Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2023

NHỮNG VIỆC CẦN HẾT SỨC LƯU TÂM

 


5 việc người giàu làm để ngày càng giàu, người nghèo không biết nên ngày càng nghèo

1.Học hỏi

2.Họ kiếm tiền từ chính đam mê

3.Kết giao đúng người

4.Đầu tư vào bản thân

5.Họ theo đuổi thành công thay vì tiền bạc 


5 dấu hiệu của người nhiễm "virus nghèo" sâu đậm và bền vững, không bỏ là "khó" cả đời, đừng đổ tại số

1. Luôn lo sợ về những lời người khác nói

2.Chỉ thích hưởng thụ

3.Hài lòng với mức lương

4. Là con nghiện thứ vô bổ và độc hại 

5.Có tư duy rằng giáo dục là chìa khóa của thành công 


3 câu người khôn ngoan nhất định sẽ nói khi có người hỏi vay tiền

1.     Vay tiền về làm gì. 

2.     Khi nào trả. 

3.     Giả vờ đi vay hộ và nói là có phải trả lãi, có thời hạn và có người làm chứng.  


Cổ nhân dạy: "Nhà chỉ cần 3 đầy 2 vơi là hạnh phúc, viên mãn", đó là những gì?

+Nhà đầy 3 thứ này, càng về sau càng viên mãn:

1.Nhà đầy cây xanh .

2.Thùng gạo và hũ tiền luôn đầy .

3.Ngôi nhà tràn đầy  ánh  sáng và thông thoảng 

 


+Nhà càng vơi 2 thứ này thì càng tụ tài, tụ lộc :

1. Nhà không có chuột bọ,ruồi nhặng và côn trùng gây hại .

2.không  có  mối mọt  


Người nói chuyện theo 4 kiểu này chắc chắn nhân cách không tốt, đừng nên chơi quá thân

1.     Thích dẫm lên nỗi đau của người khác. 

2.     Nói chuyện không có lương tâm. 

3.     Nói không giữ lời 

4.     Nói xấu sau lưng người khác.  


Tình cảm vợ chồng có tốt đẹp, hôn nhân có yên ấm không thì bước vào nhà cứ nhìn 3 nơi này là thấy

1. Ghế sofa, phòng khách : sạch gọn - bẩm bừa bộn 

2.Giường ngủ của vc : sạch - bẩn. 

3. Khu vực bếp, nhà vệ sinh : sạch sẽ - bẩn thỉu.  


6 thói quen khiến bạn nghèo khổ và cô đơn, cố gắng đến mấy thì "nghèo vẫn hoàn nghèo", không khá lên được

1.Không bao giờ từ chối 

2.Không thích làm quen với người bạn mới. 

3.Trông đợi một sự chấp thuận. 

4.Tin vào số phận. 

5.Bắt bản thân chịu trách nhiệm cho cảm xúc của người khác. 

6.Không quan tâm tới sức khỏe.  


Tuổi già muốn hạnh phúc an nhàn chỉ cần dựa vào duy nhất 1 thứ này

1 Quản lý sức khỏe của bản thân. 

2 Quản lý tiền của chính mình. 

3 Triết lý sống hạnh phúc cho mình.  


12 CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH, ĐỌC XONG SẼ THẤY TÂM AN, VẠN SỰ AN

 1. “Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng mặt trời. Nếu tâm trí của chúng ta luôn chứa đầy những toan tính và lo lắng thì chúng ta chẳng thể tìm được một khoảng trống cho chính mình”.

 2. “Mỗi sáng thức dậy tôi lại mỉm cười và hai mươi tư tiếng hạnh phúc sẽ ở ngay trước mắt tôi. Tôi nguyện sống trọn vẹn ý nghĩa cho từng giây và nhìn mọi điều bằng ánh mắt nhân ái”.

 3. “Sự giác ngộ luôn hiện hữu trong tâm trí của mỗi người. Những giác ngộ nhỏ bé sẽ mang tới sự giác ngộ lớn lao. Nếu ta hít thở và nhận ra mình vẫn đang sống, đó cũng là lúc mình chạm tay vào điều kì diệu của việc được sống và yêu thương mỗi ngày. Đó cũng là một loại giác ngộ”.

 4. “Con người sẽ luôn đau khổ vì bị mắc kẹt trong những quan điểm cá nhân khác nhau. Chỉ khi nào giải phóng được những quan điểm đó thì chúng ta mới được tự do và hạnh phúc”.

 5. “Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà tuyệt vời nhất mà Ta có thể trao tặng cho những người xung quanh. Thấu hiểu cũng chính là tên gọi khác của sự yêu thương. Nếu Ta không thể thấu hiểu và cảm thông cho người khác ta cũng sẽ chẳng yêu thương được chính mình”.

 6. “Nếu chúng ta tin ngày mai sẽ tốt đẹp hơn thì hôm nay chúng ta sẽ sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn và đau khổ”.

 7. “Hãy bước đi như thể Ta đang hôn trái đất bằng chính đôi chân của mình”.

 8. “Khi một người làm Mình tổn thương, trong sâu thẳm đâu đó chính họ cũng đang bị nỗi đau khổ ngự trị. Họ không đáng trách, họ cần sự bao dung và giúp đỡ từ Ta”.

 9. “Hạnh phúc là khi chúng ta được sống đúng với chính mình. Ta không cần người khác phải thừa nhận điều đó, chỉ cần ta hiểu và hạnh phúc là đủ đầy”.

 10. “Mỗi ngày của ta vẫn luôn tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Chỉ cần ta sống chậm lại, để tâm một chút ta sẽ nhìn thấy những điều tốt đẹp này”.


 11. “Chúng ta luôn đau khổ là vì những thành kiến và mẫu thuẫn. Khi nhìn cuộc sống bằng ánh mắt cởi mở hơn, chúng ta sẽ được tự do, bình yên và chẳng còn khổ đau nữa”.

 12. “Cội nguồn của tình yêu nằm sâu trong mỗi chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể mang niềm vui và hạnh phúc tới cho người khác. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ của chúng ta có thể mang đến sự đau khổ hay hạnh phúc cho mọi người”. 


37 ĐIỀU TIẾC NUỐI NHẤT CỦA NGƯỜI GIÀ KHI CÒN TRẺ

1.Không đi du lịch khi có cơ hội

2.Không học một ngôn ngữ khác

3.Dùng dằng với một mối quan hệ tào lao

4.Quên dùng kem chống nắng

5.Bỏ lỡ cơ hội đi xem thần tượng âm nhạc của mình

6.Nhát không dám làm gì

7.Không coi trọng rèn luyện sức khỏe

8.Để người khác “định nghĩa” mình qua vai trò giới tính

9. Không từ bỏ công việc mình “thấy ghê”

10. Không siêng năng khi đi học


11. Không biết được là mình xinh đẹp ra sao

12. Ngại nói lời yêu

13. Không nghe lời khuyên của ba mẹ

14. Biết mỗi mình mình

15. Quá bận tâm đến người khác nghĩ gì

16. Ủng hộ mơ ước của người khác, bỏ qua của mình

17. Không vượt qua nhanh chóng

18. Hận thù dai, nhất là với những người mình yêu thương

19. Không đứng lên vì bản thân mình

20. Ít tham gia tình nguyện


21. Không quan tâm sức khỏe răng miệng

22. Bỏ qua cơ hội hỏi ông bà trước khi họ mất

23. Làm việc quá nhiều

24. Không học nấu một bữa ngon lành

25.Ít dừng lại để tận hưởng khoảnh khắc

26. Không hoàn thành việc mình bắt đầu

27. Không biết một "chiêu" nào để đi tiệc

28.Bị giới hạn bởi văn hóa

29. Không chấp nhận sự thay đổi của bạn bè

30. Ít chơi đùa với con cái


31. Chả bao giờ mạo hiểm (đặc biệt là trong tình yêu)

32. Không dành thời gian xây dựng mối quan hệ

33. Lo lắng quá nhiều

34. Dính vào những chuyện bi lụy không cần thiết

35. Không dành đủ thời gian cho những người mình thương yêu

36.Chẳng bao giờ trình diễn trước người khác

37. Không biết ơn sớm hơn 


CHUYỆN ĐÁNG SUY NGẪM: " KẺ CƯỚP CÓ ĐẠO"

Kính Trời kính Thần, tin vào “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, tiêu chuẩn thiện ác phổ quát là từ nội tâm của con người. Không những người tốt có tiêu chuẩn đạo đức cao, mà ngay cả người xấu làm việc xấu vẫn có một thước đo chuẩn mực cho riêng mình. 

PHẢI LUÔN CÓ NHẪN NHỊN

 
Nhẫn nhịn là gì?

Tương tự: Nhẫn nại,nhẫn nhục,nhẫn

Nhẫn nhịn (nhẫn nại) là một mỹ từ cao đẹp mà con người luôn không ngừng rèn luyện để cuộc sống trở nên hạnh phúc. Đặc biệt, trong công việc sự nhẫn nhịn giúp cho chúng ta tránh được xung đột không cần thiết và còn nhiều lợi ích khác.

Theo Từ điển tiếng Việt, trang 648 thì thì Nhẫn nại là sự kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn, vất vả nào đó để làm việc gì

Lợi ích của nhẫn nhịn


Lợi ích thứ nhất của nhẫn nhục là giúp ta tránh được mọi ảnh hưởng xấu của sân hận. Sân hận có thể khiến ta ứng xử một cách dại dột và gây ra mọi điều tội lỗi. Sân hận cũng làm mất đi mọi ý niệm tốt đẹp của ta. Trong cơn giận, khó có ai còn có thể nghĩ đến sự cảm thông, tha thứ hay thương yêu người khác. Khi ấy ta chỉ còn nghĩ đến một điều duy nhất là làm sao để bộc lộ cơn giận của mình, biến nó thành hành động cụ thể gây hại cho kẻ mà ta đang tức giận. Khi chưa làm được điều đó, ta như bị thiêu đốt trong một ngọn lửa nóng. Vì thế mà có cách gọi rất hình tượng là “lửa giận”.

Sự thực hành nhẫn nhục giúp ta dập tắt cơn giận ngay từ khi nó vừa chớm sinh khởi, nhờ đó có thể vô hiệu hóa mọi tác hại của nó.

        

  Lợi ích thứ hai của nhẫn nhục là tạo ra một môi trường sống an lành quanh ta. Vì thực hành nhẫn nhục giúp ta hạn chế mọi sự đối kháng, mâu thuẫn và xung đột, đồng thời hóa giải được những oán hận, hiềm khích, nên điều tất nhiên là mọi sự giao tiếp giữa ta với người chung quanh đều sẽ trở nên hòa hoãn, ít căng thẳng hơn. Mặt khác, khi có bất cứ mâu thuẫn nào phát sinh cũng đều sẽ được giải quyết theo hướng ôn hòa, hạn chế tối đa mọi sự xung đột giữa đôi bên.

Cũng giống như khoảng sân được thường xuyên quét dọn sẽ không có nhiều rác bẩn, môi trường sống quanh ta khi thường xuyên được soi rọi dưới ánh sáng của hạnh nhẫn nhục sẽ không còn nhiều những mâu thuẫn, hiềm khích hay oán hận. Nhờ đó mà chắc chắn sẽ trở nên an lành hơn, hòa hợp hơn.

Lợi ích thứ ba của nhẫn nhục là giúp ta rèn luyện một khả năng chịu đựng ngày càng


tốt hơn, bền bỉ hơn. Như đã nói đến trong một phần trước, thế giới này của chúng ta được gọi là thế giới của sự nhẫn chịu, vì sự thật là chúng ta luôn phải tiếp nối chịu đựng những nỗi khổ đau, những sự bất toàn, như là những thành phần tất yếu của đời sống. Trong một thế giới như thế, điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm là phải tự rèn luyện cho mình một khả năng chịu đựng, thích nghi với mọi sự khổ đau, thay vì là bực tức hay than phiền về chúng. Và việc thực hành nhẫn nhục có thể giúp ta làm được điều đó.

Ngọc Minh có mấy người em sống ở Đà Lạt. Thỉnh thoảng, khi các em có dịp ghé thăm Minh tôi, tôi luôn nhận ra sự khó chịu, bực dọc của chúng vì thời tiết nóng bức. Ngọc Minh nghĩ, nếu sự khó chịu ấy mà kéo dài thì quả thật là... khó chịu! May thay, chúng thường chỉ ghé chơi khoảng một hai hôm mà thôi. Thế nhưng, đối với chúng tôi, những người phải thường xuyên sống ở “xứ nóng” thì điều tốt hơn là phải biết làm quen, phải biết chịu đựng sự nóng bức thay vì là bực tức, khó chịu. Sự thật, hầu hết cư dân xứ nóng đều đã làm như vậy. Họ trở nên quen thuộc và chấp nhận sự nóng bức chứ không ai cảm thấy khó chịu và bực tức với sự thật này.

Chúng ta cũng cần phải làm như vậy đối với những khổ đau trong cuộc sống. Có quá nhiều những nỗi khổ niềm đau luôn nối tiếp nhau xảy đến cho ta. Vì không có cách nào để tránh né những điều ấy, nên cách tốt nhất là ta cần phải rèn luyện cho mình một khả năng chịu đựng.

Việc thực hành nhẫn nhục chính là một bài tập rèn luyện dài ngày cho tất cả chúng ta.

Khi bắt đầu thực hành, Chúng ta có thể luyện tập khả năng chịu đựng những sự đau đớn hay khó chịu nhỏ nhặt hằng ngày với tâm bình thản, nhưng dần dần khả năng ấy sẽ phát triển đến mức Chúng ta có thể trải qua những cơn đau đáng kể mà vẫn giữ được tâm bình thản. Càng thực hành lâu ngày, khả năng ấy càng phát triển, và chúng ta sẽ có được một tâm thức luôn an ổn, vững chãi trong mọi hoàn cảnh bất lợi. Đây chính là tiền đề quan trọng để chúng ta có được sự an vui, thanh thản trong đời sống.

Lợi ích thứ tư của nhẫn nhục là giúp ta hoàn thiện đời sống tinh thần về mọi mặt. Thực hành nhẫn nhục là nền tảng quan trọng tạo điều kiện thuận lợi để nuôi dưỡng đức khiêm hạ, tâm từ bi, cũng như phát triển trí tuệ, định lực và vô số những pháp lành khác nữa. Khi ta tu tập hạnh nhẫn nhục thì mọi điều lành đều dễ dàng sinh khởi, mọi điều ác đều dễ dàng bị ngăn chặn, do đó mà tâm ta chắc chắn sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, tiến gần hơn đến sự an vui và giải thoát.

Tuy nhiên, việc kể ra những lợi ích của nhẫn nhục như trên chỉ là một việc làm gượng ép, nhằm tạm giới thiệu với những ai chưa thực sự tiếp xúc, thực hành phương pháp ứng xử nhiệm mầu này. Với những ai đã có sự thực hành nhẫn nhục, chắc chắn sẽ thấy những mô tả trên đây là rất giới hạn vì không thể nói lên hết những lợi ích lớn lao của sự thực hành nhẫn nhục.

Quyền năng của chữ nhẫn

Từ những kinh nghiệm xương máu của thực tế cuộc sống mà người Hán đã sáng tạo ra cách viết chữ nhẫn: chữ đao (con dao) ở trên và chữ tâm (con tim) ở dưới. Lưỡi dao ấy ở ngay trên tâm, và nếu như gặp chuyện mà không biết nhẫn nhịn thì tránh sao khỏi đau đớn, có nhẫn nhịn mới chuyển nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành…

Trong kinh điển, người biết nhẫn nhục, chính là người mạnh nhất. Còn theo thánh Gandhi: Nhẫn nhục ví như không khí, chẳng biết chống trả, nhưng có khả năng vô hiệu hóa những quả đấm của kẻ bạo tàn!

Vì thế mà người xưa đã tốn rất nhiều giấy mực để viết về nó, đã răn dạy rất nhiều những lợi ích và tác hại xung quanh chữ nhẫn này. Thời hiện đại ngày nay thì sao?

Nhẫn, không phải là sự cam chịu tiêu cực.

Đúng vậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà chữ nhẫn lại có bộ đao phía trên như biểu hiện của những nỗi thống khổ sâu sắc như dao nhọn, chúng có thể khía vào trong tâm trí, trong con tim ta, làm cho ta đau đớn, tủi nhục và khó chịu.

Nhưng, nhẫn, đừng nên hiểu một cách tiêu cực, là phải gồng mình cam chịu ôm nhục, là luồn cúi để đạt được mục đích. Nếu có chuyện không hay, hãy dùng trí tuệ để thấy đúng lẽ thật, buông xả mọi hơn thua với người ta và không cố chấp phiền hận.

Người “chửi” mình, nếu đúng thì nhận, nếu không phải thì xả bỏ. Chứ nếu nhớ hoài suốt đời, thì tự mình chuốc lấy cái khổ cho mình và còn làm cho người khác khổ lây.

Tóm lại: Chữ nhẫn ngoài sự chịu đựng điềm tĩnh còn cần phải có sự tha thứ, phải có từ – bi – hỷ – xả. Nhẫn là độ lượng, khoan dung, nhận đúng bản chất mà kiên tâm nhẫn nại… Nhẫn, chính là thể hiện bản lĩnh của con người.

Khổng Tử xưa đã nói: “Tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại mưu” (Việc nhỏ mà không nhẫn được, thì việc lớn ắt sẽ hỏng).

Nhiều gia đình thường treo chữ nhẫn trong nhà, như tự răn mình để giữ được hòa khí trong gia đình. Ôi chao, nhịn đi có một sự, đổi lại được những chín điều lành cơ mà.

Vậy nên, anh em có tranh nhau tí đất đai, vợ chồng có nổi cơn tam bành, ta có “hận” sếp, có xích mích gì với hàng xóm, có bị ai “đì” đi nữa, thôi thì nhẫn đi.

Con tim nhức nhối lắm, khi thấy mình phải chịu đựng thua thiệt, phải kém chị kém em, thành ra hậm hực, tức tối nổ con ngươi con mắt chỉ vì những thứ nhỏ nhặt.

Người ta có cái ví đầm hàng hiệu xịn hơn, thế là phải đua đòi chẳng kém cạnh gì, kẻo mang tiếng “quê”! Hoặc người ta xe nọ xe kia, nếu mình không có, thì đau buồn mà bi luỵ trách móc số sao mãi chả giàu để được làm… đại gia.

Mẹ chồng hủ lậu, lắm lời… cẩn thận đấy! Ra đường, nhẫn á, nhịn á, ganh nhau đến từng chỗ đỗ xe trước đèn xanh đèn đỏ, còi bấm cứ là nhức cả óc. Tông xe vào nhau, là gầm gừ như chuẩn bị xuống cắn xé nhau ngay!

Đến cái chuyện quyền lợi hay tiền nong, ai mà động chạm, thì cứ liệu hồn. Tốt nhất là nên việc ai người đấy làm, tiền ai người ấy hưởng, chứ ức chế quá, là xử lý nhau ngay.

Nhẹ thì bằng bom thư, cao hơn nữa, sẽ được chọn làm đối tượng để buôn dưa lê, nặng thì đơn kiện nặc danh, tệ hơn là thuê xã hội đen dằn mặt…

Thuở phong kiến, chồng có là nông dân thì vợ cũng phải hầu như hầu ông chủ; thời này, chồng mà lười biếng, lại mắc tính loăng quăng bồ bịch, cờ bạc thì dè chừng! Vợ mà đỏng đảnh, hay “không biết đẻ”, hay nọ kia, lơ mơ là ông quăng quần áo ra ngoài đường.

Cho nên, kết hôn cũng nhanh, mà chia tay, ly dị cũng quá lẹ. Chẳng có vấn đề gì phải kéo dài những mấy chục năm. Thời này, chữ nhẫn là chữ gì mà đòi hỏi phải mất thời gian đến vậy?

Nhẫn, cũng không phải là nhục một cách hèn nhát

Thời xưa, vua Câu Tiễn nằm gai nếm mật, nuốt mọi tủi nhục chỉ để chờ thời cơ làm nên chuyện lớn. Như vậy, cái chữ nhẫn nhục trở thành động cơ sống, thành quái chiêu của một số người nhằm đạt đến mục tiêu cần thiết của họ.

Ngược lại, chữ nhẫn như trái tim bồ tát của Quan Âm Thị Kính khi bị “vu oan” mọi bề, lay động thân tâm của con người, đó là:

“Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa/ Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu…”

 Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành nhẫn nhục một cách hèn nhát. Nhẫn quá, thành ra… nhục. Nó là điều sỉ nhục, làm xấu hổ, tổn thương đến lòng tự ái của mình.

Nhục, bởi vì sợ quyền thế, nhục vì đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể trả thù được, nhục để mong cầu có người khen, hay được chức trọng, quyền cao, nhẫn nhục vì khinh bỉ đối thủ, hay tự cho mình cao hơn người, không thèm chấp nê, phản đối.

“Tránh voi chẳng xấu mặt nào…”, nhiều khi thấy cái sự bất bình ra đấy, nhưng chẳng liên quan đến ta, thì ta “mackeno”. Cái sự nhịn ấy, xem phần nó cũng mang tính AQ, rằng thôi, nhịn đi một tí, chết ai!

Hiểu sai chữ nhẫn nhất là khi ghép chữ nhẫn với chữ tâm, để trở thành nhẫn tâm, ác độc. Cũng như hiểu chữ nhẫn với thói quen chịu đựng đến mức hèn yếu, bạc nhược hết ngày này, qua tháng khác, và cơ đồ sự nghiệp, thành quả chăíng thấy đâu, chỉ thấy con người ngày càng èo uột đi, thảm hại, nhưng họ vẫn tự ru mình là ta đang… nhẫn một cách chính đáng.

          Nhẫn nhục một cách hèn nhát, là mềm yếu, cam chịu vô ích, rồi tự mình chìm trong cái cõi mịt mờ của mình, sẽ thành kẻ chui sâu vào vỏ ốc, và điều này sẽ làm suy thoái xã hội, đạo đức con người, làm cho cái ác, cái tham, cái xấu có mầm mống và nguy cơ phát triển.

          Nhẫn nhục như thế, theo thuyết nhà Phật, là nhẫn nhục chấp tướng vì vẫn còn do dục vọng và lòng tham thúc đẩy chứ không phải nhẫn bà la mật.

Nhưng nếu không biết nhẫn, chúng ta sẽ có một khuôn mặt… xấu xí

Nếu Chúng ta không biết giữ được cho mình một chữ nhẫn, lúc nào đầu óc mình cũng căng ra, như một chảo lửa, chúng ta có thể phản ứng ngay tức khắc các vấn đề vừa xảy ra một cách nông nổi, thiếu suy nghĩ…

          Gặp chuyện khó chịu, không may, tức khắc lửa giận nổi lên, nếu nhẹ thì chỉ bộc lộ ra sắc mặt, hành động nóng nảy, nhưng nặng và đáng sợ hơn nữa, đó là để chất chứa trong lòng.

 Chúng ta biết không, những cơn nóng giận ấy khiến cho khuôn mặt con người bỗng chẳng dễ coi chút nào và trở nên rất xấu. Đôi khi, chẳng những chúng ta không giải quyết được việc gì, mà còn tự tạo thêm những hành động nông nổi, gây thêm bực bội đúng như các cụ đã nói: “Tâm oán giận, mạnh hơn lửa dữ”.

Thật vậy, chỉ một phút nổi nóng, không tự kìm chế được mình mà không dằn được cơn tức giận, nghĩa vợ chồng phải phân rẽ, bạn bè trở thành kẻ oán thù, và mâu thuẫn dẫn đến xung đột (đánh đập vợ con đến tàn tật, vợ giết chồng, con giết cha, đốt phá nhà cửa, tự hủy hoại thân thể mình…)

Ngọc Minh còn nhớ câu chuyện của một chị, nói rằng, thời mà anh chị chưa ly hôn, chị đi “đánh” ghen anh. Đêm hôm, không thấy anh về, trong một đêm mùa đông giá rét, chị quyết định lôi con nhỏ mới hai tuổi, đặt lên đằng sau xe đạp, đèo con đến nhà nhân tình của chồng, và căm phẫn đập cửa ầm ầm…

Sau này, chị tự nhận ra rằng, chẳng phải vì thương con không có cha, chẳng phải lý do gì, ngoài lòng ích kỷ và hận thù nên chị quyết không ly dị. Cũng chỉ vì chị không nhẫn được, cơn nóng bốc lên đầu và chỉ còn nỗi căm hận.

Cho dù đã bao lần, chị tự dặn mình rằng, đừng để con cái nghe thấy tiếng của hai vợ chồng cãi nhau. Nhưng biết sao được, khi cơn sân hận dâng lên, tiếng chì chiết, cãi vã, lẫn xỏ xiên, thậm chí thượng cẳng chân, hạ cẳng tay ngay trước mắt con cái, vô tình anh chị không biết rằng họ chính là một bằng chứng xấu xí của hôn nhân.

Và nếu trước kia, chị nhất quyết không ký đơn ly dị để “hành hạ”, trả hận với chồng mình, thì sau khi đã hiểu ra: nhẫn không phải là chịu đựng, mà nhẫn còn là xả bỏ những nỗi nhọc nhằn uất hận, những đau buồn tủi nhục, để cuộc sống dễ chịu hơn, chị đã ký đơn ly dị, nhằm giải thoát cho cả gia đình thoát khỏi cảnh “địa ngục trần gian”.

Chữ nhẫn, giống như vàng

Chúng ta hãy đọc kỹ những câu răn về chữ nhẫn, chúng ta sẽ thấy, muôn màu cuộc sống bày ra trong sức mạnh của chữ nhẫn. Chữ nhẫn ẩn chứa những phương kế sống của một đời người.

“… Có khi nhẫn để xoay vần/ Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa/ Có khi nhẫn để vị tha/ Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù/ Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu/ Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường/ Có khi nhẫn để vô thường/Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai/ Có khi nhẫn để lắng tai/ Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng/ Có khi nhẫn để bao dung/ Ta vui người cũng vui cùng có khi/ Có khi nhẫn để tăng uy/ Có khi nhẫn để kiên trì bền gan…”

Việc lấy đức nhẫn làm sức mạnh (dĩ nhẫn vi lực) cho thấy lợi ích cũng như quyền năng biến hóa, nội lực mạnh mẽ của chữ nhẫn.

Trong cuốn “Luận về chữ nhẫn” của Mạnh Chiêu Quân có viết: “Bạn chớ nên cáu gắt, cáu gắt sẽ làm tổn thương hòa khí; Bạn chớ nên tức giận, tức giận sẽ làm hủy hoại nguyên khí; Bạn chớ nên đùa giỡn, đùa giỡn sẽ làm hỏng tài khí; Bạn phải nhẫn nhịn, nhẫn nhịn sẽ được thần khí”…

          Cũng như câu tục ngữ của Việt Nam ta: “Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được, thì càng sống lâu”. Tự tìm được cho mình một chữ nhẫn thích hợp sẽ giúp ích cho cuộc sống của mình, và nếu biết sử dụng chữ nhẫn sao cho đúng cách, sẽ mang lại cho con người một sức mạnh vô cùng!

Nhẫn nhịn trong công việc

Nhẫn nhịn ! Đây là từ ngữ chỉ sự chịu nhịn trước mọi việc xảy đến mà dằn lòng, không nổi nóng và làm chủ được bản thân. Chẳng hạn, trong môi trường công sở sự nhẫn nhịn được thấy rõ nhất khi chúng ta đứng giữa sự đấu đá, cạnh trạnh, nói xấu lẫn nhau. Lúc này nếu một người có tính cách nhẫn nhịn sẽ có khả năng chịu đựng và đứng vững trước những thị phi.

Chúng ta biết được lùi một bước để tiến ba bước vì không phải lúc nào cũng tranh luận và hơn thua. Sự nóng giận nhất thời, không kiềm chế rất dễ khiến người xấu “xỏ mũi” và lợi dụng, khiêu khích mình tranh cãi với một người nào đó. Vì thế, trước khi ta nhìn thấu được tâm can của một người thì đừng vội phán xét và bực tức mà hãy bình tĩnh xem xét tình hình, chịu nhịn để quan sát.

Tuy nhiên, sự nhẫn nhịn không đồng nghĩa với sự chịu nhục mà là chúng ta cần chờ đợi thời cơ để phản pháo vào một thời điểm thích hợp. Thay vì nổi nóng, chửi bới thậm tệ thì người thông minh và văn minh sẽ dùng những lời lẽ sắc bén để nói một cách lịch nhất có thể. Nhưng tuyệt nhiên mọi người cần làm tốt công việc của mình trước và không tham gia vào những việc của người khác, trừ khi được sự nhờ cậy chính đáng.

 Nhẫn nhịn trong cuộc sống

Trong cuộc sống, chúng ta cần nhẫn nhịn với những ai? Đó là người thân, bạn bè. Bởi đa phần những mâu thuẫn cũng thường đến từ những người thân thiết. Đôi khi có những điều vụn vặt lại gây nên những khúc mắc lớn. Cũng từ đây mỗi người phải học chữ “nhịn”. Bởi khi ta coi trọng tình thân, tình bạn và không muốn sứt mẻ thì việc nhịn sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Nhưng thực tế, nhẫn nhịn không hề đơn giản mà là cả một nghệ thuật ứng xử. Không hẳn thiên về đức tính được hình thành bẩm sinh mà trong đó cần có sự tính toán khôn ngoan. Kiểu suy tính và sắp xếp để biết được thời điểm nào nên nói và thời điểm nào cần sự im lặng. Đây cũng là đức tính cần phải học nếu muốn đạt được thành công bởi trước đó chúng ta thường phải kìm nén và chờ đợi để hái quả ngọt.

Nhưng nhiều người lại cho cho rằng “nhịn” là “nhục”, là sự ngu dốt, hèn nhác và rất dễ bị người khác bắt nạt. Nhưng thực tế có phải vậy hay không? Đặc biệt, đối với những người có tính cách ngang bướng, mạnh mẽ thì việc ‘nhịn” đối với họ là một việc làm khó khăn. Nhưng chúng ta nên nhớ câu nói rằng: “Nhẫn một chút sóng yên gió lặng/Lùi một bước biển rộng trời cao”.

 

Rèn luyện tính nhẫn nhịn như thế nào?

Việc kiềm chế cảm xúc mang lại lợi ích lớn cho công việc lẫn cuộc sống. Là bài học đầu tiên để rèn luyện những đức tính khác, cải thiện bản thân, xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp. Vì cốt lỗi của vấn đề nhịn để tránh cãi vã với mọi người, khi chúng ta làm được điều này thì tự khắc sẽ gìn giữ được những mối quan hệ tốt đẹp.

Vậy chúng ta rèn luyện như thế nào? Trước tiên là để tinh thần thoải mái, sống khỏe và sống vui mỗi ngày. Tập ngủ sớm và dậy sớm để tập thể dục, ăn uống điều độ, tránh xa các chất kích thích có hại cho cơ thể. Khi sức khỏe và tinh thần ở trạng thái cân bằng thì đầu óc của mình có thể bình tĩnh để phân tích và phản ứng thông minh trước mọi việc xảy đến.

Khi gặp những vấn đề lớn nhỏ khiến mình sắp phá vỡ ranh giới giữa sự phản kháng và chịu “nhịn”. Lúc này, chúng ta cần im lặng và dành một ít phút để hít thở thật sâu. Hoặc tạm thời bỏ qua mà tìm đến các hoạt động khác để thư giãn tinh thần, có thể bật một bản nhạc, xem một video thú vị nào đó để quên đi chuyện vừa rồi.


Ngọc Minh xin kết bài viết bằng các ý thơ sau:

Nhịn được cái tức một lúc

Tránh được mối lo trăm ngày

Muốn hòa thuận trên dưới

Nhẫn nhịn đứng hàng đầu

Cái gốc trăm nết

Nết nhẫn nhịn là cao

Cha con nhẫn nhịn nhau

Vẹn toàn đạo lý

Vợ chồng nhẫn nhịn nhau

Con cái khỏi bơ vơ

Anh em nhẫn nhịn nhau

Trong nhà thường yên ấm

Bạn bè nhẫn nhịn nhau

Tình nghĩa chẳng phai mờ

Tự mình nhẫn nhịn được

Ai ai cũng mến yêu

Người mà chưa biết nhẫn

Chưa phải là người hay



 

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Ý nghĩa chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín

   
 
5 đức tính cần có của mỗi người là: Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín vẫn luôn rất được coi trọng. Cuộc sống ngày dù có rất nhiều thay đổi, nhưng chuẩn mực về tư tưởng, lối sống và đạo đức của mỗi người vẫn được lưu truyền qua hàng trăm năm. Vậy 5 chữ này có ý nghĩa như thế nào mà lại được mọi người nhắc đến nhiều như vậy và còn được đưa vào trong các tác phẩm nghệ thuật? Hãy cùng tìm hiểu nhé.

   Theo Wikipedia, ngũ thường xuất phát từ Nho giáo ở Trung Quốc hay chính là hằng có, đức tính của của con người ở đời, gồm:

 – Nhân (trong “nhân hậu”), thuộc Mộc;

 – Lễ (trong “lễ phép, lễ giáo”), thuộc Hỏa;

 – Nghĩa (trong “chính nghĩa”), thuộc Kim;

 – Trí (trong “trí tuệ”), thuộc Thủy;

 – Tín (trong “uy tín”), thuộc Thổ.

 Để có thể hiểu sâu hơn về 5 chữ: Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín này; chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu về ý nghĩa của từng chữ.

  Ý nghĩa chữ Nhân

Chữ nhân là biểu hiện của con người giữa đời thường, được thể hiện qua cách đối nhân xử thế; yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, chia sẻ với mọi người. Đặc biệt, đây không chỉ là đức tính cần thiết mà chính là trách nhiệm của mỗi cá nhân; là sợi dây liên kết, ràng buộc giữa người với người và thể hiện nghĩa tình qua các mối quan hệ như: vua – tôi, vợ – chồng, cha – con, anh – em.

   Theo Ngũ hành, nhân ứng với mộc hay chính là hiện thân của các loại cây xanh. Hiện trạng của mộc là cố định, nhưng vẫn luôn có sự sống và ý chí mạnh mẽ vượt qua mọi hoàn cảnh, dù có là thời tiết khắc nghiệt đi chăng nữa cũng vẫn sẽ dành chiến thắng.

   Nhắc tới hành Mộc chính là nhắc đến nhân, mang ý nghĩa rất sâu sắc về nhân cách của con người, sự lương thiện, bao dung, độ lượng và trong đó ẩn chứa cả sự vị tha.

  

Ý nghĩa chữ Lễ

 Lễ hay cũng chính là lễ nghi, lễ giáo. Đây cũng chính là một truyền thống tốt đẹp từ thời ông cha chúng ta. Để thể hiện sự tôn trọng, và giúp cho mối quan hệ giữa người với người trở nên hài hòa hơn thì chắc chắn sẽ không thể thiếu đi lễ. Hay khi chúng ta chịu nhận ân huệ từ những người khác thì điều chúng ta cần làm chính là “trả” lễ cho họ. Đặc biệt, lễ còn được xem là một nét đẹp trong văn hóa của dân tộc. Bởi khi có việc gì quan trọng sẽ không thể thiếu được lễ. Điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến lễ chính là ánh sáng và hình thức đặc trưng, còn được gọi là Tế tự.

   Mà lửa, ánh sáng hay những luồng năng lượng mạnh mẽ lại chính là biểu thị đặc trưng của hành Hỏa. Xét theo Triết học, sự tôn kính quỷ thần của con người cũng thuộc thuộc trong hành Hỏa. Vì vậy, những điều này khiến cho hành Hỏa và lễ của con người lại được xếp cùng với nhau.

   Ý nghĩa chữ Nghĩa

Chữ nghĩa xuất hiện rất nhiều trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta, trong sự dạy dỗ và dẫn dắt một con người theo lẽ sống phải đạo và được coi là chuẩn mực, hành vi mà con người cần hướng đến.

   Niềm tin vào chính nghĩa luôn chiến thắng tà ác; biểu tượng của thiên đạo được gọi là nghĩa. Hay nghĩa còn là sự công bằng, lẽ phải hợp với đạo lý chung; sự nhận thức đúng đắn về chân lí những điều này sẽ không dễ dàng bị biến đổi.

   Bên cạnh đó, biểu tượng của hành Kim lại chính là bạc hay những kim loại có bề ngoài sáng bóng và cứng rắn. Do vậy, ứng với hành Kim chắc chắn sẽ là nghĩa mà không phải là chữ khác.

   Ý nghĩa chữ Trí

  Theo Đức Phật, trí tuệ và sức khỏe là tài sản lớn nhất của mỗi người. Trí tuệ hay trí huệ, trong đó bảo gồm: trí là quán thấy và huệ là hiểu rõ. Trí tuệ là sự sáng suốt, tinh thông, am hiểu và nhanh nhạy về trí óc. Đặc biệt, khi sở hữu trí, người đó sẽ không dễ dàng rơi vào u mê tội lỗi và thể hiện sự hiểu biết minh bạch, tường tận.

   Như người xưa đã có câu “Trí giả nhạo Thủy” (Bậc trí giả thích nước). Bởi người sở hữu trí đạt sự lý thông thông suốt mọi lẽ không dễ bị đình trệ; giống như dòng nước chảy có thể bỏ qua được tất cả mọi dào cản; có lẽ vì vậy mà người trí rất ưa thích nước. Vì vậy, khi nhắc đến trí người ta sẽ biết ngay tới hành Thủy bởi những đặc tính tương đồng này.

 

  Ý nghĩa chữ Tín

 Tín là niềm tin, giữ điều hẹn ước và thực hiện đúng như lời đã nói ra. Người biết giữ chữ tính là người coi trọng lòng tin của người khác đối với mình và là người biết trọng lời hứa, đáng tin cậy.

   Khi con người không giữ được chữ tín, thì cuộc sống sẽ luôn phải trong trạng thái phòng bị lẫn nhau; đã có quan niệm rằng: người không biết giữ chữ tính thì cũng sẽ sống không có nhân nghĩa. Nhưng với những người trọng chữ tín; thì tín cũng chính là sợi dây liên kết mật thiết mỗi con người với nhau; và cũng là nền tảng và căn nguyên để con người sống chân thành với nhau hơn.

   Trong ngũ thường, tuy rằng vị trí của tín là ở cuối cùng nhưng lại là điểm mấu chốt không thể di dời; quyết định cho những đức tính trên. Bởi nếu không có đức tín, không nhận được sự tin tưởng từ người khác thì cũng sẽ chỉ là một người không được coi trọng và đánh giá cao. Cũng giống như Thổ luôn bất biến.

   Không phải tự nhiên mà hành Thổ lại được ví như Tín của con người. Những loài cây sinh sống và phát triển nhờ và đất; nếu có được sự hậu thuẫn từ đất thì chúng sẽ sinh sôi nãy nở rất tốt; vòng tuần hoàn theo đúng trật tự này cũng chính là yếu tố để thấy rằng hành Thổ tương đồng với chữ Tín.

   Mỗi chữ đều mang những ý nghĩa khác nhau; nhưng khi đứng cạnh nhau 5 chữ này lại mang ý nghĩa rất sâu sắc về mọi mặt trong cuộc sống. Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín nếu chúng ta thiếu bất kỳ một trong những đức tính trên; đặc biệt là Tín thì bản thân chúng ta sẽ không được coi trọng và khó có thể thành công và thuận lợi.

   Cũng bởi vậy, bộ tranh chữ Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín được sử dụng trong rất nhiều gia đình; như lời nhắc nhở mỗi người phải sống đúng với luân thường đạo lý.

 


Bàn về Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín: xưa và nay

  Việt Nam đã có hơn nghìn năm lịch sử phong kiến, và nho giáo luôn là tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị, văn hóa của dân tộc. Cho đến hôm nay cũng không thể phủ nhận những giá trị văn hóa to lớn mà tư tưởng nho giáo để lại trong đời sống xã hội. Nói đến tư tưởng nho giáo người ta không thể không nhắc đến năm chữ Nhân, Lễ Nghĩa, Trí, Tín. Dù đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, cho đến bây giờ những giá trị nhân văn của tư tưởng đó thể hiện qua năm chữ trên vẫn không mất đi giá trị. Song ở mỗi thời mỗi khác và hôm nay  Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cũng gắn liền với sự chuyển biến của xã hội hiện tại, ở một khía cạnh phương diện nào đó đã thể hiện với những tư tưởng và cách suy nghĩ không giống xưa, cũng như tâm quan trọng của mỗi chữ thể hiện trong thứ tự sắp xếp, điều đó cần được bàn thêm.

 


Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín hay Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Lễ ?

Thời nào cũng vậy, chữ nhân luôn đặt lên hàng đầu, là quan trọng hơn cả, nó đã là bao quát, là đạo làm người. Dù thời xưa hay thời nay chữ nhân đó vẫn thể hiện trong cách sống, lối sống của mỗi con người. Cách đôi nhân xử thế, tấm lòng của người giữa đời thường, cũng như vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Chữ nhân trong mõi người không chỉ là một tấm lòng, tấm lòng yêu thương con người, quê hương đất nước mà còn biết gắn cái riêng của mình vào cái chung của xã hội hiện tại, với sự ràng buộc giữa người với người, bằng những mối liên quan gắn kết. Người xưa cho rằng chữ nhân thể hiện qua nhiều luân thường đạo lý: Vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em bằng hữu… Nam thì Tam cang ngũ thường ( Tam cang : ba mối quan hệ giữa vua – tôi, cha- con, vợ – chồng . Ngũ thường : Chính là năm yếu tố để  trở thành nhân cách một con người: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín ). Điều đó thể hiện rõ nét trong tư tưởng nho giáo với mối quan hệ giữa vua – tôi thế nào, cha – con ra sao… Cũng như chữ trung     luôn đặt trên chữ hiếu.  Quân bảo thần tử , thần bất tử bất trung ( Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là không trung ). Đó thể hiện cái suy nghĩ của chế độ phong kiến quân chủ tập quyền. Nhưng suy nghĩ đó ngày nay đã không còn phù hợp, một cá nhân trong cuộc sống đất nước thì cần phải suy nghĩ gì trước vận mệnh chung của dân tộc, tất nhiên là phải vì lợi ích chung, cái lợi của nhân dân, của dân tộc chứ không phải vì một lợi ích riêng của cá nhân nào. Còn theo ngôn ngữ khoa học thì nhân ( hạt nhân ) nghĩa là cái trung tâm, cái quan trong, cơ bản nhất của mỗi vật chất. Con người cũng vậy, nhân   không chỉ thể hiện cái riêng của mỗi cá nhân mà còn là một tấm lòng bao la của con người khi gắn cái riêng đó với cái chung trong cuộc sống xã hội đời thường. Nữ thì Tam tòng tứ đức (Tam tòng: Sống theo cha, có chồng theo chông, chồng mất thì theo con. Tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Công: là sự giỏi gian, đảm đang trong công việc, Dung: nhan sắc người phụ nữ, Ngôn: lời ăn tiếng nói, cách ứng xử lễ phép, Hanh: cái trinh tiết, tiết hạnh của người phụ nữ- ý nói cần giữ gìn ). Có nhất thiết phải ở vậy theo con khi mà người chồng chăng may mất sớm không? Chẳng lẽ không cho người phụ nữ cái quyền được sống, được có hạnh phúc mới khi còn tuổi xuân sao? Đối với một số dân tộc như Champa, hay đời nhà Tần bên Trung Quốc thời xưa còn có tục khi người chống mất người vợ phải chết theo, nhất là đối với những bậc vua chúa. Làm vậy chẳng phải là quá khắc khe, ích kỷ và tàn nhẫn đối với người phụ nữ sao? – Điều đó ngày nay đã hoàn toàn không còn phù hợp. Công ở thời xưa và thời nay đã không còn giống nhau trên phương quan điểm, nhất là đối với người phụ nữ ngày nay ngày càng có nhiều quyền bình đẳng hơn. Có một thực tế là ở chế độ phong kiến ngày xưa quan niệm xem nhẹ vai trò người phụ nữ, cũng như tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào suy nghĩ của mọi người, như ngày nay có thể nói điều đó đã dân thay đổi. Mọi người cần phải thay đổi lại cách suy nghĩ và nhìn nhận đúng về vai trò người phụ nữ. Người xưa cho rằng , người phụ nữ đảm đang thì chỉ cần gói gọn trong việc nâng khăn sửa túi cho chồng, chăm lo con cái, gia đình chứ không cần có một công việc riêng tư. Nhưng ngày nay thì đã khác, người phụ nữ cũng có một công việc riêng tư như bao người đàn ông, một cuộc sống tự lập chứ đâu cần phải theo ai! Điều đó chứng minh qua xã hội ngày nay có nhiều người phụ nữ thành đạt, họ không chỉ chăm lo tốt chồng con, gia đình mà thành công trong công việc chuyên môn, có một địa vi nhất định trong xã hội mà nhiều người đàn ông cũng phải ao ước, ngưỡng mộ theo chứ chưa nói gì đến những người phụ nữ là lãnh đạo, nguyên thủ của một quốc gia. Điều đó cũng đã đủ nói lên vai trò to lớn của người phụ nữ ngày nay. Dung là nhan sắc, ở mọi thời đại đó vẫn là một lợi thế của họ, thế mạnh trời cho này của người phụ nữ nếu họ biết ăn nói dịu dàng lễ phép , kính trên nhường dưới, giao tiếp nhã nhặn với mọi người xung quanh đúng như trong chữ ngôn nữa thì đó là điều tuyệt vời. Ngày nay quan niệm về hanh – trinh tiết của người phụ nữ đã không còn khắc khe như xưa, nhưng đó cũng là điều mà người phụ nũ luôn trân trọng, giữ gìn- nhất là đối với những người phụ nữ Á đông với tư tưởng văn hóa phương đông, bao đời đã tạo nên một nét riêng so với người phụ nữ phương tây và được mọi người trong xã hội đánh giá cao. Tất cả những đều trên khẳng định một điều rằng: Đối với mỗi người thì chữ nhân không thế thiếu được.

Với người xưa họ rất xem trọng lễ vì vậy sau chữ nhân  là lễ  . Xem qua cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời. Chữ lễ ở đây không chỉ là lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới trong đạo vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, anh – em mà còn thể hiện qua những hình thức lễ nghi theo truyền thống đương thời, cũng chính vì thế mà có nhiều lễ nghi rờm rà, tốn kém, nhưng là điều không thể thiếu khi hành xử một việc gì đó cho là quan trọng, để rồi nó trở thành một nét văn hóa của dân tộc. Họ cho răng có lễ rồi mới có nghĩa, và ngày nay lễ cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong văn hóa giao tiếp ứng xử của mọi người trong xã hội. Nhưng ngày có phải lễ quan trọng hơn nghĩa không, điều đó cần phải bàn. Thực tế cho thấy, nếu đánh giá một con người, một gia đình mà chỉ xét qua cánh hành lễ nghi thôi không xét về nghĩa thì quả là thiếu sót. Bỡi có nhiều người trong xã hội hàng ngày hành sự có thừa lễ nghi nhưng nghĩa thì lại thiếu, cũng chính vì thiếu nghĩa ở đời mà sinh ra nhiều lễ nghi không phù hợp lại lãng phí thời gian tiền của, nên không hợp với lòng người và làm sai lễ, không đúng với giá trị thuần túy của lễ. Nghĩa ở đây thể hiện vai trò trách, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình dòng họ, ồng bà cha mẹ, vợ con, anh em bằng hữu cũng là nghĩa. Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa. Tại sao có nhiều người luốn biết quan tâm giúp đỡ mọi người trong xã hội, làm từ thiện tri ân với đời… cũng vì họ sống có nghĩa với đời, với cuộc sống hiện tại, họ biết cho khi đã nhận. Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình. Có những việc có thể họ chưa biết hành xử sao cho đúng với lễ nghi, nhưng giá trị thực trong con người thực của họ qua những việc làm nghĩa thì sẽ được mọi người người trong xã hội nhận ra và tôn trọng. Còn hơn là những lễ nghi mang tính chất hình thức mà không có nghĩa. Vì vậy phải chăng ngày ngay chữ nghĩa cần đặt trước chữ lễ.

   Nếu muốn làm được việc nghĩa thì phải có trí, phải có một sự hiểu biết nhất định ở xã hội. Có nhân,

có nghĩa mà không có trí thì chẳng khác nào một người lính ra trận chỉ có áo giáp mà không có gươm, đao, chỉ bảo vệ được mình mà không bảo vê được người khác. Sống ở đời nếu chí sống cho riêng ta thì đơn giản quá, mà muốn giúp đỡ được người khác tất mình phải có tài, có hiểu biết. Trí là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả. Nếu như ngày xưa đánh giá chữ trí của một con người qua sự hiểu biết về đạo quân tử, triết lý khổng giáo, lão giáo hay phật giáo thì ngày nay ngoài sự hiểu biết về lĩnh vực văn hóa xã hội, triết học thì cần có một sự hiểu biết về khoa học tự nhiên, bước sang thế kỷ XXI, với cuộc sống hiện đại, thông tin chóng mặt thì điều đó là cần thiết. Hiểu biết nhiều có thể làm được nhiều việc có ích với đời nếu người đó có nhân, có nghĩa trong tâm.

  

 Có trí mà không có tín thì chưa phải là điều tốt, ai đó có tài nhưng lại không có được uy tín, lòng tin đối với người khác thì cũng chẳng được ai tôn trọng. Chữ tín  trong cuộc sống hàng ngày rất quan trọng, dù thời xưa hay thời nay thì sống ở đời mọi người cũng cần có một uy tín nhất định trong quan hệ với mọi người xung quanh. Thời xưa cái uy tín với bạn bè luôn được đánh giá cao, uy tín đó sẽ gây dựng được lòng tinh, mọi người tin tưởng sẽ dễ dàng được mọi người giúp đỡ trong cuốc sống. Nói thì phải làm, sống trung thực với mọi người, với bản thân. Ngày nay cũng vậy cho dù anh có tài nhưng không có được uy tín thì cũng chẳng ai theo, muốn được người khác giúp đỡ thì bản thân mình phải giữ được lòng tin trước mọi người, chưa nói đến trong quan hệ làm ăn ở xã hội, chữ tín cái uy tín trong công việc luôn đặt lên hàng đầu, quyết định đến sự thành công.

   Có được nhân, nghĩa, trí, tín tất lễ cũng phải có, bốn chữ trên gân như bao gồm cả một nhân cách con người thì lý gì lễ không có? Chí ít gì cũng hiểu biết thế nào là lễ và vì sao gọi là lễ ở đời. Vì vậy nếu nói: Người xưa thì NHÂN, LÊ, NGHĨA, TRÍ, TÍN Còn người nay thì NHÂN, NGHĨA, TRÍ, TÍN, LỄ thì cũng không gì là quá. Nhưng cho dù là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín hay nhân, nghĩa, trí, tín, lễ đi chăng nữa thì sự gắn kết cũng như mối tương quan bổ trợ giữa năm chữ trên cũng không bao giờ thay đổi được. Năm chữ trên



TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...