Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

TÌNH VÀ NGHĨA

  

Thuở yêu nhau, người ta nghĩ về nhau bằng cái tình nên lúc nào cũng thấy cháy bỏng. Đến khi cưới, sống với nhau nhiều tháng, nhiều năm, hai “người dưng” lại sống vì cái nghĩa nhiều hơn.

   Yêu và cưới là hai đời sống rất khác, nếu người trong cuộc lúc nào cũng “tương kính như tân” thì hạnh phúc sẽ bền lâu hơn .Nhiều vợ chồng không còn cảm giác xa là nhớ da diết hay “yêu trăm bận đến nghìn lần”, nhưng vẫn thấy dường như “anh/em đang ở trong em/anh”...

 

Vì yêu

  “Bạn đến với một người, quan tâm, chăm sóc, đón đưa, tất cả đều nghĩ cho người ta bởi bạn yêu người


ta - anh Minh Tâm ở Q.Bình Thạnh (TP.HCM) đưa ra luận điểm ấy và vừa phân tích vừa gật gù, đắc ý - Quả đúng như vậy, nếu không có tình yêu thì có bỏ tiền ra thuê mình yêu ai đó tôi cũng... bó tay. Hồi xưa yêu bà xã, tôi chỉ biết quan tâm, xa là nhớ thương và cứ muốn được gặp hoài”.

  Có lẽ khi yêu ai cũng có chung cảm xúc “như lửa đốt”, nhớ da diết khi xa người mình yêu. Và chính cảm xúc ấy đã gắn kết hai người lại dù gặp phải trở lực nào.

 Nghĩa vợ chồng

  Người ta thường nói: tình yêu đôi lứa, nghĩa vợ chồng. Sống với nhau, cùng nhau vượt qua những bão dông của cuộc đời thì giữa vợ chồng có cái nghĩa, bên cạnh cái tình thời son trẻ.

  Anh Nguyễn Minh Hoàng ở Thủ Đức, TP.HCM bộc bạch: “Chúng tôi yêu nhau từ thời sinh viên, nhà cô ấy khá giả hơn. Dù có nhiều anh chàng giàu hơn, sang trọng hơn vây quanh đòi đón đưa nhưng vợ tôi vẫn không chịu. Cô ấy bảo yêu tôi và chỉ có mình tôi. Cái tình ấy của vợ cho tôi niềm hạnh phúc, tôi biết ơn cô ấy. Và sau này khi tôi đi làm có nhiều tiền, nhiều cô gái trẻ hơn vợ... muốn yêu tôi nhưng tôi đều từ chối”. Rồi anh tiếp lời: “Sức đề kháng ấy bắt nguồn từ mong muốn làm cho vợ luôn hạnh phúc, không thể và không được phép làm tổn thương cô ấy”.

 

Còn chị Phan Thị Thủy ở Quảng Nam khi nói về chồng lúc nào cũng thể hiện lòng kính trọng và một tình yêu mặn mà: “Anh ấy đã cáng đáng gia đình, vượt qua thời gian khó của kinh tế, nuôi con đàng hoàng”. Lối sống nề nếp của người đàn ông trụ cột trong gia đình, cùng nhau vượt qua những khó khăn đã hình thành nên gạch nối cố kết những thành viên lại với nhau.

 Khi đã là của nhau, hai vợ chồng vẫn “tương kính như tân”, đấy cũng chính là một cái nghĩa. Điều này thường khó thực hiện bởi họ nghĩ: đã là vợ chồng cần gì giấu giếm... Ngày xưa yêu nhau, bà e thẹn, ông nói gì bà cũng nhẹ nhàng, từ tốn. Giờ ông nói gì bà cũng cãi và đốp chát, không chịu thua. Ngày xưa bà có biểu hiện không vui ông đều thấy và hỏi han, xin lỗi nếu mình phạm lỗi. Giờ đã là vợ chồng, bản tính gia trưởng của ông bột phát, dù có lỗi rành rành ông vẫn một hai “tui là đàn ông, tui không có lỗi”.

 

Nguyên nhân có thể đến từ những chuyện buồn nho nhỏ trong đời sống vợ chồng không được giải quyết, để tích tiểu thành đại nên đến khi đủ “lượng” thì nó thực hiện bước nhảy thành “chất” mới. Từ chỗ yêu nhau, sau thời gian buồn, giận không được giải quyết vì cố chấp, vì thiếu tương kính như thuở ban đầu nên vợ chồng đã trở mặt, nhìn nhau mà... ghét như kẻ thù!

 

Nhịp cầu con trẻ

  Con cái chính là một mắt xích quan trọng của hai vợ chồng. Anh Minh Tâm kể: “Làm gì cũng nghĩ


đến con nên hai vợ chồng có muốn cãi nhau cũng thôi, không cãi nữa, con nghe sẽ buồn”. Anh nhận ra cái nghĩa vợ chồng hình thành từ chính tình thương dành cho con trẻ, khi cả hai cùng dành tình thương đến một đối tượng nào đó thì mọi rắc rối, hục hặc sẽ giảm hẳn.

  Th.S xã hội học Phạm Thị Thúy (giảng viên Học viện Hành chính cơ sở TP.HCM) cho biết: “Vì tương lai con cái chính là “lý tưởng” chung mà hai vợ chồng cùng hướng tới. Đấy cũng chính là sự đồng cam cộng khổ mà hai vợ chồng cùng trải qua. Lúc con vui, hai người cùng hạnh phúc và ngược lại. Điểm chung ấy sẽ làm nghĩa vợ chồng được nuôi dưỡng”.

  Cảm giác biết ơn vợ đã sinh cho mình một thiên thần để yêu thương khiến chồng yêu vợ hơn. Và ngược lại, khi chồng dành tình yêu thương, chăm sóc con, cùng giáo dục con cũng làm người vợ tin chồng hơn, yêu chồng hơn. Cô Đỗ Thị Hoa ở huyện Bình Chánh, TP.HCM sau 40 năm làm vợ đã nghiệm ra: “Giờ hỏi chúng tôi có còn yêu nhau không thì chắc chắn vẫn còn, nhưng cái lớn lao hơn tình yêu chính là tình người - cái nghĩa mà ông ấy dành cho tôi và các con”.

  Và lúc này tôi bất giác nhớ lời một vị thầy khả kính của tôi đã ví von: cái tình (tình yêu) giống như lửa rơm, bùng cháy dữ dội nhưng cũng mau tàn; còn cái nghĩa giống như lửa của con cối (con cối giữ lửa được làm bằng rơm, quấn chặt), nó âm ỉ, lâu bền...

Sống cho nhau

  Dù bận rộn trong công việc, song trong cuộc sống gia đình, họ luôn tìm cách “giữ lửa”.

 Ngọc Minh còn nhớ lúc mới yêu Minh tôi và bà xã bây giờ cũng hay giận hờn vu vơ. Những lúc như vậy, nếu một trong hai người vì tự ái cá nhân chắc cũng chẳng nên nghĩa vợ chồng như ngày hôm nay. Rồi khi chung sống với nhau, sinh con... thì suy nghĩ sống cho nhau, sống vì nhau, sống vì con cái, sống vì chính tổ ấm của cả hai vợ chồng luôn là mục đích mà chúng tôi hướng đến.

  Trong cuộc sống gia đình, người đàn ông luôn phải đóng vai trò “thắp lửa yêu thương”, đừng khiến vợ hụt hẫng, bởi lúc yêu thì nồng nàn, còn khi thành vợ thành chồng lại ngó lơ. Ngược lại, người phụ nữ cũng vậy, phải để chồng nhận ra “gia đình, vợ con là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất mỗi khi ta gặp khó khăn”. Chính từ việc gìn giữ những điều căn bản trên hiện tại cuộc sống của gia đình tôi luôn ấm áp và đầy ắp tiếng cười.

  Ai cũng trải qua giai đoạn yêu đương cuồng nhiệt nhưng khi là vợ chồng thì tình yêu ấy có thể hạ nhiệt. Tuy nhiên, để giữ lửa cho tình yêu ấm mãi, tôi nghĩ phải có sự hợp tác từ hai phía, trong đó sự đồng cảm, lòng khoan dung, tha thứ là không thể thiếu. Tôi thường vận dụng môn quản lý nhân sự trong cuộc sống hôn nhân, có nghĩa là khai thác tối đa ưu điểm của ông xã và hạn chế những khuyết điểm, từ đó dung hòa mọi thứ.


Tản mạn về chữ “Nghĩa” trong lý niệm của cổ nhân

 

Các bậc hiền đức thời xưa đều có tín niệm kiên định phi thường, không bởi vì lâm vào nghịch cảnh, không bởi vì đối mặt với sinh tử, không bởi vì cám dỗ trước công danh lợi lộc mà vứt bỏ tiết tháo, phẩm chất, nhân nghĩa của mình. Họ, nam có, nữ có, đã ở trong các hoàn cảnh khác nhau mà đặt định cho hậu thế nội hàm bao la của chữ “Nghĩa”, trở thành những tấm gương trung trinh, liệt nghĩa cho người đời sau.

   Chữ “Nghĩa” ở dạng phồn thể bao gồm chữ “ngã” ở dưới chữ “dương”. Vào thời xưa, “dương” hay con dê là con vật dùng để tế Trời, thể hiện sự hiến dâng. Còn chữ “ngã” là ta, là “cái tôi”. Chữ “ngã” đặt ở dưới chữ “dương” mang hàm nghĩa rằng con người ta có thể quên đi bản thân mà hiến dâng cho điều cao quý, cho chính đạo trong Trời đất.

   Xưa kia, khi bị áp giải đến Yên Kinh vì chống quân Nguyên Mông, Văn Thiên Tường đã từng viết:

 Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

   “Đời người xưa nay ai không chết? Lưu lại lòng son rọi sử xanh”, hai câu này đã trở thành một áng thơ tuyệt mỹ để tỏ bày lòng tin chính nghĩa không thể lu mờ. Nhìn lại dòng sông dài lịch sử, những cá nhân cao quý như vậy không thời nào là không có.

   Hơn 100 năm trước, cụ Phan Thanh Giản vì không giữ được thành Vĩnh Long mà vào một chòi tranh,



tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống á phiện với dấm thanh để tự vẫn trong sự van xin của con cháu.

   Cụ Hoàng Kế Viêm là phò mã nhà Nguyễn, bác dượng vua Tự Đức, thế mà chống lệnh triều đình, nhiều năm dẫn quân chống Pháp, lại ngầm giúp đỡ các cuộc khởi nghĩa, khiến người Pháp phải kính sợ.

   Hơn 200 năm trước, tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không giữ nổi thành Bình Định, một người tự thiêu, một người uống thuốc độc tự sát, để khỏi liên lụy binh lính toàn thành.

   Đôi vợ chồng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu kiên tâm chống giữ nhà Tây Sơn. Đến khi bị bắt, được vua Gia Long gia ân mà Trần Quang Diệu vẫn tạ từ: “Nhận chức quan của triều đại mới thì không phải là trượng phu”, để rồi bị giết.

 

  Hơn 600 năm trước, Lê Lai mặc áo vàng, dẫn hai con voi và 500 quân tới trại giặc khiêu chiến, dũng cảm đánh cho đến khi bị bắt, bị xử cực hình cực ác, vậy mà chưa từng hé răng. Tất cả chỉ vì để Lê Lợi thoát đi, sau này đánh bại quân Minh, lập ra triều đại quân chủ thịnh thế nhất trong lịch sử đất nước.

   Hơn 700 năm trước, Trần Tử Đức dẫn quân Ngũ Yên tinh nhuệ chặn giặc Nguyên Mông, phía sau lưng ông, vua Trần rút lui tổ chức quân đội, dân chúng thành Thăng Long khẩn trương di tản. Sau hơn 10 ngày chặn giặc làm tròn nhiệm vụ, bị giặc vây, ông tuẫn quốc. Phu nhân của ông là Bùi Thiệu Hoa dẫn quân đến nơi an toàn, làm lễ tế chồng, rồi tự tử chết theo.

 

  Trên bình diện cá nhân mà nói, con người khi sinh ra chỉ có một tấm thân trần, khi chết đi cũng chỉ có hai bàn tay trắng. Dẫu đứng trên đỉnh cao của tiền tài, danh vọng, phú quý, tới khi nhắm mắt xuôi tay hết thảy đều về không. Điều có thể lưu lại chính là tấm lòng nhân nghĩa.

   Thời cổ đại, các cuộc chinh chiến, thảo phạt, dẫu là dùng bạo lực và đánh giết làm phương tiện, cũng vẫn phải lấy điều kiện tiên quyết là “Nghĩa”. Bởi vậy Mạnh Tử nói: “Ta nghe Chu Vũ Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chớ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ”. Chu Vũ Vương là vị vua sáng lập triều Chu trong lịch sử. Trụ Vương là vị vua cuối cùng của nhà Thương. Chu Vũ Vương khởi binh đánh vua Trụ vô đạo, sau đó lên ngôi vua. Mạnh Tử cho rằng vì Trụ Vương vô đạo, nên không còn được coi là vua nữa, người có đức hạnh lên thay là hợp với đạo Trời, chính là “Nghĩa” vậy.

   Các tác phẩm của cổ nhân không phải tác phẩm nào cũng có thể lấy tên là “diễn nghĩa”. “Phong thần diễn nghĩa”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tùy Đường diễn nghĩa”, những tác phẩm này được xưng là “diễn nghĩa”. “Tây Du Ký” chỉ có thể được gọi là “ký”, “Thủy Hử truyện” cũng chỉ có thể được gọi là “truyện”.

   Vì sao lại được gọi là “diễn nghĩa”? Chính là làm rõ hàm ý của chữ “Nghĩa” này. “Phong thần diễn nghĩa” mô tả việc Khương Tử Nha phò tá Chu Văn Vương thảo phạt nhà Thương, đem lại chính nghĩa cho thế gian. “Tam Quốc diễn nghĩa” mô tả cách hành xử chí tình của các cá nhân kiệt xuất tại Ngụy, Thục, Ngô trong thời loạn thế Tam Quốc. “Tùy Đường diễn nghĩa” cũng là lấy lòng yêu thương dân chúng của Lý Thế Dân làm nền tảng chủ đạo. Lương Sơn anh hùng của “Thủy Hử truyện” mặc dù tự xưng là thay Trời hành đạo nhưng lại là một nhóm cường đạo, không thuộc về chính nghĩa, nên chỉ là “truyện”. “Tây Du Ký” mặc dù là ngay chính nhưng không có ý đồ làm rõ nội hàm của chữ “Nghĩa” này nên mới xưng là “ký”.

   Có thể thấy rằng trong lý niệm của cổ nhân, dẫu là ở phương diện cá nhân hay ở phương diện xã hội thì “Nghĩa” là sự vô tư vô ngã, phù hợp với chính đạo, phù hợp với Thiên đạo. Bởi vì “Nghĩa” là thể hiện của thiên đạo, cho nên xưa nay con người luôn tin tưởng vững chắc rằng chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng tà ác. Bảo vệ chính nghĩa cũng là trách nhiệm của mỗi người.

   Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng: Ta sống tốt, ta cũng không hại ai hết, ta là người lương thiện. Nhưng như thế nào mới là thiện lương đây? Thời điểm giao tranh giữa cái thiện và cái ác, cái chính và cái tà, cái đúng và cái sai, nếu như ai im lặng trước chính nghĩa thì cũng bằng như ủng hộ cái phi nghĩa. Mỗi người không thể thờ ơ trước lựa chọn của bản thân, bởi đó chính là lựa chọn tương lai, là đang tự “diễn nghĩa” cho chính mình.


PHẢI LUÔN CÓ LỄ NGHĨA



Chữ Lễ xưa và nay

  Ta thường thấy câu “Tiên học lễ hậu học văn” được nêu ở các trường học như là một tôn chỉ giáo dục trong nhà trường. Khi đọc về Nho giáo, có thể thấy thầy Khổng Tử là người được Nho gia tôn là “Chí Thánh” hay “Vạn Thế Sư Biếu”, nghĩa là người thầy của mọi thế hệ.

  Ông là người luôn nêu cao tinh thần Châu Lễ như mục tiêu tôn chỉ tư tưởng học thuyết của ông. Ngày nay, còn đề cao những chữ Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ, Trung, Hiếu, Trí, Tín, Nhân, Dũng… như những phạm trù về đạo đức phong kiến của Nho giáo.

 

 

  Vậy ý nghĩa của chữ Lễ là gì?

 Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường nói đến lễ phép, lễ nghi, tức là biết xử sự, tôn trọng nhau như người biết phép tắc, có văn hóa, có đạo đức truyền thống.  Chính trên cơ sở này mà nhà trường thường nêu câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là đến trường học trước tiên là học làm người, sau đó mới học chữ, học kiến thức, học nghề để mưu sinh về sau.

  Trong tác phẩm Cổ học tinh hoa có đoạn viết rằng:

  “Công Minh Tuyên đến học thầy Tăng Tử (người học trò thành đạt của Khổng Tử). Ở nhà thầy ba năm mà ít mấy khi đọc sách.

 

   Thầy Tăng Tử hỏi: “Ngươi đến đây đã ba năm nhưng ta ít khi thấy người đọc sách và bàn thảo văn chương như các anh em là tại sao?”. Công Minh Tuyên đáp: “Thưa thầy, con vẫn chăm học ở thầy. Thầy lúc nào cũng hiếu thuận với song thân. Thầy ứng tiếp bạn bè cung kính ung dung, rất có lễ độ, kẻ dở người hay ai đều bị thuyết phục. Ở triều đình đối với kẻ dưới bề trên đều nghiêm nghị như nhau, trong lòng nhân từ, không có ý hại ai. Đây là ba điều con mãi đang học nhưng chưa làm tốt được…”.

 

   Câu chuyện có ý nói rằng, đi học trước tiên là học làm người và người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức, mà còn là tấm gương nhân cách, gương mẫu về đạo đức để học trò noi theo. Khổng Tử và Mạnh Tử cũng đặt vị trí người thầy còn cao hơn bậc cha mẹ, vì cha mẹ sinh ra ta, còn người thầy giáo dục ta nên người.

 

  Khổng Tử ra đời vào thời kỳ nhà Châu bắt đầu suy vong, các chư hầu thôn tính lẫn nhau, không còn tôn trọng Châu Lễ. Ngậm ngùi tiếc nuối thời cực thịnh thái bình 400 năm trước của nhà Châu, Khổng Tử đề xướng khôi phục Châu Lễ và chính vì thế mà về tư tưởng chính trị, người đời lên án Khổng Tử đã bảo vệ cho chế độ nô lệ phong kiến.

 

  Châu Lễ ngày xưa chính là vũ trụ quan về trời đất, con người và thiên nhiên, là tư tưởng quan điểm chính trị, là hiến pháp và luật pháp quốc gia. Từ tư tưởng này, người đời xây dựng nên luân lý và mối quan hệ xã hội, quy tắc hành xử của con người với nhau trong hệ thống giai tầng xã hội qua các chữ Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ… Sau đó, Khổng Tử và các học trò của ông kế thừa và chọn lọc lại thành hệ thống tư tưởng triết học, đạo đức xã hội, đạo đức con người mà các thế hệ cần phải tu dưỡng noi theo.

 

  Khi Khổng Tử chu du các nước, thuyết phục họ trở lại theo Châu Lễ thì chẳng ai nghe, vì lúc bấy giờ nhà Châu đã suy tàn, các chư hầu lớn đều muốn tự mình làm thiên tử.

 

 

Sau khi thất bại trên đường quan lộ, Khổng Tử chỉ còn cách mở trường dạy học. Ông đem đạo lý trị quốc và luân lý xã hội phổ biến và truyền lại cho đời sau. Đến thời Mạnh Tử, vai trò vua và dân được đánh giá lại qua câu “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, về tư tưởng chính trị còn tiến bộ hơn. Và mẫu người đại trượng phu đã thay cho mẫu người quân tử, gần gũi và thiết thực hơn.

 

  Những đóng góp về quan điểm giáo dục và đạo đức con người của Khổng Tử, Mạnh Tử cho đến nay vẫn được người đời xem như là cốt lõi của của tư tưởng Nho giáo (dù Nho giáo và tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử có khác).

 

  Đến nhà Hán (Hán Võ Đế), thừa tướng Đổng Trọng Thư muốn củng cố chế độ quân chủ chuyên chính và chế độ gia tộc, đã đem tư tưởng Khổng - Mạnh diễn dịch lại thành mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là “tam cương” và tinh thần Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín gọi là “ngũ thường” để phục vụ cho việc củng cố Hán Triều, đặt tư tưởng Nho giáo theo ý tưởng mới này thành nền tảng tư tưởng chính thống. Ông đã biến Nho giáo thành công cụ của giai cấp thống trị.

 

  Chính từ đó, những nhà Nho sau khi đỗ đạt thì được làm quan, trở thành công cụ của giai tầng thống trị. Tiếc là đại đa số người thành đạt đó đều bị biến chất, phản bội lại tinh thần đạo đức Khổng - Mạnh. Chỉ có những nhà Nho bị thi rớt hay không chịu làm quan mới giữ được phần nhân cách, đạo đức Khổng - Mạnh và họ trở thành thầy đồ sống trong các tầng lớp nhân dân, giữ gìn được tinh thần, tư tưởng khí tiết Khổng - Mạnh, thế nên người đời luôn tôn kính các đồ nho.

 


  Thật ra, chữ Lễ trong “Tiên học lễ hậu học văn” không chỉ là lễ phép, lễ nghi, mà cũng không rộng mênh mông như chữ Lễ của Châu Công (Châu Lễ). Nó là quy phạm, tư tưởng, hành vi của con người đối với mọi mối quan hệ xã hội và thiên nhiên, nhằm bảo vệ quyền con người và trật tự cộng đồng xã hội, giữ gìn sự phát triển hài hòa của xã hội và thiên nhiên, giúp cho quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tập thể cũng tồn tại và phát triển, làm cơ sở hình thành một xã hội văn minh, hạnh phúc.

 

  Ngày nay, các thầy cô giải thích và thực hành như thế nào về tinh thần “Tiên học lễ hậu học văn” cho học sinh? Mấy tháng trước đây có hai sự kiện đăng trên hai tờ báo khác nhau khiến chúng ta phải giật mình.

 


  “Tại một trường trung học cơ sở tỉnh Bình Phước, một giáo viên bị chém trọng thương. Kẻ gây án khai rằng có một em học sinh trường này không mặc đồng phục nên bị thầy nhắc nhở. Em này về thuật lại với người yêu. Anh này nghe xong cảm thấy bị “xúc phạm” nên điện thoại nhờ người anh (thủ phạm) ra chợ mua cây rựa đến trường chém ông thầy nào dám xúc phạm đến người yêu. Anh không biết người nào, nên chém nhầm thầy này…”.

 

  “Tại tỉnh Bình Thuận, hai công ty làm ăn rồi tranh chấp nhau. Giám đốc Công ty A dẫn người đến nhà giám đốc Công ty B đập phá… Một ông hàng xóm đến can. Ông giám đốc Công ty A cho xe tông ông hàng xóm ngã xuống, còn lùi xe cán đi cán lại thân thể ông ta, gây thương tật đến 80%. Sau đó giám đốc Công ty A bảo rằng ông ta lầm tưởng là đồng bọn của giám đốc Công ty B và tông xe chỉ nhằm hù dọa mà thôi, không cố ý giết người ấy”.

 


  Hai sự kiện trên thật ra không phải là lần đầu xảy ra trong xã hội. Tính chất tàn bạo và xem thường mạng sống con người phải chăng đã thành hiện tượng phổ biến? Nó đã phản ánh rằng cái học làm người không còn nữa, mà đã bị sự tranh giành hơn thua bất chấp lễ nghĩa, bất chấp đạo đức chẳng qua là cuộc sống vật chất mà thôi. Tại sao người ta có thể chém người không thù oán dễ dàng như ném một chiếc chén xuống đất cho nát vụn! Một sự suy đồi về đạo đức đến mức không thể chấp nhận được!

 


  Nhớ lại cách đây mấy năm, khi gặp lại một người bạn hiện sống ở nước ngoài, Ngọc Minh  nói về sự đổi mới của nước ta một cách tự hào. Thế nhưng anh ta trả lời một cách mỉa mai rằng: “Nhờ đổi mới tư duy, cuộc sống người dân Việt Nam đã tốt hơn, nhưng đạo đức xã hội lại băng hoại, tham nhũng lan tràn khắp mọi lĩnh vực, mọi cấp”. Minh tôi nghẹn họng, đứng lên từ giã và không bao giờ muốn gặp lại anh ta nữa. Sự thật là đổi mới có làm cho cuộc sống chúng ta tốt lên, nhưng vấn đề đạo đức xã hội, nhân cách đạo đức con người thì bị lu mờ và biến dạng dần. Ôi, chữ Lễ của chúng ta còn không và nếu còn thì ở đâu?



Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

NHỮNG VIỆC CẦN HẾT SỨC LƯU TÂM

 



5 việc người giàu làm để ngày càng giàu, người nghèo không biết nên ngày càng nghèo

1.Học hỏi

2.Họ kiếm tiền từ chính đam mê

3.Kết giao đúng người

4.Đầu tư vào bản thân

5.Họ theo đuổi thành công thay vì tiền bạc

 


5 dấu hiệu của người nhiễm "virus nghèo" sâu đậm và bền vững, không bỏ là "khó" cả đời, đừng đổ tại số

1. Luôn lo sợ về những lời người khác nói

2.Chỉ thích hưởng thụ

3.Hài lòng với mức lương

4. Là con nghiện thứ vô bổ và độc hại 

5.Có tư duy rằng giáo dục là chìa khóa của thành công

 


3 câu người khôn ngoan nhất định sẽ nói khi có người hỏi vay tiền

1.     Vay tiền về làm gì. 

2.     Khi nào trả. 

3.     Giả vờ đi vay hộ và nói là có phải trả lãi, có thời hạn và có người làm chứng. 

 


Cổ nhân dạy: "Nhà chỉ cần 3 đầy 2 vơi là hạnh phúc, viên mãn", đó là những gì?

+Nhà đầy 3 thứ này, càng về sau càng viên mãn:

1.Nhà đầy cây xanh .

2.Thùng gạo và hũ tiền luôn đầy .

3.Ngôi nhà tràn đầy  ánh  sáng và thông thoảng 

 

+Nhà càng vơi 2 thứ này thì càng tụ tài, tụ lộc :

1. Nhà không có chuột bọ,ruồi nhặng và côn trùng gây hại .

2.không  có  mối mọt 

 


Người nói chuyện theo 4 kiểu này chắc chắn nhân cách không tốt, đừng nên chơi quá thân

1.     Thích dẫm lên nỗi đau của người khác. 

2.     Nói chuyện không có lương tâm. 

3.     Nói không giữ lời 

4.     Nói xấu sau lưng người khác. 

 


Tình cảm vợ chồng có tốt đẹp, hôn nhân có yên ấm không thì bước vào nhà cứ nhìn 3 nơi này là thấy

1. Ghế sofa, phòng khách : sạch gọn - bẩm bừa bộn 

2.Giường ngủ của vc : sạch - bẩn. 

3. Khu vực bếp, nhà vệ sinh : sạch sẽ - bẩn thỉu. 

 


6 thói quen khiến bạn nghèo khổ và cô đơn, cố gắng đến mấy thì "nghèo vẫn hoàn nghèo", không khá lên được

1.Không bao giờ từ chối 

2.Không thích làm quen với người bạn mới. 

3.Trông đợi một sự chấp thuận. 

4.Tin vào số phận. 

5.Bắt bản thân chịu trách nhiệm cho cảm xúc của người khác. 

6.Không quan tâm tới sức khỏe. 

 


Tuổi già muốn hạnh phúc an nhàn chỉ cần dựa vào duy nhất 1 thứ này

1 Quản lý sức khỏe của bản thân. 

2 Quản lý tiền của chính mình. 

3 Triết lý sống hạnh phúc cho mình. 

 


12 câu nói nổi tiếng của thiền sư Thích Nhất Hạnh, đọc xong sẽ thấy tâm an, vạn sự an

 

1. “Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng mặt trời. Nếu tâm trí của chúng ta luôn chứa đầy những toan tính và lo lắng thì chúng ta chẳng thể tìm được một khoảng trống cho chính mình”.

 

2. “Mỗi sáng thức dậy tôi lại mỉm cười và hai mươi tư tiếng hạnh phúc sẽ ở ngay trước mắt tôi. Tôi nguyện sống trọn vẹn ý nghĩa cho từng giây và nhìn mọi điều bằng ánh mắt nhân ái”.

 

3. “Sự giác ngộ luôn hiện hữu trong tâm trí của mỗi người. Những giác ngộ nhỏ bé sẽ mang tới sự giác ngộ lớn lao. Nếu ta hít thở và nhận ra mình vẫn đang sống, đó cũng là lúc mình chạm tay vào điều kì diệu của việc được sống và yêu thương mỗi ngày. Đó cũng là một loại giác ngộ”.

 

4. “Con người sẽ luôn đau khổ vì bị mắc kẹt trong những quan điểm cá nhân khác nhau. Chỉ khi nào giải phóng được những quan điểm đó thì chúng ta mới được tự do và hạnh phúc”.

 

5. “Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà tuyệt vời nhất mà Ta có thể trao tặng cho những người xung quanh. Thấu hiểu cũng chính là tên gọi khác của sự yêu thương. Nếu Ta không thể thấu hiểu và cảm thông cho người khác ta cũng sẽ chẳng yêu thương được chính mình”.

 

6. “Nếu chúng ta tin ngày mai sẽ tốt đẹp hơn thì hôm nay chúng ta sẽ sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn và đau khổ”.

 

7. “Hãy bước đi như thể Ta đang hôn trái đất bằng chính đôi chân của mình”.

 

 

 

8. “Khi một người làm Mình tổn thương, trong sâu thẳm đâu đó chính họ cũng đang bị nỗi đau khổ ngự trị. Họ không đáng trách, họ cần sự bao dung và giúp đỡ từ Ta”.

 

9. “Hạnh phúc là khi chúng ta được sống đúng với chính mình. Ta không cần người khác phải thừa nhận điều đó, chỉ cần ta hiểu và hạnh phúc là đủ đầy”.

 

10. “Mỗi ngày của ta vẫn luôn tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Chỉ cần ta sống chậm lại, để tâm một chút ta sẽ nhìn thấy những điều tốt đẹp này”.

 

 

11. “Chúng ta luôn đau khổ là vì những thành kiến và mẫu thuẫn. Khi nhìn cuộc sống bằng ánh mắt cởi mở hơn, chúng ta sẽ được tự do, bình yên và chẳng còn khổ đau nữa”.

 

12. “Cội nguồn của tình yêu nằm sâu trong mỗi chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể mang niềm vui và hạnh phúc tới cho người khác. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ của chúng ta có thể mang đến sự đau khổ hay hạnh phúc cho mọi người”.

 


37 điều tiếc nuối nhất của người già khi còn trẻ

1.Không đi du lịch khi có cơ hội

2.Không học một ngôn ngữ khác

3.Dùng dằng với một mối quan hệ tào lao

4.Quên dùng kem chống nắng

5.Bỏ lỡ cơ hội đi xem thần tượng âm nhạc của mình

6.Nhát không dám làm gì

7.Không coi trọng rèn luyện sức khỏe

8.Để người khác “định nghĩa” mình qua vai trò giới tính

9. Không từ bỏ công việc mình “thấy ghê”

10. Không siêng năng khi đi học

11. Không biết được là mình xinh đẹp ra sao

12. Ngại nói lời yêu

13. Không nghe lời khuyên của ba mẹ

14. Biết mỗi mình mình

15. Quá bận tâm đến người khác nghĩ gì

16. Ủng hộ mơ ước của người khác, bỏ qua của mình

17. Không vượt qua nhanh chóng

18. Hận thù dai, nhất là với những người mình yêu thương

19. Không đứng lên vì bản thân mình

20. Ít tham gia tình nguyện

21. Không quan tâm sức khỏe răng miệng

22. Bỏ qua cơ hội hỏi ông bà trước khi họ mất

23. Làm việc quá nhiều

24. Không học nấu một bữa ngon lành

25.Ít dừng lại để tận hưởng khoảnh khắc

26. Không hoàn thành việc mình bắt đầu

27. Không biết một "chiêu" nào để đi tiệc

28.Bị giới hạn bởi văn hóa

29. Không chấp nhận sự thay đổi của bạn bè

30. Ít chơi đùa với con cái

31. Chả bao giờ mạo hiểm (đặc biệt là trong tình yêu)

32. Không dành thời gian xây dựng mối quan hệ

33. Lo lắng quá nhiều

34. Dính vào những chuyện bi lụy không cần thiết

35. Không dành đủ thời gian cho những người mình thương yêu

36.Chẳng bao giờ trình diễn trước người khác

37. Không biết ơn sớm hơn

 


chuyện đáng suy ngẫm: " Kẻ cướp có đạo"

Kính Trời kính Thần, tin vào “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, tiêu chuẩn thiện ác phổ quát là từ nội tâm của con người. Không những người tốt có tiêu chuẩn đạo đức cao, mà ngay cả người xấu làm việc xấu vẫn có một thước đo chuẩn mực cho riêng mình.



TRIẾT LÝ THẦU HIỂU

  1.Bị người khác xúc phạm, cũng không nên nhất thiết phải thể hiện cảm xúc ra ngoài. Người khác sỉ nhục mình cho dù là xuất phát từ mục đí...