. Quá trình này
rất cô độc, nhưng nếu có thể vượt qua thì ta sẽ đạt được thành công lớn
hơn so với người khác.
2. Chịu được trách nhiệm
Trong gia đình ta có các vai là con, là cha , là chồng, .
Ở doanh nghiệp ta có các vai là nhân viên, người quản lý, lãnh đạo hoặc sếp. Ở
xã hội ta có cái vai là công dân, … Tóm lại mỗi người đều có những vai diễn
khác nhau trong các trường hợp khác nhau.
Trách nhiệm có 3 loại: Trách nhiệm gia đình, trách nhiệm doanh
nghiệp, trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm là một từ cửa miệng của ta trong
cuộc sống. Từ điển giải thích: "Trách nhiệm" nghĩa là bổn phận phải
thực hiện mà chưa thực hiện hoặc làm chưa tốt, vì vậy phải gánh chịu lỗi lầm.
3. Chấp nhận mạo hiểm
Những người thành công dám chấp nhận các thử thách mà số đông sợ
hãi như vay món tiền lớn để đầu tư, đầu tư vào một thương vụ mạo hiểm hay mua
một mảnh đất lớn để phát triển sản phẩm còn chưa tồn tại...
4 .Tập trung cao độ vào mục tiêu
Người giàu biết chính xác những gì họ muốn và có một kế hoạch cụ
thể để đạt được điều đó. Họ đặt toàn bộ niềm tin vào công việc. Họ đặt ra những
tiêu chuẩn cao cho bản thân, đồng thời cũng mong đợi mọi người xung quanh tuân
thủ tiêu chuẩn đó. Họ sẽ không ngần ngại bộc lộ sự thất vọng hay cảm giác không
vừa ý bởi các hành vi không đúng trong cuộc trò chuyện.
5. Biết quyết tâm
Bằng cách tự thúc đẩy bản thân mình, ta sẽ luôn có động lực để
thực hiện mọi việc mà ta mong muốn. Luôn nhắc đi nhắc lại những quyết tâm của
mình là một thói quen tốt mà ta nên tạo ra cho mình. Hãy viết những quyết tâm
ấy vào những mẩu giấy và đọc lại chúng một lần nữa. Sau đó ta chỉ nên chọn
những quyết tâm nào mà ta tin tưởng một cách sâu sắc rằng mình sẽ thực hiện
được.
Và hãy thực hiện chúng ngay lập tức. Học tập theo những thành
công trước đó. Không ngừng hoàn thiện mình. Những ai dám nghĩ dám làm mới có
thể giành được chiến thắng. Hãy biết cách tránh đi những nỗi đau và tìm kiếm sự
hạnh phúc. Đầu tư cho hôm nay chính là đầu tư cho ngày mai. Ta cũng cần phải có
thái độ biết ơn cần thiết. Ta có thể làm được tất cả những gì mà ta quyết tâm
muốn khẳng định.
6 .Thừa nhận những nỗi sợ hãi và yếu điểm của bản thân
Trên đời này không có ai là hoàn hảo và cũng không có ai là thật
sự không có những nỗi sợ của riêng mình. Ta hoàn toàn có thể là một người
nghiêm khắc với bản thân. Hãy biết tiếp thu một số vấn đề nào đó. Khi ta thẳng
thắn thừa nhận với mình những yếu điểm của chính ta cũng có nghĩa là ta đã đối
mặt hay sửa chữa được ít nhất phân nửa những khuyết điểm đó. Hãy đối mặt với
nỗi sợ hãi và bằng cách này ta đã tự tạo cho mình một tính cách tốt. Ta sẽ phải
đối mặt với rất nhiều hiểm nguy khi ta muốn nếm trải đủ mọi hương vị của cuộc
sống này. Đừng e dè khi phải nói câu “Tôi xin lỗi. Tôi đã sai.”
7. Phấn đấu trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình
Giá trị số 1 trong cuộc sống của những người giàu là sự đảm bảo
về tài chính. Những người có khả năng làm giàu hiểu rằng, nếu họ có thể hi sinh
những thú vui, sự hài lòng nhất thời để xây dựng nền tảng tài chính vững chắc
thì đến cuối cùng, họ sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn, tự do tài chính hơn. Người
giàu bắt tiền làm việc cho họ và từ chối sống một cuộc sống bình thường, đơn
giản.
----------------------------,,------------
HÃY CƯ XỬ NHƯ MỘT QUÝ ÔNG
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG NHỮNG MỐI
QUAN HỆ TỐT
Trong xã hội, chúng ta phải xây dựng các mối quan hệ tốt vì rất
nhiều lí do, đặc biệt là ở nơi làm việc. Xã hội cũng giống như một mạng lưới
các mối quan hệ, nó đòi hỏi tất cả mọi người phối hợp làm việc với nhau để tạo
ra kết quả tốt nhất. Những gì làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn chính là các mối quan
hệ tích cực, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau
Tất cả mọi người cùng hướng về một mục tiêu chung, điều này đòi
hỏi phải có mối quan hệ tốt dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau.
Nếu như các con hiểu rõ mọi người muốn gì và tại sao họ lại muốn
như vậy thì thường mình sẽ tìm ra được cách để hai bên đều tiến triển cùng
nhau. Cách tốt nhất để hiểu đó là lắng nghe và quan sát mà không cần đưa ra
những phán xét vội vã.
Như thế nào là một mối quan hệ tốt đẹp ?
Trong một mối quan hệ tốt đẹp, các bên biết lắng nghe để hiểu rõ
quan điểm và cảm xúc của nhau. Cách đơn giản nhất để biết điều gì là quan trọng
với một người hay nhóm người là hỏi và sau đó lắng nghe câu trả lời của họ. Nếu
các con hiểu rõ người khác mình sẽ biết cách làm gì để mọi người có thể thân
thiện và làm việc với nhau hiệu quả hơn. Không chỉ có vậy các bên còn thẳng
thắn bày tỏ quan điểm và cảm xúc của mình. Con người rất phức tạp và phản ứng
trước những sự việc hoàn toàn khác nhau do đó họ vẫn có thể ngạc nhiên về người
kia ngay cả khi đã từng chung sống với nhau rất lâu.
Chúng ta cần nói những gì chúng ta cần và bày tỏ cảm xúc của
mình hơn là chờ đợi người khác nhận ra chúng ta muốn gì rồi sau đó đợi họ mang
đến cho chúng ta. Để cho mối quan hệ trở nên tốt đẹp chúng ta nên tôn trọng bản
thân cũng như người khác. Lòng tôn trọng là cốt lõi của mọi mối quan hệ tốt, nó
được thể hiện bằng cách lắng nghe và tìm hiểu xem người khác đánh giá sự việc
như nào. Việc phán xét dựa trên thành kiến là cách hoàn toàn đối lập với lòng
kính trọng. Các con có thể thể hiện sự tôn trọng người khác bằng cách thừa nhận
rằng họ đã làm những gì tốt nhất có thể. Tôn trọng là nền tảng cho một mối quan
hệ vững chắc do đó mình nên tôn trọng bản thân mình cũng như những người khác.
Nếu như các con cảm thấy hài lòng với bản thân thì việc nhìn thấy những điểm
tốt của người khác và tôn trọng họ sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Một điều quan trọng khác để thiết lập mối quan hệ tốt đó là
đương đầu trực tiếp với những điểm khác nhau giữa mọi người bởi vì chúng rất
thú vị. Trong cuộc đối thoại mà mọi người đều lắng nghe nhau thì các con sẽ
phát hiện ra một sự thật mới giúp hoà nhập hai ý tưởng tranh cãi. Hãy cùng tìm
ra giải pháp khiến cả hai bên đều cảm thấy mình chiến thắng. Nếu như cả hai
phía đều cảm thấy đã thu được gì đó từ việc giải quyết những khác biệt, họ sẽ
sẵn sàng hơn để tiếp tục hợp tác trong tương lai. Điều này sẽ xây dựng một mối
quan hệ thoải mái và hài lòng.
Sau đây là một số lời khuyên có thể giúp các con xây dựng những
mối quan hệ tốt đẹp :
1. Ít nhất phải có một bên quyết định rằng mối quan hệ là quan
trọng.
Nếu như các con quyết định rằng mối quan hệ với một ai đó là
quan trọng, mình sẽ đầu tư thời gian và sức lực để hiểu rõ những yêu cầu của họ
cũng như cách giải quyết những khó khăn cản trở. Ngay cả khi các con cố gắng
nhưng thất bại, mình biết rằng mình đã cố gắng hết sức và thấy thoải mái về
điều đó.
2. Học cách lắng nghe một cách thật sự và đừng phán xét.
Lắng nghe một cách thật sự và không phán xét sẽ giúp các con
hiểu rõ người khác. Việc phán xét chỉ làm tăng khoảng cách và sự phòng vệ lẫn
nhau.
3. Gặp gỡ mọi người một cách thân mật khiến họ cảm thấy thoải
mái trong việc nêu ra những vấn đề quan trọng với họ.
Hầu hết mọi người cảm thấy thoải mái hơn trong những khung cảnh
thân mật. Nếu các con có ý định gặp ai với mục đích cụ thể là để phát triển mối
quan hệ với họ, hãy nghĩ đến việc tổ chức cuộc gặp gỡ trong khung cảnh mà họ
thấy thoải mái bởi vì khi thấy thoải mái, họ có thể nói nhiều hơn về những gì
là quan trọng với mình.
4. Phát triển một văn hoá trong đó mọi người có thể bày tỏ cảm
xúc của mình.
Các mối quan hệ được hình thành dựa trên việc chia sẻ suy nghĩ
và cảm xúc. Thật khó để hai người có một cuộc hội thoại hữu ích khi một người
trong họ không nhận thấy rằng người kia tức giận vì những gì họ đã nói hoặc
làm. Văn hoá công ty khuyến khích mọi người gần nhau có thể tạo ra niềm say mê
để đạt được những điều tuyệt vời cùng nhau.
Một số khó khăn có thể gặp phải trong việc xây dựng mối quan hệ
tốt:
+ Thiếu tin tưởng và khuôn sáo : Chúng ta thường nhận được những
thông tin sai lệch về những người trong nhóm khác. Giữa các thành viên trong
nhóm thường có nhiều khác biệt với nhau hơn là giữa các nhóm, nếu như chúng ta
nghĩ rằng "tất cả mọi người đều như nhau" thì chúng ta đã sai lầm.
Điều này sẽ huỷ hoại mối quan hệ vì mỗi cá nhân là duy nhất và họ muốn cảm thấy
có những giá trị riêng.Khi sự khuôn sáo trở thành bệnh dịch, sự áp bức giữa
nhóm này và nhóm khác trở nên phổ biến thì sẽ khiến những cảm giác tiêu cực bóp
méo thái độ của họ.
+ Đổ lỗi cho người khác khi mối quan hệ không tốt đẹp:điều này
thật vô ích, nó sẽ tạo ra khoảng cách và sự phòng vệ lẫn nhau. Nếu như không
hài lòng về một mối quan hệ các con nên nghĩ mình cần làm gì để cải thiện
nó.Đồng thời việc thay đổi thái độ của bản thân dễ hơn nhiều so với việc thuyết
phục người khác thay đổi.
+ Tập trung vào nhiệm vụ mà không quan tâm tới cảm xúc và nhu
cầu của người khác Mọi người đều có cảm xúc và họ mang những cảm xúc này vào
công việc. Nếu như các con bất chấp cảm xúc của người khác để hoàn thành nhiệm
vụ thì những người giỏi nhất của mình sẽ lần lượt rời bỏ mình.Con người không
phải là những cố máy, nếu các con tôn trọng và hiểu họ, lắng nghe cảm xúc của
họ, họ sẽ muốn cống hiến và làm việc tốt hơn.
+ Mục tiêu, vai trò, sự mong đợi lẫn nhau không rõ ràng Nếu như
chúng ta không biết mình cần gì ở người khác thì hiểu lầm là điều không thể
tránh khỏi và mối quan hệ sẽ chịu hậu quả từ điều nay
NHỮNG HÀNH
ĐỘNG CỦA NHỮNG NGƯỜI TỰ TIN CÁC CON CẦN HỌC TẬP
Sự tự tin không chỉ giúp các con đứng vững trên đôi chân của
mình mà còn lấy được cảm tình của người xung quanh.
Những người tự tin có khả năng kiểm soát tình huống cũng như
truyền cảm hứng cho người khác. Không những thế, theo một nghiên cứu gần đây,
những người tự tin kiếm được nhiều tiền hơn và thành công cũng nhanh hơn. Một
cách tuyệt vời để rèn luyện sự tự tin chính là tập luyện thể dục. Điều này giúp
các con có thể tự điều khiển được thể chất và cảm xúc, kiểm soát được hành vi
cũng như chịu trách nhiệm về hành động của mình.
Sự tự tin thể hiện qua khả năng nói "không". Nếu không
bao giờ nói "không" có nghĩa là người khác đang kiểm soát các con và
sự tự tin của các con sẽ không bao giờ phát triển. Đừng ngại từ chối nếu không
giúp được. Điều này giúp các con thoát khỏi việc bị lợi dụng lòng tốt.
Có khiếu hài hước cũng là một trong những dấu hiệu của sự tự
tin. Những người tự tin thường có thái độ hòa đồng, thân thiện, khi gặp chuyện
thường nhìn theo hướng tích cực để giải quyết vấn đề.
Đồng thời, những người có khiếu hài hước thường được đánh giá
cao hơn trong một tập thể. Các con nên dừng việc chuyện gì cũng nghiêm túc, xem
cách trả lời bằng một trò đùa sẽ khiến người đối diện cảm thấy thoải mái, dễ
chịu hơn. Tuy nhiên, trò đùa cũng nên có giới hạn kẻo các con có thể bị
"vạn miệng".
Những người tự tin thường làm việc một cách chăm chỉ. Làm việc
với hiệu suất công việc cao không có nghĩa là quá sức. Để làm việc hiệu quả và
năng suất cao, hãy tránh những yếu tố khiến các con mất tập trung như điện
thoại, tiếng ồn... Bên cạnh đó, các con cũng cần có chế độ ăn, ngủ hợp lý để tránh
mệt mỏi, thiếu ngủ.
Người tự tin có khả năng đọc cảm xúc khá tốt. Việc nắm bắt được
tâm lý đối phương giúp các con xác định được những việc nên tiếp tục hay dừng
lại. Những người tự tin thường nhìn ra thái độ, cảm xúc của người trò chuyện
với họ. Tuy nhiên, "đọc" cảm xúc cũng không phải là tất cả mà các con
cũng nên lắng nghe để hiểu họ nhiều hơn.
Khả năng thu hút mọi người: Một số người có khả năng thu
hút, khiến nhiều người muốn ở xung quanh. Họ thường là người có uy tín, trách
nhiệm và có một vai trò nào đó.
Khi giao tiếp hãy chú ý nhìn vào mắt nhau một cách thoải mái và
bình tĩnh, cũng đừng quên mở nụ cười vì điều này sẽ mang đến sự gần gũi, thân
thiện.
Khả năng kiểm soát phản ứng của cơ thể của người tự tin tương đối tốt. Họ có thể điều khiển được hành vi và cảm xúc của chính bản thân mình. Giúp họ xây dựng được các mối quan hệ và thành công.
Nỗi đau nào mình muốn trải qua?
Ai cũng muốn có được những điều
tốt đẹp. Ai cũng muốn sống một cuộc đời hạnh phúc, dễ dàng tìm được tình yêu,
và từ một kẻ chẳng có gì trở thành người thành công đến mức tất cả mọi người
đều tự giác dạt sang hai bên nhường đường cho mình.
Tất cả mọi người đều thích như
thế – điều đó thật dễ dàng.
Nếu Ngọc Minh hỏi các con, “Con
muốn đạt được điều gì trong cuộc sống?” và các con nói những thứ đại loại như,
“Con muốn hạnh phúc, có một gia đình tuyệt vời và một công việc mà con đam mê”.
Mấy câu này xuất hiện nhan nhản tới mức mà chúng gần như vô nghĩa.
Một câu hỏi thú vị hơn, một câu
hỏi mà có lẽ, trước đây, các con chưa bao giờ xem xét, đó là nỗi đau nào mình
muốn có trong đời? Mình sẵn sàng đương đầu với điều gì? Bởi đó mới là yếu tố có
tính quyết định lớn hơn rất nhiều về cách mà tất cả mọi thứ trong cuộc sống của
chúng ta hướng đến.
Ai cũng muốn có một công việc
tuyệt vời và độc lập về tài chính – nhưng không phải ai cũng muốn làm việc 60
giờ mỗi tuần, đi làm hằng ngày bằng vé tháng trên những đoạn đường dài, công
việc giấy tờ đến ghê rợn, hệ thống đủ loại “sếp” áp đặt từ trên xuống dưới. Mọi
người muốn giàu mà không cần phải mạo hiểm, không phải hy sinh, muốn nhận được
thành quả thật nhanh mà không bị trì hoãn, cho dù đó là điều bắt buộc để trở
nên giàu có.
Ai cũng muốn có đời sống tình
dục mĩ mãn và một mối quan hệ tốt đẹp – nhưng không ai sẵn sàng vượt qua những
cuộc trò chuyện khó khăn, những khoảng lặng đáng sợ, cảm xúc bị tổn thương và
gặp gỡ nhà trị liệu để hòa giải tình cảm bằng phương pháp tâm kịch (một hệ
thống các kỹ thuật được thực hiện nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần, các vấn đề
cảm xúc và hành vi của các cá nhân – những người được gọi là “thân chủ”).
Vì thế, họ cam chịu. Họ cam
chịu và luôn tự hỏi mình “sẽ thế nào nếu?” trong nhiều năm liền và cho tới khi
câu hỏi chuyển từ “sẽ thế nào nếu?” thành “hóa ra là thế sao?”. Rồi đến khi các
luật sư vừa bước ra khỏi nhà và hóa đơn yêu cầu chuyển tiền cấp dưỡng sau khi
ly dị được gửi đến thì họ lại tự hỏi, “cái này để làm gì đây?”. Nếu không để bù
đắp cho những tiêu chuẩn đã bị hạ thấp và các mong đợi không đạt được trong 20
năm trước đó thì là vì cái gì?
Bởi vì hạnh phúc cần đấu tranh
Hiệu ứng phụ của việc kiểm soát
tiêu cực chính là những điều tích cực mình sẽ nhận được. Lúc này, mình chỉ có
thể tránh những trải nghiệm tiêu cực ấy trong khoảng thời gian đủ dài trước khi
chúng xuất hiện trở lại trong cuộc sống của mình.
Trải nghiệm tích cực thường là
những điều rất dễ kiểm soát. Nhưng trải nghiệm tiêu cực mà tất cả chúng ta, về
bản chất, đều phải đối mặt. Do đó, thứ mà chúng ta muốn có trong đời không được
quyết định bởi những cảm xúc tốt đẹp chúng ta khao khát mà là bởi những cảm xúc
tồi tệ mà chúng ta sẵn sàng và có khả năng chịu đựng trước khi đến được với
những cảm xúc tích cực.
Ai cũng muốn có một vóc dáng
thật đẹp. Nhưng mình sẽ không đạt được nó trừ khi mình trân trọng những đau đớn
và sự căng thẳng về mặt thể chất đi kèm với việc dành hàng giờ tập luyện trong
phòng gym; trừ khi mình thấy vui vẻ khi tính toán và lên kế hoạch cho một giai
đoạn ăn kiêng kham khổ.
Ai cũng muốn tự mình khởi
nghiệp và trở thành người tự do tài chính. Nhưng mình sẽ chẳng thể nào trở
thành một doanh nhân thành công trừ khi mình tìm ra con đường để trân trọng các
rủi ro, sự không chắc chắn, các thất bại liên tục và điên cuồng ngồi hàng giờ
làm thứ gì đó mà mình chẳng hề biết là nó có thành công hay không nữa.
Thứ quyết định thành công của
mình không phải là “mình muốn tận hưởng điều gì?” câu hỏi là “nỗi đau nào mà
mình muốn chịu đựng?” Chất lượng cuộc sống không được xác định bởi chất lượng
của những trải nghiệm tích cực mà đó là chất lượng của những trải nghiệm tiêu
cực. Và mình cảm thấy ổn khi giải quyết những vấn đề này cũng chính là cảm thấy
ổn khi đương đầu với cuộc sống.
Rất nhiều lời khuyên tệ hại cho
rằng, “mình chỉ cần muốn thứ gì đó là đã đủ rồi”.
Ai cũng muốn một thứ gì đó. Và
ai cũng muốn có đủ những gì mình cần. Họ chỉ không nhận ra thứ họ muốn là gì
hay đúng hơn là, thứ gì khiến họ nghĩ thế là đã “đủ” rồi.
Bởi vì nếu mun có được lợi ích
của thứ gì đó trong cuộc đời, mình cũng phải trả cho những chi phí đi kèm. Nếu
muốn có một thân hình “chuẩn mực” như các anh chàng, cô nàng thích “khoe thân”
trên bãi biển thì mình phải muốn đổ mồ hôi, đau nhức nhối khắp người, những
buổi sáng dậy từ rất sớm và sự dằn vặt của cơn đói. Nếu muốn đủ tiền mua xe hơi
nhà tầng, mình cũng phải muốn những đêm làm việc đến khuya, những thương vụ làm
ăn liều lĩnh và có thể khiến cho một người hoặc hàng ngàn người phải phát điên.
Nếu nhận thấy bản thân muốn thứ
gì đó từ tháng này sang tháng khác, năm này qua năm khác mà vẫn chưa có gì xảy
ra và mình không bao giờ tiến thêm được một bước nào gần tới nó thì có lẽ thứ
mình thực sự muốn thật hão huyền. Có lẽ thứ người ta muốn không phải là điều
mình muốn, mình chỉ là thích như vậy thôi. Có lẽ, mình không thực sự muốn nó
một chút nào cả.
Thi thoảng, Ngọc Minh hỏi mọi
người, “Bạn chọn chịu đựng điều gì?” Họ nghiêng đầu và nhìn Ngọc Minh như thể
mình có mười hai chiếc mũi. Nhưng Ngọc Minh hỏi bởi vì nó nói với mình về bản
thân nhiều hơn khao khát và sự ảo tưởng của mình. Bởi vì mình phải chọn thứ gì
đó. Mình không thể nào có một cuộc đời mà chẳng hề có đau đớn nào cả. Không thể
tất cả đều đơn thuần chỉ là hạnh phúc và sự hài lòng. Và cuối cùng một câu hỏi
tuy khó nhưng rất quan trọng. Hài lòng là một vấn đề đơn giản. Và khá nhiều
người trong chúng ta đều có chung một câu trả lời.
Câu hỏi thú vị hơn ở đây là sự
đau đớn. Nỗi đau nào mà mình muốn chịu đựng?
Câu trả lời thực sự sẽ đưa mình
đến một nơi nào đó. Đó là câu hỏi mà có thể thay đổi cả cuộc đời chúng ta. Đó
là thứ tạo nên Ngọc Minh và các con. Đó là thứ định nghĩa chúng ta, chia tách
chúng ta và cuối cùng đưa chúng ta gần nhau trở lại.
Trong hầu hết những năm tháng ở
độ tuổi thanh niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, Ngọc Minh mơ mộng
trở thành “Chính khách” – đặc biệt là một ngôi sao ca nhạc. Bất cứ khi nào chơi
những bài hát nổi loạn một chút, Ngọc Minh đều nhắm mắt lại và hình dung cảnh
mình đứng trên sân khấu trước sự hò hét của đám đông, mọi người hoàn toàn nổi
loạn mỗi khi ngón tay của Ngọc Minh di chuyển trên từng dây đàn. Cơn mơ mộng
này giữ Ngọc Minh “bận rộn” liên tục trong vài giờ đồng hồ và cứ thế, Ngọc Minh
vẫn “mơ” trong suốt thời gian học đại học, thậm chí cả sau khi Ngọc Minh đang
bệnh nặng.
Thế nhưng lúc đó, Ngọc Minh
cũng chưa bao giờ mảy may nghi ngờ về việc Ngọc Minh đã từng hát,đàn trước hàng
nghìn người đang hò hét hay không, ngoại trừ việc xác định cho nó một thời
điểm. Ngọc Minh kiên nhẫn chờ đợi trước khi đầu tư một khoảng thời gian và công
sức thích đáng vào việc đi đến đó và biến giấc mơ thành hiện thực. Đầu tiên,
Ngọc Minh cần hoàn thành việc học ở trường, sau đó, Ngọc Minh cần tiền, Ngọc
Minh cần tìm kiếm thời gian và sau đó, không có sau đó nữa.
Mặc dù mơ mộng trở thành “chính
khách” hơn nửa cuộc đời nhưng sự thật thì chẳng bao giờ xảy ra cả. Và nó khiến
Ngọc Minh mất một thời gian dài và trải qua rất nhiều khó khăn để cuối cùng tìm
ra câu hỏi tại sao: Ngọc Minh không thực sự muốn nó.
Ngọc Minh yêu các kết quả –
hình ảnh Ngọc Minh đứng trên sân khấu, mọi người tán dương, tài năng của Ngọc
Minh được thể hiện, thổ lộ hết cảm xúc trong trái tim vào những bài hát mà Ngọc
Minh đàn – nhưng Ngọc Minh không yêu quá trình thực hiện. Và bởi vì điều đó,
Ngọc Minh thất bại. Liên tục như vậy! Ngọc Minh còn chẳng cần cố gắng để thất
bại. Gần như, Ngọc Minh chẳng cố tí nào cả.
Quá trình luyện tập hàng ngày
đầy vất vả, tham gia một nhóm nhạc, tập biểu diễn, khó khăn khi tìm kiếm hợp
đồng thuê ban nhạc và kéo mọi người đến thể hiện tài năng và rồi, họ chẳng hề
hứng thú. Dây đàn đứt, ampli bị cháy, kéo hơn 18 kg đồ đạc tới nơi biểu diễn mà
chẳng hề có phương tiện chuyên chở nào. Đó là ngọn núi của ước mơ và một chuyến
leo núi dài hàng dặm để lên được đến đỉnh. Và thứ khiến Ngọc Minh mất một thời
gian dài để khám phá ra đó là Ngọc Minh không hề thích leo núi. Ngọc Minh chỉ
thích tưởng tượng mình đang ở trên đỉnh núi mà thôi.
Nền văn hóa của chúng ta nói
rằng, Ngọc Minh thất bại với chính mình, rằng Ngọc Minh là một kẻ bỏ cuộc hoặc
một kẻ thất bại. Các cuốn sách self-help nói rằng, Ngọc Minh hoặc không có đủ
dũng cảm, đủ sự quyết tâm hoặc không đủ tự tin vào bản thân. Ngọc Minh là nạn
nhân của xã hội, do xã hội “đào tạo” nên và sống vì ảo tưởng. Ngọc Minh được
khuyên rằng, hãy nói những câu nói động viên, khẳng định hoặc tham gia vào nhóm
những người thông tuệ hoặc chứng minh đi hoặc làm một thứ gì đó đại loại như
vậy.
Nhưng sự thật kém thú vị hơn
rất nhiều: Ngọc Minh đã nghĩ Ngọc Minh muốn thứ gì đó nhưng hóa ra không phải.
Hết chuyện!
Ngọc Minh muốn nhận được những
phần thưởng nhưng không muốn đấu tranh. Ngọc Minh muốn kết quả nhưng không phải
quá trình. Ngọc Minh muốn yêu mà không có xung đột, chỉ là sự chiến thắng. Và
cuộc sống không diễn ra theo cách như vậy.
Chúng ta được định nghĩa bởi
những giá trị mà ta sẵn sàng đấu tranh để giành lấy. Những người thích thú với
những tuần làm việc dài và niềm tin thăng tiến trong nghề nghiệp là những người
sẽ đạt được đến vị trí họ muốn. Những người thích thú với căng thẳng và sự bất
an của lối sống đầy chất nghệ sĩ, thèm khát là những người cuối cùng sẽ sống
với nó và tạo ra nó.
Đó là một phần vô cùng đơn giản
của cuộc sống: Những cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ định nghĩa thành công của
chúng ta. Thế nên, hãy lựa chọn cuộc chiến của mình thật khôn ngoan, các con
nhé.
NHỮNG
ĐIỀU NÊN VÀ KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG
NHỮNG CÂU
TRUYỆN CUỘC SỐNG CỰC KỲ Ý NGHĨA MÀ MÌNH NÊN ĐỌC
Mỗi câu truyện cuộc sống luôn có những ý nghĩa riêng của nó, từ đó
ta sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm cho chính mình để hoàn thiện bản thân.
Những truyện cực ngắn dưới đây sau khi đọc xong, ta sẽ rút ra được
những bài học ý nghĩa cho cuộc sống của chính mình. Hãy đọc ngay những truyện
cực ngắn dưới đây và xem những truyện ngắn này nhắn nhủ tới mình điều
gì nhé!
Nếu hàng ngày, ta dành ra rất nhiều thời gian của mình để lướt
Facebook, thì sao lại không dành thời gian quý báu ấy để đọc những mẩu truyện
cực ngắn nhưng lại cho mình rất nhiều lời khuyên, ý nghĩa của cuộc sống. Chắc
chắn những truyện cực ngắn dưới đây sẽ khiến mình thức tỉnh và nhận ra cuộc
sống này còn có vô vàn điều thú vị hơn là thời gian dành để lướt Facebook. Hãy
cùng khám phá với chúng tôi.
1 .Truyện cực ngắn: AI MỚI LÀ KẺ NGU?
Một ông thầy giáo mới dạy nhận ra rằng trong lớp có một cậu bé
luôn luôn bị chửi là ngu. Trong giờ ra chơi ông hỏi nhóm bạn lý do.
- Thì nó là thằng ngu thật mà thầy. Nếu mà đưa cho nó đồng xu to 5
rúp và đồng xu nhỏ 10 rúp, thì nó sẽ chọn đồng 5 rúp, vì nó nghĩ đồng 5 rúp có
kích thước to hơn thì là tốt hơn.
Đây, thầy nhìn nhé. Một bạn trong nhóm giơ 2 đồng xu và cho cậu
kia chọn. Và cậu vẫn chọn đồng 5 rúp như trước.
Thầy giáo ngạc nhiên hỏi:
- Sao em lại chọn 5 rúp mà không chọn 10 rúp?
- Thầy nhìn này, đồng 5 rúp to hơn mà.
Tan trường, thầy đến chỗ cậu bé hỏi lại:
- Chẳng nhẽ em không thể hiểu được đồng 5 rúp chỉ to hơn về mặt
kích thước, nhưng đồng 10 rúp thì em có thể mua được nhiều thứ hơn?
- Nếu em lấy 10 rúp thì lần sau bọn nó sẽ không cho em nữa... Cậu
bé trả lời.
Bài học rút ra:
Chắc chắn khi đọc đến đây ta sẽ thấy cậu bé kia tỏ ra ngờ nghệch
mà không hẳn là vậy. Người ta thường nói: "Ngu mà tỏ ra nguy hiểm thì
không có gì phải sợ, đáng sợ là người nguy hiểm mà to ra ngu". Vì vậy,
đừng xem thường người đối diện với mình. Bởi người đối diện với mình chưa chắc
đã ngu như ta nghĩ... Truyện cực ngắn về đồng xu khiến mình xem xét lại cách
nhìn đối với người đối diện...
2. Truyện cực ngắn: NGƯỜI TIỀU PHU VÀ HỌC GIẢ
Tiều phu cùng học giả đi chung một chiếc thuyền ở giữa sông. Học
giả tự nhận mình hiểu biết sâu rộng nên đề nghị chơi trò đoán chữ cho đỡ nhàm
chán, đồng thời giao kèo, nếu mình thua sẽ mất cho tiều phu mười đồng. Ngược
lại, tiều phu thua sẽ chỉ mất năm đồng thôi. Học giả coi như mình nhường tiều
phu để thể hiện trí tuệ hơn người. Đầu tiên, tiều phu ra câu đố:
"Vật gì ở dưới sông nặng một ngàn cân, nhưng khi lên bờ chỉ
còn có mười cân?".
Học giả vắt óc suy nghĩ vẫn tìm không ra câu trả lời, đành đưa cho
tiều phu mười đồng. Sau đó, ông hỏi tiều phu câu trả lời là gì.
"Tôi cũng không biết!", tiều phu đưa lại cho học giả năm
đồng và nói thêm:
"Thật ngại quá, tôi kiếm được năm đồng rồi." Học giả vô
cùng sửng sốt.
Bài học rút ra:
Trong cuộc sống, nhiều người hay tỏ vẻ là mình trí tuệ, thông minh
hơn người và tỏ vẻ coi thường những người ít học, học thấp hơn họ. Tuy nhiên
đôi lúc, sự tự phụ quá tự tin của họ sẽ khiến họ bị lâm vào những tình huống
"dở khóc dở cười". Họ không biết một điều rằng "thông minh sẽ
hại thông minh", người quá thông minh và tinh tướng nhiều khi sẽ tự hại
lấy mình vì quá tự cao. Lẽ vậy ở đời, đừng sợ kẻ thông minh, hãy sợ kẻ ngốc mà
tưởng mình thông minh. Và hãy làm một người khiêm tốn đáng được tôn trọng.
Truyện cực ngắn về người tiều phu khiến chúng ta phải suy nghĩ về đức tính
khiêm tốn.
3. Truyện cực ngắn: MIẾNG BÁNH MÌ CHÁY .
“Khi tôi lên 8 hay 9 tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn
nướng bánh mì cháy khét. Một tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và
bà làm bữa tối cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì nướng cháy, không
phải cháy xém bình thường mà cháy đen như than. Tôi ngồi nhìn những lát bánh mì
và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng và lên tiếng hay không.
Nhưng cha tôi chỉ ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng
như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với
ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ tôi xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì.
Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi:
“Em à, anh thích bánh mì cháy mà.”
Đêm đó, tôi đến bên chúc cha tôi ngủ ngon và hỏi có phải thực sự
ông thích bánh mì cháy. Cha tôi khoác tay qua vai tôi và nói:
“Mẹ con đã làm việc rất vất vả cả ngày và mẹ rất mệt. Một lát bánh
mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn
thương cho người khác không? Những lời chê bai trách móc cay nghiệt đấy.”
Rồi ông nói tiếp: “Con biết đó, cuộc đời đầy rẫy những thứ không
hoàn hảo và những con người không toàn vẹn. Cha cũng khá tệ trong rất nhiều
việc, chẳng hạn như cha chẳng thể nhớ được sinh nhật hay ngày kỷ niệm như một
số người khác.
Điều mà cha học được qua nhiều năm tháng, đó là học cách chấp nhận
sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa
khoá quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền
vững con ạ. Cuộc đời rất ngắn ngủ để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu.
Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người
chưa làm được điều đó.”
Bài học rút ra:
Trong cuộc sống, ta cần phải biết học cách cảm thông đối với điểm
yếu, điểm hạn chế của người khác. Cảm thông với cuộc sống, tính cách của mọi
người trong gia đình, bạn bè, vợ chồng... sẽ giúp mình có một cuộc sống dung
hòa xung quanh. Sự cảm thông -bí quyết nuôi dưỡng hạnh phúc gia đình. Truyện
cực ngắn Miếng bánh mì cháy là bài học về sự cảm thông giữa con người với con
người.
4. Truyện cực ngắn: BỆNH LẢI NHẢI
Chị vợ đang nấu nướng trong nhà bếp, anh chồng cứ đứng bên lải
nhải không ngừng:
- Chậm thôi! Cẩn thận! Lửa lớn quá! Mau lên! Lật cá đi! Ôi cho
nhiều dầu quá!
Chị vợ nói: Em biết phải nấu nướng thế nào mà!
Anh chồng: Em đương nhiên là biết, bà xã. Anh bình tĩnh nói
tiếp:
- Anh chỉ là muốn em biết, khi anh lái xe, em ở bên lải nhải không
ngừng và em sẽ hiểu cảm giác của anh thế nào thôi!
Bài học rút ra:
Học cách thông cảm cho người khác không khó, chỉ cần ta nghiêm túc
đứng ở góc độ và lập trường của đối phương để nhìn nhận vấn đề. Bởi khi mình là
họ, ta mới hiểu tất cả những hành động của họ ở mọi góc độ. Đừng vội suy xét và
kết luận sự việc khi chưa rõ mọi vấn đề. Thấu hiểu người khác thay vì phàn nàn
họ là bài học rút ra từ truyện cực ngắn này.
5. Truyện cực ngắn: NHÀ VUA VÀ ĐÔI CHÂN ĐAU
Ngày xưa, có ông vua cai trị ở một đất nước phồn vinh nọ. Một ngày
kia, vị vua đi ngao du sơn thủy. Khi quay trở lại hoàng cung, vị vua phàn nàn
chân mình rất đau, bởi vì đây là lần đầu tiên vua phải trải qua một cuộc hành
trình dài như thế và chặng đường ông đi lại rất gồ ghề, đá lởm chởm.
Sau đó, vị vua hạ lệnh
– cho bọc tất cả con đường trong đất nước lại bằng da. Điều này sẽ
dẫn đến việc phải cần hàng ngàn bộ da bò và một số lượng khổng lồ tiền bạc.
Bỗng có một hôm, người vợ của tên hầu nhà vua đã dũng cảm hỏi nhà
vua:
“Tại sao ngài lại tốn một số lượng tiền không cần thiết như thế?
Tại sao ngài không dùng một miếng da nhỏ để bọc lại chân của ngài?”.
Nhà vua ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng đồng ý làm một đôi giày.
Bài học rút ra:
Truyện cực ngắn trên đây sẽ giúp cho mình hiểu: Để có một cuộc
sống, một nơi chốn hạnh phúc để sống, tốt hơn là mình nên thay đổi chính mình,
suy nghĩ của mình, trái tim mình – chứ không phải bắt thế giới
thay đổi bởi “Nếu mình thay đổi, cả thế giới sẽ thay đổi” Hãy thay đổi chính
mình, ta sẽ thấy thế giới này đẹp hơn rất nhiều.
6. Truyện cực ngắn: BÀI HỌC THÀNH BẠI TỪ HƯƠU CAO CỔ
Mỗi lần một chú hươu con ra đời đều là một bài học. Khi sinh con,
hươu mẹ không nằm mà lại đứng, như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m
xuống đất và nằm ngay dưới đó. Sau vài phút, hươu mẹ làm một việc hết sức kỳ
lạ, đó là đá vào người con mình cho đến khi nào nó chịu đứng dậy mới thôi. Khi
hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Cho đến khi thực sự
đúng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để hươu con phải nỗ lực tự mình đứng
dậy trên đôi chân còn non nớt.
Bài học rút ra:
Truyện cực ngắn về chú hươu cao cổ mới sinh và phương pháp dạy con
từ thuở nhỏ của hươu mẹ. Điều này nghe có vẻ lạ với chúng ta, nhưng lại thực sự
cần thiết cho hươu con bởi chúng phải tự đứng được để có thể tồn tại với bầy
đàn, nếu không sẽ bị trơ trọi với cuộc đời và trở thành miếng mồi ngon cho thú
dữ.
Con người chúng ta cũng vậy, thật dễ nản chí khi mọi việc đều trở
nên tồi tệ. Nhưng cho dù đang phải đối mặt với nhiều gian khổ thì ta vẫn phải
giữ vững niềm tin. Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu
hàng. Hãy ghi nhớ rằng mỗi khi ta phải đối mặt với nghịch cảnh, trong ta luôn
có một sức mạnh tiềm ẩn.
7. Hai con hổ số phận khác nhau
Có hai con hổ, một con ở trong chuồng, một con nơi hoang dã.
Hai con hổ đều cho rằng hoàn cảnh của bản thân mình không tốt, đôi
bên đều ngưỡng mộ đối phương, thế là chúng quyết định thay đổi thân phận với
nhau. Lúc mới bắt đầu, cả hai đều vô cùng vui vẻ, nhưng không lâu sau đó, hai
con hổ đều chết cả: Một con vì đói mà chết, một con u sầu mà chết.
Gợi ý nhỏ:
Có những lúc, mọi người nhắm mắt làm ngơ đối với hạnh phúc của
chính bản thân mình, để rồi luôn để mắt đến hạnh phúc của những người khác.
Thật ra, những gì mà mình đang có chính là những điều mà người khác phải ngưỡng
vọng.
Cuộc đời là thế, nhiều chuyện xảy ra theo cách không thể ngờ tới,
hy vọng sau khi đọc những câu chuyện này, mọi lúc mọi nơi ai cũng có thể tự
nhắc nhở bản thân mình vậy.
8. Ông lão vứt bỏ đôi giày
Chuyến xe lửa đang chạy trên đường cao tốc, Gandhi không cẩn thận
làm rơi một chiếc dép mới mua ra ngoài cửa sổ, mọi người chung quanh đều cảm
thấy tiếc cho ông. Bất ngờ, ông liền ném ngay chiếc giày thứ hai ra ngoài cửa
sổ đó. Hành động này của Gandhi khiến mọi người sửng sốt, thế là ông bèn từ tốn
giải thích: “Chiếc giày này bất luận đắt đỏ như thế nào, đối với tôi mà nói nó
đã không còn có ích gì nữa, nếu như có ai có thể nhặt được đôi giày, nói không
chừng họ còn có thể mang vừa nó thì sao!”.
Gợi ý nhỏ:
Đối với nỗi thống khổ đã định sẵn là không thể vãn hồi, chi bằng
hãy buông bỏ từ sớm.
9. Hoa khôi lớp xấu xí
Các sinh viên nữ công khai bỏ phiếu bầu chọn hoa khôi của lớp,
Tiểu Mai là người có dung mạo bình thường nhưng cô đa đứng ra nói mọi người
rằng: “Nếu như tôi được chọn, qua vài năm sau, các chị em ngồi ở đây có thể tự
hào mà nói với chồng của mình rằng, ‘hồi em học đại học, em còn xinh đẹp hơn cả
hoa khôi trong lớp cơ đấy!’”.
Kết quả là cô ấy đã được bầu chọn với số phiếu gần như tuyệt đối.
Gợi ý nhỏ:
Thuyết phục người khác ủng hộ mình, không nhất định là
phải chứng minh rằng mình xuất sắc hơn người khác như thế nào, mà là cần để cho
người ta biết được rằng nhờ có ta mà họ mới trở nên ưu tú hơn và có nhiều thành
tựu hơn.
10. Nhân duyên vợ chồng
Năm đó, anh đang ngồi đợi bạn trong quán cà phê. Một người con gái
bước đến hỏi: “Anh có phải là người mà dì Vương giới thiệu đến để xem mắt hay
không?”.
Anh ngẩng đầu lên nhìn cô một cái, bất chợt phát hiện đây chính là
mẫu người mình thích, lòng nghĩ thầm sao không “lỡ nhầm rồi đã nhầm cho trót
luôn”, thế là vội vàng đáp: “Đúng vậy, mời ngồi”.
Ngày kết hôn, anh liền đem sự thật này nói với vợ, người vợ cười
cười một cái, nói: “Em cũng không phải là đến xem mắt, chỉ là mượn cớ để bắt
chuyện với anh thôi…”
Gợi ý nhỏ:
Khi cơ duyên đã đến rồi, thì đừng nên do dự mà hãy nắm chặt lấy
nó.
11. Bệnh nhân ung thư “tưởng rằng” cuộc phẫu thuật đã thành công
Tôi có một người bạn là bác sĩ. Một lần anh làm phẫu thuật cho
bệnh nhân ung thư, sau khi mổ ra mới phát hiện chỗ bị viêm cắt bỏ không được,
anh đành phải may lại, rồi đi giải thích tình huống với bệnh nhân. Bệnh nhân đó
đến từ vùng quê, nghe không hiểu thuật ngữ y khoa, thế nên nghe xong thì vững
tin rằng phẫu thuật xong rồi thì bệnh sẽ khỏi.
Bác sĩ không còn cách nào khác, đành phải để ông xuất viện.
Một năm sau tái khám, bệnh quả nhiên đã khỏi hẳn, các tế bào ung
thư đã hoàn toàn biến mất.
Gợi ý nhỏ:
Tâm thái vui vẻ lạc quan chính là phương thức phẫu thuật tốt nhất
vậy.
12. Chuột sa hũ gạo
Một con chuột rơi vào trong lu gạo, số gạo trong lu vẫn còn một
nửa, sự cố ngoài ý muốn này khiến nó vui mừng không sao tả được.
Sau khi xác định là không có nguy hiểm gì, nó liền bắt đầu cuộc
sống ăn rồi lại ngủ, ngủ rồi lại ăn trong cái lu gạo.
Rất mau, lu gạo sắp cạn kiệt, nhưng nó rốt cuộc vẫn không thoát
khỏi sự cám dỗ của những hạt gạo, nên tiếp tục ở lại trong lu. Cuối cùng, gạo
đã ăn hết, chuột ta mới phát hiện rằng mình không thể nhảy ra ngoài được nữa,
lực bất tòng tâm.
Gợi ý nhỏ:
Cuộc đời của chúng ta xem như rất yên bình nhưng thật ra khắp nơi
đều đầy rẫy nguy cơ, cần phải giữ cho mình quan niệm sống ổn định, từ đó mà
biết cân nhắc đến an nguy.
13. Con thỏ câu cá bằng cà rốt
Ngày đầu tiên, chú thỏ con đi câu cá, không thu hoạch được gì cả.
Ngày thứ hai, nó lại đi câu cá, kết quả vẫn không đổi.
Ngày thứ ba, nó vừa đến nơi, một con cá lớn từ trong hồ nhảy lên,
lớn tiếng quát: “Nếu như ngươi còn dám dùng cà rốt để làm đồ ăn cho cá, ta sẽ
làm thịt ngươi”.
Gợi ý nhỏ:
Những gì ta cho đi đều là những gì mình muốn cho,
chứ nó không nhất định là những gì mà đối phương muốn; thế nên điều mình cho
đi ấy trong con mắt người ta căn bản vốn không có giá trị gì cả. Hãy biết cân
nhắc đến người khác để giá trị cuộc sống của mình thêm ý nghĩa.
14. Mark Twain và người phụ nữ kiêu ngạo
Trong một bữa tiệc, Mark Twain ngồi đối diện với một người phụ nữ.
Theo lẽ lịch sự, ông đã nói với người này: “Cô thật là xinh đẹp!”.
Người phụ nữ đó lại không hề cảm kích, mà còn cao ngạo nói: “Rất
tiếc là tôi không có cách nào để nói lời khen tương tự như thế với ông!”.
Mark Twain rất bình thản, nói: “Không sao cả, cô có thể giống như
tôi vậy, nói một lời nói dối là được rồi”.
Người phụ nữ nghe xong, xấu hổ quá, phải cúi gầm mặt xuống mà
không nói được lời nào.
Gợi ý nhỏ:
Tảng đá mà mình ném ra, người bị nó làm cho vấp té sẽ luôn luôn là
chính bản thân mình . Ta nói lời cay nghiệt, sau cùng cũng sẽ tự mình rước lấy
nhục nhã mà thôi.
Những truyện cực ngắn trên đây dù rất ngắn nhưng để lại cho chúng
ta những bài học sâu sắc về làm người, và sống ý chí, thành công trong cuộc
sống.
Hãy đừng bao giờ ngừng tin tưởng, ngừng phấn đấu và sống chan hòa
với mọi người. Bởi niềm tin và tình cảm sẽ giúp mình có một cuộc sống ý nghĩa
trong cuộc đời này.
15. Con ếch nghễnh ngãng và bài học mặc kệ những lời đàm tiếu
Một đàn ếch đang di chuyển qua cánh rừng thì 2 con ếch không may
bị rơi xuống hố sâu. Những con ếch khác cùng xem cái hố sâu đến chừng nào và
kết luận rằng, hố quá sâu để có thể vượt ra ngoài. Chúng khuyên 2 con ếch kia
rằng hãy giữ sức, vì chẳng có hy vọng gì đâu.
Phớt lờ những lời nói đó, 2 con ếch bị rơi xuống hố vẫn nỗ lực tìm
cách nhảy ra khỏi hố. Những con ếch trên miệng hố, không những không động viên
mà còn khuyên chúng hãy từ bỏ đi.
Một trong 2 con ếch sau vài lần thử nhảy đã kiệt sức và chấp nhận
buông xuôi. Trong khi đó, con ếch còn lại càng nhảy càng hăng hơn và cuối cùng
nó lấy hết sức nhảy vọt ra khỏi cái hố.
Khi ra ngoài, những con ếch khác hỏi rằng: "Cậu không nghe
thấy chúng tôi nói gì sao?". Con ếch nhỏ đã giải thích rằng, vì nó bị điếc
nên nó nghĩ rằng cả đàn ếch đã cổ vũ nó cố gắng nhảy ra ngoài.
Bài học: Những lời nói của người xung quanh có thể tác động to lớn
đến cuộc sống mình, nhưng ta không nên dành thời gian với những
người chỉ biết "hút cạn" nguồn hạnh phúc của mình. Ta không thể kiểm
soát những gì sẽ xảy với cuộc đời mình nhưng ta có thể kiểm soát cách mà mình
phản ứng với thế giới này.
16. Một cân bơ và sự gian dối
Ngày xa xưa, có một người nông dân thường xuyên bán bơ cho người
thợ làm bánh. Một ngày, người thợ làm bánh quyết định cân lại số bơ anh ta mua
để kiểm tra xem liệu người nông dân có bán chính xác khối lượng bơ anh ta yêu
cầu hay không. Anh ta đã phát hiện ra khối lượng bơ không như thỏa thuận thực
tế và kiện người nông dân ra tòa.
Quan tòa hỏi người nông dân rằng, anh đã dùng cách gì để cân khối
lượng bơ bán ra. Người nông dân trả lời rằng: Thưa ngài, tôi không có dụng cụ
đo lường chính xác nào cả, nhưng tôi có thứ để có thể biết được khối lượng bơ.
"Vậy anh đã cân bơ bằng cách nào?".
"Thưa ngài, trước khi anh thợ làm bánh mua bơ của tôi, tôi
đang mua 1 cân bánh mỳ của anh ta, Mỗi ngày, khi anh bán bánh đem bánh mỳ tới,
tôi đặt nó lên bàn cân và đưa lại cho anh ta số bơ có trọng lượng đúng bằng
bánh mỳ. Nếu ai đó gian lận, thì đó chính là anh làm bánh".
Bài học: Ta sẽ nhận lại những
gì mình cho đi. Sự gian dối sẽ được đáp trả bằng sự gian dối
gấp nhiều lần.
17. Hòn đá tảng giữa đường và phần thưởng dành cho những người
vượt qua trở ngại
Ở một vương quốc nọ, đức vua muốn thử lòng người nên đã sai người
đặt một tảng đá to ở giữa một con đường nhiều người qua lại. Sau đó, nhà vua
đóng giả người thường để quan sát xem ai sẽ là người dịch chuyển tảng đá khỏi
con đường. Rất nhiều thương gia giàu có, cận thần của nhà vua đã đi qua con
đường nhưng họ chỉ đi vòng qua hòn đá.
Thậm chí, nhiều người còn đổ lỗi cho nhà vua vì không có biện pháp
giữ cho đường sá thông thoáng, nhưng không ai làm bất cứ điều gì để giải quyết
vấn đề.
Một ngày nọ, một người nông dân mang rau ra chợ bán. Khi đến gần
tảng đá, anh ta đã đặt gánh rau xuống và cố gắng tìm cách đẩy hòn đá ra khỏi vị
trí án ngưỡng trên đường. Sau khi đẩy được hòn đá đi, anh nông dân phát hiện
một chiếc túi đựng rất nhiều tiền vàng và một bức thư của nhà vua nhắn rằng:
Vàng trong túi dành cho người đã loại bỏ tảng đá ra khỏi con đường.
Bài học: Mọi trở ngại chúng ta gặp đều là cơ hội để cải thiện bản
thân. Trong khi những người lười biếng than phiền thì những người khác đang tạo
ra cơ hội bằng trái tim nhân hậu, lòng hảo tâm và sẵn sàng làm mọi thứ.
18. Cái kén và con bướm
Một người đàn ông tìm thấy một cái kén của sâu bướm. Con sâu dường
như đang cố gắng để chui ra khỏi kén. Người đàn ông ngồi xuống và quan sát cái
kén suốt hàng giờ nhưng dường như con sâu bướm phải vật lộn rất vất vả mà chỉ
tạo ra được một chiếc lỗ nhỏ xíu. Đột nhiên nó dừng lại và dường như kiệt sức,
bế tắc.
Người đàn ông quyết định giúp con bướm có thể chui ra ngoài bằng
cách dùng kéo cắt lỗ trên chiếc kén rộng thêm một chút nữa. Sau đó, con bướm
nhỏ đã có thể thoát ra khỏi kén dễ dàng hơn nhưng cơ thể nó dường như yếu ớt,
đôi cánh rúm ró.
Người đàn ông vẫn ở đó, chờ cho đôi cánh bướm có thể dang rộng và
con bướm bay lên. Tuy nhiên, điều đó không bao giờ xảy ra. Con bướm sẽ chỉ có
thể sống phần đời con lại bằng cách bò với cơ thể khuyết tật và đôi cánh rúm
ró. Nó không bao giờ có thể bay,
Mặc dù, người đàn ông có lòng tốt, nhưng anh ta không hiểu quy luật
của tự nhiên. cái kén chật hẹp là thử thách để sâu có thể hóa bướm. Chỉ có tự
mình nỗ lực thoát khỏi cái kén, chất lỏng trong cơ thể sâu mới chuyển hết sang
đôi cánh, giúp nó có thể bay tự do.
Bài học: Cuộc chiến với cuộc sống giúp chúng ta phát triển sức
mạnh. Không đấu tranh, chúng ta không bao giờ trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Tự
mình giải quyết các vấn đề, không dựa dẫm vào người khác là điều rất quan trọng
để mình có thể vững vàng trong cuộc sống.
1. Thiên đường và Địa ngục
Một người đàn ông chết đi, và vì anh là một người tốt nên được
lên Thiên đường. Thánh Peter đứng ở cổng Thiên đường chào đón anh.
"Xin chào mừng! Con có thể bước vào Thiên đường ngay bây
giờ, nhưng vì con đã sống rất tốt nên con được phép xuống Địa ngục trước để so
sánh hai nơi nếu con muốn", Thánh Peter nói.
Người đàn ông khá tò mò và nói "tại sao lại không
chứ?".
Anh bước xuống Địa ngục, nơi mà cánh cửa đã mở sẵn. Phía sau
cánh cửa, anh nhìn thấy rất nhiều người đang ngồi xung quanh những chiếc bàn
đầy đồ ăn ngon lành, nhưng họ rất buồn bã và đau khổ, bởi chỉ có những chiếc
dao và nĩa dài quá tầm tay. Vì thế, họ không thể đưa được một chút thức ăn nào
vào miệng.
Người đàn ông quay trở lại Thiên đường và nói với Thánh Peter:
"Chà, con rất vui khi được lên Thiên đường. Địa ngục đúng là một hình
phạt".
"Chào mừng tới Thiên đường", Thánh Peter nói.
Khi người đàn ông bước vào Thiên đường, anh ta thấy gì? Anh lại
thấy rất nhiều người đang ngồi xung quanh những chiếc bàn đầy đồ ăn ngon, cũng
giống như dưới Địa ngục. Họ cũng có những chiếc dao và nĩa dài quá tầm tay,
nhưng trên Thiên đường, mọi người không than khóc và chửi rủa, bởi vì họ đang
đút thức ăn cho nhau. "Thử món này đi", họ cười nói vui vẻ. "Cả
món này nữa", họ đã rất vui vẻ cùng nhau.
Bài học rút ra: Hạnh phúc là khi mang lại hạnh phúc cho người
khác. Đừng ích kỷ, mà hãy quan tâm tới người khác, ta cũng sẽ nhận được sự quan
tâm từ họ.
2. Hai hạt giống
Hai hạt giống nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt giống
thứ nhất nói:
"Tôi muốn lớn lên! Tôi muốn rễ đâm sâu vào trong lòng đất,
lộc đâm xuyên lên mặt đất... Tôi muốn đâm chồi nảy lộc để báo hiệu mùa xuân
tới.... Tôi muốn cảm nhận được sự ấm áp của Mặt trời và hứng trọn những giọt
sương mai đọng trên cánh hoa..." Và hạt giống thứ nhất được lớn lên như
đúng ý nguyện.
Hạt giống thứ hai nói "Chà, nếu tôi đâm rễ xuống lòng đấy,
tôi không biết mình sẽ gặp phải những thứ gì trong bóng tối. Nếu tôi đâm chồi
lên mặt đất rắn chắc, những nhánh mầm non nớt của tôi có thể bị hỏng... Nếu tôi
đâm chồi rồi bị một con ốc sên ăn mất thì sao? Nếu tôi nở hoa, một đứa trẻ có
thể tiện tay hái hoa. Không, tốt hơn là cứ đợi đến khi nào an toàn". Và
hạt giống thứ hai cứ chờ đợi như ý muốn.
Vào một sáng mùa xuân, một con gà mái đi loanh quanh trên mảnh
đất. Nó tìm thấy hạt giống đang nằm đợi và nhanh chóng ăn mất.
Bài học rút ra: Đừng đợi chờ bất cứ giây phút nào, vì cuộc đời
không có thời gian cho mình chờ đợi.
3 . Vị vua và những bông hoa
Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang
muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì
thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được
những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.
Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh
để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp,
chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.
Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu
hoa rất đẹp. Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống
rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena.
Ngài hỏi "tại sao chậu hoa của cô không có gì?".
"Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi
đã thất bại" cô gái trả lời.
"Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho
mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết
tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng
đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này".
Bài học rút ra: Sự trung thực sẽ cho mình những thứ bất ngờ vì
không có tài sản nào quý giá bằng lòng trung thực.
4. Bức tranh bình yên nhất
Xưa có một ông vua tổ chức một cuộc thi tìm ra người nào vẽ được
bức tranh yên bình nhất. Nhiều họa sĩ đã tham gia và nộp bài. Nhà vua xem xét
tất cả các bức tranh và ông chọn ra hai bức ông thích nhất, nhưng ông vẫn phải
chọn ra một bức tranh đạt giải.
Bức tranh thứ nhất vẽ một hồ nước tĩnh lặng đến mức có thể thấy
những ngọn núi cao vút xung quanh soi bóng dưới hồ. Bên trên là bầu trời trong
xanh, mây trắng. Đó là một bức tranh mà ai nhìn vào cũng phải mê mẩn.
Bức tranh thứ hai cũng vẽ cảnh núi, nhưng nó mấp mô và trần
trụi. Bên trên là bầu trời u ám, vần vũ như sắp có mưa bão, sấm chớp. Phía dưới
một ngọn núi là thác nước đổ xuống ào ào. Nhưng khi nhà vua nhìn kỹ, ông thấy
bên cạnh thác nước là một bụi cây nhỏ nằm trong một kẽ đá. Trong bụi cây, một
con chim mẹ đang làm tổ. Giữa thác nước đang gào thét, chim mẹ ngồi yên bình
trong tổ.
Ta sẽ chọn bức tranh nào?
Nhà vua đã chọn bức tranh thứ hai và giải thích: "Bởi vì
yên bình không có nghĩa là mình ở một nơi không có tiếng ồn, không gặp rắc rối,
không phải làm việc vất vả. Yên bình là khi sống giữa tất cả những thứ đó, ta
vẫn cảm thấy bình an trong tim. Đó mới là yên bình thực sự".
Hy vọng với những câu truyện hay và đầy tính nhân văn trên đây
ta có thể rút ra nhiều bài học quý giá cho cuộc sống của mình.
NHỮNG LỜI
KHUYÊN HAY VỀ CUỘC SỐNG
1. Hãy cho đi nhiều hơn nhận được.
2. Hãy kết hôn với người mà mình thích trò chuyện để khi về già
chúng ta sẽ có được người bạn tâm giao đáng quý nhất.
3. Đừng tin vào tai mình, hãy lắng nghe bằng lý trí và cả trái
tim.
4. Khi một người nào đó nói rằng "Anh/em yêu em/anh"
thì đó chính là ý nghĩa thật sự của câu nói đó.
Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống
5. Hãy nhìn thẳng vào mắt đối phương khi nói lời "Xin
lỗi".
6. Hãy tin vào tình yêu "từ cái nhìn đầu tiên".
7. Đừng bao giờ cười cợt giấc mơ của người khác vì những người
không có mộng tưởng mới là những người trắng tay.
8. Hãy yêu sâu sắc và say đắm, có thể ta sẽ chịu tổn thương
nhưng đó là cách duy nhất để hoàn thiện cuộc sống của mình.
9. Đừng bao giờ đánh giá một người nào đó vì xuất thân của họ.
10. Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.
11. Khi một người nào đó hỏi một vấn đề ta không muốn trả lời,
hãy hỏi họ "Vì sao lại muốn biết điều này?"
12. Luôn ghi nhớ rằng tình yêu và thành công luôn ẩn chứa những
nguy cơ tiềm tàng.
Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống
13. Hãy nói "Nhớ giữ gìn sức khoẻ" khi người nào đó
cạnh bên ho/hắt hơi.
14. Đừng bao giờ quên những bài học khi thất bại.
15. Ghi nhớ 3 chữ T:
Tôn trọng bản thân mình
Tôn trọng người khác.
Trách nhiệm cho những việc mình làm là điều không thể nào né
tránh.
16. Đừng để những tranh chấp nhỏ làm tổn thương tình bạn của
mình.
17. Khi nhận ra lỗi lầm của mình, hãy sửa sai ngay lập tức.
18. Hãy cười vui vẻ khi nhận điện thoại của ai đó, vì đối phương
sẽ cảm nhận được qua giọng nói của mình.
Mách ta những lời khuyên khôn ngoan nhất trong cuộc sống
19. Dành thời gian cho riêng mình.
CÁC CON :NÊN LÀM
Cuộc sống luôn đầy rẫy thách thức, dù muốn hay không thì chúng
ta cũng phải chấp nhận sự thật ấy. Ai cũng sẽ trưởng thành, phải giữ gìn sức
khỏe và lao động kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và thậm chí là lo toan cho
cả gia đình, đồng thời phải trụ vững được trước các loại áp lực và những thứ
phiền phức khác.
Những điều đó rất dễ khiến con rơi vào bế tắc hoặc không thể tập
trung suy nghĩ và suy xét thấu đáo được điều gì nên làm, điều gì không, tinh
lực hao tổn mà sinh bệnh. Nhưng may thay, chúng ta sở hữu một trong những điều
tuyệt vời nhất của cuộc sống đó là khả năng cải biến bản thân và thích nghi
hoàn cảnh.
Nếu con cảm thấy mình đang bị kẹt trong một trạng thái tồi tệ
nào đó thì hãy ngay lập tức thử làm 10 điều dưới đây để cuộc sống trở nên tốt
đẹp hơn.
1. Chú trọng tới sức khỏe
Hãy chăm sóc bản thân, có sức khỏe thì tinh thần của con cũng sẽ
tốt hơn.
Có hai lý do quan trọng để con cần quan tâm chăm sóc sức khỏe
của bản thân. Một là, nếu con không quan tâm tới sức khỏe của mình thì thực ra
con đang bỏ mặc cuộc sống của chính mình. Hai là, nếu con chăm sóc bản thân tốt
thì tinh thần của con cũng sẽ tốt hơn.
con không cần phải trông giống những người mẫu trên truyền hình
với thân hình sáu múi, chỉ đơn giản con nên làm những việc khiến cho cơ thể
mình khỏe mạnh. Hãy dành thời gian mỗi ngày cho thể dục thể thao, ăn uống lành
mạnh và dinh dưỡng hợp lý. Điều này không những giúp con tươi trẻ hơn mà còn
cung cấp cho con năng lượng sống dồi dào hơn mỗi ngày.
2. Dành thời gian cho những người đối xử tốt với con
Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng
lượng và truyền lửa để con sống tốt, hạnh phúc và hiệu quả hơn.
Người ta thường nói rằng mỗi người là trung bình của 5 người mà
họ dành nhiều thời gian nhất. Dù cho con có thân cận với một số người nhất
định, thì con cần phải thành thật với bản thân rằng có thể họ tốt hoặc cũng có
thể là không tốt với con. Nếu họ không tốt với con thì con nên dành ít thời
gian cho họ. Nghe có vẻ hài hước, nhưng thực tế là con hoàn toàn có quyền quyết
định mình muốn dành thời gian cho ai. Bởi vậy, con hãy suy xét về điều này.
Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng
lượng và truyền lửa để con sống tốt, hạnh phúc và làm việc hiệu quả hơn. Hãy
sớm lên lịch để tới thăm và gặp gỡ họ.
3. Đánh giá cách sử dụng thời gian của con
Con cần tìm cách đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian của mình,
con có thể thay đổi cách thức hoạt động để phù hợp với mục tiêu đặt ra.(điều
này còn làm được)
Dành thời gian cuối ngày hoặc tuần để nhìn lại cách sử dụng thời
gian của bản thân. con đã làm những gì trong ngày , tuần vừa qua? Bao nhiêu
thời gian cho công việc? Bao nhiêu thời gian cho thông tin ,quảng cáo và truyền
hình?
Việc xem lại những thông tin này giúp con tái sắp xếp thời gian
hiệu quả hơn, việc nào nên giảm và việc gì cần đầu tư nhiều thời gian hơn. Điều
này cũng gợi cho con ý tưởng để có thể dành đủ thời gian cho những công việc mà
con muốn hoàn thành.
Dường như một ngày trôi qua nhanh đến mức chúng ta cảm thấy như
mình chẳng có thời gian làm bất cứ điều gì, nhưng thực tế là bản thân mỗi người
hoàn toàn có thể ưu tiên những gì mình muốn làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta
có thể học bất cứ một kỹ năng mới nào hoặc hoạt động nào đó mỗi ngày nếu ta có
sắp xếp chúng một cách khoa học và tối ưu. Và kết quả là cung cách đánh giá
hiệu quả sử dụng thời gian của mình, con có thể thay đổi cách thức hoạt động để
phù hợp với mục tiêu đặt ra.
4. Thường xuyên nhìn nhận lại bản thân
Hãy nhớ đừng để cho những điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều
tốt đẹp mà con đang làm.
Cách suy nghĩ và hành xử trước mỗi tình huống trong cuộc sống
thường nhật sẽ phản ánh ra chúng ta là ai và chúng ta quan tâm tới điều gì.
Việc dành thời gian để nhìn nhận lại bản thân có thể thông qua nhiều phương
thức như ghi nhật ký, thiền định hoặc đơn giản là đi bộ hoặc bất cứ cách thức
nào mà nó cho phép con hiểu bản thân mình thấu đáo hơn.
Qua những hành động và cách suy nghĩ của mình, con sẽ nhận ra có
khi nào bán thân đã có hành vi hay lời nào với người khác ngoài mong muốn hay
không. Những lần nhìn nhận lại bản thân này sẽ đưa đến một mức độ tự nhận thức
cao hơn, rất quan trọng cho sự phát triển bản thân. Hãy nhớ: Đừng để cho những
điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều tốt đẹp mà con đang làm!
5. Thử thách bản thân mỗi ngày
Hãy thử thách bản thân mỗi ngày bằng một mục tiêu nhỏ
Làm việc hướng tới một mục tiêu nào đó sẽ giúp chúng ta cảm nhận
tốt hơn về mục đích sống của chính mình. Do đó, hãy tìm cách để thử thách bản
thân mỗi ngày. Thách thức đó có thể là những công việc nhỏ như bắt chuyện với
một người lạ, hay mỗi ngày đọc một vài trang sách.
Cũng có thể là những công việc lớn hơn một chút, như tập thể dục một tiếng mỗi ngày trong ba tuần. Thực hiện bất cứ thử thách nào sẽ khiến con có thể hoàn thành được nhiều hơn những gì con muốn và khi đó con sẽ cảm nhận được rõ hơn mục đích của mình.
6. Đặt mục tiêu làm việc
Vạch ra mục tiêu và thường xuyên đánh giá lại mục tiêu để điều
chỉnh hoặc thay đổi
Đặt mục tiêu và làm việc hướng tới mục tiêu đó là cách cụ thể nhất để con đạt được những gì mình muốn. Xác định được những mục tiêu này cũng giúp con vạch ra hướng đi rõ ràng và điều chỉnh lại mỗi khi con nhận ra hướng đi của mình không đúng.
Quan trọng là con phải thường xuyên đánh giá lại những mục tiêu và xem liệu có còn thực sự phù hợp với hoàn cảnh hiện tại nữa hay không. Điều này có nghĩa rằng đặt ra mục tiêu là khởi điểm để con sống một cuộc sống có mục đích lớn hơn và cải biến cuộc sống của chính mình.
7. Hãy làm những việc mà con yêu thích
Hãy làm điều mang lại cho con niềm vui và giúp con giải tỏa căng
thẳng
Hiển nhiên là ai cũng tán đồng khi nói rằng con sẽ tập trung nhiều hơn vào những việc mình yêu thích. Nhưng sự thế nhiều người không làm vậy. Đó là lý do tại sao nhiều người khác không cùng tham gia với họ bởi chính bản thân họ không biết mình yêu thích điều gì.
Hãy xem bản thân yêu thích gì. Hãy nghĩ về những thứ khiến con thấy hạnh phúc và vui vẻ nhất. Ví dụ như nghe nhạc, chơi thể thao, hòa mình với thiên nhiên hoặc thời gian bên những người thân yêu.
Những hoạt động này sẽ giúp con khôi phục lại năng lượng và khiến con hạnh phúc hơn. Vì vậy, chẳng có lý do gì lại không làm những điều đó nhiều lần hơn, hoặc ít nhất là hãy thử để biết mình thực sự yêu thích điều gì.
8. Sẵn sàng thay đổi
Chấp nhận thay đổi để cải biến bản thân và đạt được mục tiêu
cuộc sống
Để chuẩn bị tốt cho cuộc sống của mình chúng ta cần phải sẵn sàng thay đổi. Đó là một thử thách với con vì nó sẽ khiến con tổn thương, con phải thừa nhận rằng những việc con làm hoặc suy nghĩ của con trong nhiều năm qua lại có thể không phải là tốt cho con.
Mặc dù ban đầu những thử thách này giống như lột trần từng lớp
của con, nhưng khi con chấp nhận những thay đổi này, con sẽ hạnh phúc hơn và
trở thành một người tốt hơn.
9. Không ngừng học hỏi và khám phá những điều con quan tâm
Học tập là một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản
thân
Ngoài việc thử thách bản thân ở những cách thức trên, học tập là một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản thân. Có vô số sách vở, tạp chí, bài viết, tài liệu và những thông tin khác có thể dạy cho con những điều mới mẻ. Hãy dành thời gian mỗi ngày để học thêm một chút.
Không ngừng khám phá khiến con phải động não. Quá trình này sẽ mang lại cho con nhiều niềm vui và con sẽ học được nhiều điều để áp dụng vào cuộc sống hay công việc, con cũng có thể tìm được những sở thích mới để theo đuổi lâu dài.
10. Hãy yêu thương bản thân dù đang ở trong tình cảnh khó khăn hay sau những quyết định tồi tệ
Hãy học các tự yêu thương bản thân mình
Sẽ là một thử thách khi áp dụng các cách bên trên để điều chỉnh cuộc sống của bản thân. Để thực sự khiến con có sự “lột xác”, con phải học cách trân quý bản thân. Ngưng phán xét bản thân khi có một ngày tồi tệ, hành động vô lý hay chỉ đơn giản là khiến bản thân phải ăn rất nhiều mỗi khi gặp chuyện không vui. Làm những điều này chỉ vô ích!
Thay vào đó, hãy học cách yêu bản thân qua những lần như vậy.
Thay đổi thực sự khó khăn và điều đó cần thời gian. Vì vậy, con phải yêu quý
bản thân để vượt qua quá trình này một cách hiệu quả và tốt nhất. Đừng hao tâm
tổn trí vào việc ai đó nói hay nghĩ gì về con. Hãy gắng toàn tâm toàn ý tập trung
nghĩ cách làm sao để qua mỗi ngày mình trở thành một phiên bản mới tốt hơn. Yêu
quý bản thân sẽ giúp con vững bước hướng tới việc cải biến cuộc sống của con
tốt lên.
NHỮNG NHẮC NHỞ NGẮN CẦN THIẾT CHO CUỘC SỐNG
1 - Uống nhiều nước.
2 - Ăn sáng như Vua, ăn trưa như Ông hoàng và ăn tối như Kẻ ăn
xin (ăn ít).
3 - Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo
trong nhà máy.
4 - Sống với 3 chữ N: Năng lực – Nhiệt thành - Nhân ái.
5 - Tìm ra thời gian phù hợp để mơ ước.
6 - Thể dục thể thao nhiều hơn.
7 - Đọc sách nhiều hơn so với năm trước.
8 - Mỗi ngày dành 10 phút ngồi yên lặng.
9 - Ngủ tối thiểu 7 giờ.
10 - Vừa đi bộ vừa mỉm cười 10-30 phút mỗi ngày.
11 - Đừng so sánh cuộc đời của mình với cuộc đời của những người
khác.
12 - Đừng có những suy nghĩ tiêu cực hoặc nghĩ những điều mà
mình không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của mình vào ngay thời
điểm hiện tại.
13 - Đừng làm gì quá sức. Phải giữ một giới hạn cho bản thân.
14 - Đừng coi mình quá quan trọng, coi như không ai sánh nổi.
15 - Đừng phí năng lực quý báu vào những chuyện ngồi lê đôi
mách.
16 - Hãy biết mơ nhiều hơn ngay khi còn đang thức.
17 - Ghen tỵ là phí thì giờ. Mình đã có tất cả những gì mình cần
rồi.
18 - Hãy quên đi những chuyện đã qua. Đừng nhắc người thân nhớ
lại những lỗi lầm trong quá khứ. Điều đó sẽ làm tan vỡ hạnh phúc đang có.
19 - Cuộc sống quá ngắn để tốn thời gian căm ghét bất cứ ai. Chớ
ghét bỏ ai!
20 - Hãy dàn hòa với quá khứ của mình đẻ tránh làm hỏng cái hiện
có.
21 - Không ai nuôi dưỡng hạnh phúc của mình, ngoài chính mình.
22 - Hãy coi cuộc đời là một trường học và con đang ở đó để học.
Những điều khó hiểu chỉ là một phần của chương trình học, chúng xuất hiện rồi
biến dần giống như môn Đại số. Nhưng những bài học mình thu nhận được sẽ kéo
dài suốt đời.
23 - Hãy mỉm cười và cười nhiều hơn nữa.
24 - Không buộc phải thắng trong mọi cuộc tranh cãi. Hãy bằng
lòng với sự bất đồng.
25 - Hãy thăm hỏi thường xuyên gia đình mình.
26 - Mỗi ngày hãy đưa lại vài điều tốt cho người khác.
27 - Hãy tha thứ cho mọi người về mọi chuyện.
28 - Hãy dành thời gian cho các cụ ngoài 70 và các cháu dưới 6
tuổi.
29 - Cố gắng làm được cho 3 người mỉm cười mỗi ngày.
30 - Không cần biết những điều người khác nghĩ về mình.
31 - Công việc không chăm sóc được khi mình đau ốm. Bạn mình mới
làm được. Hãy luôn liên lạc với nhau.
32 - Hãy luôn làm những chuyện đúng đắn.
33 - Hãy gạt bỏ mọi chuyện bất lợi, không đẹp hoặc không vui.
34 - Trời sẽ chữa lành mọi chuyện.
35 - Dù cho mọi hoàn cảnh tốt hay xấu cũng sẽ thay đổi.
36 - Mặc dù cảm thấy thế nào cũng hãy đứng dậy, đi tiếp và thực
hiện ước mơ
37 - Điều tốt nhất rồi sẽ đến.
38 - Thức dậy thấy vẫn sống, hãy cảm ơn ông trời.
39 - Trong lòng luôn thấy hạnh phúc. Đó chính là hạnh phúc.
40 - Hãy có những kỳ nghỉ thật tuyệt vời.
19 ĐIỀU TA NÊN LÀM ÍT NHẤT MỘT LẦN TRONG ĐỜI
Phần lớn những điều chúng ta làm trong cuộc sống là do thói quen, trách nhiệm mà không phải do chủ ý. Dưới đây là 19 điều mà mỗi người nên làm ít nhất một lần trong đời. Một lần thất bại, một lần làm những điều khiến mình sợ hãi… đều có thể giúp con người mình trưởng thành hơn rất nhiều.
1. Có một công việc kinh doanh riêng
Hãy tìm hiểu xem ta cần phải có gì để có thể tự thăng chức cho mình thành ông bà chủ. Dù là mình muốn thành lập một tập đoàn đa quốc gia hay mở một shop bán hàng ở góc phố hoặc chỉ là người kinh doanh tự do trên mạng, hãy một lần trải nghiệm sự tự do và cả thất vọng khi làm việc cho chính mình.
2. Sống ở nước ngoài
Tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau bằng cách cư trú ở một quốc gia khác miễn là số tiền tiết kiệm của mình và số ngày nghỉ phép của mình chịu được. Phần lớn các quốc gia cấp visa có thời hạn 60-90 ngày, và nhiều thành phố cung cấp các dịch vụ cho thuê nhà ngắn hạn rẻ hơn nhiều so với giá thuê khách sạn. Khách du lịch và người cư trú tạm thời là hai thế giới rất khác biệt. Hãy đi và khám phá.
3. Lái xe dọc chiều dài đất nước
Ít nhất một lần trong cuộc đời, ta hãy lên xe và lái qua tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Khi trở về mình có thể chọn một con đường khác. Phong cảnh và sự trải nghiệm sẽ là những điều ta không thể nào quên.
4. Một lần thất tình
Không ai muốn tìm kiếm đau khổ nhưng nỗi đau tinh thần là một phần tất yếu của cuộc sống. Nó thường là một điều kiện tiên quyết để phát triển lòng vị tha, sự thông cảm, sự thừa nhận và trân trọng tình yêu đích thực khi mình tìm thấy nó.
5. Được đám đông cổ vũ
Hãy làm một điều gì đó đáng để mọi người cổ vũ như ghi một bàn thắng cho đội bóng của mình, biểu diễn một tiết mục trước toàn công ty, ta sẽ được nếm thử cảm giác làm một người nổi tiếng.
6. Lưu giữ một bài báo
Tại một số thời điểm trong cuộc sống, ta hãy làm theo những tấm gương đã thành đạt, từ nghệ sĩ, nhà văn cho tới thủ tướng nhờ cách giữ những bài báo viết về họ phù hợp với những quan điểm, suy nghĩ và đánh giá của mình.
7. Tin vào linh cảm
Sẽ là tuyệt vời nếu ta có tất cả các dữ liệu để có thể lựa chọn một điều gì đó, nhưng không phải cuộc sống lúc nào cũng rõ ràng như 1+1=2. Đôi khi mình cần phải tin vào bản năng của mình và “liều lĩnh” quyết định. Tuy nhiên, rất có thể ta sẽ đi đến một cái đích thú vị hơn nhiều so với đi theo con đường của logic.
8. Cho đi một điều gì đó
Cuộc sống của mình viên mãn và hạnh phúc. Hãy dùng thời gian, tài năng và những đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình để giúp đỡ những người kém may mắn. Ta không chỉ cải thiện cuộc sống của những người trực tiếp tiếp xúc, mà còn làm giàu cho cộng đồng và cho chính bản thân mình .
9. Thiết kế và xây một ngôi nhà
Ta không cần ép cuộc sống của mình vào không gian do một người không hiểu rõ nhu cầu của mình thiết kế. Dù đó là ngôi nhà trong mơ của mình hay chỉ góc phòng ta muốn thư giãn cuối tuần, ít nhất hãy thiết kế một không gian theo đúng ý mình .
10. Làm một bữa ăn với những thực phẩm do tự tay ta nuôi trồng
Hầu hết chúng ta đều không suy nghĩ nhiều đến việc cần bao nhiêu công sức để sản xuất ra các thực phẩm chúng ta yêu thích và tiêu thụ mỗi ngày. Hãy thử một lần tự trồng rau, nuôi gà, không chỉ được ăn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng mà mình còn hiểu hơn về nỗi vất vả của người nông dân.
11. Mua một tác phẩm nghệ thuật mà mình yêu thích
Mua một tác phẩm nghệ thuật khi nó vừa xuất hiện có thể là một sự đầu tư nhưng cũng có thể lãng phí, nhưng ít nhất một lần trong đời ta nên mua một tác phẩm theo tiếng gọi của trái tim chứ không phải của túi tiền. Hãy quên đi chi phí và giá trị mà mình có thể thu được khi bán lại nó, hãy mua một tác phẩm chỉ đơn giản vì mình thích nó.
12. Cắm trại ở nơi hoang dã
Dựng lều ở sân vườn hay cắm trại tại công viên thành phố đều rất vui. Nhưng cuộc phiêu lưu đúng nghĩa chỉ diễn ra khi mình trở về với thiên nhiên hoang dã. Hãy đề lại cuộc sống văn minh phía sau lưng và chỉ dựa vào chính mình cùng những người bạn đồng hành với mình, ta có thể khám phá ra nhiều khả năng và phẩm chất của mình mà mình chưa từng nghĩ đến.
13. Nghỉ phép dài hơi
Rất nhiều người mơ về một năm không làm việc nhưng rất ít người dám biến điều đó thành hiện thực. Hãy là một người biết lao động và biết nghỉ ngơi. Hãy tiết kiệm tiền và viết đơn xin nghỉ phép, dù đó là cả năm hay chỉ một tháng để đi du lịch, theo đuổi niềm đam mê và lập kế hoạch cho chương tiếp theo trong cuộc đời của mình.
14. Làm một món đồ
Hãy dành thời gian tìm hiểu về nghề mộc và chế biến gỗ. Sau đó ta có thể tự mình đóng cho mình một chiếc bàn, chiếc ghế hay một cái giá sách. Đồ mộc do tự tay ta làm bao giờ cũng có giá trị hơn những món đồ ta mua ở cửa hàng. Nó cũng không cần phải hoàn hảo để trở thành một món đồ gia truyền.
15. Đi lặn
Hơn 70% bề mặt trái đất được bao phủ bởi nước. Hãy khám phá vẻ đẹp của thủy giới bằng một cái mặt nạ và vây cá đi lặn.
16. Nuôi thú cưng
Con vật nuôi yêu thương chúng ta vô điều kiện, chúng cũng có thể
dạy cho chúng ta cách sống và yêu thương đồng loại tốt hơn.
17. Thực hiện một hoạt động từng khiến mình sợ hãi
Leo núi, đi tàu lượn khổng lồ, đứng trên ban công tòa nhà 70
tầng nhìn xuống mặt đất… hãy làm một điều gì đó mà mình vẫn thường sợ hãi. Hãy
thử chinh phục nỗi sợ hãi của mình và mình sẽ thấy mình trưởng thành rất nhiều.
18. Hãy đứng dậy
Hãy đứng lên và nói những điều chống lại sự bất công. Nếu mình
biết mình đúng, hãy hành động với lòng dũng cảm và bất chấp rủi ro.
19. Làm công việc mà mình thực sự quan tâm
Tất cả đều rất bình thường, chúng ta lựa chọn một công việc dựa
trên mức lương mình nhận được hoặc danh vọng đi kèm. Quá ít người đủ may mắn để
làm có thể làm công việc thực sự có ý nghĩa với họ. Hãy thử một lần trong đời,
làm đúng công việc mà mình yêu thích
ĐỜI SỐNG
Một trong số những người lập nên danh sách cho biết:
"Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong danh sách top
50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì nắm trong tay
nhiều của cải vật chất. Và đó là chính xác là ý nghĩa của việc “sống một cuộc
sống trọn vẹn”.
Theo quan niệm của mình, người Anh tin rằng nếu giảm cân nặng
được 14 pound (tương đương 6,4kg), biểu diễn trực tiếp trên sân khấu, đi du
lịch đến 25 quốc gia khác nhau và thu nhập nhiều hơn so với tuổi của mình là
những điều kiện quan trọng để “sống một cuộc sống trọn vẹn”. Dành thời gian chơi
với trẻ nhỏ, trải qua cảm giác tình một đêm và tiệc tùng thâu đêm được bổ sung
thêm vào danh sách mới liệt kê 50 điều cần làm ít nhất một lần trong hành trình
tìm kiếm tình yêu đích thực và tiến tới cuộc sống vợ chồng.
"Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong
danh sách top 50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì
nắm trong tay nhiều của cải vật chất.
Sau cuộc điều tra trên 2.000 người ở độ tuổi trưởng thành
về điều mà họ cảm thấy sẽ góp phần làm cuộc sống trở nên “trọn vẹn”, các nhà
nghiên cứu đã soạn ra một danh sách, bao gồm cả việc nhảy bungee (là hoạt động
nhảy tạo cảm giác mạnh từ một điểm cố định trên cao từ 31 đến 183 m, chân người
nhảy được giữ bằng một sợi dây co giãn), hẹn hò một ai đó thú vị nhưng hoàn
toàn không phù hợp với mình, và đi nghỉ hai lần mỗi năm, v.vv…
Nhưng nghiên cứu cũng cho thấy hầu như những người được hỏi chỉ
mới thực hiện 8/50 việc được nêu trong danh sách trên, và chỉ có 23% số người
tham gia cuộc điều tra tin rằng họ đã "sống một cuộc sống trọn vẹn”.
Nếm thử tất cả các món ăn, trải nghiệm những nền văn hóa khác
nhau, đạt được một trình độ học vấn nhất định, sở hữu một con vật cưng và ghé
thăm tất cả các di tích lịch sử cũng được coi là những việc làm “cần thiết”.
Một trong số những người lập nên danh sách cho biết:
"Nghiên cứu này thực sự thú vị vì nhiều điều được nêu trong danh sách top
50 tập trung vào những trải nghiệm và thành công đạt được thay vì nắm trong tay
nhiều của cải vật chất. Và đó là chính xác là ý nghĩa của việc “sống một cuộc
sống trọn vẹn” – điều đó sẽ đến khi mình có thể tận hưởng từng giây phút,
khoảnh khắc của cuộc sống, từ những cảm giác mạnh và những cuộc phiêu lưu tới
thói quen thường nhật mỗi ngày.
Một phần ba số người được hỏi tin rằng họ sẽ có một cuộc sống
trọn vẹn khi họ bắt đầu làm việc để sống thay vì sống để làm việc. Đối với
nhiều người, dành nhiều thời gian cho những hoạt động bên ngoài sẽ là yếu tố
giúp họ có một cuộc sống trọn vẹn, ví dụ như việc đặt vé cho chuyến đi du lịch
vào phút cuối cùng, có can đảm để đi du lịch một mình và tiêu tiền không tiếc
tay trong các chuyến đi mua sắm.
Trong khi đó, 12% số người được hỏi muốn mình có cơ hội trở
thành anh hùng khi cứu sống được một ai đó, và 26% muốn được gia đình và bạn bè
nghĩ tốt về mình. Ngoài ra, để có một cuộc sống trọn vẹn, ta cũng nên sắm cho
mình một chiếc xe tốt, lập gia đình, trả hết nợ nần và đạt được một vị trí nào
đó trong xã hội.
Dành thời gian cho gia đình và bạn bè, xem mỗi ngày như đó là
ngày cuối cùng của mình và đạt đến đỉnh cao sự nghiệp mà mình mong muốn ở tuổi
40 cũng không nằm ngoài danh sách trên. Nghiên cứu cho thấy 65% người được hỏi
cho biết họ không có một cuộc sống trọn vẹn bởi họ không có khả năng, trong khi
38% nói rằng lý do là vì họ không có thời gian. Chỉ chưa đầy 4/10 người nói
rằng họ phải có trách nhiệm với những người xung quanh và điều này đôi khi ngăn
cản họ thực hiện giấc mơ của mình, trong khi 17% tỏ ra quá sợ hãi để đối mặt
với thách thức. Chỉ có 3/10 người tự nhận mình có máu phiêu lưu, trong khi 85%
nói rằng nếu không phải bận tâm đến tiền bạc thì họ sẽ cố gắng để đạt được
nhiều hơn những điều được nêu trong danh sách top 50.
Các nhà nghiên cứu có chung quan điểm: “Nhân vật Pi (trong cuốn
tiểu thuyết nổi tiếng Cuộc đời của Pi của nhà văn người Canada Yann Martel) đã
buộc phải đưa ra quyết định không chỉ để tồn tại mà để sống. Có vẻ như trong
cuộc sống thực, con người đang đối mặt với những sự lựa chọn đơn giản hơn nhiều
nhưng họ vẫn phải đương đầu với một thách thức lớn trong cuộc tìm kiếm cảm giác
được sống một cách thực sự trọn vẹn”.
50 cách giúp mình có một cuộc sống
trọn vẹn
1. Ngừng lo lắng về tiền bạc
2. Ngừng lo lắng về suy nghĩ của người khác
3. Đi nghỉ 2 lần mỗi năm
4. Tận hưởng những phút giây vui vẻ trong đời
5. Trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau
6. Làm việc để sống thay vì sống để làm việc
7. Trả hết nợ nần
8. Thành thực với chính bản thân mình
9. Quan tâm đến những gì ta có thay vì những gì ta không có
10. Dùng tiền để có thêm nhiều trải nghiệm hơn là dành dụm cho
những lúc khó khăn
11. Dành thời gian cho gia đình và bạn bè
12. Nếm thử tất cả các món ăn
13. Tìm kiếm tình yêu đích thực
14. Đi du lịch đến ít nhất 25 quốc gia khác nhau
15. Ra ngoài nhiều hơn
16. Học một ngôn ngữ mới
17. Được gia đình và bạn bè nghĩ tốt về mình
18. Giúp đỡ các thành viên trong gia đình khi học thực sự cần
đến mình
19. Giảm 14 pound cân nặng
20. Xem mỗi ngày như thể là ngày cuối cùng của mình
21. Đến thăm tất cả các di tích lịch sử
22. Đặt vé đi du lịch vào phút cuối cùng
23. Tham gia hoạt động thiện nguyện
24. Nhận lời thách thức
25. Tham gia một chuyến đi săn
26. Vung tiền vào một cuộc đi mua sắm, chỉ bởi mình có thể làm điều đó .
27. Học một nhạc cụ mới
28. Kéo dài cuộc sống hôn nhân trên 20 năm
29. Có đủ tiền để cho các cháu chắt
30. Lập gia đình
31. Kiếm nhiều tiền hơn số tuổi của mình
32. Nuôi một con thú cưng
33. Lái một chiếc xe tốt
34. Đi du lịch một mình
35. Nuôi dạy con cái một cách khéo léo
36. Gặp gỡ những người lạ
37. Đến một địa điểm lạ
38. Trải qua cuộc tình một đêm
39. Thi đỗ bằng lái xe
40. Đạt được một trình độ học vấn nhất định
41. Cứu sống ai đó và mình sẽ là người hùng
42. Hẹn hò với ai đó thú vị nhưng thực sự không phù hợp với mình
43. Được thăng chức
44. Đạt tới đỉnh cao sự nghiệp mà mình mong muốn ở tuổi 40
45. Tiệc tùng thâu đêm
46. Biểu diễn một tiết mục nào đó trên sân khấu trước những
người khác
47. Hôn một người lạ
48. Lên kế hoạch cho một bữa tiệc bất ngờ
49. Chơi những môn thể thao gây cảm giác mạnh như nhảy dù hoặc
nhảy bungee
50. Dành thời gian chơi với trẻ nhỏ, ngay cả khi chúng không
phải là con mình.
10 ĐIỀU NÊN LÀM ĐỂ CUỘC SỐNG CỦA
MÌNH TỐT ĐẸP HƠN
Cuộc sống luôn đầy rẫy thách thức, dù muốn hay không thì chúng
ta cũng phải chấp nhận sự thật ấy. Ai cũng sẽ trưởng thành, phải giữ gìn sức
khỏe và lao động kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và thậm chí là lo toan cho
cả gia đình, đồng thời phải trụ vững được trước các loại áp lực và những thứ
phiền phức khác.
Những điều đó rất dễ khiến mình rơi vào bế tắc hoặc không thể
tập trung suy nghĩ và suy xét thấu đáo được điều gì nên làm, điều gì không,
tinh lực hao tổn mà sinh bệnh. Nhưng may thay, chúng ta sở hữu một trong những
điều tuyệt vời nhất của cuộc sống đó là khả năng cải biến bản thân và thích
nghi hoàn cảnh.
Nếu mình cảm thấy mình đang bị kẹt trong một trạng thái tồi tệ
nào đó thì hãy ngay lập tức thử làm 10 điều dưới đây để cuộc sống trở nên tốt
đẹp hơn.
1. Chú trọng tới sức khỏe
Có hai lý do quan trọng để mình cần quan tâm chăm sóc sức khỏe
của bản thân. Một là, nếu mình không quan tâm tới sức khỏe của mình thì thực ra
ta đang bỏ mặc cuộc sống của chính mình. Hai là, nếu mình chăm sóc bản thân tốt
thì tinh thần của mình cũng sẽ tốt hơn.
Ta không cần phải trông giống những người mẫu trên truyền hình
với thân hình sáu múi, chỉ đơn giản ta nên làm những việc khiến cho cơ thể mình
khỏe mạnh. Hãy dành thời gian mỗi tuần cho thể dục thể thao, ăn uống lành mạnh
và dinh dưỡng hợp lý. Điều này không những giúp mình tươi trẻ hơn mà còn cung
cấp cho mình năng lượng sống dồi dào hơn mỗi ngày.
2. Dành thời gian cho những người đối xử tốt với mình.
Người ta thường nói rằng mỗi người là trung bình của 5 người mà
họ dành nhiều thời gian nhất. Dù cho mình có thân cận với một số người nhất
định, thì mình cần phải thành thật với bản thân rằng có thể họ tốt hoặc cũng có
thể là không tốt với mình. Nếu họ không tốt với mình thì mình nên dành ít thời
gian cho họ. Nghe có vẻ hài hước, nhưng thực tế là mình hoàn toàn có quyền
quyết định mình muốn dành thời gian cho ai. Bởi vậy, ta hãy suy xét về điều
này.
Hãy lựa chọn tiếp xúc nhiều hơn với những người có thể tiếp năng
lượng và truyền lửa để mình sống tốt, hạnh phúc và làm việc hiệu quả hơn. Hãy
sớm lên lịch để tới thăm và gặp gỡ họ.
3. Đánh giá cách sử dụng thời gian của mình.
Dành cuối tuần để nhìn lại cách sử dụng thời gian của bản thân.
Ta đã làm những gì trong tuần vừa qua? Bao nhiêu thời gian cho công việc? Bao
nhiêu thời gian cho thông tin quảng cáo và truyền hình?
Việc xem lại những thông tin này giúp mình tái sắp xếp thời gian
hiệu quả hơn, việc nào nên giảm và việc gì cần đầu tư nhiều thời gian hơn. Điều
này cũng gợi cho mình ý tưởng để có thể dành đủ thời gian cho những công việc
mà mình muốn hoàn thành.
Dường như một ngày trôi qua nhanh đến mức chúng ta cảm thấy như
mình chẳng có thời gian làm bất cứ điều gì, nhưng thực tế là bản thân mỗi người
hoàn toàn có thể ưu tiên những gì mình muốn làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta
có thể học bất cứ một kỹ năng mới nào hoặc hoạt động nào đó mỗi ngày nếu ta có
sắp xếp chúng một cách khoa học và tối ưu. Và kết quả là bằng cách đánh giá
hiệu quả sử dụng thời gian của mình, ta có thể thay đổi cách thức hoạt động để
phù hợp với mục tiêu đặt ra.
4. Thường xuyên nhìn nhận lại bản thân.
Cách suy nghĩ và hành xử trước mỗi tình huống trong cuộc sống
thường nhật sẽ phản ánh ra chúng ta là ai và chúng ta quan tâm tới điều gì.
Việc dành thời gian để nhìn nhận lại bản thân có thể thông qua nhiều phương
thức như ghi nhật ký, thiền định hoặc đơn giản là đi bộ hoặc bất cứ cách thức
nào mà nó cho phép mình hiểu bản thân mình thấu đáo hơn.
Qua những hành động và cách suy nghĩ của mình, ta sẽ nhận ra có
khi nào bản thân đã có hành vi hay lời nào với người khác ngoài mong muốn hay
không. Những lần nhìn nhận lại bản thân này sẽ đưa đến một mức độ tự nhận thức
cao hơn, rất quan trọng cho sự phát triển bản thân. Hãy nhớ: Đừng để cho những
điều tiêu cực ảnh hưởng tới những điều tốt đẹp mà mình đang làm!
5. Thử thách bản thân mỗi ngày.
Làm việc hướng tới một mục tiêu nào đó sẽ giúp chúng ta cảm nhận
tốt hơn về mục đích sống của chính mình. Do đó, hãy tìm cách để thử thách bản
thân mỗi ngày. Thách thức đó có thể là những công việc nhỏ như bắt chuyện với
một người lạ, hay mỗi ngày đọc một vài trang sách.
Cũng có thể là những công việc lớn hơn một chút, như tập thể dục
một tiếng mỗi ngày trong ba tuần. Thực hiện bất cứ thử thách nào sẽ khiến mình
có thể hoàn thành được nhiều hơn những gì ta muốn và khi đó ta sẽ cảm nhận được
rõ hơn mục đích của mình.
6. Đặt mục tiêu làm việc.
Đặt mục tiêu và làm việc hướng tới mục tiêu đó là cách cụ thể
nhất để mình đạt được những gì mình muốn. Xác định được những mục tiêu này cũng
giúp mình vạch ra hướng đi rõ ràng và điều chỉnh lại mỗi khi mình nhận ra hướng
đi của mình không đúng.
Quan trọng là mình phải thường xuyên đánh giá lại những mục tiêu
và xem liệu có còn thực sự phù hợp với hoàn cảnh hiện tại nữa hay không. Điều
này có nghĩa rằng đặt ra mục tiêu là khởi điểm để mình sống một cuộc sống có
mục đích lớn hơn và cải biến cuộc sống của chính mình.
7. Hãy làm những việc mà mình yêu thích
Hiển nhiên là ai cũng tán đồng khi nói rằng mình sẽ tập trung
nhiều hơn vào những việc mình yêu thích. Nhưng sự tế nhiều người không làm vậy.
Đó là lý do tại sao nhiều người khác không cùng tham gia với họ bởi chính bản
thân họ không biết mình yêu thích điều gì.
Hãy xem bản thân yêu thích gì. Hãy nghĩ về những thứ khiến mình
thấy hạnh phúc và vui vẻ nhất. Ví dụ như nghe nhạc, chơi thể thao, hòa mình với
thiên nhiên hoặc thời gian bên những người thân yêu.
Những hoạt động này sẽ giúp mình khôi phục lại năng lượng và
khiến mình hạnh phúc hơn. Vì vậy, chẳng có lý do gì lại không làm những điều đó
nhiều lần hơn, hoặc ít nhất là hãy thử để biết mình thực sự yêu thích điều gì.
8. Sẵn sàng thay đổi.
Để chuẩn bị tốt cho cuộc sống của mình chúng ta cần phải sẵn
sàng thay đổi. Đó là một thử thách với mình vì nó sẽ khiến mình tổn thương, ta
phải thừa nhận rằng những việc ta làm hoặc suy nghĩ của mình trong nhiều năm
qua lại có thể không phải là tốt cho mình.
Mặc dù ban đầu những thử thách này giống như lột trần từng lớp
của mình, nhưng khi mình chấp nhận những thay đổi này, ta sẽ hạnh phúc hơn và
trở thành một người tốt hơn.
9. Không ngừng học hỏi và khám phá những điều mình quan tâm.
Ngoài việc thử thách bản thân ở những cách thức trên, học tập là
một cách tốt nhất để phát triển và để thỏa mãn bản thân. Có vô số sách vở,
podcast, bài viết, tài liệu và những thông tin khác có thể dạy cho mình những
điều mới mẻ. Hãy dành thời gian mỗi ngày để học thêm một chút.
Không ngừng khám phá khiến mình phải động não. Quá trình này sẽ
mang lại cho mình nhiều niềm vui và mình sẽ học được nhiều điều để áp dụng vào
cuộc sống hay công việc, ta cũng có thể tìm được những sở thích mới để theo
đuổi lâu dài.
10. Hãy yêu thương bản thân dù đang ở trong tình cảnh khó khăn
hay sau những quyết định tồi tệ.
Sẽ là một thử thách khi áp dụng 9 cách bên trên để điều chỉnh
cuộc sống của bản thân. Để thực sự khiến mình có sự “lột xác”, ta phải học cách
trân quý bản thân. Ngưng phán xét bản thân khi có một ngày tồi tệ, hành động vô
lý hay chỉ đơn giản là khiến bản thân phải ăn rất nhiều mỗi khi gặp chuyện
không vui. Làm những điều này chỉ vô ích!
Thay vào đó, hãy học cách yêu bản thân qua những lần như vậy.
Thay đổi thực sự khó khăn và điều đó cần thời gian. Vì vậy, bản phải yêu quý
bản thân để vượt qua quá trình này một cách hiệu quả và tốt nhất. Đừng hao tâm
tổn trí vào việc ai đó nói hay nghĩ gì về mình. Hãy gắng toàn tâm toàn ý tập
trung nghĩ cách làm sao để qua mỗi ngày mình trở thành một phiên bản mới tốt
hơn. Yêu quý bản thân sẽ giúp mình vững bước hướng tới việc cải biến cuộc sống
của mình tốt lên.
10 ĐIỀU NÊN
NHỚ TRONG CUỘC SỐNG
Hãy dành thời gian cho bản thân để biết ta muốn gì và cần gì.
Hãy dành thời gian cho bản thân để thử những việc mạo hiểm, dành thời gian để
yêu, để cười, để khóc, để học hỏi và tha thứ. Cuộc sống ngắn hơn những gì mình nghĩ.
10 ĐIỀU TA
CẦN BIẾT TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN
1. Cuộc sống của mình không phải bắt đầu từ lúc ta sinh ra và
kết thúc cho tới khi mình qua đời. Cuộc sống của mình chính là ngay lúc ta đang
thở cho tới hơi thở tiếp theo. Hiện tại – ngay ở đây và ngay lúc này – chính là
cuộc sống của mình. Vì thế, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bằng sự tử tế và
bình an, đừng sợ hãi hay hối tiếc.
2. Cuộc đời thật sự rất ngắn ngủi. Đây là cuộc sống của mình và
mình phải đấu tranh vì nó. Hãy đấu tranh vì những điều đúng đắn. Đấu tranh vì
điều mà mình tin tưởng. Đấu tranh vì những thứ quan trọng với mình. Đấu tranh
vì những người ta yêu thương và đừng bao giờ quên nói với họ rằng họ có ý nghĩa
nhiều như thế nào với mình.
NHỮNG ĐIỀU
TA NÊN NHỚ TRONG CUỘC SỐNG
3. Những hi sinh của ngày hôm nay sẽ được đền đáp vào ngày mai.
Khi nói đến chuyện làm việc chăm chỉ để đạt được một ước muốn nào đó đều đòi
hỏi thời gian và sự quyết tâm.
4. Khi mình trì hoãn, ta sẽ trở thành nô lệ của ngày hôm qua.
Nhưng khi mình chủ động trong bất cứ việc gì, ngày hôm qua sẽ là một người bạn
tốt làm động lực để thúc đẩy mình .
5. Thất bại là bài học, kinh nghiệm mà mình nhận được. Những
điều tốt đẹp sẽ đến với những ai biết hi vọng vào tương lai ngay cả khi họ đã
làm cho những người khác thất vọng, với những ai vẫn còn niềm tin đã nếm mùi
thất bại, với những ai vẫn biết yêu thương ngay cả khi đã từng bị tổn thương.
6. Ta là người quan trọng nhất với chính mình. Hạnh phúc là khi
mình cảm thấy hài lòng với bản thân mà không cần bất cứ sự đồng tình từ ai đó.
Ta phải đối xử tốt với chính bản thân mình trước khi mình muốn có mối quan hệ
tốt với những người khác.
7. Hành động của một người nói lên sự thật. Trong cuộc đời mình,
ta sẽ gặp rất nhiều người, họ có thể nói những lời tốt đẹp tuy nhiên chỉ có
hành động của họ mới nói lên họ là ai. Vì thế, đừng nghe nhiều mà hãy chú ý tới
những gì mà người ta làm. hãy chú ý đến hành động của họ, nó sẽ nói thật với
mình mọi thứ mà mình cần biết.
8. Những hành động tử tế dù rất nhỏ nhoi cũng sẽ làm cho thế
giới trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Hãy mỉm cười với những người mà họ đã có
một ngày làm việc mệt mỏi, căng thẳng. Hãy luôn tử tế với họ và đối xử tử tế là
sự đầu tư duy nhất không bao giờ vô ích.
9. Phía sau một cuộc sống tươi đẹp là không ít những đau khổ.
Không ai là một con người hoàn hảo. Dù ta có bị tổn thương nhưng ta vẫn sống
sót. Hãy nghĩ về một thứ quý giá là mình vẫn được sống, được thở, được suy
nghĩ, được tận hưởng và được theo đuổi những gì ta ước mơ, yêu thích.
10. Thời gian và trải nghiệm sẽ làm lành những nỗi đau.
20 ĐIỀU
GIÚP MÌNH XÂY DỰNG CUỘC SỐNG Ý NGHĨA HƠN
Tin tưởng nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn, sẻ chia và đồng cảm
nhiều hơn là những bài học đầu tiên ta cần nắm rõ trước khi xây dựng một cuộc
sống ý nghĩa.
Có một thực tế phũ phàng rõ ràng ai cũng biết nhưng ít người
thừa nhận đó là cuộc sống này quá ngắn ngủi. Chúng ta luôn tự cho rằng mình là
người mạnh nhất, trẻ nhất, nhiều năng lượng nhất và chính điều ấy đã khiến mỗi
người quên mất việc sống trọn vẹn một cuộc sống ý nghĩa thật sự khi còn trẻ như
thế nào. Chúng ta thường bị cuốn theo những điều phù phiếm to lớn bên ngoài xã
hội. Mãi đến khi mình dừnglại ở một độ tuổi đã đủ chín chắn, đủ trưởng thành,
đã nửa cuộc đời, ta mới nhận ra mình đã bỏ lỡ quá nhiều điều tốt đẹp trong cuộc
sống và bắt đầu hối tiếc.
Hãy nhớ rằng mình chỉ có duy nhất một lần được sống, vậy nên,
tôi khuyên mình hãy sống
thật chậm rãi, bước từng bước thật vững chắc, đừng quên vài lận lùi lại để nhìn
xem bản thân đang ở đâu, làm được gì, nên khắc phục những gì và cố gắng thêm
bao nhiêu. Nếu mình mong muốn một cuộc sống ý nghĩa và không phải hối tiếc về
bất cứ điều gì khi đã về già, hãy biết:
1. Trân trọng thời gian
Thời gian trôi nhanh hơn khi mình già đi và hầu hết những ai đã
bước qua một nửa cuộc đời đều tiếc nuối quãng thời gian trôi qua quá nhanh
trước đây. Vậy nên, hãy sắp xếp công việc, gia đình và bạn bè một cách hợp lý,
hãy biết trân trọng từng giây phút khi còn trẻ.
2. Bỏ ngoài tai những dè bỉu của thiên hạ
Việc người khác đánh giá thế nào về mình chẳng có gì phải đáng
bận tâm và buồn bã. Việc của mình là sống thật tốt mỗi ngày và nếu mình không
cảm thấy xấu hổ với bản thân thì chẳng ai đủ quyền được phán xét mình . Thời
gian và năng lượng của mình nên dùng vào những việc mang đến lợi ích cho bản
thân thay vì chạy theo những lo lắng sáo rỗng ấy.
3. Hoàn thành một mục tiêu nào đó trong cuộc sống
Nhà khoa học có giải thưởng Nobel, nghệ sĩ có giải thưởng Oscar,
vận động viên cóhuy chươngOlympic,… ta đương nhiên không cần phải có một giải
thưởng quốc tế thật vang dội nào cả, nhưng hãy đặt những mục tiêu cả ngắn hạn
lẫn dài hạn trong cuộc sống và cố gắng hoàn thành được chúng. Ta sẽ không biết
được cảm giác thực hiện được kế hoạch của bản thân nó tuyệt vời thế nào đến khi
mình làm được điều đó.
4. Hết mình theo đuổi đam mê của bản thân
Một trong những hối tiếc lớn nhất của nhiều người chính là họ đã
không đủ bản lĩnh và kiên trì để theo đuổi đam mê của bản thân trong những
tháng ngày tuổi trẻ. Một mức lương lý tưởng, một môi trường an nhàn, một cuộc
sống dễ chịu và mình chấp nhận bỏ qua đam mê của mình? Hãy cân nhắc những điều
xứng đáng với tuổi trẻ và không phải hối tiếc!
5. Cho phép bản thân được làm những điều mình thích
Thay vì cố gắng làm bản thân trở nên hoàn hảo và thú vị hơn bằng
cách học lỏm sở thích của người khác, ta chỉ việc sống hết mình với sở thích và
đam mê của mình. Mỗi người được sinh ra với những tiêu chuẩn, tính cách và sở
trường khác nhau. Có thể ta có năng lực để trở thành một bác sĩ hoặc luật sư
trong khi người khác lại có tố chất hội hoạ để trở thành một hoạ sĩ. Ta cần
biết bản thân thật sự thích điều gì thay vì bắt chước sở thích của người khác.
Hãy nhớ rằng làm điều mình thích là tự do nhưng thích điều mình làm đó mới là hạnh phúc.
6. Quan tâm bản thân mình nhiều hơn
Chúng ta luôn tự làm khó chính mình bằng việc học cách làm hài
lòng mọi người trong cuộc sống mà quên mất việc quan tâm nhiều hơn đến bản
thân. Không ít người nhận ra đã bỏ bê bản thân quá lâu ở độ tuổi không thể cứu
vãn nữa. Vậy nên, bằng tuổi trẻ của mình, ta đừng bao giờ xem nhẹ những cảm xúc
cá nhân của bản thân, nó ảnh hưởng rất lớn đến tính cách và suy nghĩ của chính
mình.
7. Và chăm sóc bản thân tốt hơn
Tuổi trẻ thường khiến chúng ta dễ quên đi sức khoẻ. Mãi đến khi
đã có tuổi, khi những dấu hiệu sức khoẻ bắt đầu có chiều hướng xấu đi, ta mới
cảm thấy tiếc nuối cho sức khoẻ của mình. Sức khoẻ luôn là vấn đề nên được quan
tâm hàng đầu, một chế độ dinh dưỡng hợp lý và những bài tập cải thiện sức khoẻ
là những gì mình cần thục
hiện ngay từ bây giờ.
8. Tin tưởng vào bản thân
Cuộc sống này là của mình và cũng chỉ ta mới biết rõ mình đã làm
gì và sẽ giải quyết thế nào. Không ai có thể chỉ ra cũng như thay ta quyết định
điều gì cả. Dù bản thân đã làm đúng hay không, ta vẫn sẽ cảm thấy thoải mái,
nếu đúng nghĩa là mình đã sáng suốt, nếu không thì mình vẫn có thêm những bài
học thú vị.
9. Và sống thật với cảm xúc của mình
Sẽ đến lúc khi mình nhìn thấy những đứa trẻ lớn lên mỗi ngày và
tiếc nuối rằng thời gian trôi qua quá nhanh và mình vẫn còn rất nhiều điều chưa
kịp làm cho tuổi trẻ. Vậy nên, để không tiếc nuối về những tháng ngày đã qua,
ta hãy sống thật với những cảm xúc của bản thân. Dồn nén cảm xúc chỉ khiến đời
sống tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn thôi.
10. Dành nhiều thời gian hơn cho những người mình yêu quý
Khi trưởng thành, khi có quá nhiều mối quan hệ bên ngoài xã hội,
ta dần sẽ quên mất tầm quan trọng của gia đình, của những người luôn yêu
thương mình âm thầm không một đòi hỏi.
Không ít người đã để mối quan hệ của bản thân và gia đình ngày càng xa cách và
tìm cách hàn gắn khi đã trễ. Hãy nhớ, những ngày cuối tuần không phải để mình
tiếp tục mang những việc ở công ty về nhà, hãy dành khoảng thời gian ngắn ngủi
ấy để trò chuyện, nấu ăn, đi dạo và chia sẻ nhiều hơn với ba mẹ, anh chị em
hoặc con cái của mình.
11. Quan tâm đến bạn bè
Không ít người dần xao lãng những người bạn thân để chạy theo
những mối quan hệ công việc bận rộn. Tuy nhiên, đồng nghiệp là đồng nghiệp và
mình không thể chia sẻ tất cả với một người đồng nghiệp. Bạn bè là điểm tựa cho
mình những lúc áp lực và bế tắc. Họ hiểu mình, họ hiểu những khó
khăn của mình và sẽ đưa ra cho mình những lời khuyên thiết thực nhất.
12. Không bao giờ lừa dối người bạn đời của mình
Áp lực, bất mãn và những gánh nặng xuất phát từ công việc và gia
đình luôn khiến mình trở nên cáu gắt, mất bình tĩnh và điều này khiến mình chán
ghét chính tổ ấm của mình. Hãy nhớ, những mối quan hệ qua đường luôn hấp dẫn và
thú vị hơn cả bởi ở đó không hề có bất kỳ sự ràng buộc nào. Nhưng sau hết, ai
mới là người lo lắng khi mình ốm đau, sẻ chia khi mình mệt mỏi, tận tâm trong
từng bữa ăn của mình?
13. Đừng áp đặt con cái
Không ít những bậc phụ huynh cảm thấy hối tiếc khi họ áp đặt con
cái phải trở thành những hình mẫu mà họ mong muốn mà sẵn sàng gạt đi những đam
mê và sở thích riêng của đứa trẻ. Dù biết ta luôn dành những điều tốt đẹp nhất
cho chúng nhưng ta có bao giờ đặt mình vào bản thân những đứa trẻ chưa? Chẳng
ai muốn người khác sống thay phần cuộc đời mình cả. Vậy nên, thay vì áp đặt
chúng, ta hãy mở lòng và chia sẻ với chúng. Những đứa trẻ ngoan luôn biết cách
theo đuổi đam mê của chúng mà không quên mất việc làm mình vui lòng.
14. Đừng quá an toàn trong công việc
Đến khi về già, ta sẽ nhận ra giá như khi còn trẻ, mình có nhiều
bản lĩnh, nhiều sự năng động hơn để thử sức ở nhiều công việc khác nhau. Hãy tự
cho bản thân vài năm được phép bay nhảy, hãy cho bản thân một vài lần nhảy việc
nếu mình thật sự gặp phải bất mãn và bế tắc đến độ ta không biết nên dừng lại
hay tiếp tục. Khi văn phòng và chỗ ngồi quen thuộc không còn đủ sức hấp dẫn kéo
ta thức dậy vào mỗi sáng, đúng vậy, đã đến lúc ta cho bản thân một cơ hội mới ở
một môi trường mới. Kinh nghiệm và trải nghiệm sẽ cho mình biết đâu là lúc nên
dừng lại và ổn định.
15. Đừng chỉ biết đến làm việc và làm việc.
Kiếm thật nhiều tiền là điều mà ai cũng muốn dành cả tuổi trẻ để
thực hiện. Thế nhưng, hầu hết những người đã dành cả thanh xuân chỉ để làm việc
và kiếm tiền là những người mang nhiều những hối tiếc về sau nhất. Cuộc sống ý
nghĩa hơn khi mình biết điều hoà giữa công việc và thời gian thư giãn. Rõ ràng,
tiền bạc không phải là thước đo duy nhất để đánh giá cuộc sống ý nghĩa hay
không?
16. Cơ hội luôn hiện diện.
Cứ sau mỗi lần vấp ngã hay thất bại nào đó của bản thân, ta
thường tự trách mình đã không biết nắm bắt cơ hội và quyết định sai lầm để cơ
hội biến mất. Thực ra, sai lầm đã dạy ta nhiều điều mà bản thân chưa từng được
trải nghiệm. Một cuộc sống ý nghĩa vẫn ở đây, những cuộc gặp gỡ mới cũng ở đây
và cơ hội thì luôn hiện diện, quan trọng là mình có nhận ra hay không. Chẳng
phải chúng ta vẫn hay nói khi cánh cửa này đóng lại nghĩa là một cánh cửa khác
sắp mở ra với mình sao?
17. Kiềm chế hành động khi đang nóng giận.
Không ít người hành động bộc trực khi đang nóng giận. Tuy nhiên,
ta sẽ không tưởng tượng được hậu quả cho hành động mang tính nông nổi và nhất
thời ấy lớn đến thế nào đâu. Học cách giữ bình tĩnh và kiếm chế các cảm xúc
tiêu cực của bản thân là bài học lớn mà mình nên học được bằng tuổi trẻ của
mình.
Kiềm chế bản thân trong những lần nóng giận là điều không phải
ai cũng học được trong quãng đời tuổi trẻ của mình.
18. Đừng bao giờ để những cãi vả là lý do kết thúc cuộc trò chuyện.
Chúng ta sẽ không thể biết được đâu là lần cuối cùng trò chuyện
với một người dù cho đó là người ta yêu quý hay không. Hãy để những cuộc trò
chuyện được kết thúc yên bình nhất, dù trước đó có thể là những tranh luận với
nhiều ý kiến chủ quan. Ta có biết rằng khi được hỏi ấn tượng của một người với
một người, chúng ta thường có xu hướng nhớ đến ấn tượng của buổi gặp mặt hoặc
trò chuyện gần nhất với họ không?
19. Dám mạo hiểm
Mọi người luôn cho rằng mạo hiểm chính là nguy hiểm. Tuy nhiên,
sự mạo hiểm luôn đi kèm với những tính toán thông minh. Một cuộc sống quá an
toàn giúp mình tránh được những biến cố nhưng lại vô cùng đơn điệu và tẻ nhạt.
Ta thiếu đi tính linh hoạt khi gặp phải một trở ngại nào đấy. Mạo hiểm có tính
toán không chỉ giúp mình có những trải nghiệm tuyệt vời mà còn nhìn ra được
nhiều hướng giải quyết, nhiều góc nhìn của cùng một vấn đề. Không khó để mình
nhận thấy người mạo hiểm luôn dễ thành công hơn những người ngại khó, ngại thử
thách.
20. Đi nhiều hơn
Những chuyến đi luôn mở ra cho mình nhiều cơ hội và trải nghiệm
mới mẻ.
Hãy tìm cơ hội để khám phá những điều thú vị của thế giới bên
ngoài bằng những chuyến đi dù ở bất kì độ tuổi nào. Thay vì ngồi than thở không
có thời gian, ta nên sắp xếp lại từng công việc của mình và thực hiện những
chuyến đi. Du lịch không đơn giản chỉ để thư giãn và nghĩ ngơi, những chuyến đi
luôn mở ra cho mình nhiều điều thú vị với những cơ hội mới. Đi nhiều hơn là
cách xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.
NHỮNG ĐIỀU
ĐỪNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG
1. Ðừng nên thờ ơ với những gì đã quá quen thuộc với mình. Hãy
giữ chắc lấy chúng như những gì quan trọng nhất, vì sẽ có lúc ta cảm thấy tiếc
nuối khi những điều thân thuộc ấy mất đi.
2. Ðừng hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình
với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị
khác nhau.
3. Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là
quan trọng, vì chỉ có ta mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình.
4. Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là
hành trang vô giá theo mình suốt cuộc đời.
5. Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất ta cũng học
được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm.
6. Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy
nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại
được.
7. Đừng để cuộc sống đi qua mắt ta chỉ vì mình đang sống trong
quá khứ hay tương lai, mà hãy sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc
này, ta đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.
8. Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho mình sức mạnh để tồn tại
ngay khi mình đang bị bỏ rơi.
9. Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình
có thể làm được và mình lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó.
10. Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất
bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ " giàu
có" trong cuộc sống của mình.
11. Đừng để những khó khăn đánh gục mình, hãy kiên nhẫn rồi mình sẽ vượt qua.
12. Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần
được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.
13. Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc
nhất của mình.
14. Đừng chờ đợi những gì ta muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
15. Đừng từ chối nếu mình vẫn còn cái để cho.
16. Đừng ngần ngại thừa nhận rằng mình chưa hoàn hảo.
17. Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, ta mới
học được can đảm.
18. Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì mình
nghĩ không thể nào tìm ra nó.
19. Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất
tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi
cánh tự do.
20. Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi ta quên mất mình
đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu.
10 VIỆC
TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI NÀY
Trong cuộc sống này, có rất nhiều chuyện kiến chúng ta phải suy
nghĩ, phiền lòng và thất vọng, hãy học cách đối mặt và giải quyết vấn đề.
Sống trên đời, ai ai cũng có rất nhiều điều không được như ý,
rất nhiều thời điểm rơi vào đau khổ tuyệt vọng. Nếu như chúng ta hiểu được ra
để buông bỏ và dừng lại những việc không đáng làm thì cuộc đời nhất định sẽ
được cải biến tốt hơn.
1. Đừng trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề, hãy nhìn thẳng
vào khó khăn và cố gắng đi qua.
Mọi người đều biết, để làm được điều này quả thực là không hề dễ
dàng. Thật khó để mỗi khi gặp khó khăn lại có thể dùng tâm thái bình thản, tĩnh
tại để đối diện với nó.
Nhưng thực sự là khi gặp khó khăn, chỉ có bình tĩnh đối diện với
nó thì mới giải quyết được vấn đề, còn trốn tránh nó thì chỉ làm lãng phí thêm
thời gian và sự lo lắng cho bản thân mà thôi!
2. Đừng cố trở thành một người không phải là mình.
Có một điều mà con người luôn phạm phải đó là luôn nhìn người
khác rồi ngưỡng mộ và mong muốn bản thân mình trở thành người ta. Một người
xinh đẹp, thông minh, trẻ trung, thành đạt hơn mình… nhưng có một sự thật là họ
không phải là mình.
Hãy đừng luôn ao ước trở thành người khác, hãy là chính bản thân
mình và cố gắng hết sức mình để trở thành một người tốt, lương thiện, thật thà,
bao dung người khác. Khi ấy ta cũng trở thành người “đáng ngưỡng mộ” trong mắt
người khác!
3. Đừng tự lừa dối bản thân.
Đừng huyễn hoặc để lừa gạt bản thân mình, hãy dùng con mắt chuẩn
xác để nhìn nhận bản thân mình. Người luôn tự lừa dối bản thân mình sẽ khó nhận
ra được khả năng và vị trí của mình ở đâu. Muốn gặp được những cơ hội tốt, hãy
bắt đầu từ việc chân thành đối đãi với chính bản thân mình.
4. Đừng lãng phí thời gian vào nhầm người.
Đời người rất ngắn ngủi, cho nên đừng đem những ngày tháng quý
giá của mình lãng phí vào nhầm người. Nếu như người khác cần mình,
họ sẽ dành cho mình một khoảng không gian.
Nhiều lúc, chúng ta không cần phải “giãy giụa” trong đau khổ mà
thay vào đó hãy chọn cách “buông bỏ”. Hãy nhớ kỹ, bạn bè tốt là người luôn xuất
hiện bên ta những lúc mình cần. Những người mà khi còn ở vào
thời điểm huy hoàng mới đến kết giao thì đó chưa chắc là mình chân chính.
5. Đừng mải sống trong quá khứ
Nếu một người cứ mãi đắm mình trong “bóng ma” quá khứ thì người
đó sẽ không có cách nào bắt đầu một cuộc đời mới!
6. Đừng mãi trách cứ sai lầm của bản thân.
Ta có thể yêu quý nhầm người hay cũng có thể khóc vì những sự
việc không đáng nhưng có một điểm là hãy biết tha thứ cho bản thân mình, đừng
mãi nhìn vào sai lầm của bản thân để rồi trách cứ mình. Bởi vì những sai lầm
ấy, ít nhất nó cũng giúp mình biết tránh khi lần sau gặp lại, từ đó giúp mình
trưởng thành hơn.
Hãy nhớ rằng, mỗi một sai lầm hôm nay sẽ là kinh nghiệm trong
tương lai giúp mình hoàn thiện bản thân mình, thay vì mãi trách cứ bản thân,
chi bằng hãy sửa chữa nó.
7. Đừng sợ phạm sai lầm mà không dám làm gì.
Trong cuộc đời, để đạt được thành công, hỏi có mấy người là
không từng trải qua sai lầm? Đến một lúc nào đó, ta sẽ nhận ra rằng, đôi khi
điều khiến bản thân hối hận “mãi không thôi” không phải làm một việc sai lầm,
mà là không dám làm nó.
8. Đừng chuyên “thu hoạch” hạnh phúc từ người khác.
Nếu như ta luôn cảm thấy không thỏa mãn về chính bản thân mình
thì đứng ở góc độ lâu dài mà xét, cho dù mình ở chung với ai
đi nữa, ta cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ.
Cho nên, trước khi ở chung với người khác, ta cần tự làm cho bản
thân mình trở nên tốt đẹp. Người ta nói rằng, có yêu bản thân mình mới yêu được
mọi người xung quanh.
9. Đừng đáp ứng hết nhu cầu của bản thân.
Trong cuộc sống này, những thứ mà chúng ta ngày đêm mong muốn là
vô cùng nhiều bởi vì dục vọng của con người gần như là vô tận. Tuy nhiên, những
thứ mà thực sự khiến chúng ta thỏa mãn đôi khi lại rất ít và rất đơn giản như
nụ cười, sự cho đi… Hãy tu tâm dưỡng thân để biết nhu cầu nào là cần thiết và
nhu cầu nào là nên buông bỏ.
10. Đừng quá cố chấp để tranh luận.
Có rất nhiều người không nhận thức được rằng mình cũng có sai
phạm, mà luôn hy vọng mình vĩnh viễn đúng. Thực tình là đã không biết rằng,
điều này là rất nguy hiểm trong các mối quan hệ với người khác.
Ngoài ra nó còn đem lại cho chúng ta và cả người khác áp lực và
sự thống khổ lớn. Vì vậy, lúc mà mình muốn vùi đầu mình vào để tranh luận đúng
sai, hãy hỏi lại mình xem làm như vậy có thực sự tốt không? Nó thực sự đem lại
lợi ích cho cả mình và người khác sao?
Nếu như ta đang làm 1 trong 10 việc trên mà thấy tâm mình bị
vướng bận hay có khúc mắc trong lòng, hãy buông bỏ như lời khuyên của đức Phật
để được khoan thai hơn nhé!
20 ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI
Nếu mình nhận được những lợi ích từ việc lên danh sách những
việc cần làm cho bản thân mình như củng cố được mối quan hệ, cân bằng cảm xúc,
hạnh phúc hơn. Tuy nhiên nếu mình muốn đạt được những điều này, ta cũng cần
liệt kê ra danh sách những việc ta nên tránh trong cuộc sống của mình.
1.Không lười biếng
2.Đừng thu mình lại trước những thử thách của cuộc sống
3.Đừng đi theo con đường mà người khác muốn mình đi
4.Đừng đợi chờ một thời gian thích hợp để hành động
5.Đừng khoác lên mình một chiếc mặt nạ
6.Đừng trốn tránh con người thật của mình
7.Đừng làm mọi thứ giống như việc vặt
8.Đừng cố gắng chinh phục mọi thứ khi mình chỉ vượt qua được
bước đầu tiên
9.Đừng tập trung vào những vấn đề trong quá khứ
10.Đừng suy nghĩ nhiều về những gì mình có thể có được
11.Đừng bao giờ coi thường những điều nhỏ nhặt
12.Đừng cố gắng nắm giữ mọi thứ
13.Đừng bỏ qua những niềm vui hiện tại
14.Đừng nên chỉ nhận cho riêng mình
15.Đừng đợi ai đó có thể làm điều gì cho mình
16.Đừng cho mình luôn luôn đúng trong mọi trường hợp
17.Đừng vội phán xét người khác
18.Đừng nên ghét bỏ một ai đó hoặc một thứ gì đó
19.Đừng đặt điều kiện lên tình yêu của mình
20.Đừng thờ ơ với những tình bạn thân thiết
1.Không lười biếng
Thế giới không nợ ta bất cứ điều gì thế nhưng ta lại nợ thế giới
một điều gì đó. Hãy dừng mơ mộng để bắt tay vào hành động. Thay sự lười biếng
bằng việc quyết tâm với những mục tiêu rõ ràng. Chỉ đến khi thực sự quyết tâm
vì một điều gì đó, ta mới thấy từng giây phút trôi qua có ý nghĩa như thế nào
trong cuộc sống của mình. Giới hạn của thời gian sẽ khiến mình nhận ra, mình
còn có quá nhiều thứ cần làm.
2.Đừng thu mình lại trước những thử thách của cuộc sống
Chúng ta làm việc chăm chỉ để cố gắng tránh khỏi khó khăn và
những nỗi buồn. Nhưng chúng ta không thể kết thúc chỉ mới một chương sách và
mong đợi mình hiểu toàn bộ câu chuyện. Chúng ta không thể kết thúc một chương
trong cuộc sống của mình và mong đợi cuộc sống của chúng ta vẫn ý nghĩa. Hãy
giữ tất cả các chương cuộc sống của mình còn nguyên vên và tiếp tục lật qua các
trang khác. Sớm muộn gì ta cũng sẽ ghép các trang đó lại thành một chương khác
của cuộc đời mình, đến lúc đó, ta sẽ hiểu tại sao mọi trang, mọi chương trước
đó đều cần thiết.
3.Đừng đi theo con đường mà người khác muốn mình đi
Đừng bận tâm người khác nói ta nên làm gì. Hãy dũng cảm tìm kiếm
và mang những ý tưởng, những giấc mơ của mình vào trong cuộc sống chính mình.
Đừng bao giờ so sánh ta với những người khác, tất cả chúng ta là những cá nhân
riêng biệt. Tất cả chúng ta đều cần thời gian để đi hết con đường mình đã chọn.
Đó là điều hoàn hảo nhất để trở nên khác biệt.
4.Đừng đợi chờ một thời gian thích hợp để hành động
Sẽ không bao giờ ta có được thời gian thích hợp thật sự cho bất
điều gì trong cuộc sống. Luôn luôn sẽ có điều gì đó xảy ra trong cuộc sống của
mình, ai đó đang đến thăm ta, ai đó đang rời đi sớm, thời gian của năm, thời
tiết, tiền, mẹ mình, anh mình,… Bất cứ đó là gì, sẽ
luôn luôn có một điều gì hoặc một ai đó thì thầm với mình rằng: Bây giờ không
phải là lúc thích hợp. Hãy làm bất điều gì. Đừng đợi thời gian thích hợp đến
với mình vì nó sẽ không bao giờ tồn tại.
5.Đừng khoác lên mình một chiếc mặt nạ
Ta không thể cho phép mọi người sợ mình . Ta không thể sống cuộc
sống chỉ để làm hài lòng tất cả mọi người. Ta không thể sống cuộc sống khi phải
lo lắng mọi người đang nghĩ gì về mình. Cho dù đó là mái tóc, là trang phục,
những gì mình nói, cảm xúc của mình như thế nào, ta tin vào
điều gì hoặc ta có gì,… Ta không thể để sự phán xét của người khác ngăn chặn
việc ta là chính mình. Bởi vì nếu mình làm thế, ta không còn là chính mình nữa
rồi. Ta chỉ là một người nào đó muốn mình trở thành.
Chúng ta thường sợ thất bại nhưng quên mất rằng thành công luôn
bắt nguồn từ đó.
6.Đừng trốn tránh con người thật của mình
Thỉnh thoảng ta đối với những vấn đề và cho người ta thấy những
khó khăn của mình, sự khó chịu của mình. Nếu mình làm được điều này, nó trở
thành một phần trong con người mình . Và một tin tốt là thường thì những lúc
khó khăn, ta sẽ biết rõ rằng ai là người sẽ chấp nhận con người thật của mình,
ai sẽ không.
7.Đừng làm mọi thứ giống như việc vặt
Cuộc sống là một đặc ân, hãy hành động vì đặc ân ấy.Thay vì nghĩ
ta phải làm quá nhiều việc thì hãy nói ta được làm tất cả những điều trong cuộc
sống của mình. Khi đó những nguồn năng lượng, hạnh phúc và sự hiệu quả sẽ đến
với mình.
8.Đừng cố gắng chinh phục mọi thứ khi mình chỉ vượt qua được
bước đầu tiên
Sẽ không vui khi ngày qua ngày chẳng có điều gì thay đổi trong
cuộc sống của mình nhưng khi thật sự nhìn lại, mọi thứ đã khác đi rất nhiều.
Hãy nhớ, hành trình ngàn dặm đều bắt đầu bằng những bước rất nhỏ. Vì vậy, hãy
bước những bước đầu tiên ngay hôm nay. Ta sẽ không bao giờ phải nối lời hối
tiếc.
9.Đừng tập trung vào những vấn đề trong quá khứ
Đừng để bóng ma quá khứ lấn át hết những cơ hội hiện tại
hay làm cho mình phức tạp hóa mọi thứ ở tương lai. Trong cuộc sống, những bài
kiểm tra thường đến trước những bài học mà mình có thể học được. Chính vì thế,
hãy hít thở thật sâu và ngẫm thật kỹ. Quá khứ của mình sẽ không bao giờ là sai
lầm nếu mình học được từ nó.
10.Đừng suy nghĩ nhiều về những gì mình có thể có được
Ta sẽ không thể biết trước được ta sẽ có được hoặc không có được
điều gì. Vì vậy hãy nói thật to rằng: Có một cuộc sống khác tôi có thể có,
nhưng tôi đang sống cuộc sống mà tôi đã chọn.
11.Đừng bao giờ coi thường những điều nhỏ nhặt
Hãy cố gắng hết sức trong mọi việc dù là nhỏ nhất. Hãy tập trung
sức lực trong từng bước để tiến tới mục tiêu mình muốn. Nên
nhớ rằng muốn có điều gì đó tốt đẹp cũng cần thời gian. Hãy thật kiên nhẫn ta
nhé! Mọi thứ có thể đến cùng lúc, có thể nó không đến ngay tức khắc nhưng cuối
cùng ta cũng đạt được điều mình muốn nếu thực sự cố gắng.
12.Đừng cố gắng nắm giữ mọi thứ
Cuộc sống luôn luôn thay đổi, mọi thứ không bao giờ ở yên đó.
Hãy nhớ rằng, từ bỏ hoặc di chuyển là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Khi thứ
này không ở trong cuộc sống của mình có nghĩa là đã đến lúc nó phải rời đi.
13.Đừng bỏ qua những niềm vui hiện tại
Nếu mình không coi trọng những gì ta có hiện tại, một ngày nào
đó khi đến cuối cuộc sống này, ta sẽ suy nghĩ rằng: Tại sao tôi không sống như
thể hôm nay là ngày cuối của cuộc đời? Tại sao tôi không trân trọng tất cả mọi
thứ như thế tôi không còn cơ hội nào nữa? Nói cách khác, rồi một ngày nào đó,
ta sẽ hối tiếc khi những giây phút tận hưởng cuộc sống hiện tại bị đánh đổi
bằng việc tập trung quá nhiều vào tương lai.
14.Đừng nên chỉ nhận cho riêng mình
Hãy chia sẻ những gì ta có với những người xung quanh. Có thể nó
là vật chất, có thể nó là tấm lòng, sự giúp đỡ hay đơn giản chỉ là nụ cười trao
nhau. Cuộc sống này cần lắm những tấm lòng sẻ chia. Khi cho đi là
lúc mình được nhận lại.
15.Đừng đợi ai đó có thể làm điều gì cho mình
Nhận ra rằng cuộc sống bắt đầu khi chúng ta thực sự lên tiếng
cho những vấn đề quan trọng của chính mình. Hãy nói thật to. Đừng che giấy
những suy nghĩ, cảm xúc thật của mình đặc biệt là khi mình muốn tạo nên sự khác
biệt. Hãy nói ra những gì mình cần. Hãy làm những gì mình cần
phải làm. Ta dũng cảm hơn những gì mình nghĩ, mạnh mẽ hơn
những gì mình nhìn thấy và có nhiều khả năng vượt ngoài sức
tưởng tượng của mình.
16.Đừng cho mình luôn luôn đúng trong mọi trường hợp
Có rất nhiều cách để xác định điều gì là đúng. Vì vậy hãy lựa
chọn. Thỉnh thoảng hòa bình và thỏa hiệp sẽ tốt hơn là việc cứ đấu tranh khẳng
định mình đúng.
17.Đừng vội phán xét người khác
Chúng ta có xu hướng đánh giá người khác thông qua vẻ ngoài và
cách cư xử của họ. Hơn nữa những định kiến cũng khiến ta phán xét người khác.
Hãy cố gắng phán xét ít lại thay vào đó hãy yêu thương nhiều hơn ta nhé!
18.Đừng nên ghét bỏ một ai đó hoặc một thứ gì đó
Nếu mình muốn quên ai đó hoặc điều gì đó, đừng bao giờ ghét bỏ.
Mọi thứ ta ghét sẽ nằm sâu trong trái tim và tâm trí mình, nó khiến
mình khó chịu. Nếu mình muốn từ bỏ, nếu mình muốn bình an trong tâm hồn, hãy
học cách tha thứ.
19.Đừng đặt điều kiện lên tình yêu của mình
Chúng ta đều muốn có một tình yêu vô điều kiện nhưng hiếm khi
chúng ta cho đi điều đó. Khi mình xem hạnh phúc của người khác là hạnh phúc của
mình, đó mới chính là tình yêu thật sự. Khi mình làm điều gì đó cho tình yêu,
đừng bao giờ tính toán.
20.Đừng thờ ơ với những tình bạn thân thiết
Tôi nghĩ nếu tôi học được điều gì đó từ tình bạn thì đấy chính
là sự bền chặt dù có chuyện gì đi chăng nữa. Giữ kết nối, chiến đầu cho tình
bạn, và hãy để tình bạn chiến đấu vì mình. Đừng rời đi, đừng sao nhãn, đừng quá
bận hay quá mệt để duy trì một tình bạn đẹp. Những người bạn thân thiết là một
phần trong chất keo kết nối cuộc sống của mình với người khác nhờ sự tin tưởng
nhau. Tình bạn thân thiết tạo nên sức mạnh lớn lao trong cuộc sống này.
9 ĐIỀU
TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI
Mọi bài học trong cuộc sống đều cần được học một cách cẩn thận.
Đó là lý do tại sao ta hãy nói không và đừng bao giờ làm những điều này.
Không bao giờ thử hút thuốc. Hút thuốc là một trong những điều
ngu ngốc nhất mà con người tự làm. Nếu mình hút thuốc, ta đang dần dần giết
chết chính mình.
Không bao giờ từ bỏ cha mẹ. Họ đã sinh ra mình, hỗ
trợ mình tài chính trong nhiều năm, và hỗ trợ tinh thần khi
mình cần. Cha mẹ xứng đáng được tôn trọng nhất và mãi mãi.
Không bao giờ để bất cứ ai kiểm soát cuộc sống của mình. Đừng để
bất kỳ ai hoặc bất cứ điều gì kiểm soát điều đó. Ta là chủ nhân và là tác giả
cuộc sống của mình. Ngoài ra, hãy suy nghĩ về những điều mình có
thể kiểm soát hàng ngày như phương tiện truyền thông xã hội, công nghệ và những
thói quen xấu.
Không bao giờ coi thường sức khỏe. Cố gắng sống càng lâu càng
tốt, và không có cách nào tốt hơn để làm điều này là phải khỏe mạnh. Chúng ta
nên cố gắng để được khỏe mạnh trong mọi khía cạnh của cuộc sống: thể chất, tinh
thần và tình cảm.
Không bao giờ đặt công việc lên trên gia đình hoặc bạn bè. Ta
cần phải làm việc nhưng cũng cần chia sẻ thời gian với gia đình và bạn bè. Hãy
phấn đấu cho sự cân bằng giữa công việc và đời sống xã hội.
Không bao giờ chi tiêu nhiều hơn số tiền ta kiếm được. Đừng bao
giờ bỏ qua việc tiết kiệm tiền và đầu tư cho tương lai của mình. Ta nên chi
tiêu thông minh và khôn ngoan.
Không bao giờ quên người đã giúp mình trong những thời điểm khó
khăn. Đôi khi, một người lạ có thể giúp mình một điều gì đó, hoặc một giáo sư
có thể giúp mình thực hiện một dự án, hãy biết ơn và trả ơn.
Không bao giờ từ bỏ giấc mơ của mình, nhưng hãy nhớ, ta phải làm
việc gấp ba lần để đạt được điều đó. Nếu mình không có một ước mơ để theo đuổi,
bây giờ là lúc để ngồi xuống và nghĩ về điều gì đó mình muốn
đạt được.
Không bao giờ coi trọng vật chất. Đừng quan tâm đến số tiền mà
mình có thể kiếm được. Tình yêu, gia đình, bạn bè luôn luôn quan trọng đối với
mỗi chúng ta.
12 ĐIỀU
KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI
Trong cuộc sống của mỗi người, để đạt được thành công và hạnh
phúc, chúng ta phải làm những điều nên làm và tránh những điều nên tránh. Hãy
đọc bài viết dưới đây để xem chúng ta nên tránh làm những điều gì để cuộc sống
trở nên tốt đẹp hơn nhé!
1.Đừng bỏ cuộc, cứ kiên trì ắt sẽ có hy vọng
Điều đáng tiếc nhất trong cuộc đời, chẳng qua là dễ dàng vứt bỏ
thứ không nên vứt bỏ. Cuộc đời này chỉ có một con đường mà chúng ta không thể
lựa chọn, ấy chính là con đường bỏ cuộc; chỉ có một con đường mà chúng ta không
thể từ chối, ấy chính là con đường trưởng thành.
2.Đừng hối hận, ai cũng sẽ mắc sai lầm
Trên thế giới này, không có ai là vĩnh viễn không phạm sai lầm
cả. Nếu đã sai rồi, đừng lãng phí thời gian để hối hận. Dùng sai lầm trong quá
khứ để trừng phạt bản thân, là tổn thất lớn hơn tổn thất, sai lầm lớn hơn sai
lầm.
3.Đừng đau lòng, buồn đau chỉ là giây phút ngắn ngủi mà thôi
Trong dòng đời ngắn ngủi, ai cũng phải đối mặt với sinh ly tử
biệt. Khi đau lòng và tủi thân, có thể khóc, nhưng khóc xong thì hãy lau mặt,
nở nụ cười với chính mình.
4.Đừng thất vọng, vẫn còn cơ hội
Tài sản lớn nhất của con người chính là hy vọng, căn nguyên lớn
nhất dẫn tới phá sản chính là tuyệt vọng. Người sáng tạo cơ hội là người dũng
cảm, người chờ đợi cơ hội là kẻ ngốc. Đừng thất vọng, chỉ cần hy vọng, cơ hội
ắt sẽ đến.
5.Đừng tức giận, sức khỏe là quan trọng nhất.
Trong cuộc sống sẽ luôn có người làm tổn thương đến mình, đừng
tức giận, tức giận là mang sai lầm của người khác đến trừng phạt chính mình.
Tâm thái lạc quan, cuộc sống lành mạnh đến từ sự khoan dung, độ lượng, hiểu
lòng người.
6.Đừng lo lắng, mọi chuyện sẽ tốt lên thôi.
Ông trời đối xử công bằng với tất cả mọi người, đóng cánh cửa
này, sẽ mở ra cánh cửa khác cho mình. Hãy tin rằng mưa sẽ không chỉ xối xuống
mái nhà của một mình ta, thế giới này luôn có vị trí dành cho mình. Lạc quan,
là bước đầu tiên để giải quyết và chiến thắng mọi khó khăn.
7.Đừng miễn cưỡng, cứ thuận theo tự nhiên là được.
Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện, có thể ta trải qua bao
nhiêu nỗ lự cũng không thể đạt được. Chỉ cần ta từng nỗ lực, là có thể nói
tiếng không thẹn với lòng rồi. Có những chuyện, nếu quả thực không làm được,
vậy thôi bỏ đi, đừng làm khó chính mình.
8.Đừng sợ hãi, trời sẽ không đổ sập xuống đâu.
Khi sợ hãi, hãy đặt tâm tư vào những chuyện bắt buộc phải làm,
chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Đời người chắc chắn sẽ vấp phải trắc trở, mỗi lần trắc
trở là một lần rút ra được bài học kinh nghiệm. Hãy cứ đối mặt với khó khăn, không
có cái gì là không thể vượt qua cả.
9.Đừng trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề, hãy nhìn thẳng
vào khó khăn và cố gắng đi qua.
Nhưng thực sự là khi gặp khó khăn, chỉ có bình tĩnh đối diện với
nó thì mới giải quyết được vấn đề, còn trốn tránh nó thì chỉ làm lãng phí thêm
thời gian và sự lo lắng cho bản thân mà thôi!
10.Đừng cố trở thành một người không phải là mình.
Có một điều mà con người luôn phạm phải đó là luôn nhìn người
khác rồi ngưỡng mộ và mong muốn bản thân mình trở thành người ta. Một người
xinh đẹp, thông minh, trẻ trung, thành đạt hơn mình… nhưng có một sự thật là họ
không phải là mình.
Hãy đừng luôn ao ước trở thành người khác, hãy là chính bản thân
mình và cố gắng hết sức mình để trở thành một người tốt, lương thiện, thật thà,
bao dung người khác. Khi ấy ta cũng trở thành người “đáng ngưỡng mộ” trong mắt
người khác!
11.Đừng tự lừa dối bản thân.
Đừng huyễn hoặc để lừa gạt bản thân mình, hãy dùng con mắt chuẩn
xác để nhìn nhận bản thân mình. Người luôn tự lừa dối bản thân mình sẽ khó nhận
ra được khả năng và vị trí của mình ở đâu. Muốn gặp được những cơ hội tốt, hãy
bắt đầu từ việc chân thành đối đãi với chính bản thân mình.
12.Đừng lãng phí thời gian vào nhầm người.
Đời người rất ngắn ngủi, cho nên đừng đem những ngày tháng quý
giá của mình lãng phí vào nhầm người. Nếu như người khác cần ta, họ sẽ dành cho
mình một khoảng không gian. Nhiều lúc, chúng ta không cần phải “giãy giụa”
trong đau khổ mà thay vào đó hãy chọn cách “buông bỏ”.
Hãy nhớ kỹ, bạn bè tốt là người luôn xuất hiện bên ta những lúc
ta cần. Những người mà khi con ở vào thời điểm huy hoàng mới đến kết giao thì
đó chưa chắc là mình chân chính.
10 ĐIỀU
KHÔNG ĐÁNG ĐỂ LÀM TRONG CUỘC SỐNG
Trong cuộc sống, có những điều chúng ta không thể kiểm soát, cái
mà chúng ta có thể thay đổi chính là kiểm soát chính bản thân mình.
Chúng ta có quyền lựa chọn nơi dành thời gian và quyết định
những gì mình cần làm. Ai cũng chỉ sống một đời, do vậy thật tuyệt vời nếu
chúng ta sống một cuộc sống ý nghĩa.
1. Lãng phí thời gian cho sai người.
Sai lầm lớn nhất mà nhiều người mắc phải là đầu tư quá nhiều
thời gian và công sức vào sai người. Cuối cùng, điều mà chúng ta nhận lại chỉ
là 2 từ lãng phí, lãng phí thời gian, tuổi trẻ và sức lực. Quỹ thời gian là có
hạn, hãy dành nó cho những người thật sự tốt với mình. Làm phong phú cuộc sống
của chính mình chính là khoản đầu tư đáng giá nhất.
2. Thoát khỏi rắc rối.
Mọi rắc rối trong cuộc sống giống như một phần thiết yếu. Nếu
mình không đối mặt và chủ động dẹp bỏ chúng, chúng sẽ càng chất chồng lên nhau
và rồi “đè bẹp” cuộc đời mình . Liều thuốc giải độc duy nhất đối với một tình
huống khó khăn không phải là chạy trốn hay đối đầu, mà là vượt qua, thoát khỏi
nó.
3. Trở thành bản sao của người khác.
Nhiều người dành thời gian quý giá nhất của họ để cố gắng trở
thành người khác, nhưng thực tế là mình không bao giờ có thể trở thành ai đó.
Tất cả những gì ta đang theo đuổi là một cái bóng, một thứ không tồn tại.
Chúng ta không nên cố gắng để trở thành một người khác, mà hãy
là chính mình, trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình, đi theo con đường
của chính mình thay vì đi theo người khác.
4. Sống trong quá khứ.
Có những người cứ luôn hoài niệm về quá khứ, tiếc nuối những gì
đã qua. Nhưng, đó là một điều thật lãng phí. Dù ta có quan tâm đến quá khứ
nhiều đến đâu đi chăng nữa, quá khứ cũng không thể thay đổi. Hãy tập trung vào
những khoảnh khắc hiện tại, để thay đổi tương lai, ta chỉ có thể nắm bắt từng
khoảnh khắc của hiện tại.
5. Sợ mắc lỗi.
Nhà viết kịch Bernard Shaw từng nói: "Thành công không phải
là không bao giờ phạm sai lầm, mà là không tái phạm lỗi đó lần hai”. Nếu cuộc
sống phải phạm sai lầm để thành công, thì mình nên mắc lỗi càng sớm càng tốt.
6. Sự thiếu quyết đoán.
Ta càng ít do dự và trì hoãn, cuộc sống của mình sẽ tốt hơn. Hãy
tin vào khả năng của mình và kiên trì theo đuổi mục tiêu.
Nếu mình do dự trong một thời gian dài và đưa ra quyết định sai
lầm, ta sẽ không có thời gian để thử các lựa chọn khác và mất đi cơ hội để thay
đổi. Một quyết định quyết đoán thường mang lại kết quả tốt. Ngay cả khi quyết
định đó là sai, vẫn còn thời gian. Hãy thử các lựa chọn khác.
Thay vì do dự, hãy đưa ra quyết định một cách quyết đoán và dành
nhiều thời gian để sửa lỗi nếu mình mắc lỗi.
Thật không đáng nếu luôn dành thời gian để so sánh mình với
người khác.
7. So sánh bản thân với người khác.
Không cần phải ghen tị với người khác, cũng không cần so sánh
bản thân với người khác, bởi vì mọi người đều đặc biệt, thế giới này không thể
tìm đâu ra một người giống như mình .
Một trong những điều ta không nên dành thời gian trong cuộc sống
là so sánh mình với người khác, bởi vì điều đó không có nghĩa lý gì. Tất cả
những gì ta cần là trở thành người tốt nhất và sống cuộc sống của chính mình.
8. Than phiền.
Hãy cố gắng sống một cuộc sống mà không phàn nàn, ta sẽ thấy
rằng cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn. Khi mình ngừng phàn nàn, ta đã
ngăn cản những cảm xúc xấu hủy hoại cuộc sống của mình.
9. Làm những gì mình không muốn làm.
Làm những gì mình muốn làm là một trong những
điều thường thấy nhất trong cuộc sống. Cuộc sống nên dành thời gian cho những
gì ta nghĩ là quan trọng nhất, để cuộc sống của mình sẽ có giá trị.
10. Trì hoãn sự bắt đầu.
Điều đáng tiếc nhất trong cuộc sống là khi mình biết rằng mình
có thể bắt đầu làm điều mình thích từ sớm, nhưng vì nhiều lý do mà trì hoãn.
Trước cuộc sống mà mình muốn, ta nên theo đuổi nó một cách quyết đoán. Khi mình
biết và bắt đầu theo đuổi những gì mình muốn từ sớm, cơ hội thành công của mình
càng cao.
3 ĐIỀU
KHÔNG NÊN LÀM TRONG ĐỜI
Sống ở đời đừng quá đặt nặng mọi thứ, cho được cứ cho
Sống ở đời đừng quá đặt nặng mọi thứ, cho được cứ cho
Vận số của người hạnh phúc phải có 3 chìa khóa này
Liệu mình có đang phạm phải 1 trong những sai
lầm này?
I.Xây nhà quá to.
“Đừng dại gì mà cả đời thắt lưng buộc bụng, bóp mồm bóp miệng,
dành tiền dựng lên một khối beton, sau đó vừa còng lưng trả nợ, vừa tự làm osin
lau chùi quét dọn cả ngày. Rồi cuối cùng cũng ra ngoài cánh đồng nằm lạnh lẽo
trong 6 tấm ván hoặc chui vào lọ sành.
Đồng ý là phải có nhà cửa đàng hoàng nhưng đừng quá sức.
Thử hỏi, mỗi ngày ta ở nhà mấy giờ đồng hồ và khi ở nhà thì hầu
hết là lúc mình nhắm mắt.
Vì thế, nhà… to hay bé, xấu hay đẹp cũng không có gì khác nhau
là mấy.”
Cho con cái quá nhiều
“Người Việt Nam có câu “Hi sinh đời bố, củng cố đời con”. Thế
nên, nhiều người có bao nhiêu cho con hết. Cho nhiều quá nên con cái chẳng biết
tự lo gì, có khi 30 tuổi rồi vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ.
Hơn nữa, nếu mình cho con cái quá nhiều mà không lo được gì cho
mình thì về già ta sẽ làm cho con mình phải khổ bởi ta trở
thành gánh nặng của chúng, đấy là chưa nói gì đến khi ốm đau, bệnh tật.
Cho con vừa thôi và quan trọng là cho nó thành NGƯỜI, cho khả
năng tự lập mới là quan trọng. Có cho nhiều thì cũng đừng cho hết, hãy giữ lại
một phần để tự lo cho bản thân khi tuổi cao, sức yếu để con cháu đỡ khổ.
II.Tự móc túi mình khi vào bệnh viện.
“Nhiều người chúng ta, cứ mải mê làm ăn, tích cóp mà không nghĩ
cách bảo vệ tiền bạc của mình. Vì thế, đến khi vào bệnh viện, thay vì có chỗ họ
phải trả tiền cho mình chăm sóc sức khỏe thì hầu hết chúng ta lại phải tự móc
túi mình ra mà chi phí.
Đó là lý do đã thoát nghèo rồi lại bị tái nghèo. Khổ thân!”
Dành cả đời để suy nghĩ làm sao để có đủ tiền để sống đủ, để rồi
đến cuối đời lại chẳng thể tiếp tục suy nghĩ như vậy nữa, chỉ mong sao có đủ
tiền để trả viện phí, trả tiền thuốc men. Làm việc cật lực cả đời, cuối cùng
chỉ mong có được một chỗ nằm trong bệnh viện.
III.Sức khỏe lúc nào cũng phải được đặt lên hàng đầu.
Vẫn biết là có tiền thì trang trải được cuộc sống, nhưng
không có sức khỏe thì nhiều tiền đến mấy, cuộc sống cũng chẳng vui. Vậy nên,
trong cuộc sống, điều gì nên thử thì hãy thử làm, còn điều gì cần tránh thì
đừng nên làm để không phải tiếc nuối về sau!
Những nhắc nhở ngắn cần thiết cho cuộc
sống.
1 - Uống nhiều nước.
2 - Ăn sáng như Vua, ăn trưa như Ông hoàng và ăn tối như Kẻ ăn
xin (ăn ít).
3 - Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo
trong nhà máy.
4 - Sống với 3 chữ N: Năng lực – Nhiệt thành - Nhân ái.
5 - Tìm ra thời gian để cầu nguyện.
6 - Chơi trò chơi nhiều hơn.
7 - Đọc sách nhiều hơn so với năm trước.
8 - Mỗi ngày dành 10 phút ngồi yên lặng.
9 - Ngủ tối thiểu 7 giờ.
10 - Vừa đi bộ vừa mỉm cười 10-30 phút mỗi ngày.
11 - Đừng so sánh cuộc đời của mình với cuộc đời của những người
khác.
12 - Đừng có những suy nghĩ tiêu cực hoặc nghĩ những điều mà
mình không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của mình vào ngay thời
điểm hiện tại.
13 - Đừng làm gì quá sức. Phải giữ một giới hạn cho bản thân.
14 - Đừng coi mình quá nghiêm trọng, coi như không ai sánh nổi.
15 - Đừng phí năng lực quý báu vào những chuyện ngồi lê đôi
mách.
16 - Hãy biết mơ nhiều hơn ngay khi còn đang thức.
17 - Ghen tỵ là phí thì giờ. Mình đã có tất cả những gì mình cần
rồi.
18 - Hãy quên đi những chuyện đã qua. Đừng nhắc người thân nhớ
lại những lỗi lầm trong quá khứ. Điều đó sẽ làm tan vỡ hạnh phúc đang có.
19 - Cuộc sống quá ngắn để tốn thời gian căm ghét bất cứ ai. Chớ
ghét bỏ ai!
20 - Hãy dàn hòa với quá khứ của mình đẻ tránh làm hỏng cái hiện
có.
21 - Không ai nuôi dưỡng hạnh phúc của mình, ngoài chính mình.
22 - Hãy coi cuộc đời là một trường học và mình đang ở đó để
học. Những điều khó hiểu chỉ là một phần của chương trình học, chúng xuất hiện
rồi biến dần giống như môn Đại số. Nhưng những bài học mình thu nhận được sẽ
kéo dài suốt đời.
CÓ HAI VIỆC
KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC ĐỜI
Điều quan trọng nhất mà ta sở hữu trong cuộc đời là gì? Không
phải là sự huy hoàng của ngày hôm qua, cũng không phải là hy vọng của ngày mai,
mà chính là hiện tại.
Ở ngôi chùa nọ có một vị sư đã ngoài 80 tuổi, trời nắng to vẫn
mang phơi nấm hương. Sư trụ trì nhìn thấy, bèn nói: “Ông này, ông đã lớn tuổi
vậy rồi, sao phải những chuyện này? Ông không cần phải cực khổ như vậy, tôi có
thể tìm người làm thay ông mà!”
Vị sư già thoải mái nói: “Người khác không phải là tôi.”
Sư trụ trì lo lắng đáp: “Đúng là vậy, nhưng nếu có làm việc thì
cũng đừng chọn lúc nắng chói chang như vậy chứ.”
Vị sư già lại nói: “Ngày nắng không phơi nấm, chẳng lẽ đợi trời
râm hay mưa mới phơi hay sao?”
Sư trụ trì không nói gì thêm được nữa.
Người ta thường nói “việc hôm nay đừng để ngày mai”, “việc của
mình thì mình làm”, tuy nói thì dễ nhưng làm thì lại rất khó. Chúng ta luôn có
thể tìm được rất nhiều lý do để tránh né, nhưng kết quả thì chẳng phải là tự
dối mình hay sao? Đời người có hai việc không nên làm, việc đầu tiên chính là
“đợi”, việc thứ hai chính là “dựa dẫm”.
Lại có câu chuyện về một tiểu hòa thượng như thế này. Năm 9
tuổi, do cha mẹ mất, một cậu bé đã hạ quyết tâm xuất gia, vì thế cậu đã tìm đến
sư thầy. Sư thầy hỏi cậu rằng: “Cậu còn nhỏ như thế, tại sao lại muốn xuất
gia?”
Cậu bé trả lời: “Tuy con chỉ mới 9 tuổi, nhưng cha mẹ đều đã
không còn, bởi vì con không biết tại sao con người ta lại phải chết, tại sao
con phải xa cha mẹ, cho nên để hiểu được đạo lý này, con nhất định phải xuất
gia.”
Sư cực kỳ khen ngợi chí nguyện này của cậu bé và nói: “Được rồi!
Ta đã hiểu. Ta đồng ý nhận con làm đồ đệ, nhưng hôm nay quá muộn rồi, đợi sáng
ngày mai ta sẽ xuống tóc cho con!”
Cậu bé nghe xong liền nói: “Thưa sư phụ, tuy người nói sáng mai
sẽ xuống tóc cho con, nhưng dù sao con cũng còn là trẻ con ngây ngô, con không
dám đảm bảo là ngày mai có còn muốn xuất gia nữa hay không. Hơn nữa, thưa sư
phụ, người đã già thế rồi, người cũng không thể đảm bảo được liệu ngày mai
người có còn thức dậy hay không ạ.”
Sư nghe lời ông nói xong thì vỗ tay khen hay, đồng thời hài lòng
nói: “Nói rất hay! Lời con nói hoàn toàn đúng, bây giờ ta sẽ lập tức xuống tóc
cho con.”
Nếu như còn có ngày mai thì mình sẽ trang điểm thế nào? Nếu
không có ngày mai thì phải nói hẹn gặp lại thế nào đây? Mỗi người chúng ta đều
phải đối mặt với sinh lão bệnh tử, trẻ con không biết được liệu có giữ quyết
tâm của ngày hôm nay đến ngày mai được hay không, vậy còn ta có thể bảo đảm
ngày mai mình còn nhớ kế hoạch ngày hôm nay hay không? Đúng thế, không có ai
biết trước được tương lai cả, chúng ta không thể biết được ngày mai đến sẽ mang
theo niềm hy vọng mới hay nỗi tuyệt vọng khó lường. Vì thế chúng ta sống phải
nỗ lực, đừng để ngày hôm nay trở thành một phần trong quá khứ.
Khi ngồi trên bờ sông, Khổng Tử có nói: “Thệ giả như tư phù, bất
xá trú dạ” (Luận Ngữ), nghĩa là: Người ra đi mãi không trở lại, ngày đêm mãi
không ngừng trôi. Sinh mệnh là không thể chờ đợi được, cuộc đời ngắn ngủi, nên
phải biết nắm lấy cơ hội.
Điếu quan trọng nhất trong cuộc đời đó là sống mà không cần phải
chờ đợi hay dựa dẫm.
30 ĐIỀU
KHÔNG NÊN TIẾP TỤC LÀM VỚI BẢN THÂN
“Không ai có thể quay ngược lại thời gian để bắt đầu lại
từ đầu, nhưng bất kỳ ai cũng có thể bắt đầu từ ngày hôm nay và tạo ra một kết
thúc mới”.
1. Đừng mất thời gian với những đối tượng sai lầm.
Cuộc sống quá ngắn ngủi, ta không nên dành thời gian với những
người chỉ biết hút cạn nguồn hạnh phúc của mình. Nếu ai đó muốn ta có mặt trong
cuộc sống của họ, họ sẽ tự dành ra chỗ cho mình. Ta không phải đấu tranh để
giành giật lấy một vị trí nào cả.
Đừng bao giờ ép mình vào mối quan hệ với những người coi thường
giá trị của mình. Và hãy nhớ, những người bạn thật sự của mình không phải là
những người ở bên cạnh ta khi mình thành công, mà là những người ở bên cạnh ta
khi mình gặp khó khăn.
2. Đừng chạy trốn các rắc rối của mình.
Hãy đối diện với chúng. Đây không phải là việc dễ dàng. Không ai
có khả năng xử lý hoàn hảo mọi vấn đề họ gặp phải. Chúng ta cũng không thể ngay
lập tức mà giải quyết trọn vẹn một khó khăn. Chúng ta không sinh ra để làm như
vậy. Trên thực tế, chúng ta sinh ra để thất vọng, buồn chán, đau khổ, và vấp
ngã. Bởi vì đó là toàn bộ mục đích của cuộc sống – đối mặt với vấn đề, học hỏi,
thích nghi, và xử lý chúng. Chính điều này đã rèn luyện chúng ta trở thành con
người như chúng ta hiện nay.
3. Đừng nói dối bản thân mình.
Ta có thể nói dối người khác, nhưng ta không thể nói dối chính
bản thân mình. Cuộc sống của chúng ta chỉ tiến bộ khi chúng ta nắm bắt các cơ
hội; và cơ hội đầu tiên và cũng là khó khăn nhất mà chúng ta có thể nắm bắt lấy
là trung thực với chính mình.
4. Đừng gác lại các nhu cầu của bản thân.
Điều đau đớn nhất là vì yêu người khác quá mà đánh mất bản thân
mình, và quên mất rằng mình cũng là người đặc biệt. Vâng, hãy giúp đỡ người
khác; nhưng ta cũng phải giúp đỡ chính mình nữa chứ. Nếu có giây phút nào dành
cho mình để mình theo đuổi đam mê và làm điều gì đó quan trọng với mình, thì
giây phút đó chính là ngay lúc này đây.
5. Đừng cố gắng làm người khác.
Một trong những thách thức lớn nhất trong cuộc sống là làm chính
mình trong một thế giới cứ chực biến ta thành người giống như mọi người khác.
Lúc nào cũng sẽ có người xinh đẹp hơn mình, thông minh hơn mình,
trẻ trung hơn mình, nhưng họ sẽ không bao giờ là mình cả. Đừng thay
đổi để mong người khác thích mình. Hãy là chính mình, và sẽ có người yêu con
người thật của mình.
6. Đừng bận tâm với quá khứ.
Ta không thể bắt đầu một chương mới trong cuộc đời nếu cứ đọc đi
đọc lại chương cũ.
7. Đừng sợ mắc sai lầm.
Làm việc gì đó rồi mắc sai lầm còn hiệu quả gấp 10 lần so với
không làm gì cả. Mỗi thành công đều có một vệt dài những thất bại đằng sau nó,
và mỗi thất bại đều dẫn đường tới thành công. Suy cho cùng, ta sẽ hối hận về
những điều mình KHÔNG làm nhiều hơn là về những điều mình đã làm.
8. Đừng trách móc bản thân vì những sai lầm đã qua.
Có thể chúng ta yêu nhầm người và đau khổ về những điều không
xứng đáng, nhưng dù mọi việc có tồi tệ tới mức nào, thì cũng có một điều chắc
chắn: sai lầm giúp chúng ta tìm được đúng người, đúng thứ phù hợp với chúng ta.
Chúng ta ai cũng có lúc mắc sai lầm, ai cũng có khó khăn, và thậm chí tiếc nuối
về những việc trong quá khứ. Nhưng ta không phải là sai lầm của mình, ta không
phải là khó khăn của mình, và ngay lúc này đây, ta có trong tay sức mạnh để xây
dựng nên hiện tại và tương lai của chính mình. Mỗi một điều từng xảy ra trong
cuộc sống của mình đều góp phần chuẩn bị cho mình đón nhận một khoảnh khắc mới
chưa đến.
9. Đừng cố công mua hạnh phúc.
Nhiều thứ chúng ta mong mỏi có được có giá đắt. Nhưng sự thật
là, những gì thực sự khiến chúng ta hài lòng lại hoàn toàn miễn phí – đó là
tình yêu, là tiếng cười, và là những giây phút miệt mài theo đuổi đam mê của
mình.
10. Đừng tìm kiếm hạnh phúc ở người khác.
Nếu mình không cảm thấy hạnh phúc với chính con người bên trong
của mình, thì mình sẽ chẳng thể nào có được hạnh phúc lâu dài với bất kỳ người
nào khác. Ta phải tạo ra sự ổn định trong cuộc sống của mình trước rồi mới nghĩ
tới chuyện chia sẻ cuộc sống đó với người khác được.
11. Đừng lười nhác.
Đừng nghĩ ngợi quá nhiều, bởi có thể ta sẽ tạo ra một rắc rối
không đáng có. Hãy đánh giá tình hình và đưa ra hành động dứt khoát. Ta không
thể thay đổi điều mà mình không muốn đối mặt. Tiến bộ bao hàm rủi ro. Chấm hết!
Ta không thể đứng một chỗ mà hy vọng mình sẽ tới được đích.
12. Đừng nghĩ rằng mình chưa sẵn sàng.
Khi một cơ hội xuất hiện, không có ai cảm thấy mình đã sẵn sàng
100% để đón nhận nó. Bởi vì phần lớn những cơ hội lớn lao trong cuộc đời đều
đòi hỏi chúng ta phải phát triển vượt quá “vùng thoải mái” của mình – điều này
có nghĩa là ban đầu, chúng ta sẽ không cảm thấy hoàn toàn thoải mái.
13. Đừng tham gia vào các mối quan hệ vì những lý do sai
lầm.
Cần phải lựa chọn các mối quan hệ một cách khôn ngoan. Ở một
mình còn tốt hơn là giao tiếp với người xấu. Ta không cần phải vội vàng. Điều
gì phải đến, sẽ đến – và nó sẽ đến đúng lúc, với đúng người, và vì lý do tốt
đẹp nhất. Hãy yêu khi mình đã sẵn sàng, chứ đừng yêu khi mình cảm thấy cô đơn.
14. Đừng từ chối những mối quan hệ mới chỉ bởi vì các mối quan
hệ cũ không đem lại kết quả tốt đẹp.
Trong cuộc sống, rồi ta sẽ nhận ra rằng mỗi người ta gặp đều có
ý nghĩa riêng cho bản thân mình . Một số người sẽ thử thách mình,
một số người sẽ lợi dụng ta, và một số khác sẽ dạy dỗ mình . Nhưng điều quan
trọng nhất là, một số người sẽ giúp mình thể hiện được khía cạnh tốt đẹp nhất
của mình.
15. Đừng cố cạnh tranh với tất cả mọi người.
Đừng lo lắng khi thấy người khác giỏi hơn mình. Hãy tập trung
vào việc “phá kỷ lục” của chính mình mỗi ngày. Thành công chỉ là một cuộc chiến
giữa TA và BẢN THÂN TA mà thôi.
16. Đừng ghen tị với người khác.
Ghen tị là hành động đếm các “điểm cộng” của người khác thay vì
đếm các “điểm cộng” của mình. Hãy tự hỏi bản thân mình câu này: “Mình có điểm
gì mà ai cũng mong có?”
17. Đừng than vãn và tự thương hại bản thân.
Các khó khăn xuất hiện trong cuộc sống đều có lý do riêng của
chúng – nhằm hướng ta theo một cung đường phù hợp cho mình. Có thể khi khó khăn
xuất hiện, ta sẽ không nhận thấy hay không hiểu được điều đó, và có thể đó là
một trải nghiệm khó khăn.
Nhưng ta hãy thử nghĩ về những khó khăn mình đã trải qua trong
quá khứ mà xem. Ta sẽ thấy rằng, cuối cùng, chúng đã hướng ta tới một địa điểm
tốt hơn, trở thành một con người tốt hơn, có tâm trạng hay hoàn cảnh tích cực
hơn. Vì thế, hãy cười lên! Hãy cho mọi người thấy rằng mình của ngày hôm nay
mạnh mẽ gấp nhiều lần so với mình của ngày hôm qua – và mình sẽ là như thế.
18. Đừng giữ mãi những hằn học.
Đừng sống với niềm oán ghét trong tim. Ta sẽ khiến mình đau khổ
hơn so với những gì mà người mà mình căm ghét có thể làm với mình. Tha thứ
không phải là nói: “Những gì anh đã làm với tôi là chấp nhận được”, mà là: “Tôi
sẽ không để hạnh phúc của mình bị hủy hoại vĩnh viễn bởi những gì anh đã làm
với tôi”. Tha thứ là câu trả lời… hãy buông ra đi, hãy tìm kiếm sự thanh thản
trong tâm hồn, hãy giải phóng bản thân mình! Và hãy nhớ, tha thứ
không chỉ vì người khác, mà còn vì chính mình nữa đấy. Hãy tha thứ cho bản thân
mình, hãy tiếp tục cuộc sống, và cố gắng làm tốt hơn trong tương lai.
19. Đừng để người khác kéo mình xuống vị trí
ngang bằng với họ.
Đừng hạ thấp các tiêu chuẩn của mình để thích nghi với những
người không chịu nâng cao các tiêu chuẩn của họ.
20. Đừng lãng phí thời gian giải thích bản thân cho người khác.
Bạn bè ta sẽ không cần mình phải giải thích gì
cả, còn với kẻ thù, thì dù ta có giải thích bao nhiêu họ cũng chẳng tin đâu.
Hãy cứ làm những gì mà thâm tâm mình biết là đúng.
21. Đừng miệt mài làm đi làm lại một việc mà không có “khoảng
ngừng”.
Thời điểm phù hợp để mình hít một hơi thật sâu là khi mình không
có thời gian cho việc đó. Nếu mình tiếp tục làm những gì mình đang làm, thì
mình sẽ tiếp tục nhận được những gì mà mình đang nhận được. Đôi khi mình cần
phải tạo ra cho mình một khoảng cách để có thể nhìn nhận sự việc một cách rõ
ràng.
22. Đừng bỏ qua điều kỳ diệu của những khoảnh khắc nhỏ
nhoi.
Hãy tận hưởng những điều nhỏ nhặt, bởi vì biết đâu một ngày nào
đó, ta sẽ ngoảnh nhìn lại để rồi nhận ra rằng chúng là những điều lớn lao. Phần
tốt đẹp nhất trong cuộc sống của mình sẽ là những khoảnh khắc nhỏ bé không tên
khi mình dành thời gian mỉm cười với ai đó quan trọng đối với mình.
23. Đừng cố làm mọi thứ trở nên hoàn hảo.
Thế giới thực không vinh danh những người cầu toàn; nó sẽ trao
phần thưởng cho những người hoàn thành công việc.
24. Đừng đi theo con đường ít bị cản trở nhất.
Cuộc sống không dễ dàng, nhất là khi mình lên kế hoạch đạt được
điều gì đó có giá trị. Đừng chọn con đường đi dễ dàng. Hãy làm điều gì đó phi
thường.
25. Đừng hành động như thể mọi việc đều tốt đẹp trong khi thực
tế không phải như vậy.
Suy sụp một lát cũng không sao. Ta không nhất thiết lúc nào cũng
phải tỏ ra mạnh mẽ, và cũng không cần phải liên tục chứng minh rằng mọi việc
đều diễn ra tốt đẹp. Ta cũng không nên lo lắng về chuyện người khác đang nghĩ
gì – hãy khóc nếu mình cần khóc – điều đó cũng tốt cho sức khỏe của mình mà.
Càng khóc sớm, ta càng sớm có khả năng mỉm cười trở lại.
26. Đừng đổ lỗi cho người khác về các rắc rối của mình.
Khả năng thực hiện được ước mơ của mình tỉ lệ thuận với khả năng
ta tự nhận trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Khi trách cứ người khác vì những
gì ta đang trải qua, nghĩa là mình đang chối bỏ trách nhiệm – ta đang trao cho
người khác quyền kiểm soát phần cuộc sống đó của mình.
27. Đừng cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người.
Đó là điều không thể xảy ra, và nếu mình cứ cố công làm như vậy,
ta sẽ kiệt sức mất thôi. Nhưng làm cho một người mỉm cười cũng có thể thay đổi
cả thế giới. Có thể không phải là toàn bộ thế giới, mà chỉ là thế giới của
riêng người đó thôi. Vì thế, hãy thu hẹp sự tập trung của mình lại.
28. Đừng lo lắng quá nhiều.
Lo lắng sẽ không giúp giải thoát các gánh nặng của ngày mai,
nhưng nó sẽ tước bỏ đi niềm vui của ngày hôm nay. Một cách để mình có thể kiểm
tra xem có nên mất công suy nghĩ về điều gì đó hay không là tự đặt ra cho mình
câu hỏi này: “Điều này có quan trọng gì nữa không trong một năm tiếp theo? Ba
năm tiếp theo? Năm năm tiếp theo?”. Nếu câu trả lời là không, thì nó không đáng
để mình bận tâm đâu.
29. Đừng tập trung vào những gì mình không mong muốn
xảy ra.
Hãy tập trung vào những gì ta thực sự muốn xảy ra. Suy nghĩ tích
cực là “tiền đồn” cho mọi thành công vĩ đại. Nếu mỗi sáng ta thức dậy với tâm
niệm rằng ngày hôm nay sẽ có điều tuyệt vời xảy ra trong cuộc sống của mình, và
mình để tâm chú ý, thì rồi thường là mình sẽ nhận thấy rằng niềm tin của mình
là đúng.
30. Đừng là người vô ơn.
Dù ta đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi ngày
với niềm biết ơn cuộc sống của mình. Ở nơi nào đó, người khác đang đấu tranh
trong tuyệt vọng để giành giật lấy cuộc sống của họ. Thay vì nghĩ về những gì
ta không có, hãy nghĩ về những gì ta đang có mà người khác không có.
10 ĐIỀU
TUYỆT ĐỐI KHÔNG NÊN LÀM TRONG CUỘC SỐNG.
Trong cuộc sống, đôi khi vì quá vội vàng hoặc tùy tiện, chúng ta
vô tình hay hữu ý để lại những tổn thương, khó chịu cho người khác. 10 lời
khuyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp mình sống tốt hơn trong cuộc đời này.
1. Ta không nên đánh giá sự tốt, xấu của gia đình khác. Bởi cuộc
sống của họ chẳng liên quan gì đến mình cả.
2. Ta cũng không nên nhận xét hay đánh giá sự tốt xấu của
người khác. Bởi tất cả sự đánh giá đều chỉ là tương đối. Ở khía cạnh này có thể
đó là xấu, nhưng nhìn ở khía cạnh khác thì họ lại là người rất tốt. Hơn nữa,
đôi khi những cái nhìn thấy chưa chắc đã là sự thật.
3. Không nên đưa ra nhận xét về bất cứ ai, du cho đó là người ta ghét cay ghét đắng. Bởi những nhận xét đó có thể làm xấu đi hình ảnh của mình.
4. Dù ta kiếm được nhiều tiền cũng trớ nên tiêu pha một cách vô
tội vạ. Bởi có thể hôm nay ta nhiều tiền nhưng ngày mai chưa chắc tiền vẫn là
của mình.
5. Không được “đâm sau lưng” người khác. Điều đó có thể sẽ lặp
lại với chính mình.
6. Dù ta đang thăng tiến nhanh chóng, danh vọng tiền tài viên
mãn cũng không nên tự mãn. Bởi nếu ngày sau ta thất thế, đó là cơ hội để người
khác coi thường mình .
7. Ta không nên ỉ lại vào người khác. Cuộc sống của ai cũng đã
quá nhiều áp lực và mệt mỏi rồi. Hãy dành cho nhau những phút giây thư giãn
thoải mái, nhẹ nhàng.
8. Ta không nên nổi nóng hay giận dữ bất cứ ai bởi nó sẽ khiến
những người xung quanh tránh xa mình .
9. Cho dù là người có tài, ta cũng không nên khoe khoang tự mãn.
Bởi khiêm tốn, tự hạ mình xuống một chút là cách để mình nâng giá trị của bản
thân lên rất nhiều.
10. Không bao giờ được nhận xét về đức hạnh của người khác bởi
chưa chắc ta đã hiểu hết về con người của họ.
ĐỪNG CÁC CON NHÉ
Dù con đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi
ngày với niềm biết ơn cuộc sống của mình.
1. Đừng mất thời gian với những kẻ là ngợm.
Cuộc sống quá ngắn ngủi, con không nên dành thời gian với những
kẻ chỉ biết “hút cạn” nguồn hạnh phúc của mình. Nếu ai đó muốn con có mặt trong
cuộc sống của họ, họ sẽ tự dành ra chỗ cho con. Con không phải đấu tranh để
giành giật lấy một vị trí nào cả.
Đừng bao giờ ép mình vào mối quan hệ với những kẻ coi thường giá
trị của con. Và hãy nhớ, những người bạn thật sự của con không phải là những
người ở bên cạnh khi con thành công, mà là những người ở bên cạnh khi con gặp
khó khăn.
2. Đừng chạy trốn các rắc rối của mình
Tuy đây không phải là việc dễ dàng, nhưng con hãy đối diện với
chúng. Không ai có khả năng xử lý hoàn hảo mọi vấn đề họ gặp phải. Người ta
cũng không thể ngay lập tức mà giải quyết trọn vẹn một khó khăn.
Trên thực tế, người ta sinh ra phải đương đầu với : thất
vọng, buồn chán, đau khổ và vấp ngã. … Bởi vì đối mặt với vấn đề, làm cho ta
phải: học hỏi, thích nghi, và xử lý chúng. Chính điều này đã rèn luyện người ta
trở thành con người hoàn chỉnh hơn.
3. Đừng nói dối bản thân mình.
Con có thể nói dối người khác ( lưu ý là có thể), nhưng con
không thể nói dối chính bản thân mình. Cuộc sống của con chỉ tiến bộ khi
con nắm bắt được các cơ hội. Cơ hội đầu tiên cũng là khó khăn nhất mà con có
thể nắm bắt lấy là trung thực với chính mình.
4. Đừng gác lại các nhu cầu của bản thân
Điều đau đớn nhất là vì yêu người khác quá mà đánh mất bản thân
mình, và quên mất rằng mình cũng là người bình thường .Ừ : giúp đỡ người
khác nên làm ; nhưng con phải ưu tiên giúp đỡ chính mình trước chứ. Nếu có giây
phút nào dành cho con để theo đuổi đam mê và làm điều gì đó quan trọng với
mình, thì giây phút đó chính là ngay lúc này đây.
5. Đừng cố gắng làm người khác
Một trong những thách thức lớn nhất trong cuộc sống là làm chính
mình trong một thế giới cứ chực biến con thành người giống như mọi người khác.
Lúc nào cũng sẽ có người xinh đẹp hơn con, thông minh hơn con, trẻ trung hơn
con, nhưng họ sẽ không bao giờ là con cả. Đừng thay đổi để mong người khác
thích mình. Hãy là chính mình, và sẽ có người yêu con người thật của con.
6. Đừng bận tâm với quá khứ
Con không thể bắt đầu một chương mới trong cuộc đời nếu cứ đọc
đi đọc lại chương cũ.
7. Đừng sợ mắc sai lầm
Làm việc gì đó rồi mắc sai lầm còn hiệu quả gấp 10 lần so với
không làm gì cả. Mỗi thành công đều có một vệt dài những thất bại đằng sau nó,
và mỗi thất bại đều dẫn đường tới thành công. Suy cho cùng, con sẽ hối hận về
những điều mình không làm nhiều hơn là về những điều mình đã làm.
8. Đừng trách móc bản thân vì những sai lầm đã qua
Có thể chúng ta yêu nhầm người và đau khổ về những điều không
xứng đáng, nhưng dù mọi việc có tồi tệ tới mức nào, thì cũng có một điều chắc
chắn: sai lầm giúp chúng ta tìm được đúng người, đúng thứ phù hợp với chúng ta.
Chúng ta ai cũng có những sai lầm, khó khăn, thậm chí cả những
hối tiếc trong quá khứ. Nhưng con không phải là sai lầm, khó khăn của mình, và
ngay lúc này đây con có trong tay một sức mạnh để xây dựng hiện tại và tương
lai của mình. Mỗi một điều từng xảy ra trong cuộc sống của con đều góp phần
chuẩn bị cho con đón nhận một khoảnh khắc mới chưa đến.
9. Đừng cố công mua hạnh phúc
Nhiều thứ chúng ta mong mỏi có được có giá đắt. Nhưng sự thật
là, những gì thực sự khiến chúng ta hài lòng lại hoàn toàn miễn phí – đó là
tình yêu, là tiếng cười, và là những giây phút miệt mài theo đuổi đam mê của
mình.
10. Đừng tìm kiếm hạnh phúc ở người khác
Nếu con không cảm thấy hạnh phúc với chính con người bên trong
của mình, thì con sẽ chẳng thể nào có được hạnh phúc lâu dài với bất kỳ người
nào khác. con phải tạo ra sự ổn định trong cuộc sống của mình trước rồi mới
nghĩ tới chuyện chia sẻ cuộc sống đó với người khác được.
11. Đừng lười nhác
Đừng nghĩ ngợi quá nhiều, bởi có thể con sẽ tạo ra một rắc rối
không đáng có. Hãy đánh giá tình hình và đưa ra hành động dứt khoát. con không
thể thay đổi điều mà mình không muốn đối mặt. Tiến bộ bao hàm rủi ro. Chấm hết!
con không thể đứng một chỗ mà hy vọng mình sẽ tới được đích.
12. Đừng nghĩ rằng mình chưa sẵn sàng
Khi một cơ hội xuất hiện, không có ai cảm thấy mình đã sẵn sàng
100% để đón nhận nó. Bởi vì phần lớn những cơ hội lớn lao trong cuộc đời đều
đòi hỏi chúng ta phải phát triển vượt quá “vùng thoải mái” của mình – điều này
có nghĩa là ban đầu, chúng ta sẽ không cảm thấy hoàn toàn thoải mái.
13. Đừng tham gia vào
các mối quan hệ vì những lý do sai lầm
Cần phải lựa chọn các mối quan hệ một cách khôn ngoan. Ở một
mình còn tốt hơn là giao tiếp với người xấu. con không cần phải vội vàng. Điều
gì phải đến, sẽ đến – và nó sẽ đến đúng lúc, với đúng người, và vì lý do tốt
đẹp nhất. Hãy yêu khi con đã sẵn sàng, chứ đừng yêu khi con cảm thấy cô đơn.
14. Đừng từ chối những mối quan hệ mới
Trong cuộc sống rồi con sẽ nhận ra rằng mỗi người con gặp đều có
một ý nghĩa, mục đích riêng cho bản thân con. Một số người sẽ thử thách con,
một số sẽ lợi dụng con và một số sẽ cho con những bài học. Nhưng điều quan
trọng nhất là một số người sẽ giúp con thể hiện khía cạnh tốt nhất của mình.
15. Đừng cố cạnh tranh với tất cả mọi người
Đừng lo lắng khi mọi người giỏi hơn con. Hãy tập trung vào việc
phá kỷ lục của mình mỗi ngày. Thành công là một trận chiến chỉ duy nhất có con
và bản thân mình mà thôi.
16. Đừng ghen tị với người khác
Ghen tị là hành động “đếm” hạnh phúc, may mắn của người khác
thay vì của con. Hãy tự hỏi bản thân câu: “Mình có những điều gì mà ai cũng
mong muốn có?”.
17. Đừng than vãn và tự thương hại bản thân
Các khó khăn xuất hiện trong cuộc sống đều có lý do riêng của
chúng và tất cả đều hướng con theo một cung đường phù hợp cho bản thân. Có thể
con sẽ không nhìn thấy cũng như thấu hiểu mọi thứ vào thời điểm xảy ra.
Tuy nhiên hãy nhìn lại những khó khăn mà con đã trải qua trong
quá khứ, con sẽ thấy chúng dẫn mình tới những nơi tốt hơn, trở thành con người
tốt hơn, có tâm trạng và hoàn cảnh tốt hơn. Vì thế, hãy cười lên! Hãy cho mọi
người biết rằng con của ngày hôm nay sẽ mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần so với con
của ngày hôm qua – và con sẽ luôn là như thế.
18. Đừng giữ mãi những hằn học
Đừng sống với những điều mà con ghét. con sẽ tự làm đau bản thân
mình hơn là việc những người con ghét đã làm. Tha thứ không phải là việc nói:
“Những gì bạn đã làm thì ổn đối với tôi”, mà là nói: “Tôi sẽ không để hạnh phúc
của mình bị hủy hoại bởi những gì mà anh đã gây ra cho tôi”.
Tha thứ là câu trả lời cho việc hãy buông tay, đi tìm bình an và
giải phóng bản thân con. Và hãy nhớ, tha thứ không chỉ dành cho người khác, nó
còn dành cho chính con. Hãy tha thứ cho bản thân, tiếp tục sống và cố gắng hơn
nữa trong tương lai.
19. Đừng để người khác kéo con xuống vị trí ngang cùng với họ
Đừng hạ thấp các tiêu chuẩn của mình để thích nghi với những
người không chịu nâng cao các tiêu chuẩn của họ.
20. Đừng lãng phí thời gian giải thích bản thân cho người khác
Bạn bè không cần điều đó và kẻ thù của con cũng không tin vào
những điều mà con giải thích. Hãy làm những gì mà trái tim con mách bảo là
đúng.
21. Đừng miệt mài làm đi làm lại một việc mà không có “khoảng
ngừng”
Thời điểm phù hợp để con hít một hơi thật sâu là khi con không
có thời gian cho việc đó. Nếu con tiếp tục làm những gì mình đang làm, thì con
sẽ tiếp tục nhận được những gì mà con đang nhận được. Đôi khi con cần phải tạo
ra cho mình một khoảng cách để có thể nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng.
22. Đừng bỏ qua điều kỳ diệu của những khoảnh khắc nhỏ nhoi
Hãy tận hưởng những điều nhỏ nhoi nhất, bởi biết đâu một ngày
nào đó nhìn lại con sẽ thấy đó là điều vô cùng ý nghĩa với mình. Phần tốt đẹp
nhất trong cuộc sống của con sẽ là những khoảnh khắc nhỏ bé, không tên mà con
dành để mỉm cười cùng với ai đó qua trọng với con.
23. Đừng cố làm mọi thứ trở nên hoàn hảo
Thế giới thực không vinh danh những người cầu toàn; nó sẽ trao
phần thưởng cho những người hoàn thành công việc.
24. Đừng đi theo con đường ít bị cản trở nhất
Cuộc sống không dễ dàng, nhất là khi con lên kế hoạch đạt được
mục đích to lớn nào đó trong cuộc sống. Đừng đi con đường dễ nhất, hãy làm
những gì đó khác biệt, phi thường.
25. Đừng hành động như thể mọi việc đều tốt đẹp trong khi thực
tế không phải như vậy
Suy sụp một lát cũng không sao. con không phải tỏ ra lúc nào
cũng mạnh mẽ và không cần chứng minh rằng mọi thứ rồi sẽ ổn thôi. con không cần
quan tâm tới những gì mà người khác đang nghĩ – hãy khóc nếu con thấy cần –
điều đó cũng tốt cho tâm lý, sức khỏe của con. Nếu con càng giải tỏa sớm, nụ
cười sẽ càng có khả năng quay trở lại với con sớm hơn.
26. Đừng đổ lỗi cho người khác về rắc rối của con
Khả năng thực hiện được ước mơ của con tỉ lệ thuận với khả năng
con tự nhận trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Khi trách cứ người khác vì
những gì con đang trải qua, nghĩa là con đang chối bỏ trách nhiệm – con đang
trao cho người khác quyền kiểm soát phần cuộc sống đó của mình.
27. Đừng cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người
Đó là điều không thể xảy ra, và nếu con cứ cố công làm như vậy,
con sẽ kiệt sức. Nhưng làm cho một người mỉm cười cũng có thể thay đổi cả thế
giới. Có thể không phải là toàn bộ thế giới, mà chỉ là thế giới của riêng người
đó thôi. Vì thế, hãy thu hẹp sự tập trung của mình lại.
28. Đừng lo lắng quá nhiều
Lo lắng sẽ không giúp giải thoát các gánh nặng của ngày mai,
nhưng nó sẽ tước bỏ đi niềm vui của ngày hôm nay. Một cách để con có thể kiểm
tra xem có nên mất công suy nghĩ về điều gì đó hay không là tự đặt ra cho mình
câu hỏi này: “Điều này có quan trọng gì nữa không trong một năm tiếp theo? Ba
năm tiếp theo? Năm năm tiếp theo?”. Nếu câu trả lời là không, thì nó không đáng
để con bận tâm đâu.
29. Đừng tập trung vào những gì con không mong muốn xảy ra
Hãy tập trung vào những gì con thực sự muốn xảy ra. Suy nghĩ
tích cực là “tiền đề” cho mọi thành công vĩ đại. Nếu mỗi sáng con thức dậy với
tâm niệm rằng ngày hôm nay sẽ có điều tuyệt vời xảy ra trong cuộc sống của
mình, và con để tâm chú ý, thì rồi thường là con sẽ nhận thấy rằng niềm tin của
mình là đúng.
30. Đừng là người vô ơn
Dù con đang ở hoàn cảnh tốt đẹp hay tồi tệ, hãy thức dậy mỗi
ngày với niềm biết ơn cuộc sống của mình. Ở nơi nào đó, người khác đang đấu
tranh trong tuyệt vọng để giành giật lấy cuộc sống của họ. Thay vì nghĩ về
những gì con không có, hãy nghĩ về những gì con đang có mà người khác không có

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét