Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 9

Mục lục

1.Vai trò của sản xuất và phương thức sản xuất

1.1-Vai trò của sản xuất

1.2-Vai trò của phương thức sản xuất

I-Những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội.

1.Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

1.1-Tính chất của lực lượng sản xuất

1.2-Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

1.3-Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất

2.Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

2.1-Khái niệm về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

2.2-Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng

3.Đấu tranh giai cấp, nhà nước và dân tộc, gia đình và xã hội

3.1-Giai cấp và đấu tranh giai cấp

3.1.1-Khái niệm giai cấp

3.1.2-Đấu tranh giai cấp

4.Nhà nước và dân tộc

5.Gia đình và xã hội

II-Ý THỨC XÃ HỘI

1-Tính chất của ý thức xã hội

2-Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội.

3-Một số hình thái ý thức xã hội

Phần VIII

NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT

 

1.Vai trò của sản xuất và phương thức sản xuất

1.1-Vai trò của sản xuất

Con người sáng tạo ra lịch sử và là chủ thể của lịch sử. Để tồn tại và phát triển, trước tiên con người phải ăn uống, ở và mặc trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… Muốn vậy, họ phải lao động sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan, là cơ sở của sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội; từ đó mới hình thành các quan điểm tư tưởng, quan hệ xã hội và các thiết chế xã hội khác nhau. Sản xuất vật chất là cơ sở của mọi sự tiến bộ xã hội.

 

Trong các yếu tố hợp thành hình thái kinh tế-xã hội thì lực lượng sản xuất là yếu tố năng động và cách mạng nhất, luôn phát triển một cách khách quan. Lực lượng sản xuất phát triển tất yếu dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất; từ đó kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội khác làm cho xã hội phát triển.

 

Chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ rõ nguyên nhân và động lực của sự phát triển xã hội chính là do sự phát triển của sản xuất vật chất. Sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu khách quan và phát triển xã hội.

 

1.2-Vai trò của phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Mỗi phương thức sản xuất gồm hai mặt cấu thành là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

 

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, là trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là mặt tự nhiên của phương thức sản xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động. Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và công cụ lao động, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất, luôn đổi mới theo tiến trình phát triển của sản xuất vật chất.

 

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa Người với Người trong quá trình sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu của người lao động đối với tư liệu sản xuất, quan hệ của họ trong quá trình tổ chức, quản lý và phân công lao động; quan hệ của họ trong phân phối sản phẩm lao động. Ba mặt đó có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu của người lao động đối với tư liệu sản xuất là mặt quyết định các mối quan hệ khác.

 

Phương thức sản xuất quyết định tính chất của xã hội. Xã hội là do những con người với các hoạt động của mình tạo ra nhưng con người không thể tùy ý lựa chọn các chế độ xã hội cho mình. Những vĩ nhân hay nhà nước, những tư tưởng, học thuyết khoa học không thể áp đặt được chế độ xã hội. Sự ra đời của một chế độ trong lịch sử do yếu tố hoàn toàn khách quan là phương thức sản xuất quyết định. Phương thức sản xuất phong kiến quyết định tính chất của xã hội phong kiến. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định tính chất của chế độ xã hội TBCN…

 

Phương thức sản xuất quyết định tổ chức kết cấu của xã hội. Tổ chức kết cấu của xã hội bao gồm các tổ chức kinh tế, quan điểm tư tưởng, giai cấp, đảng phái, nhà nước, thiết chế xã hội và các tổ chức chính trị – xã hội khác. Tổ chức kết cấu ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà do phương thức sản xuất quyết định. Mỗi phương thức sản xuất khác nhau sinh ra một kiểu tổ chức kết cấu xã hội khác nhau.

 

Phương thức sản xuất quyết định sự chuyển hóa của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển của sản xuất, thực chất là sự phát triển của các phương thức sản xuất. Khi phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thì chế độ xã hội cũ sẽ mất theo và chế độ xã hội mới sẽ ra đời. Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất, tương ứng với nó là năm chế độ xã hội là chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ TBCN và cuối cùng là chế độ cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn thấp của nó là CNXH)

 

Lý luận trên cho ta ý nghĩa: khi nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội phải đi tìm nguồn gốc phát sinh từ phương thức sản xuất, từ tất yếu kinh tế. Nhận thức đúng vai trò của phương thức sản xuất trong thời kì đổi mới Đảng ta đã chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức.

 

I-Những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội.

1.Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

1.1-Tính chất của lực lượng sản xuất

Việc sử dụng tư liệu lao động, chủ yếu là công cụ lao động quyết định tính chất cá nhân hay tính chất xã hội của lực lượng sản xuất. Công cụ lao động thủ công, chỉ cần một người sử dụng như: cái cày, cái cuốc, con dao…. mà sản xuất được thì sản xuất đó có tính chất cá nhân. Nếu công cụ lao động là những dây chuyền máy móc, cần nhiều người lao động, mỗi người làm trong một bộ phận hay trong một công đoạn của sản phẩm thì lực lượng sản xuất đó có tính chất xã hội.

 

Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển khoa học và công nghệ, công cụ lao động, phân công lao động và người lao động. Ngoài yếu tố con người là quyết định nhất thì trình độ của công cụ lao động, trình độ chuyên môn hóa sản xuất là tiêu chí đánh giá sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ví dụ: Có trình độ lực lượng sản xuất thủ công, lực lượng sản xuất cơ khí và tự động hóa…

 

1.2-Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ với nhau. Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của phương thức sản xuất. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ nội dung và hình thức của quá trình sản xuất.

 

Lực lượng sản xuất như thế nào về tính chất và trình độ thì quan hệ sản xuất phải phù hợp như thế ấy. Trình độ của lực lượng sản xuất thủ công, với công cụ thô sơ có tính chất cá nhân thì phù hợp với nó là quan hệ sản xuất cá nhân.

 

Khi lực lượng sản xuất thay đổi tính chất và trình độ thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Do con người luôn tích lũy sáng kiến và kinh nghiệm, luôn cải tiến công cụ và phương thức sản xuất nên lực lượng sản xuất luôn phát triển. Ngày nay khoa học và công nghệ phát triển đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó mà quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở lực lượng sản xuất.

Khi lực lượng sản xuất cũ mất đi, lực lượng sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất cũ cũng mất đi, quan hệ sản xuất mới được xây dựng. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển đến một trình độ nhất định sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất. Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt đòi hỏi phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.

 

1.3-Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất

Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quan hệ sản xuất không phù hợp thì nó kìm hãm, thậm chí phá vỡ lực lượng sản xuất.

 

Quan hệ sản xuất là phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra những tiền đề, những điều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất (người lao động, công cụ, đối tượng lao động) kết hợp với nhau một cách hài hòa để sản xuất phát triển và đưa lại năng xuất lao động cao.

 

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không phải chỉ thực hiện một lần là xong mà phải là quá trình. Mỗi khi sự phù hợp quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất bị phá vỡ là mỗi lần điều chỉnh, thay bằng sự phù hợp khác cao hơn.

 

Ý nghĩa của lí luận này là ở đâu có đối tượng lao động thì ở đó cần có người lao động và công cụ lao động phải tương ứng với trình độ, kĩ năng của người lao động.

 

Vận dụng quy luật này, trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương:

 

Phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Một trong tám đặc trưng của CNXH ở nước ta là “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”.

 

2.Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

2.1-Khái niệm về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất còn lại của hình thái kinh tế-xã hội trước và quan hệ sản xuất của hình thái kinh tế-xã hội tương lai. Trong ba loại quan hệ sản xuất đó thì quan hệ sản xuất thống trị là chủ đạo và chi phối các quan hệ sản xuất khác và là đặc trưng của cơ sở hạ tầng đó. Cơ sở hạ tầng có tính giai cấp.

 

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học…và những thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó.

 

Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng cùng nảy sinh từ cơ sở hạ tầng có đặc trưng, quy luật vận động và mối liên hệ riêng với cơ sở hạ tầng và giữa chúng có sự liên hệ tác động lẫn nhau. Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng thì nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh nhất, nhờ nó mà giai cấp thống trị có thể áp đặt tư tưởng thống trị của giai cấp mình cho toàn xã hội. Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng có tính chất đối kháng.

 

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng thể hiện:

   Cơ sở hạ tầng như thế nào thì kiến trúc thượng tầng xây dựng trên đó phải như thế ấy. Quan hệ sản xuất nào thống trị thì sẽ tạo ra một kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng với quan hệ sản xuất đó; giai cấp nào thống trị về kinh tế thì giai cấp đó thống trị về tư tưởng; mâu thuẫn kinh tế quyết định mâu thuẫn tư tưởng.

Khi cơ sở hạ tầng biến đổi đòi hỏi kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo. Những biến đổi cơ sở hạ tầng sớm muộn cũng dẫn tới sự biến đổi kiến trúc thượng tầng. Khi cơ sở hạ tầng ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì nhà nước dân chủ tư sản chuyển thành nhà nước độc quyền; các quan điểm chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật… có xu hướng phục vụ chủ nghĩa đế quốc.

Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới ra đời thì sớm muộn kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúc thượng tầng mới ra đời. Kiến trúc thượng tầng là lĩnh vực ý thức xã hội nó có tính chất độc lập tương đối. Khi cơ sở hạ tầng nào đó mất đi, nhưng các bộ phận của kiến trúc thượng tầng mất đi không đều, có bộ phận vẫn tồn tại, thậm chí nó còn được sử dụng.

 

2.2-Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng

Kiến trúc thượng tầng ra đời trên cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định nhưng nó có tính độc lập tương đối, có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Kiên trúc thượng tầng bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Kiến trúc thượng tầng tiên tiến khi nó bảo vệ một cơ sở hạ tầng tiến bộ và ngược lại. Kiến trúc thượng tầng tiên tiến thì nó tác động thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển. Ngược lại, nếu kiến trúc hạ tầng bảo thủ, lạc hậu sẽ tác động kìm hãm sự phát triển cơ sở hạ tầng. Nhưng sự kìm hãm đó chỉ là nhất thời, sớm muộn cũng tất yếu thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới.

 

Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo hình thức và mức độ khác nhau, trong đó nhà nước có vai trò quan trọng và có hiệu lực mạnh nhất. Mọi giai cấp thống trị đều xây dựng nhà nước của mình thực sự trở thành một công cụ quyền lực hiệu quả để thống trị xã hội.

 

Vận dụng sáng tạo quy luật này, Đảng ta chủ trương, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là xây dựng cơ sở hạ tầng với nhiều kiểu quan hệ sản xuất vừa cạnh tranh, vừa hợp tác cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh, tạo tiền đề “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”.

 

3.Đấu tranh giai cấp, nhà nước và dân tộc, gia đình và xã hội

3.1-Giai cấp và đấu tranh giai cấp

3.1.1-Khái niệm giai cấp

V.Lênin định nghĩa giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với nhũng tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ của cải vật chất ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế-xã hội nhất định”.

 

Từ định nghĩa có thể nêu ra bốn đặc trưng của giai cấp: giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong hệ thống sản xuất; họ có mối quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất; có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội; có sự khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập của cải xã hội.

 

Bốn đặc trưng đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đặc trưng về sở hữu tư liệu sản xuất là quyết định nhất.

 

Giá trị lý luận và thực tiễn của định nghĩa: Định nghĩa nói rõ nguồn phát sinh giai cấp và là cơ sở để xác định kết cấu giai cấp trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.

 

Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có một kết cấu giai cấp khác nhau:

 

Giai cấp cơ bản là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất thống trị.

Giai cấp không cơ bản là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất không phải là thống trị mà là còn lại của xã hội cũ hoặc mới là phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.

Ngoài ra, trong xã hội còn có đội ngũ tri thức, tiểu tư sản, tiểu thương, tiểu chủ.. .trí thức không là giai cấp độc lập là một tầng lớp xã hội đặc biệt được hình thành từ nhiều giai cấp. Đội ngũ trí thức có vai trò rất quan trọng ở mọi thời đại.

 

Hiện nay, đất nước ta có nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ đoàn kết và hợp tác lâu dài trong nội bộ nhân dân vì mục tiêu chung độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

3.1.2-Đấu tranh giai cấp

V.I.Lênin định nghĩa: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”

 

Đấu tranh giai cấp thực chất là đấu tranh giữa những tập đoàn người có lợi ích căn bản đối lập với nhau không thể điều hòa được. Những đấu tranh về lợi ích không cơ bản giữa các bộ phận trong một giai cấp, giữa cá nhân này với cá nhân khác trong xã hội không phải là đấu tranh giai cấp.

 

Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng vì nó giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Cách mạng xã hội là tất yếu để giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau.Đấu tranh giai cấp có thể diễn ra khi chưa có cách mạng xã hội. Nó cũng bao gồm cả liên minh giữa những giai cấp có lợi ích cơ bản ít nhiều giống nhau hoặc giống nhau ở một mặt nào đó về lợi ích trong cuộc đấu tranh chống giai cấp đối lập.

 

Đấu tranh chính trị là hình thức cao của đấu tranh giai cấp. Trong xã hội tư bản, đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản diễn ra ngay từ khi nó mới ra đời và phát triển từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác đến mục tiêu giành chính quyền. Để thực hiện được mục tiêu này, giai cấp công nhân cần phải có Đảng lãnh đạo và có khối đoàn kết liên minh công nông vững chắc.

 

Khi giai cấp vô sản đã giành chính quyền, lãnh đạo quá độ lên CNXH, đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục trong điều kiện mới, với những hình thức mới vì:

 

Giai cấp thống trị tuy bị đánh đổ nhưng chúng còn cơ sở trong nước và có mối quan hệ quốc tế luôn tìm mọi cách chống đối hòng lấy lại địa vị đã mất.

Mặt khác, trong xã hội mới vẫn tồn tại những cơ sở cũ nảy sinh đối kháng giai cấp là những tâm lý, tập quán bảo thủ, lạc hậu của xã hội cũ.

Bọn đế quốc và các thế lực thù địch bên ngoài vẫn luôn tìn mọi cách can thiệp với bọn phản động trong nước.

Điều kiện mới của đấu tranh giai cấp là giai cấp công nhân đã là giai cấp giữ chính quyền và dùng chính quyền làm công cụ tổ chức, xây dựng CNXH.

 

Hình thức đấu tranh là có đổ máu và không đổ máu, có bạo lực và hòa bình, bằng quân sự và kinh tế, bằng giáo dục và hành chính diễn ra trên tất cả các lĩnh vực.

 

Trong thời kì quá độ của nước ta hiện nay cơ cấu, nội dung, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất[1] nhiều thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trongnội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc với mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động của thế lực thù địch; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc.

 

4.Nhà nước và dân tộc

Bản chất, đặc trưng và chức năng của nhà nước

Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Nhà nước ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp. Khi cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được, giai cấp thống trị tất yếu tổ chức ra nhà nước để bảo vệ lợi ích của mình. Trong lịch sử đã có các kiểu nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước vô sản.

 

Nhà nước là bộ phận cơ bản nhất của kiến trúc thượng tầng, của hệ thống chính trị bao gồm bộ máy hành chính, quân đội, nhà tù, cảnh sát do giai cấp thống trị tổ chức ra để thực hiện quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp mình. Nhà nước mang bản chất của giai cấp thống trị.

 

Nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản là phân chia dân cư theo lãnh thổ cư trú và áp dụng quyền lực của mình đến mọi công dân; thiết lập quyền lực công cộng như: quân đội, cảnh sát, tòa án…, để buộc toàn xã hội phải phục tùng; đặt ra chế độ thuế bắt buộc để trả lương cho bộ máy của mình.

 

Nhà nước có hai chức năng chính là đối nội và đối ngoại. Chức năng đối nội là sử dụng bộ máy nhà nước để duy trì trật tự xã hội trên mọi lĩnh vực và trấn áp các lực lượng phản kháng, bảo vệ lợi ích của mình. Chức năng đối ngoại là giải quyết các mối quan hệ với các quốc gia khác nhằm thực hiện nhiệm vụ đối nội.

 

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là nhà nước của đa số nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động. Nhà nước này do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo dựa trên khối liên minh công nông, thực hiện chức năng vừa tổ chức xây dựng xã hội mới; vừa tiến hành trấn áp bằng bạo lực trấn áp đối với các lực lượng chống đối.

 

Vận dụng sáng tạo nguyên lý này, Đảng ta xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên mình giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”11. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

 

Dân tộc, tính giai cấp của vấn đề dân tộc và dân tộc Việt Nam

Dân tộc là cộng đồng người hình thành trong quá trình lịch sử với những đặc trưng cơ bản là cùng chung sống trên một lãnh thổ, có chung cơ sở kinh tế, chung ngôn ngữ và nền văn hóa, tâm lý, tính cách. Các đặc trưng đó có quan hệ chặt chẽ, trong đó đặc trưng chung cơ sở kinh tế là quan trọng nhất. Đặc trưng chung nền văn hóa tạo nên bản sắc dân tộc rõ rệt nhất.

 

Xã hội loài người khi mới ra đời sống trong những cộng đồng thị tộc, bộ lạc, bộ tộc… Đến một giai đoạn nhất định thì dân tộc mới ra đời. Các dân tộc ra đời ở các thời điểm khác nhau trên thế giới, vấn đề dân tộc và giai cấp luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong thời kì chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản tổ chức xâm lược, đàn áp các dân tộc thuộc địa nên đã trở nên phản động. Trong điều kiện đó, giai cấp vô sản nắm ngọn cờ dân tộc đấu tranh chống xâm lược, các phong trào dân tộc lúc này mang tính chất giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản tự xây dựng thành dân tộc. Do vấn đề dân tộc luôn luôn có tính giai cấp, nên các vấn đề chính trị trong một dân tộc như Nhà nước, pháp luật, đảng phái…đều phục vụ lợi ích giai cấp cầm quyền.

 

Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và có nguồn gốc bản địa. Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng đa sắc tộc gồm 54 thành phần dân tộc anh em. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xây dựng nên nhiều truyền thống tốt đẹp. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến và tư sản đều thất bại. Để giải phóng dân tộc, chỉ có thể theo con đường cách mạng vô sản. Từ khi có Đảng, truyền thống quý báu của dân tộc được nâng lên một tầm cao mới. Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

 

5.Gia đình và xã hội

Gia đình là một cộng đồng xã hội đặc biệt gắn bó những con người với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi sản xuất ra của cải vật chất và sản sinh ra con người.

 

Gia đình là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi con người. Trong gia đình, mọi thành viên được chăm lo chu đáo với trách nhiệm và tình yêu thương, được an toàn, nghỉ ngơi, cân bằng tâm lý, sinh lý; là nơi sinh đẻ và nuôi dạy con cái làm cho xã hội tồn tại và phát triển lâu dài. Có con người thì có gia đình, còn tồn tại con người thì còn gia đình, xã hội càng phát triển thì gia đình càng hoàn thiện.

 

Dưới chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã đề ra những chính sách nhằm thủ tiêu những mọi quan niệm và hủ tục lạc hậu về gia đình.

 

Đặc điểm của gia đình xã hội chủ nghĩa là gia đình một vợ một chồng được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính. Ngoài hai chức năng của gia đình nói chung, gia đình mới xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ làm cho gia đình trở thành môi trường tốt để nuôi, dạy thế hệ trẻ thành người lao động có đức, trí, thể, mỹ phát triển cao; tổ chức tốt đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho mọi thành viên có đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống văn hóa tinh thần phong phú.

 

Nhận thức rõ vấn đề gia đình Đảng ta chủ trương phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”.

 

II-Ý THỨC XÃ HỘI

1-Tính chất của ý thức xã hội

Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên (hoàn cảnh địa lý và dân cư…).

 

2-Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội.

Đời sống xã hội có hai lĩnh vực đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đời sống vật chất là một cách tiếp cận khác về tồn tại xã hội. Do đó, nói đến đời sống vật chất cũng là nói đến các điều kiện địa lý tự nhiên, dân số, phương thức sản xuất, trong đó phương thức sản xuất có vai trò quyết định nhất.

 

Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những tư tưởng quan điểm, lý luận, tình cảm, tâm trạng, tập quán, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

 

Xem xét ý thức xã hội dưới hình thức là trình độ và phương thức phản ánh với tồn tại xã hội thì ý thức xã hội gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là các hiện tượng ý thức như: tình cảm, tâm trạng, thói quen, ước muốn, động cơ, thái độ và những xu hướng tâm lý của các nhóm được hình thành một cách tự phát trên cơ sở điều kịên sinh sống hàng ngày của họ. Hệ tư tưởng là những học thuyết lý luận phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội. Hệ tư tưởng không hình thành tự phát mà nó được tạo ra một cách tự giác thông qua những trí thức có trình độ cao, có khả năng tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm để khái quát thành lý luận, thành các học thuyết.

 

Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều là lĩnh vực tinh thần, đều bắt nguồn từ tồn tại xã hội có sự tác động qua lại nhưng không có quan hệ phát sinh ra nhau. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp thì ý thức xã hội của mỗi giai cấp sẽ phản ánh lợi ích, địa vị xã hội và các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp đó. Như vậy, ý thức xã hội có tính giai cấp, tức là mỗi giai cấp có ý thức riêng của mình.

 

Ý thức xã hội thường tồn tại thông qua những cá nhân gọi là ý thức cá nhân. Ý thức cá nhân phong phú, đa dạng vì nó phán ánh cả lợi ích giai cấp và còn phản ánh sự phong phú của mỗi cá nhân. Trong thực tế đều có những ý thức cá nhân phù hợp hoặc mâu thuẫn với ý thức giai cấp và lợi ích giai cấp.

 

Mỗi dân tộc đều có một ý thức riêng do những điều kiện khách quan sự khác nhau về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống dân tộc được kết tinh lâu dài trong lịch sử. Trong xã hội có giai cấp thì ý thức dân tộc và ý thức có giai cấp có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại nhau. Ý thức của giai cấp thống trị sẽ tác động thúc đẩy hoặc cản trở ý thức dân tộc.

 

Ý thức xã hội là sự phản ảnh tồn tại xã hội nhưng không phản ánh giản đơn, thụ động mà có tính độc lập tương đối. Ý thức XH thường lạc hậu, bảo thủ, nhưng có khi có khả năng vượt trội trước tồn tại xã hội, dự báo trước tương lai, so với tồn tại xã hội. Ý thức xã hội có tính kế thừa những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc và nhân loại nên nó phản ánh tồn tại xã hội chủ động sáng tạo, tự giác và tác động trở lại tồn tại xã hội theo khuynh hướng cản trở hoặc thúc đẩy xã hội phát triển.

 

Ý nghĩa thực tiễn của lý luận trên là cần phê phán những tư tưởng phủ nhận lịch sử, quay lưng lại quá khứ hoặc là tiếp thu không chọn lọc, làm mất bản sắc của dân tộc mình. Đảng ta tiếp tục phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người – động lực to lớn cho sự phát triển dân tộc.

 

3-Một số hình thái ý thức xã hội

Ý thức xã hội biểu hiện thành nhiều hình thái ý thức. Trong đó có một số hình thái ý thức chủ yếu:

 

Ý thức chính trị là sự phản ánh đời sống chính trị của đất nước như quan hệ giai cấp, đảng phái, dân tộc, quốc tế, trong đó nòng cốt là quan hệ giai cấp. Ý thức chính trị thể hiện ở tâm lý chính trị và hệ tư tưởng chính trị:

Tâm lý chính trị là động cơ, thái độ, xu hướng chính trị của các tầng lớp và giai cấp trong xã hội.

Hệ tư tưởng chính trị là hệ thống những quan điểm tư tưởng chính trị phản ánh tập trung lợi ích và địa vị giai cấp của một giai cấp, tồn tại dưới dạng các học thuyết lý luận. Hệ tư tưởng chính trị thường được dùng làm cơ sở lý luận của giai cấp thống trị để định ra Cương lĩnh, chính sách thống trị xã hội.

Hệ tư tưởng chính trị có tác động to lớn, chi phối hệ tư tưởng của các giai cấp khác, chi phối đến chiều hướng phát triển tích cực hay tiêu cực của các hình thái ý thức khác nhau: ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo… Giai cấp nào cũng có tâm lý chính trị nhưng hệ tư tưởng chính trị chỉ có ở những giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập. Những giai cấp không có hệ tư tưởng chính trị thì ý thức chính trị của họ biểu hiện ở tâm lý chính trị, họ bị chi phối bởi hệ tư tưởng của giai cấp này hay giai cấp khác.

 

Ý thức pháp quyền là sự phản ánh về mặt pháp lý trong đời sống xã hội. Ý thức pháp quyền thể hiện ở tâm lý pháp quyền và hệ tư tưởng pháp quyền:

Tâm lý pháp quyền bao gồm những tâm trạng, thái độ của công dân trước hệ thống pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp quyền là hệ thống những quan điểm tư tưởng về dân chủ, về quyền lực nhà nước, về quyền và nghĩa vụ của công dân.. .Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp bị trị cũng có ý thức chính trị, ý thức pháp quyền nhưng ý thức đó không biến thành quyền lực chính trị

Ý thức đạo đức là bộ phận của ý thức xã hội phản ánh đời sống đạo đức của xã hội qua tâm lý đạo đức, hệ tư tuởng đạo đức:

Tâm lý đạo đức phản ánh những hiện tượng đạo đức như tâm trạng, tình cảm đạo đức…

Hệ tư tưởng đạo đức là hệ thống những quan điểm về nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức phân biệt các hiện lượng thiện và ác, lẽ sống, lương tâm… được hệ thống hóa thành những học thuyết đạo đức.

Ý thức đạo đức có vai trò quan trọng trong thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội cùng với ý thức pháp quyền và hệ thống pháp luật:

 

Ý thức đạo đức trong xã hội duy tri tốt đẹp, xã hội ổn định, phát triển.

Ý thức pháp quyền thông qua pháp luật điều chỉnh bằng quyền lực cưỡng chế, còn ý thức đạo đức lại điều chỉnh hành vi bằng sức mạnh của dư luận xã hội, bằng áp lực khen, chê, đồng tình hay phê phán. Càng ngày ý thức đạo đức càng có sức mạnh và ưu thế trong điều chỉnh hành vi xã hội.

Nhận thức rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh cuộc vận động lớn “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

 

Ý thức khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh bản chất và quy luật của thế giới bằng những khái niệm, phạm trù. Ý thức khoa học của con người trước hết tồn tại dưới dạng kinh nghiệm, sau khi được kiểm nghiệm nâng lên thành bài học kinh nghiệm của con người. Do hoạt động nghiên cứu và thực tiễn cuộc sống thôi thúc, trí thức khoa học của con người không ngừng phát triển, bài học kinh nghiệm được nâng cao hơn nữa, trở thành lý luận sâu sắc.

Trong các lý luận đương thời, chủ nghĩa Mác-Lênin là đỉnh cao về tri thức lý luận khoa học cách mạng. Chính vì vậy mà Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

 

Ý thức xã hội tôn giáo có nguồn gốc tự nhiên từ nhu cầu tâm linh của con người và từ điều kiện xã hội. Ý thức tôn giáo phản ánh tồn tại xã hội một cách hư ảo, không đúng hiện thực, dẫn con người có lòng tin ảo tưởng vào các lực lượng siêu nhiên như Chúa, Thượng đế, thần thánh.. .Ý thức tôn giáo làm cho con người không tin vào bản thân mình mà chấp nhận hướng tới hạnh phúc ảo, mong giải thoát khỏi hiện thực. Khi bị lực lượng xã hội lợi dụng thì tôn giáo mang tính chính trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.

Đảng ta xác định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận cấu thành của đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện chính sách nhất quán tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.

 

Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Coi nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Thực hiện nhất quán chính sách tộn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ./.


QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 8

 

Mục lục

1. Quy luật thích ứng

2. Quy luật "lây lan"

3. Quy luật di chuyển

4. Quy luật tương phản

5. Quy luật pha trộn

6. Quy luật về sự hình thành tình cảm

 

 

Phần VII

Các quy luật của đời sống tình cảm

 



1. Quy luật thích ứng

- Một xúc cảm, tình cảm được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách không đổi khác thì sau cuối sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống. Đó là hiện tượng kỳ lạ “ chai sạn ” tình cảm.

- Biểu hiện: “Gần thường xa thương”

- Dao năng mài thì sắc, người năng chào thì quen.

- “ Sự xa cách đối với tình yêu giống như gió với lửa, gió sẽ dập tắt những tia lửa nhỏ, nhưng lai đốt cháy, bùng nổ những tia lửa lớn”

Ví dụ: Một người thân của chúng ta đột ngột qua đời, làm cho ta và gia đình đau khổ, vất vả, nhớ nhung… nhưng năm tháng và thời gian cũng lui dần vào dĩ vãng, ta cũng phải nguôi dần…để sống.

- Ứng dụng:

Tránh thích ứng và tập thích ứng

Biết trân trọng những gì mình đang có.

- Trong đời sống hằng ngày qui luật này được ứng dụng như phương pháp “lấy độc trị độc” học sinh.

Ví dụ: Hoa là một học sinh nhút nhát, luôn rụt rè trước mọi người. Mỗi lần bị giáo viên gọi dậy trả lời câu hỏi, Hoa đều tỏ ra lúng túng và đỏ mặt.

- Nhưng một thời gian sau, việc Hoa luôn phải đứng dậy trả lời lặp đi lặp lại nhiều lần và nhờ sự khuyến khích động viên của bạn bè thầy cô thì Hoa đã tự tin trả lời những câu hỏi trước lớp.

 

2. Quy luật "lây lan"

- Con người luôn luôn sống trong xã hội, trong các mối quan hệ người - người. Vì vậy xúc cảm, tình cảm của người này có thể truyền "lây"sang người khác. Trong đời sống hàng ngày ta thường thấy hiện tượng "vui lây", "buồn lây", "cảm thông", "đồng cảm"... Nền tảng Của quy luật này là tính xã hội trong tình cảm con người.Tuy nhiên, việc "lây lan" tình cảm từ chủ thể này sang chủ thể khác không là con đường chủ yếu để hình thành tình cảm.

 

3. Quy luật di chuyển

- Là hiện tượng kỳ lạ tình cảm, cảm hứng hoàn toàn có thể chuyển dời từ người này sang người khác.

- Biểu hiện: “Giận cá chém thớt”

- “Yêu nhau yêu cả đường đi

Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”

Ví dụ: Hương đang tập trung làm một bài tập rất khó, áp lực tâm lí đang đè lên người cô. Lúc này cô cần sự yên tĩnh nhưng Hạnh vô tình đã hỏi cô liên tục một câu hỏi. Hương cảm thấy khó chịu và cáu gắt với Hạnh cho dù Hạnh không thực sự có lỗi.

- Ứng dụng: Kiềm chế cảm hứng và tránh hiện tượng kỳ lạ vơ đũa cả nắm.

- Tránh thiên vị trong đánh giá “yêu tốt ghét xấu”

Ví dụ: Giáo viên phải luôn là một người khách quan, công bằng khi chấm bài.

 

4. Quy luật tương phản

- Tương phản là sự tác động qua lại giữa xúc cảm ình cảm âm tính và dương tính tích cực và tiêu cực thuộc cùng một loại. Cụ thể một thể nghiệm này có thể làm tăng cường một thể nghiệm khác đối cực vơí no( xảy ra đồng thơì hay nối tiếp

 

5. Quy luật pha trộn

- Quy luật pha trộn thể hiện ở chỗ trong một  loại  tình cảm cùng tồn tại  những cảm xúc trái dấu với  nhau.  Chúng  không  những  không  loại  trừ  nhau    ngược lại, có thể còn diễn biến theo quy luật tương phản. Những cảm xúc yêu thương và ghen tuông có thể cùng tồn tại trong tình yêu.  Không  ít  trường  hợp  càng  yêu mãnh liệt, càng ghen dữ dội.

 

6. Quy luật về sự hình thành tình cảm

- Xúc cảm là cơ sở của tình cảm, tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa động hình hóa và khái quát hóa. những xúc cảm đồng loại, chẳng hạn tình cảm mẹ con; lòng yêu tổ quốc, tình yêu quê hương...

- Tình cảm được xây dưng từ những xúc cảm, nhưng khi đã được hình thành thì tình cảm lai chi phối và thể hiện qua các xúc cảm đa dạng.

QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 7

 


Mục lục

I- Quy luật cơ bản của cảm giác:

1. Quy luật về “sức ỳ” và “quán tính” của cảm giác.

2. Quy luật “bù trừ”

3. Quy luật ngưỡng cảm giác

4. Quy luật về sự thích ứng của cảm giác

5. Quy luật tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác

II- Quy luật cơ bản của tri giác

1. Tính đối tượng của tri giác

2. Tính trọn vẹn của tri giác

3. Tính lựa chọn của tri giác

4. Tính ý nghĩa của tri giác

5. Tính ổn định của tri giác

6. Tổng giác

7. Ảo ảnh:Là sự phản ánh sai lệch về đối tượng tri giác một cách khách quan.

8. Quy luật về tính đối tượng của tri giác

9. Quy luật về tính ổn định của tri giác.

10. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác    

11. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

12. Quy luật tổng giác.

13. Ảo giác (ảo ảnh thị giác) Nhìn vào các hình ảnh sau

 

Phần VI

Các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác

 

I- Quy luật cơ bản của cảm giác:

1. Quy luật về “sức ỳ” và “quán tính” của cảm giác.

- Khoảng thời gian từ khi kích bắt đầu tác động đến khi xuất hiện cảm giác được gọi là khoảng thời gian trước cảm giác hay “sức ỳ” của cảm giác.

- Khoảng thời gian từ khi kích ngừng tác động đến khi mất hẳn cảm giác được gọi là khoảng thời gian sau cảm giác hay “quán tính” của cảm giác.

 

2. Quy luật “bù trừ”:

   Khi một cảm giác nào đó bị yếu đi hay mất hẳn thì độ nhạy cảm của một số cơ quan cảm giác khác tăng lên rõ rệt.

 

3. Quy luật ngưỡng cảm giác :

   Không phải mọi kích thích đều có thể gây ra được cảm giác. Một đốm sáng nhỏ ở quá xa thì không thể trông thấy được hay một âm thanh nhỏ phát ra từ xa cũng không thể nghe thấy. Một kích thích chỉ có thể gây ra được cảm giác khi cường độ của nó đạt tới một giới hạn nhất định. Giới hạn của cường độ kích thích mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác.

   Có hai loại ngưỡng cảm giác: ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía trên.

   Ngưỡng cảm giác phía trên: là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn cho ta cảm giác.

   Ngưỡng cảm giác phía dưới: là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây cảm giác.

Phạm vi giữa ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới là vùng cảm giác được trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất.

   Ví dụ, ngưỡng phía dưới của thị giác ở người là sóng ánh sáng có bước sóng 390µm, còn ngưỡng phía trên là 780µm. Ngoài hai giới hạn trên là những tia cực tím (tử ngoại) và cực đỏ (hồng ngoại) mà mắt người không nhìn thấy được.

   Cường độ kích thích nằm giữa ngưỡng trên và ngưỡng dưới gọi là vùng cảm giác được. Bên cạnh các ngưỡng trên còn có ngưỡng sai biệt.

   Ngưỡng sai biệt là mức đô khác biệt tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích để có thể phân biệt sự khác nhau giữa chúng.

   Điểm đáng lưu ý ở  đây là khi  chúng ta nói  đến ngưỡng  cảm giác  là chúng ta  đề cập đến đại lượng vật lí,    dụ  như  cường độ  âm  thanh, trọng lượng… còn khi ta nói độ nhạy cảm thì  đó lại  là “đại  lượng” tâm lí. Do  không đo được  trực  tiếp độ nhạy cảm của giác quan nên người ta phải  đo nó  một cách gián tiếp, thông qua việc đo các kích thích vật lí bên ngoài.

   Các cơ quan cảm giác khác nhau có ngưỡng riêng của mình ở các cá nhân khác nhau ngưỡng cảm giác cũng không giống nhau. Nó chịu ảnh hưởng của các điều kiện giáo dục và rèn luyện.

 

4. Quy luật về sự thích ứng của cảm giác:

 
  
Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và đảm bảo cho hệ thần kinh khỏi bị huỷ hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng vơí kích thích. Đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp vơí cường  độ kích thích.

   Có nhiều kiểu thích ứng của cảm giác:

  a)  Cảm giác hòan tòan mất đi khi quá trình kích thích kéo dài

Ví dụ: Ít ai có cảm giác về sức nặng của đồng hồ đeo tay, kính đeo ở mắt, quần áo mặc trên người

  Các quy luật của cảm giác đầy đủ nhất

  b)  Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm.

Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng , phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biệt được các vật chung quanh . Người lái máy bay bị đền chiếu dọi vào mắt ít nhất cũng qua từ 3 đến 6 giây mới giảm được sự nhạy cảm để nhìn rõ con số trên đồng hồ

   c) Khi cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng

Ví dụ : Từ nơi sáng bước vào bóng tối. Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở châu nước cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia

Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau. Khả năng thích ứng của các cảm giác là do rèn luyện

 

5. Quy luật tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác:

Các cảm giác luôn ảnh hưởng tác động tới nhau, làm đổi khác tính nhạy cảm của nhau. Sự ảnh hưởng tác động diễn ra theo quy luật như sau : Sư kích thích yếu lên một cơ quan nghiên cứu và phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan nghiên cứu và phân tích kia, sự kích thích lẫn cơ quan Phân tích này làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan nghiên cứu và phân tích kia .Sự tác động ảnh hưởng hoàn toàn có thể diễn ra đồng thời hay tiếp nối đuôi nhau trên những cảm giác cùng loại hay khác loại .Tương phản chính là hiện tượng kỳ lạ ảnh hưởng tác động qua lại giữa những cảm giác cùng loại. Đó là sự đổi khác cường độ và chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng tác động của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời .Có hai loại tương phản tương phản tiếp nối đuôi nhau và tương phản đồng thời. Tương phản tiếp nối đuôi nhau là tương phản khi hai kích thích tác động ảnh hưởng tiếp nối đuôi nhau nhau lên một cơ quan cảm giác, còn tương phản đồng thời xảy ra khi hai kích thích tác động ảnh hưởng cùng một lúc lên cơ quan cảm giác .Ví dụ : tờ giấy trắng đặt trên nền đen tạo cho ta cảm giác “ trắng hơn ” tờ giấy trắng đặt trên nề xám ( tương phản đồng thời ). Hoặc sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm sẽ có vẻ như nóng hơn ( tương phản tiếp nối đuôi nhau ) .Trong dạy học, sự tương phản thường được sử dụng khi so sánh, hoặc muốn làm điển hình nổi bật một sự vật nào đó trước học viên .

Sự tăng tính nhạy cảm do tác động qua lại của các cảm giác, những như do luyện tập có hệ thống được gọi là sự tăng cảm. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú ý tận dụng sự tăng cảm bằng cách tuân thủ và tạo dựng một chế độ ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh, không khí, … trong lớp học phù hợp cũng như tác động đồng thời lên nhiều giác quan của học sinh.

 

II- Quy luật cơ bản của tri giác

1. Tính đối tượng của tri giác

• Khi tri giác sự vật và hiện tượng, trong óc của chúng ta có hình ảnh của sv và ht, hình ảnh đó là do các thuộc tính của sv và ht tác động vào cơ quan cảm giác chúng ta tạo nên trong não.

• Quy luật này cho phép con người định hướng hành vi và hoạt động.

• Quy luật này phủ nhận các quan điểm sai lầm của CN duy tâm chủ quan hoặc cho rằng có một “genstalt” (cấu trúc) có sẵn tạo nên.

 

2. Tính trọn vẹn của tri giác:

• Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn, tức là nó đem lại cho ta một hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng.

• Tính trọn vẹn có được là nhờ 2 yếu tố:

- Bản thân các sự vật, hiện tượng có cấu trúc trọn vẹn

- Quy luật hoạt động theo hệ thống của hệ thần kinh cấp cao.

 

3. Tính lựa chọn của tri giác:

• Hiện thực khách quan đa dạng và phong phú.

• Khả năng của tri giác cho phép tách một số dấu hiệu hoặc đối tượng ra khỏi bối cảnh để phản ánh tốt hơn.

• Quy luật này rất có ý nghĩa trong trang trí, hội hoạ, hoá trang, nguỵ trang...

• Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc:

- Nhu cầu, hứng thú của chủ thể tri giác.

- Trong tri giác ngôn ngữ giúp con người có khả năng nhận biết nhanh chóng sự vật.

 

4. Tính ý nghĩa của tri giác:

• Khi tri giác sự vật và hiện tượng khả năng của tri giác cho phép con người nhận biết được cái chúng ta đang tri giác, gọi tên và xếp chúng vào một nhóm đối tượng cùng loại.

• Sở dĩ như vậy bởi tri giác gắn chặt với tư duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm của cá nhân.

 

5. Tính ổn định của tri giác:

• Tính không thay đổi khi tri giác đối tượng trong sự thay đổi các điều kiện tri giác.

• Tính ổn định cho phép con người hoạt động linh hoạt, hiệu quả trong điều kiện môi trường hoạt động luôn thay đổi.

 

6. Tổng giác:

• Sự phụ thuộc của hình ảnh tri giác vào kinh nghiệm, vào đời sống tâm lý, nhân cách của chủ thể tri giác gọi là tổng giác.

• Tổng giác làm cho tri giác mang tính chủ thể rõ nét.

• Để tri giác tốt đòi hỏi con người phải phải rèn luyện khả năng tri giác, tích lũy kinh nghiệm, hình thành thái độ tích cực...

 

7. Ảo ảnh:Là sự phản ánh sai lệch về đối tượng tri giác một cách khách quan.

Các nguyên nhân:

• Nguyên nhân vật lý

• Nguyên nhân sinh lý, não tổn thương

• Nguyên nhân tâm lý: mệt mỏiCác quy luật của tri giác

 

8. Quy luật về tính đối tượng của tri giác

- Tri giác bao giờ cũng Có đối tượng là các sự vật trong hiện thực khách quan. Tri giác phản ánh các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan không phải dưới hình thức tập hợp đơn thuần các cảm giác lẫn lộn về mọi sự vật hiện tượng, mà nó phản ánh một cách trọn vẹn, cụ thể sự vật hiện tượng độc lập với sự vật hiện tượng khác. Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lai bao giờ cũng thuộc về một sự vật hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Nhờ sự phản ánh chân thực của tri giác mà con người có thể hoạt động với đồ vật tổ chức hoạt động của mình một cách có kết quả.

 

9. Quy luật về tính ổn định của tri giác.

- Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi .

- Tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động với đồ vật  và là một điều kiện cần thiết của đời sống con người. Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có.

 

10. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác    

- Khi ta tri giác một sự vật hiện tượng nào đó thì có nghĩa là ta tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh chung quanh lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình. Vai trò giữa đối tượng và bối cảnh có thể chuyển đổi cho nhau.                

- Có liên hệ chặt chẽ với tính trọn vẹn. 

- Do hứng thú, trạng thái tâm sinh lý cũng ảnh hưởng tới tri giác Ví dụ: trong sách có nhiều chữ in nghiêng để nhấn mạnh, giáo viên dùng mực đỏ đánh giấu chỗ sai của học sinh…    

- Xung quanh (điều kiện bên ngoài, ngôn ngữ…) ta có vô vàn sự vật, hiện tượng tác động vào tri giác không thể phản ánh được tất cả các sự vật hiện tượng mà chỉ lựa chọn, tách ra một số tác động để tạo thành tri giác về đối tượng. 

- Ứng dụng 

+ Trang trí, bố cục. 

+ Trong giảng dạy các thầy cô thường dùng bài giảng kết với tài liệu trực quan sinh động, yêu cầu học sinh làm các bài tập điển hình, nhấn mạnh những phần quan trọng giúp các học sinh tiếp thu bài.

 

11. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

- Hình ảnh tri giác bao giờ cũng có một ý nghĩa nào đó, được gắn với một tên gọi nhất định. Điều này có được do sự gắn bó chặt chẽ của tri giác với tư duy. Các cảm giác khi được tổ hợp lại thành một hình ảnh trọn vẹn, sẽ được đem so sánh đối chiếu với các biểu tượng của sự vật, hiện tượng đã được lưu giữ trong trí nhớ và được xếp vào một nhóm, một lớp hay một loại hiện tượng nhất định. Từ đó ta gọi được tên của sự vật.

 

12. Quy luật tổng giác.

- Ngoài bản thân những kích thích  gây ra nó, tri giác của con người còn bị quy định bơỉ một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác. Sự phụ thuộc của tri giác vào vào nội dung của đơì sống tâm lý, vào đặc điểm nhân cách của họ gọi là tổng giác.

 

13. Ảo giác (ảo ảnh thị giác) Nhìn vào các hình ảnh sau:                       

* Nguyên nhân: 

- Nguyên nhân khách quan:  

+ Do thiếu sự tương phản giữa vật và nền, do sự xóa nhòa giữa vật và nền. 

Ví dụ: lợi dụng điều này trong chiến tranh, người ta ngụy trang công sự, khẩu súng bằng lá cây. + Do hiệu ứng khuếch tán, nghĩa là vật sáng to hơn vật tối mặc dù chúng bằng nhau.    

+ Người ta ứng dụng việc này vào thời trang: nếu bạn nữ có da trắng hồng, hay lựa chọn màu áo thật thẫm thì nổi hơn và ngược lại người có làn da tối thì lựa chọn màu sáng chứ đừng mặc áo màu trắng hay đen, đỏ,… 

+ Nếu bạn thấp thì nên mặc áo kẻ dọc sẽ tạo cảm giác cao hơn, nếu bạn cao, ốm thì nên mặc áo kẻ ngang. 

- Nguyên nhân chủ quan: không hiểu được ý nghĩa về hinh ảnh mà mình cần tri giác.   

Từ đó ta đưa ra khái niệm:

- Ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch. Những hiện tượng này tuy không nhiều, song nó có tính qui luật. 

- Người ta lợi dụng ảo giác vào trong kiến trúc, hội họa, trang trí, trang phục…để phục vụ cho cuộc sống con người.   

- Bên cạnh đó, thì ảo giác còn gây ra hoang tưởng, mơ mộng về một việc mà biết chắc không có thật, phản ánh không đúng, sai lệch về bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng…


QUY LUẬT VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CON NGƯỜI . Tiếp theo 6 . Tiếp theo 6

 

Mục lục

1.Quy luật luân hồi.

2.Quy luật vô thường.

3.Quy luật nhân quả.

4.Quy luật cân bằng.

5.Quy luật hấp dẫn.

 

Phần V

Các quy luật trong đạo phật

1.Quy luật luân hồi.

 
  “Luân hồi” là từ có nguồn gốc từ chữ Hán. Trong đó “luân” có nghĩa là bánh xe hoặc xoay vần, còn “hồi” có nghĩa là trở về.

  Theo quan niệm của Phật giáo, mọi chúng sinh trên đời đều mắc trong vòng sinh tử, chịu sự chi phối của quy luật luân hồi: Sinh-lão-bệnh-tử, điều này cũng giống như bánh xe quay tròn liên tục không dứt.

   Quy luật luân hồi trong giáo lý Phật giáo cũng có thể được nhắc đến với danh từ “kiết sinh”, với ý nghĩa rằng “luân hồi” tức là sự đầu thai vào cõi trần để trả nghiệp quả đã gieo từ những kiếp trước.

   Trong Kinh Phúc Âm có nhắc đến lời Đức Phật giảng dạy về quy luật luân hồi như sau: “ Linh hồn đi đầu thai từ kiếp này đến kiếp khác, xuyên qua tất cả các hình dạng, từ đá cát đến cây cỏ, cầm thú và loài người, với những tánh tính riêng biệt, cho đến khi nó lên đến bậc toàn giác là Phật.” Còn trong cuốn “Túc sinh truyện” cũng có nhắc đến việc đầu thai 550 kiếp của Đức Bồ Tát trước khi ngài đắc đạo thành Phật.

 

   Quy luật luân hồi sinh ra từ đâu? Theo Phật giáo, con người bị chi phối, trói buộc trong kiếp luân hồi là do “tam độc” tham-sân-si. Trong quá khứ của kiếp trước (và cả chính kiếp này), tùy vào nghiệp mà chúng sinh tạo ra thì sẽ tạo ra luân hồi tái sinh vào một kiếp khác ở một trong 6 cõi là : Trời, thần, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.

  Quan điểm của nhà Phật cũng cho rằng, phần lớn chúng sinh sau khi tái sinh đều không còn nhớ gì về kiếp trước. Việc tái sinh vào cõi nào sau khi chết cũng có thể dự đoán được qua cận tử nghiệp – nghiệp tạo ra lúc sắp chết, nghiệp ở giữa sự sống và sự chết, nghiệp di chuyển từ đời sống này qua đời sống khác của chúng sinh đó.

 

  Phật giáo cũng chỉ ra rằng, nếu muốn thoát khỏi quy luật luân hồi thì chỉ có một cách duy nhất đó là dứt được hoàn toàn nghiệp chướng do tham-sân-si mang lại. Làm sao thực hiện được điều này? câu trả lời đó là tu tập theo con đường bát chánh đạo, hướng tới sự giải thoát, an lạc ở cõi niết bàn trong chính kiếp làm người này.

 

2.Quy luật vô thường.

  
Quy luật vô thường là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo đó là “vô thường – vô ngã – niết bàn tịch tịnh”. Vậy vô thường là gì?

   Đức Phật đã từng nhắc tới quy luật vô thường như sau: “Tất cả những gì trong thế gian đã là biến đổi, hư hoại đều là vô thường”. Như vậy, vô thường có thể hiểu là mọi sự vật, sự việc không đứng yên trong một trạng thái nhất định mà sẽ luôn biến đổi, phát triển rồi lụi tàn. Trong Phật giáo có 4 thuật ngữ miêu tả về các giai đoạn biến đổi này là: “Thành, trụ, hoại, không” hay “sinh, trụ, dị, diệt”, nói như nào cũng đúng cả.

   Ta ví dụ về quy luật vô thường như sau: Cây sen đâm chồi lên từ bùn là thành/sinh, mùa hè sen đơm hoa, đơm đài rực rỡ là trụ, hết mùa sen lụi dần cả lá, cả hoa, cả đài ta gọi là hoại/dị, mùa đông sen lụi hoàn toàn xuống bùn tanh ta gọi là không/diệt.

   Không chỉ hoa sen, mọi sự vật trong vũ trụ này đều tuân theo các giai đoạn ấy, bất kể nhỏ li ti như hạt cát đến to lớn vĩ đại như núi, sông, trăng sao. Mọi sự đều đổi thay, không gì là trường tồn mãi mãi.

   Hiểu được mọi sự trên thế gian này là vô thường, chúng sinh sẽ không quá chấp nhặt tham-sân-si, đối diện đương đầu với khổ đau của hiện tại, có lòng từ bi hỷ sả với muôn người, muôn loài và hướng tới niềm an lạc trong cuộc đời.

 

3.Quy luật nhân quả.

 
  Quy luật nhân quả hay luật nghiệp báo, “nghiệp-nhân-duyên-quả-báo” là một trong những giáo lý quan trọng của Phật giáo. Quy luật này đã tồn tại một cách khách quan trong vũ trụ và được Đức Phật giác ngộ vào đêm cuối của tuần lễ thứ Tư, lúc ngài chứng Tam Minh.

   Tích kể lại rằng, vào canh thứ nhất, Đức Phật chứng ngộ trí tuệ Túc Mạng Minh, nhận ra vô lượng kiếp sống quá khứ của mình, hiểu được nguyên nhân đời này sẽ khiến mình tái sinh ở đời sau như thế nào. Ở canh thứ hai, Đức Phật nhận ra mọi chúng sinh đều chịu sự chi phối của “nhân quả luân hồi”: Nếu kiếp sống này ta làm điều thiện thì đời sau được tái sinh vào cõi an vui. Trái lại, nếu đời này rơi vào cảnh khổ sở đọa đày là bởi kiếp trước đã làm việc xấu, ác. Ta nói: “thiện có thiện báo, ác có ác báo” là vì vậy.

 

4.Quy luật cân bằng.

 
  Đạo Phật nhắc đến quy luật cân bằng bởi hai yếu tố: Thân và tâm cũng như mối tương quan, tác động qua lại của hai yếu tố này. Trong đó, thân thể được hình thành từ 4 nguyên tố là đất, nước, gió và lửa. Còn tâm hay tâm thức bao gồm những cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức của con người.

   Đạo Phật cho rằng, để cân bằng giữa thân và tâm, ta cần tránh những thái độ tiêu cực đó là: Cường điệu, làm trầm trọng hóa vấn đề; Trốn tránh, không dám đối mặt với thực tại khổ đau; Làm ngơ trước nỗi khổ đau.

   Ngoài ra, một số quan điểm còn cho rằng luật cân bằng cũng chính là một khía cạnh của luật nhân quả và nhân quả chính là cách mà vũ trụ tự cân bằng. Ví như không ai sướng mãi, không ai khổ đau mãi, chúng ta lừa dối người này thì chính chúng ta sẽ bị người khác lừa dối, ta khởi một suy nghĩ xấu thì sẽ nhận lại một kết quả xấu…

 

5.Quy luật hấp dẫn.

   Quy luật hấp dẫn là một khía cạnh của luật nhân quả trong đạo Phật. Theo triết lý nhà Phật thì luật hấp dẫn được đúc kết trong quy luật “Phước thu hút phước, nghiệp thu hút nghiệp” – tức là bản thân mình là gì thì mình sẽ hấp dẫn hay “chiêu cảm”, cuốn hút những năng lượng xung quanh giống như thế ấy. Hiểu theo khía cạnh của luật nhân quả thì nghiệp phát ra từ thân -khẩu – ý như thế nào thì sẽ tạo ra quả báo như vậy.

   Suy rộng ra, cũng giống như nhân quả luân hồi, quy luật hấp dẫn hướng con người làm điều thiện, gieo duyên tốt để “gặt” được quả báo thiện lành.


TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...