KINH NGHIỆM
Kinh
nghiệm hay trải nghiệm, là tri thức hay sự thông thạo về một sự kiện hay một chủ
đề có được thông qua tham gia sự can dự hay tiếp xúc trực tiếp. Trong triết học,
những thuật ngữ như "tri thức thực chứng" hay "tri thức tiên
nghiệm," được dùng để chỉ tri thức có được dựa trên kinh nghiệm.
"Kinh nghiệm" và "trải nghiệm" còn được dùng như là động từ.
Kinh: trải qua, từng qua.
Nghiệm:
ngẫm, suy xét hay chứng thực.
Kinh nghiệm: đã nghiệm qua
Các loại kinh nghiệm
Trải
nghiệm là tiến trình hay là quá trình hoạt động năng động để thu thập kinh nghiệm,
trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập
được những bình luận, nhận định, rút tỉa tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng,
còn tùy theo nhiều yếu tố khác như môi trường sống và tâm địa mỗi người. Trải
nghiệm có thể nói tới cái gì mập mờ, cả tinh thần không xử lý ngay sự kiện tiếp
thu như trí tuệ đạt được trong phản hồi của những sự kiện đó hoặc thông dịch
chúng.
Ngay từ khi xuất hiện, để tồn tại con người phải lao động. Cùng với lao động con người nhận thức thế giới xung quanh. Nhận thức trước hết đển thích ứng, tồn tại cùng với môi trường, sau đó để vận dụng những điều đã biết vào cuộc sống làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn. Quá trình nhận thức của con người được thực hiện với nhiều trình độ, bằng các phương thức khác nhau và tạo ra hai hệ thống trí thức về thế giới:
- Tri thức thông thường
Trong cuộc sống đời thường, con người tiếp xúc vơi thiên nhiên, với xã hội, phải giải quyết những công việc thực tế hàng ngày. Bằng các tri giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản thân, về thế giaois xã hội xung quanh, từ đó mà có kinh nghiệm sống, những hiểu biết mọi mặt. Đó chính là tri thức thông thường. Tri thức tông thường được tạo ra từ phép quy nập đơn giản, không có mô hình lý thuyết. Do vậy, nó chưa chỉ ra được bản chất bên trong, chưa phát triển được các quy luật của những sự vật, hiện tượng, hiện tượng và chưa thành một hệ thống vững chắc.
- Tri thức khoa học
Sự
phát triện của lao động sản xuất và hoạt động xã hội là nguyên nhân khiến con
người phải đi sâu nghiên cứu đầy đủ hơn về thế giới và tìm hiểu khả năng nhận
thức của chính mình.
Tri
thức khoa học là hệ thống trí thức khái quát về các sự vật, hiện tượng của thế
giới và các quy luật vận động của chúng. Đây là hệ thống tri thức được xác lập
trên căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra được và có tính ứng dụng.
Tri thức kho học và tri thức thông thường tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tri thức khoa học có thể xuất phát từ tri thức thông thường, theo gợi ý của những hiểu biết thông thường để tiến hành những nghiên cứu một cách sâu sắc. Tuy nhiên tri thức khoa học không phải là tri thức thông thường được hệ thống hóa lại hay những tri thức thông thường được hoàn thiện. Tri thức khoa học là kết quả của hoạt động nghiên của khoa học đặc biệt.
Tất
cả những người khoảng 40, 50 đều có một lúc nào đó nghĩ đến câu này: “Làm sao
mà mình có thể truyền các kinh nghiệm của mình cho em cháu, các cô cậu nhỏ, để
các cô cậu không làm những lầm lỗi mình đã làm nhỉ?”
Câu
trả lời là chẳng có cách nào cả.
Tại
sao ta không thể truyền kinh nghiệm cho nhau được?
Thưa,
vì truyền thì phải truyền bằng ngôn từ, chữ nghĩa, mà ngôn từ chữ nghĩa thì
cùng lắm cũng chỉ chuyển tải được chừng 1/10 của kinh nghiệm. (Ngoại trừ trong
phim Dune, các nữ phù thủy có thể cầm tay nhau để truyền cho nhau kiến thức và
kinh nghiệm, kể cả hình ảnh và cảm xúc, như chính người được truyền đang trực
nghiệm 100%. Nhưng đó là movie, Chúng ta )
Vi dụ, mắm tôm. Làm thế nào chúng ta có thể truyền kinh nghiệm mắm tôm mùi vị thế nào cho một người Ý đại lợi, ngoại trừ việc cho hắn nếm thử một ít mắm tôm, tức là cho hắn tự trực nghiệm mắm tôm?
Hay
là sầu riêng?
Hay
là giải thích cho các em bé dưới tuổi dậy thì yêu là gì?
Hay
các cô cậu 17, 18 đang yêu say đắm, làm sao có thể giải thích cho bố mẹ hiểu “Nếu
con không có anh ấy (cố ấy) con chắc chắn là sẽ phải chết thôi”?
Kinh
nghiệm là điều khó thậm trí không thể chuyển tải toàn phần, cùng lắm chỉ là 5/10
có thể chuyển tải qua ngôn ngữ. Kinh nghiệm chỉ có thể có được qua trực nghiệm.
Chẳng có cách nào khác.
Và
kinh nghiệm không chỉ là kinh nghiệm, kinh nghiệm chính là kiến thức. Chỉ có
kinh nghiệm về ăn mắm tôm mới cho ta kiến thức mắm tôm mùi vị thế nào. Chỉ có
kinh nghiệm về tình yêu mới cho ta kiến thức tình yêu vui sướng và đau khổ thế
nào. Không có kinh nghiệm về mắm tôm thì không có kiến thức về mắm tôm, không
có kinh nghiệm về tình yêu thì không có kiến thức về tình yêu.
Cho
nên Chúng ta, cách hầu như là duy nhất để có kiến thức thật là trực nghiệm, tức
là “go out and do something”, đi ra ngoài và làm gì đó.
Tham dự và các hoạt động sinh viên trong các sinh hoạt cộng đồng,hăm người nghèo, xây nhà tình thương, thăm người bệnh, vận động chương trình gì đó,để có kiến thức về người nghèo, người già, người bệnh, bệnh viện, phương pháp vận động quần chúng…
Càng
trực nghiệm nhiều trong các sinh hoạt xã hội ngoài gia đình kiến thức Chúng ta
càng nhiều. Đừng ngồi nhà ôm mấy quyển sách cả ngày. Hai người cùng một IQ
ngang nhau có thể đọc cùng một quyển sách và tiếp thu hoàn toàn khác nhau. Người
có nhiều kinh nghiệm sẽ tiếp thu bằng 10 lần người ít kinh nghiệm.
Có
một câu giản dị trong Thánh kinh mà mình tốn nhiều năm mới nắm vững được, là
“Ai có sẽ được cho thêm và sẽ có rất nhiều. Ai không có, thì cả cái họ có cũng
sẽ bị lấy mất”. Đoạn này nói về kiến thức về các vấn đề sâu thẳm tâm linh.
Như
là học toán, biết phương trình bậc 1 thì có thể lên đến bậc 2 và bao nhiêu bậc
khác sau này nếu ta muốn. Nhưng nếu không biết cả toán cộng toán trừ thì chẳng
“có” thêm toán được. Hiểu được Vô Thường thì may ra có lúc sẽ hiểu Không là gì,
Phật là gì. Không hiểu Vô Thường thì chẳng thế hiểu Không hay Phật, dù có đọc
Bát Nhã Tâm Kinh 1 triệu lần.
Người
có nhiều kinh nghiệm, đọc sách có thể đọc một hiểu 10, đôi khi đọc còn hiểu hơn
là cả tác giả quyển sách. Ví dụ: Đọc một đoạn, thấy tác giả viết câu này có vẻ
như không đúng với kinh nghiệm sống của mình, nghiên cứu thêm thì ta lại có thể
khám phá ra cả một lý thuyết mới về vấn đề tác giả đã đề cập. Nhưng người thiếu
kiến thức trực nghiệm thì đọc sách thường là hiểu không hết, hoặc hiểu rất sai
điều sách nói.
Càng có nhiều kinh nghiệm ở đời, Chúng ta càng hiểu sâu sắc về các môn học và vấn đề liên hệ đến cuộc đời, dù đó là kinh tế, xã hội, chính trị, kinh doanh, tâm lý hay y tế.
Một
năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một người
cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến
động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực
khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người
học cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những
tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới.
Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm được giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp. Khả năng đáp ứng phù hợp với bối cảnh thực là đặc trưng quan trọng của năng lực, tuy nhiên, khả năng đó có được lại dựa trên sự đồng hóa và sử dụng có cân nhắc những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Những
kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là những kiến thức mà
người học phải năng động, tự kiến tạo, huy động được. Việc hình thành và rèn
luyện năng lực được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, trong đó các năng lực có
trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới; và đến lượt mình, kiến thức mới lại
đặt ra cơ sở để hình thành những năng lực mới.
Kĩ
năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến
thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môi trường
quen thuộc. Kĩ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu
biết và trải nghiệm,... giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi.
Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong mỗi lĩnh vực hoạt động nào đó. Không thể có năng lực về toán nếu không có kiến thức và được thực hành, luyện tập trong những dạng bài toán khác nhau. Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi.
Con Cháu Ta đã khi nào nghe : Đường
cong kinh nghiệm chưa ?
Đường
cong kinh nghiệm (tiếng Anh: Experience Curve) là một hiện tượng kinh tế dẫn đến
sai lệch dự toán ngân sách.
Đường cong kinh nghiệm là một hiện tượng kinh tế dẫn đến sai lệch dự toán. Đây chính là hiện tượng hiệu suất con người luôn luôn cải thiện khi một công việc được lặp lại. Cụ thể hơn mỗi lần sản lượng tăng gấp đôi, số giờ lao động giảm xuống theo một tỉ lệ phần trăm cố định của giá trị trước đó. Phần trăm đó được gọi là tỉ lệ kinh nghiệm.
Ví dụ về đường cong kinh nghiệm
Nếu
một cá nhân cần 10 phút để hoàn thành một nhiệm vụ nhất định trong lần đầu tiên
và chỉ cần 8 phút trong lần thứ hai, người ta gọi người đo có một tỉ lệ kinh
nghiệm 80%. Nêí sảm lượng tăng gấp đôi một lần nữa từ hai lên bốn, chúng ta sẽ
kì vọng một sản phẩm thứ tư được sản xuất trong 8 x (0.8) = 6,4 phút...
Thời
gian cần để sản xuất một đơn vị sản xuất tuân theo một công thức:
Tn
= T1 x nr
Trong
đóL
-
Tn: thời gian cần cho đơn vị sản phẩm thứ n
-
T1: thời gian cần cho đơn vị sản phẩm đầu tiên
-
n: Số đơn vị cần được sản xuất
-
r: Logarit thập phân của tỉ lệ kinh nghiệm/lg2.
Tổng
thời gian cần cho toàn bộ số đơn vị của một lần sản xuất với qui mô N là: ff
Hãy
xem xét một ví dụ để làm rõ tác động của hiện tượng đường cong kinh nghiệm
trong ước tính chi phí: Một dự án cần phải lắp ráp 25 thiết bị điện tử phức tạp.
Kinh nghiệm cho thấy cần khoảng 70 giờ lao động trực tiếp cho mỗi thiết bị. Nếu
người lao động được trả với mức lương 12 USD mỗi giờ và nếu lợi nhuận bằng 28%
tiền lương, chi phí lao động cho 25 đơn vị là:
(1,28)
x (12USD/giờ) x (25 đơn vị) x (70 giờ/ đơn vị) = 26,880 USD
Tuy
nhiên ước tính này đã bỏ qua hiện tượng đường cong kinh nghiệm. Nghiên cứu trước
đây đã xác định tỉ lệ kinh nghiệm cho những người lắp ráp trong nhà máy này khoảng
85% và khi đến một tỉ lệ ổn định là 70 giờ.
Chúng
ta có thể dự đoán thời gian cần thiết cho đơn vị đầu tiên bằng cách cho
Tn
= 70 giờ tại đơn vị n = 20
Khi
đó có
r
= (log 0,85) / (log2) = -0,1226 / 0,693 = -0,235
và
70
= T1 20
T1
= 141,3 giờ.
Bây
giờ, sử dụng một bảng tính biểu diễn tổng số nhân có thể tìm được tổng số nhân
cho 20 đơn vị với một tỉ lệ kinh nghiệm 85% là 12,40. Và do đó tổng thời gian cần
để lắp ráp 20 đơn vị là:
(12,40)
x (141,3 giờ) = 1.752,12 giờ.
Năm
đơn vị cuối cùng được sản xuất thời gian tương đối ổn định là 70 giờ trên mỗi
đơn vị. Vì vậy, tổng thời gian lắp ráp là:
1.752,12
+ 5 x 70 giờ = 2.102,12 giờ.
Đến
đây, có thể tính lại chi phí lao động trực tiếp:
2.102,12
x (12USD) x (1,28) = 32.288,56 USD
Như vậy, nếu bỏ qua ảnh hưởng của đường cong kinh nghiệm, dự đoán thấp hơn chi phí thực một khoản là 32.288,56 USD - 26.880 USD = 5.408,56 USD hay khoảng 17%. (Theo Giáo trình Kiểm soát, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân)
Chủ
nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy nghiệm (Empiricism) là một khuynh hướng lý
thuyết về tri thức triết học với đặc điểm nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm. Trải
nghiệm có thể được hiểu là bao gồm tất cả các nội dung của ý thức hoặc nó có thể
được giới hạn trong dữ liệu của các giác quan mà thôi.
Chủ nghĩa kinh nghiệm nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt thử nghiệm có chủ ý. Một yêu cầu căn bản của phương pháp khoa học là tất cả các giả thuyết và lý thuyết đều phải được kiểm nghiệm bằng các quan sát về thế giới tự nhiên thay vì chỉ dựa trên lập luận tiên nghiệm, trực giác, hay mặc khải. Do đó, về bản chất, khoa học được xem là theo lối kinh nghiệm một cách có phương pháp.
Học
thuyết đầu tiên về chủ nghĩa kinh nghiệm được phát biểu một cách tường minh bởi
John Locke vào thế kỷ XVII. Locke cho rằng tâm thức là một tabula rasa (tấm bảng
sạch) trước khi các trải nghiệm lưu dấu vết của mình lên đó. Chủ nghĩa kinh
nghiệm như của Locke phủ nhận rằng con người có các ý niệm bẩm sinh hay cái gì
đó nhận biết được mà không phải tham chiếu tới trải nghiệm.
Chủ nghĩa kinh nghiệm không cho rằng ta có được các tri thức kinh nghiệm một cách tự động. Thay vào đó, theo quan điểm của các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, để cho một tri thức bất kỳ có thể được suy luận hoặc suy diễn một cách đúng đắn, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm giác quan của ta.[2] Về mặt lịch sử, chủ nghĩa kinh nghiệm triết học thường được đặt đối lập với trường phái tư tưởng được gọi là "chủ nghĩa duy lý", trường phái này khẳng định rằng nhiều tri thức có thể quy cho lý tính một cách độc lập với các giác quan. Tuy nhiên, ngày nay, sự đối lập này được xem là một sự đơn giản hóa quá mức về các vấn đề có liên quan, vì các nhà duy lý lục địa quan trọng (Descartes, Spinoza và Leibniz) cũng đã ủng hộ các "phương pháp khoa học" theo lối kinh nghiệm vào thời của họ. Hơn nữa, về phần mình, Locke cho rằng có một số tri thức (chẳng hạn tri thức về sự tồn tại của Chúa trời) chỉ có thể đạt được bằng trực giác và lập luận mà thôi.
NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ trong nhân sinh
quan của người Việt
Nhân
sinh quan truyền thống người Việt là mẫu số chung của phép cộng các triết lý
nhân sinh của các tộc người Việt Nam, luôn gắn liền với nông nghiệp (lúa nước)
và thiết chế làng – xã, được triển khai trong một hệ thống hoàn chỉnh trên mọi
chiều kích của các mối quan hệ: lao động – sản xuất, môi trường thiên nhiên,
môi trường xã hội, gia đình, dòng tộc, họ hàng,… Nhân sinh quan người Việt thường
gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của dân tộc, các triết lý nhân sinh đều giải đáp
những vấn nạn mà người Việt gặp phải trên con đường dựng nước và giữ nước.
Có thể nói, nhân sinh quan truyền thống Việt Nam chính là những giá trị bản nhiên của tư duy người Việt, không hoàn toàn vay mượn tư tưởng của Nho, Phật, Lão. Những giá trị tích cực trong triết lý nhân sinh của cha ông ta là cơ sở cho việc xây dựng lối sống mới cho người Việt Nam hiện nay. Song, bên cạnh đó, những hạn chế từ nhân sinh quan truyền thống cũng trở thành rào cản cho người Việt trên bước đường phát triển và hội nhập. Do vậy, việc xác định rõ những giá trị tích cực, chỉ ra được những yếu tố tiêu cực của nhân sinh quan truyền thống là một việc làm thiết thực nhằm góp phần xây dựng con người Việt Nam hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.
1. Một số giá trị tích cực của nhân
sinh quan truyền thống người Việt
Nhìn
trên tổng thể xã hội, nhân sinh quan truyền thống của người Việt có nhiều điểm
tích cực cần được tiếp tục duy trì và phát huy:
Một
là, tinh thần hiếu học là một trong những giá trị truyền thống quý báu được
hình thành và hun đúc từ dòng chảy lịch sử ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Đó
chính là tinh thần quả quyết, tính kiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi. Sự hiếu học
ấy đã tạo điều kiện sản sinh nhiều bậc anh tài, các trung thần, những anh hùng
dân tộc,… góp phần quan trọng cho sự nghiệp giải phóng và kiến thiết nước nhà.
Hơn
nữa, hiếu học không phải chỉ để được vinh thân mà hiếu học là để có cơ hội tham
gia vào việc nước. Người có học được gọi là “sĩ”, chữ “sĩ” (viết theo Hán tự)
được diễn tả như một người đứng bằng chân trên mặt đất, đầu đội trời, dang rộng
hai tay, gánh vác việc đời, việc nước. “Làm trai vì nước quên nhà/Nước kia có vẹn
thì nhà mới yên”– đấy chính là mục đích của sự học. Như vậy, sự hiếu học của
người Việt cũng là sự thể hiện tinh thần yêu nước, tinh thần vì cộng đồng.
Hiếu học còn là biểu tượng của ý chí và khát vọng vươn lên thoát khỏi đói nghèo, thoát khỏi sự kém hiểu biết: “Làm trai cố chí học hành/Lập nên công nghiệp để dành mai sau; Làm người mà được khôn ngoan/Cũng nhờ học tập mọi đường mọi hay/Nghề gì đã có trong tay/Mai sau rồi cũng có ngày ích to”,… Những tấm gương hiếu học thật sự là những con người đáng được tôn vinh và học tập, vì họ là những người dám thực hiện ước mơ của mình.
Hai
là, lối sống cần cù, tiết kiệm của người Việt đã được coi là một trong những đức
tính điển hình, nói như cố giáo sư Trần Văn Giàu “cần cù đến mức anh hùng tột bậc”1.Từ
xưa đến nay, người Việt vẫn coi trọng đức tính cần cù, tiết kiệm, đề cao nó đến
độ “cần cù bù thông minh”, “năng nhặt chặt bị”, “tích cốc phòng cơ”, “buôn tầu bán
bè không bằng ăn dè hà tiện”. Lối sống tiết kiệm góp phần ổn định đời sống kinh
tế gia đình, xã hội trong điều kiện đất nước còn khó khăn, rèn luyện cách sống
biết quý trọng sức lao động, chống lối sống xa hoa, lãng phí theo kiểu “bóc ngắn
cắn dài”, “vung tay quá trán”, “ném tiền qua cửa sổ”,…
Trong những năm gần đây, do điều kiện kinh tế của người dân được cải thiện, thậm chí đồng tiền kiếm được một cách quá nhanh chóng, dễ dàng, dẫn đến xu hướng hưởng thụ, sống gấp, lười lao động, tìm mọi cách để kiếm tiền phục vụ nhu cầu ăn chơi, hưởng thụ, kể cả vi phạm đạo đức và pháp luật. Trầm trọng hơn, hiện tượng tham nhũng, tiêu “tiền chùa” đang trở thành quốc nạn của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Về vấn đề này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: Nước ta còn nghèo và kém phát triển, chúng ta lại chưa thực sự thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư phát triển,2 vì vậy, trong điều kiện hiện nay, chúng ta nhất thiết phải cần kiệm để công nghiệp hóa, phải khắc phục xu hướng chạy theo xã hội tiêu thụ, lối sống xa hoa lãng phí, đó là những nhân tố quyết định sự thành công của chúng ta…
Như
vậy, lối sống cần cù, tiết kiệm luôn là lối sống truyền thống tích cực cần phát
huy trong cả thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay.
Ba
là, lối sống đề cao tính tập thể, cộng đồng của người Việt có mặt tích cực là
coi trọng tình làng nghĩa xóm, đề cao tinh thần đoàn kết, hòathuận, tương thân
tương ái, lá lành đùm lá rách, không chấp nhận lối sống hờ hững, vô trách nhiệm.
Lối sống cộng đồng này góp phần kìm hãm và hạn chế những biểu hiện của bệnh vô
cảm, của sự cạnh tranh một cách ghẻ lạnh trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường
hiện nay, đồng thời tạo nên sức mạnh của sự thống nhất cùng nhau xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Ý nghĩa của sức mạnh đoàn kết, của tính cộng đồng đã được Chủ tịchHồ
Chí Minh khái quát lại trong một nhận định về người Việt Nam như sau: “Dân ta
có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó
kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước”.
Bốn là, trong đời sống tinh thần xã hội, người Việt truyền thống coi trọng chữ “Tình”, đề cao ân nghĩa,… đôi khi, chữ “Tình” đã vượt lên trên cả lý lẽ, luật pháp. Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển, đặc biệt, khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế, giao thương với các nền kinh tế tư bản, lúc này “Lý” sẽ áp đảo “Tình”. Trong điều kiện đó, truyền thống coi trọng “Tình” có vẻ không còn phù hợp nữa, nhưng chúng ta vẫn cần phải dung hòa,làm cho “Lý” không trở thành thái quá để dẫn đến “vô tình, vô cảm”, thành con người “duy ngã”, ích kỷ; làm cho chữ “Tình” trong thời hiện đại không yếm thế, biến con người thành yếu đuối, nhu nhược, ba phải. Việc thiên về “Lý” hướng đến sự phát triển; còn “Tình” sẽ làm cho sự phát triển diễn ra hài hòa, bền vững. Như vậy, chúng ta vẫn duy trì và giữ gìn được bản sắc và “làm mới, hiện đại hóa” nó cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh.
Thêm nữa, việc coi trọng “Tình” sẽ làm cho việc áp dụng luật pháp uyển chuyển, linh hoạt theo từng địa phương, từng vùng. Luật pháp, dù được xây dựng trên đời sống thực tế, nhưng nó vẫn là “từ ngoài vào, từ trên xuống” áp đặt người dân phải theo, nó vẫn có tính chất lý trí, cứng nhắc, máy móc, không uyển chuyển và nhiều khi không tương thích với những hoàn cảnh riêng của từng người dân, từng địa phương. Do đó, người Việt truyền thống đã điều hòa luật pháp của nhà nước (triều đình) bằng Hương ước, bằng tục lệ của làng để có cuộc sống phong lưu, thoải mái và tự tại hơn. Tục “phép vua thua lệ làng” xưa và nay, không có nghĩa là coi thường kỷ cương, phép nước mà phép nước ấy, luật pháp ấy cần phải uyển chuyển, linh hoạt và phù hợp với tâm lý, lối sống của con người. Có như vậy, luật pháp ấy, chủ trương ấy mới đi vào cuộc sống một cách dễ dàng, khả thi hơn, bằng không, nó sẽ gặp phải sự kháng cự mãnh liệt, rốt cục, sẽ trở thành không khả thi, không đi được vào đời sống xã hội và người dân.
Thiết
nghĩ, truyền thống duy tình/trọng tình của người Việt vẫn có những mặt tích cực
của nó trong mọi mối quan hệ xã hội, dù xã hội phải vận hành theo hướng duy lý,
song vẫn rất cần xem xét đến yếu tố tình cảm để con người và xã hội không trở
thành một cỗ máy biết nói, biết tư duy. Và duy “Tình”, duy “Tâm” sẽ là nhân tố
cơ bản đánh thức thế giới nội tâm, thế giới vô thức trong mỗi con người để họ
không trở nên vô cảm trước tha nhân (cả giới tự nhiên và cuộc sống cộng đồng),
không đánh mất nhân tính.
Năm là, trong lịch sử, người Việt vốn rất gắn bó với thiên nhiên, yêu quý, tôn trọng thiên nhiên. Triết lý sống “hài hòa” với giới tự nhiên khiến người Việt trở nên gần gũi, thích nghi với sự biến thiên thất thường của thiên nhiên và duy trì nền nông nghiệp lúa nước khá thịnh vượng, phát triển. Khi người Việt đã biết thích ứng với tự nhiên, chinh phục, cải tạo đến một mức độ nhất định đối với tự nhiên, người Việt trở nên kiên cường hơn, tính cách linh hoạt, lối sống năng động hơn trước những biến đổi của thiên nhiên, biết khắc phục và kìm hãm thiên tai, lựa theo tự nhiên mà sản xuất và mưu sống.
Lối
sống hài hòa với giới tự nhiên cũng tạo cho người Việt truyền thống những đức
tính ôn hòa, nhã nhặn, khiêm nhường. Dân tộc Việt được xem là một dân tộc biết
lấy khiêm nhu làm hậu thuẫn, thắng mà không kiêu căng, đó là nghệ thuật ôn nhu
khôn khéo của nước nhỏ đối với nước lớn, biết làm chiến thuật Tâm công (đánh
vào lòng người, không chiến trận mà địch vẫn thua). Lối sống ấy khiến chocha
ông chúng ta qua các triều đại đều rất coi trọng chữ “Hòa” trong kế sách trị quốc
và ngoại giao. Trong ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, đạo trị quốc, trước
hết, phải lấy việc Nhân hòa làm đầu, dân là gốc của nước, có dân tâm, sĩ khí, ắt
thay đổi được thời cuộc.
Tất cả những giá trị tích cực trong nhân sinh quan truyền thống của người Việt, cho đến nay, vẫn là những giá trị chung của cộng đồng, làm nên cái gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt, người Việt.
Người
Việt hiện nay không bằng lòng với cái nghèo, với sự thanh nhàn, an phận, không
tự thỏa mãn với lối sống hữu danh vô thực, họ bắt đầu chú trọng đến lợi ích vật
chất, biết vươn lên làm giàu, đề cao tính cá nhân, sự tự do,…Hiện nay, từ cách
thức lao động sản xuất, cách thức tư duy, cách thức ứng xử, hưởng thụ, thỏa mãn
nhu cầu sống của người Việt đã ít nhiều khác xa các thế hệ cha ông ngày trước.
Trong đời sống hiện tại, người Việt đang cố gắng khắc phục những biểu hiện của
nếp sống cũ: tác phong lề mề, thủ công, trì trệ, làm ăn nhỏ, manh mún,… xây dựng
các giá trị mới như trọng lý, trọng khoa học, trọng hiệu quả, đề cao tự do cá
nhân (đặc biệt rõ nét trong lối sống của tầng lớp thanh niên thành thị, trí thức,
doanh nhân).
Nhân sinh quan mới của con người Việt Nam hiện nay không chỉ là sự kế thừa và phát huy nhân sinh quan truyền thống. Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đã hình thành nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp, sự tồn tại của chúng trong lối sống hiện đại thể hiện tính liên tục của nhân sinh quan và bản sắc văn hóa của con người Việt Nam. Hơn nữa, trong lối sống của con người Việt Nam mà chúng ta xây dựng để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập phải là: dân tộc, hiện đại, văn minh. Để làm được điều đó, chúng ta phải biết khơi dậy và phát huy hiệu quả những giá trị tích cực của nhân sinh quan truyền thống như: truyền thống hiếu học, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, trọng tình trọng nghĩa, lối sống cần cù, tiết kiệm,…
2. Một số hạn chế trong nhân sinh quan
truyền thống người Việt
Nhân
sinh quan truyền thống đã ảnh hưởng đến người Việt, trao truyền cô đọng trong mạch
ngầm tư tưởng của chúng ta, thể hiện ra qua nếp sống, qua lối ứng xử, tạo thành
cốt cách của người Việt. Nó tồn tại dưới dạng những thói quen, tập quán, những
nếp suy nghĩ, những lề thói làm ăn, những cách đối nhân xử thế,… Trong bối cảnh
hiện nay, một số triết lý nhân sinh bộc lộ những hạn chế, tính lỗi thời, lạc hậu,
trở thành những lực cản, sức ỳ khá nặng nề cho bước phát triển của xã hội trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Vì vậy, cuộc
đấu tranh để cải tạo, khắc phục và xóa bỏ những mặt hạn chế trong nhân sinh
quan của người Việt là yêu cầu quan trọng và cấp bách của quá trình phát triển
đất nước.
Truyền thống hiếu học là một đặc trưng của người Việt, là một đức tính tốt của người Việt vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, mặt trái của hiếu học là hiếu danh, trọng danh. Đi liền với tính trọng danh là thói háo danh, mua danh: được thể hiện rõ qua nạn bằng giả, bằng thật học giả trong xã hội ta hiện nay mà các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu ra. Trong một xã hội mà sự thăng tiến của mỗi cá nhân gắn liền với độ cao tăng dần của bằng cấp thì “cuộc đua” để có được bằng nọ, chứng chỉ kia là điều tất yếu. Nhiều người giỏi, tài thực sự, nhưng vì không có đủ bằng cấp mà chấp nhận thua thiệt, không đạt được vị trí xứng đáng, không được mọi người thừa nhận. Một số người không học được để lấy bằng thật thì tất yếu phải mua bằng giả. Học để lấy bằng cấp đã trở thành gánh nặng công danh chứ không còn là nhu cầu tri thức.
Hơn
nữa, vì chịu ảnh hưởng bởi thứ triết lý nhân sinh “học để làm quan” (với những
chuẩn mực về sự dùi mài kinh sử để vượt qua các kỳ thi, đảm bảo cho mình một địa
vị xã hội, để hưởng vinh hoa phú quý), nên người Việt học hành thường không đến
nơi đến chốn. Ngày nay, vào các thư viện trong các trường đại học hay các thư
viện lớn ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy số người đến đọc sách, học tập,
nghiên cứu không ít, nhưng theo các cuộc điều tra xã hội học đều cho thấy, số
người đến thư viện đọc sách, học tập, nghiên cứu vì say mê khoa học không nhiều,
mà họ đến đó đọc sách hay học tập để thi, để hoàn thành một chứng chỉ, hay làm
xong một việc nhất định nào đó rồi bỏ đấy. Do đó, khi học tập, nghiên cứu, người
Việt nặng về giáo điều, sao chép và thuộc lòng các lý thuyết sẵn có. Với lối học
“tầm chương” đó đã trói buộc những sáng kiến của con người, kìm hãm lối suy tư
phản biện, dẫn đến thiếu tự tin, không dám vượt bỏ quá khứ.
Bên cạnh đó, triết lý sống trọng tình nghĩa, duy tình, duy cảm của người Việt lại dẫn đến lối sống dung hòa, xu thời, cam chịu, du di, xuề xòa, nhút nhát, tùy tiện, thiếu triệt để, ý thức pháp luật chưa cao – đây chính là nhược điểm đáng kể đối với việc xây dựng nhân sinh quan mới và tác phong công nghiệp gắn với tư duy duy lý trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Lối
sống thiếu triệt để của người Việt bắt nguồn từ triết lý sống duy tình, duy cảm
đã góp phần hình thành lối làm ăn tùytiện, manh mún, không biết lo xa, hạch
toán, thiếu khả năng lao động liên kết, thiếu đầu óctínhtoán trong kinh doanh,
sản xuất, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiển cận, thực dụng, tính tổ chức, kỷ
luật kém,… Lối tư duy và lối sống đó cũng đã hình thành phương thức “ăn xổi, ở
thì”, đề cao những lợi ích thiết thực ngay trước mắt chứ ít chú tâm đến những lợi
ích chiến lược, lâu dài hay phải làm những gì to tát, lâu bền.
Lối sống du di, xuề xòa của người Việt truyền thống đã tác động không nhỏ đến cuộc sống lao động sản xuất của họ. Với Việt Nam, sản xuất nông nghiệp là sản xuất theo thời vụ (do thời tiết có hai mùa nóng lạnh khác biệt, buộc con người phải sản xuất theo), đã dẫn tới hình thành hiện tượng ngày mùa thì vất vả, đầu tắt mặt tối, còn tháng ba ngày tám thì có nhiều thời gian nghỉ ngơi/nhàn rỗi/nông nhàn. Ở một số vùng có nghề phụ (nghề thủ công), người nông dân dùng thời gian nông nhàn tham gia sản xuất vào các ngành nghề phụ, còn vùng không có nghề thủ công thì người dân coi như rỗi rãi hàng tháng. Do rỗi rãi, không có việc làm thúc giục, đã hình thành ở người Việt tác phong khoan thai, chậm chạp, không tiếc thời gian: “Đi đâu mà vội mà vàng/Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây/Thủng thẳng như chúng anh đây/Chẳng đá nào vấp chẳng dây nào quàng”.Tâm thế quen không tuân thủ chặt chẽ yếu tố thời gian trong lao động sản xuất sẽ là một trở ngại lớn khi người Việt tiếp hợp vào xã hội công nghiệp – cuộc sống đòi hỏi phải khẩn trương, nhanh chóng, kịp thời thì người Việt vẫn mang theo hành trang của nếp sống “giờ cao su”.
Tư
duy nặng về kinh nghiệm (Trăm hay không bằng tay quen) đã tạo nên lối sống gia trưởng,
lão quyền (người cao tuổi được coi là người có nhiều kinh nghiệm sống hơn cả),
dẫn đến tư tưởng “trọng trưởng khinh ấu” của người Việt. Với cách nghĩ và cách
làm theo kinh nghiệm thì hoạt động của con người thường hướng về quá khứ, bảo
thủ, trì trệ, ngại đổi mới, thường tìm cách phủ nhận năng lực của người đi sau
(mặc dù trong thâm tâm biết rằng họ hơn mình).
Và
cũng do ảnh hưởng của thứ văn hóa coi trọng tinh thần, khinh chê vật chất (vì
cho nó là tầm thường, hạ đẳng) nên người Việt cũng hình thành thói hư danh, ảo
tưởng,sĩ diện. Người Việt thường dấu cái nghèo, cái khổ “Tốt danh hơn lành áo;
Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp; Một quan tiền công không bằng một đồng
tiền thưởng; Ở đời muôn sự của chung/Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”, không
mấy khi người Việt thú thật nỗi cực nhọc, vất vả đã từng phải chịu đựng, dẫn đến
kiêu căng.
Ý thức cộng đồng, tính gắn kết, cố kết cộng đồng là một trong những đặc điểm truyền thống nổi bật của người Việt Nam. Song, mặt trái của tính cộng đồng dẫn tới tính cục bộ, kéo bè kéo cánh, ê kíp – đây cũng là một trong những hạn chế khiến người Việt rất khó hòanhập được với nền kinh tế toàn cầu hóavì nếu tham gia vào quá trình kinh tế toàn cầu với một đầu óc cục bộ, vì lợi ích của cá nhân, đơn vị, địa phương thì chính người Việt lại tự hại mình và hại lẫn nhau.
Tình
trạng níu kéo nhau, không muốn cho người khác hơn mình “Khôn độc không bằng ngốc
đàn”, thói ghen ghét, đố kỵ khi thấy người khác hơn mình, tài năng và thành đạt
hơn mình,… khiến cho người Việt không tạo ra được một sự hiệp thông thống nhất,
dẫn đến việc một người làm thì tốt, ba người làm thì tồi, bảy người làm thì hỏng.
Như
chúng ta đều biết, ý tưởng về sự hòa hợp với thiên nhiên đã trang bị cho người
Việt một sự nhận thức về tự nhiên, biết nắm lấy cái bản thể cốt lõi của thiên
nhiên mà hành động cho phù hợp với cuộc sống mưu sinh của mình. Người Việt đã vận
dụng những tri thức về tự nhiên đó để biết thích ứng với tự nhiên, chinh phục,
cải tạo tự nhiên, biết khắc phục và kìm hãm thiên tai,… Song, chính bởi sự gắn
bó, thân thiện, hòa mình với thiên nhiên, với trời đất, dẫn đến chỗ người Việt
hình thành lối sống lệ thuộc, trông chờ, ỷ lại vào thiên nhiên ưu đãi, nên dễ
sinh ra lười biếng lao động và giản lược hóa một cách thực dụng trong việc khai
thác tài nguyên thiên nhiên một cách tùy ý, thiếu tôn trọng sự toàn vẹn, tuần
hoàn của thiên nhiên, thiếu ý thức trong việc vừa khai thác vừa tái tạo lại nó,
dường như trong suốt quá trình sống của mình, người Việt đã quay lưng lại với
môi trường sống tự nhiên của chính mình.
Lối
sống phụ thuộc vào tự nhiên, trong khi đó tự nhiên, thời tiết thì lại luôn thất
thường, đỏng đảnh. Đối diện với sự biến thiên đó, đáng lẽ phải biết tìm cách
làm chủ và tự do trước thiên nhiên, thì người Việt lại quá lệ thuộc vào “Trời”,
nên trong quá trình sống hay lao động sản xuất, người Việt thường tin vào số phận,
may rủi, trông chờ vào thiên nhiên, dẫn đến dễ chán nản, chùn bước khi gặp phải
khó khăn.
Lối
lao động, sản xuất chỉ biết dựa trên tri thức kinh nghiệm về thời tiết, về
trông mong ở trời đất của người Việt truyền thống khiến cho người Việt hiện nay
thiếu ý thức nghiên cứu khoa học trong sản xuất.
Những
điểm hạn chế của người Việt đã từng được người phương Tây nhận xét khi đến giao
thương và truyền giáo. Vào thế kỷ XVII, người Anh đã nhận xét: “Một dân chúng
hay nài xin quấy rầy vào bậc nhất thế giới. Muốn gặp phải có quà. Tục lệ của xứ
này là không đến viếng thăm tay không. Tay không thì giàu nghèo gì đi chăng nữa
cũng chẳng đến được bất kỳ bậc quan trên nào. Hàng hóa muốn gì lấy nấy, không
trả tiền. Hàng hóa muốn định giá thế nào tùy ý. Trả tiền chậm, khó khăn”4.
Hai tác giả người Pháp là Pier Huard và Maurice Durand nhận xét về hạn chế của tư duy người Việt và giá trị tinh thần của người Việt cổ truyền: “… thiếu công cụ tư duy (từ vựng chính xác, từ vựng kỹ thuật) và các khung ngôn ngữ cần thiết để trình bày các sự việc một cách chính xác, tính thời gian bằng kinh nghiệm, thói quen nói ngược ý, sự thiếu vắng các biểu hiện trìu mến”.
Nhà
nghiên cứu Phan Kế Bính đã chỉ ra những hạn chế trong lối sống, ảnh hưởng từ
nhân sinh quan truyền thống của người Việt bao gồm: “tính hồ đồ, ngờ vực, nhút
nhát, lười biếng, ghen ghét, khoe khoang, hợm hĩnh, khép nép, câu nệ, sợ đầu sợ
đuôi, nghĩ quanh nghĩ quẩn, ham cờ bạc rượu chè, thích sự quấy rầy ăn uống, gió
chiều nào che chiều ấy, gian giảo, kiêu ngạo, tham lam, thô tục, hay xóc móc,
hay kiện cáo, hay tranh giành, hay nịnh hót người quyền thế, khinh bỉ người hiền
lành, hay sinh sự, hay thù hằn, ăn trộm, ăn cướp, anh hùng rơm, vong ân bội nghĩa,
phản bạn lừa thầy,…”.
Tác
giả Trần Trọng Kim cũng nêu những thói xấu của người Việt: “…tinh vặt, quỷ quyệt,
bài bác, nhạo chế. Tâm địa thì nông nổi, làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe
khoang, ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Tin
ma quỷ, không nhiệt tín tôn giáo nào cả, kiêu ngạo, nói khoác”.
Đào Duy Anh khi nói về những thói xấu của người Việt cho rằng: “… chậm chạp, nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh, thích chơi cờ bạc, nhút nhát, tinh vặt, bài bác chế nhạo”.
Tháng 11/2007, tòa soạn Tia Sáng đã tổ chức một cuộc tọa đàm về tính cách người Việt, với sự tham dự của một số nhà nghiên cứu, nhà khoa học, văn nghệ sĩ là cộng tác viên của Tạp chí như: Giáo sư Hoàng Tụy, nhà thơ Lê Đạt, nhà văn Nguyên Ngọc, các nhà khoa học, nhà giáo Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Phạm Duy Hiển, Phạm Duy Nghĩa, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Quang A,… Theo GS. Hoàng Tụy, qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, ông đã nhận thấy một số đặc điểm có tính hạn chế chung của nhiều thế hệ sinh viên Việt Nam: thiếu khả năng đào sâu trong tư duy, thiếu đầu óc tưởng tượng, thiếu khả năng kiên trì, đi đến cùng trong những tham vọng đạt đến bằng được những thành tựu đỉnh cao – Đó cũng chính là những hạn chế trong tính cách của người Việt nói chung. Từ góc nhìn khác, nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy cho rằng, ẩn sâu trong tâm lý của dân tộc Việt có một thứ tâm lý nguy hiểm của người Việt là tự ảo tưởng về chính mình và khả năng thành công của chính mình. Tâm lý đó thể hiện qua những câu chuyện về những ông Trạng chân đất, những ông Trạng Lợn, Xiển Bột,…
Có
tác giả đã nêu lên 10 đặc điểm cơ bản của người Việt Nam (cả ưu điểm và nhược
điểm) như sau: Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng;
Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn,
chủ động; Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện
cuối cùng của sản phẩm); Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức
nâng lên thành lý luận; Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học
“đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập
không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn
lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê); Xởi lởi,
chiều khách, song không bền; Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục
tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời); Có tinh thần đoàn kết, tương
thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần
hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất
hiện; Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những
lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục; Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên
kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì
kém, bảy người làm thì hỏng).
Những
kết quả nghiên cứu nêu trên khiến chúng ta phải nhìn lại mình, nhất là trong điều
kiện hiện nay, nhận thức lại chính mình là một trong những nội dung quan trọng
của sự nghiệp đổi mới, nhận thức những hạn chế của mình để tìm cách khắc phục,
vượt qua, phá bỏ những rào cản, những trở lực, những sức ỳ khá nặng nề cho bước
đi lên của đất nước.
Lựa chọn những gì trong nhân sinh quan truyền thống giúp hình thành lối sống, nếp sống mới cho người Việt đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập cần một quá trình và sự sáng suốt không chỉ của một cá nhân, một nhóm xã hội mà của cả cộng đồng. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và phát huy những giá trị tích cực của nhân sinh quan truyền thống trong việc hình thành lối sống mới cho người Việt, thiết nghĩ, cần phải có một hệ thống các nhóm giải pháp phù hợp, thực tế và mang tính khả thi.
Giá trị của kinh nghiệm
-
Một đoàn tàu hỏa chuyên chở hàng hóa đi khắp châu Âu bỗng nhiên không thể khởi
động được. Các thợ máy được huy động đến để tìm ra nguyên nhân và tất cả đều
phán đoán là động cơ của con tàu có vấn đề nhưng không ai trong số họ làm cho
nó hoạt động lại được. Người chủ công ty vận chuyển hàng hóa rất sốt ruột vì càng
kéo dài thời gian con tàu nằm im, tổn thất càng lớn. Ông ta cho mời các chuyên
gia về đầu máy có tiếng đến nhưng họ cũng lắc đầu, không ai có thể hiểu một con
tàu lớn hiện đại như thế này lại có thể ngưng hoạt động.
Cuối
cùng một ông già từng là thợ máy từ khi còn trẻ được mời tới. Ông già mang một
chiếc túi lớn với các dụng cụ bên trong và khi tới nơi ông lập tức chui ngay
vào phòng máy, kiểm tra từng động cơ rất cẩn thận. Người chủ công ty chán nản bỏ
ra ngoài khi thấy ông già ngó nghiêng, sờ sẩm từng con ốc, từng chi tiết của
chiếc đầu máy vì không tin ông già này có thể làm được gì. Sau khi xem xét toàn
bộ ông già thò tay vào túi đồ lấy ra một cái búa nhỏ và gõ nhẹ nó vào một cái
gì đó trong khối động cơ. Ngay lập tức động cơ con tàu kêu loạt xoạt và nổ tiếng
máy giòn giã. Ông chậm rãi bỏ lại chiếc búa vào túi đồ, vác chúng lên vai và bỏ
đi. Đầu máy của con tàu đã hoạt động trở
lại.
Một
tuần sau đó, ông chủ công ty vận chuyển nhận được một hóa đơn từ ông già: mười
ngàn đô la.“Cái gì?” - ông chủ kêu lên.
“Ông ta hầu như không làm cái gì cả mà đòi thu của ta những mười ngàn đô!”.Vì vậy,
chủ tàu gửi lại thư yêu cầu ông già thợ máy hãy gửi hóa đơn chi tiết những việc
ông đã làm. Ngay lập tức ông chủ công ty nhận được hóa đơn chi tiết rằng:
“Gõ
một nhát búa giá 2 đô la. Tìm ra nơi gõ nhát búa trị giá 9.998 đô la”.
Nỗ lực là quan trọng, nhưng biết nơi để biến nỗ lực đó thành hiệu quả mới là sự khác biệt. Giá trị của học hỏi và tích lũy kinh nghiệm ở chỗ đó.
Tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động
thực tiễn
Bài
viết này hy vọng Ta sẽ giúp Con Cháu mình làm rõ thêm tư duy kinh nghiệm và vai
trò của nó trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan của con
người.
Theo Ta : Tư duy kinh nghiệm có những giá trị, ưu thế nhất định, song cũng có những hạn chế mà tự nó không thể vượt qua. Do đó, để phát huy vai trò của tư duy kinh nghiệm, cần phải đặt nó trong mối liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận mới khắc phục được tính chất phiến diện, hạn hẹp của tư duy kinh nghiệm.
Tư duy kinh nghiệm : Là một giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính, nó có vai trò
quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Ở nước ta, khi
nói đến tư duy kinh nghiệm, không ít người thường chỉ đề cập đến những hạn chế,
mà không thấy được những ưu điểm của nó. Vì vậy, việc đánh giá đúng vai trò, vị
trí của tư duy kinh nghiệm để có thể phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn
chế của nó là việc làm cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trong
bài viết này, Ta chủ yếu cố gắng làm rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm đối với
hoạt động thực tiễn trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của nước ta hiện nay.
Tư
duy kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta
rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu, thông qua con
đường khái quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm được
hình thành một cách trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn của chủ thể
nhằm mục đích cải biến khách thể. Nó thường phản ánh những thuộc tính, tính chất
của các đối tượng có tác động trực tiếp tới chủ thể.
Đối tượng phản ánh của nó là những thuộc tính, tính chất của khách thể hiện thực; ngược lại, đối tượng của tư duy lý luận là những khách thể trừu tượng. Sự khác nhau về mặt đối tượng được xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận trong nhận thức.
Là
những cấp độ khác nhau của cùng một quá trình nhận thức lý tính, nhưng tư duy
kinh nghiệm và tư duy lý luận không đối lập, tách rời nhau, mà thống nhất với
nhau thông qua hoạt động thực tiễn. V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Muốn hiểu biết
thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến
cái chung”.
Tuy
Ta chưa tiếp cận được nhiều .Ở những tác phẩm ,tài liệu ta đọc . Phổ quát nhất
Ta thấy :Một số công trình nghiên cứu đã đồng nhất tư duy kinh nghiệm với nhận
thức cảm tính; hoặc chỉ coi “tư duy kinh nghiệm là thứ tư duy tiền khoa học”.
Quan niệm đó đã dẫn đến việc tuyệt đối hoá vai
trò của tư duy lý luận; coi thường tư duy kinh nghiệm. Thực chất, tư duy kinh
nghiệm là giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính. Do vậy, nó cũng có khả năng
phát hiện các quy luật và định hướng hoạt động thực tiễn của con người, chứ
không chỉ tư duy lý luận mới có thể làm được việc này. Vai trò của tư duy kinh
nghiệm đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn kém hơn tư duy lý luận, nhưng
không vì thế mà chúng ta có thể tuyệt đối hoá vai trò của tư duy lý luận, hoặc
xem nhẹ vai trò của tư duy kinh nghiệm.
Tư duy kinh nghiệm hướng tới giải quyết những nhiệm vụ trước mắt, cụ thể, đang đặt ra; phát hiện và giải quyết vấn đề một cách trực tiếp. Nhờ đặc tính trực tiếp phản ánh hiện thực khách quan, nên tư duy kinh nghiệm rất mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhạy cảm trước thực tiễn, dễ thích nghi với những thay đổi của thực tiễn. Hơn nữa, tư duy kinh nghiệm ẩn chứa khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Chúng ta có thể thấy rất rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Ngày nay, dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo sản xuất, các người lãnh đạo ở cơ sở đã phát hiện ra những điểm bất hợp lý trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp, từ đó họ đã thực hiện “khoán chui”. Nhờ những phát hiện đó mà Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời bổ sung và điều chỉnh chính sách: xây dựng và thực hiện chính sách “khoán 100”, “khoán 10”… Kết quả là từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tự đảm bảo an ninh lương thực và hơn thế, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Theo đó, có thể nói, ở một mức độ nào đó, tư duy kinh nghiệm cũng cung cấp tiền đề lý luận - thực tiễn đầu tiên cho việc hoạch định chủ trương, đường lối đổi mới của nước ta.
Hoạt
động lao động sản xuất và quản lý xã hội của con người là một thực tiễn vô cùng
sinh động và đa dạng. Các hoạt động đó luôn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ,
tình huống cần phải giải quyết. Tư duy kinh nghiệm giúp con người vận dụng những
kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình nhận thức trước đó để giải quyết một
cách khá hiệu quả nhiều vấn đề mới phát sinh, nhiều nhiệm vụ trước mắt, cụ thể
do thực tiễn đặt ra. Thực tế cho thấy, những người thợ có nhiều kinh nghiệm có
khả năng phán đoán tình huống nhanh chóng, chính xác và đưa ra giải pháp rất hiệu
quả trong lĩnh vực làm việc của họ.
Nhờ bám sát thực tiễn, nên những giải pháp mà tư duy kinh nghiệm đưa ra dễ phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Những tri thức kinh nghiệm có thể được cảm nhận, thấu hiểu thông qua khả năng quan sát, kiểm tra trực tiếp nên dễ dàng áp dụng vào thực tiễn. Về điểm này, C.Mác cũng đã thừa nhận rằng, kinh tế chính trị thông thường tiện lợi hơn nhiều trong giao dịch hàng hoá thường ngày, điều đó có nghĩa là tư duy kinh nghiệm có vai trò quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người. Cũng chính nhờ bám sát thực tiễn, tư duy kinh nghiệm đã đưa ra được nhiều giải pháp tối ưu cho việc phát triển sản xuất. Ở nước ta, nhiều nông dân đã nghiên cứu và sáng chế ra các máy nông cụ rất hiệu quả, như máy gặt đập liên hợp, máy gieo hạt, máy bóc ngô, máy thái hành, máy đào ao… dựa trên những kinh nghiệm của họ trong thực tiễn sản xuất. Có thể nói, tư duy kinh nghiệm có một vai trò rất lớn trong hoạt động thực tiễn của con người.
Tính trực tiếp của tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những giải pháp không phù hợp mà tư duy lý luận đưa ra. Bởi vì, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, tư duy kinh nghiệm là nhịp cầu nối quan trọng giữa tư duy lý luận và thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn. Tư duy lý luận có khoảng cách rất xa thực tiễn nên nhiều khi các phương án giải quyết vấn đề của tư duy lý luận thiếu tính đặc thù, nghĩa là thiếu sự phù hợp giữa khách thể trừu tượng, chung với khách thể hiện thực cụ thể. Do vậy, tư duy lý luận có thể dẫn đến những giải pháp không phù hợp để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Việc trong một thời gian dài, chúng ta quan niệm cần phải phát triển quan hệ sản xuất trước một bước nhằm tạo điều kiện, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến kết quả ngược lại, là một ví dụ. Thực tế cuộc sống đã công nhận , thừa nhận rằng: Mọi sự trừu tượng (đúng đắn, nghiêm túc, không tùy tiện) phản ánh giới tự nhiên chính xác hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Vậy, nếu nó sai? Chắc chắn nó sẽ không đưa ra được những giải pháp phù hợp với thực tiễn và khi đó, tư duy kinh nghiệm sẽ đóng vai trò phát hiện ra những sai sót đó.
Hiện nay, do tư duy lý luận ở nước ta còn nhiều yếu tố giáo điều, tư biện, nên chưa đưa ra được giải pháp phù hợp trong việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra một cách hiệu quả. Ví dụ, việc quy hoạch mạng lưới giao thông ở các thành phố lớn, các chiến lược giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, một số chương trình phát triển kinh tế… Về vấn đề này, tác giả Ngô Đình Xây đã viết: “Kiểu tư duy lý luận một cực là sách vở giáo điều và cực kia là thực tiễn vụn vặt là nét nổi bật thứ ba trong tư duy lý luận và cũng là của tư duy lý luận ở nước ta hiện nay. Khi lý tưởng hoá đi đến tuyệt đối hoá chức năng trừu tượng, tuyệt đối hoá khía cạnh lý thuyết thuần tuý tư duy lý luận đã bỏ rơi nguyên tắc: sức mạnh có thể có ở lý luận là ở chỗ nó gắn liền với thực tiễn và khi tư duy lý luận đã quên mất nguyên tắc đó, nó chỉ có thể tạo dựng những lý thuyết trừu tượng cách biệt quá lớn với thực tiễn, và như vậy nó giúp ích được gì cho thực tiễn?” .
Chính vì vậy, nếu kết hợp tư duy lý luận và tư
duy kinh nghiệm một cách hợp lý thì chắc chắn chúng ta sẽ đưa ra được những giải
pháp phù hợp hơn với thực tiễn.
Tư duy kinh nghiệm còn đóng vai trò kết nối giữa lý luận và thực tiễn, thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn. Trong mối quan hệ với tư duy lý luận, tư duy kinh nghiệm không những là cơ sở, tiền đề cho tư duy lý luận, mà còn đóng vai trò trung gian để lý luận thực hiện có hiệu quả vai trò định hướng và chỉ đạo thực tiễn. Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Những tri thức khoa học có mức độ trừu tượng hoá và khái quát hoá rất cao, nhưng trong thực tiễn hầu như hoàn toàn không có những khách thể trừu tượng như vậy. Do vậy, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, khoảng cách này có thể được lấp đầy nhờ tư duy kinh nghiệm. Mặt khác, do tính chất trừu tượng, chung của những khách thể của tư duy lý luận, những khái quát về mặt lý luận là những nguyên lý chung chưa chú ý tới tính đặc thù; cho nên, để tri thức lý luận chung đó phù hợp với thực tiễn sống động, cụ thể, nghĩa là việc áp dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn cần phải có sự tham gia của kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm. Để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra một cách có hiệu quả đòi hỏi không những phải có tri thức khoa học, phương pháp, mà còn phải có sự nhạy cảm nghề nghiệp, đó là sự mẫn cảm được tạo nên qua trải nghiệm thực tiễn. Ở đây, tư duy kinh nghiệm giữ vai trò cầu nối giữa lý luận và thực tiễn.
Ngoài
chức năng tiếp nhận, cung cấp những dữ liệu của đối tượng nhận thức làm tiền đề
cho tư duy lý luận khái quát hoá và hệ thống hoá, tư duy kinh nghiệm còn tham
gia vào quá trình hiện thực hoá các kết quả nhận thức trong hoạt động thực tiễn
cải tạo hiện thực của con người.
Lý luận, các chủ trương, chính sách không ra đời một cách trực tiếp mà là kết quả của những sự trừu tượng khoa học dựa trên cơ sở thực tiễn. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn nhằm bổ sung cho lý luận là hết sức cần thiết. Nó giúp người ta tránh khỏi sa vào giáo điều, duy ý chí. Tổng kết thực tiễn góp phần rất lớn vào việc thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, tránh được tính chất giáo điều của lý luận trong chỉ đạo thực tiễn, lý luận suông hoặc lạc hậu so với thực tiễn. Tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những điểm chưa phù hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý đến thực tiễn mà xa rời lý luận sẽ dễ rơi vào tình trạng mò mẫm, rập khuôn, kinh nghiệm chủ nghĩa. “Tổng kết thực tiễn là phương pháp căn bản trong hoạt động lý luận, là một phương pháp căn bản để khắc phục chủ nghĩa giáo điều và cả chủ nghĩa kinh nghiệm, để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn và kinh nghiệm thực tiễn thì không có lý luận”.
Trong quá sống hiện nay, việc lập kế hoạch sống cho mỗi bản thân gia đình và triển khai chúng vào cuộc sống có vai trò rất quan trọng của tư duy kinh nghiệm. Để những kế hoạch , định hứng ấy thực sự thấm nhuần và mang hơi thở của cuộc sống thì đối với mỗi công việc, mỗi con người cụ thể cần có sự vận dụng một cách hết sức sáng tạo, linh hoạt. Chính thực tiễn phong phú và sinh động ấy sẽ kiểm chứng và trở thành thước đo giá trị của mỗi kế hoạch , định hướng, chỉ ra những bất cập, những tình huống mà lý luận chưa bao quát hết. Điều đó đòi hỏi những lý luận, những kế hoạch , định hướng của mỗi cá nhân , gia đình phải luôn đổi mới, bổ sung và điều chỉnh để có thể định hướng cho hoạt động thực tiễn theo những quy luật phát triển khách quan của nó. Trải qua hơn 40 năm trải đời nay ta nói với con cháu mình điều đó.
Trong
việc đưa lý luận vào thực tiễn và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, tư
duy kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng. Một mặt, tư duy kinh nghiệm tham gia cụ
thể hoá lý luận để nó thực hiện vai trò chỉ đạo thực tiễn. Sự cụ thể hoá lý luận
cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở mỗi cá nhân là một công việc có ý nghĩa vô cùng cần thiết
đối với việc phát triển kinh tế hoàn thiện bản thân mỗi người , mỗi gia đình
,dòng họ. Có thể nói, ở đây, tư duy kinh nghiệm đóng vai trò là nhịp cầu nối
quan trọng để các quyết sách, chủ trương của mỗi cá nhân gia đình đi vào thực
tiễn một cách hiệu quả.
Mặt khác, khoa học hiện đại, kinh tế học đã chỉ ra rằng, “đặc điểm của nền kinh tế trong thời đại ngày nay là những hệ thống cực kỳ phức tạp, bao gồm một số rất lớn thành phần vận động không theo các quy luật tuyến tính, và tương tác với nhau trong một toàn thể khó có thể nhận thức qua con đường phân tích”. Các yếu tố trong nền kinh tế hiện đại vận động hết sức phức tạp nên dù ở trình độ tư duy lý luận cũng khó có khả năng dự đoán chính xác được tương lai của chúng. Chính vì vậy, việc phát huy tính trực tiếp và sáng tạo của tư duy kinh nghiệm nhằm phát hiện kịp thời và giải quyết các vấn đề mới phát sinh sẽ góp phần mang lại những hiệu quả thiết thực trong hoạt động thực tiễn.
Qua
quá trình phân tích ở trên của ta, Con Cháu ta có thể thấy rằng, tư duy kinh
nghiệm là nấc thang tất yếu và không thể thiếu của tư duy trong quá trình nhận
thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải biến thế giới khách quan của con người.
Tuy
nhiên, cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm, tư duy kinh nghiệm cũng
còn có những mặt hạn chế nhất định. Trong quá trình phát triển và hội nhập hiện
nay, nếu chúng ta không khắc phục một cách kịp thời những tác động tiêu cực đó,
thì chúng sẽ gây ra nhiều hậu quả hết sức tai hại.
Do được hình thành trực tiếp trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới khách quan, nên tư duy kinh nghiệm vẫn mang tính tự phát trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn đặt ra. tính tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm không có tầm chiến lược, không tiếp cận được vấn đề ở tầm nguyên lý, nên thường dẫn đến cách nghĩ, cách làm thiển cận hoặc mò mẫm, kém hiệu quả. Vì vậy, khi đi vào thực tiễn, tư duy kinh nghiệm có thể nhanh nhạy giải quyết được những tình huống mới phát sinh; nhưng ít có khả năng đưa ra các quyết sách lâu dài mang tầm chiến lược. Việc các làng nghề ở nước ta hiện nay không thể phát triển lên sản xuất lớn là một minh chứng rõ ràng.
Một
hạn chế khác của tư duy kinh nghiệm là tính duy lý yếu. tư duy kinh nghiệm thường
rút ra những tri thức kinh nghiệm thông qua con đường quy nạp những trải nghiệm,
ít đi sâu phân tích, mổ xẻ để nhận thức vấn đề ở tầm nguyên lý, quy luật. Mức độ
trừu tượng hoá và khái quát hoá của tư duy kinh nghiệm chưa cao, nên phạm vi
tác động của nó còn hạn hẹp. Hơn nữa, sự thiếu hụt về phương pháp tư duy lôgíc
cùng với tính chất tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm ít có tính duy lý, thiếu
chặt chẽ, thiếu khả năng phân tích, phản biện đối với tri thức mới. Vì vậy, tư
duy kinh nghiệm thường có độ chính xác không cao, ít có khả năng định hướng, chỉ
đạo hoạt động thực tiễn ở tầm chiến lược một cách hiệu quả.
Do yếu về tính duy lý, tư duy kinh nghiệm thường mang tính định tính nhiều hơn định lượng, thiếu chính xác hơn tư duy lý luận. Đồng thời, do ít có khả năng phân tích, phê phán và tự phê phán, người tư duy kinh nghiệm thường suy nghĩ đơn giản, máy móc, thụ động, ít sáng tạo. Chính điều này đã dẫn đến việc áp dụng một cách máy móc kinh nghiệm của người khác, gia đình,dòng họ, địa phương khác mà không tính đến những yếu tố đặc thù của Mình. Thực tế cho thấy, các phong trào : Tự khơi nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh như : Cây cảnh ,mía đường, xi măng lò đứng, nuôi đỉa … ở nước ta thời gian qua đã gây ra những hậu quả kinh tế nghiêm trọng.
Dự báo là một yêu cầu mang tính đặc trưng đối với tư duy con người trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Do những nhược điểm trên mà tư duy kinh nghiệm yếu về khả năng dự báo. Bởi mức độ chính xác của việc dự báo phụ thuộc rất nhiều vào tính chân lý, tính quy luật, độ sâu sắc của những tri thức mà người ta sử dụng làm cơ sở cho việc dự báo, cũng như quan hệ lôgíc của các tri thức trong quá trình dự báo. Thế giới ngày nay đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng nhờ những thành tựu của khoa học hiện đại. Điều đó đòi hỏi phải đổi mới và nâng cao không ngừng trình độ và năng lực nhận thức để có thể dự báo chính xác tương lai. Đồng thời, dự báo khoa học ngày càng trở thành một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công ở mọi lĩnh vực và đó là nhiệm vụ rất quan trọng của khoa học hiện đại. Dự báo khoa học ngày càng đóng vai trò không thể thiếu trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả của tư duy lý luận nói riêng và quá trình nhận thức của con người nói chung. Điều đó đặt ra vấn đề cần phải khắc phục những hạn chế của tư duy kinh nghiệm cũng như phát triển và nâng cao năng lực tư duy lý luận của con người.
Trong
hoạt động thực tiễn, nếu người ta chỉ dừng lại ở trình độ tư duy kinh nghiệm sẽ
không có khả năng nhận thức được bản chất của các sự vật và hiện tượng, do đó sẽ
không nắm được những biến đổi phong phú, đa dạng của hiện thực để cải biến nó
phục vụ lợi ích của con người. Do đó, muốn cải biến hiện thực theo nghĩa sáng tạo
ra hiện thực mới, con người phải nhận thức, khám phá được bản chất, quy luật vận
động khách quan của nó bằng tính chặt chẽ, chính xác và sáng tạo của tư duy lý
luận. Hơn nữa, người ta cần phải kết hợp nhuần nhuyễn tư duy lý luận với tư duy
kinh nghiệm để phát huy những mặt mạnh, cũng như khắc phục những mặt hạn chế của
mỗi loại hình tư duy. Đó là cách để phát huy vai trò định hướng và chỉ đạo của
lý luận đối với hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo hiện thực khách quan một cách
có hiệu quả.
Tư duy kinh nghiệm có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người, song về bản chất, những tri thức kinh nghiệm vẫn mang tính chất hạn hẹp. Vì vậy, để phát huy được vai trò của tư duy kinh nghiệm, nhất thiết phải đặt nó trong mối liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận với bản chất sáng tạo và sự sâu sắc trong sự phản ánh hiện thực khách quan mới có thể khắc phục được tính chất hạn hẹp, phiến diện của tư duy kinh nghiệm. Con đường đó không có sự nào khác ngoài việc tự học tấp, tự traang bị kiến thức thời đại cho mỗi cá nhân mình Con cháu ta nhé.
con cháu ta hiểu thêm về :Kinh nghiệm - thực chất và
ý nghĩa
Kinh nghiệm là một khái niệm quan trọng trong triết học, nó thực sự có tác dụng không chỉ trong hoạt động nhận thức mà cả trong thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội. Song xung quanh khái niệm này hiện đang có nhiều cách hiểu và cách đánh giá khác nhau. Bài viết này Ngọc Minh Ta xin góp phần làm rõ một số nội dung về thực chất và ý nghĩa của nó để Con Cháu ta mở rộng góc nhìn .
I – Một số đặc trưng của kinh nghiệm
1. Kinh nghiệm là một tập hợp những
tri thức có tính chất cảm tính, được thu nhận và thông qua hoạt động thực tiễn
của con người.
Trong quá trình tác động giữa con người với thế giới hiện thực, gắn liền với và thông qua hoạt động thực tiễn, con người trực tiếp thu nhận, tích lũy và hình thành những thông tin nhất định. Những thông tin này bước đầu mới phản ánh một số thuộc tính đơn giản, bề mặt của đối tượng. Sau đó, nhờ lặp đi lặp lại và được củng cố cùng với những kỹ năng hoạt động của con người, những thông tin đó được tập hợp thành những tri thức mang tính trực quan, đó là kinh nghiệm. Vậy kinh nghiệm là một hình thức phản ánh thế giới khách quan. Nói kinh nghiệm là một táp hợp tri thức có tính chất cảm tính, điều đó không có nghĩa đồng nhất kinh nghiệm với cảm tính. Hơn nữa, việc tách nhận thức thành hai hình thức cảm tính, lý tính chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt nhận thức luận. Thực tế cho thấy, không có một kết quả của một quá trình nhận thức nào lại không phải là sản phẩm của sự thống nhất biện chứng giữa hai hình thức cảm tính và lý tính. Kinh nghiệm không thể là cảm tính với nghĩa là những hình thức cảm giác, tri giác... Tính chất cảm tính trong kinh nghiệm nói lên tính chất, cấp độ phản ánh của kinh nghiệm. Kinh nghiệm phản ánh chủ yếu dựa vào quan sát trực quan, vào những hoạt động có tính chất thực nghiệm và vào những quá trình trao đổi thông tin mang tính trực tiếp khác. Kinh nghiệm cũng đạt tới trình độ khái quát trừu tượng hóa nhất định (tức là phải có sự tham gia của lý tính) chứ không thể chỉ dừng lại ở những tập hợp tri giác, biểu tượng của quá trình nhận thức cảm tính. Làm rõ luận điểm này, Nhiều tài liệu và nhiều tác giả đã phân tích như sau: "Dòng kinh nghiệm nằm ở cơ sở nhận thức của chúng ta, là không có "lý tính, không có trật tự, không có tất cả cái gì phù hợp với quy luật là quan điểm duy tâm chủ quan".
Vì
vậy, chỉ có thể xét tính chất cảm tính của kinh nghiệm với tư cách là những tập
hợp tri thức chưa đầy đủ, mới phản ánh được những lớp thuộc tính nhất đinh của
sự vật, hiện tượng. và nhiều tác giả cũng thống nhất đã cho rằng: "Kinh
nghiệm ban đầu cũng còn nông cạn, chưa sâu sắc, chưa chính xác và chưa phản ánh
được tính tất nhiên".
Là kết quả của một quá trình phản ánh thế giới khách quan của con người, kinh nghiệm có ưu thế ở tính phàn ánh sinh động, trực tiếp. Nguồn gốc và nội dung phản ánh của kinh nghiệm thuộc về hiện thực, về thực tiễn đời sống. Đó là chỗ khác căn bản giữa kinh nghiệm với tính chất tư biện thường được suy luận theo lôgic hình thức, chủ quan. Bởi vậy, trong quá trình phản ánh thế giới khách quan của con người, kinh nghiệm luôn là mặt yếu tố cần thiết. Song cũng cần thấy rằng, với tính chất phản ánh đó, tác dụng của kinh nghiệm là rất có hạn, giá trị của sự khái quát không cao. Nói cách khác kinh nghiệm chỉ phản ánh thích hợp cho những không gian, thời gian nhất đinh, cụ thể mà thôi, và trong những điều kiện, những tính huống mới xuất hiện thì kinh nghiệm đó dễ trở nên bất cập.
Vậy kinh nghiệm có tiếp cận được cái
phổ biến, đủ bản chất hay không?
Là
một trạng thái phản ánh có ý thức, trong quá trình tác động tới đối tượng, kinh
nghiệm không thể tiếp cận tới cái phổ biến, cái bản chất của đối tượng. Đó là sự
tiếp cận cố tình tự phát, chưa có khả năng hệ thống hóa thành những hệ tri thức
phổ quát, là sự ngẫu nhiên đạt tới bản chất đổi tượng...
Một
vấn đề khác cần làm sáng tỏ ở đây, đó là quan hệ giữa kinh nghiệm với thực tiễn.
Giữa kinh nghiệm và thực tiễn là không thể đồng nhất, bởi vì đó là hai khái niệm
có nội hàm và những biểu hiện trên thực tế khác nhau. Thực tiễn là hoạt động vật
chất có tính lịch sử - xã hội của con người trong quá trình tác động tới thể giới
khách quan. Còn kinh nghiệm là những tập hợp tri thức mà con người thu nhận,
tích lũy được thông qua hoạt động thực tiễn.
Trong mối quan hệ giữa kinh nghiệm với thực tiễn, kinh nghiệm là tính thứ hai. Kinh nghiệm chỉ có thể được hình thành thông qua các hoạt động thực tiễn của con người. Kinh nghiệm là sản phẩm của một quá trình nhận thức và con người dựa vào thực tiễn, xử lý, phân tích ở mức cảm tính trực tiếp là chủ yếu. Khác với lý luận, kinh nghiệm nhận sự tác động trực tiếp của thực tiễn, gắn liền với thực tiễn.
2. Kinh nghiệm là một trình độ phản
ánh hiện thực của con người.
Như
đã biết, nhận thức là quá trình hình thành, phát triển của những trình độ phản
ánh khác nhau và liên hệ hữu cơ với nhau. Đó là cảm tính với lý tính hay kinh
nghiệm với lý luận.
Kinh nghiệm và lý luận là hai cấp độ phản ánh có vi trí tác dụng riêng nhưng chúng nương tựa, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình sản xuất ra tri thức khoa học. Trong toàn bộ quá trình nhận thức, kinh nghiệm có vai trò như “chiếc cầu" chuyển tải những thông tin, tri thức từ thế giới đối tượng vào tư duy, hệ thống hóa thành những tri thức lý luận và ngược lại. Trong quá trình chuyển tải đó, kinh nghiệm thường không tách rời những hoạt động có tính vật chất, cụ thể, những quan sát trực quan và những trao đổi thông tin trực tiếp từ một chủ thể khác về đối tượng nói chung. Cho nên, trong nhận thức, vai trò của kinh nghiệm là tất yếu. Song, khác với chủ nghĩa kinh nghiệm, CNDV biện chứng đánh giá một cách đúng đắn, khách quan vai trò, tác dụng của kinh nghiệm. Trong quá trình phản ánh, kinh nghiệm thể hiện không những là một trình độ mà còn là một phương pháp cho quá trình phản ánh. Điều này, khiến CNDV biện chứng khắc phục những quan niệm duy tâm cực đoan hay duy vật tầm thường về kinh nghiệm. Đánh giá đúng tính chất, cấp độ và giới hạn của kinh nghiệm là căn cứ cơ bản nhất để các định bản chất của kinh nghiệm. Nó còn là cơ sở chỉ rõ sự phát triển tất yếu của kinh nghiệm. Không dừng lại theo nghĩa thông thường của kinh nghiệm, với sự tác động, sự thâm nhập của lý luận và của tư duy khoa học, kinh nghiệm được lý luận hóa, trí tuệ hóa, trở thành những kinh nghiệm khoa học, góp phần như một công cụ sắc bén để đẩy nhận thức lên một trình độ cao hơn trong quá trình tiếp cận chân lý. Hơn nữa, cũng nhờ lý luận và dựa vào những căn cứ khoa học, kinh nghiệm mới được hình thành một cách khoa học hơn, khắc phục được hạn chế chủ nghĩa kinh nghiệm. rất nhiều tác giả đã khái quát luận điểm này như sau: “Trong kinh nghiệm, cái quan trọng chính là trí tuệ mà người ta dùng để tiếp xúc với hiện thực... Một trí tuệ vĩ đại, thực hiện được những kinh nghiệm vĩ đại và thấy được cái gì là quan trọng trong sự vận động muôn vẻ của các hiện tượng".
3. Kinh nghiệm là sự kiểm nghiệm của
tri thức lý thuyết đã được khái quát, hệ thống hóa trong tư duy.
Kinh
nghiệm không dừng lại ở những dạng thức thông thường dựa vào quan sát và thực
nghiệm, nó còn được nâng lên tần lý luận. Đó là giai đoạn mà kinh nghiệm được kết
hợp với sự xử lý của khoa học đề thành lý luận góp phần phản ánh cái bản chất,
cái quy luật của đối tượng. Đạt đến trình độ này, kinh nghiệm phát triển theo
hướng sau: Từ sự quan sát và hoạt động thực nghiệm... kinh nghiệm "Nhưng
trong kinh nghiệm, chúng ta thấy nó, sự hiểu biết nghiệm được đem lại từng đoạn
những đoạn ấy mà chúng ta mới là bản thân chúng ta".
Song,
nghiên cứu về kinh nghiệm, một vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để kinh nghiệm thực
sự có tác dụng cần thiết cho con người trong quá trình phản ánh?
Vấn đề này, cũng trong "Bút ký triết học" Lênin đã ghi lại những ý kiến của Rây như sau: "Mục đích của công tác khoa học là "trừ bỏ tính chủ quan", trừ bỏ tính cá thể của kinh nghiệm bằng cách kéo dài và tiếp tục kinh nghiệm một cách có phương pháp. Vậy kinh nghiệm khoa học tiếp tục kinh nghiệm thô sơ và giữa sự kiện khoa học và được hình thành với nghĩa là tập hợp những dữ liệu cho tư duy. Tiếp đó, quá trình tư duy phân tích, xử lý những dữ liệu kinh nghiệm kết hợp với sự đối chiếu các tri thức lý thuyết khác và giai đoạn khái niệm hóa kinh nghiệm thành hệ tri thức tương đối hoàn chinh được xác lặp. Bản chất đối tượng được củng cố trong tư duy qua hai bình diện:
a) Những tri thức cảm tính, những dữ
liệu kinh nghiệm mang lại trong tư duy.
Tính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi,
chính xác của con người. Tính nhạy cảm (nâng lực cảm giác) được phát triển ở
mỗi người với những mức độ khác nhau. Điều này phụ thuộc vào những tư chất tự
nhiên (cấu tạo và chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh...), vào
hoạt động của con người, vào việc rèn luyện và giáo dục cũng như những phấm
chất của nhân cách: xu hướng, nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, vốn kinh
nghiệm cá nhân... Thông qua hoạt động và rèn luyện, tính nhạy cảm của cảm giác
được nâng lên. Chẳng hạn, người đầu bếp sành sỏi có thế phân biệt được độ mặn
của thức ăn khi nêm thêm một chút ít muối, người nhạc công lão luyện có thể
phân biệt được âm thanh theo độ cao... Năng lực cảm giác (tính nhạy cảm) là
nhân tố chù yếu của năng lực quan sát. Năng lực quan sát là khả nâng tri giác
có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt
các sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng.
Năng lực quan sát
Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính
của nhân cách của mỗi người một khác. Sự khác biệt này được thể hiện ở mức độ
tri giác nhanh chóng, chính xác những điếm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của
sự vật, hiện tượng đến mức nào. Năng lực quan sát được hình thành và phát triển
trong quá trình hoạt động và rèn luyện. Muốn quan sát tốt, cần chú ý những điều
kiện sau: Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát.
Chuẩn bị chu dáo
(cả về tri thức lẫn phương tiện) trước khi quan sát. Tiến hành quan sát có kế
hoạch, có hệ thống. Khi quan sát, cần tích cực sử dụng các phương tiện ngôn
ngữ. Đối với trẻ nhỏ, nên tạo điều kiện cho trẻ sử dụng nhiều giác quan khi
quan sát. Cần ghi lại kết quả quan sát, xử lí kết quả đó và rút ra những nhận
xét cần thiết. Những khác biệt cá nhân về năng lực quan sát nói lên sự khác
biệt cá nhân về kiểu tri giác.
Con người có bốn kiểu tri giác cơ bản: Kiểu phân tích, kiểu tổng hợp, kiểu phân tích - tổng hợp và kiểu cảm xúc. Người thuộc kiểu phân tích chủ yếu tri giác những thuộc tính, những bộ phận, chi tiết cụ thể của đối tượng. Người thuộc kiểu tống hợp thiên về tri giác những mối quan hệ giữa các thuộc tính, các bộ phận, chú trọng đến chức năng, ý nghĩa của nó mà coi nhẹ các thuộc tính, chi tiết cụ thể. Người thuộc kiểu phân tích - tổng hợp giữ được sự cân đối giữa phân tích và tổng hợp khi tri giác. Người thuộc kiểu cảm xúc chủ yếu phản ánh những xúc cảm, tâm trạng mà đối tượng gây ra cho mình, ít quan tâm đến bản thân đối tượng. Trong công tác dạy học và giáo dục, giáo viên cần chú ý đến những điểm khác biệt trên đây, để hình thành cho mỗi học sinh năng lực quan sát tốt nhất.
b) Sự đối chứng bằng các tri thức khoa
học đã được khẳng định và có tính chân lý.
Giai
đoạn chuyển tiếp từ tư duy đến thực tiễn được thực hiện trong đó, kinh nghiệm
có vai trò kiểm nghiệm quá trình hiện thực hoá các tri thức đã được xử lý trong
tư duy, đồng thời củng cố và tiếp nhận những thông tin mới, hình thành kinh
nghiệm mới.
Engen
đã viết: "Tài liệu kinh nghiệm sau này sẽ chọn lọc lại những giả thuyết,
cho đến cuối cùng, quy luật được xác định dưới hình thức thuần thiết".
Ở
đây, Engen đã chỉ ra tác dụng và vai trò cần thiết của kinh nghiệm đối vội con
người trong quá trình tiếp cận chân lý. Làm rõ hơn vai trò đó, trong "Bút
ký triết học" Lênin đã trích ý kiến của A.Rây và đồng ý quan điểm của Rây
như sau:
"Kinh
nghiệm" sự kiện thô sơ không có sự khác nhau về tính chất.
Hay
trong một đoạn trích ghi ý kiến của Rây, Lênin đã bình luận: “Kinh nghiệm của
những cá nhân được tổ chức về mặt xã hội".
Tóm lại bằng phương pháp duy vật khoa học, vấn đề kinh nghiệm, về thực chất đã khắc phục được mặt phiến diện từ hai phía: Duy tâm và duy vật siêu hình. Qua những đặc trưng cơ bản trên, thực chất của kinh nghiệm được bộc lộ qua tính tích cực, đồng thời tính hạn chế của nó.
II – Ý nghĩa của kinh nghiệm đối với
hoạt động nhận thức và thực tiễn xã hội.
Kinh nghiệm có chứa đựng nội dung khách quan trong quá trình phản ánh đối tượng. Song trong sự phản ánh, chủ thể kinh nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho việc xác đinh ý nghĩa của nó đối với toàn bộ quá trình phàn ánh. Có thể nói, ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của kinh nghiệm hoàn toàn tùy thuộc vào quan niệm và cách xử lý của chủ thể đối với kinh nghiệm. Xác đinh đúng cấp độ và giới hạn của sự phản ánh, kinh nghiệm luôn có ý nghĩa tích cực góp phần vào quá trình con người phản ánh thế giới và ngược lại. Sự tùy tiện, tuyệt đối hóa kinh nghiệm sẽ dẫn kinh nghiệm đến biểu hiện của chủ nghĩa kinh nghiệm…
Trong quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, kinh nghiệm giữ vai trò tiền đề cho sự khái quát lý luận. Mặt khác, đến quá trình thực tiễn hóa lý luận, kinh nghiệm có chức năng kiểm nghiệm các tri thức lý luận đó. Đồng thời kinh nghiệm tham gia vào quá trình hiện thực hóa lý luận. Nói cách khác, những dữ liệu của thực tiễn thâm nhập vào lý luận, khái quát thành lý luận bao giờ cũng phải dựa vào những kiểm nghiệm của kinh nghiệm và chính những tổng kết kinh nghiệm làm cơ sở và những căn cứ cho khái quát lý luận. Lý luận chứng minh sự đúng, sai cho mình bằng thực tiễn, thực tiễn chỉ xác định được nó trên cơ sở kinh nghiệm. Giữa thực tiễn, kinh nghiệm thì lý luận là mối liên hệ hữu cơ, trong đó, kinh nghiệm là một khâu trung gian của quá trình tác động, chuyển hóa. Nếu phân tích cụ thể hơn thì kinh nghiệm là trình độ bước đầu có trước lý luận và thấp hơn lý luận. Nhưng một khi lý luận ra đời dựa trên những khái quát tổng kết kinh nghiệm, thì lý luận đó lại góp phần thúc đẩy sự nảy sinh kinh nghiệm mới, dọi sáng quá trình nhận thức lại kinh nghiệm cũ trên một trình độ mới. Đối với thực tiễn, kinh nghiệm là sự phản ánh trực tiếp, gắn liền thực tiễn đó. Nó có ý nghĩa thu nhận, tích lũy, sàng lọc những tài liệu thực tiễn để cung cấp cho lý luận. Không có kinh nghiệm thì thực tiễn không khái quát được thành lý luận và ngược lại, lý luận sẽ chỉ là lý thuyết trừu tượng không có căn cứ thực tiễn và không soi rọi cho thực tiễn nếu không có kinh nghiệm.
Trong
mối quan hệ giữa cái lịch sử với cái lôgic, kinh nghiệm mang một ý nghĩa nhất định.
Bởi lẽ, lịch sử và lôgic là hai phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa sự phát triển
lịch sử của sự vật với quá trình phản ánh sự phát triển ấy trong tư duy.
Engen
viết: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy bắt đầu từ đó, và sự vận động
tiếp theo của nó (quá trình lôgic) chẳng qua chỉ là sự phân ánh quá trình lịch
sử dưới một hình thái trừu tượng, nhất quán về lý luận".
Trong
mối quan hệ này, kinh nghiệm được biểu hiện qua hai bình diện.
-Kinh
nghiệm với tính chất là một quá trình phản ánh cái lịch sử.
-Kinh
nghiệm biểu hiện như một bộ phận tham gia vào cái logic.
Về lịch sử kinh nghiệm thể hiện như sản phẩm của quá trình tư duy trong sự phản ánh từng giai đoạn, từng hoàn cảnh cụ thể nhất định của lịch sử. Kinh nghiệm chỉ phù hợp và thích ứng được trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể của lịch sử mà thôi. Trong mỗi không gian và mỗi thời gian khác nhau thì kinh nghiệm là khác nhau. Do vậy, trong lịch sử, kinh nghiệm phản ánh từng quá trình lịch sử một cách sinh động, đa dạng, song thiếu triệt để kém bao quát hơn.
Logic
biểu hiện những mối liên hệ tất yếu, bản chất (qua những khái niệm, phán
đoán...), nó phản ánh những thuộc tính của bản chất lịch sử. Cố nhiên, để có những
thuộc tính bản chất đó, logic phải đưa vào những tài liệu được kinh nghiệm trước
đó cung cấp. Với logic thì điểm xuất phát của tiến trình phản ánh lịch sử không
còn bắt đầu từ kinh nghiệm nữa. Logic đã lược bỏ những mặt, những thuộc tính và
nhũng mối liên hệ không cơ bản đã được xác định trước, để đọng lại từng logic
cái cơ bản, cái bản chất sầu sắc hơn của lịch sử.
Sự thống nhất giữa cái lịch sử và cái logic chỉ được thực hiện bằng cách đi từ trừu tượng đến cụ thể. Do vậy trong logic, kinh nghiệm không phải là cái cung cấp tài liệu cảm tính mà cái chính là tham gia vào quá trình nghiệm, các tri thức đã được xử lý, giúp logic có được hình ảnh bản chất, phản ánh sự phát triển lịch sử của thế giới hiện thực.
Phân tích mối quan hệ giữa cái lịch sử với cái logic càng làm rõ hơn ý nghĩa của kinh nghiệm trong quá trình con người phản ánh thế giới trong tính lịch sử của nó. Kinh nghiệm có ý nghĩa như những nấc thang góp vào quá trình cón người tiếp cận chân lý. Trên sự tác động qua lại giữa cái riêng và cái chung, kinh nghiệm góp phần vào sự chuyển hóa của cái riêng và cái chung. Dựa vào kinh nghiệm, con người có thể nhận thức được cái riêng từ những lớp đối tượng cảm tính trực tiếp. Trong cái riêng, kinh nghiệm phàn ánh một cách chủ động, phong phú hơn. Mặc dù vậy, kinh nghiệm không thể phản ánh được toàn bộ cái riêng trong sự tồn tại tất yếu của nó. Song dù sao, tính riêng là một nét độc đáo trong các thuộc tính của kinh nghiệm. Kinh nghiệm bao giờ cũng mang tính riêng (của một cá thể, một nhóm, một dân tộc, một quốc gia, một khu vực trong một hoàn cảnh, một thời gian lịch sử nhất định). Vì thế, kinh nghiệm không thể trở thành khuôn mẫu để áp dụng máy móc cho các chủ thể, các đối tượng khác nhau và vì thế, việc học tập, tiếp thu kinh nghiệm, vận dụng kinh nghiệm đòi hòi phải có chọn lọc, sáng tạo trên nguyên tắc kề thừa và có quan điểm lịch sử cụ thể.
Kinh nghiệm không thể nhận thức được cái chung trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng riêng lẽ. Không thể dừng lại trong một kinh nghiệm riêng biệt nào đó, cái chung chỉ được biểu hiện trong và qua những kinh nghiệm với tính cách là sự phản ánh lặp đi, lặp lại trên những lớp đối tượng, sự vật, hiện tượng không đồng nhất. Bởi vậy trong quá trình phản ánh cái chung, kinh nghiệm tỏ ra là tự phát, bị động và kém sâu sắc. Đúng như Mác và Engen đã viết: "Đến một trình độ phát triển nhất định, khi các nhu cầu của con người và các dạng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đã tăng lên và phát triển hơn. Con người đặt những tên gọi riêng biệt cho hàng loạt các đối tượng mà con người đã nhờ kinh nghiệm mà phân biệt được nó với thế giới bên ngoài còn lại… Những tên gọi bằng lời nói như vậy, chỉ biểu hiện dưới dạng biểu tượng, cái mà hoạt động lặp đi, lặp lại đã biến thành kinh nghiệm.
Những
phân tích trên đã chỉ ra được hình thức, tính chất và cấp độ phản ánh của kinh
nghiệm. Nó giữ vi trí riêng trong quá trình con người phản ánh thế giới. Để nhận
thức và cải tạo thế giới hiện thực có hiệu quả, con người cần phải có cả kinh
nghiệm và cả lý luận. Vấn đề là ở chỗ, biết xử lý khách quan, khoa học hai hình
thức phản ánh đó. Đánh giá đúng thực chất, ý nghĩa của kinh nghiệm, là một cơ sở
giúp cho con người thể hiện được tính chủ động, tích cực và sáng tạo trong xử
lý và vận dụng kinh nghiệm vào quá trình phản ánh hiện thực. Vấn đề này, còn có
ý nghĩa quan trọng là góp phần vào công cuộc xây dựng tư duy mới, tư duy khoa học
của con người với tư cách là chủ thể cải tạo và xây dựng thành công xã hội mới.
Đọc xong bài viết trên Ta hi vọng Con Cháu mình có những lựa chọn phù hợp khi truyền bá hay xử dụng kinh nghiệm của mình hay người khác .Nhất trí với Ta điều đó nhé .Bởi “Thế giới” luôn vận động và biến đổi chỉ có biến đổi là đứng yên .Con Cháu ta nhớ nhé .
Con
người trưởng thành qua kinh nghiệm nếu họ đối diện với cuộc đời trung thực và
can đảm. Đây là cách tính cách hình thành.
Danh
ngôn cuộc sống, danh ngôn về kinh nghiệm, danh ngôn về hy vọng, danh ngôn về hiện
tại, danh ngôn về bản thân
Bốn
ý tưởng hay cho cuộc sống:
Nhìn lại phía sau & Có kinh nghiệm!
Nhìn lên phía trước & Thấy hy vọng!
Nhìn ra xung quanh & Tìm được thực tại!
Nhìn vào bên trong & Tìm thấy chính mình!
Ta không thể để thất bại định hình mình. Ta phải để thất bại dạy mình.
Ta
không thể tạo ra kinh nghiệm, ta trải qua nó.
Bản
lĩnh là sức mạnh hợp nhất của kinh nghiệm, trí tuệ và đam mê trong guồng hành động.
Chỉ
qua niềm vui và đau khổ mà con người thấu hiểu bản thân và vận mệnh của mình.
Người ta học được cần phải làm gì và cần phải tránh gì.
Chúng
ta học được qua kinh nghiệm rằng con người chẳng bao giờ học được gì từ kinh
nghiệm.
Có ai sáng suốt đến mức học hỏi được từ kinh nghiệm của người khác không?
Đón nhận những kinh nghiệm tiêu cực và nhìn chúng một cách tích cực, ta sẽ học được rất nhiều điều từ những chuyện đã qua. Đừng để người khác mãi phán xét mình chỉ dựa vào một lỗi lầm nào đó. Hãy để quá khứ lại phía sau lưng, nhưng đừng lãng quên nó.
Đừng
đổ lỗi cho ai trong đời. Người tốt cho mình hạnh phúc. Người xấu cho mình kinh
nghiệm. Người tồi tệ nhất cho mình bài học. Và người tốt đẹp nhất cho mình kỷ
niệm.
Đừng
nhìn xem ta ngã xuống đâu, hãy tìm xem ta trượt ngã tại đâu.
Hãy
bỏ thời gian thu thập quá khứ để mình có thể học được từ kinh nghiệm và đầu tư
chúng vào tương lai.
Hãy
ngừng làm đứa trẻ bất trị trong ngôi trường kinh nghiệm, và bắt đầu học với sự
nhún nhường và kiên nhẫn những bài học được đặt ra cho sự hoàn hảo tối thượng của
mình.
Hãy
trở thành miếng bọt biển hấp thu những thông tin sẽ trợ giúp mình trên đường đời.
Ta không phải lãng phí năm tháng phạm vào những sai lầm mà người khác đã phạm
phải trước đó.
Học
từ sai lầm của bản thân là rất quan trọng, nhưng TỐT HƠN là học từ sai lầm của
người khác, và TỐT NHẤT là học từ thành công của người khác. Điều đó đẩy nhanh
thành công của chính mình.
Hôm nay là học trò của hôm qua.
Không có bí mật nào cho sự thành công. Thành công là kết quả của sự chuẩn bị kỹ càng, sự chăm chỉ và học hỏi từ thất bại.
Không
gì lãng phí thời gian nếu mình biết sử dụng kinh nghiệm đó.
Kinh
nghiệm chỉ dạy cho những ai có thể dạy dỗ.
Kinh
nghiệm chỉ đơn giản là cách mà ta gọi sai lầm của mình.
Kinh
nghiệm không phải là điều xảy ra với một con người. Mà nó là điều mà người đó
làm với những gì đã xảy ra với anh ta.
Kinh
nghiệm là biển chỉ đường tốt hơn lời nói của người khác.
Kinh
nghiệm là người thầy đắt đỏ, nhưng kẻ ngu ngốc sẽ không chịu học ai khác.
Kinh
nghiệm là người thầy hà khắc. Nó bắt ta thi trước, và dạy dỗ sau.
Kinh
nghiệm là thứ mình không thể có mà không trả giá.
Kinh
nghiệm là thứ có giá trị siêu phàm.
Kinh nghiệm là trường học tốt. Nhưng cái giá quá đắt.
Mọi thứ đều có bài học răn dạy, nếu mình tìm được nó.
Nếu
mình không học hỏi được gì từ những sai
lầm của mình, thật uổng phí khi mình phạm
phải sai lầm đó.
Nghịch
cảnh sẽ luôn xuất hiện, vậy nên hãy đi qua gian khó và học được từ chúng.
Nghiên
cứu sách vở không quan trọng lắm. Dĩ nhiên kinh điển là đúng nhưng không diễn đạt
hết chân lý. Kinh điển là ngôn từ, chữ viết mà khả năng diễn đạt có giới hạn.
Chẳng hạn như danh từ “sân hận” không thể diễn tả được trạng thái nóng nảy, giận
hờn cũng như nghe tên một người khác với gặp được người ấy. Chỉ có kinh nghiệm
của chính mình mới đem lại đức tin thực
sự.
Người
sáng suốt đi theo lý trí, người bình thường đi theo kinh nghiệm, người ngu ngốc
đi theo nhu cầu, và kẻ vũ phu đi theo bản năng.
Nguồn tri thức duy nhất là kinh nghiệm.
Phán đoán đúng đến từ kinh nghiệm, và kinh nghiệm – chà, nó đến từ phán đoán tồi.
Phán
đoán tốt đến từ kinh nghiệm, và kinh nghiệm thì - chà, thứ đó đến từ phán đoán
tồi.
Quá
khứ là nơi tôi luôn ngoảnh lại chiêm nghiệm, rút ra bài học từ lỗi lầm để rồi
không ngừng vun đắp cho mình tình yêu và sự trân trọng đối với tương lai.
Quyết
định tốt đến từ kinh nghiệm, và kinh nghiệm đến từ quyết định tồi.
Sai
lầm thực sự duy nhất là sai lầm mà chúng ta không học được gì từ nó.
Sáng
tạo chỉ là việc kết nối các vấn đề. Khi mình hỏi những người giàu tính sáng tạo về cách họ
làm điều gì đó, họ cảm thấy hơi gượng gập bởi họ thực sự không làm gì, họ chỉ
thấy một số việc. Mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian. Đó là bởi vì họ
có thể kết nối những kinh nghiệm mình có và tổng hợp thành những thứ mới. Và lý
do khiến họ có thể làm điều đó là họ có nhiều kinh nghiệm hơn hoặc họ đã suy
nghĩ nhiều về kinh nghiệm của mình hơn người khác.
Sự
bảo đảm duy nhất mà con người có thể có trên thế gian này là nguồn dự trữ tri
thức, kinh nghiệm và khả năng.
Sự sáng suốt của chúng ta đến từ kinh nghiệm, và kinh nghiệm đến từ sự ngu ngốc.
Thành công là kết quả của những phán đoán đúng, phán đoán đúng là kết quả của kinh nghiệm, và kinh nghiệm thường là kết quả của phán đoán sai!
Thành
công trong đời là kết quả của phán đoán đúng. Phán đoán đúng thường là kết quả
của kinh nghiệm. Kinh nghiệm thường là kết quả của phán đoán sai.
Thất
bại không chết người. Thất bại nên là thầy của ta, không phải người làm tang lễ.
Nó nên là thách thức để ta vươn tới những tầm cao thành tựu mới, không phải để
lôi ta xuống vực thẳm tuyệt vọng. Từ thất bại, ta có thể có được những trải
nghiệm đáng giá.
Thất
bại là kẻ vấp ngã, nhưng không thể hưởng lợi từ kinh nghiệm đó.
Tôi
học được từ sai lầm của mình. Đó là một cách rất đau đớn để học hỏi, nhưng như
câu nói xưa, không có đau đớn, không có thu hoạch.
Trực
giác là kinh nghiệm tích tụ trong vô thức hình thành phán đoán trong hiện thực.
Từ
trải nghiệm của quá khứ chúng ta ta rút ra bài học dẫn đường cho tương lai.
Tuổi già và dòng chảy thời gian dạy ta mọi thứ.
NHỮNG CÂU
NÓI HAY VỀ KINH NGHIỆM SỐNG
Con
Cháu ta đã biết được bao nhiêu câu danh ngôn, châm ngôn, hoạt ngôn hoặc ngôn gì
gì đó của cuộc sống?? Hãy để Ngọc Minh giúp Con Cháu mình bổ sung thêm những
câu nói hay nhất, ấn tượng nhất về các lĩnh vực cuộc sống, tình bạn, tình yêu,
hôn nhân, gia đình… dưới đây nhé!
Sống
có mơ ước nhưng hãy để đôi chân mình bước đi trên hiện thực.
Tôi
không tin Chúa Trời thực sự tồn tại nhưng tôi tin Quỷ Dữ là có thật, vì những
nơi tôi đi qua chỉ toàn thấy khổ đau
Sự
khác biệt luôn khiến người khác phải khó chịu
Bản
thân ta khi mới sinh ra là một bản gốc thì xin đừng chết như một bản sao
Bản chất của mọi việc trên đời này không có đúng và sai, cứ cái gì số đông công nhận là đúng thì tức là nó đúng. Cả thế giới ăn cứt mà mình Ta ăn cơm thì Ta là thằng “dở người thánh thiện”. Chấm hết.
Giữa
thành công và thất bại có con sông gian khổ… trên con sông đó có cây cầu tên là
sự cố gắng.
Tôi
có những nguyên tắc riêng của chính mình, vì vậy bạn đừng có đánh giá tôi theo
suy nghĩ riêng của bạn …
Bạn
bè là người đến với mình khi mọi kẻ khác đã bỏ đi
Đi
ngược lại với đám đông có nghĩa là mình cực kì thông minh hoặc cực kì ngu dốt.
Người
sống chó luôn ở xung quanh mình . Người tốt chỉ có ở trên ở trên báo. Tình yêu
là 1 thứ xa xỉ với người nghèo.
Trên
con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng
Những câu nói hay nhất về cuộc sống,
tình bạn, tình yêu, hôn nhân, kinh doanh
Chúa
trời và quỷ dữ tuy 2 nhưng lại là 1, chỉ là bên nào mạnh hơn thôi
Xã
hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc sự sống của trái đất và nhân loại
ngày càng rút ngắn.
Mày
lừa tao lần 1, tao cười mày. Mày lừa tao lần 2, tao cười tao
Với
những người coi sự giúp đỡ của người khác là hiển nhiên thì chỉ nên giúp một lần
Bài
học thì rất nhiều nhưng quan trọng là có nhớ được nó hay không.
Mình
không đi trên con đường của họ nên không biết được sự đau khổ của họ trải qua ,
nên xin đừng đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài , hãy nhìn vào năng lực của họ.
Người
đàn bà quyến rũ sẽ vô cùng nguy hiểm khi nhận thức được lợi thế đó của mình.
Hãy
loại bỏ từ “giá như” và những từ đồng nghĩa với nó ra khỏi cuôc sống.
Cuộc
đời đơn giản chỉ là 1 chuỗi các sự lựa chọn.thứ mà nhất định sẽ đến lúc chúng
ta phải nhìn lại.vậy hãy chọn sao cho sau này khi nhìn lại, Mình không cảm thấy
hối hận chứ đừng lựa chọn chỉ vì lúc đó Mình thấy hợp lí.
Phần lớn chúng ta cân nhắc quá nhiều về cái giá phải trả cho sự thay đổi mà ít chịu cân nhắc về cái giá phải trả nếu không thay đổi.
Một số bài học thực tế về cuộc sống ta
hy giúp con cháu ta sống tốt và ý nghĩa
hơn
Đôi khi, trong cuộc sống có những sự thật không mấy dễ chịu buộc chúng ta phải học cách chấp nhận để có được một cuộc sống thanh thản và nhẹ nhàng. Ngoài ra, đó cũng cung cấp cho ta những bài học, kinh nghiệm vô cùng quý giá về cuộc sống hiện tại. Dưới đây là những bài học thực tế về cuộc sống giúp ta truyền cho Con Cháu sống tốt và ý nghĩa hơn. Hãy cùng đọc và suy ngẫm nhé!
1. Có những người đến rồi đi
Khi càng trưởng thành, Chúng ta sẽ nhận ra rằng số lượng bạn bè thường xuyên liên lạc ngày càng ít hơn so với trước kia. Ngày hôm nay có thể Ta rất thân thiết với một người nào đó nhưng rồi bỗng dưng cả hai lại không nói chuyện với nhau nữa, mặc dù chẳng có xích mích nào xảy ra giữa hai người. Đó chính là cuộc sống. Chúng ta nên học cách chấp nhận điều này và tiếp tục đón chờ những mối quan hệ mới xuất hiện trong cuộc đời mình. Tuy nhiên, cũng có nhiều mối quan hệ vẫn trường tồn theo thời gian nên nếu Mình may mắn có được mối quan hệ này thì hãy trân trọng nó mỗi ngày.
2. Không có bài học hay kinh nghiệm
nào miễn phí cả
"Không
có bữa ăn nào là miễn phí cả" Chúng ta đều phải đánh đổi nó bằng cách này
hay cách khác và chẳng phải lúc nào cũng chỉ có tiền bạc. Để có được kiến thức
và kinh nghiệm trong cuộc sống, Chúng ta phải bỏ ra những thứ "vô
hình" như thời gian, công sức, chất xám và đôi khi còn là cảm giác đau khổ,
mệt mỏi và thất vọng nữa.
Một vài mối quan hệ đổ vỡ có thể là một điều tốt lành mà Ta chưa thể nhìn nhận ra ngay lúc đó. Bản thân Mình có thể bị tổn thương hoặc làm người khác tổn thương. Khi một mối quan hệ kết thúc, nó sẽ khiến Chúng ta cảm thấy đau khổ và buồn chán. Chúng ta có thể khóc nếu như thấy ổn hơn. Tuy nhiên, sau những giọt nước mắt đó hãy đứng lên và tiếp tục tiến về phía trước. Đôi khi, Chính Ta có thể nhìn lại và làm điều gì đó. Bởi Mình có thể học được những bài học quý giá sau mối quan hệ này. Vì vậy, hãy quan sát thật kỹ. Nhìn lại nhưng nhớ rằng: Đừng bao giờ để nó ảnh hưởng quá nhiều đến cuộc sống hiện tại và khiến Mình không thể tiến về phía trước.
3. Một số người tốt với Chúng ta vì vụ
lợi bản thân
Trong cuộc sống, Chúng ta sẽ được nhiều người đối xử tốt nhưng không phải ai trong số họ cũng hoàn toàn không vụ lợi. Chúng ta sẽ chỉ biết ai thật sự tốt với mình khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Những người luôn sát cánh bên Mình trong cơn hoạn nạn đáng trân trọng và quan tâm hơn. Còn những người bỏ Chúng ta đi trong lúc đó thì... hãy quên đi.
4. Mối quan hệ chỉ tốt đẹp khi được
vun đắp
Bất kể đó là mối quan hệ yêu đương, bạn bè hay
gia đình thì đều cần phải được vun đắp hàng ngày thì mới có thể phát triển và bền
vững được. Chúng ta đừng nên bỏ mặc ai đó quan trọng với mình vì nghĩ rằng lúc
nào họ cũng ở bên Mình. Không đâu, họ sẽ bỏ đi bất kỳ lúc nào mà Ta không hay đấy.
Nếu Chúng ta thật sự trân trọng mối quan hệ nào đó, hãy thể hiện và đầu tư thời gian, công sức dành cho nó. Cố gắng vun đắp các mối quan hệ và đừng sợ bị tổn thương. Bởi ngay cả khi nó không được như Mình mong muốn thì Ta cũng đã cố gắng hết sức rồi và không còn gì hồi tiếc nữa.
5. "Cỏ chỉ xanh khi được tưới nước
đầy đủ"
Chúng
ta thường có thói quen nhìn vào bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp rồi tự so sánh với
bản thân và thấy mình thật thấp kém. Luôn tự hỏi: Tại sao họ đạt được những
thành tựu đó mà mình thì không? Tại sao cuộc sống của họ hoàn hảo hơn mình?
Nếu Chúng ta đã từng nghĩ những điều đó thì hãy tự dặn lòng rằng: ai cũng có những vấn đề và thử thách riêng trong cuộc sống dù "bề nổi" của họ có hào nhoáng đến đâu. Vậy nên chúng ta không là họ làm sao biết được những người bạn và đồng nghiệp ấy đã trải qua những gì để có được thành công như vậy. Thay vì ganh tỵ với người khác, Ta nên dành thời gian chăm chút cho con đường sự nghiệp của bản thân.
6. Chúng ta không thể làm vừa lòng tất
cả mọi người
Không
bao giờ. Chúng ta không thể nào làm được điều đó. Vì vậy, hãy làm những gì Mình
thích và nói những gì Ta muốn. Nếu ai đó ghét những gì Chúng ta làm,
hãy cứ để họ tự do làm điều đó. Đừng thay đổi bản thân chỉ để làm vừa lòng một
ai vì họ sẽ chẳng bao giờ ngừng đòi hỏi.
Hãy chấp nhận với việc lúc nào Chúng ta cũng sẽ có điểm gì đó khiến người khác không vừa lòng. Tuy nhiên, Chúng ta cần phải linh hoạt và biết làm vừa lòng một số người trong từng trường hợp cụ thể để khiến cuộc sống dễ dàng hơn.
7. Xây dựng những mối quan hệ có thể
tiến xa hơn. Biết làm hài lòng những người cần thiết
Hãy chăm chỉ ra ngoài, gặp gỡ mọi người và có những mối quan hệ bền vững. Đừng cố gắng biết hết tất cả mọi người vì như vậy chẳng khác nào Chúng ta không biết một ai cả. Tập trung đầu tư vào một số mối quan hệ nhất định và dành thời gian tìm hiểu về họ. Những người này không nhất thiết phải đảm nhiệm vị trí cao hay có thế lực, có thể là đồng nghiệp, người cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ chẳng hạn. Dù là ai, Ta cũng nên đến với họ bằng tấm lòng chân thành và mình sẽ nhận lại được những gì xứng đáng.
8. Ai cũng muốn làm việc dễ thì việc
khó dành cho ai?
Nếu được phân công làm một nhiệm vụ khó nhằn trong khi bạn bè hay đồng nghiệp lại được làm các công việc dễ dàng thì hãy cố gắng vui vẻ làm việc đó. Chúng ta cần làm quen với việc người làm ít người làm nhiều trong một tập thể, miễn sao kết quả cuối cùng tốt là được. Khi làm những công việc khó, Chúng ta sẽ có cơ hội học hỏi những điều mới mẻ cho bản thân.
9. Tự giải quyết vấn đề của bản thân
Ngừng than thở, phàn nàn và khóc lóc với người khác về những vấn đề của bản thân. Nghiêm túc mà nói sẽ chẳng có ai quan tâm đâu. Vì vậy, hãy xắn tay áo lên và tự giải quyết nó ngay đi. Chúng ta có thể nhờ người khác giúp đỡ nhưng không ai có thể giải quyết vấn đề tốt hơn chính bản thân mình, bởi chỉ có Chúng ta mới biết rõ mình thật sự muốn gì. Khi giải quyết vấn đề, Chúng ta cũng phải tự chịu trách nhiệm với bất kì quyết định nào mình đưa ra. Sẽ không ai lo cho Ta được cả.
10. Không ai có nghĩa vụ phải giúp đỡ Chúng
ta
Tự chịu trách nhiệm cho bản thân mình. Bố mẹ, bạn bè hay giáo viên của Chúng ta không nợ Chúng ta bất cứ điều gì cả. Nếu muốn làm một thứ gì đó, hãy tự mình cố gắng đạt được nó. Đừng trông mong người khác giúp đỡ Mình. Nếu họ giúp đỡ Chúng ta, hãy nhớ phải biết ơn họ. Còn nếu họ không giúp cũng đừng ghét họ, bởi vốn dĩ họ không hề có nghĩa vụ phải làm vậy. Ta là một cá thể độc lập và nếu muốn đạt được một điều gì đó chỉ có một cách duy nhất là cố gắng làm việc chăm chỉ mà thôi.
11. Ngoại hình không phải là tất cả,
quan trọng là cách Chúng ta thể hiện bản thân
Ai cũng muốn người khác quý mến mình về tính cách và kiến thức chứ không phải về vẻ bên ngoài. Tôn trọng, tự tin và tốt bụng là tất cả những gì mà Chúng ta cần. Mọi người thường nói về một khuôn mặt xinh đi kèm với một tính cách xấu, chứ chẳng ai bàn tán về chuyện một người có tính cách tuyệt vời nhưng lại có vẻ bề ngoài bình thường cả. Khi trưởng thành, Chúng ta sẽ nhận ra rằng vẻ bề ngoài thực sự không phải là tất cả.
12. Cái tôi thật sự không có ích lợi
gì
Cái tôi cá nhân không có lợi ích gì cả. Hãy bỏ qua cái tôi cá nhân và nói lời xin lỗi khi cần thiết. Tình bạn và các mối quan hệ đáng giá hơn sự kiêu ngạo ngu ngốc. Thậm chí, Chúng ta ghét ông chủ của mình nhưng hãy bỏ qua cái tôi và nói chào buổi sáng tốt lành khi gặp ông ấy vào buổi sáng. Bởi nếu không nói vậy, Chúng ta sẽ tưởng tượng ra những gì mà Chúng ta nhận từ nó chứ? Cái tôi vô dụng và những nguy cơ xấu Chúng ta có thể nhận lại từ ông chủ của mình. Nó thật không đáng phải không? Để cái tôi kiểm soát hành động sẽ khiến Ta mất đi nhiều cơ hội cả trong cuộc sống lẫn công việc.
13. Chỉ có Chính Ta mới khiến bản thân
hạnh phúc
Đừng trông mong bất cứ ai sẽ mang đến hạnh phúc đến cho Mình . Chúng ta sẽ phải thất vọng dài dài. Hãy tự yêu thương bản thân mình. Và tự tin vào bản thân. Khi người khác chê Mình mập, Ta có thể nói: "Bạn nói tôi mập? Đúng vậy. Nhưng bạn có biết tôi rất khó khăn khi phải duy trì cân nặng hiện tại để nó không tăng hoặc giảm không? Điều đó thực sự rất khó đấy. Việc ăn đồ ngọt thật không dễ chịu chút nào khi bạn đang buồn ngủ đúng không?" Hãy yêu thương và chăm sóc bản thân mình hàng ngày để cảm thấy yêu đời thì mới có thể yêu thương được người khác.
14. Đừng sợ bị chế giễu. Học cách tự
cười vào bản thân sẽ giúp Chúng ta thoải mái hơn
Chúng ta không thể tránh khỏi việc bị người khác phán xét và chế nhạo những khuyết điểm của mình. Hãy bỏ qua những lời phán xét của người khác, bởi họ không quan tâm Chúng ta sẽ cảm thấy như nào đâu. Thay vì rước lấy khó chịu vào người, hãy học cách tự cười vào những điểm không hoàn hảo của mình. Phân tích kỹ, nếu nó là chuyện tào lao hãy ném thẳng vào "thùng rác". Họ là họ và Chúng ta là Chúng ta. Đó là cách thể hiện việc Chúng ta có tự tin với sự không hoàn hảo một cách hoàn hảo của mình hay không. Hãy dùng hành động và thành tựu đạt được để chứng minh rằng điều họ nói là sai. Tuy nhiên, lưu ý rằng những lời chỉ trích mang tính xây dựng thì hãy ghi nhớ để hoàn thiện bản thân nhé.
15. Cuộc sống vốn dĩ không công bằng.
Không bao giờ công bằng
Chúng
ta đã cố gắng như mọi người, thậm chí còn hơn nhưng tại sao họ lại có được những
thứ họ muốn còn Mình thì không? Mặc kệ nó đi. Cuộc sống vốn dĩ không công bằng
và nó sẽ không bao giờ công bằng.
Có những người được cuộc đời ưu ái về nhiều mặt hơn so với một số người khác. Việc này không phải lỗi của bất kì ai cả. Chúng ta buộc phải chấp nhận việc này dù chẳng dễ dàng chút nào. Hãy cố gắng phấn đấu hàng ngày để hoàn thiện bản thân, nếu không đạt được những gì Mình muốn thì chí ít cũng tiến gần đến điểm Ta muốn đến.
16. Mỗi người có một quan điểm riêng
Việc
Chúng ta và người khác không đồng quan điểm là điều bình thường. Chúng ta không
cần phải thay đổi nếu quan điểm của mình không giống với bất kì ai. Chỉ cần
không hổ thẹn với những gì Mình nghĩ,
hãy cứ sống theo cách Mình cho là đúng đắn. Đừng để bị lung lay.
Chúng ta tin có cơ hội thứ hai không? Hãy trao cho nó cơ hội đó. Mình muốn ăn chay? Hãy làm nó. Chúng ta muốn đối xử tốt với mọi người, ít nhất là với những người xứng đáng với nó? Hãy đối xử tốt với mọi người. Đừng thay đổi chỉ vì một người mà không thể chấp nhận Mình.
17. Chúng ta sẽ không bao giờ có được
mọi thứ mình muốn
Trong cuộc sống sẽ không bao giờ Chúng ta có được tất cả những gì bản thân muốn bởi đó là cuộc sống. Hãy hài lòng với những gì Mình đang có, Chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc. Dĩ nhiên luôn có một ai đó tốt hơn, giàu có hơn và hấp dẫn hơn. Chúng ta sẽ không bao giờ chiến thắng, vì vậy đừng hy vọng. Cố gắng hoàn thiện bản thân tốt nhất theo Mình, chứ không phải là tốt nhất theo người khác.
18. Ưu tiên những quyết định trong cuộc
đời Chúng ta
Mỗi ngày chúng ta đều phải lựa chọn giữa những việc nên làm và không nên làm. Hãy cân nhắc thật kỹ trước khi đưa ra lựa chọn để không làm lãng phí thời gian cho những việc không đáng.
19. Lùi một bước để nhìn nhận lại vấn
đề từ các góc độ khác nhau
Đừng vội tin những câu chuyện chỉ được kể từ một phía bởi chúng đều có hai mặt. Phải nhìn nhận quan sát thật kỹ mọi việc hơn là cảm thông. Đặt bản thân vào trường hợp đó để hiểu rằng tại sao họ lại làm như vậy và lùi lại một bước để quan sát rõ bức tranh hơn. Hãy tìm hiểu mọi thứ thật kĩ càng trước khi đặt niềm tin nhé!
20. Luôn đối xử tốt với người khác
Có thể nhiều người sẽ chọn cách sống lươn lẹo để đạt được thành tựu một cách nhanh chóng nhưng còn nhiều người khác chọn lối đi đường dài. Hãy là một người tốt cho dù Chúng ta có bị cuộc đời đối xử tệ bạc đến đâu đi chăng nữa, đơn giản là vì làm người tốt không bao giờ phải chịu thiệt thòi.
Tham khảo thêm một số bài
viết sau các con nhé
-
kỹ năng cực kỳ khó học nhưng lại vô cùng hữu ích trong bước đường thành công
-
cách vượt qua nỗi sợ hãi và lo lắng của tác giả Dale Carnegie
-
thủ thuật tâm lý thú vị ai cũng nên biết
-
kiểu người mà ta nên tránh càng xa càng tốt
-
bài học cuộc sống nên biết trước khi bước sang tuổi 30
-
kỹ năng sinh tồn cứ nghĩ là đúng, nhưng nó lại hoàn toàn sai bét và có thể giết
chết ta
-
điều những người có ý chí mạnh mẽ thường làm để đạt được thành công





























































































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét